1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đại học đông dương với sự hình thành tầng lớp trí thức việt nam thời thuộc địa

147 513 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 4,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tư liệu về giáo dục đại học Pháp ở Việt Nam thời thuộc địa được lưu giữ tản mát trong các tập hồi ký của các trí thức từng là sinh viên của Đại học Đông Dương hay những bài báo đượ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN KIM DUNG

ĐẠI HỌC ĐÔNG DƯƠNG VỚI SỰ HÌNH THÀNH TẦNG LỚP TRÍ THỨC VIỆT NAM THỜI THUỘC ĐỊA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN KIM DUNG

ĐẠI HỌC ĐÔNG DƯƠNG VỚI SỰ HÌNH THÀNH TẦNG LỚP TRÍ THỨC VIỆT NAM THỜI THUỘC ĐỊA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả những nghiên cứu trong luận văn này là của riêng tôi, chưa từng được nghiên cứu và công bố Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội tháng 2 năm 2014

Học viên Nguyễn Kim Dung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Học viên vô cùng biết ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của Thầy, Giáo sư Nguyễn Văn Khánh, đã gợi mở, định hướng, khuyên bảo, sửa chữa và thúc giục học viên cố gắng hết sức hoàn thành nghiên cứu

Học viên gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy, Phó Giáo sư Phạm Hồng Tung, Phó Giáo sư Trần Kim Đỉnh, Giáo sư Đỗ Quang Hưng, Phó Giáo

sư Phạm Xanh đã gợi mở ý tưởng, chỉ dạy, cung cấp cho học viên nhiều tài liệu và những lời góp ý đầy nhiệt tình, đầy trách nhiệm để học viên bước vững vàng hơn trên con đường đến với học thuật của mình

Xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô, những người anh, người chị, người bạn, người đồng nghiệp đã giúp đỡ học viên thực hiện đề tài

Cuối cùng học viên dành lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình đã giúp đỡ học viên hoàn thành nhiệm vụ của mình

Trong quá trình thực hiện đề tài, học viên đã có nhiều cố gắng nhưng do khả năng có hạn, luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót Mong các thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để học viên hoàn thiện nghiên cứu này

Hà Nội tháng 2 năm 2014

Học viên Nguyễn Kim Dung

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Nhiệm vụ của đề tài 3

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của đề tài 6

6 Bố cục của đề tài 7

CHƯƠNG 1 ĐẠI HỌC ĐÔNG DƯƠNG VÀ SỰ RA ĐỜI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC PHÁP Ở VIỆT NAM THỜI THUỘC ĐỊA 8

1.1 Nhu cầu thành lập trường đại học ở Việt Nam thời thuộc địa 8

1.2 Đại học Đông Dương (1906-1908) và sự hình thành nền giáo dục đại học hiện đại ở Việt Nam 16

CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI HỌC ĐÔNG DƯƠNG (1917-1945) 28

2.1 Tình hình Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai 28

2.2 Chính sách giáo dục của Albert Sarraut và sự tái lập Đại học Đông Dương 30

2.3 Hoạt động của Đại học Đông Dương trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2 (1917- 1929) 36

2.4 Đại học Đông Dương trong thời kỳ 1930-1945 54

2.4.1 Về tổ chức 54

2.4.2 Đại học Đông Dương (1930-1939) 57

2.4.2.1 Đại học Đông Dương từ năm 1930-1935 57

2.4.2.2 Đại học Đông Dương trong giai đoạn 1936-1939 62

2.4.3 Đại học Pháp ở Việt Nam trong những năm 1939-1945 63

CHƯƠNG 3 ĐẠI HỌC ĐÔNG DƯƠNG VỚI SỰ HÌNH THÀNH TẦNG LỚP TRÍ THỨC VIỆT NAM THỜI THUỘC ĐỊA 81

Trang 6

3.1 Vài nét về trí thức Việt Nam truyền thống 81

3.2 Đội ngũ trí thức Việt Nam mới hình thành từ Đại học Đông Dương 84

3.3 Vai trò của trí thức Đại học Đông Dương với cuộc hiện đại hóa ở Việt Nam 97

3.3.1 Đại học Đông Dương là con đường và trung tâm trực tiếp truyền bá tư tưởng và văn hóa phương Tây vào Việt Nam 97

3.3.2 Đại học Đông Dương – cái nôi đào tạo đội ngũ trí thức Tây học có trình độ cao – lực lượng tiên phong trong công cuộc hiện đại hóa nước nhà 102

3.4 Trí thức, sinh viên Đại học Đông Dương với phong trào đấu tranh giành độc lập 108

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

PHỤ LỤC 119

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1 Trường Pháp-Việt (1910-1917) 33 Bảng 2.2 Trường tiểu học và trung học niên khóa 1922-1923 34 Bảng 2.3 Trường Đại học Đông Dương năm 1921-1922 49 Biểu đồ 2.1 Xu hướng phát triển của Đại học Đông Dương (1913-1944) 56 Bảng 2.4 Trường Đại học Đông Dương 1931-1932 61 Bảng 2.5.Trường Đại học Đông Dương năm 1941-1942 76

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài

Đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu quá trình hoạt động của trường Đại học Đông Dương - một trung tâm lớn đào tạo trí thức có trình độ cao ở Việt Nam thời Pháp thuộc Đại học Đông Dương chính là sự phản ánh sinh động mô hình giáo dục đại học Pháp ở Việt Nam tương xứng với vai trò đại diện cho nền học vấn của nước Pháp tại Đông Dương – trung tâm thuộc địa của Pháp ở Châu Á – Thái Bình Dương Giữ một vị trí quan trọng như sự

mở đầu cho nền giáo dục đại học hiện đại Việt Nam, Đại học Đông Dương là con đường truyền bá trực tiếp văn hóa phương Tây vào Việt Nam

Trong gần 40 năm hoạt động, Đại học Đông Dương đã đào tạo được một đội ngũ trí thức mới có trình độ cao Đội ngũ trí thức này có những đóng góp lớn vào công cuộc hiện đại hóa đất nước và phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX

Sự hình thành và phát triển của Đại học Đông Dương cũng khẳng định

sự tiếp nối nền học vấn của dân tộc Việt Nam lên một bước mới Đó là bước chuyển biến từ nền giáo dục Khổng giáo sang nền giáo dục hiện đại thông qua

sự áp đặt của người Pháp và nỗ lực tiếp nhận của người Việt để hiện đại hóa mình Do đó, thế hệ trí thức được sinh ra từ nền giáo dục hiện đại này vừa mang tư tưởng và giá trị phương Tây vừa lắng đọng, kết tinh trong mình những tài sản và phẩm cách của nho sĩ Họ đã góp phần tạo dựng nên một thời đại vô cùng sôi nổi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa; của cuộc tranh đấu bảo vệ những tinh hoa truyền thống của con người Việt và vươn lên tiếp nhận, tỏa sáng các giá trị của văn minh phương Tây để hoàn thiện, hiện đại hóa một dân tộc khao khát độc lập, tự do

Như vậy, tính từ mốc mở đầu năm 1906, nền giáo dục đại học hiện đại Việt Nam đã có bề dày lịch sử hơn 100 năm

Trang 9

Từ quá trình và kết quả nghiên cứu về nền giáo dục đại học Việt Nam thời thuộc địa, luận văn đưa ra một số so sánh với nền giáo dục đại học Việt Nam, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho cải cách giáo dục hiện nay, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang tích cực xây dựng nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế mạnh mẽ

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Lịch sử giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm với nhiều công trình cũng như nhiều bài viết được công bố trên sách, báo, tạp chí và diễn đàn khoa học

Ở trong nước

Tiêu biểu phải kể đến một loạt các công trình của các học giả như Phan Trọng Báu, Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Đăng Tiến, Nguyễn Q Thắng, Lê Văn

Giạng Ngoài ra, gần đây có công trình của Trần Thị Phương Hoa: Giáo dục

Pháp-Việt ở Bắc Kỳ (1884-1945) đã cung cấp nhiều tư liệu về giáo dục Bắc

Kỳ nói riêng và giáo dục Việt Nam nói chung thời thuộc Pháp

Đi sâu vào đối tượng nghiên cứu là giáo dục đại học thời Pháp thuộc, kết quả nghiên cứu cũng đạt được những bước tiến nhất định về Đại học Đông Dương nhân kỉ niệm 100 năm Đại học Quốc gia Hà Nội – tiền thân là Đại học Đông Dương Tiêu biểu là những bài viết của Tiến sĩ Đào Thị Diến về Đại

học Đông Dương đăng trên Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, trên Tạp chí

Nghiên cứu lịch sử; Đề tài Đại học Đông Dương do PGS.TS Trần Kim Đỉnh

làm Chủ nhiệm năm 2006; Kỷ yếu Hội thảo 100 năm nghiên cứu và đào tạo

các ngành khoa học xã hội và nhân văn của Đại học Khoa học xã hội và Nhân

văn năm 2006 Cuốn 100 chân dung một thế kỷ Đại học Quốc gia Hà Nội của

Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2006 đã cung cấp tư liệu quan trọng về nhiều trí thức xuất sắc tốt nghiệp từ Đại học Đông Dương thời Pháp thuộc

Ở nước ngoài

Năm 2009, tác phẩm rất có giá trị, Nhà trường Pháp ở Đông Dương, của

học giả Trịnh Văn Thảo, đã được dịch ra tiếng Việt và được xuất bản Cuốn

Trang 10

sách thể hiện cách tiếp cận mới, độc đáo, khách quan của tác giả và cung cấp những tư liệu rất cần thiết cho nghiên cứu lịch sử giáo dục Việt Nam thời

thuộc địa nói chung và lịch sử giáo dục đại học thời Pháp thuộc nói riêng Cuốn Ba thế hệ trí thức người Việt (1862-1945): Nghiên cứu lịch sử xã hội

của học giả này cũng là một công trình nghiên cứu xã hội học lịch sử công phu về trí thức Việt Nam thời Pháp thuộc Bên cạnh đó, nhiều công trình của

nhà khoa học Gail P Kelly về giáo dục Việt Nam như Franco-Vietnamese

schools, 1918-1938 là luận án tiến sĩ của bà tại đại học Wiscosin-Madison,

Hoa Kỳ năm 1975; cuốn sách French colonial education: Essays on Vietnam

and West Africa xuất bản tại New York năm 2000 trình bày nhiều nghiên cứu

về Đại học Đông Dương từ năm 1918-1938

Những tư liệu về giáo dục đại học Pháp ở Việt Nam thời thuộc địa được lưu giữ tản mát trong các tập hồi ký của các trí thức từng là sinh viên của Đại học Đông Dương hay những bài báo được đăng tải trên những tờ báo phát

hành đầu thế kỷ XX như Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Nam

Phong tạp chí, Đông Pháp, Trung Bắc tân văn, Thanh Nghị, Tri Tân , hiện

vẫn chưa được khai thác triệt để Đó là chưa kể đến một hệ thống tư liệu bằng tiếng Pháp được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ trung ương I, Trung tâm lưu trữ của Pháp ở Paris vẫn chưa được tiếp cận một cách có hệ thống để phục vụ cho nghiên cứu lịch sử giáo dục đại học Việt Nam đầu thế kỷ XX

Đại học Đông Dương là lò đào tạo không ít những trí thức xuất sắc và là con đường quan trọng để “gió Âu Tây” thổi mạnh vào xã hội Việt Nam đang hiện đại hóa Nhưng cho đến nay, chưa có một công trình nào đi vào nghiên cứu cụ thể, hệ thống bậc đào tạo đại học ở Việt Nam thời Pháp thuộc và ảnh hưởng của nó đến sự hình thành tầng lớp trí thức Việt Nam cũng như công cuộc hiện đại hóa đất nước đầu thế kỷ XX

3 Nhiệm vụ của đề tài

Trong luận văn này, học viên tập trung khai thác các tư liệu cũng như những đánh giá của các học giả, các nhà nghiên cứu về giáo dục đại học Pháp

Trang 11

dục đại học Việt Nam đến hồi ký của các trí thức tốt nghiệp Đại học Đông Dương Ngoài ra, học viên cố gắng tiếp cận các tư liệu bằng tiếng nước ngoài về giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XX Để thực hiện các yêu cầu của luận văn, học viên cũng kết hợp các tri thức về lịch sử Việt Nam, về giao lưu, tiếp xúc văn hóa Đông Tây, về văn hóa nghệ thuật Việt Nam để làm phong phú hơn nhận thức của mình về giáo dục đại học Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX và vai trò của nó đối với sự hình thành tầng lớp trí thức Việt Nam thời thuộc địa

Từ những nỗ lực đó, học viên mong muốn thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đặt ra là bổ sung vào những khoảng trống trong lịch sử giáo dục đại học Việt Nam thời Pháp thuộc Trên cơ sở phác dựng lại hình ảnh và hoạt động của Đại học Đông Dương cùng các trường cao đẳng, đại học trực thuộc, chúng tôi đưa ra những nhận định dựa trên cơ sở các tư liệu lịch sử đã thu thập được về giáo dục đại học Việt Nam thời thuộc địa và các trí thức – sản phẩm được đào tạo từ nền giáo dục đại học đó, đồng thời tìm cách chỉ ra mối liên hệ giữa Đại học Đông Dương với cuộc hiện đại hóa ở Việt Nam đầu thế

kỷ XX và làm rõ các trí thức được đào tạo từ Trường có vị trí như thế nào trong cuộc cách mạng văn hóa cũng như cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Với tinh thần khách quan khoa học, trong đề tài này, chúng tôi muốn đánh giá các sự kiện lịch sử về Đại học Đông Dương cũng như những nhân vật lịch sử có liên quan trên cả hai bình diện tích cực và tiêu cực, chủ quan và khách quan

Hoàn thành nhiệm vụ đó, chúng tôi hi vọng góp thêm nhận thức nhỏ bé của mình vào quá trình nghiên cứu lịch sử giáo dục đại học Việt Nam và vào mảng đề tài nghiên cứu về trí thức Việt Nam cũng như lịch sử tiếp xúc văn hóa giữa Việt Nam với phương Tây đầu thế kỷ XX

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Tư liệu về Đại học Đông Dương và các trí thức được đào tạo từ trường đại học này cùng những đóng góp của họ với lịch sử Việt Nam thời thuộc địa rất phong phú, đa dạng

Học viên đã sử dụng phần lớn là sử liệu viết, cụ thể là những cuốn sách, bài báo về giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng của các học

Trang 12

giả đã nói ở trên Những cuốn hồi ký của những trí thức tiêu biểu đầu thế kỷ

XX như Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Vỹ, Vũ Ngọc Phan, Phạm Duy, Vương Hồng Sển, Vũ Đình Hòe, Xuân Diệu – Huy Cận, Tô Hoài cũng được học viên khai thác Ngoài ra, các bài báo về giáo

dục trên Nam Phong, Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn, Đông Pháp,

Thanh Nghị, và nhiều nguồn tư liệu khác như tác phẩm văn học nghệ thuật

nổi tiếng của các văn nghệ sĩ đầu thế kỷ XX, thông tin trên internet, các tài liệu dịch v.v cũng là nguồn tư liệu hữu ích cho nghiên cứu của luận văn

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đứng trước một đề tài nghiên cứu chuyên sâu, có tính hệ thống cao và khá mới như vậy, học viên trước hết phải chọn cho mình phương pháp nghiên cứu phù hợp Các phương pháp nghiên cứu truyền thống, cơ bản được áp dụng là: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh v.v

Việc lắp ghép, kết dính các mảnh vỡ lịch sử của Đại học Đông Dương đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức Học viên đã cố gắng đi thu thập những mảnh gốm vỡ đó, tập hợp và dựng lại hình dạng, lắp ghép, kết dính những mảnh gốm này bằng sự logic của trí tưởng tượng và sự cần mẫn

Việc tiếp cận các tư liệu, công trình nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu đi trước, các đồng nghiệp về giáo dục đại học nói riêng và giáo dục Việt Nam nói chung là việc làm rất cần thiết để khai thác tư liệu; học tập phương pháp nghiên cứu; thu thập, tổng hợp, so sánh những đánh giá quan trọng về đối tượng nghiên cứu; đồng thời tìm ra những khoảng trống lịch sử cần phải bổ sung, hay những sử liệu cần phải được làm rõ hơn nữa Những nghiên cứu của những người đi trước là chất liệu rất quan trọng để học viên trên cơ sở những cái đã có tiến hành nghiên cứu sâu thêm và tìm cái mới của riêng mình Đặc biệt, vấn đề phân định mốc thời gian để nghiên cứu đối tượng trong từng giai đoạn đặc trưng cụ thể là việc làm hết sức khó khăn, học viên

đã phải căn cứ và dành rất nhiều thời gian phân tích, so sánh những nghiên

Trang 13

cứu có trước, kết hợp với sử liệu tìm được cùng vốn tri thức của bản thân để tìm ra cách phân định phù hợp nhất với đề tài của mình

Trong nghiên cứu, ngoài việc khai thác các tư liệu thành văn, phương pháp tiếp cận nhân chứng lịch sử đã được vận dụng Tính từ khi ra đời Đại học Đông Dương đến nay đã được hơn 100 năm Những trí thức từng học tập tại Đại học Đông Dương hiện nay rất tản mát, đã rất nhiều tuổi hoặc đã qua đời Do đó, việc khai thác kí ức của họ về Đại học Đông Dương gặp nhiều khó khăn Học viên đã lựa chọn cách khai thác hồi ký của một số trí thức tiêu biểu từng học tại Đại học Đông Dương Từ các sự kiện lịch sử do các nhân chứng lịch sử cung cấp, học viên cố gắng chắp nối các sự kiện, sau đó phân tích, kiểm chứng và so sánh để chắt lọc lấy những sử liệu mà học viên cho là tiệm cận nhất với sự thật lịch sử Đảm bảo tính khách quan của nghiên cứu lịch sử được học viên coi là tiêu chí quan trọng nhất khi làm việc với loại hình

Đề tài Đại học Đông Dương với sự hình thành tầng lớp trí thức Việt

Nam thời thuộc địa có những đóng góp quan trọng sau:

Thứ nhất, trình bày sự ra đời và quá trình hoạt động của Đại học Đông

Dương từ năm 1906 đến năm 1945, chi tiết về tất cả các mặt hoạt động: chính sách giáo dục, tổ chức, chương trình học, phương pháp giảng dạy, đội ngũ giảng viên, sinh viên và sản phẩm đào tạo.v.v

Thứ hai, phân tích và nêu bật vai trò của Đại học Đông Dương với sự

hình thành tầng lớp trí thức Việt Nam thời thuộc địa và vị trí của Trường trong cuộc hiện đại hóa ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

Trang 14

Thứ ba, trong luận văn này, chúng tôi muốn góp phần nhỏ bé vào việc

cung cấp các kinh nghiệm lịch sử cho công cuộc cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

Tóm lại, luận văn cung cấp cái nhìn đầy đủ, chi tiết hơn về nguyên nhân sự ra đời và lý giải một cách cặn kẽ nhân tố tác động đến sự tái lập Đại học Đông Dương sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Phân tích cụ thể chính sách giáo dục đại học của chính quyền thực dân và cơ chế vận hành của hệ thống giáo dục đại học trong khuôn khổ các chính sách đó Trình bày chi tiết hoạt động và vị trí của Đại học Đông Dương trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Nhấn mạnh vai trò của Đại học Đông Dương với cuộc hiện đại hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX trên nhiều phương diện Đồng thời chỉ ra mối liên hệ khăng khít giữa các trí thức được đào tạo từ trường Đại học Đông Dương với phong trào giải phóng dân tộc không chỉ trong hoạt động đấu tranh, mà quan trọng hơn là vai trò truyền bá các khuynh hướng tư tưởng cách mạng, thành lập các đảng, phái chính trị và định hướng các phong trào

6 Bố cục của đề tài

Đề tài Nền giáo dục đại học Pháp với sự hình thành tầng lớp trí thức

Việt Nam thời thuộc địa gồm có bố cục 3 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Đại học Đông Dương và sự ra đời của giáo dục đại học ở Việt

Nam thời thuộc địa

Chương 2: Hoạt động của Đại học Đông Dương (1917-1945)

Chương 3: Đại học Đông Dương với sự hình thành tầng lớp trí thức Việt

Nam thời thuộc địa

Trang 15

CHƯƠNG 1 ĐẠI HỌC ĐÔNG DƯƠNG VÀ SỰ RA ĐỜI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

PHÁP Ở VIỆT NAM THỜI THUỘC ĐỊA

1.1 Nhu cầu thành lập trường đại học ở Việt Nam thời thuộc địa

Sự ra đời của Đại học Đông Dương năm 1906 đã mở đầu cho nền giáo dục đại học hiện đại Việt Nam Hoạt động ngắn ngủi của Đại học Đông Dương vẻn vẹn 1 năm đã khiến nhiều nhà nghiên cứu đặt câu hỏi: Đại học Đông Dương ra đời năm 1906 có thực sự nằm trong nhu cầu phải thành lập 1 trường đại học hiện đại ở Việt Nam lúc đó hay không? Và những ai đã tham góp vào sự ra đời của trường đại học này trong một hoàn cảnh đặc biệt gấp rút như vậy? Trong sự đáp ứng thực tế xã hội, Đại học Đông Dương đã thực hiện

sứ mệnh của mình đến đâu? Chúng tôi thể hiện nhận thức của mình thông qua việc tìm cách lý giải những câu hỏi trên

Đầu thế kỷ XX, công cuộc thực dân hóa của các đế quốc phương Tây đã được áp đặt trên toàn châu Á Người phương Tây sau khi biến hầu hết các nước châu Á thành thuộc địa của mình, luôn chắc chắn rằng văn minh phương Tây của họ sớm muộn sẽ ngự trị trên vùng đất rộng lớn này Nhưng những cuộc cải cách văn hóa rộng lớn ở Nhật Bản và Trung Quốc đã khiến họ giật mình Người Pháp ở Việt Nam cũng không khỏi thảng thốt khi nhận ra:

“Người Trung Quốc và những quốc gia có nền văn minh Trung Hoa đều hiểu rằng nền văn minh cổ đại của họ không còn là một thứ vũ khí hữu hiệu nữa Bởi vậy, Trung Quốc đã cải cách hoàn toàn nền giáo dục của họ theo kiểu Nhật Bản Người An Nam với sự tiếp xúc với người Pháp đã làm quen với những phát minh hiện đại mà họ đã xác nhận một cách công khai những tiến bộ

đó, cũng đòi hỏi một nền giáo dục thích hợp hơn với thời đại của họ.”[3;6], [52] Yêu cầu một cuộc cải cách giáo dục không phải đến đầu thế kỷ XX mới xuất hiện mà đã nằm trong ý định của người Pháp - những kẻ thống trị - từ những năm cuối thế kỷ XIX khi công cuộc bình định hoàn thành

Trang 16

Vấn đề lựa chọn ngôn ngữ nào cho loại giáo dục nào ở Việt Nam đã được người Pháp trăn trở từ những năm 1890 Họ cho rằng chừng nào nước Pháp chưa có khả năng hình thành một tầng lớp ưu tú người bản xứ thông qua

sự giáo dục đặc biệt thì “tất cả những gì chúng ta sẽ làm đều trở nên vô bổ” Dumoutier ở Bắc Bộ, Pétrus Ký và Landes ở Nam Bộ bảo vệ chính sách đưa tiếng Pháp vào bậc trung học và đại học như là ngôn ngữ chính Và ý tưởng thành lập trường đại học ở Việt Nam của người Pháp có từ lúc đó, trước tiên

họ nghĩ đến ở Sài Gòn, sau đó sẽ là ở Hà Nội vào đầu thế kỷ XX

Chủ nghĩa thực dân về văn hóa càng thôi thúc mạnh mẽ hơn ý định thành lập một trường đại học để đào tạo tầng lớp ưu tú bản xứ theo Tây học, thân Pháp, thay thế tầng lớp nho sĩ đào tạo từ trường đại học Nho giáo truyền thống mà bọn thực dân luôn ngờ vực, lo ngại

Cộng thêm vào đó là quyết tâm xóa sạch ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đã in dấu ở Việt Nam hàng nghìn năm, mở đường cho sự thay thế và thống trị của văn hóa Pháp càng làm cho thực dân Pháp chĩa mũi nhọn một cách không khoan nhượng vào tầng lớp nho sĩ Pháp cho rằng: “Người An Nam không thích người Trung Quốc vì họ đang chịu đựng sự thống trị về mặt tinh thần Chỉ có truyền bá mạnh mẽ tiếng Pháp ở Đông Dương mới tránh được cho họ cái gông này”; “Nho sĩ đã từng và mãi mãi vẫn là kẻ thù của nước Pháp, không phải vì lòng yêu nước của họ ( ), mà vì nho sĩ ở Đông Dương chỉ là lời khẳng định sự thống trị của Trung Quốc mà thôi ( )”.[52;120]

Những phần tử tân học thân Pháp, lúc đó còn rất ít ỏi, tỏ ra lo ngại bị lấn

át bởi phái cựu học trên hoạn lộ, phàn nàn rằng: Những người này (nho sĩ) một khi đỗ đạt sẽ được làm quan ít ra cũng Tri huyện hoặc Tri phủ và hoạn lộ xem ra vẫn thênh thang Còn “chúng tôi vẫn là những người thấp kém về mặt

xã hội đối với những nho sĩ hạng thấp nhất”[16;17], [52] Họ yêu cầu chính quyền Pháp gấp rút thực hiện cải cách giáo dục và mở trường đại học để củng

cố địa vị phái tân học

Trang 17

Mặt khác, đúng như những lo ngại của thực dân Pháp trước ảnh hưởng mạnh mẽ từ phong trào duy tân tại Trung Quốc và Nhật Bản, phong trào Khổng giáo duy tân đã bùng nổ mạnh mẽ ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ

XX Các sĩ phu yêu nước cấp tiến Việt Nam, sau thất bại của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc bằng con đường bạo lực theo khuynh hướng phong kiến, đại diện là phong trào Cần Vương, đã nhanh chóng tiếp thu luồng gió cải cách từ Nhật Bản, Trung Hoa Họ sớm nhận ra yêu cầu cải cách đất nước toàn diện, phục hưng văn hóa dân tộc mà mũi nhọn là cách tân giáo dục Cuộc cải cách giáo dục toàn diện là niềm mong mỏi và nỗ lực của người Việt Nam được thể hiện rõ nét và sôi nổi trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy tân của Phan Châu Trinh và nhóm Đông Kinh nghĩa thục Đặc biệt, sự ra đời và hoạt động rầm rộ của trường Đông Kinh nghĩa thục tại Hà Nội được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là một nhân tố tác động đến sự ra đời của Đại học Đông Dương năm 1906 một cách nhanh chóng và vội vã khi chưa hề có cơ sở đầy đủ cho sự ra đời một trường đại học hiện đại thực sự ở Việt Nam lúc đó

Trường Đông Kinh nghĩa thục mở ở Hà Nội từ tháng 3 năm 1907, đến tháng 11 năm 1907 thì bị đóng cửa, một số yếu nhân của trường bị thực dân bắt đày đi Côn Đảo Thời gian hoạt động của trường gần như song song với

sự ra đời và hoạt động của Đại học Đông Dương Trường với tư cách một trường tư thục được chính quyền cho phép mở, đã mô phỏng mô hình trường Khánh Ứng nghĩa thục của Nhật Bản Khánh Ứng nghĩa thục có 3 cấp học: tiểu học, trung học và đại học theo chiều dọc và có xu hướng phát triển thành Viện đa ngành nhiều khoa Đông Kinh nghĩa thục hướng đến mục tiêu của phong trào Duy tân lúc đó: “Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh” Trường có tổ chức tương đối chặt chẽ, bao gồm Ban Tu thư (biên soạn và dịch thuật giáo trình), Ban Tài chính (phụ trách thu chi), Ban Cổ động (tổ chức tuyên truyền, diễn thuyết, bình văn, hội họp) Trường chủ trương truyền

bá lối sống mới, cải cách văn hóa xã hội theo hướng hiện đại; tổ chức một mô

Trang 18

hình giáo dục mới tách biệt khỏi giáo dục khoa cử truyền thống, xóa bỏ lối học “tầm chương trích cũ” xáo mòn, chú trọng thực học, tiếp cận khoa học phổ thông và khoa học chuyên môn, nâng cao niềm tự hào về văn hóa dân tộc,

cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc; đề cao phát triển kinh tế để tạo tiền đề cho sự hùng cường của đất nước Trường lấy chữ Quốc ngữ làm ngôn ngữ chính của giáo dục bên cạnh chữ Hán và chữ Pháp

“Chữ Quốc ngữ là hồn của nước Phải đem ra tính trước dân ta Sách các nước, sách Chi Na Chữ nào nghĩa nấy dịch ra tỏ tường”

(Khuyên người học chữ Quốc ngữ - Thơ văn Đông Kinh nghĩa thục)

Điều này thể hiện ý thức độc lập dân tộc, chống lại toan tính của một số thực dân Pháp muốn sử dụng triệt để tiếng Pháp trong giáo dục ở Việt Nam,

cổ súy cho nền giáo dục hoàn toàn bằng Pháp ngữ

Trường Đông Kinh nghĩa thục ảnh hưởng mạnh mẽ ở Hà Nội, lan rộng

ra cả Bắc, Trung, Nam, mạnh mẽ nhất ở miền Bắc Phong trào trường nghĩa thục bùng nổ khiến thực dân Pháp vô cùng lo ngại

Ban đầu, trường chưa có cấp giáo dục đại học Do nhiều nguyên nhân, có thể do trường mới được thành lập là một trường học kiểu mới đang được thử nghiệm tại đất nước Khổng giáo cả nghìn năm nên còn rất nhiều bỡ ngỡ, trình

độ học sinh chưa đủ và ngay cả những người tổ chức cũng rất mơ hồ về một

mô hình giáo dục đại học Âu Tây hiện đại, v.v Nhưng chắc chắn sự mô phỏng mô hình giáo dục của Khánh Ứng nghĩa thục sẽ đặt ra nguy cơ cạnh tranh với nền giáo dục của người Pháp tại Việt Nam - một lĩnh vực mà thực dân Pháp cho rằng phải nắm giữ trước tiên nếu muốn cai trị lâu dài ở xứ thuộc địa này Và phải chăng, vì lý do đó mà trường Đại học Đông Dương đã vội vã

ra đời và đi vào hoạt động?

Trong lúc phong trào Duy tân sôi nổi khắp cả nước, một số yếu nhân của nhóm Đông Kinh nghĩa thục đã thảo đơn lên chính quyền thực dân xin mở

Trang 19

trường cao đẳng để thay thế nền học vấn cũ bằng nền học vấn phương Tây hiện đại: “Chúng tôi xin chính phủ bãi bỏ khoa cử và mở ngay Cao đẳng học đường để đào tạo nhân tài”[25;76] Có thể, việc đệ đơn này cũng tạo ra sự quan ngại của thực dân Pháp về nguy cơ một mô hình giáo dục đại học theo Nhật Bản hay một quốc gia nào đó khác Pháp sẽ có thể được nhóm Đông Kinh nghĩa thục này nhen nhóm ở Việt Nam do họ đã tận mắt chứng kiến sự phát triển rầm rộ của phong trào nghĩa thục từ Bắc chí Nam, mà trung tâm là trường nghĩa thục Đông Kinh?

Cùng lúc đó, phong trào Đông Du, do Phan Bội Châu khởi xướng, tổ chức cho thanh niên Việt Nam du học Nhật Bản ngày càng phát triển Để ngăn chặn làn sóng du học này, chính quyền thực dân đã xúc tiến thành lập một trường đại học ở Việt Nam Nhà cầm quyền Pháp nhận ra nhu cầu phải thành lập một trường đại học ở Việt Nam để làm đối trọng với phong trào Đông Du

Ít lâu sau, các nhà Khổng giáo duy tân của Đông Kinh nghĩa thục nghe tin Toàn quyền Beau cho mở một trường Đại học thật, lấy làm vui mừng lắm Ngay hôm khai trương, các cụ đã đến học thử tại Đại học Đông Dương để tham khảo về nền giáo dục đại học mới Nhưng các cụ đều kém tiếng Pháp, lại tiếp cận với nhiều tri thức khoa học cơ bản phức tạp nên không hiểu gì [25;77,78]

Sự việc thể hiện lòng yêu nước, sự nhiệt tình, niềm say mê đón nhận

“luồng gió mới” của các nhà Nho yêu nước cấp tiến Việt Nam lúc đó Mặt khác cũng minh chứng rằng, sự ra đời của trường Đại học Đông Dương vào thời điểm đó, xét thực tế chuyển mình của nền học vấn Việt Nam, là chưa đúng lúc Bởi lúc đó, số người biết tiếng Pháp ở nước ta còn quá ít ỏi, ngay cả các bậc thức giả cũng còn rất lơ mơ về tiếng Pháp, trong khi trường này chỉ dạy và học bằng tiếng Pháp mà thôi Theo Trịnh Văn Thảo thì giáo dục Pháp

ở Việt Nam cho đến đầu thế kỷ XX vẫn chỉ tạo ra được 1 số ít ỏi các thông ngôn cho người Pháp, hay một số nhân viên công sở có thể nghe hiểu được

Trang 20

tiếng Pháp để làm phụ tá và một số đông những “con vẹt” biết nghe và nói một thứ tiếng “Pháp bồi” mà thôi, tất nhiên là càng không thể hiểu nổi, diễn đạt nổi những ý nghĩa phức tạp của ngôn ngữ, cũng như những khái niệm khoa học Vả lại sự thể hiện của giáo dục Pháp-Việt lúc đó cũng không nhiều nhặn gì ngoài hai trường thông ngôn, một ở Hà Nội, một ở Huế Do đó, vào thời điểm năm 1906-1907, ở Việt Nam chưa thể có một lớp người đủ thông thạo tiếng Pháp để có thể tiếp thu tri thức ở mức học vấn “cao đẳng” chỉ bằng ngôn ngữ Pháp

Năm 1906, Toàn quyền Paul Beau đã ra Nghị định cải cách giáo dục lần thứ nhất Theo đề án của Hội đồng Cải cách giáo dục thì không có việc thành lập trường đại học Nhưng trước áp lực phong trào cải cách của các sĩ phu yêu nước, Toàn quyền Paul Beau đã quyết định thành lập trường Đại học Đông Dương để đối phó kịp thời [35]

Tính chất thuần túy “tượng trưng” của dự án thành lập Đại học Đông Dương được thể hiện rõ ở mục tiêu tuyên truyền của nó, như Paul Beau thừa nhận: “Không còn nghi ngờ gì về việc xây dựng trường đại học này có tiếng vang thật sự trong các giới người Việt vì đối với họ các trường đại học của Nhật và Trung Quốc đã có ít nhiều uy tín và thậm chí là sự hấp dẫn được thể hiện qua việc một số du học sinh đi Nhật; nó sẽ góp phần mở rộng ảnh hưởng trí tuệ của chúng ta vượt ra ngoài biên giới Đông Dương” [52;64]

Nhưng đó chỉ là một mặt của vấn đề, Gail Kelly trong bài viết của mình với nhan đề “The Myth of Educational Planning: The Case of the Indochinese University, 1906-1938” (Câu chuyện thần thoại về một kế hoạch giáo dục: trường hợp Đại học Đông Dương, 1906-1938), xuất bản năm 2000 tại NewYork lại đưa ra nhận định rằng: Hệ thống giáo dục Pháp - Việt ở Việt Nam giữa hai cuộc chiến tranh thế giới không có động cơ giáo dục và mô hình tương ứng của Đại học Hà Nội về tổ chức hành chính thông thường, Paul Beau và người tiền nhiệm là Paul Doumer xem trường đại học giống như những dự án hứa hẹn tại đồng bằng sông Mê Kông hay những tuyến đường xe

Trang 21

lửa, những cây cầu và những con đường mà họ đã xây dựng [18] Như vậy, trường Đại học Đông Dương theo nhận định này chỉ là một bộ phận làm đầy

đủ thêm mô hình thuộc địa được Paul Beau kiến tạo ở Đông Dương mà thôi Đánh giá về nguyên nhân ra đời Đại học Đông Dương, Giáo sư Đinh Xuân Lâm, một cựu sinh viên của trường, cho rằng: Thực dân Pháp quyết định mở trường Đại học Đông Dương ban đầu chưa phải là với mục đích cao

cả khai hóa văn minh cho dân xứ thuộc địa như họ đã rêu rao mà mới chỉ là lập “một trường đại học phổ thông để khai dẫn cho kẻ thượng lưu Việt Nam biết văn minh học thuật của quý quốc” (tức nước Pháp) Trước hết, việc mở trường là nhằm vào yêu cầu bức bách của chính họ, cần đẩy mạnh khai thác bóc lột về kinh tế ở thuộc địa để bù đắp những thiệt hại to lớn về tài chính trong chiến tranh xâm lược (1858-1884), rồi sau đó là chiến tranh bình định (1885-1896) kéo dài Còn về chính trị và văn hóa thì đó là cách mà Toàn quyền Beau ứng phó lại với sự bồng bột của phong trào Đông Du (1905-1908) dưới ảnh hưởng của cuộc Duy tân Minh Trị ở Nhật Bản (1867) và cuộc vận động cải cách ở Trung Quốc (1898) Đây là cách mà ông ta cầm chân thanh niên Việt Nam có nhu cầu học tập, ngăn cản họ tìm đường ra nước ngoài, sẽ nguy hại cho quá trình truyền bá ảnh hưởng văn hóa, chính trị của Pháp ở Việt Nam, và nguy cơ họ sẽ trở thành những phần tử chống Pháp mới, sâu xa hơn, đào tạo họ trở thành tầng lớp trí thức ưu tú tiếp thu văn hóa Pháp

ở mức độ sâu rộng hơn, sẽ lôi kéo họ vào lực lượng thân Pháp mà những kẻ cai trị đang rất muốn mở rộng Đồng thời, lập Đại học Đông Dương, Paul Beau muốn cổ vũ cho thế lực nước Pháp ở Viễn Đông, quét sạch ảnh hưởng Trung Hoa còn sót lại trong giới văn thân sĩ phu yêu nước Việt Nam mà họ rất nghi ngại và đang ra sức dụ dỗ, mua chuộc [11; 33]

Mặt khác, theo chúng tôi, xây dựng Đại học Đông Dương tại Việt Nam còn là sự xác định ý nghĩa khu vực của hệ thống thuộc địa Pháp Nước Pháp

có hai trung tâm thuộc địa: một là Đông Dương với điểm nhấn là Việt Nam; hai là Bắc Phi với điểm nhấn là Angiêri Do đó, việc xây dựng Đại học Đông

Trang 22

Dương rất có ý nghĩa trong tạo dựng hình ảnh, khẳng định vị thế của đế quốc Pháp ở Châu Á-Thái Bình Dương, trước hết là trên lĩnh vực văn hóa Thực dân Pháp có ý đồ xây dựng mô hình giáo dục đại học tương đương với chính quốc, giống như một hình ảnh thu nhỏ của nước Pháp ở thuộc địa Viễn Đông Chính vì vậy, họ đã không ngần ngại bỏ nhiều công sức và hàng chục triệu france để xây dựng Đại học này, ngay cả khi những điều kiện cần thiết nhất cho sự ra đời một trường đại học ở Việt Nam còn rất hạn chế Ý định này của người Pháp còn được thể hiện ở chỗ song song với xây dựng trường Đại học Đông Dương như một sự phản chiếu mô hình giáo dục đại học ở chính quốc,

họ cũng không ngừng đầu tư xây dựng Viện Viễn Đông Bác Cổ trở thành một trung tâm nghiên cứu Đông phương học lớn ở Việt Nam Viện này có thể coi

là một trung tâm nghiên cứu gắn liền với Đại học Đông Dương theo đúng mô hình giáo dục đại học Pháp Năm 1908, khi Đại học Đông Dương đột ngột đình giảng với tư cách một trường đại học đa ngành, trừ một số trường cao đẳng trực thuộc vẫn tiếp tục hoạt đông, thì mọi học liệu của đại học này cũng như hệ thống nhân sự, cơ sở vật chất kỹ thuật đều được chuyển về trực thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ Sự gắn kết của Viện Viễn Đông Bác Cổ và Đại học Đông Dương sẽ còn được thể hiện rõ nét hơn trong giai đoạn hoạt động trở lại của Đại học này từ năm 1917 trở đi, đặc biệt là nhiều nhà khoa học được đào tạo từ Đại học Đông Dương đã làm việc và nghiên cứu tại Viện này Bên cạnh Viện Viễn Đông Bác Cổ, Pháp còn chú trọng xây dựng một số viện khoa học

tự nhiên như Viện nghiên cứu và điều chế vacxin ở Nha Trang do bác sĩ Alexandre Yersin đứng đầu, vào năm 1905, trực thuộc Viện Paster Paris nên còn gọi là Viện Paster Nha Trang Viện Paster Nha Trang cùng trường Cao đẳng Y Dược Đông Dương góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền y học hiện đại Việt Nam, mở đầu là việc điều chế và phổ biến vacxin ngăn ngừa dịch bệnh Qua đó cho thấy, thực dân Pháp muốn xây dựng Đại học Đông Dương nhằm vào mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành mô hình Pháp thu nhỏ ở Châu Á – Thái Bình Dương Ý đồ này được thể hiện trước hết ở việc

Trang 23

xây dựng Việt Nam trở thành trung tâm học thuật và nghiên cứu khoa học của khu vực

Sự ra đời của Đại học Đông Dương, vai trò, vị trí của nó trong nền giáo dục Pháp - Việt thời thuộc Pháp, cho đến nay, vẫn tiếp tục được lý giải với nhiều ý kiến khác nhau Tuy nhiên, Đại học Đông Dương ra đời là mốc mở đầu cho sự xác lập mô hình giáo dục đại học hiện đại ở Việt Nam đầu thế kỷ

XX, được người Pháp mang đến, dựa trên cơ sở mô phỏng mô hình giáo dục đại học Pháp kết hợp với điều kiện cụ thể ở thuộc địa và sự phù hợp với chính sách thực dân Có thể nói, Đại học Đông Dương là đại diện đầy đủ, sinh động nhất của nền giáo dục đại học Pháp ở Việt Nam thời thuộc địa Sự ra đời, tồn tại của trường đại học này thể hiện cụ thể trong hoạt động của những trường đại học, cao đẳng trực thuộc nó và thăng trầm theo thời gian, bị chi phối bởi bối cảnh lịch sử đầy biến động của Việt Nam đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945

1.2 Đại học Đông Dương (1906-1908) và sự hình thành nền giáo dục đại học hiện đại ở Việt Nam

Ngày 16 tháng 5 năm 1906, Tổng Giám đốc Học chính Đông Dương kiêm Chủ tịch Hội đồng Cải tiến Giáo dục đã gửi báo cáo lên Toàn quyền Đông Dương khẳng định tầm quan trọng của việc thiết lập một trường Đại học ở Hà Nội và Sài Gòn như sau: Trường Đại học sẽ là một trung tâm giảng dạy giáo dục đại học, đỉnh cao học vấn ở Đông Dương của những người được chúng ta bảo hộ, dù họ đến từ các trường Pháp bản xứ hoặc đã tới các trường truyền thống được cải cách và nâng cao của đất nước họ Không muốn sao chép thể chế và chương trình của các trường Đại học Pháp, Đại học Đông Dương trong khi đáp ứng các nhu cầu kinh tế và hành chính của thuộc địa

trong các ban kỹ thuật, sẽ cố gắng tạo nên ở Đông Dương một trung tâm văn

hóa Âu châu, như vậy sẽ đóng góp vào việc thúc đẩy sự phát triển tri thức của

những người dân được chúng ta bảo hộ và tăng cường ảnh hưởng của nước chúng ta tại Viễn Đông [2;807], [44;14,15]

Trang 24

Ngày 16-5-1906, Toàn quyền Paul Beau ký Nghị định số 1514a thành lập trường đại học đầu tiên của Việt Nam cũng là của Đông Dương [44] Những quy chế ghi trong Nghị định thành lập và bản Nội quy của trường do Tổng Giám đốc Học chính ban hành đã xác định mô hình đào tạo của Đại học Đông Dương nói chung và các ngành đào tạo trong trường nói riêng Quy chế đào tạo của trường khá cụ thể, chi tiết, bao gồm: mục tiêu đào tạo, cơ sở đào tạo, ngành đào tạo, chương trình đào tạo, ngân sách đào tạo, đội ngũ giảng viên, đối tượng đào tạo, quy chế thi cử và tốt nghiệp, các chính sách ưu tiên Nghị định số 1514a, ngày 16 tháng 5 năm 1906 ghi rõ:

Điều thứ nhất: - (Đại học Đông Dương) được thành lập tại Đông Dương,

dưới tên gọi trường Đại học, một tập hợp các khóa đào tạo đại học cho các sinh viên xứ thuộc địa và các nước láng giềng

Cơ sở đào tạo này có nhiệm vụ phổ biến ở Viễn Đông, chủ yếu là thông qua tiếng Pháp, những kiến thức về các ngành khoa học và các phương pháp châu Âu

Điều 2: - Trường Đại học được đặt dưới quyền trực tiếp của ông Toàn

quyền Trường do một Hội đồng quản trị điều hành dưới sự chủ tọa của ông Tổng Giám đốc Học chính, gồm Giám đốc các cơ quan khoa học của xứ thuộc địa và các trường nằm trong trường đại học và các giáo sư được lựa chọn sao cho tất cả các cơ quan và viện có liên quan có ít nhất một đại diện tại Hội đồng

Các giáo sư này được ông Toàn quyền bổ nhiệm hàng năm Nhiệm vụ của họ có thể được gia hạn

Điều 3: - Trường đại học có thể kết hợp với các cơ sở nghiên cứu và

giảng dạy đã hoặc sẽ được thành lập ở thuộc địa, nhưng không được can thiệp vào quyền tự trị của các cơ sở này

Các điều kiện theo đó các cơ quan nhân sự của các cơ sở này và các cơ quan khác của xứ Đông Dương sử dụng sẽ do ông Toàn quyền quy định theo

đề nghị của Hội đồng Quản trị trường Đại học

Trang 25

Điều 4: - Không một sinh viên nào xuất thân từ một trong năm xứ Đông

Dương được phép theo học tại trường Đại học nếu không có bằng tốt nghiệp giáo dục bổ túc bản xứ hoặc một văn bằng bản xứ tương đương (tú tài, cử nhân ) và tạm thời là ấm sinh, tôn sinh v.v

Những người nước ngoài, và theo biện pháp quá độ, cả các thuộc dân và dân bảo hộ của nước Pháp, sẽ được nhận vào học tại trường Đại học tùy theo trình độ tương đương được quy định hoặc sau một kỳ thi vào trường

Điều 5: - Trừ sự cho phép đặc biệt, mỗi sinh viên chỉ được ghi tên lại

một trường; nhưng sẽ lập một số môn học chung cho hai hoặc nhiều trường

Điều 6: - Bằng tốt nghiệp đại học, với bảng điểm riêng cho các ngành

đào tạo đã chọn, độc lập với các văn bằng và cấp bậc chuyên môn được cấp ở nơi khác cho các thuộc dân và dân bảo hộ của Pháp, sẽ được cấp cho các sinh viên sau kỳ thi tốt nghiệp

Điều 7: - Các khóa học và các trường đã hoặc sẽ được thành lập theo các

quyết định này sẽ được phân bố giữa các trường đại học khác nhau sau đây:

Chương trình của các khóa học và các trường sẽ do Hội đồng Quản trị trường Đại học xây dựng với sự phê chuẩn của ông Toàn quyền

Điều 8: - Một số xuất học được ấn định hàng năm theo nghị định của

ông Toàn quyền sẽ được Ủy ban thường trực Đông Dương tại Pháp dành cho các sinh viên được Hội đồng Quản trị trường Đại học lựa chọn

Điều 9: - Các khoản chi tiêu cho hoạt động của các khóa học và các

trường được nêu trong điều 7 trên đây nhằm đào tạo nhân viên bản xứ cho các

Trang 26

bộ máy hành chính địa phương hoặc các cơ quan chính quyền của Đông Dương

sẽ do ngân sách của các cơ quan hành chính và ngân sách chung chi trả

Các khóa học hoặc hội thảo đặc biệt có thể được tổ chức và hỗ trợ bởi Phòng Thương mại và Nông nghiệp hoặc các hiệp hội khoa học được thành lập ở Đông Dương

Theo Nghị định này thì trường Cao đẳng Luật và Pháp chính trực thuộc trường Đại học Đông Dương Trường bao gồm ba khoa dự kiến được thành lập bởi Hội đồng Hoàn thiện Giáo dục Bản xứ, trong đó khoa thứ nhất đã có

từ trước, đó chính là trường Hậu Bổ Hà Nội được thành lập theo Nghị định ngày 20/6/1903, là nơi đào tạo nên hệ thống quan lại cho bộ máy hành chính người bản xứ

Trường Y- Dược được thành lập từ năm 1902, đào tạo y sĩ và dược sĩ phụ tá, hạn học 4 năm về Y và 3 năm về Dược Trong trường còn có một lớp

nữ hộ sinh, hạn học 2 năm Trường Y theo quy định trực thuộc Đại học Đông Dương

Đây là hai trường đại học trực thuộc được xây dựng trước khi có Nghị định 1514a

Ngoài ra, trường Công chính thành lập năm 1902 tại Hà Nội cũng trực thuộc Đại học Đông Dương

Kèm theo Nghị định số 1514a ngày 16/5/1906 là bản Nội quy của Trường do Tổng Giám đốc Học chính H Gourdon ký ngày 12/10/1907, xác định rõ thành phần sinh viên cùng đội ngũ giáo viên và chương trình của năm học đầu tiên 1907-1908

Sau đó, ngày 8/5/1907, Toàn quyền Đông Dương đã có quyết định sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định ngày 16/5/1906 Trong đó quy định thêm một số điều:

Trường Đại học Đông Dương được đặt dưới quyền trực tiếp của ông Toàn quyền Trường do Tổng Giám đốc Học chính điều hành với sự hỗ trợ của Hội đồng Cải tiến giáo dục, các Giám đốc các cơ quan khoa học của xứ

Trang 27

thuộc địa và các đại diện cho các thủ trưởng các cơ quan hành chính địa phương và các cơ sở kỹ thuật có liên quan

Trường Đại học có thể kêu gọi sự giúp đỡ từ các cơ quan khác, do ông Toàn quyền quy định theo đề nghị của Hội đồng Quản trị của trường Đại học Các giảng viên được ông Toàn quyền bổ nhiệm hàng năm theo sự giới thiệu của Tổng Giám đốc Học chính Nhiệm vụ của họ có thể gia hạn

Các khóa học khác nhau của trường Đại học cũng như các phòng thí nghiệm trực thuộc sẽ được thiết lập theo một quyết định của ông Toàn quyền, theo đề nghị của Tổng Giám đốc Học chính sau khi có ý kiến của Hội đồng Đại học sẽ thông qua các chương trình học

Theo Nghị định ngày 12/6/1907, ngày 10/11/1907, lễ khánh thành trường Đại học Đông Dương được tổ chức tại Phủ Toàn quyền cũ (khu nhượng địa) ở Hà Nội, dưới sự chủ tọa của Thống sứ Bắc Kỳ De Miribel Những người Á châu muốn được nhận vào học tại Đại học Đông Dương phải gửi đơn yêu cầu tới Ban Thư ký Đại học, số 40 đại lộ Gia Long, nay là

19 Lê Thánh Tông, Hà Nội; trong đó có đầy đủ tên tuổi, địa chỉ, công việc hiện tại, các văn bằng đại học đã đạt được, ngày nhận bằng, khoa định ghi danh, các môn học và thực hành định theo học

Những người có bằng tốt nghiệp trường Chasseloup - Laubat hoặc bằng tốt nghiệp bổ túc sẽ được nhập học; những người đã có bằng thuộc địa như

Cử nhân hoặc Tú tài sẽ được nhận nếu có đủ khả năng về tiếng Pháp; những ứng cử viên không có bất cứ loại bằng cấp nào sẽ được nhận nếu có ý kiến ủng hộ của Hội đồng Đại học

Các khóa học được chia làm ba lĩnh vực: văn học, luật học và khoa học Trường Luật và Pháp chính chia làm 3 ngành: Ngành thứ nhất giống như trường Hậu bổ Hà Nội để đào tạo quan lại (Trường Hậu bổ thành lập theo Nghị định ngày 20-6-1903 để đào tạo tri phủ, tri huyện, huấn đạo, giáo thụ Năm 1912, trường Hậu bổ đổi thành trường Sĩ hoạn, học trong 3 năm) Ngành thứ hai đào tạo những viên chức cho cơ quan cai trị của “Nhà nước

Trang 28

bảo hộ” Ngành thứ ba có thể dạy một ít chữ Hán chủ yếu đào tạo những viên chức cho ngành thương chính và thuế quan

Trường Cao đẳng Văn chương dạy ngôn ngữ và văn học cổ điển phương Đông, lịch sử và địa lý các nước Viễn Đông, lịch sử văn học Pháp và nước ngoài, lịch sử triết học và nghệ thuật

Những sinh viên ghi danh ở khoa Văn học phải theo ít nhất 5 môn Văn học Những sinh viên ghi danh Luật học phải theo tất cả các môn học Luật và

ít nhất một môn Văn học Các khóa học ngôn ngữ tiếng Pháp là bắt buộc đối với tất cả các sinh viên, trừ trường hợp đặc biệt được Hội đồng cho phép Ngoài ra, các sinh viên có thể ghi tên theo học các môn học khác, ngay cả các môn của một khoa khác, cộng thêm một số môn tối thiểu theo yêu cầu

Trường Cao đẳng Khoa học gồm các ngành Toán, Vật lý, Hóa học và Sinh vật có mục đích từ năm thứ hai trở đi đào tạo thành những giáo viên trung học hoặc cao đẳng sư phạm và những người làm công tác nghiên cứu khoa học

Trường Cao đẳng Y khoa coi như đã tổ chức xong từ trước có hai ngành

Y và Dược

Trường Cao đẳng Xây dựng sẽ tổ chức thành 3 ngành:

+ Cầu đường, đường sắt, mỏ (đã có trước ở trường Công chính)

+ Điện khí thực hành (bao gồm cả ngành Bưu điện)

+ Nông nghiệp, Dâu tằm và Thú y

Tất cả sinh viên đều học bằng tiếng Pháp Kết thúc năm thứ nhất sinh viên phải thi để lên năm thứ hai

Thẻ dự thính tự do đối với một số môn học có thể được cấp miễn phí cho những người đăng ký yêu cầu tại Ban Thư ký Đại học Những sinh viên dự thính tự do không có quyền mượn sách thư viện cũng không được tham gia môn thực hành

Đại học Đông Dương là đại học đa ngành mở đầu cho giáo dục hiện đại

ở Việt Nam Trường được thành lập dựa trên cơ sở các trường đã có trước đó

Trang 29

và mở thêm một số ngành đào tạo mới Những ngành mới mở thuộc khối Khoa học tự nhiên: Toán, Lý, Hóa và Sinh vật; và khối Khoa học xã hội: Ngôn ngữ, Văn học, Lịch sử, Địa lý các nước Viễn Đông, Lịch sử văn học Pháp và nước ngoài, Lịch sử triết học và Lịch sử nghệ thuật

Đại học Đông Dương tập hợp các khóa đào tạo bậc đại học cho các sinh viên xứ thuộc địa và các nước láng giềng Cơ sở đào tạo có nhiệm vụ phổ biến

ở Viễn Đông, chủ yếu là thông qua tiếng Pháp, những kiến thức về các ngành khoa học và các phương pháp châu Âu

Trong báo cáo của Tổng Giám đốc Học chính Đông Dương kiêm Chủ tịch Hội đồng Cải tiến Giáo dục ngày 16/5/1906 gửi Toàn quyền Đông Dương

đã xác định: “Đại học Đông Dương là một trung tâm giảng dạy giáo dục đại học đỉnh cao của học vấn ở Đông Dương, đáp ứng các nhu cầu kinh tế và hành chính của thuộc địa trong các ban kỹ thuật sẽ cố gắng hướng dẫn tinh thần khoa học và những phương pháp học tập và nghiên cứu hiện đại”

Như vậy, với Nghị định 1514a và sự ra đời Đại học Đông Dương, trường đại học đa ngành đầu tiên của giáo dục Việt Nam hiện đại, mô hình giáo dục đại học Pháp dành cho người bản xứ bước đầu được xác lập Đây là bước mở đầu quan trọng cho sự hình thành và phát triển của giáo dục đại học hiện đại ở Việt Nam, nhất là từ sau cải cách giáo dục lần thứ hai năm 1917

Nhìn vào Quy chế, Nghị định thành lập Đại học Đông Dương ta thấy Trường được tổ chức khá quy củ, hoạt động theo đúng khuôn mẫu của mô hình giáo dục đại học Pháp, có quy mô tương đối lớn, và là mối quan tâm lớn của hệ thống hành chính Pháp tại Đông Dương

Nhưng hoạt động của trường Đại học Đông Dương trên thực tế hoàn toàn không được như những gì trên giấy tờ quy định Tư liệu lịch sử được khai thác đã phác họa phần nào hoạt động của trường trong thời gian (1907-1908)

Cuối tháng 11/1907, Trường tổ chức lễ khai giảng đầu tiên với sự có mặt của 94 sinh viên mới, 62 sinh viên dự thính và 37 sinh viên năm thứ nhất

Trang 30

trường Y sẽ tham dự một số giờ học của môn khoa học của Trường, tổng cộng gồm 193 sinh viên

Trong tổng số 94 sinh viên mới chỉ có 39 người có bằng cấp đúng quy định (đã tốt nghiệp trung học Sài Gòn hoặc đã đỗ thi Hương và được chứng nhận biết tiếng Pháp) Học sinh tuyệt đại đa số là công chức ở các cơ quan trung ương của chính quyền thực dân đóng tại Hà Nội lúc đó Nhà trường cho phép tuổi sinh viên nhập học tối đa là 48 tuổi

Sau một tháng học thử còn lại 68 sinh viên chính thức và 8 dự thính Đến cuối năm học chỉ còn có 41 người và họ cũng chỉ là sinh viên năm thứ nhất Giáo viên hầu hết kiêm nhiệm nhiều việc chứ không phải là những giáo

sư chuyên giảng dạy, mặc dù họ đều là những người có học vị, bằng cấp cao Thời gian học phải bố trí vào buổi tối mỗi ngày từ 5 giờ chiều đến 10 giờ đêm, những môn cần làm thí nghiệm học vào sáng thứ năm hàng tuần

Mặc dù Đại học Đông Dương đưa ra một nội dung khá đồ sộ về các khóa học và ngành học nhưng trên thực tế giai đoạn này chỉ có mỗi trường Y hoạt động Trường khi đó đào tạo bác sĩ (gọi là quan Thầy thuốc) và bà đỡ Đứng đầu nhà trường là Giám đốc, lương hàng năm 20 ngàn quan và 5 ngàn phụ cấp Trường có một giáo sư, lương 25 ngàn quan, một thư ký, một quản lý nhà trường Các giáo viên dạy phụ trong trường mỗi người 600 đồng phụ cấp

1 năm, mỗi tuần lễ dạy 3 giờ, thầy nào dạy 2 giờ thì lĩnh 400 đồng, 1 giờ thì lĩnh 200 đồng Ban học của các bà đỡ do một bác sĩ riêng đảm nhiệm và một ông phán do bệnh viện cử, đều được hưởng trợ cấp

Trình độ sinh viên quá thấp so với chương trình giảng dạy Mặc dầu người ta chú ý đến vấn đề này bằng cách châm chước bằng cấp và trình độ tiếng Pháp, nhưng sinh viên vẫn không thể nào tiếp thu nổi nội dung, nhất là đối với các môn khoa học xã hội như Triết học, Luân lý học, Văn học phương Tây.v.v

Trường từ khi thành lập chỉ hoạt động được vẻn vẹn 1 năm (1907-1908) thì phải đình giảng Nhà cầm quyền không chính thức đưa ra bất cứ ý kiến

Trang 31

nào để giải thích rõ ràng cho sự đình giảng đột ngột của một dự án đại học có quy mô hoành tráng như vậy ở xứ thuộc địa

Trước sự “đóng cửa” đột ngột của Đại học Đông Dương ngay khi năm học đầu tiên kết thúc, Toàn quyền Paul Beau bị dư luận công kích kịch liệt nhất là báo chí của thực dân Anh ở Ấn Độ

Đặc biệt, phe chống đối Paul Beau đã sử dụng nhiều lập luận chống lại Đại học Đông Dương Trong số đó, những lập luận mạnh mẽ nhất xuất phát

từ tác giả Ajalbert Tác giả đã dùng các cụm từ “những chi phí điên khùng” để chỉ “nhiều triệu bạc bị nuốt chửng” và “những bổng lộc béo bở” dành cho các công chức cao cấp Theo tác giả, đó là một kiểu giáo dục “vượt tầm với” của học sinh và có nguy cơ tạo ra những người “không biết xếp vào hạng nào”

Do vậy, loại hình giáo dục ấy chắc chắn sẽ thất bại, “gây ra hiện tượng bỏ học

và hư hỏng” [52;129]

Ngay cả Tổng Giám đốc học chính Đông Dương đương thời là H Gourdon đã có những phát biểu mang tính phê phán chính sách học đường

mới của P.Beau (và cả chính ông) trên tờ báo Thời đại tại Pháp khi ông đã

nghỉ hưu: “Từ mấy năm nay, chúng ta đã mang lại cho giáo dục quá nhiều quyền hạn; chúng ta đã vội vàng mở quá nhiều trường; chúng ta đã thiết lập nên nhiều trường đại học và cao đẳng thật là vô tích sự và vội vã, thay vì xây dựng các trường nghề Đây là những loại trường mà dân bản xứ rất cần Thực

tế, chúng ta đã tăng một số lượng khá lớn học sinh, sinh viên chả biết xếp vào hạng nào Vả lại, chúng ta đã đưa vào trong giáo dục bản xứ những tư tưởng phương Tây hiện đại mà họ không thể nuốt trôi được Bởi vì đây là những tư tưởng cạnh tranh mãnh liệt với luân lý truyền thống của họ, làm cho họ mất gốc và đương nhiên họ sẽ trở thành kẻ thù của tiếng Pháp - văn hóa Pháp Tóm lại, cải cách đã được tiến hành quá nhanh, quá rộng và hoàn toàn không phù hợp với nhu cầu thực tế cũng như khả năng trí tuệ của dân bản xứ” [52;126]

Trang 32

Trịnh Văn Thảo cho rằng Đại học Đông Dương là “một cái bánh vẽ được

tô màu” vì nó đáp ứng “lợi ích” và “sự cần thiết” cho chính sách đối ngoại của nước Pháp Thực tế của những “huyền thoại buồn cười” ấy chỉ là việc tạo

ra vài “lớp học thực hành” dạy các khoa học tự nhiên, Luật và Văn học Tổng cộng chỉ có khoảng 40 sinh viên “Theo lời thú nhận của người sáng lập, “ở Đông Dương không hề có việc dạy đại học cũng như không có cấp trung học phổ thông”!” [52;130]

Trong một năm hoạt động ít ỏi (1907-1908) có thể nói Đại học Đông Dương phôi thai từ Nghị định 1514a, chưa có hoạt động gì đáng kể trên thực

tế Nhưng sự ra đời và hoạt động của trường đại học đa ngành đầu tiên của nền giáo dục hiện đại đã cắm cột mốc quan trọng, có vai trò định hướng cho

sự tiếp tục xây dựng hệ thống giáo dục đại học của Pháp ở bản xứ trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai

Năm 1908, Đại học Đông Dương đã phải “đóng cửa” do không đủ những điều kiện cho hoạt động đào tạo đại học về cả chất lượng sinh viên lẫn đội ngũ giảng viên cũng như chương trình đào tạo, đặc biệt là việc sử dụng tiếng Pháp toàn phần để giảng dạy những kiến thức khoa học chuyên sâu trong khi số lượng người Việt thông thạo tiếng Pháp lúc đó rất hạn chế, một

mô hình đại học “tượng trưng” phục vụ nhu cầu chính trị nhiều hơn là nhu cầu của thực tế xã hội và bị phản đối gay gắt bởi phe chống đối Song thực tế cũng đã chứng minh rằng, những sinh viên được trường Đại học Đông Dương đào tạo dù chỉ trong một năm học cũng đã không ngừng đem lại nhiều kết quả đáng khích lệ Nhiều sinh viên của Trường đã tiếp thu được những khái niệm vững chắc cần thiết cho nghề nghiệp của họ, sự ham thích thực sự đối với khoa học, và nhất là về phương pháp giảng dạy, sau này đã được thể hiện trong rất nhiều sách giáo khoa phổ biến khoa học do một vài người trong số

họ soạn ra (Trần Văn Thông (Đốc học), Ấu học quốc ngữ tân thư, Hà Nội – Hải Phòng, Imprimerie d’Extrême – orient, 1908 Sách gồm 2 phần: Phần I có

Trang 33

3 tập: tập 1 (Toán pháp), tập 2 (Địa dư), tập 3 (Cách trí – Vệ sinh) Phần II: Cai trị - Lễ pháp – Phong tục)

Tiểu kết:

Có thể coi thời điểm thành lập Đại học Đông Dương năm 1906 là mốc

mở đầu của nền giáo dục đại học Việt Nam hiện đại Đại học Đông Dương ngay từ đầu đã được xây dựng theo mô hình một trường đại học đa ngành bao gồm nhiều trường đại học trực thuộc Nó được xây dựng trên cơ sở những trường cao đẳng đã được hình thành từ trước như trường Y, trường Công chính và trường Hậu bổ Tuy vậy, hoạt động giáo dục bậc đại học của Trường

tỏ ra thiếu cơ sở thực tế Hạn chế đó bắt nguồn ngay từ mục đích ban đầu của nhà cầm quyền, là muốn tạo ra một tầng lớp trí thức lớp trên gắn bó, tận trung, phục vụ đắc lực vai trò chính trị của người Pháp ở Việt Nam; đối phó với phong trào Khổng giáo duy tân và gạt bỏ ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa cũng như tham vọng đánh bóng hình ảnh khai hóa văn minh của người Pháp ở xứ thuộc địa, biến Đại học Đông Dương thành một ô trong “bức tranh xếp hình” thuộc địa nước Pháp mà Paul Beau dựng nên ; đặc biệt, sự thiếu vắng nguồn nhân lực cho giáo dục đại học cả về đội ngũ giảng viên lẫn đội ngũ sinh viên Trên thực tế, đến năm 1906, thực dân Pháp mới khởi đầu cải cách giáo dục lần thứ nhất mà trọng tâm là hình thành nền giáo dục Pháp-Việt thay thế nền giáo dục truyền thống, nghĩa là khả năng của cải cách giáo dục chỉ có thể dừng ở cấp phổ thông mà thôi Trong hoàn cảnh đó, những người được tuyển lựa vào trường Đại học Đông Dương còn thiếu tri thức nền tảng cho tiếp nhận học vấn đại học cũng như không đủ trình độ tiếng Pháp để tiếp thu kiến thức khoa học chuyên sâu Sự đình giảng của Trường sau 1 năm hoạt động là điều không tránh khỏi

Tuy nhiên, sự ra đời Đại học Đông Dương là một sự kiện rất ý nghĩa, nhất là trong việc mang đến một mô hình giáo dục đại học hiện đại và bước đầu giới thiệu, giảng dạy những tri thức khoa học chuyên sâu của phương Tây, nền học thuật mới với cách tiếp cận mới, phương pháp nghiên cứu mới,

Trang 34

phạm trù giá trị mới, khái niệm mới và phương tiện giáo dục mới tại Việt Nam Sự ra đời có vẻ như “chưa thích hợp” đó đã tạo nền tảng quan trọng cho

sự tái lập Đại học Đông Dương 10 năm sau đó, năm 1917, giai đoạn hoạt động thực sự của hệ thống giáo dục đại học Pháp ở Việt Nam thời thuộc địa

Trang 35

CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI HỌC ĐÔNG DƯƠNG (1917-1945)

2.1 Tình hình Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai

Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất cùng với sự đáp ứng nhu cầu của Đông Dương với cuộc chiến tranh thế giới của đế quốc Pháp càng làm cho chính quyền thực dân nhận thấy rõ hơn tầm quan trọng của xứ thuộc địa này

Do đó, yêu cầu củng cố hơn nữa địa vị của người Pháp, kiểm soát toàn diện hơn, khai thác triệt để hơn Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung càng được đặt ra cấp thiết hơn

Năm 1917, Albert Sarraut quay trở lại làm Toàn quyền xứ Đông Dương Từng cai trị ở Đông Dương trước Chiến tranh thế giới thứ nhất (Albert Sarraut làm Toàn quyền Đông Dương nhiệm kỳ thứ nhất từ năm 1911 đến năm 1914), ông ta là một trong những người Pháp hiểu khá sâu sắc về xứ thuộc địa này và có tham vọng thực dân lớn Tháng 12 năm 1916, trước khi trở lại Đông Dương, ông ta đã có bài diễn thuyết rất dài, được Phạm Quỳnh

ghi lại trên Nam Phong tạp chí số 2 tháng 7 năm 1917, lời lẽ hết sức bóng

bẩy, mị dân nhưng ngầm thể hiện khá rõ tham vọng thực dân và mối hi vọng của Sarraut vào việc khai thác triệt để hơn xứ thuộc địa Sarraut tỏ ra đặc biệt chú ý đến vấn đề nhân lực Đông Dương: “ người dân bản xứ thường chăm làm dễ bảo, có thể cung cấp được một cái “nhân công” khôn, khéo, dễ dùng, biết am hiểu, biết lợi dụng các máy móc ngày nay đó là của báu vô tận của

xứ này chỉ hiềm những nhà công nghệ Pháp chưa mấy người biết đến Những người ấy sau này sẽ là những tay giúp việc rất có ích cho ta trong sự khai hóa về đường kinh tế ta sắp khởi hành ở xứ ấy.” [22;81-83] Với nhận thức như vậy, giáo dục được coi là một công cụ quan trọng trong chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của Albert Sarraut

Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp ở Việt Nam (1917-1939) có quy mô lớn, toàn diện trên tất cả các mặt đời sống kinh tế xã

Trang 36

hội Kéo theo đó là sự mở rộng bộ máy hành chính của chính quyền thực dân xuống tận làng xã với các cuộc cải lương hương chính từ năm 1921, và sự đa dạng các ban ngành của cơ cấu hành chính xã hội hiện đại, đòi hỏi một lực lượng lớn nhân sự người Việt Cuộc khai thác kinh tế thuộc địa triệt để một mặt tạo ra sự phát triển cưỡng bách về công nghiệp, mặt khác làm cho nền kinh tế Việt Nam thay đổi toàn diện về cơ cấu vùng, cơ cấu ngành nghề và kỹ thuật sản xuất Nền công nghiệp thuộc địa phát triển ngày càng đặt ra đòi hỏi cấp thiết về nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, có trình độ cao Nó thúc đẩy mạnh mẽ những biến chuyển văn hóa xã hội, mở đường cho sự tiếp thu một cách ồ ạt các hệ giá trị mới của phương Tây, hiện đại hóa gần như đồng nghĩa hoàn toàn với phương Tây hóa không chỉ ở diện mạo mà còn ở hệ thống giá trị xã hội Hàng loạt các đô thị hiện đại ra đời như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Sài Gòn - Chợ Lớn với đời sống đô thị hóa, phương Tây hóa Xã hội Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ trong cuộc hiện đại hóa đầu thế kỷ XX cùng với nó là yêu cầu ra đời nhanh chóng, cấp bách những

“con người Việt Nam mới”

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, cùng với sự khai thác triệt để của thực dân Pháp tại Việt Nam, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, sau một thời gian tạm lắng Cuộc hiện đại hóa toàn diện không những tạo ra một cuộc tiếp xúc văn hóa Đông - Tây mạnh mẽ và sâu sắc nhất trong lịch sử văn hóa Việt Nam, làm nghiêng ngả cả hệ thống giá trị phương Đông cổ truyền, mở đường cho sự nảy mầm và lớn mạnh của tư tưởng phương Tây, mà còn tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự du nhập các luồng

tư tưởng cách mạng mới, các con đường giải phóng dân tộc mới Đây là thời

kỳ phát triển vô cùng sôi động của phòng trào đấu tranh giải phóng dân tộc đưa đến kết quả là sự thắng lợi hoàn toàn của dân tộc Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 Trước khi con đường cách mạng vô sản và tư tưởng của Cách mạng tháng Mười Nga được Nguyễn Ái Quốc – vị lãnh tụ cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã tiếp nhận ở trời Tây, trải nghiệm ở

Trang 37

nước Nga Xô viết và tích cực truyền bá vào Việt Nam, phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với các khuynh hướng dân chủ tư sản khác nhau: kiểu cũ và kiểu mới, cộng hòa và lập hiến Đối tượng đầu tiên tiếp nhận những tư tưởng cách mạng này và truyền bá rộng rãi trong nhân dân đồng thời lãnh đạo các phong trào yêu nước và cách mạng chính là tầng lớp trí thức Do đó, trí thức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của hệ tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX và là những bộ

óc của phong trào giải phóng dân tộc

2.2 Chính sách giáo dục của Albert Sarraut và sự tái lập Đại học Đông Dương

Nuôi tham vọng đạt được bằng giáo dục hai mục đích do Jules Ferry định ra: trang bị cho thuộc địa những cán bộ ngang tầm với sự phát triển kinh

tế và văn hóa và biến Đông Dương thành một thứ tủ kính phô bày sự nghiệp khai hóa của Pháp ở châu Á, ngày 21-12-1917, Toàn quyền Albert Sarraut ban hành bộ “Học chính Tổng quy” mở đầu cho cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất do Paul Beau khởi xướng vào

năm 1906) Theo tác giả Trần Thị Phương Hoa trong cuốn sách Giáo dục

Pháp-Việt ở Bắc Kỳ (1884-1945) thì “bộ Học chính Tổng quy thực chất là

một bộ luật về giáo dục, quy định tất cả mọi thành tố để tạo nên các hệ thống nhà trường trên toàn Đông Dương Mọi hoạt động của nhà trường đều tuân thủ theo các quy định của Bộ Luật này” [47;129]

Những quy định về trường đại học Pháp ở Việt Nam được cụ thể trong Thiên thứ VII của Bộ Học chính Tổng quy với tên gọi là “Quy định về các trường Đệ tam cấp” Bộ Học chính đề ra chương trình đại cương cho cả nền đại học, chưa có chương trình thể thức riêng cho từng trường

Tiếp đó, ông ban hành Nghị định ngày 25-12-1918 và Nghị định này không ngừng được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế Đây là một văn bản có tính pháp lý quan trọng đối với giáo dục bậc cao đẳng ở Đông Dương nói chung và đối với tổ chức Đại học Đông Dương nói riêng

Trang 38

Nội dung quy chế đào tạo đại học được thể hiện ở Nghị định 25-12-1918 của Toàn quyền Đông Dương về Quy chế chung về bậc Cao đẳng ở Đông Dương:

1 Bậc Cao đẳng do một Giám đốc phụ trách Giám đốc do Toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm; phải có bằng Tiến sĩ tốt nghiệp ở Pháp, và có ít nhất

15 năm công tác trong ngành giáo dục

2 Chỉ được mở Trường Cao đẳng khi được phép của Toàn quyền Đông Dương, theo đề nghị của Giám đốc bậc Cao đẳng Đứng đầu Trường Cao đẳng là Hiệu trưởng do Toàn quyền bổ nhiệm, theo đề nghị của Giám đốc bậc Cao đẳng Hiệu trưởng phải đỗ Cử nhân Luật, hoặc Cử nhân Khoa học, hoặc

Cử nhân Văn chương bên Pháp, và có ít nhất 10 năm trong ngành giáo dục hoặc trong các công sở

3 Muốn nhập học, thí sinh phải làm đơn gửi Giám đốc bậc Cao đẳng và phải dự kỳ thi tuyển Trong đơn phải ghi lời bảo đảm: khi ra trường sẽ phục

vụ Chính phủ Đông Dương ít nhất 10 năm Tiêu chuẩn để được dự thi tuyển là: đã tốt nghiệp bậc Trung học; là “thần dân” của nước Pháp, hoặc là “người

đã được coi là công dân của nước Pháp”

4 Quy định nhiệm vụ, chương trình của một số trường Cao đẳng sau: Trường Y Dược (hệ 4 năm); Trường Thú y (hệ 4 năm); Trường Pháp chính (hệ 3 năm); Trường Sư phạm (hệ 3 năm); Trường Nông – Lâm (hệ 3 năm); Trường Công chính (hệ 2 năm)

Cùng ngày, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định quy định học lực và tuổi của các thí sinh xin dự kỳ thi tuyển vào các trường bậc Cao đẳng ở Đông Dương Về tuổi, tối thiểu 18, tối đa 25 tuổi Về học lực, thí sinh phải có một trong các bằng cấp sau: bằng Thành chung, bằng Cao đẳng tiểu học, bằng Trung học, bằng Tú tài

Nhà cầm quyền còn đề cập đến việc lập Nha Cao đẳng để quản lý chung các trường cao đẳng đang trong quá trình thành lập, chịu trách nhiệm về việc sáng lập, tổ chức, đặt thể lệ, định chương trình cho các trường Cao đẳng

Trang 39

Đến đây, bậc Đại học đã có quy chế tương đối đầy đủ, chặt chẽ Sự ra đời của Bộ Học chính Tổng quy, kèm theo là các nghị định của chính quyền thực dân quy định cụ thể về giáo dục đại học, đã tạo một bước phát triển mới của nền giáo dục đại học hiện đại ở Việt Nam So với bản Nghị định 1514a về

sự thiết lập Đại học Đông Dương năm 1906, Bộ Học chính Tổng quy có quy định chặt chẽ, cụ thể hơn, và bao quát chung cho bậc giáo dục đại học về mô hình giáo dục đại học và các mặt đào tạo Có thể coi đó là một văn bản thi hành luật về giáo dục đại học đầu tiên ở Việt Nam Điều này chứng tỏ sự tái lập Đại học Đông Dương bao gồm nhiều trường đại học, cao đẳng trực thuộc

là một yêu cầu xuất phát từ thực tế kinh tế - xã hội của Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Chính quyền thực dân nhận thấy xây dựng bậc giáo dục đại học là một nhu cầu cấp thiết, một chính sách bắt buộc đối với Việt Nam trong công cuộc khai thác thuộc địa cũng như xây dựng hình ảnh của nước Pháp nhằm củng cố vai trò của đế quốc Pháp tại xứ thuộc địa sau mấy chục năm thống trị và thực sự mang lại lợi nhuận lớn cho thực dân Việc xây dựng nền giáo dục đại học ở thuộc địa xuất phát từ đỏi hỏi thực tế của chế độ thực dân, chứ không chỉ là một “biện pháp tức thời” để đối phó với phòng trào yêu nước và phong trào duy tân, hay một “thủ đoạn chính trị”, cạnh tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa giữa Đông và Tây, giữa văn minh Pháp và văn minh Trung Hoa, giữa văn hóa thực dân và văn hóa bản địa Một văn bản thi hành luật được ban hành và thực hiện chứng tỏ tầm quan trọng của bậc giáo dục đại học ở Việt Nam lúc đó, phát triển một hệ thống quy chế chặt chẽ, logic, tương ứng với luật để quản lý về mặt nhà nước, giáo dục đại học thuộc địa bắt đầu đi vào hoạt động bài bản từ thập niên 1930 trở đi

Mặt khác, Học chính Tổng quy quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của bậc giáo dục đại học căn cứ vào thành quả của cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất của Paul Beau Nhờ đó, chính quyền thực dân đã xây dựng được hệ thống trường Pháp-Việt với sự phát triển khá hoàn chỉnh của cấp phổ thông (Tiểu học Pháp-Việt và Cao đẳng tiểu học), đặc biệt là tạo ra một thế hệ các

Trang 40

học sinh phổ thông biết tiếng Pháp và có khả năng tiếp nhận tri thức cao hơn

Nguồn: Le Tonkin scolaire, Hanoi:IDEO, 1931, tr.95

Học chính Tổng quy gồm sáu trăm điều khoản quy định về giáo dục là một công trình pháp lý đầy tham vọng dù còn nhiều nhập nhằng và mâu thuẫn [52;63-69], nhưng nó khởi đầu cho chính sách giáo dục quyết liệt đã tạo ra một nền giáo dục quốc dân thống nhất với bộ mặt rõ ràng gồm 3 khu vực: trường Pháp (tiểu học, cao đẳng tiểu học, trung học), trường Pháp-Việt (tiểu học, bổ túc, trung học) và chuyên nghiệp Tiếng Pháp đóng vai trò là ngôn ngữ chính của giáo dục được quản lý chặt chẽ bởi nhà nước Bản Tổng quy Học chính được áp dụng trong suốt cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai do Toàn quyền Sarraut thủ xướng, sau đó được Merlin, Varenne kế tục (1917-1929) Trong quá trình thực hiện gây không ít tranh cãi, nhất là những tranh cãi nảy lửa trong vấn đề hoàn thiện hệ thống giáo dục công, về mối liên hệ giữa việc thi hành chính sách giáo dục ở Đông Dương với luật giáo dục ở chính quốc, cộng với sự giằng co trong yêu cầu phát triển nền giáo dục hoàn thiện hơn ở thuộc địa với những mưu đồ chính trị và ý muốn thực dân Tuy vậy, văn bản thi hành luật này đã có tác dụng tích cực trong việc tạo ra bước

Ngày đăng: 06/10/2015, 00:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Công báo Đông Dương thuộc Pháp, 11 tháng 6 năm 1906 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công báo Đông Dương thuộc Pháp
3. De La Brose, La Tradition et l’enseignement indigène, Hà Nội, 1906 Sách, tạp chí
Tiêu đề: La Tradition et l’enseignement indigène
4. Đào Duy Anh, Hồi ký: Nhớ nghĩ chiều hôm, Nxb. Trẻ, Tp.HCM, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký: Nhớ nghĩ chiều hôm
Nhà XB: Nxb. Trẻ
5. Đào Thị Diến, Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội
6. Đào Thị Diến, “Quá trình xây dựng Đại học Đông Dương (1906- 1945)”, Xưa và nay, số 259, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình xây dựng Đại học Đông Dương (1906- 1945)
Tác giả: Đào Thị Diến
Nhà XB: Xưa và nay
Năm: 2006
7. Đặng Thai Mai, Hồi ký, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký
Tác giả: Đặng Thai Mai
Nhà XB: Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
8. Đặng Thị Vân Chi, Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945
Tác giả: Đặng Thị Vân Chi
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
9. Đặng Thị Vân Chi, Sự hình thành đội ngũ nữ trí thức ở Việt Nam trước năm 1945, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành đội ngũ nữ trí thức ở Việt Nam trước năm 1945
10. Đinh Gia Trinh, Sự hoài vọng của lý trí, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hoài vọng của lý trí
Tác giả: Đinh Gia Trinh
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 1997
12. Đông Pháp, “Sự giả trá của trường Đại học Đông Pháp”, ngày 26 tháng 4 năm 1926 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Pháp", “Sự giả trá của trường Đại học Đông Pháp
13. Đông Pháp, “Việc bãi khóa ở trường Bảo hộ”, ngày 22 tháng 4 năm 1926 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Pháp", “Việc bãi khóa ở trường Bảo hộ
14. Đỗ Quang Hưng, Giáo trình Tiếp xúc ngôn ngữ văn hóa Đông Tây, Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tiếp xúc ngôn ngữ văn hóa Đông Tây
15. Đỗ Quang Hưng, Lịch sử báo chí Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử báo chí Việt Nam
Tác giả: Đỗ Quang Hưng
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
16. Gourdon, L’enseignement des indigènes en Indochine, Paris 1910 Sách, tạp chí
Tiêu đề: L’enseignement des indigènes en Indochine
Tác giả: Gourdon
Nhà XB: Paris
Năm: 1910
17. G. Taboulet, La Geste Francaise en Indochine, Paris, 1956 Sách, tạp chí
Tiêu đề: La Geste Francaise en Indochine, Paris
18. Gail Kelly, “The Myth of Educational Planning: The Case of the Indochinese University, 1906-1938”, NewYork, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Myth of Educational Planning: The Case of the Indochinese University, 1906-1938
Tác giả: Gail Kelly
Nhà XB: NewYork
Năm: 2000
19. Huy Cận, Hồi ký song đôi, Tập 2, Những năm đi học, làm thơ, hoạt động cách mạng, Nxb. Thanh niên, H, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký song đôi
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2003
20. Lê Văn Giạng, Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
21. Marty L, Contribution à l’historie des mouvements politiques de l’Indochine Francaise, Hà Nội, 1933, bản dịch của Long Điền in trên Tạp chí Sử Địa, Sài Gòn, số 6, năm 1967, tr.105-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contribution à l’historie des mouvements politiques de l’Indochine Francaise
Tác giả: Marty L
Nhà XB: Tạp chí Sử Địa
Năm: 1933
22. “Một bài diễn thuyết của quan Toàn quyền Saurraut”, Nam Phong, số 2, tháng 7 năm 1917 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một bài diễn thuyết của quan Toàn quyền Saurraut
Nhà XB: Nam Phong
Năm: 1917

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Trường Pháp-Việt (1910-1917) - Đại học đông dương với sự hình thành tầng lớp trí thức việt nam thời thuộc địa
Bảng 2.1. Trường Pháp-Việt (1910-1917) (Trang 40)
Bảng 2.2. Trường tiểu học và trung học niên khóa 1922-1923 - Đại học đông dương với sự hình thành tầng lớp trí thức việt nam thời thuộc địa
Bảng 2.2. Trường tiểu học và trung học niên khóa 1922-1923 (Trang 41)
Bảng 2.3. Trường Đại học Đông Dương năm 1921-1922 - Đại học đông dương với sự hình thành tầng lớp trí thức việt nam thời thuộc địa
Bảng 2.3. Trường Đại học Đông Dương năm 1921-1922 (Trang 56)
Bảng 2.4. Trường Đại học Đông Dương 1931-1932 - Đại học đông dương với sự hình thành tầng lớp trí thức việt nam thời thuộc địa
Bảng 2.4. Trường Đại học Đông Dương 1931-1932 (Trang 68)
Bảng 2.5.Trường Đại học Đông Dương năm 1941-1942 - Đại học đông dương với sự hình thành tầng lớp trí thức việt nam thời thuộc địa
Bảng 2.5. Trường Đại học Đông Dương năm 1941-1942 (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w