1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp xây dựng câu hỏi theo quan điểm pisa để phát huy năng lực của học sinh trong dạy học chương 1, phần 5 sinh học 12

138 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 250,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì những lý do trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Xây dựng câu hỏi theo quan điểm PISA để phát huy năng lực của học sinh trong dạy học Chương I, Phần 5, Sinh học 12”.. Mục đích ngh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2

XÂY DựNG CÂU HỎI THEO QUAN ĐIỀM PISA ĐẺ

DAY HOC CHƯƠNG I, PHẦN 5

SINH HỌC 12

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • •

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Sinh học

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

trường ĐHSP Hà Nội 2 Người đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tâm trong suốt quá trìnhlàm khóa luận.

Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Sinh- KTNNtrường Đại học sư phạm Hà Nội 2 cùng các thầy cô trường THPT Hoa Lư A (NinhBình), trường THPT Bình Xuyên (Vĩnh Phúc), trường THPT Yên Dũng 2 (BắcGiang) đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa luận này

Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng đây là bước đầu làm quen vói công tác nghiêncứu khoa học nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự góp ý,chỉ bảo của các thầy cô giáo cùng các bạn đọc để giúp cho đề tài nghiên cứu của emđược hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 3

Tôi xin cam đoan khóa luận này là nghiên cứu của riêng bản thân tôi dưới sựhướng dẫn trực tiếp của cô giáo T.s Đỗ Thị Tố Như, giảng viên khoa Sinh- KTNN,

trường ĐHSP Hà Nội 2 Mọi kết quả nghiên cứu trong đề tài đều trung thực, khôngtrùng vói kết quả của tác giả nào, đề tài chưa từng công bố tại bất kì một công trìnhnghiên cứu khoa học nào hoặc của ai khác

Nếu có gì sai phạm tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Trang 4

PISA Programme for International Student Assessment

Trang 5

MỤC LỤC

1.3

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG CÂU HỎI XÂY DựNG THEO QUAN ĐIỂM PISA ĐẺ PHÁT HUY NĂNG Lực HỌC

Trang 6

PHẦN I MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Do yêu cầu đồi mói của phương pháp dạy học

Trong những năm cuối thế kỉ 20, chuyển sang đầu thế kỉ 21, tình hìnhkinh tế thế giới có hai đặc điểm nổi bật đó là: kinh tế thế giới đang chuyểndần sang giai đoạn kinh tế tri thức và xu hướng toàn cầu hóa của nền kinh tế.Nguyên nhân quan trọng dẫn đến các đặc điểm trên chính là các thành tựu củacuộc cách mạng khoa học- công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Trongtình hình đó ngành giáo dục với chức năng chuẩn bị lực lượng lao động cho

xã hội cũng phải chuyển biến đáp ứng tình hình Giáo dục Việt Nam trongnhững năm gần đây đang tập trung đổi mới, hướng tói một nên giáo dục tiến

bộ, hiện đại, bắt kịp xu hướng của các nước trong khu vực và trên thế giói.Một trong những mục tiêu lớn của giáo dục nước ta hiện nay là hoạt độnggiáo dục phải gắn liền với thực tiễn Chính vì vậy, vói việc dạy học nói chung

và dạy học bộ môn Sinh học nói riêng, vai trò của việc vận dụng kiến thứcvào thực tế là cấp thiết và mang tính thòi sự Trước đòi hỏi của thực tiễn thìviệc đổi mói giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy học là hết sức cần

thiết Luật giáo dục năm 2005, điều 28.2 có ghi: “phương pháp giảo dục phổ

thông phải phát huy được tỉnh tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thủ học tập cho học sinh”.

1.2 Do thưc tiễn day hoc bô môn

Hiện nay, ở các trường trung học phổ thông phương pháp dạy học vẫn làthuyết trình, giảng giải kết hợp vấn đáp, giải thích minh họa tranh vẽ, hìnhảnh, chưa chú trọng nâng cao khả năng vận dụng vào thực tiễn Chính vì vậy

Trang 7

học sinh học tập thụ động, chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo, chủđộng và khả năng vận dụng của học sinh Đối với bộ môn Sinh học là mônkhoa học thực nghiệm nhưng rất gần gũi vói thực tiễn đòi sống sản xuất, tuynhiên ở các trường phổ thông môn học này chưa thu hút được sự yêu thíchcủa các em học sinh bởi nhiều nguyên nhân chủ yếu do nội dung còn nặng về

lý thuyết, phương pháp dạy học chủ yếu là thuyết trình làm cho học sinhkhông có hứng thú với môn học, không phát huy được năng lực của học sinh

Vì vậy trong quá trình dạy học cần chú ý sử dụng các câu hỏi có thể giúp các

em phát huy tính tích cực, sáng tạo, khả năng vận dụng của học sinh vào thựctiễn hay chính là phát huy được năng lực của học sinh

Trong bối cảnh đó, nhận thức được vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọngcủa chương trình đánh giá quốc tế trong việc hoạch định các chiến lược vàchính sách phát triển giáo dục quốc gia nên Việt Nam đã quyết định tham giavào một trong những chương trình đánh giá quốc tế có uy tín và phổ biến nhất

hiện nay là PISA là viết tắt của “Programme for International Student

Assessment- Chương trình đánh giá học sinh quốc tế” do Tổ chức Hợp tác và

Phát triển kinh tế (“Organization for Co- operation and Development” viết tắt

là OECD) khởi xướng và chỉ đạo PISA được thực hiện theo chu kì 3 năm mộtlần (bắt đầu từ năm 2000) Đối tượng đánh giá là học sinh trong độ tuổi 15, độtuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia (15 năm 3tháng đến 16 năm 2 tháng - độ tuổi PISA) Một đặc điểm nổi bật trong đánhgiá PISA là nội dung đánh giá được xác định dựa trên kiến thức, kĩ năng cầnthiết cho tương lai, không dựa vào các chương trình giáo dục quốc gia Đâychính là điều mà PISA gọi là “năng lực phổ thông” Một trong các năng lựcđược đánh giá trong PISA là năng lực khoa học Trong PISA các tình huốngđược đưa ra để đánh giá năng lực này có liên quan mật thiết đến những vấn đề

Trang 8

trong cuộc sống của cá nhân hàng ngày, những vấn đề của cộng đồng và toàncầu.

1.3 Vai trò của câu hỏi theo quan điểm PISA trong việc phát huy năng lực ngưM học

Để hình thành kiến thức, kỹ năng, thái độ và phát huy năng lực ngườihọc có nhiều phương pháp dạy học khác nhau và có nhiều biện pháp thựchiện Một trong những biện pháp có hiệu quả là giáo viên xây dụng hệ thốngcâu hỏi theo quan điểm PISA Việc xây dựng câu hỏi theo quan điểm PISAtrong mồi nội dung, chủ đề là công cụ đắc lực, là phương tiện sư phạm hữuhiệu thúc đẩy hoạt động nhận thức của học sinh Việc thường xuyên xây dựng

và sử dụng câu hỏi sẽ đưa học sinh vào những tình huống có vấn đề cần giảiquyết, khi đó học sinh phải tích cực vận động linh hoạt, sáng tạo những kiếnthức để có thể trả lòi

Chính vì những lý do trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Xây dựng câu hỏi theo quan điểm PISA để phát huy năng lực của học sinh trong dạy học Chương I, Phần 5, Sinh học 12”.

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng câu hỏi theo quan điểm PISA để phát huy năng lực của họcsinh trong dạy học Chương I, Phần 5, Sinh học 12

3 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được hệ thống câu hỏi theo quan điểm PISA trong dạy họcChương I, Phần 5, Sinh học 12 thì sẽ góp phần nâng cao năng lực khoa họccủa học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Chương I, Phần 5, Sinh học12

4 Đổi tượng nghiên cứu

Trang 9

Hệ thống các câu hỏi theo quan điểm PISA trong dạy học Chương I,Phần 5, Sinh học 12.

5 Phạm vỉ nghiên cứu

Nội dung Chương I, Phần 5, Sinh học 12

6 Nhiệm yụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về câu hỏi theo quan điểmPISA trong quá trình dạy học

- Tìm hiểu thực trạng sử dụng câu hỏi theo quan điểm PISA trong dạyhọc môn sinh học ở trường THPT

- Nghiên cứu quy trình xây dựng câu hỏi theo quan điểm PISA và xâydựng hệ thống câu hỏi theo quan điểm PISA trong dạy học Chương I,Phần 5, Sinh học 12

- Đánh giá hiệu quả của hệ thống câu hỏi theo quan điểm PISA

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến nội dung Chương I, Phần 5,Sinh học 12 như: SGK Sinh học 12, sách phương pháp giảng dạy Sinh họcdành cho giáo viên, giáo trình, luận văn, sách tham khảo, tạp chí và cácwebside làm cơ sở khoa học cho đề tài nghiên cứu

- Phương pháp điều tra:

Điều tra chất lượng việc dạy và học Chương I, Phần 5, Sinh học 12 bằngviệc quan sát dự giờ ở trường THPT

Điều tra thực trạng việc dạy học và kiểm tra đánh giá theo quan điểmPISA tại các trường THPT thông qua trao đổi, phỏng vấn giáo viên và họcsinh cùng với tham khảo các bài kiểm tra và kết quả kiểm tra đánh giá

- Phương pháp chuyên gia:

Trang 10

Sau khi xây dựng được bộ câu hỏi theo quan điểm PISA trong dạy họcChương I, Phần 5, Sinh học 12 THPT chúng tôi sẽ tham khảo ý kiến của một

số giảng viên, giáo viên có kinh nghiệm

8 Dự kiến những đóng góp của đề tài

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng câu hỏi theo quan điểm PISA trong dạy học Sinh học ở trường THPT

Xây dựng được hệ thống câu hỏi theo quan điểm PISA để tổ chức các hoạt động dạy học trong dạy học Chương I, Phần 5, Sinh học 12.

PHẦN II NỘI DUNG CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THựC TIỄN

CỦA ĐÈ TÀI

1.1 Tổng quan Yấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1 Tình hình PISA trên thế giới và Việt Nam

1.1.1.1 PISA thế giới

Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA (Programe forInternational Student Assessment) do tổ chức hợp tác và phát triển kinh tếOECD của các nước phát triển đề xuất xây dựng từ năm 1997 nhằm đánh giáchất lượng giáo dục phổ thông trong khối OECD

PISA là một hoạt động có quy mô toàn cầu, tổ chức 3 năm một lần nhằmđánh giá kiến thức và kĩ năng trong 3 lĩnh vực chủ yếu là: đọc hiểu phổ thông,làm toán phổ thông, khoa học phổ thông Học sinh được đánh giá ở tuổi 15(kết thúc chương trình giáo dục phổ thông bắt buộc) Nội dung kiểm tra họcsinh không chỉ cần phải biết làm thế nào để học được các công thức toán học,các khái niệm khoa học mà còn phải biết vận dụng những kiến thức và kĩnăng này trong cuộc sống

- Lần đầu tiên PISA được triển khai vào năm 2000 với 43 nước tham gia,trong đó có 14 nước không thuộc khối OECD

Trang 11

- Lần thứ 2 được tổ chức vào năm 2003, có 41 nước tham gia, trong đó

có 10 nước không thuộc khối OECD

- Lần thứ 3 (năm 2006) có 57 nước tham gia trong đó có 27 nước khôngthộc khối OECD

- Lần thứ 4 (năm 2009) có 67 nước tham gia trong đó có 36 nước khôngthuộc khối

- Ở khu vực châu Á, ngoài các nước trong OECD (Nhật Bản, Hàn Quốc),còn có các nước và vùng lãnh thổ khác tham gia như: Thượng Hải,Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan, Singapo, Thái Lan, Indonesia

1.1.1.2 PISA Việt Nam

- Ngày 27/10/2008 Phó thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân có vănbản giao Bộ GD-ĐT tiến hành khẩn trương để đăng ký Việt Nam tham

gia Chương trình quốc tế đánh giá học sinh (Programme for

International Student Assessment - PISA)

- Ngày 22/10/2009 Phó thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân có thưgửi ông Angel Gurria, Tổng Thư ký OECD đề nghị chấp nhận ViệtNam tham giaPISA 2012

- Ngày 11/11/2009: OECD có thư chính thức gửi Phó thủ tướng, Bộtrưởng Nguyễn Thiện Nhân về việc đồng ý đề Việt Nam tham giaPISA

- Theo kế hoạch của Bộ GD&ĐT, từ năm 2012 Việt Nam sẽ tham giachương trình PISA để đến năm 2020 kịp xây dựng chiến lược giáo dụcphù hợp, đáp ứng những tiêu chuẩn tiên tiến của quốc tế

- Tham gia PISA là một cơ hội để ngành giáo dục Việt Nam thấy rõ điểmmạnh, điểm yếu của học sinh và cả quá trình giáo dục, từ đó có nhữngđiều chỉnh để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục Đây cũng là cơ

Trang 12

sở khách quan, khoa học để ngành giáo dục nhận thức "thứ hạng" chấtlượng học sinh Việt Nam trong tương quan chung với các quốc gia.

- Thực hiện khảo sát thử nghiệm 2011 và chính thức năm 2012

- So với các nước tham gia PISA 2012:

• xếp thứ 69/70 về GDP bình quân đầu ngưòi (thu nhập bình quân đầungười đạt khoảng 1.540 USD/người/năm

xếp thứ 70/70 về chỉ số HDI (Chỉ số phát triển con người (Human

Deveỉopment Index - HDI), Đây là chỉ số so sánh, định lượng về mức

thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác

- Khó khăn thách thức khi tổ chức PISA lần đầu tiên chu kỳ 2012 tại ViệtNam

• Việt Nam trong suốt thòi gian thực hiện đổi mói kiểm tra đánh giá kếtquả học tập của học sinh cũng đã xây dựng được một đội ngũ chuyêngia có thể đảm đương được các yêu cầu kỹ thuật của OECD khi triểnkhai PISA tại Việt Nam Tuy nhiên, lần đầu tiên Việt Nam tham giamột kỳ thi mang tính quốc tế lại yêu cầu kỹ thuật cao và nghiêm ngặtnhư PISA, Việt Nam vẫn còn thiếu kinh nghiệm tổ chức và dù đã cómột số chuyên gia nhưng lực lượng chuyên gia chuyên nghiệp vẫn cònmỏng

• Các tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt rất ít, chủ yếu bằng tiếng nướcngoài, là khó khăn không nhỏ cho việc tìm hiểu và tiếp cận vói PISAlần này

• Việt Nam chưa xây dựng được dữ liệu đầy đủ về các trường có học sinh

ở độ tuổi 15, trong khi đó, Việt Nam có rất nhiều loại hình trường,nhiều tổ chức quản lý, do đó rất khó khăn trong công việc chọn mẫu

Trang 13

• Công tác dịch thuật theo yêu cầu của PISA là một vấn đề thách thức đốivới đội ngũ dịch thuật của Việt Nam.

• Cách thức ra đề thi và cách thức đánh giá của PISA yêu cầu học sinhphải có năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn Nhìn chung, cáckiến thức mà đề thi của PISA đòi hỏi là không hoàn toàn xa lạ vói họcsinh Việt Nam Tuy nhiên, muốn cho học sinh Việt Nam tham gia vàocác đợt đánh giá của PISA một cách tự tin, cần đổi mới về cách dạy,cách học, cách tổ chức kiểm tra đánh giá trong nhà trường ở Việt Nam

• Kết quả mồi đợt đánh giá của PISA sẽ được công khai trên thế giói nênmang tính nhạy cảm Nhiều nước đã không tham gia PISA vì khôngmuốn bộc lộ sự yếu kém về kết quả làm bài của học sinh và thứ hạngthấp trong bảng xếp hạng Việc sẵn sàng vượt qua những e ngại trên đã

là thách thức đối với Việt Nam

- Các hoạt động chính của PISA 2012:

• Năm 2010: Đánh giá các câu hỏi thi PISA 2012 và thực hiện các côngviệc liên quan đến chọn mẫu; tập huấn kĩ thuật

• Năm 2011: Khảo sát thử nghiệm trên mẫu 40 trường X 35 HS/trường

• Năm 2012: Khảo sát chính thức trên mẫu là 162 trường thuộc 59 tỉnh,thành phố

- Kết quả PISA 2012 của Việt Nam:

• Lĩnh vực Toán học: là lĩnh vực trọng tâm của kỳ PISA 2012 Việt Namđứng thứ 17/65 Điểm trung bình của OECD (Mean Score) là 494 thìViệt Nam đạt 511 Như vậy, năng lực Toán học của HS VN ở top caohơn chuẩn năng lực của OECD

• Lĩnh vực Đọc hiểu: Việt Nam đứng thứ 19/65, điểm trung bình củaOECD là 496 thì Việt Nam đạt 508, như vậy, năng lực Đọc hiểu của HS

Trang 14

• Lĩnh vực Khoa học: Việt Nam đứng thứ 8/65 Điểm trung bình củaOECD là 501 thì Việt Nam đạt 528 Việt Nam đứng sau các nước/vùngkinh tế theo thứ tự: Thượng Hải, Hồng kông, Singapore, Nhật bản,Phần lan, Estonia, Hàn Quốc.

Như vậy, kết quả thi của Việt Nam khá cao so trong bảng xếp hạng các nước trên thế giới tham gia kỳ thi PISA 2012, đứng trong top 20 nước cỏ điểm chuẩn các lĩnh vực Toán, Đọc hiểu, Khoa học cao hơn điểm trung bình của OECD.

1.1.2 Chương trình đảnh giá PIS A

1.1.2.1 Khái niệm PIS A

PISA là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “ Programme for

International Student Assessment - Chương trình đánh giá học sinh quốc tế”

do Hiệp hội các nước phát triển (OECD) khởi xướng và chỉ đạo, nhằm tìmkiếm các chỉ số đánh giá tính hiệu quả, chất lượng của hệ thống giáo dục củamồi nước tham gia, qua đó rút ra các bài học về chính sách đối vói giáo dụcphổ thông PISA được thực hiện theo chu kì 3 năm một lần (bắt đầu từ năm2000) Đối tượng đánh giá là học sinh trong độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giaiđoạn giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia PISA hướng vào các trọng tâm

về chính sách, được thiết kế và áp dụng các phương pháp khoa học cần thiết

để giúp chính phủ các nước tham gia rút ra các bài học về chính sách đối vóigiáo dục phổ thông

1.1.2.2 Đặc điểm PIS A

- Quy mô của PISA là rất lớn và có tính toàn cầu Qua 5 cuộc khảo sát đánh giá,ngoài các nước thuộc khối OECD còn có rất nhiều quốc gia là đối tác củakhối OECD đăng ký tham gia Trong lần đánh giá thứ năm (2012) đã có gần

70 quốc gia tham gia

Trang 15

- PISA được thực hiện đều đặn theo chu kì (3 năm một lần) tạo điều kiện chocác quốc gia có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối vói việc phấn đấuđạt được các mục tiêu giáo dục cơ bản.

- Cho tới nay PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất chỉ chuyên đánh giá vềnăng lực phổ thông của học sinh ở độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giáo dục bắtbuộc ở hầu hết các quốc gia

- PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau:

Chính sách công (public policy): các chính phủ, các nhà trường, giáo viên và

phụ huynh đều muốn có câu trả lòi cho tất cả các câu hỏi như “Nhà trườngcủa chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ cho những người trẻ tuổi trước những tháchthức của cuộc sống của người trưởng thành chưa?”, “Phải chăng một số loạihình giảng dạy và học tập của những noi này hiệu quả hơn những nơi khác?”

và “Nhà trường có thể góp phần cải thiện tương lai của học sinh có gốc nhập

cư hay có hoàn cảnh khó khăn không?”, •

Hiểu biết phổ thông (literacy): thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các

chương trình giáo dục cụ thể, PISA chú trọng việc xem xét đánh giá vềcác năng lực của học sinh trong việc ứng dụng các kiến thức và kĩ năngphổ thông cơ bản vào các tình huống thực tiễn Ngoài ra còn xem xétđánh giá khả năng phân tích, lí giải và truyền đạt một cách có hiệu quảcác kiến thức và kĩ năng đó thông qua cách học sinh xem xét, diễn giải

và giải quyết các vấn đề

Học tập suốt đời (lifelong learning): học sinh không thể học tất cả mọi

thứ cần biết trong nhà trường Để trở thành những người có thể học tậpsuốt đời có hiệu quả, ngoài việc thanh niên phải có những kiến thức và

kĩ năng phổ thông cơ bản họ còn phải có cả ý thức về động cơ học tập

và cách học Do vậy PISA sẽ tiến hành đo cả năng lực thực hiện của

Trang 16

học sinh về các lĩnh vực Đọc hiểu, Làm toán và Khoa học, đồng thờicòn tìm hiểu cả về động cơ, niềm tin vào bản thân cũng như các chiếnlược học tập hỏi học sinh.

1.1.2.3 Mục đích

Mục tiêu tổng quát của PISA nhằm kiểm tra xem, khi đến độ tuổi kếtthúc giai đoạn giáo dục bắt buộc, học sinh đã được chuẩn bị để đáp ứng cácthách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào Ngoài ra PISA còn hướngvào các mục đích cụ thể sau:

- Xem xét đánh giá các mức độ năng lực đạt được ở các lĩnh vực Đọchiểu, Làm Toán và Khoa học của học sinh ở lứa tuổi 15

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các chính sách đến kết quả học tập của họcsinh

- Nghiên cứu hệ thống các điều kiện giảng dạy - học tập có ảnh hưởngđến kết quả học tập của học sinh

1.1.2.4 Tầm quan trọng

Việc tổ chức kỳ khảo sát PISA là một hoạt động quan trọng vì chúng ta

có thể sử dụng kết quả của kỳ đánh giá này để:

- Thể hiện cách thức học sinh được chuẩn bị học tập tốt như thế nào tạiViệt Nam và các quốc gia tham gia PISA khi tốt nghiệp chương trìnhgiáo dục cơ sở/ chương trình giáo dục bắt buộc

- Các trường, các hệ thống giáo dục và chính phủ có thể xác định nhữnglĩnh vực cần được cải thiện

- Cho phép so sánh việc học tập và môi trường học tập cho học sinh giữacác nước

1.2 Ctf sở lý luận của đề tài

1.2.1 Câu hỏi và câu hỏi theo quan điểm PISA

Trang 17

1.2.1.1 Bản chất câu hỏi

Câu hỏi có một tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động nhận thức thếgiới của loài người và trong dạy học Aristotle là người đầu tiên đã biết phântích câu hỏi dưới góc độ logic và lúc đó ông cho rằng đặc trưng cơ bản nhấtcủa câu hỏi là buộc ngưòi bị hỏi phải lựa chọn các giải pháp có tính trái ngượcnhau, do đó con người phải có phản ứng lựa chọn hoặc cách hiểu này, hoặccách hiểu khác Tư tưởng quan trọng bậc nhất của ông còn nguyên giá trị đólà: “ Câu hỏi là một mệnh đề trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cái chưabiết”

Câu hỏi = Cái đã biết + Cái chưa biết

Như vậy, tròn đòi sống cũng như trong nghiên cứu khoa học, con ngườichỉ nêu ra những thắc mắc, tranh luận khi đã biết nhưng chưa đầy đủ, cần biếtthêm Còn nếu khi không biết gì hoặc biết tất cả về sự vật nào đó thì không có

gì để hỏi về sự vật đó nữa Do đó, tương quan giữa cái đã biết và chưa biếtthúc đẩy mở rộng hiểu biết của con người Con người nếu muốn biết về một

sự vật hiện tượng nào đó chỉ khi người đó đặt được những câu hỏi: đó là cáigì?, như thế nào?, vì sao?

Đề Các cho rằng, không có câu hỏi thì không có tư duy cá nhân cũngnhư không có tư duy nhân loại Ông cũng nhấn mạnh dấu hiệu bản chất củacâu hỏi là phải có mối quan hệ giữa cái đã biết và chưa biết Phải có tỉ lệ phùhợp giữa hai đại lượng đó thì chủ thể mới xác định được phương hướng để trảlòi câu hỏi đó Khi chủ thể nhận thức đã xác định rõ cái đã biết và chưa biếtthì lúc đó mới đặt được câu hỏi và lúc đó câu hỏi mói thực sự trở thành sảnphẩm của quá trình nhận thức

1.2.1.2 Vai trò của câu hỏi

Trong dạy học câu hỏi có vai trò:

Trang 18

- Khi dùng câu hỏi để mã hóa thông tin trong SGK thì câu hỏi và việc trảlời câu hỏi là nguồn tri thức mói cho học sinh.

- Câu hỏi có tác dụng định hướng nhận thức tri thức mói, phát huy tínhtích cực, chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh

- Hệ thống câu hỏi có vấn đề được đặt ra trong bài học chứa đựng cácmâu thuẫn sẽ đặt học sinh vào tình huống có vấn đề, học sinh đóng vaitrò là chủ thể của quá trình nhận thức, chủ động giành lấy kiến thứcthông qua việc trả lời các câu hỏi, từ đó khắc phục lối truyền thụ mộtchiều

- Câu hỏi giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức một cách có hệ thống

- Giúp cá thể hóa cách học một cách tối ưu, tạo điều kiện cho HS tự học

- Dạy học bằng câu hỏi giúp GV đánh giá HS về mặt kiến thức, thái độ,

vì câu hỏi là biện pháp phát hiện, tự phát hiện thông tin ngược về kếtquả nhận thức

- Dạy học bằng câu hỏi giúp khắc phục được tình trạng ghi nhớ máymóc

Như vậy, dạy học bằng câu hỏi vừa giúp HS lĩnh hội được tri thức mộtcách có chủ động, vừa rèn luyện cho các em thao tác tư duy độc lập, tích cực,sáng tạo, vừa rèn luyện được phương pháp học tập

Trang 19

1.2.1.3 Phân loại câu hỏi

> Dựa vào năng lực nhận thức của HS chia 3 cách:

Cách 1: gồm câu hỏi trình độ thấp và câu hỏi trình độ cao

Cách 2: gồm 5 loại:

+ Loại CH kích thích sự quan sát chú ý

+ Loại CH yêu cầu so sánh, phân tích

+ Loại CH yêu cầu tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa

+ Loại CH liên hệ với thực tế

+ Loại CH kích thích tư duy sáng tạo, hướng dẫn HS nêu vấn đề, đề xuấtgiả thuyết

Cách 3: Theo Benjamin Bloom cải tiến (2001) đã đề xuất thang 6 mức câu hỏi

> Dim vào muc đích lí luân day hoc, chm thành 3 loai:

• • • • • / •

- Loại câu hỏi dùng để dạy bài mói

- Loại câu hỏi dùng để củng cố, hoàn thiện kiến thức

Loại câu hỏi dùng để kiểm tra đánh giá

> Dựa vào thang phân loại của PISA, gằm 3 mức:

- Nhận biếư Thu thập thông tin

Kết nối và tích hợp/ Phân tích, lí giải

Phản hồi và đánh giá

Theo đó có các loại CH được sử dụng trong đánh giá PISA là:

+ CH mở đòi hỏi trả lời ngắn

+ CH mở đòi hỏi trả lòi dài

+ CH đóng dựa trên những trả lòi có sẵn

+ CH trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

+ CH Có- Không, Đúng- Sai phức hợp

Trang 20

> Dựa theo thang đo cấp độ tư duy (Thinking levek), có 4 loại câu hỏi tương

ứng với 4 mức:

Câu hỏi mức nhận biết

Câu hỏi mức thông hiểu

Câu hỏi mức vận dụng thấp

Câu hỏi mức vận dụng cao

> Khi kiểm tra kết quả thực hiện mục tiêu bài học, thường sử dụng các loai

câu hỏi sau:

CH để kiểm tra sự ghi nhớ kiến thức đã học

CH kiểm tra sự nắm vững bản chất của kiến thức

CH kiểm tra khả năng vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết nhiệm vụ nhận thức mới

CH kiểm tra sự nắm vững giá trị của kiến thức

CH kiểm tra thái độ, hành vi của ngưòi học sau khi kết thúc một chủ

đề nào đó

> Dựa vào nội dung mà câu hỏi phản ánh, chia thành:

Câu hỏi nêu các sự kiện

Câu hỏi xác định các dấu hiệu bản chất

Câu hỏi xác định mối quan hệ

Câu hỏi xác định cơ chế

Câu hỏi xác định phương pháp khoa học

Câu hỏi xác định ý nghĩa lí luận hay thực tiễn của kiến thức

1.2.1.4 Xây dựng câu hỏi

❖ Nguyên tắc khi xây dựng câu hỏi:

Bám sát mục tiêu dạy học

Đảm bảo nội dung khoa học, cơ bản, chính xác của kiến thức

Trang 21

Phát huy được tính tích cực trong học tập của học sinh.

Phù hợp với trình độ, đối tượng học sinh

Phản ánh được tính hệ thống và khái quát

❖ Qui ừình xây dựng câu hỏi:

Bước 1 : Xác định mục tiêu bài học

Bước 2: Phân tích nội dung, xác định kiến thức trọng tâm, xác định logic nội dung bài học

Bước 3: Tìm điều cần hỏi (khả năng mã hóa nội dung) từ kênh hình

và kênh chữ của bài học

Bước 4: Diễn đạt điều cần hỏi bằng câu hỏi, xác định nội dung trả lờicho câu hỏi

Bước 5: Chỉnh sửa lại nội dung và hình thức diễn đạt của câu hỏi để đưa vào sử dụng

1.2.1.5 Yêu cầu sư phạm của câu hỏi

Đặt câu hỏi thành công là việc tạo ra các câu hỏi có hiệu quả dạy học.Một câu hỏi có hiệu quả dạy học thể hiện ở chất lượng của câu hỏi, chất lượngcâu trả lòi và khả năng lôi cuốn HS tham gia bài học

❖ Chất lượng của câu hỏi, thể hiện:

Bản thân câu hỏi phải tạo ra được phạm vi trả lời rộng

Huy động được nhiều thao tác trí tuệ cần thiết để trả lòi câu hỏi.

Độ sâu của câu hỏi

❖ Chất lượng của câu trả lời cho câu hỏi:

Tính cụ thể

Tính hoàn chỉnh

Có giải thích kèm theo minh chứng

Trang 22

❖ Khả năng lôi cuốn HS tham gia bài học: câu hỏi phải gợi được sự tò mò, kíchthích sự tìm tòi ở HS.

Các tiêu chí chất lượng câu hỏi:

Câu hỏi xây dựng phải bám sát mục tiêu dạy học

Hướng vào nội dung cơ bản trọng tâm của bài học

Phát triển được các mức độ tư duy khác nhau ở HS

Vừa sức, phù hợp với trình độ và năng lực khác nhau của HS

Diễn đạt rõ ràng chính xác, chỉ rõ được điều cần hỏi

1.2.1.6 Câu hỏi theo quan điểm PISA

Câu hỏi theo quan điểm PISA là câu hỏi đưa ra vói mục đích tập trungyêu cầu HS biết và giải thích các hiện tượng khoa học Do đó, khi HS trả lời

sẽ tăng khả năng về khoa học tức là HS sử dụng kiến thức và kĩ năng khoahọc trong nhiều lĩnh vực tình huống khác nhau có thực trong đòi sống, rènluyện khả năng sống cho tương lai

Các kiểu câu hỏi theo quan điểm PISA thường sử dụng:

- Câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chon kiểu đơn giản

- Câu hỏi Đúng/ Sai (Có/ không) phức hợp

- Câu hỏi mở đòi hỏi trả lòi ngắn

- Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời dài

- Câu hỏi yêu cầu HS đọc và trích rút thông tin từ biểu đồ ( hình cột,tròn) đồ thị để trả lòi câu hỏi

- Câu hỏi yêu cầu học sinh lập luận và suy luận 1 cách logic dựa trên tìnhhuống thực tế

1.2.2 Các năng lực của học sinh trong PIS A

1.2.2.1 Khái niệm năng lực

Trang 23

“Năng lực” là một khái niệm được đề cập tói trong nhiều tài liệu nghiêncứu thuộc lĩnh vực Tâm lý học hay Giáo dục học Từ góc nhìn của nhiều nhàtâm lí thì trong bất cứ hoạt động nào của con người, để thực hiện có hiệu quả,con người cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp nhữngphẩm chất này được gọi là năng lực Theo quan điểm của Tâm lý học Mac xit,năng lực của con người luôn gắn liền vói hoạt động của chính họ Trongnhững tài liệu về giáo dục trong và ngoài nước, thuật ngữ “năng lực” đượctiếp cận theo những cách khác nhau: Cách tiếp cận tích hợp của F.E Weinert(2001), cách tiếp cận học suốt đời của Denyse Tremblay (2002), cách tiếp cậnhành vi của Bùi Hiền và các tác giả cuốn từ điển giáo dục học

Như vậy, năng lực được cấu thành từ những bộ phận cơ bản:

+ Tri thức về lĩnh vực hoạt

động + Kĩ năng tiến hành hoạt

động

+ Những điều kiện tâm lí để tổ chức và thực hiện những tri thức, kĩ năng

đó theo một định hướng rõ ràng và một bối cảnh cụ thể

PISA/ OECD định nghĩa “năng lực chính là những giá trị cụ thể, ở nhiều lĩnh vực, hữu ích và cần thiết cho tất cả mọi người, liên quan đến khả năng đáp ứng các nhu cầu phức tạp bằng cách tạo lập và huy động cả những nguồn lực tâm lý xã hội (bao gồm cả kỹ năng và thải độ) trong một bối cảnh

cụ thể” [OECD, Definition and selection competences, Revised December, 2009].

Vì năng lực được cấu tạo từ các năng lực thành phần (như tri thức, kĩnăng tiến hành hoạt động và điều kiện tâm lí để thực hiện những tri thức, kĩnăng đó trong bối cảnh cụ thể) nên việc phát triển năng lực cần dựa trên cơ sởphát triển tổng hợp các yếu tố đó Sự phát triển năng lực về thực chất là làm

Trang 24

thay đổi cấu trúc nhận thức và hành động của mỗi cá nhân chứ không chỉ đơnthuần là sự bổ sung các mảng kiến thức riêng rẽ Việc phát triển các năng lựcthành phần phải thông qua thực hành các tình huống trong một thòi gian nhấtđịnh Nếu sử dụng tích cực và thường xuyên một loại năng lực nào đó, nănglực này sẽ trở lên mạnh hơn, độ thành thạo cao hơn và ngược lại Mỗi người

có thể có sự thành thạo khác nhau về năng lực nhất định khi xử lí một tìnhhuống cụ thể Năng lực được hình thành và phát triển ở trong và ngoài nhàtrường

1.2.2.2 Phân loại năng lực

Nhìn vào chương trình thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực của cácnước thì năng lực được chia làm 2 loại chính: Năng lực chung và năng lực cụthể, chuyên biệt

Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi làm

nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghềnghiệp

Một số năng lực chung như:

Trang 25

- Năng

lực giao tiếp

Năng lực cụ thể, chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát

triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệttrong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù,cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn củamột hoạt động như Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao, Địa lí,

Năng lực học tập Sinh học thuộc năng lực cụ thể, chuyên biệt

1.2.2.3 Các năng lực được đánh giá theo quan điểm PISA

Khái niệm literacy (tạm dịch là năng lực phổ thông) là một khái niệm

quan trọng trong việc xác định nội dung đánh giá của PISA.Việc xác địnhkhái niệm này xuất phát từ quan tâm tói những điều mà một học sinh sau giaiđoạn giáo dục cơ sở cần biết, trân trọng và có khả năng thực hiện - những điềucần thiết chuẩn bị cho cuộc sống trong một xã hội hiện đại Các lĩnh vực nănglực phổ thông về làm toán, về khoa học, về đọc hiểu được sử dụng trongPISA

- Năng lực toán học:

Là khả năng nhận biết vai trò của Toán học trong đời sống, đưa ra nhữngnhận định có cơ sở vững chắc và sử dụng Toán học để phục vụ đòi sống vói tưcách là một công dân gương mẫu, tiên tiến, mong muốn xây dựng và đónggóp có ích cho xã hội Năng lực Toán học thể hiện ở khả năng phân tích, suyluận và trao đổi đáp án của học sinh khi các em đưa ra một bài toán và giảiquyết nó theo cách tối ưu nhất

- Năng lực đọc hiểu:

Là khả năng hiểu, sử dụng và cảm nhận những văn bản viết nhằm đạtđược những mục tiêu trong cuộc sống, mở mang kiến thức và tiềm năng để

Trang 26

cống hiến cho xã hội Năng lực đọc hiểu trong PISA được đánh giá sâu hơnbằng việc đưa ra một tiêu chí mói, mang tính chủ động hơn, đó là học sinhkhông chỉ cần hiểu bài đọc mà còn cần phải nêu cảm nhận về bài đọc ấy.

- Năng lực khoa học:

Là khả năng sử dụng những kiến thức khoa học, phân tích câu hỏi vàrút ra những kết luận hợp lí có cơ sở nhằm đưa ra những quyết định đúngđắn về thế giói tự nhiên và những thay đổi con người nên tạo ra đối vói thếgiói tự nhiên

- Năng lực giải quyết vấn đề:

Là khả năng nhận biết và giải quyết các tình huống thật trong cuộc sốngthông qua quá trình nhận thức Đó là các tình huống không có một cách giảiquyết đơn giản rõ ràng nào và giải pháp của chúng yêu cầu ứng dụng cả banăng lực Toán học, Đọc và Khoa học

Trong dạy học Sinh học- môn khoa học thực nghiệm thì phát huy nănglực học sinh chính là phát huy năng lực khoa học của học sinh

Trang 27

1.3 Cơ sở thưc tiễn - Thưc tiễn viêc xây dưng và sử dung câu hỏi theo

quan điểm Pỉsa trong dạy học Sinh học

1.3.1 Mục đỉch và phương pháp điều tra

Khi tìm hiểu vấn đề này, tôi đã sử dụng phương pháp điều tra bằng cácphiếu điều ứa vói một số câu hỏi (được ghi rõ trong phụ lục), phương pháptìm hiểu giáo án của GV và dự giờ một số tiết dạy của GV ở trường THPT.Qua điều tra có thể đánh giá phần nào về thực tiễn việc xây dựng và sử dụngcâu hỏi theo quan điểm PISA trong dạy học Sinh học: về mức độ xây dựng

và sử dụng, những khó khăn khi sử dụng câu hỏi theo quan điểm PISA vàhứng thú của HS trong giờ học có sử dụng câu hỏi PISA

1.3.2 Kết quả điều tra

1.2.2.4 Khung năng lực khoa học

Trang 28

- Qua việc điều tra ở trường THPT Hoa Lư A (Ninh Bình) và trườngTHPT Yên Dũng 2 (Bắc Giang), trường THPT Bình Xuyên và thuđược kết quả như sau:

VĐ6 Tính khả thi của

CH theo quan điểm

PISA trong dạy học

Trang 29

Trình độ học sinh không cho phép xây dựng và sử dụng nhiều câu hỏi theo quan điểm PISA trong bài giảng

VĐ8 Mong muốn trong

công tác giảng dạy

về việc xây dựng và

sử dụng CH theo

quan điểm PISA.

Được tập huấn, bồi dưỡng về

kĩ năng xây dựng và sử dụng câu hỏi theo quan điểm PISA

Được cung cấp về tài liệu về

kĩ thuật xây dựng và sử dụng câu hỏi trong dạy học.

Không cân thiêt vì tự mình có thể xây dựng và sử dụng câu hỏi một cách thành thạo

+ Đa số GV (53%) đã được biết và hiểu về câu hỏi theo quan điểm PISAtrong dạy học Sinh học và các GV (67%) đều mong muốn được cung cấp tàiliệu về kĩ thuật xây dựng và sử dụng câu hỏi theo quan điểm PISA trong dạyhọc Sinh học

+ Qua phiếu điều tra, tìm hiểu 1 số giáo án của GV và dự giờ một số tiếthọc thấy đa số các GV ít sử dụng và hầu như không sử dụng câu hỏi PISAtrong bài dạy mà chỉ sử dụng các câu hỏi ở mức độ biết và hiểu (60%), ít sử

Trang 30

dụng câu hỏi liên hệ thực tế Do đó, không phát huy được hết năng lực củaHS.

+ Theo phiếu điều ứa trong giờ học có sử dụng câu hỏi theo quan điểmPISA, sự hứng thú của HS phân làm 2 mức: lớp học bình thường như trước(40%) và HS tích cực, sôi nổi hơn (33%)

=> Việc xây dựng và sử dụng câu hỏi theo quan điểm PISA trong dạyhọc còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn

- Một số khó khăn khi xây dựng và sử dụng câu hỏi theo quan điểm PISAtrong dạy học Sinh học:

+ Do giáo viên chưa được tập huấn, bồi dưỡng về kĩ thuật xây dựng và

sử dụng câu hỏi theo quan điểm PISA trong dạy học

+ Do giáo viên thiếu thòi gian, tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, thiết

kế các câu hỏi PISA

+ Do học sinh coi bộ môn Sinh học là môn phụ nên chưa tự giác, chưachủ động tích cực trong việc học tập và rèn luyện

CHƯƠNG 2: XÂY DựNG CÂU HỎI THEO QUAN ĐIỂM PISA ĐẺ PHÁT HUY NĂNG Lực HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG I,

Trang 31

học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức của chương sau: tính quy luật của hiệntượng di truyền, di truyền học quần thể, di truyền học người,

2.1.2 Nội dung

❖ Nội dung Chương I, Phần 5, Sinh học 12:

Chương I “Cơ chế di truyền và biến dị” cho thấy bản chất của hiệntượng di truyền và biến dị là sự vận động của các cấu trúc vật chất trong tếbào Đó là các NST trong nhân, các phân tử ADN trong NST và các gen trênADN Các cấu trúc này vận động theo những cơ chế xác định, tác động lẫnnhau và tương tác với các yếu tố môi trường trong những mối liên hệ thốngnhất, qua đó biểu hiện chức năng của chúng trong hệ thống di truyền Vì vậnđộng là thuộc tính của vật chất nên các vật chất sống có sự thống nhất giữacấu trúc và chức năng

CĐ 1: Gen, mã dỉ

truyền và quá

trình nhân đôi

AND.

- Trình bày vê gen và câu trúc chung của gen

câu trúc; mã di truyền; diễn biến của các quátrình nhân đôi AND

- Gồm Bài 1: Gen, mã di truyền và quá trình

nhân đôi AND

1

CĐ 2: Quá trình

sinh tồng họp

Protein.

- Trình bày vê câu trúc và chức năng các loại

ARN, cơ chế phiên mã, cơ chế dịch mã

- Khái niệm điêu hòa hoạt động của gen, điêu

hòa hoạt động của gen ở sinh vật nhân sơ

- Gồm bài 3: Điều hòa hoạt động của gen.

1

Trang 32

CĐ 4: Đôt biên

gen.

- Trình bày vê khái niệm đột biên gen, cácdạng đột biến gen, cơ chế phát sinh, hậu quả,

ý nghĩa của đột biến gen

- Gồm bài 4: Đột biến gen

1

thể, khái niệm đột biến cấu trúc NST, cácdạng đột biến cấu trúc NST, hậu quả, ý nghĩacủa đột biến cấu trúc NST

- Trình bày về khái niệm đột biến số lượngNST, các dạng đột biến số lượng NST, cơchế phát sinh, hậu quả và ý nghĩa của từngdạng

Trang 33

- Mô tả được cấu trúc siêu hiển vi của NST Nêu được sự biến đổi hìnhthái NST qua các kì phân bào và cấu trúc NST được duy trì liên tục qua cácchu kì tế bào.

- Kể tên các dạng đột biến cấu trúc NST ( mất đoạn, lặp đoạn, đảo đoạn

và chuyển đoạn) và đột biến số lượng NST (thể dị bội và đa bội)

- Nêu được nguyên nhân và cơ chế chung của các dạng đột biến NST

- Nêu được hậu quả và vai trò của các dạng đột biến cấu trúc và đột biến

2.2 Quy trình xây dựng câu hỏi theo quan điểm PISA

2.2.1 Quy trình xây dựng câu hỏi theo quan điểm PISA

Vận dụng quy trình xây dựng câu hỏi nói chung đã đề cập ở phần cơ sở líluận đồng thòi vói mục đích phát huy năng lực của học sinh, câu hỏi theoquan điểm PISA được chúng tôi thiết kế theo các bước sau:

- Bước 1: Xác định rõ mục tiêu câu hỏi

Mục tiêu câu hỏi được hiểu là mục tiêu của việc hỏi, nghĩa là muốnngười đọc phải trả lời ở mức độ nào về kiến thức, tư duy, kĩ năng Như vậy,

GV phải nắm rõ mục tiêu bài dạy, nội dung bài dạy và năng lực của HS từ đóxác định mục tiêu theo 3 bậc: bậc l(tái hiện), bậc 2 (tái tạo), bậc 3 (sáng tạo)

- Bước 2: Tìm nội dung kiến thức có thể mã hóa thành câu hỏi

Muốn xác định được nội dung kiến thức để mã hóa thành câu hỏi thìcông việc đầu tiên của GV là phải xác định được nội dung cơ bản và trọng

Trang 34

tâm của bài dạy Những nội dung kiến thức đó là cơ sở cho việc vận dụng kiếnthức người học để nhận biết, giải thích các hiện tượng một cách khoa học hay

sử dụng các căn cứ khoa học để đưa ra kết luận

Bên cạnh nội dung kiến thức lấy từ SGK, GV có thể tham khảo tư liệu,tài liệu tham khảo khác để đặt câu hỏi ngoài SGK nhằm kích thích sự hứngthú tìm tòi tri thức và phát triển năng lực của HS

- Bước 3: Diễn đạt khả năng mã hóa thành câu hỏi

Việc diễn đạt các khả năng mã hóa nội dung kiến thức thành câu hỏi phảiđảm bảo nguyên tắc xây dựng câu hỏi

Những nội dung kiến thức có khả năng mã hóa thành câu hỏi phải đượcdiễn đạt ở các mức độ khác nhau Theo thang phân loại Bloom chia làm 6mức độ: biết; hiểu; áp dụng; phân tích, tổng họp; đánh giá; sáng tạo Tuynhiên theo quan điểm PISA để phát huy năng lực học sinh, chúng tôi xâydựng câu hỏi theo 3 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng (vận dụng mứcthấp, vận dụng mức cao) Đồng thòi các động từ trong câu hỏi phải phù hợpvới từng mức độ tư duy, cụ thể:

Quan sát và nhớ lại thông tin, nhận

biết được thời gian, địa điểm và sự

kiện, để nhận biết được các ý chính,

chủ đề, nội dung

Liệt kê, định nghĩa, thuật lại,nhận dạng, chỉ ra, sưu tầm, kểtên,

Thông

hiểu Thông hiêu thông tin, năm băt được

ý nghĩa, chuyển tải kiến thức từ dạngnày sang dạng khác

Tóm tăt, diên giải, so sánhtương phản, dự đoán, liên hệ,phân biệt, trình bày suynghĩ,

Trang 35

và lí thuyết đã học trongnhững tình huống khác, giảiquyết vấn đề bằng các kiếnthức và kĩ năng đã học.

Vận dụng, thuyêt minh, chứng minh, liên hệ, phân loại, thử nghiệm, khám phá,

So sánh và phân biệt các kiến thức đã học, đánh giá giá trị của các học thuyết, các luận điểm,

Có dấu hiệu của sự sáng tạo

Phân tích, xêp thứ tự, giảithích, phân loại, sửa đổi, sắpxếp lại, sáng tạo, thiết kế, xâydựng, đánh giá,

- Bước 4: Xác định nội dung trả lời cho câu hỏi

Tìm nội dung trả lời câu hỏi để xác định câu hỏi có phù hợp với trình độ

HS hay không Qua đó xác định câu hỏi, bài tập đã phù hợp hay chưa và nếuchư thì sửa lại như thế nào?

- Bước 5: Chỉnh sửa lại nội dung và hình thức diễn đạt câu hỏi để đưa

vào sử dụng.

Câu hỏi sau khi xây dựng được cần xem xét lại cả về nội dung lẫn hìnhthức diễn đạt Cần đối chiếu với mục tiêu bài học để xác định số lượng và chấtlượng của câu hỏi

Ví dụ minh họa: thiết kế câu hỏi mục 2 Cơ chế phiên mã

1, Mục tiêu của việc xây dựng câu hỏi:

- Trình bày được cơ chế phiên mã

Trang 36

- So sánh được sự khác nhau giữa phiên mã ở sinh vật nhân sơ và sinhvật nhân thực.

- Vận dụng giải các bài tập về phiên mã

2, Xác định nội dung kiến thức có khả năng mã hóa thành câu hỏi:

- Enzim làm nhiệm vụ phiên mã ARN polimeraza

- Phân tử mARN sau phiên mã ở tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực

3, Diễn đạt khả năng mã hóa thành các câu hỏi:

Các khả năng mã

hóa

Các mức độ của câu hỏi

Khái niệm phiên

Phát biêu kháiniệm phiên mã?

Enzim làm nhiệm

vụ phiên mã ARN

polimeraza

Enzim nào làmnhiệm vụ phiênmã?

hình 2.2trình bày cơchế phiênmã?

- So sánh trình

tự nu ở phân

tử mARN vàtrình tự nu ở

Viêt trình tự cácnucleotit của mộtđoạn AND bất kì

và xác định trình tự

mARN?

Trang 37

Nguyên tăc tông

hợp mARN

Quá trình tông hợpmARN tuân theonguyên tắc nào?

Mạch dùng làm

khuôn

Phân tử mARNđược tổng hợp dựatrên mạch khuônnào của AND?

Tại sao mARN chỉđược tổng hợp trênmạch khuôn cóchiều 3’—>5’?

Chiêu tông hợp Chiêu tông hợp

tử mARN sauphiên mã ở tế bàonhân sơ và tế bàonhân thực?

Giải thích tại sao có

sự khác biệt ởmARN sau phiên

mã ở tế bào nhân

sơ và tế bào nhânthực?

4, Xác định nội dung trả lòi cho câu hỏi:

Ví dụ: Quan sát hình 2.2 SGK so sánh phân tử mARN sau phiên mã ở

tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực?

Trang 38

Hỉnh 2.2 So đồ khái quát quá trình phiên mã

Đáp án:

- Sau phiên mã mARN ở tế bào nhân sơ được dùng trực tiếp làm khuôn

để tổng hợp protein —> mARN trưởng thành, còn ở tế bào nhân thựcmARN sau phiên mã là mARN sơ khai, có các đoạn không mã hóaintron xen kẽ các đoạn mã hóa exon, phải cắt bỏ các intron và nối cácexon tạo thành mARN trưởng thành rồi đi qua màng nhân ra ngoài tếbào chất để làm khuôn tổng hơp protein

- Chiều dài của phân tử mARN ở tế bào nhân thực bị giảm đi do phải cắt

bỏ các đoạn intron

5, Chỉnh sửa lại nội dung và hình thức diễn đạt câu hỏi để đưa vào sửdụng

2.2.2 Mã hóa trong PISA

PISA sử dụng thuật ngữ coding (mã hóa), không sử dụng khái niệmchấm bài vì mỗi một mã của câu trả lời được qui ra điểm số tùy theo câu hỏi

Trang 39

Các câu trả lời đối vói các câu hỏi nhiều lựa chọn hoặc câu trả lòi ngắnđược xây dựng trước sẽ được nhập trực tiếp vào phần mềm nhập dữ liệu.Các câu trả lòi còn lại sẽ được mã hóa bỏi các chuyên gia Sau khi mãhóa xong, sẽ được nhập vào phần mềm, OECD nhận dữ liệu và chuyển đổithành điểm cho mỗi học sinh.

Mã của các câu hỏi thường là 0, 1, 2, 9 hoặc 0, 1, 9 tùy theo từng câu hỏi.Các mã thể hiện mức độ trả lòi bao gồm: mức đạt được tối đa cho mỗi câu hỏi

và được qui ước gọi là “ Mức tối đa”, mức “ Không đạt” mô tả các câu trả lờikhông được chấp nhận và bỏ trống không trả lòi Một số câu hỏi có thêm mức

“Mức chưa tối đa” cho những câu trả lòi thỏa mãn một phần nào đó Cụ thể:

- Mức tối đa (Mức đầy đủ): Mức cao nhất (mã 1 trong những câu có mã 0,

1, 9 hoặc mã 2 trong câu có mã 0, 1, 2, 9) Ở đây hiểu là điểm

- Mức chưa tối đa (Mức không đầy đủ): Mã 1 trong các câu có mã 0, 1, 2,

9

- Không đạt: Mã 0 hoặc mã 9 Mã 0 khác vói mã 9

Có trường hợp câu hỏi được mã hóa theo các mức 00, 01, 11, 12, 21, 22,

99 Trong trường hợp này “Mức tối đa” là 21, 22; “Mức chưa tối đa” là 11, 12

và mức “Không đạt” là 00, 01, 99

2.3 Hệ thống câu hỏi theo quan điểm PISA để phát huy

năng lực học sinh trong dạy học Chương I, Phần 5, Sinh

Trang 40

- Trình bày được

khái niệm, cấu trúc

chung của gen

- Nêu được khái

bước của quá trình

nhân đôi AND làm

cơ sở cho sự nhân

đôi NST thông qua

việc quan sát mô

- Giải thích được tạisao mã di truyền là

- Vẽ được mô hìnhcấu trúc của gencấu trúc ở sinh vậtnhân sơ và sinh vậtnhân thực

- Vận dụng kiên thức

vê gen giải thíchcác hiện tượng ditruyền

- Đánh giá được ýnghĩa của quá trìnhnhân đôi AND

- Các bệnh di truyền

do xảy ra lồi trongquá trình nhân đôiAND

- Vận dụng giải cácbài tập về nhân đôiADN

vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc động vật quý hiếm

Nâng cao nhận thức đúng đắn và khoa học về gen và mã di truyền.Hình thành thái độ yêu thích khoa học tìm tòi nghiên cứu

❖ Câu hỏi xâv dưng:

nghệ California) công bố năm 1958, trả lòi các câu hỏi:

Ngày đăng: 06/10/2015, 10:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập (Chủ biên) - Đặng Hữu Lanh - Mai Sỹ Tuấn (2008), SGK Sinh học 12 (Ban cơ bản), NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Sinh học 12
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập (Chủ biên) - Đặng Hữu Lanh - Mai Sỹ Tuấn
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2008
2.Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập (Chủ biên) - Đặng Hữu Lanh - Mai Sỹ Tuấn (2008), SGV Sinh học 12 (Ban cơ bản), NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Sinh học 12 (Ban cơ bản)
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt, Phạm Văn Lập, Đặng Hữu Lanh, Mai Sỹ Tuấn
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2008
3.Lê Thị Mỹ Hà, Phạm Thị Thùy Linh, Vũ Thị Hiền Trang, Nhan Thị Hồng Phương, Lê Lan Hương, Tài liệu tập huấn PISA 2015 và các dạng câu hỏi OECDphát hành lĩnh vực khoa học, NXBGD Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn PISA 2015 và các dạng câu hỏi OECD
Tác giả: Lê Thị Mỹ Hà, Phạm Thị Thùy Linh, Vũ Thị Hiền Trang, Nhan Thị Hồng Phương, Lê Lan Hương
Nhà XB: NXBGD Việt Nam
4.Lù Thị Vân Anh (2010), Vận dụng PISA trong kiểm tra đảnh giả kiến thức của học sinh lớp 9 ở một sổ trường THCS trên địa bàn Thành phố Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng PISA trong kiểm tra đảnh giả kiến thức của học sinh lớp 9 ở một sổ trường THCS trên địa bàn Thành phố Sơn La
Tác giả: Lù Thị Vân Anh
Năm: 2010
6.Nguyễn Hải Châu, Lê Thị Mỹ, Ngô Kim Khôi, Vũ Đình Chuẩn, Nguyễn Hải Châu, Lê Thị Mỹ Hà, Trần Văn Kiên, Phương Phú Công, PISA và các dạng câu hỏi, NXBGD Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: PISA và các dạng câu hỏi
Nhà XB: NXBGD Việt Nam
5.Ngô Văn Hưng (Chủ biên), Lê Hồng Điệp, Nguyễn Thị Hồng Liên (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông môn Sinh học lớp 12, NXBGD Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình   2.2 trình   bày   cơ chế   phiên mã? - Khoá luận tốt nghiệp xây dựng câu hỏi theo quan điểm pisa để phát huy năng lực của học sinh trong dạy học chương 1, phần 5 sinh học 12
nh 2.2 trình bày cơ chế phiên mã? (Trang 36)
Hình thành thái độ yêu thích khoa học tìm tòi nghiên cứu. - Khoá luận tốt nghiệp xây dựng câu hỏi theo quan điểm pisa để phát huy năng lực của học sinh trong dạy học chương 1, phần 5 sinh học 12
Hình th ành thái độ yêu thích khoa học tìm tòi nghiên cứu (Trang 40)
Hình 8. Đột biến tăng tính chịu hạn, chịu rét ở cây Hình 3. Đột biến làm mấtlúâ - Khoá luận tốt nghiệp xây dựng câu hỏi theo quan điểm pisa để phát huy năng lực của học sinh trong dạy học chương 1, phần 5 sinh học 12
Hình 8. Đột biến tăng tính chịu hạn, chịu rét ở cây Hình 3. Đột biến làm mấtlúâ (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w