Nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang tích cực thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, không ngừng tăng cường mở cửa và hội nhập với thế giới ; và trong bối cảnh các thê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGÔ HOÀNG NAM
CUỘC TỔNG DI CHUYỂN TRONG HAI NĂM ĐẦU KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946 - 1947)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LI ̣CH SỬ
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGÔ HOÀNG NAM
CUỘC TỔNG DI CHUYỂN TRONG HAI NĂM ĐẦU KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946 - 1947)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LI ̣CH SỬ
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã ngành : 60 22 54
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Đinh Quang Hải
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Đinh Quang Hải
Các số liệu, tài liệu công bố trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 12 tháng 1 năm 2014
Tác giả luận văn
Ngô Hoàng Nam
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang
1 Lý do chọn đề tài……… ……… ………….1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ….……… …… … ….… 3
3 Đối tượng, phạm vi và nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu …… …… ……10
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ……… …… … ….12
5 Đóng góp của đề tài……… ……… ……… 13
6 Bố cục củ a luâ ̣n văn ….……….… … ….… ….14
NỘI DUNG Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ CUỘC TỔNG DI CHUYỂN……….… ……… … …….….15
1.1 Bối cảnh lịch sử……… … ……… 15
1.2 Chủ trương của Đảng về tổng di chuyển…… ……… …… 24
Tiểu kết chương 1……… ………32
Chương 2 TỒNG DI CHUYỂN CÁC CƠ QUAN ĐẢNG , CHÍNH PHỦ, ĐOÀN THỂ, CHÍNH QUYỀN , QUÂN ĐỘI VÀ TẢN CƯ , DI CƯ NHÂN DÂN……… ……… …….……… 33
2.1 Tổng di chuyển ca ́ c cơ quan Đảng , Chính phủ, đoàn thể, chính quyền nhân dân và quân đô ̣i……….… …… ……… 33
2.1.1 Di chuyển các cơ quan Đảng và Chính phủ… … … ….….…33
2.1.2 Di chuyển các cơ quan đoàn thể, chính quyền nhân dân… … 37
2.1.3 Di chuyển các cơ quan và lực lượng của quân đội……… …40
Trang 52.2 Tản cư, di cư nhân dân……… ……… 44
2.2.1 Tản cư nhân dân……….…… ……….44 2.2.2 Việc thành lâ ̣p các tra ̣i di cư sản xuất và tra ̣i tiểu công nghê ̣… 52
Tiểu kết chương 2……… ………….………… …… 59
Chương 3 TỔNG DI CHUYỂN KHO TÀNG, MÁY MÓC, VẬT TƯ CỦA CÁC NGÀNH KINH TẾ, QUÂN GIỚI VÀ HẬU CẦN ….………… 61 3.1 Di chuyển kho tàng, máy móc, vật tư của ngành Kinh tế… …61 3.2 Di chuyển kho tàng, máy móc, vật tư của ngành Quân giới… 65 3.3 Di chuyển của ngành Hậu cần……… … ……… 73 Tiểu kết chương 3……….………… …78
Chương 4 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CUỘC TỔNG DI CHUYỂN TRONG HAI NĂM ĐẦU KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946-1947)……….……… …….80 4.1 Kết qua ̉ và ý nghi ̃a của cuô ̣c tổng di chuyển đối với cuô ̣c kháng chiến chống thực dân Pháp ……… ……… 80 4.2 Những đóng góp của quân và dân trong cuộc tổng di chuyển 85
4.2.1 Đóng góp của các đơn vị lực lượng vũ trang………… … … 85 4.2.2 Đóng góp của công nhân……….… …… …… 87 4.2.3 Đóng góp của nông dân và các tầng lớp khác……… … …… 90
4.3 Những thuận lợi và khó khăn cu ̉ a cuộc tổng di chuyển…… 93
4.3.1 Những thuận lợi khi tiến hành tổng di chuyển……… … ….….93 4.3.2 Những khó khăn trong khi tiến hành cuộc tổng di chuyển ……96
4.4 Một số hạn chế của cuộc tổng di chuyển… ……… ….…… 100
Trang 6Tiểu kết chương 4……… ….…… 103 KẾT LUẬN……… ….…… …… ………… ….105 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …… ……… 110 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày 19 tháng 12 năm 1946 là một mốc son chói lọi về tinh thần yêu nước quâ ̣t khởi của toàn thể dân tô ̣c Viê ̣t Nam , ngày mở đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Theo“Lời kêu go ̣i toàn quốc kha ́ ng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đơn vị lực lượng
vũ trang cùng với quần chúng nhân dân các tỉnh , thành phố từ phía Bắc vĩ tuyến 16 dưới sự lãnh đa ̣o của Đảng đã nhất tề đứng lên chiến đấuchống thực dân Pháp xâm lược Sau gần ba tháng chiến đấu anh dũng , quân và dân ta đã giành nhiều thắng lợi và gây cho quân đô ̣i Pháp mô ̣t số thiê ̣t ha ̣i
Cuô ̣c chiến đấu ngoan cường , dũng cảm của quân và dân ta trong thời kỳ đầu và toàn bộ tiến trình của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả
và các nhà nghiên cứu lịch sử trong và ngoài nước Nhiều công trình đã được xuất bản và c ông bố rô ̣ng rãi để phu ̣c vu ̣ ba ̣n đo ̣c trong đó đã phản ánh khá sâu sắc , toàn diện về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Viê ̣t Nam trên tất cả các lĩnh vực chính tri ̣ , quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, xã hội… Hàng loạt vấn đề về ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 và giai đoạn đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1947) như: Bối cảnh li ̣ch sử quốc tế và khu vực trong
và trước những năm 1945 - 1946, những tác đô ̣ng của nói đối với li ̣ch sử Viê ̣t Nam; Âm mưu và thủ đoa ̣n xâm lược Viê ̣t Nam của thực dân Pháp ; Sự lãnh đa ̣o, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về toàn quốc kháng chiến ; Công tác chuẩn bi ̣ kháng chiến t oàn quốc trong
cả nước; Toàn quốc kháng chiến trong các thành phố, thị xã Bắc vĩ tuyến
16 và các hoạt động phối hợp chiến đấu của quân và dân Nam Trung Bộ , Nam Bô ̣; Những bài ho ̣c kinh nghiê ̣m và giá tri ̣ của nó đối với s ự nghiệp
Trang 9xây dựng và bảo vê ̣ Tổ quốc… đã được nghiên cứu và làm rõ
Tuy nhiên, nội dung về “ Cuộc tổng di chuyển trong hai năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1947)” mới chỉ được đề câ ̣p ở
mô ̣t số khía ca ̣nh và còn khá mờ nha ̣t Quá trình tiến hành tổng di chuyển cũng không được nghiên cứu đầy đủ Bên ca ̣nh đó, những nghiên cứu đó chưa làm nổi bật được vai trò và tác đô ̣ng của cuô ̣c tổng di chuyển đối với cuô ̣c kháng chiến chống thự c dân Pháp Trong thực tế của l ịch sử Viê ̣t Nam trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã chứng minh, nếu không có cuộc tổng di chuyển thì không thể bảo toàn lực lượng, cũng như không có tiềm lực để kháng chiến lâu dài Cuộc tổng di chuyển thâ ̣t sự xứng đáng là một kỳ tích trong những năm đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Vì vậy, viê ̣c nghiên cứu vấn đề tổng di chuyển trong hai năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1947) nhằm góp phầ n làm rõ
và nhận thức đầy đủ hơn về sự kiện lịch sử quan trọng này, đồng thời qua đó góp phần hiểu hơn về cuô ̣c khán g chiến chống thực dân Pháp xâm lược là viê ̣c cần thiết Nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang tích cực thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, không ngừng tăng cường mở cửa và hội nhập với thế giới ; và trong bối cảnh các thế lực thù địch vẫn đang hàng ngày, hàng giờ tìm cách chống phá , lật đổ nhà nước Viê ̣t Nam thì nhiê ̣m vu ̣ , mục tiêu chiến lược đảm bảo sức mạnh, chính sách giáo dục quốc phòng toàn dân không chỉ có ý nghĩa quan tro ̣ng mà còn tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế , chính trị, xã hội của đất nước Do đó, nghiên cứu về cuô ̣c tổng di chuyển không chỉ
có ý nghĩa khoa học mà còn có giá tri ̣ thực tiễn
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó, nhất là với nguồn tài liệu mới công bố được khai thác ta ̣i Trung tâm lưu trữ Quốc gia III , chúng tôi
đã mạnh dạn chọn vấn đề: “Cuộc tổng di chuyển trong hai năm đầu
Trang 10kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1947)” làm đề tài Luận văn
Thạc sĩ khoa học lịch sử
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sự kiện “tổng di chuyển” diễn ra đã hơn 60 năm Từ đó đến nay ,
vấn đề này đã được nhiều nhà sử học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, được công bố dưới nhiều thể loại khác nhau như: các bộ sách thông sử, sách nghiên cứu, sách chuyên khảo, giáo trình giảng dạy,
kỷ yếu hội thảo, tạp chí, lịch sử Đảng bộ, lịch sử đấu tranh vũ trang của các tỉnh, các khu… Trong các công trình đều có phần đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến các vấn đề của cuộc tổng di chuyển trong hai năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1947)
Trước hết có thể kể đến những sách thông sử và mô ̣t số chuyên khảo viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) như sau:
Năm 1985, Tổng cục Hậu cần xuất bản công trình “Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1954)” Đây là tác phẩm
chuyên khảo nghiên cứu về lịch sử của ngành Hậu cần, trong đó đã trình bày khá chi tiết, cụ thể, trình tự theo từng thời kỳ lịch sử những hoạt động của ngành Hậu cần từ khi thành lập cho đến khi kết thúc cuô ̣c kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Bên cạnh những nghiên cứu
về lịch sử của ngành Hậu cần nói chung, trong các trang 98 và 99, các tác giả đã đề cập đến các hoạt động di chuyển của ngành Hậu cần, Quân
y, Quân nhu, Quân giới… Bằng những sự kiê ̣n li ̣ch sử và số liê ̣u cu ̣ thể , các tác giả đã phản ánh rõ quá trình tiến hành tổng di chuyển của ngành cũng như làm nổi bật vai trò, tác dụng của cuộc tổng di chuyển đối với ngành Hậu cần nói riêng , cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung
Nghiên cứ u về vai trò và thành tích của giai cấp công nhân trong
Trang 11cuô ̣c tổng di chuyển được thể hiê ̣n tron g tác phẩm “Giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ 1945 - 1954” của hai tác giả Nguyễn Hữu Hợp và
Phạm Quang Toàn Nô ̣i dung của cuốn sách đã tập trung làm rõ quá trình hình thành, phát triển, tổ chức và những hoạt động, đóng góp của giai cấp công nhân trong thời kỳ (1945 - 1954) Tác phẩm đã dành nhiều trang nghiên cứu về hoạt động của giai cấp công nhân trong việc xây dựng cơ sở công nghiệp quốc phòng và nền kinh tế kháng chiến Từ trang 203 đến trang 216, các tác giả đã thể hiê ̣n vai trò của giai cấp công nhân trong việc xây dựng, sản xuất, đặc biệt là tham gia vận chuyển máy móc, kho tàng về các chiến khu Có thể nói, đây là tác phẩm viết khá kỹ về vai trò của giai cấp công nhân đối với cuô ̣c tổng di chuyển Công trình do nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1987
Tác phẩm : “Lịch sử Quân giới Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954” [27] cũng đề cập đến cuộc tổng di
chuyển của ngành Quân giới Tác phẩm có dung lượng 214 trang, được chia thành 4 chương, nội dung cuốn sách tập trung làm rõ lịch sử hình thành và phát triển của ngành Quân giới Việt Nam trong kháng chiến
chống Pháp Trong chương 2,“Quân giới trong năm đầu toàn quốc kháng chiến” đã đề cập đến cuộc di chuyển của các binh công xưởng, cơ
sở sản xuất vũ khí từ các tỉnh thành lên chiến khu Việt Bắc Nô ̣i dung tác phẩm làm rõ quá trình hình thành hê ̣ thống binh công xưởng trên cả nước, quá trình phát triển và hoạt động sản xuất của các binh công
xưởng từ khi thành lập cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Có thể coi đ ây là tác phẩm nghiên cứu đầy đủ nhất về hoạt động của ngành Quân giới Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp
Vấn đề tổng di chuyển cũng được đề câ ̣p không nhiều trong tác
phẩm “Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp
Trang 12(1945 - 1954)” Đây là công trình do tâ ̣p thể cán bô ̣ của Bộ Tổng Tham mưu biên soạn Nội dung tác phẩm chủ yếu trình bày sự hình thành , phát triển của Bô ̣ Tổng Tham mưu trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp Đó là mô ̣t quá trình đi từ không đến có , từ nhỏ đến lớn , vừa ho ̣c vừa làm, vừa làm vừa tiến bô ̣ Vai trò đóng góp của Bô ̣ Tổng tham mưu
trong từng giai đoa ̣n li ̣ ch sử cũng được làm rõ Mục 2 về “Cuộc hành quân của cơ quan lên Việt Bắc” ở trang 153 có đề cập đến việc di
chuyển máy móc và cơ sở vật chất quốc phòng, tiền, bạc từ thành phố ra các vùng chưa xảy ra chiến sự do Chính phủ giao cho Bộ Tổng Tham mưu đảm nhận Tác phẩm đã trình bày việc di chuyển của cơ quan Bộ Tổng Tham mưu từ Hà Nội ra vùng nông thôn của Hà Đông, sau đó di chuyển tiếp lên Việt Bắc trong các trang 154 và 155 Công trình do Nhà
in Bộ Tổng Tham mưu xuất bản năm 1991
“Lịch sử Giao thông vận tải Việt Nam” là tác phẩm chuyên khảo
về lịch sử hình thành và phát triển của ngành Giao thông vận tải từ thời phong kiến cho đến những năm đầu của thế kỷ XXI Vấn đề di chuyển
cơ quan của ngành Giao thông vận tải, khối lượng vận chuyển của ngành, cùng với những đóng góp, hy sinh của công nhân ngành Giao thông vận tải trong cuộc tổng di chuyển được đề cập trong chương 2, trong đó có đoa ̣n viết : “Cán bộ, công nhân ngành Giao thông Vận tải đã chủ động tổ chức vận chuyển, sơ tán các cơ quan Trung ương, Chính phủ
và các bộ về chiến khu Việt Bắc an toàn Đồng thời cùng bộ đội, du kích dũng cảm chiến đấu đánh địch bảo vệ từng cơ quan, xí nghiệp, nhà ga của thủ đô” [15, tr.154] Công trình do Nhà xuất bản Giao thông Vận tải xuất bản năm 2002
Tác phẩm: “Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 - 2000, Tập 1, (1945 - 1954)” của tác giả Đặng Phong cũng đề câ ̣p đến cuô ̣c tổng di chuyển Với dung lượng 662 trang, bao gồm 4 phần, phần một viết về kinh tế
Trang 13Việt Nam trước cách mạng tháng Tám; Kinh tế Việt Nam giai đoạn 16 tháng từ 19/8/1945 đến 19/12/1946 thuộc phần hai; phần ba tập trung trình bày kinh tế vùng kháng chiến (1947 - 1954); Kinh tế và đời sống trong vùng Pháp chiếm thuộc phần thứ tư Trong các phần trên tác giả đã nghiên cứu, trình bày kinh tế Việt Nam rất tỉ mỉ, đa dạng và phong phú Bên cạnh những vấn đề về kinh tế, tác giả cũng trình bày nhiều vấn đề khác, các sự kiện lịch sử Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp Vấn đề di chuyển đã được tác giả trình bày khái quát trong một số trang, từ trang 214 đến trang 242 Công trình do Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội xuất bản năm 2002
“Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập 2, Toàn quốc kháng chiến”, là tác phẩm chuyên khảo về Lịch sử
kháng chiến chống thực dân Pháp do Viện Lịch sử quân sự Viê ̣t Nam biên soạn Nội dung xuyên suốt của tác phẩm đi sâu nghiên cứu các vấn
đề lịch sử quân sự Việt Nam trong giai đoạn này Vấn đề tổng di chuyển
được đề cập đến trong chương V: “Chuyển đất nước vào thời chiến”
Nội dung vấn đề tổng di chuyển cơ quan, kho tàng, máy móc; thực hiện phá hoại và tiêu thổ kháng chiến đưa đất nước bước vào cuộc chiến đã được nghiên cứu rất tỉ mỉ Đây có thể coi là công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống về cuộc tổng di chuyển Bên ca ̣nh đó , tác phẩm đã cung cấp nhiều số liệu, cũng như những ý kiến đánh giá về cuô ̣c tổng di chuyển này Công trình do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân xuất bản năm 2005
Cuốn “Lịch sử Bộ Nội vụ” do Chu Văn Thành (C.b) có dung
lượng 434 trang, chia làm 10 chương Bên ca ̣nh nô ̣i dung chính tập trung trình bày, làm rõ quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của Bộ Nội
vụ từ khi ra đời cho đến năm 2005, vấn đề tổng di chuyển được trình bày
khái quát trong các trang thuộc mục 1 của chương 2 - Bộ Nội vụ trong
Trang 14những năm đầu cuộc kháng chiến toàn quốc Tác phẩm do Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2005
Tác phẩm “Lịch sử Giao thông Liên lạc ATK Việt Bắc ”, do Cu ̣c
Bưu điê ̣n Trung ương xuất bản tháng 9 năm 2005, đã trình bày xuyên suốt về lịch sử hình thành chiến khu Việt Bắc - căn cứ địa cách mạng của
cả nước Trong các trang viết từ trang 106 đến trang 127 đã đề câ ̣p đến
vấn đề di chuyển cơ quan , kho tàng của ngành Thông tin liên la ̣c lên an
toàn khu Viê ̣t Bắc
“Lịch sử Việt Nam 1945 - 1950” của các tác giả Đinh Thị Thu
Cúc (C.b), Đinh Quang Hải, Đỗ Thị Nguyệt Quang Trong phần ba,
thuộc chương ba “Chuyển cả nước vào chiến tranh, chuẩn bị kháng chiến lâu dài” từ trang 228 đến trang 242 đã đề cập đến vấn đề tổng di
chuyển, quá trình di chuyển , và bước đầu đưa ra những đánh giá về vai trò, tác dụng của cuộc tổng di chuyển đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Công trình do N hà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản
2007
“Lịch sử kỹ thuật quân sự Việt Nam (giản yếu)” do Viện Lịch sử
quân sự Việt Nam biên soa ̣n là công trìn h chuyên khảo về lịch sử vũ khí
và kỹ thuật quân sự của Việt Nam qua các thời kỳ li ̣ch sử Trong chương
6, phần 1, tác phẩm đã đề cập đến cuộc tổng di chuyển của ngành quân giới và việc xây dựng các binh công xưởng Tác phẩm cung cấp nhiều số liệu về việc sản xuất vũ khí, tổ chức hoạt động, nơi phân bố của những binh công xưởng trên đất nước theo từng vùng, từng chiến khu, từ khi hình thành cho đến khi ổn định sản xuất Công trình cũng chỉ rõ vai trò của cuộc tổng di chuyển đối với sự hình thành các binh công xưởng thời
kỳ đầu kháng chiến Tác phẩm do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản năm 2008
Bên ca ̣nh những công trình chuyên khảo trên , vấn đề tổng di
Trang 15chuyển còn được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu lịch sử chuyên ngành như: Lịch sử đấu tranh vũ trang, Lịch sử Đảng bộ của các tỉnh trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)… Trong các tác phẩm đó, đã đề cập đến vấn đề tổng di c huyển nhưng chỉ giới ha ̣n ở những tỉnh , những đi ̣a phương riêng biê ̣t Nô ̣i dung không được phản ánh rõ, cũng như chưa thể hiê ̣n hết quá trình tổng di chuyển
Thời kỳ lịch sử Viê ̣t Nam (1945 - 1954) cũng là đối tượng được nhiều nhà sử học nước ngoài quan tâm Tiêu biểu là Philippe Devillers
với hai tác phẩm: Lịch sử Việt Nam 1940 - 1952 (Paris, 1952) và Paris - Sài Gòn - Hà Nội, những tư liệu về cuộc chiến tranh 1944 - 1947 (Paris, 1988) Stein Tonnesson với hai tác phẩm: Năm 1946 - sự bùng nổ cuộc chiến tranh Đông Dương (Paris, 1987) và Cuộc cách mạng Việt Nam năm 1945 - Rudoven, Hồ Chí Minh, Đờ Gôn trong một thế giới chiến tranh (Oslo, 1991); Jean Sainteny: Lịch sử một nền hòa bình bỏ dở (Paris, 1953), A Dô H Hồ Chí Minh dịp may cuối cùng (Paris, 1968)…
Những tác phẩm này góp phần tìm hiểu thêm về lịch sử Việt Nam giai đoa ̣n (1945 - 1954) trong sự nghiên cứu của các ho ̣c giả nước ngoài
Bên cạnh những tác phẩm thông sử và chuyên khảo trên , vấn đề tổng di chuyển đã được nghiên cứu một cách trực tiếp qua các bài viết sau đây
Trong công trình “Nửa thế kỷ nhìn lại ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 - 19/12/1996”,[75] do tập thể các tác giả trong và ngoài Viện
Sử học biên soạn, có hai bài viết nghiên cứu trực ti ếp đến vấn đề của
cuô ̣c tổng di chuyển “Tổng di chuyển các cơ quan, kho tàng, máy móc vào khu an toàn - một cuộc chiến đấu gay go, gian khổ” của tác giả
Nguyễn Tố Uyên Bài viết đã đề cập trực tiếp đến nội dung của cuộc tổng di chuyển cơ quan, kho tàng, máy móc và tản cư, di cư nhân dân Trên cơ sở nghiên cứu đó, tác giả đã đi sâu phân tích những khó khăn
Trang 16của cuộc tổng di chuyển để chứng minh quá trình tiến hành di chuyển
thực sự là cuô ̣c chiến đấu , gay go và gian khổ Bài viết thứ hai là: “Vai trò của giai cấp công nhân trong cuộc kháng chiến toàn quốc và tổng di chuyển cơ quan, kho tàng, máy móc, chuẩn bị kháng chiến lâu dài” của
tác giả Nguyễn Hữu Đạo Tác giả đã tâ ̣p chung làm rõ vai trò và đóng góp của giai cấp công nhân trong cuộc kháng chiến toàn quốc, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp, góp phần vào cuộc kháng chiến toàn quốc Bên cạnh việc trình bày sự đấu tranh của giai cấp công nhân khi kháng chiến toàn quốc nổ ra, nội dung bài viết tâ ̣p chung làm rõ vai trò và những đóng góp , sự hy sinh gian khổ của giai cấp công nhân trong cuô ̣c tổng di chuyển , xây dựng kinh tế kháng chiến Từ việc đưa ra những thành tựu đạt được của cuộc tổng di chuyển, tác giả đã đi sâu nghiên cứu những đóng góp của giai cấp công nhân trong việc di chuyển, vận chuyển hàng hóa, máy móc, kho tàng về các khu căn cứ
Ở khía cạnh khác , tác giả Nguyễn Tố Uyên quay la ̣i vấn đề này
với bài viết:“Vài nét về cuộc tổng di chuyển cơ quan, kho tàng, máy móc nhằm đưa đất nước bước nhanh vào cuộc chiến tranh vệ quốc” trên Tạp
chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5, năm 1996 Tác giả đã làm rõ nguyên nhân cũng như thời gian dẫn đến tổng di chuyển, nội dung tập trung làm rõ quá trình tiến hành cuộc tổng di chuyển các cơ quan, của ngành quân giới, ngành kinh tế quốc dân, tản cư nhân dân… Bước đầu tác giả đã đưa
ra những đánh giá, nhận xét về cuộc tổng di chuyển
“Vài nét về công tác di chuyển ở Hà Nội” là bài viết của tác giả
Lê Thanh Bài, in trong Kỷ yếu hội thảo khoa ho ̣c: “Hà Nội mở đầu ngày toàn quốc kháng chiến tầm vóc và ý nghĩa”, do nhà xuất bản Quân đội
Nhân dân xuất bản 2004 Trong bài viết , tác giả tâ ̣p trung làm rõ quá trình di chuyển các cơ quan, kho tàng, máy móc, tản cư nhân dân từ Hà
Trang 17Nội về các vùng căn cứ Bài viết đã trình bày khái quát về các cuộc di chuyển trong những ngày đầu chuẩn bi ̣ cho cuô ̣c kháng chiến chống Pháp tại thủ đô Hà Nội
“Cuộc Tổng di chuyển hồi đầu Toàn quốc kháng chiến” là bài viết của tác giả Lê Văn Cử, in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học: “60 năm toàn quốc kháng chiến ký ức lịch sử và bài học kinh nghiệm xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc”, nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 2007 Bài viết đã trình
bày khái quát quá trình tổng di chuyển, từ thời gian tiến hành cho đến khi hoàn thành Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra những nhận xét, đánh giá về thành quả và ý nghĩa của vấn đề đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Như vâ ̣y , trong các công trình trên nô ̣i dung đã đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề tổng di chuyển Mỗi công trình bài viết đã trình bày , nghiên cứu về cuô ̣c tổng di chuyển ở nhiều khía ca ̣nh khác nhau, có bài viết về nội dung , có bài viết lại thiên về đánh giá vai trò và tác dụng của cuộ c tổng di chuyển… Qua đó cho thấy , cuộc tổng di chuyển chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này có giá trị quan trọng trong việc cung cấp tư liệu và giúp chúng tôi định hướng một số vấn đề trong nội dung nghiên cứu của mình
3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cuộc tổng di chuyển
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Bao gồm các tỉnh, thành phố, thị xã và những nơi trực tiếp diễn ra cuộc tổng di chuyển ở phía Bắc vĩ tuyến 16
Về thời gian: Từ nửa cuối tháng 11/1946 đến cuối tháng 3/1947
Trang 18Có hai điểm chúng tôi xin được lưu ý giải thích rõ thêm khi
nghiên cứu vấn đề này là phạm vi nghiên cứu Đó là, trước khi tiến hành cuô ̣c tổng di chuyển, ngay từ cuối năm 1945, quân và dân Nam Bô ̣, Nam phần Trung Bô ̣ đã tiến hành di chuyển các đơn vi ̣ lực lượng vũ trang , tản
cư nhân dân và di chuyển các binh công xưởng về vùng nông thôn và các nơi an toà n Còn nội dung nghiên cứu của đề tài này chỉ tập trung vào cuộc tổng di chuyển trong pha ̣m vi không gian thuô ̣c các tỉnh phía Bắc vĩ tuyến 16 trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 1946 đến hết tháng 3 năm 1947 Đây là cuộc tổng di chuyển các cơ quan Trung ương , chính quyền đoàn thể, quân đô ̣i, lực lượng; cơ sở vâ ̣t chất, kho tàng, của ngành Kinh tế , Quân giới , Hâ ̣u cần và tản cư , di cư nhân dân Với cuô ̣c di chuyển ở Nam Bô ̣ và Nam phần Trung bô ̣ là những nô ̣i dung đ ề tài tham khảo, mở rô ̣ng nghiên cứu để so sánh
Theo tác phẩm “Năm mươi lăm năm Quân đội nhân dân Viê ̣t Nam” do Viê ̣n Li ̣ch sử quân sự Viê ̣t Nam biên soa ̣n , sự kiện Tổng di chuyển được giải nghĩa : “Cuối tháng 11/1946 tổng di chuyển cơ sở vâ ̣ t
chất (chủ yếu là quân giới ) ở Hà Nội , các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ vào căn cứ nông thôn và rừng núi Các cơ sở ở Nam bộ tiếp tu ̣c di chuyển vào căn cứ Đến tháng 4 năm 1947, chỉ tính từ Liên khu 5 trở ra, cán bộ, chiến sĩ, công nhân quân giới đã chuyển được khoảng 40.000 tấn máy
móc, phương tiê ̣n, nguyên vâ ̣t liê ̣u.” [21, tr.40]
Từ những phân tích và dẫn chứng trên đây , giúp chúng ta phân
biê ̣t rõ thêm pha ̣m vi không gian, thời gian của cuô ̣c tổng di chuyển
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Qua việc tập hợp và hệ thống các nguồn tư liệu, chúng tôi làm rõ vấn đề theo những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất , làm rõ bối cảnh li ̣ch sử dẫn đến cuộc tổng di chuyển; những chủ trương và chỉ đạo sáng suốt, kịp thời của Đảng , Chính phủ,
Trang 19Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cuộc tổng di chuyển
Thứ hai, trình bày quá trình tiến hành cuộc tổng di chuyển qua hai
nội dung chính: Tổng di chuyển các cơ quan Đảng, Nhà nước , chính quyền, đoàn thể, quân đô ̣i và tản cư, di cư nhân dân Tổng di chuyển kho tàng, máy móc, vật tư củ a các ngành Kinh tế, Quân giới và Hâ ̣u cần
Thứ ba, phân tích, đánh giá kết quả và ý nghĩa của cuộc tổng di
chuyển; đồng thời làm rõ những thuận lợi và khó khăn; vai trò và sự tham gia đóng góp của nhân dân đối với cuộc tổng di chuyển
Bên cạnh đó , qua nội dung và quá trình tiến hành tổng di chuyển chỉ ra những hạn chế trong từng cuô ̣c di chuyển
4 Nguồn ta ̀i liê ̣u và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn ta ̀ i liệu
Để phu ̣c vu ̣ cho việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn chúng tôi đã sử du ̣ng c ác tài liệu chủ yếu là : sách, báo, tạp chí, nhâ ̣t ký và những tài liê ̣u liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề tổng di chuyển
Đặc biệt là nguồn tài liệu Lưu trữ gồm những báo cáo tổng kết của các khu, tỉnh đang được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng và các Phòng Lưu trữ ở một số địa phương
Bên ca ̣nh đó là các tài liệu và v ăn kiện của Đảng như: Văn kiện Đảng toàn tập; Hồ Chí Minh toàn tập… Các tác phẩm nghiên cứu Lịch sử đi ̣a phương như : Lịch sử Đảng bộ của các tỉn h; Lịch sử đấu tranh vũ trang; Lịch sử kháng chiến chống Pháp của các tỉnh, các khu và liên khu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương
pháp nghiên cứu lịch sử và logic
Trang 20Bên ca ̣nh đó , chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu
để làm rõ những nội dung nghiên cứu
5 Đóng góp của luâ ̣n văn
Về tài liê ̣u : Luâ ̣n văn góp phần hệ thống hóa các nguồn tài liệu
thông sử, chuyên khảo về lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, lịch
sử đấu tranh cách mạng, đấu tranh vũ trang của các địa phương trong giai đoa ̣n (1945 - 1954)
Luâ ̣n văn còn cung cấp một số tài liê ̣u mới như : Báo cáo của các tỉnh và các chiến khu trong kháng chiến chống Pháp đang được lưu giữ tại các Trung tâm Lưu trữ
Về nội dung: Luâ ̣n văn làm rõ bối cảnh lịch sử , nguyên nhân cũng
như những chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cuộc tổng di chuyển
Trình bày hệ thống và toàn diện quá trình tiến hành cuộc tổng di chuyển từ nửa cuối tháng 11/1946 cho đến tháng 3/1947
Đánh giá thành quả và ý nghĩa của cuộc tổng di chuyển đối với cuô ̣c kháng chiến chống thực dân Pháp Phân tích những thuận lợi, khó khăn và hạn chế của cuộc tổng di chuyển Qua đó làm rõ vai trò và sự tham gia đóng góp của quân và dân đối với cuộc tổng di chuyển
6 Bố cục của luâ ̣n văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được chia thành 4 chương
Chương 1: Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng về tổng di chuyển
Chương 2: Tổng di chuyển các cơ quan Đảng , Chính phủ ,
Trang 21đoàn thể, chính quyền, quân đô ̣i và tản cư, di cư nhân dân
Chương 3: Tổng di chuyển kho tàng , máy móc, vâ ̣t tư của các ngành Kinh tế, Quân giới và Hâ ̣u cần
Chương 4: Một số nhận xét về cuộc tổng di chuyển trong hai năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1947)
Trang 22Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ
CUỘC TỔNG DI CHUYỂN
1.1 Bối cảnh lịch sử
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới của dân tô ̣c Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản
Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Viê ̣t Nam Dân chủ Cô ̣ng hòa Từ
thời khắc li ̣ch sử này, nhân dân ta thực sự làm chủ đất nước, làm chủ vận
mê ̣nh của mình Trong khoảng thời gian 16 tháng (từ 8/1945 đến 12/1946), dướ i sự lãnh đa ̣o của Đảng , Chủ tịch Hồ Chí Minh, nước ta đã giành được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực chính trị , kinh tế, văn hóa,
xã hội , xây dựng được cơ sở vâ ̣t chất , cơ sở xã hô ̣i , pháp lý , chính quyền… ta ̣o dựng sức ma ̣nh cho đất nước trên nền tảng dân chủ nhân dân Nhưng cũng trong khoảng thời gian này, bối cảnh đất nước luôn đă ̣t trong tình thế hiểm nghèo Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng
mô ̣t lúc phải đ ối phó với giặc đói , giă ̣c dốt, giă ̣c ngoa ̣i xâm Trong đó, giă ̣c ngoa ̣i xâm là nguy hiểm nhất Tàn quân của phát xít Nhật , quân đô ̣i Tưởng Giới Tha ̣ch , quân Pháp , Anh và các lực lượng thuô ̣c các đảng phái chính trị phản cách mạng đang đe do ̣a trực tiếp đến sự tồn vong của
vâ ̣n mê ̣nh dân tô ̣c
Theo Nghị quyết của hội nghị Potsdam (ngày 02/8/1945), quân
đô ̣i Anh và quân đô ̣i Tưởng vào Viê ̣t Nam để làm nghĩa vu ̣ giải giáp quân đô ̣i Nhâ ̣t Theo đó, ở miền Bắc , từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 năm 1945, gần 20 vạn quân Tưởng do Lư Hán chỉ huy đã tràn qua biên giới kéo vào cướp phá , chiếm đóng thành phố Hà Nô ̣i và hầu hết thành phố, thị xã phía Bắc vĩ tuyến 16 Quân đô ̣i Tưởng Vào miền Bắc Viê ̣t Nam với danh nghĩa giải giáp vũ khí quân đô ̣i Nhâ ̣t nhưng chúng chỉ
quan tâm đến viê ̣c “tước đoạt, cướp bóc” [126, tr.569-570] và thực hiện
Trang 23âm mưu “diê ̣t Cộng , cầm Hồ ” Không những thế , theo sau quân đô ̣i
Tưởng là cá c lực lượng phản cách ma ̣ng như Viê ̣t Quốc , Viê ̣t Cách và
Đa ̣i Viê ̣t Các lực lượng phản đô ̣ng này luôn tìm cách gây rối loa ̣n chính trị và chống phá cách mạng Việt Nam Ở miền Nam, 5.000 quân Anh do tướng Graxây (Gracey) chỉ huy đã giúp cho quân Pháp quay la ̣i xâm lược Viê ̣t Nam Những hành đô ̣ng trên của quân đô ̣i Tưởng và Anh đã làm cho tình hình chính trị của nước Việt Nam trở nên hỗn loạn , khó kiểm soát
Như vâ ̣y , quân đội Anh và Tưởng vào Viê ̣t Nam không chỉ với danh nghĩa là quân đồng minh tước vũ khí quân đội Nhật mà còn để thực
hiện ba mục đích: “Tiêu diệt Đảng ta (Đảng cộng sản Việt Nam); Phá tan Việt Minh; Giúp bọn phản động Việt Nam đánh đổ chính quyền nhân dân, để lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng.” [43,
tr.121] Tình hình đó , đã đẩy v ận mệnh dân tộc vào tình thế nguy hiểm , nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang bị đe dọa nghiêm trọng
Ở miền Nam, được sự giúp đỡ của quân đô ̣i Anh , ngay sau khi đă ̣t chân xuống miền Nam Viê ̣t Nam thực dân Pháp lâ ̣p tức thực hiê ̣n âm mưu xâm lược Thực dân Pháp đã tâ ̣p hợp các nhóm phản đô ̣ng theo đa ̣o Cao Đài, Hoà Hảo để lập ra nước “Nam kỳ tự trị” nhằm tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam , nước “Cô ̣ng hoà Nam Kỳ tự tri ̣” và nước “Tây kỳ” để chia rẽ khối dân tô ̣c thống nhất của Viê ̣t Nam
Ngày 23/9/1945, quân đội Pháp đã nổ súng ở Sài Gòn mở đầu cho cuộc tái chiến tranh xâm lược Từ Sài Gòn quân đô ̣i Pháp đã nhanh chóng mở rộng chiếm đóng ra nhiều vùng nông thôn Đến cuối năm
1945, quân đội Pháp đã kiểm soát được nhiều thành phố và đường giao thông quan trọng tại Nam Bộ, các tỉnh cực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
Trang 24Thực hiện âm mưu đặt lại nền thống trị trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, thực dân Pháp tiến quân ra phía Bắc, với mục tiêu số một là chiếm bằng được Bắc Bộ Bởi vì, Bắc Bô ̣ là nơi có vị trí chiến lược, kho người, kho của và là nơi tập trung các cơ quan đầu não, hệ thống nhà máy, cơ sở
hạ tầng, vật chất do Việt Minh tiếp quản Âm mưu đó được đẩy mạnh khi quân đội viễn trinh Pháp tại Việt Nam nhận được tin sắp có một sư đoàn tiếp viện từ bên Pháp sang Tổng chỉ huy quân đô ̣i Pháp dự kiến đưa lực lượng ra Bắc Bô ̣ ngay sau khi có kết quả tại cuộc đàm phán Pháp
- Hoa ở Trùng Khánh (Trung Quốc)
Ngày 28/2/1946, hiệp ướ c Pháp - Hoa được ký kết sau nhiều tháng điều đình kéo dài giữa Pháp và Tưởng Về cơ bản , nô ̣i dung của Hiê ̣p ước đã tạo điều kiện cho quân đội Pháp mở rộng chiến tranh ra miền Bắc
và quân Tưởng rút về nước Theo Hiê ̣p ước này, phía Tưởng Giới Thạch cho phép quân đội Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam thay thế cho quân Trung Hoa Quốc dân Đảng dưới danh nghĩa giải giáp quân đô ̣i Nhật ở Bắc Đông Dương Đổi lại , phía Pháp trả lại các tô giới trên đất Trung Quốc cho chính phủ Trung Hoa Quốc dân Đảng… Thành công trong việc thương lượng này đã dọn đường cho quân đội Pháp tiến ra Bắc , càng đẩy nguy cơ chiến tranh trên toàn lãnh thổ Việt Nam lên cao
Đến cuối năm 1946, sau nhiều lần tăng viê ̣n1
, đạo quân viễn chinh Pháp trên chiến trường Đông Dương lên đến trên 90.000 quân, gồm 36 tiểu đoàn bô ̣ binh , 4 tiểu đoàn pháo binh , 3 trung đoàn thiết giáp và cơ giới, hơn 100 máy bay và nhiều tàu chiến Tại Việt Nam, từ vĩ tuyến 16 trở ra phía Bắc quân Pháp có Sư đoàn bô ̣ binh thuô ̣c đi ̣a số 9 và Trung đoàn bô ̣ binh lê dương số 13, 1 trung đoàn thiết giáp, 1 trung đoàn chiến
xa cơ đô ̣ng cùng mô ̣t lực lượng quân dù, thuỷ quân, không quân, các đơn
1 Bao gồm : Tàn quân Pháp thất trận trong cuộc đảo chính Nhật ngày (9/3/1944) từ vùng biên giới đông bắc Vân Nam (Trung Quốc) và tù binh Pháp bị Nhật giam giữ trong nội thành Hà Nội kéo về
hơ ̣p lực
Trang 25vị kỹ thuật thông tin, vâ ̣n tải, hâ ̣u cần Tổng số quân khoảng 30.000 quân được bố trí đứng chân ta ̣i những nơi tro ̣ng yếu [25, tr.8]
Với số lượng đó, quân đô ̣i Pháp đã chiếm và đóng quân ta ̣i hầu hết các thành phố , thị xã quan trọng trên cả nước Ở Hải Phòng , thực dân Pháp có Trung đoàn bộ binh lê dương số 3, thiếu mô ̣t tiểu đoàn và Trung đoàn pháo binh thuô ̣c đi ̣a Ma rốc số 4, thiếu mô ̣t tiểu đoàn Trung đoàn chiến xa cơ đô ̣ng và mô ̣t bô ̣ phâ ̣n thuỷ quân, không quân Ở Hà Nội, thực dân Pháp có Trung đoàn bô ̣ binh thuô ̣c đi ̣a số 6, thiếu mô ̣t tiểu đoàn , 1 trung đoàn thiết giáp , 1 tiểu đoàn thuô ̣c Trung đoàn pháo binh thuô ̣c đi ̣a
Ma rốc số 4, mô ̣t bô ̣ phâ ̣n biê ̣t kích , quân dù, không quân và thuỷ quân Quân Pháp có 1 tiểu đoàn thuô ̣c Trung đoàn pháo binh thuô ̣c đi ̣a thuô ̣c
đi ̣a số 6 và 1 tiểu đoàn thuô ̣c Trung đoàn bô ̣ binh lê dương số 3 ở Nam
Đi ̣nh Tại Tiên Yên , Lạng Sơn, Hồng Gai, Pháp có Trung đoàn bộ binh thuô ̣c đi ̣a số 21 và một số tàn quân chạy từ Quảng Đông (Trung Quốc) về
Ở thị xã Bắc Giang và Bắc Ninh , thực dân Pháp có 1 tiểu đoàn thuô ̣c Trung đoàn bô ̣ binh thuô ̣c đi ̣a số 21 Thành phố Vinh có 1 trung đoàn bô ̣ binh Thành phố Huế có tiểu đoàn bộ binh số 2 thuô ̣c Trung đoàn bô ̣ binh thuô ̣c đi ̣a số 23 và một đại đội thiết giáp Ở Đà Nẵng, Pháp
có 1 trung đoàn bô ̣ binh thuô ̣c đi ̣a số 23 thiếu 1 tiểu đoàn và 1 tiểu đoàn thuô ̣c bán lữ đoàn l ê dương số 13 Các đội quân này được lệnh hợp lực với nhau để tiến hành xâm lược trên toàn lãnh thổ Viê ̣t Nam Ngay sau khi hợp lực , quân đội Pháp đã nổ súng ở Hải Phòng , Lạng Sơn, bắt đầu gây chiến ở Hà Nội và các thành phố, thị xã khác ở Bắc Bộ, Trung Bộ
Dự kiến trước khả năng thỏa hiệp giữa thực dân Pháp và Trung Hoa quốc dân đảng về vấn đề Đông Dương , ngày 24/2/1946, Thường vụ
Trung ương Đảng ra chủ trương:“Ta nên nói chuyện với Pháp nhưng đồng thời phải chuẩn bị kháng chiến Vì hoàn cảnh thế giới và trong
Trang 26nước ta có thể chủ trương điều đình để bảo toàn lực lượng, nhưng với điều kiện ta phải có Chính phủ tự chủ, nằm trong Liên bang Đông Dương, Liên hiệp Pháp Pháp có thể cử cố vấn do chính phủ ta lựa chọn
Ta cho quân Pháp thay quân Tưởng, Pháp phải giải quyết vấn đề Nam
Bộ thống nhất với cả nước Ta cho Pháp duy trì một số quyền lợi kinh tế
và văn hóa…” [28, tr.36]
Trước những hành động khiêu khích, xâm lược của quân đội Pháp, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cô ̣ng hòa đã nhân nhượng ký với thực dân Pháp Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) để nói lên ước vọng hòa bình , lập trường chính nghĩa của dân tộc Đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình ngày càng rộng rãi của nhân dân yêu chuộng hòa bình ở Pháp và nhân dân các nước trên thế giới Thực tế, thành công của Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 đã tạo thời gian hoà hoãn để nhân dân ta củng cố thành quả cách mạng mới giành được Theo Hiệp định này, về mặt pháp lý, Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do có chính phủ, nghị viện, quân
đội và tài chính riêng Điều 3 của Hiệp định Sơ bộ quy định: “hai bên (Việt Nam và Pháp) đình chiến để mở cuộc đàm phán chính thức và trong khi đàm phán, quân đội hai bên đóng đâu vẫn cứ đóng đấy” Tuy
nhiên, do dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, cuộc đàm phán không đi đến kết quả Tuy vậy, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cô ̣ng hòa vẫn kiên trì con đường đàm phán hoà bình Cũng trong thời gian này, theo lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường thăm chính thức nước Pháp Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ nhiều nhân vật quan trọng trong Chính phủ Pháp như Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Ma-ri-ut Mu-
tê (Marius Moutet) cùng các chính khách và đại diện các đảng phái, tổ chức chính trị ở Pháp Ngày 14/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với
Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại bản Tạm ước Pháp - Việt quy định một
số điều về quan hệ tạm thời kinh tế, văn hoá giữa hai nước, đình chỉ chiến sự ở miền Nam, quyết định thời gian tiếp đàm phán Việt - Pháp
Trang 27vào đầu năm 1947 Cuộc gặp gỡ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cao uỷ Pháp Đác-giăng-li-ơ tại vịnh Cam Ranh ngày 18/10/1946 là nỗ lực cuối cùng của Chính phủ Việt Nam cùng với hàng loạt những hoạt động ngoại giao khác trong những năm 1945 - 1946 nhằm đẩy lùi chiến tranh hoặc hoà hoãn kéo dài thời gian hoà bình để chúng ta thực hiện nhiều công việc cần kíp chuẩn bi ̣ cho cuô ̣c kháng chiến
Trên thực tế, phía Pháp ký Tạm ước ngày 14/9/1946 với Viê ̣t Nam thực chất là thủ đoa ̣n trì hoãn đàm phán để phía Pháp có thêm thời gian
để chuẩn bị và nhận thêm viện binh từ chính quốc Điều này đã được tướng Va-luy khẳng đi ̣nh: “quân số không cho phép chúng ta giải quyết tại Bắc Kỳ hiện nay những vấn đề quân sự sẽ nảy sinh cùng một lúc nếu như cuô ̣c chiến tranh xung đô ̣t chung xảy ra Chúng ta chỉ có thể giải quyết được sau khi đã nhâ ̣n được phần nào những viê ̣n binh của chính quốc gửi sang” ,… “cho đến ngày mà viê ̣n binh đến , điều quan tro ̣ng là tránh đừng mở rộng cuộc xung đột” [59, tr.383]
Đúng như nhâ ̣n đi ̣nh của Đảng, ngay sau khi nhâ ̣n được quân tiếp viê ̣n, thực dân Pháp khẩn trương triển khai âm mưu mở rô ̣ng chiến tranh Ngày 20/11/1946, dựa vào cớ bắt giữ những tàu buôn Trung Quốc, quân đội Pháp đã gây chiến , tấn công quân đội Việt Nam đang làm nhiệm vụ cảnh giới ở Hải Phòng Thực dân Pháp còn dùng pháo binh tàn sát và bắn phá các khu dân cư nhằm chiếm các vị trí trọng yếu trong thành phố Tiếp đó, ngày 25/11/1946, quân Pháp tiếp tu ̣c nổ súng tấn công quân đô ̣i Viê ̣t Minh đang làm nghĩa vu ̣ bảo vê ̣ tại thị xã Lạng Sơn Trong lúc cuộc chiến đấu ở Hải Phòng và Lạng Sơn đang diễn ra thì ở thủ đô Hà Nội, quân đội Pháp đã liên tiếp gây ra nhiều vụ khiêu khích lớn
Ngày 1/12/1946, quân đội Pháp ngang nhiên ngăn cản các đơn vị
bộ đội của Viê ̣t Nam đang làm nhiệm vụ cảnh giới trong nội thành Đồng thời, chúng ném lựu đạn giữa đường phố, cho phóng xe bạt mạng trên
Trang 28các ngả đường, vỉa hè, bắn phá các cơ quan công cộng và các trụ sở do Việt Minh đang kiểm soát Quân đô ̣i Pháp còn đào hầm, hố ở khu vực cầu Long Biên, cắt dây thép gai ở Tòa Thị chính và gây hấn ở các phố khác thuô ̣c Hà Nô ̣i
Đến ngày 17/12/1946, tình hình chiến sự tại Hà Nội đã trở nên nghiêm tro ̣ng, quân đội Pháp đã gây ra vụ tàn sát đẫm máu ở Hàng Bún Tại đây, quân đô ̣i Pháp đã tàn sát và giết ha ̣i rất nhiều đồng bào, trong đó
có cả các em thiếu nhi Ngày 18/12/1946, thực dân Pháp đã huy động xe thiết giáp và binh lính đến chiếm đóng Sở Tài chính ở đường Cột Cờ Bộ Chỉ huy quân đội Pháp còn ra lệnh cho máy bay thám thính trên không phận Hà Nội, khu vực cầu Long Biên, cửa Đông và khu phố Yên Ninh,… Những cuộc xung đột tương tự diễn ra liên tục với mật độ ngày càng dày đặc Cùng ngày, tướng Pháp là Morlière gửi thư cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với nô ̣i dung đòi chiếm đóng Sở Tài chính, nhà viên Giám đốc, Sở Giao thông, phá bỏ tất cả công sự và chướng ngại vật trên các đường phố để quân đô ̣i Pháp đảm nhiệm việc giữ trị an ở Hà Nội Phía Pháp tuyên bố nếu các yêu cầu trên không được Chính phủ Việt Nam chấp nhận thì chậm nhất vào sáng 20/12/1946 phía Pháp sẽ
hành động Lúc này, căng thẳng tại Hà Nội được đẩy lên đỉnh điểm
Việc các nước đế quốc đem quân vào nước ta với dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam không phải là điều bất ngờ Ngay từ khi chiến tranh thế giới thứ hai chưa kết thúc, Đảng đã chỉ rõ: “… Quân Đồng minh sắp vào nước ta và đế quốc Pháp lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương”, hay “Sự mâu thuẫn giữa Anh - Pháp - Mỹ và Liên Xô có thể làm cho Anh - Mỹ nhân nhượng với Pháp để Pháp trở lại Đông Dương” Ý đồ mở rộng chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và âm mưu đưa quân đô ̣i ra chiếm miền Bắc không nằm ngoài nhận định của
Trung ương Đảng và Chính phủ:“Hiệp ước Pháp - Hoa không phải là
Trang 29chuyện riêng của Tưởng và Pháp Nó là chuyện chung của phe đế quốc
và bọn tay sai của chúng” Do nội bộ thực dân Pháp không có sự thống nhất và sự lớn mạnh của cách mạng Việt Nam , nên cả Pháp và Tưởng đều “muốn dàn xếp với ta về việc quân Pháp kéo vào miền Bắc nước ta” [28, tr.37]
Tại Hội nghị Quân sự toàn quốc ngày 19/10/1946, Trung ương
Đảng nhận định: “Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp” [37, tr.133] Đa ̣i tướng Võ
Nguyên Giáp cũng nhấn mạnh: “Vấn đề lúc này không phải là muốn hay không muốn đánh Vấn đề là biết mình , biết người, nhận định một cách khách quan những điều kiện lợi hại trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp, không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn hết sức xúc tiến (công việc) sửa soạn ấy” Đại tướng cũng chỉ ra , “thực dân Pháp có thể tăng thêm lực lượng trên đất ta để một ngày kia bội ước diệt ta” [28, tr.38]
Nhằm ứng phó với tình thế này , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội, Thủ tướng Pháp yêu cầu dừng các hành đô ̣ng gây hấn, xâm lược để tránh đổ máu Đồng thời Người cũng gửi thư cho lãnh đạo các nước Anh, Mỹ, Trung Quốc, Liên Xô, các nước thành viên của Liên Hiệp Quốc nêu rõ thiện chí hòa bình và quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nếu chiến tranh kéo dài , thì khối Liên hiệp Pháp cũng hỏng , quyền lợi củ a Pháp ở
Á Đông cũng mất, nước ta sẽ bị tàn phá tiêu điều.” Nhưng mọi cố gắng của Chính phủ Việt Nam đều không thành công, những nẻo đường đi đến hòa bình tại Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung đều bị thực dân Pháp cắt đứt
Mă ̣t khác, trên bình diê ̣n quốc tế , Việt Nam đang bị tách rời khỏi
Trang 30phe xã hô ̣i chủ nghĩa và nằm trong chính sách tái chiếm thuộc địa của các nước thực dân phương Tây Thái độ của các nước lớn đối với việc thực dân Pháp quay la ̣i xâm lược Viê ̣t Nam đã được sự t hỏa hiệp hoặc thờ ơ Quân đô ̣i Anh thì cho mô ̣t trung đô ̣i lính Pháp trà trô ̣n cùng vào
Nam Bô ̣ Trong khi đó , thái độ của người Mỹ cũng thay đổi theo ,“Mỹ không phản đối mà cũng không ủng hộ viê ̣c thiết lập lại quyền cai tri ̣ của người Pháp ở Đông Dương” ,[59, tr.380] mă ̣c dù trước đó giới cầm
quyền Mỹ giữ thái đô ̣ im lă ̣ng và trung lâ ̣p Còn Trung Hoa dân quốc không muốn thực dân Pháp quay la ̣i Đông Dương không phải vì quyền lợi của nhân dân Đông Dương mà là tham vọng của chính quyền Tưởng Giới Tha ̣ch
Bên ca ̣nh đó , Liên Xô mô ̣t nước lớn đứng đầu phe xã hô ̣i chủ nghĩa lại ít quan tâm đến vấn đề Pháp quay lại Đông Dương , mà chỉ tập trung đến vành đai phía Tây là Trung - Đông Âu để xác lâ ̣p vai trò và ảnh hưởng Như vâ ̣y, mối quan hê ̣ của Viê ̣t Nam đối với các nước lớn và thái độ của các nước lớn đối với Việt Nam đúng như nhận định của
Trung ương Đảng: “Ta yếu thì chỉ là một khí cụ trong tay kẻ khác, dẫu kẻ
ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy” [36, tr.244]
Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình, điều đó đã được
khẳng đi ̣nh trong bản Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh : “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa” [44, tr.480] Vì hòa bình, độc
lập, tự do, quân và dân cả nước nhất tề đứng lên kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược “…Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ Hỡi đồng bào! là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc ”.[44, tr.480]
Trang 31Trước tình thế khó khăn của đất nước kh i bước vào chiến tranh thì viê ̣c b ảo toàn lực lượng , cơ sở vâ ̣t chất có ý nghĩa quyết đi ̣nh để tiến hành kháng chiến Vì vậy, Trung ương Đảng đã ra chủ trương tiến hành cuộc tổng di chuyển cơ quan, kho tàng, máy móc, lực lượng và tản cư, di
cư nhân dân về vùng nông thôn, rừng núi và các căn cứ đi ̣a kháng chiến
1.2 Chủ trương của Đảng về tổng di chuyển
Trước những hành đô ̣ng xâm lược của thực dân Pháp và nguy cơ chiến tranh lan rô ̣ng trên cả nước là không thể tránh khỏi, quân và dân ta đã cho ̣n con đường đứng lên chiến đấu bảo vê ̣ chính quyền cách ma ̣ng Bước vào toàn quốc kháng chiến , xét về thực lực và tương quan lực lượng giữa Viê ̣t Nam và thực dân Pháp quá chênh lê ̣ch Việt Nam là nước nông nghiê ̣p nghèo nàn , lạc hậu, quân đô ̣i non trẻ , chưa qua đào tạo, vũ khí và trang bị quân sự còn thô sơ Ngược la ̣i, thực dân Pháp là nước tư bản hùng ma ̣nh , có một đội quân viễn chinh xâm lược nhà nghề được trang bị vũ khí và khí tài quân sự hiện đại Vì thế, đường lối chiến
lược của cách ma ̣ng Viê ̣t Nam lúc này là “toàn dân, toàn diện, tự lực và trường kỳ kháng chiến ” Đây là một quá trình vừa kháng chiến vừa xây dựng và phát triển lực lượng, từng bước2
làm thay đổi so sánh lực lượng
có lợi cho kháng chiến nhằm đánh bại từng âm mưu và kế hoạch quân sự của thực dân Pháp tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn Để kháng chiến lâu dài, cách mạng Việt Nam phải tự lực cánh sinh , không ngừng phát huy sức mạnh của cả dân tộc đấu tranh vì độc lập , tự do, đồng thời hết sức tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước trong phe xã hô ̣i chủ nghĩa và các nước yêu chuô ̣ng hòa bình trên thế giới Lúc này, đường lối đánh lâu dài, tự lực cánh sinh chính là thầy chiến lược, “bí quyết của sự thắng lợi” [74, tr.32]
2 Tổng Bi ́ thư Trường Chinh dự đoán về đại thể cuộc kháng chiến sẽ phát triển qua ba giai đoạn: phòng ngự, cầm cự và tổng phản công; ba giai đoạn đó có quan hệ chặt chẽ, kế tiếp và đan xen với nhau trong kháng chiến
Trang 32Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ đạo : “Vấn đề quan trọng hơn hết
là làm thế nào bảo tồn được lực lượng để chờ thời cơ trừ diệt địch quân Như vậy, dù có phải rút lui ở một vài căn cứ cũng không lấy gì làm ngạc nhiên, đo ́ là con đường phải trải qua trong cuộc chiến tranh tự vê ̣” ,…
“đánh trận trong thế thủ , phải hết sức tránh những lúc quyết chiến bất lợi, vậy không thể bo bo giữ lấy một thà nh thi ̣ nào nếu xét ra không có lợi cho mình” [44, tr.462-463] Trên tinh thần đó, những tháng cuối năm
1946, khi thực dân Pháp mở rộng chiến tranh ra Bắc Bộ và tiến hành gây hấn, bắn phá nhiều thành phố lớn, Trung ương Đảng, Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều quyết định để chuẩn bi ̣ cho cuô ̣c kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Cuộc tổng di chuyển các cơ quan , kho tàng, máy móc, vâ ̣t tư, lực lượng và tản cư, di
cư nhân dân là mô ̣t chủ trương lớn trong những công viê ̣c chuẩn bi ̣ đó
Trước những diễn biến phức ta ̣p của tình hình do thực dân Pháp gây ra, từ ngày 31/7 đến ngày 1/8/1946, Ban thường vu ̣ Trung ương đã
triê ̣u tâ ̣p Hô ̣i nghi ̣ cán bô ̣ Trung ươ ng để bàn về vấn đề cách mạng tại
Đông Dương Hô ̣i nghi ̣ đã đi đến nhất trí : Nhiê ̣m vu ̣ cần kíp của cách mạng Đông Dương là phải liên minh với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới, nhất là với các nước láng giềng khu vực, để củng cố lại v ị thế cách mạng , mă ̣t khác phải tăng cường củng cố nội bộ , nhất là củng cố lực lượng quân sự , chính trị, bảo đảm đủ sức ứng phó với mọi bất trắc của tình hình, mọi khả năng xấu nhất có thể xảy ra
Tiếp theo Hô ̣i nghi ̣ cán bô ̣ Trung ương , ngày 19/10/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự toàn quốc tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) để bàn về những công việc chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến Hội nghị đã nêu rõ nhiệm vụ của quân và dân cả nước lúc này là gấp rút xây dựng lực lượng , vũ trang , đẩy nhanh việc xây dựng các ngành quân giới , quân nhu , quân y để phu ̣c vu ̣ cho kháng
Trang 33chiến Đến giữa tháng 11/1946, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I (1946 - 1960), Chính phủ đã quyết định hợp nhất Bộ Quốc phòng với Quân sự
Ủy viên hội thành Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy để thống nhất viê ̣c chỉ đạo kháng chiến
Ngày 30/11/1946, Trung ương Đảng ra Chỉ thị cho các tỉnh toàn miền Bắc phải biết đặt hẳn mình vào tình thế kháng chiến, hợp lực với
bộ đội và hành chính gấp rút chuẩn bị trên mọi lĩnh vực như : Quân sự,
chính trị, kinh tế với phương châm :“không được một phút lơ là, không được một phút chậm trễ” Tiếp đó, ngày 12/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến, Chỉ thị nêu rõ tính chất của cuộc kháng chiến là: “Trường kỳ kháng chiến, toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến; Cách đánh triệt để dùng du kích vận động chiến, bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài” [37, tr.150] Đường lối
kháng chiến sớm được Đảng xác định và thể hiện trên các mặt quân sự,
chính trị, kinh tế và văn hóa Trung ương Đảng q uán triệt tư tưởng tiến
công quân Pháp một cách chủ động, tích cực, kiên quyết từ nhỏ đến lớn,
từ thấp đến cao Hô ̣i nghi ̣ nhấn ma ̣nh , trong giai đoa ̣n đầu kháng
chiến,“có thể vạn bất đắc dĩ phải tạm thời bỏ những thành thi ̣ lớn sau khi kháng chiến quyết liê ̣t tại đó”.[37, tr.152]
Những hành động khiêu khích, nổ súng xâm lược của thực dân Pháp ở Hải Phòng , Lạng Sơn, Hà Nội và một số tỉnh thành khác đã cho thấy chiến tranh đã gần kề Liên tiếp trên hai số báo Sự Thật (29/11 và 4/12/1946), Tổng Bí thư Trường Chinh viết bài:“Tình thế vô cùng
nghiêm trọng…” và “Đánh! Và sẵn sàng đánh” Kế hoạch tác chiến ở
các thành, phố thị xã được xúc tiến khẩn trương Một đoàn cán bộ được
cử lên Việt Bắc, các cơ quan lãnh đạo chủ chốt của Trung ương và Chính phủ bí mật rời khỏi Thủ đô Hà Nội Hội nghị các Khu trưởng ngày 13/12/1946, là bước kiểm tra cuối cùng tình hình chuẩn bị chiến đấu ở
Trang 34các chiến khu [4, tr.96]
Trước tình thế không thể nhân nhượng được nữa, trong hai ngày
18 và 19/12/1946, Ban thường vụ Trung ương Đảng họp tại làng Vạn
Phúc (Hà Đông) quyết định: Toàn quốc kháng chiến Khoảng 20h 30
phút cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Đảng và Chính phủ ra
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, chính thức phát động toàn quốc
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
“Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến Ta phải hy sinh giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! ” [44, tr.202-203]
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng, ý nghĩa quyết định của thực lực cách mạng, vai trò, tiềm lực của nhân dân, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng, quan tâm đến công tác tản cư, di cư dân nhân
Người nói: “Tôi và Chính phủ không giờ phút nào không lo lắng đến các đồng bào” [45, tr.49] Để bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân,
trước khi toàn quốc kháng chiến nổ ra, công việc tản cư, di cư nhân dân được Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, hướng dẫn và
Trang 35Bình Có thể dung 5 ngàn: Phúc Yên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Hoà Bình, Ninh Bình (Cộng cả hơn 210.000 người)” [44, tr.491-495]
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu c ác địa phương cần có kế hoạch rõ ràng để đón nhận số người tản cư và giúp đồng bào những lúc
đi đường Đồng thời các tỉnh, huyện cần phải lập các trạm ăn, nghỉ, cũng như hỗ trợ phương tiện để chở giúp hàng hóa Tuy nhiên, trong thời gian đầu mỗi địa phương tiến hành theo một kiểu khác nhau nên viê ̣c tản cư,
di cư diễn ra rất lúng túng và mất trật tự mă ̣c dù được các cấ p chính quyền rất quan tâm Để giúp cho việc tản cư nhân dân đi vào nề nếp và
thống nhất, ngày 27/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài: Một vài ý kiến về các Ủy ban kiến thiết, động viên dân chúng, tăng gia sản xuất, ủy ban tản cư nhằm chỉ đạo và động viên nhân dân tản cư, tăng gia sản
Cùng với những chủ trương đó, Ban thường vụ Trung ương Đảng, Chính phủ, chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến việc xây dựng hậu phương, căn cứ đi ̣a kháng chiến để chuẩn bi ̣ cho cuô ̣c tổng di chuyển
Xây dựng hâ ̣u phương , căn cứ đi ̣a cách ma ̣ng là mô ̣t trong những nhiê ̣m vu ̣ quan tro ̣ng của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới khi bước vào
Trang 36chiến tranh, đây không chỉ là nhiệm vụ của nước bị xâm lược mà còn của
cả nước đi xâm lược Xây dựng hâ ̣u phương , căn cứ đi ̣a cách ma ̣ng là
mô ̣t chủ trương lớn của Đảng để chuẩn bị cho cả nước bước vào toàn quốc kháng chiến, một việc làm quan trọng và cấp bách Đối với cuộc tổng di chuyển , hậu phương , căn cứ địa sẽ là nơi cất giấu lương thực thực phẩm, kho tàng; là địa bàn để xây dựng các nhà máy , xưởng sản xuất, nơi đứng chân, làm việc của các cơ quan Trung ương, Nhà nước, chính quyền, đoàn thể và phu ̣c vu ̣ cho viê ̣c tản cư, di cư nhân dân
Thực tiễn cách mạng Việt Nam trong cách ma ̣ng tháng Tám năm
1945 đã chứng minh vai trò và tầm quan trọng của hậu phương, căn cứ địa Trong thời gian chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa, quân và dân đã bước đầu xây dựng các khu căn cứ đi ̣a kháng chiến và hâ ̣u phương Trong đó, nổi bâ ̣t hơn cả là chiến khu Việt Bắc , trung tâm đầu não kháng chiến Chiến khu Viê ̣t Bắc là một khu giải phóng rộng lớn gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và vùng vành đai ngoại vi rộng 40.000 km2 với gần một triệu đồng bào các dân tộc
Với tầm nhìn chiến lược, để đề phòng thực dân Pháp quay lại xâm lược, trước khi về thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân công đồng chí Phạm Văn Đồng cùng một số cán bộ ở lại Việt Bắc một thời gian để củng cố căn cứ địa Cuối tháng 10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục cử đồng chí Nguyễn Lương Bằng cùng một số đồng chí đại diện cho các ban ngành lên Việt Bắc nhằm đẩy ma ̣nh viê ̣c xây dựng và hoàn thiê ̣n căn cứ địa kháng chiến
Khi nguy cơ bùng nổ chiến tranh trên cả nước đến gần , nhằm đẩy mạnh công tác chuẩn bị xây dựng căn cứ địa vững chắc, Đảng và Chính phủ đã cử một Đội công tác đặc biệt lên Việt Bắc gồm đại biểu các ngành an ninh, quân sự, chính quyền, đoàn thể của Trung ương do đồng
Trang 37chí Trần Đăng Ninh phụ trách Đội công tác đã kết hợp với cấp ủy, chính quyền ở các địa phương tìm chọn địa điểm, xây dựng cơ sở kho tàng, lán trại dùng làm nơi ở, làm việc của các cơ quan Trung ương và đi ̣a điểm xây dựng các xưởng sản xuất
Trên cơ sở khảo sát thực địa, sau khi cân nhắc các yếu tố tự nhiên, kinh tế, bí mật, an toàn, dễ cơ động ở những nơi có truyền thống yêu nước và cơ sở cách mạng vững chắc, đội công tác đã chọn một số xã thuộc các huyện Định Hóa (Thái Nguyên), Chợ Đồn (Bắc Kạn), Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang) để xây dựng An toàn khu của Trung ương An toàn khu này sẽ là đi ̣a bàn cho các cơ quan đầu não của Trung ương Đảng, Chính phủ làm việc sau khi di chuyển lên Sau nhiều tháng chuẩn bi ̣ đến cuối tháng 11/1946, viê ̣c xây dựng hâ ̣u phương , căn cứ đi ̣a kháng chiến tại các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang đã hoàn thiê ̣n, sẵn sàng đón nhâ ̣n các đợt di chuyển
Việt Bắc còn xây dựng An toà n khu Định Hóa (Thái Nguyên), nơi được coi là thủ đô kháng chiến Định Hóa là nơi có thể đảm bảo an toàn
để các cơ quan lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Chính phủ làm việc Đây cũng là nơi làm việc chính của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cơ quan Trung ương và các đồng chí lãnh đạo Chiến khu Việt Bắc là nơi có cơ sở chính trị, quần chúng vững chắc, đồng bào các dân tộc có tinh thần yêu nước, đoàn kết, thủy chung và tin yêu vào sự lãnh đạo của Đảng Về kinh tế, chiến khu Việt Bắc là nơi có diện tích rộng, người thưa, đất đai màu mỡ, tài nguyên khoáng sản phong phú, nhân dân cần cù lao động Đối với quân đô ̣i Pháp , địa bàn Việt Bắc rộng lớn và hiểm trở , giao thông khó khăn và xa hậu phương Đây sẽ là trở ngại lớn cho quân đô ̣i Pháp khi thực hiện tác chiến chính quy, cơ động khi sử dụng những vũ khí hiện đa ̣i như xe tăng, xe bọc thép, ô tô vận tải và triển khai lực lượng
Trang 38Cùng với chiến khu Việt Bắc , viê ̣c xây dựng hâ ̣u phương và căn
cứ địa kháng chiến trên cả nước cũng được tiến hành rất khẩn trương Tại Khu 2, quân và dân xây dựng căn cứ Đầm Đa; Khu 3 có khu căn cứ Kiến An,… Khu 4 có vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, Ở Bình - Trị -Thiên xây dựng chiến khu tại vùng rừng núi Tây Đất Đỏ, Lương Miêu, Khơ Me, Ba Lòng,… Khu 5 có vùng tự do rộng lớn Nam - Ngãi - Bình - Phú, Ở Nam Bộ xây dựng ba chiến Khu 7, 8, 9, các chiến khu này đã chọn ra một số vùng bí mật để tiến hành xây dựng căn cứ địa làm chỗ dựa cho cuộc kháng chiến lâu dài Tại khu 7 đã xây dựng căn cứ kháng chiến ở An Lạc, Tân Uyên; Khu 8 có căn cứ ở Đồng Tháp Mười; Khu 9 lập căn cứ U Minh… Bên cạnh đó, mô ̣t số nơi khác như Thủ Đức, Gò Vấp, Hoóc Môn, Rừng Sát, Củ Chi, Trảng Bàng, Củ Súc… thuô ̣c các tỉnh và huyện ven Sài Gòn cũng tiến hành xây dựng thành các khu căn cứ
Như vậy, trong những năm đầu của cuô ̣c kháng chiến chống thực dân Pháp, trên cả nước đã xây dựng được mô ̣t vùng tự do , căn cứ đi ̣a
rô ̣ng lớn Đó là căn cứ đi ̣a Viê ̣t Bắc (gồm các tỉnh: Cao Bằng - Bắc Ka ̣n - Lạng Sơn - Thái Nguyên - Hà Giang - Tuyên Quang và phu ̣ câ ̣n ), có vùng tự do Liên khu IV (Thanh Hóa - Nghê ̣ An - Hà Tĩnh), vùng tự do Liên khu V (Quảng Nam - Quảng Ngãi - Quảng Bình - Phú Yên ) và nhiều chiến khu, căn cứ nhỏ nằm trong vùng ta ̣m bi ̣ chiếm
Những căn cứ địa trên được hình thành xen kẽ, liên hoàn rất thuận tiện cho việc thực hiê ̣n lối đánh du kích và triển khai thế trận chiến tranh nhân dân Bên cạnh việc xây dựng và mở rộng hậu phương, căn cứ địa, Trung ương Đảng, Chính phủ cũng chú trọng đến việc xây dựng căn cứ địa phát triển toàn diện về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa Với sự chuẩn bị chu đáo, nhanh chóng và kịp thời đó, khi cuộc tổng di chuyển bắt đầu cũng là lúc các căn cứ địa đã ổn định, sẵn sàng đón nhận
Trang 39các cơ quan, lực lượng, nhân dân tản cư, tiếp nhận máy móc, kho tàng, vật tư
Tiểu kết chương 1
Với âm mưu và dã tâm quay la ̣i xâm lược Viê ̣t Nam , sau khi tiến hành đánh chiếm và bình định Nam Bộ, Nam phần Trung Bộ và Tây Nguyên, thực dân Pháp tiến quân ra các tỉnh phía Bắc vĩ tuyến 16 để thực hiê ̣n âm mưu đặt lại ách thống trị trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Trước nguy cơ chiến tranh lan rộng trên cả nước , Trung ương Đảng, Chính phủ Viê ̣t Nam Dân chủ Cô ̣ng hòa đã nhân nhượng với thực dân Pháp bằng viê ̣c ký hiê ̣p ước Sơ bô ̣ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946 để tránh chiến tranh, nhằm giải quyết các vấn đề giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp bằng phương pháp hòa bình Nhưng giới hiếu chiến Pháp vẫn ngoan cố tiến hành xâm lược, quân đội Pháp đã tổ chức nhiều cuộc gây hấn, giết hại, bắn phá ở Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Nội và các thành phố khác
Theo chủ trương “bảo toàn lực lượng để kháng chiến lâu dài” [37,
tr.151] của Trung ương Đảng , những công việc chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến được tiến hành hết sức khẩn trương Trung ương Đảng và Chính phủ đã ra chủ trương tiến hành cuộc tổng di chuyển, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo toàn lực lượng, xây dựng tiềm lực và thế đứng chân vững chắc để tiến hành kháng chiến lâu dài Đảng và Chính phủ đã ra những chủ trương chỉ đạo công tác tản cư , di cư nhân dân và viê ̣c xây dựng hậu phương, căn cứ địa
Với sự chuẩn bi ̣ đó , từ cuối tháng 11/1946 cuộc tổng di chuyển
đưa đất nước bước vào cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đa ̣i theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được tiến hành
Trang 40Chương 2 TỔNG DI CHUYỂN CÁC CƠ QUAN ĐẢNG, CHÍNH PHỦ,
ĐOÀN THỂ, CHÍNH QUYỀN, QUÂN ĐỘI VÀ
TẢN CƯ, DI CƯ NHÂN DÂN 2.1 Tổng di chuyển ca ́ c cơ quan Đảng , Chính phủ, đoàn thể, chính quyền nhân dân và quân đô ̣i
2.1.1 Di chuyển các cơ quan Đảng và Chính phủ
Khi cả nước bước vào toàn quốc kháng chiến thì việc bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam Bởi vì, các cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ là mục tiêu số một cần bắt gọn và tiêu diệt do thực dân Pháp đặt ra để thực hiện âm mưu đánh nhanh thắng nhanh Vì thế, công việc di chuyển các cơ quan Trung ương được tiến hành khẩn trương và bí mật
Hà Nội là trung tâm của cuộc tổng di chuyển các cơ quan , bởi vì nơi đây tâ ̣p trung hầu hết các cơ quan lãnh đa ̣o của Đảng và Chính phủ Vì vậy , để bảo đảm an toàn cho các cơ quan trong khi có hàng nghìn quân Pháp và tay sai đang chiếm giữ nhiều vị trí trọng yếu trong nội thành, các cơ quan tại Hà Nội đã bí mật chuyển dần từng bộ phận ra ngoại thành sau đó di chuyển theo hướng lên căn cứ địa Việt Bắc
Ngay từ đầu tháng 11/1946, khi quân đội Pháp đang gây chiến ở Hải Phòng và Lạng Sơn, các cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước đóng trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh, thành phố lớn từ phía Bắc vĩ tuyến
16 trở ra đã chuẩn bị sẵn sàng di chuyển Cuộc tổng di chuyển các cơ quan đơn vị chủ chốt ở Hà Nội diễn ra bắt đầu từ nửa đầu tháng 12/1946
Trong viê ̣c di chuyển các cơ quan Đảng và Nhà nước thì nhiệm vụ
di chuyển bộ máy lãnh đạo kháng chiến trong đó có Chủ tịch Hồ Chí