Tuy nhiên, không nhất thiếtmột nhân vật trong tác phẩm của Kawabata chỉ thuộc một kiểu nhân vật duy nhất mà đôikhi, một nhân vật có thể cùng lúc vừa thuộc kiểu này, vừa thuộc kiểu kia.Ki
Trang 1TR TRƯỜ ƯỜ ƯỜNG NG NG ĐẠ ĐẠ ĐẠIIII H H HỌ Ọ ỌC C C C C CẦ Ầ ẦN N N TH TH THƠ Ơ KHOA KHOA KHOA KHOA KHOA H H HỌ Ọ ỌC C C X X XÃ Ã Ã H H HỘ Ộ ỘIIII & & & NH NH NHÂ Â ÂN N N V V VĂ Ă ĂN N
B BỘ Ộ Ộ M M MÔ Ô ÔN N N NG NG NGỮ Ữ Ữ V V VĂ Ă ĂN N
TR TRẦ Ầ ẦN N N T T TẤ Ấ ẤN N N PH PH PHÁ Á ÁT T MSSV: MSSV: 6106344 6106344
NH NHÂ Â ÂN N N V V VẬ Ậ ẬT T T “ “ “L L LỮ Ữ Ữ KH KH KHÁ Á ÁCH CH CH” ” TRONG TRONG M M MỘ Ộ ỘT T T S S SỐ Ố Ố TI TI TIỂ Ể ỂU U U THUY THUY THUYẾ Ế ẾT T
C
CỦ Ủ ỦA A A NH NH NHÀ À À V V VĂ Ă ĂN N N KAWABATA KAWABATA KAWABATA YASUNARI YASUNARI
Lu Luậ ậ ận n n vvvvă ă ăn n n ttttố ố ốtttt nghi nghi nghiệệệệp p p đạ đạ đạiiii h h họ ọ ọcccc
Trang 2ĐỀ ĐỀ C C CƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG T T TỔ Ổ ỔNG NG NG QU QU QUÁ Á ÁT TPH
CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 1: 1: 1: NH NH NHỮ Ữ ỮNG NG NG V V VẤ Ấ ẤN N N ĐỀ ĐỀ ĐỀ CHUNG CHUNG
1.1 Giới thuyết về nhân vật văn học và nhân vật “lữ khách” trong tác phẩm của
Kawabata
1.1.1 Nhân vật văn học
1.1.2 Kiểu nhân vật “lữ khách” trong tác phẩm của Kawabata
1.2 Vài nét về tác giả và tác phẩm
1.2.1 Kawabata - con người và sự nghiệp văn chương
1.2.1.1 Tiểu sử Kawabata Yasunari
1.2.1.2 Sự nghiệp văn chương
1.2.2 Các tác phẩm được khảo sát (Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Người đẹp ngủ mê)1.2.2.1 Tác phẩm Xứ tuyết
NGÀ À ÀN N N C C CÁ Á ÁNH NH NH H H HẠ Ạ ẠC, C, C, NG NG NGƯỜ ƯỜ ƯỜIIII ĐẸ ĐẸ ĐẸP P P NG NG NGỦ Ủ Ủ M M MÊ Ê Ê C C CỦ Ủ ỦA A A KAWABATA KAWABATA KAWABATA YASUNARI YASUNARI
2.1 Chân dung nhân vật “lữ khách”
2.2 Hành trình khám phá cái đẹp của nhân vật “lữ khách”
3.2.1 Khám phá cái đẹp trong thiên nhiên
3.2.2 Khám phá cái đẹp ở con người
` 3.2.3 Khám phá cái đẹp trong văn hóa Nhật Bản
Trang 33.2.1 Không gian bối cảnh
3.2.1 Không gian tâm tưởng
3.3 Thời gian nghệ thuật
Trang 4ku như là đặc sắc, nổi bật của văn học Nhật Bản.
Với vị trí địa lí thuận lợi, văn học Nhật Bản tiếp thu tinh hoa của các nước lánggiềng đồng thời kết hợp với văn hóa, truyền thống trong nước để tạo nên một nền văn họcriêng cho đất nước mình, nền văn học duy mĩ, duy tình Trong kỉ nguyên hiện đại, vănhọc Nhật Bản đã sản sinh ra rất nhiều tài năng Chúng ta có thể nhắc đến Akutagawa(1892-1927) như bậc thầy truyện ngắn Nhật Bản Tiếp nối Akutagawa là rất nhiều nhàvăn nổi bật như Yoko Mitsu Riichi (1898-1947), Ito Su (1905-1967)… Nhưng người cócông mang văn học Nhật Bản đến với thế giới phải kể đến Yasunari Kawabata (1899-1972) Tài năng của Kawabata phần nào đã được khẳng định khi ông được trao giải Nobel
văn học cho bộ ba tiểu thuyết: X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt (Yukiguni), Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc (Senbazuru), C C Cố ố ố đô đô
(Kyoto) năm 1968
Nếu như giải Nobel văn học năm 1968 không được trao cho ông thì Kawabata vẫn
là một bí ẩn đối với nền văn học thế giới Sau khi được nhận giải Nobel văn học năm
1968, các tác phẩm của Kawabata được bạn đọc chú ý nhiều hơn, các nhà nghiên cứucũng bắt đầu nghiên cứu các tác phẩm của ông Từ đây, họ phát hiện ra một tâm hồn vĩđại, một con người làm nhiệm vụ chuyển lưu cái đẹp của xứ sở “Mặt trời mọc” đến với
thế giới qua các tác phẩm của mình Trong buổi phát biểu Di Di Diễễễễn n n ttttừ ừ ừ Nobel Nobel Nobel của ông,
Kawabata đã đề cập đến cụm từ “Nhật Bản, cái đẹp và tôi” như một niềm tự hào về dântộc, về lí tưởng tôn thờ cái đẹp và xem đó là quan niệm sáng tác của nhà văn Tiếp nốitruyền thống ca ngợi cái đẹp của các nhà văn đi trước, Kawabata đã đóng góp vào khotàng văn học Nhật Bản những dòng văn mượt mà, tinh tế, giản dị mà thâm sắc, những vẻđẹp vừa truyền thống vừa hiện đại
Với những ai yêu thích các tác phẩm của Kawabata có thể nhận thấy trong cácsáng tác của ông thường xuất hiện một số kiểu nhân vật Mỗi kiểu nhân vật thường mangnhững đặc điểm chung về tính cách, hành động, suy nghĩ… và thường xuất hiện với tầnsuất đều đặn trong các sáng tác của ông Theo Đào Thị Thu Hằng, có thể liệt kê một số
Trang 5kiểu nhân vật tiêu biểu sau: kiểu nhân vật “lữ khách đi tìm cái đẹp”, kiểu nhân vật “ngườiphụ nữ trong trắng”, kiểu nhân vật “những kẻ lạc loài”… Tuy nhiên, không nhất thiếtmột nhân vật trong tác phẩm của Kawabata chỉ thuộc một kiểu nhân vật duy nhất mà đôikhi, một nhân vật có thể cùng lúc vừa thuộc kiểu này, vừa thuộc kiểu kia.
Kiểu nhân vật “lữ khách” được các nhà nghiên cứu xem là hình tượng gần nhất vớinhà văn Kawabata Các nhân vật thuộc kiểu này thường muốn đi tìm, khám phá cái đẹp
Đó là những vẻ đẹp tồn tại dưới nhiều hình thức, ở nhiều nơi trong cuộc sống Kawabatacũng thế, cuộc đời nhà văn là một hành trình đi tìm kiếm cái đẹp Là một tâm hồn luôntrân trọng cái đẹp, Kawabata đã đề xướng ra trường phái “Tân cảm giác” – một trườngphái đề cao vai trò của trực giác trong cảm thụ cái đẹp Có thế thấy đây chính là hình ảnhmột con người luôn luôn muốn khám phá cái đẹp một cách trọn vẹn nhất Kiểu nhân vật
“lữ khách” cũng gần giống với tên gọi mà các nhà nghiên cứu ưu ái gọi nhà văn:
“Kawabata – người lữ khách u sầu đi tìm cái đẹp” Xét về tiểu thuyết của Kawabata, hìnhtượng nhân vật “lữ khách” khá phổ biến trong các sáng tác Có thể kể đến Shimamura
trong X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt, Kikuji trong Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc, Eguchi trong Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê… Họ là
những con người luôn luôn trăn trở, say đắm trước cái đẹp
Để làm rõ kiểu nhân vật “lữ khách” trong một số tiểu thuyết của Kawabata nóiriêng, cũng như góp phần làm sáng tỏ kiểu nhân vật “lữ khách” trong sáng tác của
Kawabata nói chung, người viết chọn các tác phẩm X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt, Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc và Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ
đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê để thực hiện đề tài: “Nh Nh Nhâ â ân n n v v vậ ậ ậtttt llllữ ữ ữ kh kh khá á ách ch ch trong trong trong m m mộ ộ ộtttt ssssố ố ố ti ti tiểểểểu u u thuy thuy thuyếếếếtttt ccccủ ủ ủa a a nh nh nhà à v
vă ă ăn n n Kawabata Kawabata Kawabata Yasunari Yasunari Yasunari” Người viết tìm đến tác phẩm X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt và Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc bởi
đây là hai trong ba tác phẩm xuất sắc của Kawabata đoạt giải Nobel văn chương, hình
tượng nhân vật “lữ khách” được nhà văn xây dựng rất thành công Trong khi đó, Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ
đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê được độc giả biết đến như tác phẩm cuối cùng của Kawabata Tác phẩm khi
mới xuất hiện đã gây ra nhiều ý kiến trái chiều trong dư luận, tuy nhiên tác phẩm nàyđược xem là một trong những tác phẩm hay nhất của Kawabata Sự xuất hiện của “lữkhách” Eguchi đã làm cho yếu tố tính dục trong tác phẩm không hề mang tính dung tục
2.
2 L L Lịịịịch ch ch ssssử ử ử v v vấ ấ ấn n n đề đề
Giải Nobel văn chương năm 1968 đã phần nào khẳng định tài năng của Kawabata
Từ đó, nhiều công trình nghiên cứu, giới thiệu về Kawabata cũng như các tác phẩm củaông dần dần xuất hiện nhằm chứng minh, khẳng định tài năng của Kawabata
Trước tiên, người viết kể đến các công trình giới thiệu chung về Kawabata Đáng
kể nhất là công trình Yasunari Yasunari Yasunari Kawabata, Kawabata, Kawabata, cu cu cuộ ộ ộcccc đờ đờ đờiiii v v và à à ttttá á ácccc ph ph phẩ ẩ ẩm m m của tác giả Lưu Đức
Trung Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về cuộc đời và văn nghiệp của Kawabata
Trang 6và những yếu tố ảnh hưởng đến nghệ thuật của Kawabata Tác giả khẳng định:
“Kawabata là nhà văn rất coi trọng ngôn ngữ Ngôn ngữ của ông mẫu mực về phong cách Nhật: ngắn gọn, súc tích, sâu sắc Câu văn mang nhiều biểu tượng và ẩn dụ kì diệu như thơ nhạc” [13;tr.20] Những nhận xét của tác giả Lưu Đức Trung cho thấy Kawabata
rất được đánh giá cao ở nghệ thuật kể chuyện, nhất là khả năng gợi cảm của ngôn từ
Ngoài ra, tác giả Lưu Đức Trung còn có bài viết Thi Thi Thi ph ph phá á áp p p ti ti tiểểểểu u u thuy thuy thuyếếếếtttt Yasunari Yasunari Kawabata,
Kawabata, nh nh nhà à à v v vă ă ăn n n llllớ ớ ớn n n ccccủ ủ ủa a a Nh Nh Nhậ ậ ậtttt B B Bả ả ản n n nhân kỉ niệm 100 năm sinh của Kawabata
(1899 – 1999) Trong bài viết này, tác giả trực tiếp khẳng định thi pháp tiểu thuyết củaKawabata là thi pháp chân không
Anders Osterling đã ca ngợi nghệ thuật viết văn của Kawabata tại buổi lễ trao giảiNobel: “Tác phẩm của Kawabata làm ta nhớ đến hội hoạ Nhật Bản; ông là kẻ tôn thờ cái đẹp mong manh và ngôn ngữ hình ảnh u buồn của hiện hữu trong cuộc sống của thiên nhiên và thân phận con người” [1;tr.958] Lời văn ca ngợi của Anders Usterling cho thấy
đặc điểm nổi bật trong nội dung các sáng tác của Kawabata, cái đẹp phải gắn với nỗi buồn.Đây cũng là đặc điểm xuất phát từ quan niệm thẩm mĩ trong truyền thống Nhật Bản, cáiđẹp sẽ không hoàn hảo nếu thiếu nỗi buồn
Trong bài viết Kawabata Kawabata Kawabata – – – con con con m m mắ ắ ắtttt nh nh nhììììn n n th th thấ ấ ấu u u ccccá á áiiii đẹ đẹ đẹp p p (Thái Hà dịch ra tiếng
Việt), nhà nghiên cứu N.Fedorenko đã khẳng định: “Chất thơ trong văn xuôi, ngoài ngôn
từ điêu luyện, suy nghĩ giàu chất nhân đạo, thái độ trân trọng đối với con người và thiên nhiên, đối với các truyền thống nghệ thuật dân tộc tất cả những cái đó làm cho sáng tác của Kawabata trở thành hiện tượng xuất sắc trong văn học Nhật và văn học thế giới” [6;
tr.1052] Ở đây, tác giả đề cao quan niệm nghệ thuật của Kawabata, quan niệm tìm về giátrị truyền thống
Năm 1991, Nhật Chiêu có bài Kawabata, Kawabata, Kawabata, ng ng ngườ ườ ườiiii ccccứ ứ ứu u u rrrrỗ ỗ ỗiiii ccccá á áiiii đẹ đẹ đẹp p p, trong đó có
đoạn: “Đối với Kawabata, người thuộc văn hóa Thiền tông, thì nghệ thuật vô ngôn và dư tình thuộc về truyền thống Ông vận dụng nghệ thuật ấy một cách tuyệt vời vào tiểu thuyết hiện đại” [4;tr.1074] như một lời khẳng định rằng cái đẹp trong tác phẩm của Kawabata ít
nhiều đều bị chịu ảnh hưởng của văn hóa nhà Phật
M
Mỹ ỹ ỹ h h họ ọ ọcccc Kawabata Kawabata Kawabata của Khưu Việt Hà đã đề cập đến việc sử dụng biểu tượng như
một phương thức biểu hiện cái đẹp: “Ở đây Kawabata đã nhấn mạnh đến việc tìm kiếm những biểu hiện nghệ thuật đặc biệt nhằm mang lại chiều sâu cảm xúc và ngữ nghĩa vô hạn của đối tượng miêu tả” [7;tr.72].
Về vấn đề kiểu nhân vật “lữ khách” trong tác phẩm của Kawabata, dường nhưchưa có công trình nào đi sâu phân tích cụ thể Tuy nhiên, trong một số bài viết, các tác
Trang 7giả ít nhiều cũng có đề cập đến vấn đề này Ở đây, người viết xin đưa ra một số dẫn chứng
từ một số bài viết của các tác giả Việt Nam
Trong V V Vă ă ăn n n h h hó ó óa a a Nh Nh Nhậ ậ ậtttt B B Bả ả ản n n v v và à à Yasunari Yasunari Yasunari Kawabata Kawabata Kawabata của Đào Thị Thu Hằng, tác giả
đã dành một mục để nói về các kiểu nhân vật tiêu biểu trong sáng tác của Kawabata Đềcập đến kiểu nhân vật “lữ khách đi tìm cái đẹp”, tác giả nhận xét: “Không có giới hạn về tuổi tác đối với lữ khách này Họ có thể chỉ là chàng sinh viên, trẻ trung, “vô sản” như tôi, độc thân như Kikuji, trung niên, có gia đình và giàu sang như Shimamura, hay thậm chí là những ông già như Shingo và Eguchi… Có nghĩa, đã là con người, là nửa kia, là phái mạnh, thì họ, ai cũng tôn thờ cái đẹp” [9;tr.174] Những nhận xét trên đã nêu lên
những đặc điểm khái quát nhất về “lữ khách” trong tác phẩm của Kawabata
Trong bài viết Yasunari Yasunari Yasunari Kawabata Kawabata Kawabata - Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đ đ điiii ttttììììm m m v v vẻẻẻẻ đẹ đẹ đẹp p p ccccủ ủ ủa a a n n nỗ ỗ ỗiiii bu bu buồ ồ ồn n n có
những câu văn nhận xét về nhân vật Shimamura trong tiểu thuyết trên phương diện mộtngười “lữ khách đi tìm cái đẹp”: “Shimamura, một lữ khách u buồn, như mụ mị đi bởi vẻ đẹp của hoa tuyết đã tan, về mối tình đã mất Với cái nhìn huyền ảo xuyên suốt qua cõi thực và mơ, "Xứ tuyết" là hình ảnh của thế giới thực và một thế giới ảo cùng soi chiếu vào nhau, tồn tại trong nhau bằng những sắc màu lung linh, huyền ảo” [15] Đặc điểm
của lữ nhân Shimamura cũng là đặc điểm chung của nhiều nhân vật “lữ khách” khác trongcác sáng tác của Kawabata
Bài viết Kawabata Kawabata Kawabata trong trong trong ti ti tiếếếến n n tr tr trìììình nh nh hi hi hiệệệện n n đạ đạ đạiiii h h hó ó óa a a v v vă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc Nh Nh Nhậ ậ ậtttt B B Bả ả ản n n của Trần
Thị Tố Loan cũng có những nhận xét về nhân vật Shimamura: “Trong tác phẩm đã trở thành quốc bảo của người Nhật này, tác giả kể về những chuyến về xứ tuyết của lãng tử Shimamura Tuy sống ở Tokyo bên người vợ xinh đẹp nhưng cuộc sống sôi động nơi đây khiến chàng cảm thấy ngột ngạt Shimamura đã đáp tàu lên phương Bắc để tận hưởng vẻ đẹp trinh nguyên của con người và thiên nhiên nơi đây và cố tìm lại bản thân mình Vẻ đẹp của xứ tuyết đã mời gọi chàng đến vào ba mùa xuân, thu, đông Lần nào chàng cũng choáng ngợp trước vẻ đẹp của cảnh tuyết dát bạc trên các sườn núi và tâm hồn thuần khiết của con người nơi đây” [20] Những nhận xét khiến chúng ta cảm thấy như
Shimamura mang dáng dấp của một người xê dịch đi tìm cái đẹp, một cái đẹp hiện hữu
trong thiên nhiên lẫn con người nơi X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt.
Trong bài viết C C Cấ ấ ấu u u tr tr trú ú úcccc h h hướ ướ ướng ng ng n n nộ ộ ộiiii trong trong trong ti ti tiểểểểu u u thuy thuy thuyếếếếtttt Y.Kawabata Y.Kawabata Y.Kawabata của PGS.TS
Nguyễn Văn Hạnh đăng trên diễn đàn Văn học và học văn có đoạn: “Có cùng tâm trạng
ấy là Simamura, một lữ khách cô đơn trong Xứ tuyết, người đã từ bỏ cuộc sống phố phường ồn ào, phồn tạp để tìm kiếm vẻ đẹp nguyên sơ thuần phác trong thiên nhiên Chính ở đây, nơi miền bắc xa xôi phủ đầy tuyết trắng, Simamura đã nghe được tiếng lòng mình và nhận ra cái đẹp đích thực trong tâm hồn trong sáng đến mức thánh thiện của
Trang 8Komako, được “trầm tư chiêm ngưỡng về sự phong phú về cái đẹp thánh thiện của những kiếp phù du” ” [14] Vẫn là nhận xét thiên về nhân vật Shimamura, PGS.TS Nguyễn Văn
Hạnh đã cho thấy được đặc điểm kiểu nhân vật “lữ khách” của Kawabata: trong cuộchành trình tìm kiếm cái đẹp, nhân vật “lữ khách” còn tìm về với bản ngã của chính mình
Bài viết Ý Ý Ý ngh ngh nghĩĩĩĩa a a bi bi biểểểểu u u ttttượ ượ ượng ng ng cu cu cuộ ộ ộcccc h h hà à ành nh nh tr tr trìììình nh nh tr tr trở ở ở v v vềềềề x x xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt trong trong trong ttttá á ácccc ph ph phẩ ẩ ẩm m X
Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt ccccủ ủ ủa a a Yasunari Yasunari Yasunari Kawabata Kawabata Kawabata của Lê Thanh Huyền có đoạn: “Hình ảnh một con người hiện diện trong tác phẩm với những cuộc hành trình tìm về quá khứ, về truyền thống, về cái đẹp phôi pha là biểu tượng cho một nỗi niềm đau xót trước sự mất mát giá trị văn hóa dân tộc, và nhiều hơn thế Với mỗi tác phẩm, hình tượng nhân vật hành trình lại chứa đựng những ngầm ẩn tượng trưng riêng nhưng bao giờ cũng gợi lên hình ảnh người lữ khách u sầu Kawabata lang thang tìm cái đẹp trong cảm hứng mất mát Kiểu nhân vật hành trình là một sáng tạo biểu tượng của Y Kawabata Đó là biểu tượng cho chủ thể nhà văn” [17] Tác giả bài viết đã nêu lên ý nghĩa thật sự đằng sau những cuộc
hành trình của “lữ khách”, đồng thời khẳng định nhân vật “lữ khách” chính là hóa thâncủa Kawabata
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu đáng kể về Yasunari Kawabata cũng nhưcác tác phẩm của nhà văn Tuy nhiên cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứutoàn diện, đi sâu phân tích phân tích cụ thể về kiểu nhân vật “lữ khách” trong tiểu thuyếtcủa Kawabata nói riêng Tất cả mới dừng lại ở những nhận định, đánh giá Người viếtxem đó là nền tảng để triển khai luận văn
3.
3 M M Mụ ụ ụcccc đí đí đích ch ch nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u
Mục đích nghiên cứu của luận văn là để làm sáng tỏ kiểu nhân vật “lữ khách”
trong tiểu thuyết X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt, Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc và Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê Từ đó phát hiện
những đặc điểm của kiểu nhân vật này trong các tác phẩm được nghiên cứu, đồng thờigiúp bạn đọc tiếp cận với tác phẩm một cách dễ dàng hơn Bởi nhân vật luôn là công cụgiúp người đọc thấu hiểu, đồng cảm với tác giả cũng như nhận diện nhân vật là nhiệm vụtrước khi bước vào đọc tác phẩm
Với việc tập trung làm sáng tỏ kiểu nhân vật “lữ khách” trong các tiểu thuyết X X Xứ ứ tuy
tuyếếếếtttt, Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc và Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê, có thể nói luận văn nghiên cứu cụ thể kiểu
nhân vật “lữ khách” trong ba tác phẩm kể trên Ngoài ra, luận văn còn khái quát đôi nét vềKawabata, quan niệm sáng tác của ông cũng như nghệ thuật xây dựng nhân vật “lữ
khách” trong ba tác phẩm X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt, Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc, Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê Từ đó đánh giá
được những đóng góp của Kawabata trong kho tàng tiểu thuyết Nhật Bản
Trang 94 Ph Ph Phạ ạ ạm m m vi vi vi nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u
Bài viết đi sâu vào quá trình nghiên cứu kiểu nhân vật “lữ khách” trong tiểu thuyết
X
Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt, Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc, Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê, do đó người viết chủ yếu sử dụng tư liệu
từ tác phẩm X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt, Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc và Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê Về văn bản, người viết
khảo sát các văn bản dịch: Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc của dịch giả Trùng Dương, X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt của hai
dịch giả Ngô Văn Phú và Vũ Đình Bình, Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê của Quế Sơn.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, người viết còn đề cập đến các bài nghiên cứu,bài báo về Kawabata, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề để cơ sở lập luậnthêm sức thuyết phục cũng như làm dẫn chứng để nêu luận điểm chính
Phạm vi đề tài: nghiên cứu đặc điểm của kiểu nhân vật “lữ khách” cũng như nghệthuật thể hiện kiểu nhân vật này trong một số tiểu thuyết của nhà văn Kawabata
5.
5 Ph Ph Phươ ươ ương ng ng ph ph phá á áp p p nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u
Để thực hiện đề tài này, người viết có sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp lịch sử: đặt tác phẩm trong thời gian tác phẩm ra đời để hiểu được tácphẩm một cách sâu sắc Đồng thời cho thấy sự tác động, ảnh hưởng của các hiện tượng,
sự kiện lịch sử đối với vấn đề
Phương pháp so sánh, đối chiếu: giúp hiểu rõ bản chất, vị trí của vấn đề trong cácmối tương quan đa chiều của nó Hơn nữa, tiến hành so sánh kiểu nhân vật “lữ khách”trong các sáng tác của Kawabata nhằm tìm ra nét chung phổ quát cũng như khẳng địnhnét đặc sắc, riêng biệt về kiểu nhân vật “lữ khách” trong tác phẩm
Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích văn bản tác phẩm để tìm ra được đặcđiểm của kiểu nhân vật “lữ khách”
Ngoài ra, người viết còn sử dụng một số thao tác như chứng minh, bình luận, giảithích…
Trên đây là một số phương pháp, thao tác được sử dụng trong quá trình nghiên cứu.Việc vận dụng các phương pháp, thao tác này trong bài viết được tiến hành phối hợpnhằm làm sáng tỏ vấn đề mà người viết nói tới
Trang 101.1.1 1.1.1 Nh Nh Nhâ â ân n n vvvvậ ậ ậtttt vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc
Giáo trình L L Lý ý ý lu lu luậ ậ ận n n v v vă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc định nghĩa về nhân vật “Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học”
[12;tr.277] hay “Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng.” [12;tr.277].
Trong 150 150 150 thu thu thuậ ậ ậtttt ng ng ngữ ữ ữ v v vă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc, Lại Nguyên Ân cho rằng: “Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người, nên có thể được xây dựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy” [2].
Có thể nói, nhân vật là hình thức cơ bản để miêu tả con người trong văn học Do
đó, “nhân vật văn học” là một thuật ngữ dùng để chỉ những hình tượng nghệ thuật về conngười
Biểu hiện của nhân vật trong tác phẩm rất đa dạng Đối với các tác phẩm tự sự,nhân vật được phác họa một cách khá đầy đủ từ ngoại hình đến nội tâm Trong khi đó, ởcác tác phẩm trữ tình, nhân vật chỉ được bộc lộ qua cảm xúc, ý nghĩ Có nhân vật hiện lênnhư một người bình thường, lại có nhân vật có “ba đầu sáu tay” Nói chung, nhân vật vănhọc rất đa dạng
Nhân vật văn học có những đặc điểm khác với nhân vật của các loại hình nghệthuật khác Do hình tượng văn học là hình tượng “phi vật thể” cho nên nhân vật văn học
là nhân vật tưởng tượng, chứ không phải là nhân vật “hữu hình” như trong các ngànhnghệ thuật điêu khắc, hội họa, điện ảnh….Nhân vật văn học được cảm nhận rất khác nhaubởi khả năng liên tưởng, tưởng tượng của con người không giống nhau
Nhân vật văn học là một phạm trù thẩm mĩ Vì thế, không nên đồng nhất giữa nhânvật văn học với con người thật Nhân vật văn học chỉ là một khối thẩm mĩ được nhà văn
mô tả như là sự bắt chước con người ngoài đời thực, nhưng bao giờ nhân vật văn họccũng chịu ảnh hưởng bởi quan niệm, cảm nhận của cá nhân Nhân vật văn học luôn cónhững đặc trưng nghệ thuật riêng và được thể hiện trong tác phẩm thông qua các biệnpháp nghệ thuật của nhà văn Tuy nhiên, không vì thế mà nhân vật văn học kém phầnchân thật
Nhà văn dùng nhân vật để nêu lên quan niệm về con người, cuộc đời, cũng như lígiải, cắt nghĩa con người, cuộc đời thấm đẫm thị hiếu thẩm mĩ Do đó, khi đọc một tác
Trang 11phẩm, tìm hiểu một nhân vật, ta không chỉ hiểu được một con người, một mảnh đời màcòn hiểu được ý nghĩa cuộc đời đằng sau mỗi số phận.
Sức sống của một nhân vật văn học không chỉ nằm ở nghệ thuật miêu tả mà quantrọng nhất là ở tính điển hình Một nhân vật có sức sống lâu bền là một nhân vật mangtính điển hình cao, là nhân vật ta có thể tìm thấy giữa cuộc đời Đó là những nhân vật làmcho tên tuổi nhà văn trở thành bất tử
Là một phần của nhân vật văn học, nhân vật trong tiểu thuyết mang những đặcđiểm chung vốn có của nhân vật văn học Tuy nhiên, kiểu nhân vật này vẫn mang nhữngnét riêng của thể loại tiểu thuyết
Trong cuốn L L Líííí lu lu luậ ậ ận n n v v vă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc, nhà nghiên cứu Phương Lựu cũng có viết: “Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn phổ biến trong thời cận đại và hiện đại Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [12;tr.387] Vậy tiểu thuyết là hình thức
tự sự cỡ lớn có hư cấu, phổ biến trong thời cận đại và hiện đại, mà thông qua nhân vật,hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn, đề cập đến những vấn đề củacuộc sống con người, cũng như biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện bằngngôn ngữ xác định
Có thể nói nhân vật là yếu tố quan trọng nhất trong tiểu thuyết Tiểu thuyết sẽkhông thể nào tồn tại nếu không có nhân vật Do đó, vấn đề quan trọng, được chú ý nhiềutrong tiểu thuyết là vấn đề xây dựng nhân vật
Nhân vật trong tiểu thuyết không giống với các nhân vật trong các thể loại khác
Họ có những đặc điểm riêng mà các nhân vật trong thể loại khác không có được Trongtruyện ngắn, nhân vật chỉ được đặt trong thời gian gắn với những sự kiện, biến động lớn,
do đó người đọc không thể nắm bắt về cuộc đời, không thể hiểu rõ tiểu sử của các nhânvật Trong khi đó, với khuôn khổ rộng lớn của mình, nhân vật tiểu thuyết luôn được khaithác, miêu tả một cách tỉ mỉ Tiểu thuyết còn có khả năng tạo được hình tượng điển hình
từ nhiều con người khác nhau, từ bối cảnh khác nhau, điều mà thể loại kí không làm được
Thông qua nhân vật trong tiểu thuyết, người đọc có thể thấy được bộ mặt của conngười, đồng thời thấy được ý nghĩa nhân sinh mà tác giả gửi gắm, chia sẻ trong tác phẩm
Có thể nói, nhân vật trong tiểu thuyết là cầu nối giữa thế giới thực và thế giới ảo trong tácphẩm
Nhân vật trong tiểu thuyết nhất thiết là phải những con người nếm trải, nghĩa là sốphận của họ phải do logic của cuộc đời quy định Do đó, nhân vật trong tiểu thuyết luôn
có mối quan hệ mật thiết với hoàn cảnh Đôi khi, chính hoàn cảnh làm thay đổi cuộc đời
Trang 12của nhân vật hoặc ngược lại, nhân vật tạo ra một hoàn cảnh khác với hoàn cảnh ban đầucủa câu chuyện Hoàn cảnh ở đây được xem như yếu tố ảnh hưởng, tác động lớn đến nhânvật.
Nhân vật trong tiểu thuyết được nhà văn xây dựng bằng vốn sống, sự hiểu biết vềnhân vật và được miêu tả thông qua xung đột, biến cố cuộc đời hay đôi khi là mâu thuẫnnội tâm Vì vậy, nhân vật trong tiểu thuyết gần giống như con người trong cuộc sống.Nghĩa là mỗi nhân vật đều có cá tính, cuộc đời, số phận riêng Điều đó được thể hiện quangoại hình và nội tâm của nhân vật Nhân vật trong tiểu thuyết đôi khi mang tính tự thân,thoát khỏi sự kiểm soát của tác giả để đi theo số phận, quy luật cuộc đời Tuy nhiên, dùthế nào đi nữa thì nhân vật trong tiểu thuyết phải là hiện thân cho tư tưởng của nhà văn
Như vậy, có thể thấy nhân vật trong tiểu thuyết luôn luôn phong phú, đa dạng,không kém phần hấp dẫn, và quan trọng hơn, nhân vật trong tiểu thuyết có thể khái quátđược hiện thực xã hội, khái quát được quan điểm của nhà văn
1.1.2 1.1.2 Ki Ki Kiểểểểu u u nh nh nhâ â ân n n vvvvậ ậ ậtttt “ “ “llllữ ữ ữ kh kh khá á ách ch ch” ” ” trong trong trong ttttá á ácccc ph ph phẩ ẩ ẩm m m ccccủ ủ ủa a a Kawabata Kawabata
Nhắc đến kiểu nhân vật trong văn học là nhắc đến những con người được miêu tả
và thể hiện bằng nghệ thuật ngôn từ trong tác phẩm văn học Trong tác phẩm văn học, đặcbiệt trong thể loại tiểu thuyết, việc xây dựng kiểu nhân vật luôn là vấn đề quan trọng vàđược các nhà văn đặc biệt quan tâm Văn học phản ánh hiện thức khách quan thông qualăng kính chủ quan của nhà văn Chủ thể trong tác phẩm đóng vai trò như những “tấmgương” của cuộc sống Kiểu nhân vật trong tác phẩm vì thế trở thành nơi thể hiện quanniệm nghệ thuật của nhà văn trong một thời điểm nhất định Có thể nói, sự thành bại củamột tác phẩm phụ thuộc vào sự tinh tế của mỗi nhà văn trong việc lựa chọn và xây dựngnhân vật theo một kiểu nhất định
Trong lịch sử văn học thế giới, các nhà văn đã sáng tạo ra nhiều kiểu nhân vật khácnhau, góp phần làm đa dạng thế giới nhân vật trong các tác phẩm Có thể kể đến kiểunhân vật kiếm tìm với hình ảnh Jăng Van Jăng trên cuộc hành trình tìm kiếm một xã hội
giàu có về vật chất, dạt dào về lòng yêu thương trong tác phẩm Nh Nh Nhữ ữ ững ng ng ng ng ngườ ườ ườiiii ccccù ù ùng ng ng kh kh khổ ổ
của V Hugo, hay cuộc tìm kiếm chân lí Fauxt trong vở kịch cùng tên của tác giả J V.Gothe Ở Việt Nam, nhà văn Hồ Biểu Chánh nổi bật với kiểu nhân vật hành đạo như nhân
vật Trần Cao Đàng trong Cay Cay Cay đắ đắ đắng ng ng m m mù ù ùiiii đờ đờ đờiiii, Kỳ Tâm trong T T Tỉỉỉỉnh nh nh m m mộ ộ ộng ng ng hay Lê Văn Đó
trong Ng Ng Ngọ ọ ọn n n ccccỏ ỏ ỏ gi gi gió ó ó llllù ù ùa a a Nhà văn Võ Thị Xuân Hà, một cây bút nữ trong văn học đương
đại Việt Nam cũng chọn cho mình một kiểu nhân vật trong các sáng tác là kiểu nhân vậtbản năng
Riêng với kiểu nhân vật “lữ khách”, người đọc có thể tìm thấy kiểu nhân vật nàynhiều nhất trong các tác phẩm văn học Nhật Bản Có thể nói, “lữ khách” là một khái niệm
Trang 13gắn liền với con đường “Lữ khách” là những người hoặc có sở thích đi du lịch, hoặc quátrình đi là quá trình tìm kiếm, trăn trở cả một đời Từ khởi thủy của văn học Nhật Bản đãxuất hiện kiểu nhân vật “lữ khách” Có lẽ người khởi xướng cho kiểu nhân vật “lữ khách”
trong văn học Nhật Bản là nhà thơ Basho với tập thơ Con Con Con đườ đườ đường ng ng ssssâ â âu u u th th thẳ ẳ ẳm m m Toàn tập thơ
như khúc giao hưởng giữa một tâm hồn đang hòa nhập với cuộc sống Xuyên suốt trongcác tác phẩm là cuộc hành trình của nhân vật trữ tình đi tìm cái đẹp nơi thiên nhiên miềnBắc xa xôi
Ảnh hưởng bởi tính chất lữ nhân trong thơ Basho, Kawabata cũng sáng tạo ra kiểunhân vật “lữ khách” của riêng mình Nhân vật “lữ khách” trong tác phẩm của Kawabatanói chung và trong tiểu thuyết của nhà văn nói riêng đều mang đặc điểm chung về giớitính, họ là những người thuộc phái mạnh, là những con người không bị giới hạn về tuổitác, xuất thân Những “lữ khách” của Kawabata, mặc dù luôn chìm đắm trong cái đẹp,sống trong cái đẹp nhưng chưa bao giờ họ sở hữu được những vẻ đẹp ấy Đó chính là lí do
họ dành cả cuộc đời để tìm kiếm cái đẹp Vẻ đẹp mà những “lữ khách” của Kawabata tìmkiếm là vẻ đẹp hiện diện nơi người phụ nữ - vẻ đẹp tác động mạnh vào tâm hồn tinh tếcủa “lữ khách” một cách sâu sắc, là vẻ đẹp của thiên nhiên, sự thấu thị về thiên nhiên, sựtương giao giữa nội tâm và thiên nhiên khiến tâm hồn “lữ khách” đạt đến sự tự do về tinhthần, và là vẻ đẹp của những giá trị truyền thống đang dần bị lãng quên
Các nhân vật “lữ khách” của Kawabata – những người dành cả cuộc đời để khámphá cái đẹp thì cuối cùng chính họ lại rơi vào bi kịch của cái đẹp Kết thúc cuộc hànhtrình của những “lữ khách” chỉ là sự trống rỗng, day dứt trong tâm hồn Tuy nhiên, họcũng đã từng được sống trong cảm giác chân – thiên – mĩ rất con người và điều đó thôithúc bước chân “lữ khách” không bao giờ bỏ cuộc trên con đường tìm kiếm cái đẹp dùphía trước họ còn nhiều khó khăn, thử thách
Với việc lựa chọn cho mình kiểu nhân vật “lữ khách” – kiểu nhân vật được nhiềunhà nghiên cứu cho rằng là hóa thân của bản thân Kawabata – làm kiểu nhân vật chủ đạotrong sáng tác đã giúp nhà văn gặt hái nhiều thành công trên con đường văn nghiệp củamình Kiểu nhân vật “lữ khách” khẳng định được nét riêng biệt không lẫn vào đâu củanhững tác phẩm mang “thương hiệu” Kawabata Ngoài ra, kiểu nhân vật “lữ khách” cònmột lần nữa khẳng định sự quan trọng của việc lựa chọn kiểu nhân vật phù hợp với mỗinhà văn trong sáng tác để đạt đến thành công
Trang 141.2.1.1 Tiểu sử Kawabata Yasunari
Kawabata Yasunari (1899-1972), sinh ra ở một làng quê gần thành phố Osaka, làmột người có nhiều thăng trầm trong cuộc đời Thuở nhỏ, Kawabata đã sớm mồ côi từnăm hai tuổi Nhà văn và chị ruột đến sống cùng ông bà ngoại Khoảng thời gian từ bảytuổi đến mười bốn tuổi là khoảng thời gian mất mát rất lớn đối với bản thân Kawabata khilần lượt cả ông bà ngoại và người chị của ông đều qua đời Từ đó, Kawabata phải về sốngcùng với gia đình người dì
Thuở nhỏ, Kawabata thích vẽ tranh và ấp ủ ước mơ trở thành họa sĩ Tuy nhiên,với việc ghi danh vào học tại Đại học Tổng hợp Tokyo năm 1920, Kawabata đã quyếtđịnh theo nghiệp văn chương Năm đầu Kawabata học ở Khoa văn học Anh, lên năm thứhai ông chuyển sang nghiên cứu văn học Nhật Bản và ra trường với đề tài tốt nghiệp vềvăn học Nhật Bản
Thời sinh viên, Kawabata tham gia rất nhiều các hoạt động văn học Ông cùng vớimột số bạn bè sáng lập nên tạp chí Trào lưu mới (Shino) Ngoài ra, ông còn hoạt độngtrong một số tạp chí nổi tiếng đương thời như Văn nghệ Xuân Thu (Bungei Shunzui), Vănnghệ thời đại (Bungei Jidai) Cũng trong thời gian này, Kawabata yêu say đắm một ngườithiếu nữ Ông đã cùng nàng hứa hôn nhưng khi tất cả đã chuẩn bị xong xuôi thì ngườithiếu nữ bất ngờ hủy hôn không một lời giải thích Từ đó, người phụ nữ ấy trở thành nỗi
ám ảnh đối với Kawabata và trở thành hình mẫu “người phụ nữ trong trắng” trong cáctiểu thuyết của ông
Sau khi tốt nghiệp đại học 1924, Kawabata trở thành đại biểu của trường phái Tâncảm giác theo trào lưu văn học và văn hóa châu Âu, phủ nhận chủ nghĩa tự nhiên, chútrọng đặt cảm xúc và cảm giác vào trung tâm của tác phẩm Đương thời, tiếng nói củaKawabata rất có giá trị, ông là người quyết định số phận sự nghiệp của các nhà văn trẻ.Tuy nhiên, cuộc sống riêng tư sau này của ông ít được sách vở nhắc đến
Kawabata từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như chủ tịch Hội văn bút Nhật Bản
từ năm 1948 – 1965, thành viên của viện Hàn lâm Nhật Bản năm 1953, phó chủ tịch Hộivăn bút quốc tế năm 1959 Cũng trong năm 1959, ông được trao tặng Huân chươngGoethe tại Fankurf
Năm 1968 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong cuộc đời văn nghiệp củaKawabata khi ông được trao tặng giải Nobel của Viện Hàn lâm Thụy Điển với ba tác
phẩm X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt, Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc và C C Cố ố ố đô đô đô.
Năm 1972, tức là bốn năm sau khi đoạt giải Nobel văn chương, Kawabata tự sátbằng khí gas tại nhà riêng Đây là một điều bất ngờ bởi trước đó nhà văn luôn phê phán
Trang 15việc tự tử trái với quy luật tự nhiên Cho đến nay, cái chết của Kawabata vẫn còn là bí ẩnbởi lúc chết, nhà văn không để lại bức thư tuyệt mệnh nào.
1.2.1.2 Sự nghiệp văn chương
Sự nghiệp sáng tác của Kawabata rất phong phú và hầu như ở thể loại nào, nhà văncũng đạt được những thành công nhất định Mảng truyện ngắn của Kawabata có thể kể
đến một số tác phẩm tiêu biểu như V V Vũ ũ ũ n n nữ ữ ữ Izu Izu Izu, L L Lễễễễ chi chi chiêêêêu u u h h hồ ồ ồn n n, Nh Nh Nhữ ữ ững ng ng truy truy truyệệệện n n ng ng ngắ ắ ắn n n trong trong llllò ò òng ng ng b b bà à àn n n tay tay tay, C C Cá á ánh nh nh tay tay tay… Trong đó, Nh Nh Nhữ ữ ững ng ng truy truy truyệệệện n n trong trong trong llllò ò òng ng ng b b bà à àn n n tay tay tay là những truyện
mà nhà văn cảm thấy hài lòng nhất, là tập hợp những truyện có dung lượng ngắn nhưngnội dung chứa đựng nhiều triết lí sâu xa về con người, vũ trụ Đây được xem là thể loại cónhiều đặc điểm gần giống với thơ Hai-ku của Nhật Bản Với Kawabata, đó là những câuchuyện chứa đựng cả một hồn thơ tuổi trẻ
Năm 1925 đánh dấu sự thành công của Kawabata với truyện ngắn V V Vũ ũ ũ n n nữ ữ ữ Izu Izu Izu Câu
chuyện kể về mối tình của một chàng sinh viên trẻ với một cô gái trong một gánh hát giađình lưu động Người đọc bị ấn tượng bởi chính câu chuyện được kể và khả năng miêu tảcủa Kawabata Ngoài ra, kiểu nhân vật “người phụ nữ trong trắng” lần đầu tiên xuất hiệntrong tác phẩm Kiểu nhân vật này sẽ còn xuất hiện trong các sáng tác của Kawabata sau
này V V Vũ ũ ũ n n nữ ữ ữ Izu Izu Izu được xem như kiệt tác đầu tay của Kawabata.
Một tác phẩm cũng rất thành công về thể loại truyện ngắn của Kawabata là truyện
C
Cá á ánh nh nh tay tay tay Câu chuyện kể về một đêm âu yếm giữa nhân vật tôi và cánh tay của người
yêu, chỉ là cánh tay nhưng nó có sức hấp dẫn như người phụ nữ Người đọc bị ấn tượngbởi những cảm giác lạ lùng cũng như thủ pháp nghệ thuật trong tác phẩm Tuy nhiên, ýnghĩa chính xác của tác phẩm đến bây giờ vẫn chưa được khám phá Tác phẩm đã sửdụng những thủ pháp của chủ nghĩa siêu thực khiến khả năng tưởng tượng của nó trở nên
phong phú Đó là lí do khiến tác phẩm trở nên lôi cuốn người đọc Tác phẩm C C Cá á ánh nh nh tay tay tay đã
được các nhà phê bình ví như bức tranh của trường phái tưởng tượng
Ngoài ra, còn có thể nhắc đến truyện ngắn Th Th Thủ ủ ủy y y nguy nguy nguyệệệệtttt, tác phẩm sử dụng rất
thành công thủ pháp “chiếc gương soi” – một thủ pháp khá phổ biến trong các sáng táccủa Kawabata Đây là tác phẩm được đưa vào chương trình văn học nước ngoài giảng dạyphổ thông
Tuy nhiên, thành công rực rỡ trong văn nghiệp của Kawabata là mảng tiểu thuyết
Đỉnh cao của thể loại này bộ ba tác phẩm X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt (1947), Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc (1951), C C Cố ố đô
đô (1961) Chính ba tác phẩm này đã mang đến cho ông vinh dự nhận giải Nobel của
Viện Hàn lâm Thụy Điển năm 1968
X
Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt là tiểu thuyết đầu tiên của Kawabata, được nhà văn bắt đầu viết từ năm
1934, đăng nhiều kì từ 1935 đến 1937 và hoàn tất vào năm 1947 Tác phẩm kể về mối
Trang 16tình giữa Shimamura, một tay chơi ở Tokyo và một geisha tên Komako ở một thị trấn xaxôi mà quanh năm được phủ bởi tuyết Vẻ đẹp của khung cảnh, của những ngôi làng, củathiên nhiên và đặc biệt là của những người phụ nữ hòa quyện vào nhau trong tác phẩm đãlàm tác phẩm mang một màu cổ điển.
Tiếp theo sự thành công của X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt là sự xuất hiện của tác phẩm Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh h
hạ ạ ạcccc vào năm 1957 Khi vừa mới xuất hiện, tác phẩm ngay lập tức đã đoạt giải thưởng của
Viện Hàn lâm nghệ thuật Nhật Bản Tác phẩm không đơn thuần là câu chuyện về thú chơinghệ thuật truyền thống – trà đạo mà còn chứa đựng vấn đề ý thức xã hội của thế hệ tràđạo và hậu trà đạo Trong tác phẩm của mình, Kawabata đã cố gắng chỉ ra sự thoái hóacủa nghệ thuật trà đạo Tuy nhiên, cái cuối cùng đọng lại trong tác phẩm lại là vẻ đẹptrong trắng của cô gái mang mang chiếc khăn ngàn cánh hạc, một vẻ đẹp hiện thân chonhững giá trị truyền thống
Tác phẩm cuối cùng trong bộ ba tác phẩm đoạt giải Nobel: C C Cố ố ố đô đô đô được hoàn thành
vào năm 1962 Trong tác phẩm, hình ảnh đất nước Nhật Bản xinh đẹp với những chùachiền, những khóm hoa anh đào, những lễ hội truyền thống và ấn tượng hơn cả là tình
cảm của người Nhật Bản được thể hiện thông qua các nhân vật C C Cố ố ố đô đô đô là tiểu thuyết tâm
lí sắc sảo, Kawabata đã đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm của nhân vật, điều này thểhiện rõ qua suy nghĩ, trăn trở của Chieko Người đọc đến với tác phẩm chắc hẳn sẽ ấntượng với vẻ đẹp của thành phố Kyoto
Sẽ là thiếu sót nếu chỉ nhắc đến bộ ba tiểu thuyết đoạt giải Nobel của Kawabata
Ngoài bộ ba tiểu thuyết kể trên, có thể nhắc đến tiểu thuyết Ti Ti Tiếếếếng ng ng rrrrềềềền n n ccccủ ủ ủa a a n n nú ú úiiii
(1950-1952) Đây là tiểu thuyết viết về cái chết cũng như những linh cảm về cái chết Câuchuyện xoay quanh cuộc sống của gia đình ông Shingo sau chiến tranh và những mốiquan hệ của các thành viên trong gia đình: ông Shingo có cảm tình với cô con dâu Kikuko,Suychi, chồng của Kikuko có người tình bên ngoài Câu chuyện kết thúc mà chưa có hồikết làm người đọc cảm thấy mọi thứ dường như còn dang dở
Vào cuối đời, lúc Kawabata đã bảy mươi tuổi, ông cho ra mắt cuốn tiểu thuyết cuối
cùng Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê Cuốn tiểu thuyết này được coi là hiện tượng lạ của văn học
Nhật Bản và là cuốn tiểu thuyết mà người phương Tây rất thích Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê được
kể bằng văn phong dòng ý thức, những liên tưởng trong tác phẩm được gợi lên đẹp đẽ vàbiểu lộ một cách rõ ràng Sự kiện chồng chất và những giấc mơ quy định sự phức tạp củacâu chuyện khiến nó không còn đơn điệu Tình yêu trong tác phẩm mang màu sắc chuaxót bởi những người đàn ông nằm bên cạnh các cô gái nhưng không thể xâm phạm đến sựtrong trắng của họ
Trang 17Bản thân Kawabata cho rằng, tác phẩm hay nhất của ông là Danh Danh Danh th th thủ ủ ủ ccccờ ờ ờ Go Go
(1951) Câu chuyện kể về một ván cờ vào năm 1938 mà nhà văn tường thuật cho báoMainichi Đó là ván cờ cuối cùng của danh thủ Shusai, ông đã thua người thách đấu trẻtuổi hơn mình rồi qua đời một năm sau đó Một số độc giả cho rằng câu chuyện ẩn dụ chothất bại của Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ hai, số khác lại lại coi đó là cuộc đấutranh giữa truyền thống và hiện đại
Kawabata còn viết tiểu luận phê bình, các tiểu luận của ông mang đậm dấu ấn cánhân, một số công trình có ý nghĩa đối với giới văn học Có thể kể đến hai công trình tiểu
luận phê bình của ông như C C Cá á áiiii nh nh nhììììn n n cu cu cuố ố ốiiii ccccù ù ùng ng ng (1933) và Di Di Diễễễễn n n ttttừ ừ ừ Nobel: Nobel: Nobel: Nh Nh Nhậ ậ ậtttt B B Bả ả ản, n, n, ccccá á áiiii đẹ
Tiểu thuyết X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt được viết và chỉnh sửa trong mười hai năm (từ năm 1934 đến
năm 1947) Cốt truyện tuy khá đơn giản nhưng lại khó nắm bắt Shimamura, một hóa thâncủa “lữ nhân” Kawabata đam mê nhiều thứ trong cuộc sống Quá trính đam mê nhiều thứ
ấy chính là quá trình đi tìm cái đẹp Trong nghệ thuật, anh khát khao dung hòa giữa nghệthuật truyền thống Nhật Bản và nghệ thuật phương Tây Trong tình yêu, anh khao khátdung hòa vẻ đẹp của hai cô gái Komako va Yôko
Tiểu thuyết X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt kể về câu chuyện của nhân vật Shimamura, một người thành
đạt, giàu có, đã có vợ con ở Tokyo, trở lại một lần nữa để ngắm cảnh vào mùa thu và tắmsuối nước nóng ở vùng núi nơi anh đã đến vào sáu tháng trước Trên chuyến tàu đến vùngnúi này, anh tình cờ gặp được Yôko, một người con gái đang chăm sóc một người đànông bị ốm và ngay lập tức, anh bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của Yôko, một vẻ đẹp đầy thánhthiện Khi đến suối nước nóng, anh gặp lại Komako, một geisha xinh đẹp, đầy quyến rũ
mà anh đã quen trong lần đầu tới đây Shimamura đắm chìm trong tình yêu với Komako,nhưng đôi khi anh lại nhớ đến vẻ đẹp của Yôko, cô gái anh đã gặp trên toa tàu Tình yêuanh dành cho Komako đầy cảm xúc trần thế, còn đối với Yôko thì đó là tình yêu lí tưởng.Thật trớ trêu khi Yôko và Komako cùng sống trong nhà của bà giáo dạy nhạc và mối quan
hệ của họ với người đàn ông bị ốm không bao giờ được giải thích đầy đủ Kết thúc tácphẩm là cảnh Yôko rơi từ tầng trên của một tòa nhà đang bốc cháy, Komako như hóa điên
ôm xác Yôko trong tay Shimamura dường như đứng không vững và khi anh ngã đầu vềphía sau, dải ngân hà đang tuôn chảy lên anh
1.2.2.2 Tác phẩm Ngàn cánh hạc
Trang 18Tác phẩm Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc xuất hiện năm 1951 và ngay lập tức đoạt giải thưởng
của Viện Hàn lâm nghệ thuật Nhật Bản Người đọc bị ấn tượng bởi nhân vật Kikuji Mộtchàng trai dù không còn niềm đam mê, hứng thú với trà đạo nhưng lại bị cuốn hút bởinhững dụng cụ uống trà Không những vậy, Kikuji còn bị thu hút bởi vẻ đẹp của nhữngngười phụ nữ trong cuộc đời chàng, tiêu biểu là bà Ota, là Fumiko và cô gái nhà Inamura.Thông qua nhân vật Kikuji, ý thức xã hội về trà đạo của lớp thế hệ trước và lớp thế hệ trẻsau này cũng được bộc lộ
Ng
Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc là câu chuyện kể về Kikuji, con trai gia đình Mitani, nhận lời mời
đến tham dự buổi tiệc do Chikako tổ chức Chikako là người quen của cha chàng khi ôngcòn sống Mục đích Chikako mời Kikuji đến buổi tiệc là để chàng xem mặt cô gái nhàInamura Nhưng trong buổi trà đạo, Kikuji đã gặp và bị cuốn hút bởi bà Ota – tình nhântrước đây của cha chàng Chàng cũng có tình cảm với Fumiko - con gái bà Ota và cả côgái nhà Inamura Do cha mẹ Kikuji đã mất nên Chikako muốn làm chủ cuộc đời chàng,người phụ nữ này muốn Kikuji lấy cô gái nhà Inamura và nhượng lại cho bà ta những vậtdụng uống trà trong gia đình Chikako căm ghét hai mẹ con bà Ota vì tình cảm của Kikujidành cho cả hai mẹ con Bà Ota sau một thời gian vướng vào mối tình trầm luân vớiKikuji đã tự sát vì không kiểm soát được tình cảm của mình, bà nhầm lẫn giữa hai chacon nhà Manita Ngay cả khi bà Ota chết, Chikako vẫn lên tiếng sỉ nhục người đàn bà nàybởi ý định của gửi gắm Fumiko cho Kikuji Bà Ota qua đời, Fumiko – con gái bà Ota,tặng Kikuji hai vật dụng uống trà mà khi còn sống mẹ nàng vẫn thường dùng Chikakovẫn muốn Kikuji lấy cô gái nhà Inamura nên đã mời nàng đến nhà Kikuji tham gia buổitrà đạo do chính Chikako tổ chức Sau mối tình trầm luân với bà Ota, tình cảm của Kikujitrở nên khó lí giải Chàng có cảm tình với cả hai cô gái: Fumiko và cô gái nhà Inamuranhưng chàng vẫn để mọi chuyện trôi qua Do lòng đố kị, ganh ghét, Chikako nói vớiKikuji rằng cả hai cô gái đã đi lấy chồng Fumiko sau đó gặp lại Kikuji và do điều gì đóthôi thúc đã khiến nàng đập vỡ chén trà mà nàng đã tặng cho Kikuji rồi bỏ đi mất Không
có Fumiko, không có Inamura, chỉ còn lại Kikuji với Chikako xấu xí Đó là ý nghĩ củaKikuji khi tác phẩm kết thúc
1.2.2.3 Tác phẩm Người đẹp ngủ mê
Ng
Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê ra mắt khi Kawabata đã 70 tuổi Đây là một tiểu thuyết ngắn
mà người phương Tây rất thích, coi đó là hiện tượng kì lạ của văn học Nhật Bản Câuchuyện kể về Eguchi, một người đã sáu mươi bảy tuổi nhưng vẫn luôn khao khát đi tìmcái đẹp Eguchi không chỉ đơn thuần tìm kiếm cái đẹp của những cô gái ngủ say nơikhách điếm mà sâu xa hơn là vẻ đẹp của tuổi trẻ Cái đẹp của tuổi xuân, sức trẻ mới chính
là cái đẹp mà Eguchi mong muốn nhất
Trang 19Tác phẩm là câu chuyện về ông già Eguchi - nhân vật chính của tác phẩm, đếnnhững ngôi nhà có những cô gái ngủ mê theo lời giới thiệu của một người bạn thân, mặc
dù ông nhận thấy bản thân chưa rơi vào tình trạng suy nhược như những lão già bạn ông.Eguchi đến ngôi nhà có những người đẹp ngủ mê không phải vì những ham muốn nhụcdục mà bởi ông muốn trải nghiệm nổi ghê sợ của tuổi già cũng như tìm kiếm lại những kí
ức thời trai trẻ Năm đêm trong ngôi nhà đó, ngủ qua đêm với tổng cộng năm cô gái còntrinh trong tư thế khỏa thân, bị thuốc cho ngủ mê tới mức không hay biết gì chuyện xungquanh, Eguchi có dịp ôn lại ký ức về những người phụ nữ đi qua đời mình Cô gái đầutiên với hương sữa của người phụ nữ đang cho con bú, mùi hương này gợi nhắc ông đếnmối tình của ông và cô người yêu đầu tiên của mình Cô gái thứ hai đã gợi nhắc cho ông
ký ức về cô con gái út của ông đã mất đi sự trong trắng bởi một trong hai người bạn traicủa nàng Cô gái thứ ba nhắc nhớ ông về cuộc tình chóng vánh của ông với một ngườiphụ nữ đã có chồng và hai con nhỏ mà ông quen trong một hộp đêm Cô gái thứ tư và thứnăm gợi nhắc ông nhớ về mẹ ruột của ông trong cơn hấp hối và người vợ già hiện tại củamình Hơn nữa, năm đêm ngủ lại trong ngôi nhà còn là khoảng thời gian Eguchi tự mìnhđấu tranh tư tưởng để bản thân không làm mất đi trinh tiết của các cô gái Trong đêm cuốicùng ông ngủ ở ngôi nhà có những người đẹp ngủ say, một trong hai cô gái cùng ngủ vớiông đã chết trong lúc đang ngủ Ông nghĩ rằng xác của cô gái ấy sẽ được chở đến quán trọnơi người bạn thân của ông Fukura được chở đến
Trang 202.1 Ch Ch Châ â ân n n dung dung dung nh nh nhâ â ân n n v v vậ ậ ậtttt “ “ “llllữ ữ ữ kh kh khá á ách ch ch” ”
Nhân vật “lữ khách” xuất hiện xuyên suốt các tác phẩm được khảo sát (X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt, Ng
Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc và Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê) Theo nhiều nhà nghiên cứu, nhân vật “lữ khách”
được xem như hóa thân của nhà văn Kawabata Xét theo chiều dài lịch sử Nhật Bản, cóthể thấy những nhân vật “lữ khách” Shimamura, Kikuji hay Eguchi có nét tương đồng vớinhững samurai ở thế kỉ XIII Tuy nhiên, có đôi chút khác biệt giữa họ, nếu những võ sĩsamurai vì tính chất công việc không cố định, họ lang thang trên khắp mọi miền đất nước,nhờ đó nên có thể thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên, con người thì những “lữ khách”của Kawabata hoặc muốn rời xa chốn phồn hoa nơi thành thị, hoặc muốn níu kéo quá khứ,trốn tránh hiện tại mà tìm đến cái đẹp trong cuộc sống Những nhân vật “lữ khách” đượcKawabata xây dựng từ những ảnh hưởng của văn hóa và văn học Nhật Bản cũng như ảnhhưởng của các bậc tiền bối như Basho hay Akutagawa – những người đã tự biến mìnhthành lữ nhân
Tuy nhiên, để phác họa được chân dung của những lữ khách này là một điềukhông hề đơn giản Với nhà văn Kawbatata, một người có xu hướng khuynh nữ, do đóphái yếu luôn chiếm vị trí quan trọng trong các sáng tác của ông Các nhân vật nữ trongsáng tác của ông thường được tập trung miêu tả từ ngoại diện cho đến khắc họa tính cáchcòn những “lữ khách”, những nhân vật nam thì rất hiếm khi người đọc có thể bắt gặpnhững câu văn miêu tả trực tiếp ngoại hình của họ
Nhìn chung, những nhân vật “lữ khách” của Kawabata là những người không cógiới hạn tuổi tác Họ là những con người không giống nhau về độ tuổi nhưng luôn cóniềm khao khát rất chung là tìm kiếm cái đẹp Nhân vật Shimamura xuyên suốt tiểu
thuyết X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt cũng chỉ biết đến như một người đàn ông trung niên qua lời của Komako:
“đôi má bầu bĩnh, nước da xanh và không có bộ ria” [11;tr.326], và là một người đã có vợ
con: “đang nghĩ đến kì nghĩ hè sắp tới và tự hỏi mình sẽ đi đâu cùng gia đình để tránh cái nóng bức của mùa hè” [11;tr.239] Đáng lẽ ở cái tuổi ấy, người ta đã dành thời gian cho
gia đình thì đằng này, Shimamura vẫn rời xa gia đình của mình, rời xa cuộc sống thành thị
để đến với xứ tuyết, không chỉ một lần mà là đến ba lần, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của tựnhiên, vẻ đẹp của những người con gái để lại ấn tượng nơi anh Nói về “lữ khách” Kikuji
trong Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc, là một thanh niên khoảng hai mươi lăm tuổi: “bà Ota năm nay khoảng bốn mươi lăm tuổi, tính ra bà hơn Kikuji đến hai mươi tuổi” [11;tr.526], tuổi của
Trang 21Kikuji được tính gián tiếp qua tuổi của bà Ota và là đặc điểm duy nhất Kikuji sống độcthân, hằng ngày đều đặn đến sở làm rồi trở về nhà Cái tuổi hai mươi lăm nếu đem sosánh với cuộc sống của chàng thì thật sự có vẻ nhàm chán Nhưng không ai biết được bêntrong chàng thanh niên độc thân lại là một tâm hồn nhạy cảm trước vẻ đẹp Là một ngườicon được sinh ra trong một gia đình trà đạo truyền thống nhưng trong lòng Kikuji luônrắp tâm tổ chức một buổi trà để từ giã trà đạo Tuy nhiên, Kikuji luôn bị cuốn hút bởi vẻ
đẹp của những vật dụng uống trà Ông lão Eguchi trong Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê là nhân vật
“lữ khách” trong số ba tác phẩm được nhà văn đề cập đến tuổi tác một cách chính xác:
“sáu mươi bảy năm ở đời, đã từng trải qua những đêm khó chịu, bực tức với đàn bà”
[10;tr.11] và là một người “chưa phải là sức tàn lực cận” Và như một đặc điểm chung
của nhân vật “lữ khách”, Eguchi tìm đến ngôi nhà bí mật nhằm tìm kiếm lại vẻ đẹp củatuổi trẻ đã đi qua
Bên cạnh đặc điểm không giới hạn về tuổi tác, “lữ khách” trong các tác phẩm đượckhảo sát trên còn là những người không phân biệt về vị trí xã hội: nhân vật Shimamura làthương gia giàu có, là một con người “quá tài tử và lông bông vì nhàn rỗi”, là một người
am hiểu nhiều lĩnh vực của cuộc sống từ nghệ thuật biên đạo múa phương Tây cho đếnkịch Kabuki Nhân vật Kikuji là anh chàng nhân viên làm việc ở một sở nào đó trongthành phố, là một người có chút kiến thức về trà đạo do được sinh ra từ một gia đình cótruyền thống trà đạo Nhân vật Eguchi, một con người với tuổi trẻ thành đạt và hiện tạiông đang sống với người vợ già của mình
Xét về tuổi tác, những nhân vật Shimamura, Kikuji và Eguchi dường như ở ba thế
hệ khác nhau: Shimamura là một người trung niên, có gia đình, Kikuji - một chàng traiđộc thân, và Eguchi – một ông già gần tuổi thất thập Ngoài ra, họ còn khác nhau xa ở vịtrí xã hội Đó là tất cả những yếu tố phác họa chân dung của nhân vật “lữ khách” xét vềphương diện hình thức Ngoại diện của những “lữ khách” không được Kawabata chútrọng miêu tả, bởi với những nhân vật “lữ khách”, điều quan trọng là những suy tư, bộc lộtâm hồn chứ không phải là hình thức của họ
Đặc điểm nổi bật của các “lữ khách” trong tác phẩm được khảo sát (X X Xứ ứ ứ tuy tuy tuyếếếếtttt, Ng
Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc, Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê) là những con người có tâm hồn nhạy cảm, có sự
phân tích sâu sắc về những vấn đề trong cuộc sống Họ tỏ ra đặc biệt sắc sảo trong việcphân tích tâm hồn, đánh giá con người, sự vật, sự việc Tâm hồn “lữ khách” luôn đượcnhà văn tập trung khai thác, do đó nên ngoại diện của họ không được nhà văn miêu tả.Đây là nghệ thuật xây dựng “nhân vật không trọn vẹn” của Kawabata Có thể nói “nhânvật không trọn vẹn” là sản phẩm của nguyên lí thẩm mĩ của người Nhật Bản: nguyên líyugen, tức là vẻ đẹp của điều nói lấp lửng – cái đẹp nằm ở chiều sâu của sự vật chứ không
Trang 22muốn bộc lộ ra bên ngoài Ngoài ra, kiểu “nhân vật không trọn vẹn” làm cho người “lữkhách” luôn có sự trống trãi, cô đơn trong tâm hồn Đó là vẻ đẹp mà con người không dễdàng nắm bắt được.
Dễ nhận thấy con người như vậy ở nhân vật Shimamura Là một con người tài tử
và nhàn rỗi, vì thế không ngạc nhiên khi trong cuộc sống, người đàn ông này lại đam mênhiều thứ Trong nghệ thuật, anh say mê với nghệ thuật biên đạo múa “Nói cho cùng, cũng chính với cái cảm giác phi thực ấy mà Shimamura say mê nghệ thuật biên đạo múa phương Tây” [11;tr.240], thời còn là sinh viên, anh cũng đã từng say mê nghệ thuật Nhật
Bản“Thời sinh viên, anh đặc biệt say mê môn vũ đạo và kịch câm” [11tr.240] Tuy nhiên,
khi nhận thấy được hiện trạng của các môn nghệ thuật ấy: “Chỉ ít lâu sau, anh đã cảm thấy đôi chút đắng cay về sự suy tàn của một hệ thống quá già cỗi nên trở thành cũ kỹ nhưng anh cũng không thể đồng ý với các mưu toan không thể chấp nhận của những nhà cách tân giả hiệu, mà các sáng kiến của họ chỉ cốt để chiều lòng người xem” [11;tr.240].
Đó là lí do anh nhanh chóng chuyển cảm hứng của mình sang nghệ thuật balê Rõ ràng,anh chẳng những không phải là một người nông nổi, hay dễ thay đổi mà trái lại, là mộtcon người với những suy nghĩ sâu sắc “không quá căn cứ vào bề ngoài, anh thường đoán được thực chất sâu kín không phải bao giờ cũng dễ thấy” [11;tr.243] Bản thân nhân vật
Shimamura cũng có những suy nhgĩ, trăn trở về những người phụ nữ mà anh tiếp xúc màtiêu biểu là Komako và Yôko Với nhân vật Shimamura, Komako là cô gái tốt bụng, sốngmột cuộc sống giản đơn và luôn hết mình trong tình yêu, cô luôn luôn là một con ngườigiàu nghị lực “sự kiên trì của cô dù sao cũng có một nét gì đó tinh khiết Và cả toàn bộ cuộc đời của cô nữa, nhờ vậy cũng được rọi sáng” [11;tr.258] Tuy nhiên, nhiều lúc nhân
vật Shimamura cũng băn khoăn về bản chất thật sự của Komako bởi những thái độ củachính bản thân cô Cho rằng Shimamura lừa dối mình khi anh đã biết mối quan hệ giữa côvới Yôko nhưng vẫn lặng im, Komako đã nói rằng “Tính nết anh lạ thật đấy!” Nếu với
người bình thường, câu nói ấy không có ý nghĩa gì xấu xa nhưng đối với Shimamura, mộtngười tinh tế thì câu nói ấy khiến Shimamura “không ưng chút nào”: “Cái giọng thô bạo
ấy ở một người đàn bà khiến Shimamura không ưng chút nào Cả trong hoàn cảnh, cả trong những việc anh làm đều không có điều gì biện bạch được cho giọng điệu của cô Đó
là một bản chất sâu sắc của cô mà cô để lộ ra chăng?” [11;tr.268] Dưới những suy nghĩ
của Shimamura, người đọc hình dung được một Komako hoàn toàn khác Khi ngheKomako đàn và hát, một tâm hồn nghệ sĩ như Shimamura không giấu nổi vẻ thán phục:
“Tự mình tập đàn hát ở vùng núi hẻo lánh này, phải chăng Komako đã được thấm đẫm những nguồn thần diệu, những sức mạnh huyền bí và những đức hạnh của thiên nhiên ở đây mà có lẽ cô không biết? Vì cho dù có được học chút ít kiến thức sơ đẳng nhưng chỉ
Trang 23tập theo sách mà chơi được những bản nhạc khó, lại chịu luyện đàn đến mức thuộc lòng
cả bài, thì rõ ràng đó là một chiến thắng lớn lao của ý chí” [11;tr.288], và với một tâm
hồn nhạy cảm, với lối phân tích sắc sảo cả trong việc viết sách lẫn con người, nhân vậtShimamura cho rằng chính tiếng đàn samisen góp phần nâng cao bản chất con người củaKomako: “lối sống của cô và cả con người cô nữa, nhờ tiếng đàn samisen nên không kém phần thánh thiện và có phẩm cách tuyệt vời” [11;tr.288] Những phân tích sắc sảo của “lữ
khách” Shimamura về Komako đã gián tiếp ca ngợi một Komamko với nghị lực phithường, vượt qua những khó khăn của cuộc sống Ngoài Komako, nhân vật Shimamuracòn bị ấn tưởng bởi Yôko, điều đó làm “lữ khách” Shimamura luôn có những suy nghĩ vềnhân vật nữ này Trước tiên, Yôko là một thiếu nữ xinh đẹp, nghị lực và luôn biết điều.Chính Shimamura cũng ngạc nhiên tự hỏi tại sao nàng lại biết điều đến thế: “Yôko gật đầu, không nói một lời rồi nàng bước đi rất nhanh, để Shimamura đứng đó sửng sốt tự hỏi tại sao bao giờ nàng cũng biết điều đến thế, nghiêm túc đến thế” [11;tr.289] Ngay cả giọng
nói và tiếng cười của Yôko, theo cách cảm nhận của nhân vật Shimamura cũng nói lên vẻđẹp tâm hồn của nàng: “một giọng nói đẹp đến nao lòng, chẳng khác gì những tiếng vang sống động của những ngọn núi xa xôi đầy tuyết phủ” [11;tr.290] hay “một tiếng cười không hề thô tháp vô lối, mà nó lặng dừng sau khi đã gõ vào cánh cửa trái tim chàng”
[11;tr.384] Chính nhờ những phân tích sâu sắc mà người đọc có thể thấy được vẻ thánhthiện nơi Komako và nhìn ra được vẻ đẹp tương phản giữa Komako và Yôko
Nói về tác phẩm Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc, tác phẩm có khá đông nhân vật nữ và hầu như
nhân vật nào cũng được khác họa dưới cái nhìn của nhân vật Kikuji - “lữ khách” duy nhấttrong tác phẩm Dưới cái nhìn được soi rọi bằng một tâm hồn nhạy cảm trước cái đẹp củaKikuji, hiện lên vẻ trái ngược của hai người phụ nữ tác động rất lớn đến cuộc đời chàng:
bà Ota - một người không thể sống mà không yêu, mang đậm nữ tính và một Chikako xấu
xí, luôn mang “nọc độc” gieo vào người khác Bà Ota qua cái nhìn của Kikuji, trước hết làmột con người hiền hậu: “Chàng không thể nào dò ra được một chút gì gọi là hận thù trong cung cách của bà Ota Bà có vẻ thiết tha dịu dàng, bà đã để lộ niềm vui khôn xiết đối với cuộc gặp gỡ bất thường này” [11;tr.515] Khi rơi vào mối tình trầm luân với
Kukuji, thì trong mắt Kikuji, bà Ota trở nên khó hiểu: “Chàng có thể tự hỏi phải chăng người đàn bà này là giống người Phải chăng bà ta là một thứ tiền nhân loại, hoặc người đàn bà cuối cùng của giống người” [11;tr.561] Qua cái nhìn không nhất quán của Kikuji
về bà Ota cho thấy rằng Kikuji, bên cạnh là một người có nội tâm phức tạp, còn là mộtngười với những phân tích sâu sắc về mọi vấn đề mà chính bản thân nhân vật đang đốimặt Đối với Chikako, qua cách cảm nhận của Kikuji có thể thấy anh ghê tởm người phụ
nữ này Ngay từ khi còn nhỏ, anh đã ám ảnh bởi chính Chikako: “Kikuji bị ám ảnh bởi ý
Trang 24nghĩ là một đứa trẻ được nuôi bằng sữa từ bầu vú có cái bớt đầy những long lá như thế kia thì có thể trở nên một quái vật” [11;tr.506] và tính cách xấu xa của Chikako ngày càng
hiện rõ hơn với những lần gặp mặt hay đối thoại với Kikuji Lần đầu là trong buổi trà đạo
mở đầu câu chuyện, đó là sự thiếu tế nhị của Chikako trong buổi trà đạo khi dùng chínhchén trà Oribe, vật đã từng là sở hữu của bà Ota, hành động đó khiến “Kikuji chưng hửng trước sự thiếu tế nhị của Chikako” [11;tr.517] Lần thứ hai Chikako khiến Kikuji khó chịu
là cô tự tiện đến nhà anh dọn dẹp nhà cửa, tự tổ chức buổi tiệc trà rồi mới thông báo choanh, điều đó là Kikuji hình dung: “Thái độ ngoan cố độc địa đó dường như vươn tới chàng qua đường dây điện thoại” [11;tr.541] Qua cảm xúc oán ghét, đôi khi phẫn nộ của
Kikuij đối với Chikako, có thể thấy Chikako hiện lên như một người có tâm địa độc ác,kinh tởm
Là một người thuộc thế hệ hậu trà đạo, Kikuji luôn muốn tổ chức một buổi trà thaylời từ giã trà đạo Tuy nhiên, với tâm hồn rung động trước cái đẹp, anh không thể cưỡnglại vẻ đẹp của những dụng cụ uống trà và từ trong vẻ đẹp ấy là hình ảnh của người chủ sởhữu nó: “chính cái bề mặt mát rượi một vẻ ấm áp của chiếc bình, ,làm chàng nghĩ dến bà Ota” [11;tr.634], Nhìn chiếc chén Shino và Karatsu, Kikuji lại nghĩ: “Đúng là một cái chén của người đàn ông và một cái chén của người đàn bà” [11;tr.367] Phải là người có
tâm hồn nhạy bén thì mới có thể liên tưởng sâu sắc đến vậy?
Với một tâm hồn nhạy cảm, Eguchi trong Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê đã khắc họa bản chất
của người đàn bà quản lí trong khách điếm ngay lần đầu gặp mặt: “Mụ có lẽ quá xa tuổi bốn mươi tuy giọng nói còn trẻ và cố tạo cho mình một dáng điệu, một cung cách điềm tĩnh và đứng đắn” [10;tr.6] hay giọng giễu cợt của người đàn bà ấy trong lần Eguchi đến
ngôi nhà ấy lần thứ hai: “Eguchi cảm thấy mụ có vẻ cười cợt, chế giễu ông đằng sau lối
ăn nói dễ dàng, lưu loát….Mụ nói không nhìn ông, đôi môi mỏng dính Eguchi thấy mình phát cáu trước vẻ châm chọc che giấu trong lời nói, nhưng ông không biết nói sao cả”
[10;tr.43] Cách nhìn nhận, suy nghĩ của Eguchi làm nổi bật hình ảnh một người tú bàtừng trải, lạnh lùng, có phần giả tạo và giễu cợt, qua đó bộc lộ thái độ không mấy thiệncảm với người đàn bà Những kinh nghiệm của tuổi trẻ cùng với sự từng trải theo tuổi táccòn giúp Eguchi, đôi khi cảm nhận được tâm hồn của những người đẹp ngủ mê: “Nàng đã nằm mơ nhưng giấc mơ đó bây giờ đã xong chưa? Có lẽ đó không phải là một giấc mơ đâu, Egucih tự nhủ, mà là những tiếng nói vô thức, và thói quen phản đối, chống cự mỗi khi một lão khách ra tay quá mạnh trên thân xác nàng Phải vậy không?” [10;tr.58].
Những câu hỏi không bao giờ được giải đáp của Eguchi thể hiện một niềm cảm thông sâusắc, một sự thương xót với những người đẹp ngủ mê Sự sâu sắc, từng trải nơi Eguchi cònthể hiện qua những suy nghĩ về những người thân trong gia đình và những người đã từng
Trang 25đi qua đời ông Nhìn nhận về cuộc hôn nhân của cô con gái út, Eguchi đã suy nghĩ:
“Nhưng sự đính hôn thình lình này có phải là phản ứng lại cú sốc mà cô đã chịu đựng?
Có phải trong niềm cay đắng, oán giận, thất vọng chán chường mà cô tìm đến anh chàng thứ hai? Có phải trong sự rối loạn vì vỡ mộng với anh chàng thứ nhất mà cô để mình rơi vào vòng tay anh chàng thứ hai?” [10;tr.65], những trăn trở của Eguchi thể hiện tình yêu
thương của ông dành cho cô con gái út cũng như sự am hiểu tâm lí tuổi trẻ, những suynghĩ bồng bột, những quyết định chưa chính chắn nơi những người trẻ tuổi Ông Eguchicũng có những suy nghĩ nhằm phân tích bên trong sâu thẳm của người đàn bà mà ông gặp
ở Kobe: “Nhưng tại sao người đàn bà ấy lại chịu ăn nằm với ông, dễ dãi và buông thả?
Đó là một điều chưa bao giờ xảy ra trong suốt gần bảy mươi năm đời ông Con người nàng chẳng lộ ra cái gì đĩ thỏa hay phóng đãng” [10;tr.85] Chính những suy nghĩ ấy làm
tâm hồn Eguchi trở nên sâu sắc Là một người sâu sắc, tâm hồn ông già Eguchi không hề
bị vấn đục bởi nhục dục dù ngủ cùng những người đẹp khỏa thân trong trạng thái ngủ mê.Tuy có những lúc ông không kiềm chế được bản thân cũng như có ý định phá vỡ nhữngquy định cấm nơi ngôi nhà nhưng đó chỉ là những phút đòi hỏi của một người chưa “sứccùng lực tận” mà thôi bởi “ông không có ý để mình buông thả vào cái thứ trò chơi khỉ gió, già nua và xấu xí vì thực sự ông chưa đến nổi lụm khụm yếu ớt như những lão già khác để cần một cái nhà chứa kiểu này” [10;tr.39] mà ông đến ngôi nhà có người đẹp ngủ mê để
tìm cái cảm giác mà “trong suốt sáu mươi bảy năm của đời mình ông chưa hề trải qua một đêm với đàn bà một cách trong lành như thế” [10;tr.39].
Tóm lại, chân dung nhân vật “lữ khách” được Kawabata khắc họa không đặt trọngtâm ở ngoại hình bởi như người viết từng đề cập, với Kawabata hễ là ngươi đàn ông, làphái mạnh thì sẽ tôn thờ cái đẹp Kawabata chú trọng vào phân tích tâm hồn “lữ khách”bởi chỉ những người có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế thì mới có thể phát hiện ra vẻ đẹp cũngnhư cảm nhận một cách sâu sắc về vẻ đẹp ấy Và sau mỗi lần cảm nhận vẻ đẹp, tâm hồnngười “lữ khách” như được thanh lọc trước những bụi bặm của cuộc sống hiện đại
2.2.
2.2 H H Hà à ành nh nh tr tr trìììình nh nh kh kh khá á ám m m ph ph phá á á ccccá á áiiii đẹ đẹ đẹp p p ccccủ ủ ủa a a nh nh nhâ â ân n n v v vậ ậ ậtttt “ “ “llllữ ữ ữ kh kh khá á ách ch ch” ”
2.2.1 2.2.1 Kh Kh Khá á ám m m ph ph phá á á ccccá á áiiii đẹ đẹ đẹp p p trong trong trong thi thi thiêêêên n n nhi nhi nhiêêêên n
Có thể nhận thấy, trong các tiểu thuyết của Kawabata, dù ít hay nhiều thì nhà văncũng dành những trang viết để miêu tả thiên nhiên Thiên nhiên trong tác phẩm củaKawabata thường mang đậm màu sắc Nhật Bản, đẹp một cách thanh khiết và lắng đọng.Mặc dù cái đẹp của thiên nhiên không phải là đích đến cuối cùng trong hành trình khámphá cái đẹp của nhân vật “lữ khách”, nhưng việc cảm nhận được cái đẹp của thiên nhiêncũng cho thấy một tâm hồn nhạy cảm trước những vẻ đẹp của cuộc sống
Trang 26Trong ba tác phẩm được khảo sát, có lẽ nhân vật Shimamura là người thích thúnhất trước vẻ đẹp của thiên nhiên Đó là lí do tại sao anh lại đáp tàu lên phương Bắc, đếnvới một xứ sở hoàn toàn cô lập với thế giới bên ngoài mà anh gọi nó bằng cái tên đồngthời cũng là đặc điểm vùng đất này: Xứ tuyết Chắc hẳn sẽ có những thắc mắc về việcShimamura lên Xứ tuyết - một nơi mà quanh năm phủ đầy tuyết, một người tinh tế, tài tửnhư Shimamura lại đến một xứ sở buồn chán ấy thì thật là khó hiểu, chẳng những một lần
mà đến ba lần vào các mùa xuân, thu và đông Tuy nhiên, chính bởi tâm hồn tài tử, tinh tếnên Shimamura mới bị Xứ tuyết cuốn hút bởi cảnh tuyết dát bạc trên những sườn núi Vẻđẹp của Xứ tuyết là vẻ đẹp mà theo Shimamura cảm nhận “vừa bước ra khỏi ngưỡng nhà trọ, thì núi non và làn không khí ngát hương thơm của cành non lá mới đã cuốn ngay anh đi” [11;tr.245], một vẻ đẹp làm con người “cảm thấy chân tay mệt mỏi một cách dễ chịu”.
Đến với Xứ tuyết, Shimamura đã chọn cách thoát khỏi Tokyo phồn hoa, ồn ào, xa rời mộtthế giới văn minh, công nghiệp để đến với một thế giới hoang sơ, thuần khiết, với bầukhông khí trong lành, xanh và sạch
Theo quan niệm của người Nhật Bản, tuyết đại diện cho sự trong trắng và thanhkhiết Tuyết còn là một trong những biểu tượng của thiên nhiên bất biến: hoa, tuyếtnguyệt Do đó, vẻ đẹp của thiên nhiên trên nền tuyết được khắc họa nổi bật: “thứ đầu tiên đập vào mắt anh khi từ xe lửa bước xuống, là tấm áo choàng trắng bằng bạc lộng lẫy, lóng lánh dưới mặt trời tít tự trên cao trong núi, sáng ánh tưởng chừng đó chính là từng đợt sóng của ánh thu tuôn trào lên mặt đất” [11;tr.306] Cảnh vật nơi Xứ tuyết dường như
hòa vào vũ khúc của tuyết Dưới cái nhìn tinh tế của Shimamura, thiên nhiên nơi Xứ tuyếtmang một vẻ đẹp khác nhau vào mỗi mùa Vào mùa đông, cảnh vật nơi đây như được phủmột lớp bạc, lấp lánh trong ánh sáng: “phía dưới, anh trông thấy toàn cảnh núi non và ở
xa xa, những đỉnh núi đầy tuyết lấp lóa dịu dàng trong ánh sáng” [11;tr.265] Chính vì
được phủ một lớp bạc lấp lánh tạo cho Shimamura cảm giác dường như thiên nhiên vàomùa này trở nên tươi sáng: “Núi non vừa lúc trước có vẻ như bị đẩy dần xa bởi sắc mầu
ảm đạm của mùa thu, đã sống động và ngời sáng lên trong tuyết” [11;tr.362] Trong khi
đó, mùa xuân nơi Xứ tuyết theo cách cảm nhận của Shimamura là một không gian trànđầy sức sống: “khi núi cao lại có một màu xanh mới và ngọt ngào những hương thơm tuyệt diệu của mùa xuân” [11;tr.233] Màu xanh của núi non hay nói khác đi là màu xanh
của những loài thực vật đang đâm chồi nảy lộc chào đón năm mới, làm cho tâm hồn “lữkhách” tràn trề sức sống Rời xa thiên nhiên đầy sức sống của mùa xuân, mùa thu đến baotrùm không gian một màu ảm đạm Tuy nhiên với Shimamura, Xứ tuyết vào mùa thumang đến cho anh những cảm giác thích thú: “những thảm hoa thếp bạc mà mùa thu đã trải lên dốc núi khiến anh ngắm hoài không chán mắt” [11;tr.304] Dưới cái nhìn của
Trang 27Shimamura, thiên nhiên mỗi mùa nơi Xứ tuyết có những thay đổi rõ rệt tạo nên đặc trưngriêng cho từng mùa và với cảm nhận tinh tế của mình, Shimamura cảm nhận được những
vẻ đẹp đang thay đổi đó một cách sâu sắc Bị ám ảnh bởi vẻ đẹp Xứ tuyết cho nên khi trút
bỏ “bộ áo lóng lánh của sương tuyết băng giá”, Shimamura dường như không cảm nhận
được vẻ đẹp thiên nhiên dọc hai bên đường tàu chạy Với anh, thiên nhiên dọc hai bênđường mang một vẻ nhàm chán, không thu hút bởi sự đơn điệu của cảnh vật: “với những hình kiến trúc kì lạ nào là hình tháp, hình mũi tên, hình pháo đài trên đường viền các đỉnh núi phô ra một cách duyên dáng các sườn dốc rất đẹp của nó và nhấp nhô kéo dài mãi đến tận rặng núi ngang ở cuối cùng, nơi mặt trăng có màu sắc cuối ngày Đó là một điểm hấp dẫn duy nhất, không có một điểm nào khác, trong toàn bộ vùng đồng bằng vắng
vẻ, buồn bã và đơn điệu này” [11;tr.301] Đối với Shimamura, thiên nhiên Xứ tuyết
dường như mang vẻ đẹp hoàn hảo, là tiêu chí, là cột mốc để cảm nhận cái đẹp, bởi thế anhthường so sánh cảnh vật nơi khác với những gì anh bắt gặp nơi Xứ tuyết: “Mặt trăng đã mất sắc nhạt của ánh sáng ban ngày, nhưng vẫn còn mờ chứ chưa sáng tỏ run rẩy như thường thấy ở những đêm trong veo miền núi” [11;tr.301].
Thiên nhiên Xứ tuyết trong cái nhìn của Shimamura còn đẹp bởi những gam màucủa cảnh vật, hoặc tự nó toát lên vẻ đẹp, hoặc tương phản nhau để làm nổi bật lên cái đẹp
Đó là màu xanh nơi mảnh vườn làm cho người thưởng thức nó cảm thấy sảng khoái.Thông thường, màu xanh gợi cho người ta sự yên bình nhưng dưới cái nhìn của nhân vậtShimamura, màu xanh của mảnh vườn hòa với ánh ban mai, bỗng trở nên lạ lẫm, gây chochính bản thân anh một cảm giác mới lạ: “Mảnh vườn thật bình thường lại rực ánh ban mai khiến Shimamura được hưởng lần đầu tiên cảm xúc tươi tắn lạ, như được đánh bóng lên trong buổi sáng mát lành” [11;tr.327] Màu trắng cũng gợi cho Shimamura sự thanh
khiết, tuy nhiên không chỉ màu trắng của tuyết mới gây nên cảm giác ấy, màu trắng củanhững bông Kaya cũng gợi cho Shimamura sự thanh khiết không thua kém gì tuyết vànay được chiếu rọi dưới ánh nắng ban mai càng thêm rực rỡ: “trên sườn dốc đứng ở phía bên sườn kia, đung đưa những bông Kaya bạc trắng, một màu trắng rực rỡ trong ánh sáng buổi ban mai” [11;tr.329] Đôi khi, vẻ đẹp thiên nhiên được tạo nên từ sự tương
phản màu sắc của cảnh vật: “Những cây bá hương, phủ một lớp voan trắng mỏng, nổi lên trên nền tuyết, dù không hề trộn vào nhau vẫn tạo thành một khối sẫm mà cây nào cây ấy, hiện ra với dáng nét riêng biệt rõ ràng” [11;tr.362] hay sự tương phản giữa màu sắc của
hoa và lúa cũng tạo cho Shimamura cảm giác yên lành: “một cánh đồng phơi hoa trắng trên những cụm lúa đỏ thật yên lành” [11;tr.332] Phải là một người có cái nhìn tinh tế,
Shimamura mới có thể phát hiện ra những vẻ đẹp ấy, những vẻ đẹp ẩn sâu không dễ tìmthấy Là một người với sở thích leo núi, nhân vật Shimamura luôn hướng tầm quan sát
Trang 28của mình vào những ngọn núi, dù là trên chuyến tàu hay ở quán trọ Chính vì thế, anhthường nhận ra những gam màu ảm đạm tồn tại nơi những ngọn núi: “Màu đỏ sậm rỉ sắt
và mầu nâu đậm dần dần đã choán các triền núi và trong phút chiều đổ nhanh, những đỉnh núi chỉ ngời lên thứ màu xám lạnh của đá” [11;tr.348] Chính sự ảm đạm được tạo ra
những gam màu tối khiến cảnh vật, núi non trong buổi chiều mang vẻ đẹp cô đơn, thoángbuồn: “Các quả núi đen sẫm nhưng vẫn rực sáng ánh tuyết Và đối với Shimamura, lúc này chúng có vẻ trong suốt một cách kì lạ và toát lên một nổi buồn không tên: sự cân bằng hài hòa giữa bầu trời và đường gấp khúc tối sẫm của các đỉnh núi đã bị phá vỡ”
[11;tr.260-261] Cảm thức Aware trong văn hóa Nhật Bản - một cảm thức liên quan đến ýthức vô thường của Phật giáo, là niềm bi cảm , xao xuyến trước vẻ đẹp não lòng của sựvật - dường như xuất hiện trong đoạn miêu tả trên
Thiên nhiên trong Xứ tuyết ngoài vẻ đẹp của từng mùa, vẻ đẹp của cảnh vật vớinhững gam màu khác nhau còn là vẻ đẹp của sự yên tĩnh Khung cảnh thiên nhiên mang
sự lắng đọng khôn cùng Khu rừng bá hương trong tác phẩm được đề cập không dưới mộtlần và lúc nào cũng mang một vẻ yên tĩnh: “Bầu trời bị che khuất bởi một lớp gần như màu đen những hàng cây mọc sít, những cành cây và những lá kim xanh thẫm dày đặc Yên tĩnh và thanh bình như vang lên một bài thánh ca” [11;tr.246] hay “Họ dạo ngang qua khu rừng bá hương, nơi mà sự yên tĩnh dường như đang tuôn chảy ra thành những giọt nước mát mẻ và êm đềm” [11;tr.331] Sự yên tĩnh của khu rừng càng làm cho không
gian Xứ tuyết trở nên lắng đọng hơn Một sự yên tĩnh đến kì lạ, sự yên tĩnh không làmcho con người ta cảm thấy lạc lõng, cô đơn mà trái lại, cảm thấy được thanh lọc tâm hồn
Có lẽ chẳng nơi đâu Shimamura có thể tìm được sự yên tĩnh như ở Xứ tuyết, ngay cả màutrắng tinh khôi của tuyết cùng với hơi lạnh cũng làm cho Shimamura cảm thấy một sựtĩnh mịch: “Cửa sổ khuôn vào màu bầu trời xám quánh những búi tuyết rơi thẳng xuống như những đóa hoa đơn trắng trong sự yên tĩnh hài hòa và êm đềm, có chút gì siêu nhiên”
[11;tr.362] Và với một người đã quá quen với cuộc sống ồn ào, nhộn nhịp nơi Tokyo thì
sự yên tĩnh đã gây cho Shimamura cảm giác tuyệt vời: “Trong màu trắng của tuyết, phần lùi sâu của các cửa ra vào hình như càng sâu hơn một cách lặng lẽ Tất cả đều như đắm chìm vào sự câm lặng của đất” [11;tr.229] Cảm nhận được vẻ đẹp trong sự yên tĩnh, phải
chăng Shimamura đang trở về với cảm hứng trung tâm của Thiền tông – cảm hứng Sabi,một cảm thức Thiền tông, là cảm thức về sự sâu xa, tĩnh mịch không giới hạn của sự vật,
mà ở nơi đó con người thoát khỏi bản ngã của mình để tiến lên vô ngã Vậy vẻ đẹp thiênnhiên mà nhân vật “lữ khách” Shimamura đi tìm là vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, thanhkhiết, yên tĩnh và lắng đọng Một vẻ đẹp giúp nhân vật “lữ khách” thanh lọc lại tâm hồn,tìm kiếm bản ngã của chính mình
Trang 29Nếu “lữ khách” Shimamura tìm kiếm vẻ đẹp thiên nhiên nơi Xứ tuyết thì Kikujicảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên ngay chính nơi mình đang sống Là một người độcthân, hằng ngày đều đặn đến sở làm rồi về nhà, cuộc sống tưởng chừng như lặp đi lặp lại
ấy giúp anh phát hiện ra vẻ đẹp của cảnh vật xung quanh mình Là một con người với tâmhồn đầy phức tạp, vì thế nên vẻ đẹp của thiên nhiên dưới cái nhìn của Kikuji mang niềm
cô tịch, là sự tĩnh lặng với những màu sắc ảm đạm: “Ánh nắng mặt trời từ phía tây đổ chang hòa trên mặt nhựa, con đường ánh lên như một thỏi kim loại Hàng cây đứng sấp bóng mặt trời trở thành những hình dạng gần như tối đen Bóng cây lạnh lẽo, cành vươn dài với những chùm lá xum xê” [11;tr.542] hay “Vầng mặt trời dường như sắp rơi xuống trên những cành cây Lùm cây trở thành đen xạm” [11;tr.564] Cảnh vật lúc hoàng hôn đã
chìm đắm trong yên lặng nay kết hợp với những gam màu tối góp phần làm cho cảnh vậttrở nên u buồn hơn, tạo cho thiên nhiên sự lắng đọng Đó chính là cái đẹp của chất Sabi.Cảnh vật trong gam màu tối ấy trở nên tĩnh mịch và dường như vô tận Hầu như vớinhững “lữ khách” của Kawabata, ánh sáng hoàng hôn luôn mang một cảm giác u buồn,dường như đó là cảm giác mất đi sự sống, vì thế nhìn cảnh vật lúc hoàng hôn họ đều cảmnhận những màu sắc ảm đạm Nhân vật Shimamura luôn nhìn cảnh vật vào buổi hoànghôn với những gam màu rỉ sắt, đỏ hung thì Kikuji nhìn khung cảnh ấy với gam màu xám.Đôi khi, sự tình cờ của cảnh vật lại tạo cho Kikuji những liên tưởng khá đặc biệt: “Khi chàng nhìn vào bóng tối dày đặc của cây bạch-lựu, bỗng dưng chàng liên tưởng đến cái bớt của Chikako” [11;tr.546] Mang tâm thức của một thế hệ “hậu trà đạo”, con người
Kikuji lúc nào cũng như nặng trĩu, đó là lí do dưới cái nhìn của anh, vẻ đẹp của thiênnhiên lúc nào mang một dáng dấp của nỗi buồn, một nỗi mơ hồ không thấy lối thoát nhưchính con người của anh hiện tại: “Trước mặt ngôi lều, một cây trúc đào lớn nặng trĩu những bông, dáng trắng toát mơ hồ Phần không gian còn lại, vì đêm tối quá dày đặc đến nổi chàng khó lòng mà phân biệt được đường vạch giữa cây cối và bầu trời” [11;tr.620].
Một nỗi buồn mơ hồ mà ngay cả chủ thể cũng không thể lí giải nổi vì sao Tuy nhiên,không phải lúc nào thiên nhiên trong cái nhìn của Kikuji cũng đều mang vẻ đẹp cô đơn,của nỗi buồn, đôi khi, khung cảnh thiên nhiên qua cái nhìn của Kikuji cũng mang nhữnggam màu tươi sáng: “Hôm nay trời ấm áp Kikuji đẩy rộng các cửa lều Hàng cây phong xanh rì nơi cửa sổ phía sau Fumiko, Bóng của lá cây, từng lớp từng lớp, tỏa trên mái tóc Fumiko” [11;tr.606] Phải chăng chính nhờ sự xuất hiện của những người phụ nữ, những
vẻ đẹp ám ảnh nhân vật “lữ khách” mà thiên nhiên trong cái nhìn của Kikuji mang một vẻđẹp nhiều sức sống hơn, cũng như chính họ đã làm thay đổi những suy nghĩ trong anh Làmột người mang tâm trạng đầy phức tạp, tuy nhiên vốn là một nhân vật “lữ khách”,Kikuji vẫn còn đó sự tinh tế trong cách cảm nhận mọi thứ xung quanh mình, mà cụ thể ở
Trang 30đây là thiên nhiên Sự tinh tế trong cách cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên ở Kikuij được thểhiện khi anh cảm nhận sự thay đổi cảnh vật bởi hiệu ứng màu sắc: “Khi một cây trúc đào
nở hoa, màu đỏ của hoa đối chọi với màu xanh của lá trông giống như ánh nắng chói chang của mặt trời mùa hạ; nhưng khi hoa trúc đào nở trắng, sự hòa hợp giữa hai màu trắng xanh tạo nên một cảm giác lạnh lẽo mãnh liệt” [11;tr.624-625] Phải là con người
say mê cái đẹp, anh mới có thể phát hiện những đặc điểm độc đáo trên Với cái nhìn củaKikuji, phụ thuộc vào màu sắc của hoa mà cây trúc đào mang hai vẻ đẹp khác nhau, một
vẻ đẹp của mùa hạ chói chang và một vẻ đẹp của mùa đông lạnh lẽo Ánh sáng tươi mátcủa ngôi sao hôm, thứ ánh sáng mọi người vẫn thường xuyên bắt gặp bỗng trở nên đẹpqua sự cảm nhận của Kikuji: “Ngôi sao trở nên lớn hơn, sáng long lanh qua lớp sương mù buổi sáng Ánh sáng sao trông thật tươi mát” [11;tr.641] Vẻ đẹp ấy khó mà bắt được bởi
nó chỉ xuất hiện trong khoảng khắc nào đó Cũng như nhân vật Shimamura trong X X Xứ ứ tuy
tuyếếếếtttt, Kikuji cũng cảm thấy được thanh lọc tâm hồn bởi thiên nhiên Với nhân vật “lữ
khách”, cảm giác thanh lọc tâm hồn chỉ xuất hiện khi họ cảm nhận được những gì thanhkhiết, tinh khôi của cảnh vật, với nhân vật Shimamura là màu trắng của tuyết, của bôngKaya, còn với nhân vật Kikuji là lớp sương mai buổi sớm: “Lớp sương mai thấm ướt hàng cây nơi hàng hiên Kikuji có cảm tưởng những ngõ ngách trong đầu mình vừa được rửa sạch” [11;tr.532] Với một người cô độc như Kikuji, vẻ đẹp thiên nhiên trong cái nhìn
của anh là một vẻ đẹp tĩnh lặng, không ồn ào, một vẻ đẹp của sự cô đơn, tĩnh mịch vô hạncủa cảnh vật
Với tất cả các nhân vật “lữ khách”, khám phá thiên nhiên là một phần trong chuyếnhành trình của họ Dù đôi khi có chủ ý hay vô thức nhưng với tâm hồn nhạy cảm củamình, họ đều đều có thể nhận biết được vẻ đẹp của thiên nhiên Nhân vật Eguchi trong tác
phẩm Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê tìm đến quán trọ có các người đẹp ngủ mê để trải nghiệm cảm
giác đau khổ của tuổi già, tuy nhiên ông vẫn cảm nhận được những chuyển động của cảnhvật xung quanh ngôi nhà: “Vùng này có khí hậu ấm áp mà Gió không đủ mạnh để làm lá vàng bay Eguchi đến nơi này hơi khuya khoắt nên không thể nhìn thấy địa thế ngôi nhà; nhưng ông ngửi được mùi biển mặn Khu vườn trông rộng so với ngôi nhà này rất nhiều cây thông và cây phong cao lớn Những cành thông sắc nhọn chĩa mạnh lên nền trời.”
[10;tr.10] Dường như tất cả các giác quan của Eguchi chưa bị giảm mặt dù ông đã sáumươi bảy tuổi Không chỉ một lần mà đến hai lần Eguchi cảm nhận được nhịp thở củathiên nhiên trong ngôi nhà này Lần thứ hai là vào đêm thứ ba ông đến ngôi nhà: “Vùng này có khí hậu ấm áp, và lá úa mùa đông thường không lìa cành; nhưng những làn gió nhẹ tưởng chừng như không thổi qua và ông nghe được tiếng lá rụng xào xạc ngoài vườn” [10;tr.94] Chính những cảm nhận về sự yên tĩnh của cảnh vật tạo cho Eguchi cảm
Trang 31giác: “Ngôi nhà im ắng quá, tưởng như nhà ma ở một nơi vắng vẻ” [10;tr.94] Cả không
gian ảm đạm như chính tuổi xế chiều của Eguchi Thời trai trẻ, Eguchi đã từng khám phá
vẻ đẹp thiên nhiên ở Kyoto, một vẻ đẹp thiên nhiên mà Eguchi vẫn còn nhớ trong tiềmthức: “Lá trúc sáng như bạc trong nắng ban mai Trong hồi tưởng của Eguchi, lá trúc tươi tốt và mềm mại, trắng sáng như bạc ròng, và cành trúc hình như cũng làm bằng bạc”
[10;tr.33] Một vẻ đẹp sáng loáng Sự kết hợp giữa màu xanh của lá trúc và ánh nắng banmai tạo nên một sự tươi sáng cho không gian Lá trúc tuy lấp lánh màu bạc nhưng không
vì thế mà trở nên cứng cáp như thứ kim loại ấy, trái lại “mềm mại” như cách cảm nhận
của Eguchi Một cách cảm nhận cực kì tinh tế mà chỉ những người có sự nhạy cảm, khảnăng quan sát tinh tế mới có thể cảm nhận được Ngoài vẻ đẹp của khu rừng trúc, Eguchicòn cảm nhận được vẻ đẹp của con suối trong lần đi dạo ấy: “Đi qua cánh rừng thì hai người trèo ngược lên dòng suối trong xanh lên tận chỗ thác nước đang đổ xuống rào rào, màn nước long lanh ánh mặt trời” [10;tr.33] Chiếm toàn bộ không gian là khung cảnh kì
vĩ Có cảm giác như dòng suối có thể gội rửa tất cả những gì ưu tư phiền muộn Tuy nhiên,cái vẻ đẹp gây cho Eguchi nhiều ấn tượng nhất là vẻ đẹp của cây trà hoa quắt khổng lồtrong khuôn viên đền Subakidera Một vẻ đẹp tĩnh lặng đến khôn cùng, mang âm hưởngcủa chất Sabi: “cây trà hoa cao lớn nơi đây có tuổi thọ bốn trăm năm nở hoa song đôi, ngũ sắc và lại rụng từng cánh một” [10;tr.61] hay “Những cụm hoa trà trên cây,…, trông đẹp hơn khi được chiếu sáng từ phía sau hơn là mặt trời gọi thẳng….Họ nhìn mặt trời nhưng đám lá dày và những cụm hoa không để ánh sáng qua lọt, như thể ánh sáng chìm đắm giữa hoa lá và mặt trời phân vân treo mình trên những bờ bóng tối” [10;tr.62].
Chính những đóa hoa trà làm Eguchi “không nghe gì các tiếng động ồn ào, náo nhiệt của thành phố” [10;tr.62] Một vẻ đẹp tĩnh lặng đến nỗi con người ta quên đi những ồn ào bên
ngoài thì đó đúng là vẻ đẹp của sự yên tĩnh hiếm thấy Vẻ đẹp của cây hoa trà không toátlên từ đặc điểm nở ra năm sắc hoa mà đó là vẻ đẹp thời gian, chính bản thân Eguchi cũngcảm nhận được điều đó: “Eguchi để mình đắm chìm trong trầm tư khi lặng ngắm cây hoa trà hơn là đi đếm các màu hoa Thật tuyệt diệu một cây hoa bốn trăm năm lại cho ra đời những đóa hoa rực rỡ thế này Nắng chiều bị hút hẳn vào trong cây khiến những cụm hoa
và cành lá ấm hẳn lên” [10;tr.62] và đối với Eguchi, vẻ đẹp của cây hoa trà đang nở rộ và
hình ảnh của những sắc hoa khác nhau thậm chí còn tuyệt đẹp hơn sự sung mãn củanhững cô gái: “Dĩ nhiên, con gái ông cũng như cô gái đang ngủ đây đâu có được sự sung mãn của cây trà hoa, Nhưng sự sung mãn của một thân xác cô gái trẻ không phải là cái ta biết được bằng cách ngắm nhìn hay nằm ngoan ngoãn bên mình cô Không thể nào so sánh được với sự tràn đầy rực rỡ của những đóa hoa trà” [10;tr.67] Một ông lão đã có
sáu mươi bảy tuổi đời như Eguchi, trải qua thời trai trẻ với những ồn ào, náo nhiệt nên
Trang 32không có gì ngạc nhiên khi ông luôn trân trọng những vẻ đẹp mang sự yên tĩnh, lắng đọngtrong tâm hồn người thưởng thức.
Dưới cái nhìn của những nhân vật “lữ khách” Shimamura, Kikuji hay Eguchi, một
vẻ đẹp thiên nhiên thực thụ là một vẻ đẹp thiên nhiên trong tĩnh lặng, trong sự tĩnh mịchcủa sự vật, một vẻ đẹp thiên nhiên khiến cho người thưởng thức không bao giờ giới hạnđược không gian, thời gian và quan trọng hơn, đó là vẻ đẹp khiến con người ta có thểthoát khỏi bản ngã của chính mình
2.2.2 2.2.2 Kh Kh Khá á ám m m ph ph phá á á ccccá á áiiii đẹ đẹ đẹp p p ở ở ở con con con ng ng ngườ ườ ườiiii
Kawabata là nhà văn có xu hướng khuynh nữ, chính vì thế mà trong sáng tác củaKawabata, các nhân vật của nhà văn thường được miêu tả rất đẹp bởi người phụ nữ theoquan niệm của người Nhật Bản là nơi lưu giữ cái đẹp, và là nơi con người có thể tìm thấybất cứ vẻ đẹp nào trên thế gian Vì lí do đó mà vẻ đẹp của người phụ nữ là một phần trongcuộc hành trình của những nhân vật “lữ khách” Những nhân vật “lữ khách” củaKawabata bị mê hoặc bởi cái đẹp nhiều màu sắc của những người phụ nữ Và dường như,chính vẻ đẹp của người phụ nữ là vẻ đẹp có sức cuốn hút mãnh liệt đối với nhân vật lữkhách trên hành trình khám phá cái đẹp
Nhân vật Shimamura trong chuyến hành trình tìm kiếm cái đẹp của mình ở Xứtuyết, ngoài việc phát hiện ra vẻ đẹp của thiên nhiên, anh còn phát hiện ra vẻ đẹp củanhững người phụ nữ Trong chuyến đi lần đầu, anh say mê trước vẻ đẹp của cô geishaKomako, hơn nữa, trong chuyến đi lần hai, khi mà những “kỷ niệm tinh tế và sống động,
ký ức nóng hổi và đầy nhục cảm về người đàn bà mà anh sắp gặp” [11;tr.224] vẫn còn tồn
tại trong anh thì anh lại bắt gặp đôi mắt của một phụ nữ kỳ lạ đi cùng chuyến tàu Từ đóanh âm thầm chiêm ngưỡng vẻ đẹp tuyệt diệu ấy dưới cái nhìn lơ đễnh qua tấm kính cửa
sổ toa tàu: “Shimamura từ từ dõi theo ánh sáng từ từ dịch chuyển trên khuôn mặt, mà không làm mờ nó, đó là một đốm lửa lạnh lẽo thấp thoáng rất xa Và khi nó rơi vào đúng đồng tử của người đàn bàn trẻ, khi ánh mắt và ánh lửa trùng khít nhau, thì đó là một vẻ đẹp huyền diệu lạ kỳ, con mắt rực sáng ấy như lênh đênh trên các đại dương đêm tối và trên những cơn sóng xô nhanh của các núi non” [11;tr.227] Đó là vẻ đẹp của Yôko, một
vẻ đẹp mà đối với Shimamura là vẻ đẹp bước ra từ huyền thoại Chính vì bị cuốn hút bởinhững vẻ đẹp đó, Shimamura thường xuyên đáp tàu lên phương Bắc vào những kì nghỉhay những lúc anh cảm thấy quá ngột ngạt trước sự ồn ào của thành phố Tokyo Xứ tuyếtvới anh không những là nơi mang lại cảm giác yên tĩnh mà còn là nơi anh tìm kiếm những
vẻ đẹp đích thực
Nói về Komako, một người phụ nữ mang vẻ đẹp mà theo cảm nhận củaShimamura: “Cô gái gây cho Shimamura cảm giác tuyệt vời bởi vẻ sạch sẽ và tươi mát
Trang 33của cô” [11;tr.234] Có thể thấy, chính Xứ tuyết đã tạo nên vẻ đẹp của Komako, một vẻ
đẹp trong trắng thuần khiết của một cô gái geisha Komako mang vẻ đẹp hoàn hảo: “căng lên trong giây lát để rồi lả lơi đầy nữ tính trong sự trẻ trung đẹp đẽ của cô” [11;tr.289],
những biểu hiện của cơ thể cho thấy vẻ đẹp tổng quát của Komako Qua lời miêu tả củaShimamura, vẻ đẹp của Komako biểu hiện qua từng chi tiết, và dường như vẻ đẹp củaKomako tập trung nhất nơi khuôn mặt, đó là lí do nhân vật Shimamura luôn chú ý đếntừng chi tiết trên khuôn mặt, miêu tả nó một cách tỉ mỉ: “Mũi cô thanh tú và cao, với một
vẻ côi cút trên gương mặt, khiến anh cảm động và gợi một chút buồn, nhưng đôi môi cô thì giống như một nụ hoa lúc chụm lúc nở, nồng nàn, sống động và khao khát , môi cô lại mịn màng đỏ mọng dồi dào sức sống Hàng mi của cô không cong, cũng không hướng lên phía trên, cắt ngang mí mắt thành một đường thẳng đến nổi trong có vẻ kỳ dị, thậm chí buồn cười, nếu nó không được bao bọc một cách tế nhị bởi hàng long mày đậm, cong
và mượt như tơ lụa” [11;tr.248], “Ánh mắt cô ướt và sáng một cách ngây thơ, lại càng non trẻ; đôi mắt cô vẫn là đôi mắt của người thiếu nữ mới lớn, gần như của một đứa bé”
[11;tr.289] Tất cả những đặc điểm trên gương mặt của Komako đều được Shimamuraquan sát, so sánh một cách tinh tế và được Shimamura nhắc không dưới một lần Mỗi lầnđược bên cạnh, tiếp xúc với Komako, vẻ đẹp ấy lại tiếp tục được miêu tả dưới cái nhìncủa anh Và lần nào được miêu tả, người đọc cũng thấy hiện diện một Komako hội tụ tất
cả vẻ đẹp của một người phụ nữ Không chỉ nhận ra được vẻ đẹp trên gương mặt củaKomako, vẻ đẹp đầy sức sống của mái tóc đen dày cũng được Shimamura cảm nhận tinhtế: “có lẽ nó đẹp là bởi sức sống của nó, bởi tóc cô cứng gần như tóc đàn ông nên cô có thể chảy cao lên một cách hoàn hảo, cách điệu hóa theo mốt cổ xưa, bong như sơn, khiến trông như cô đội một tác phẩm điêu khắc chắc nịch bằng đá đen” [11;tr.255] Một sự so
sánh táo bạo, mái tóc được búi cao được Shimamura so sánh với một tác phẩm điêu khắcchắc nịch bằng đá Người đọc dường như không cảm thấy sự nặng trĩu của mái tócKomako khi Shimamura dùng những từ như chắc nịch, đá đen mà trái lại, cảm thấy sựtinh tế, uyển chuyển, mềm mại của nghệ thuật nơi mái tóc của cô Tuy nhiên, vẻ đẹp đángchú ý nhất của Komako lại là làn da Làn da của Komako được Shimamura đề cập đến rấtnhiều lần trong tác phẩm: “nước da hồng hào mịn màng với cái cổ trinh bạch vai mảnh dẻ còn sắp đầy lên chút nữa” [11;tr.248-249] hay “Làn da cô khiến ta nhớ tới cái nhẵn của một củ hành tươi bóc vỏ hoặc hơn thế nữa, của một củ huệ, nhưng với một chút ửng hồng tỏa xuống tận hõm ngực” [11;tr.289] Và với nhân vật Shimamura, làn da của Komako
đặc biệt khêu gợi là khoảng da ở gáy: “Gáy cô và làn da ở đó trông thật khêu gợi và khi tương phản với mái tóc đen sẫm, da thịt cô chỗ ấy càng làm anh thèm muốn” [11;tr.255].
Làn da hồng hào, mịn màng của Komako tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của người
Trang 34con gái Xứ tuyết, đồng thời của là biểu tượng của vẻ đẹp tâm hồn của họ Có thể nói, vẻđẹp của Komako là sự kết hợp của “da tự nhiên khỏe khoắn của cô gái miền núi xiết bao trong trắng dưới gương mặt mịn màn bóng bẩy của một geisha thành thị” [11;tr.289] và
đối với Shimamura, Komako “có tất cả vẻ đẹp quyến rũ của một sắc đẹp cho dù cô không đẹp hoàn hảo” [11;tr.249].
Nếu vẻ đẹp của Komako toát lên từ vẻ bề ngoài, từ ngoại hình, mang một hương vịnồng nàn thì vẻ đẹp của Yôko lại không thể nhìn thấy được mà chỉ có thể cảm nhận, đó là
vẻ đẹp của âm thanh, giọng nói, của thứ cảm giác mà chỉ có người nắm bắt được mới cóthể cảm nhận Yôko mang vẻ đẹp cổ xưa, huyền bí và đối với Shimamura: “cảm giác đầu tiên của anh làm anh ít nghĩ tới chính nàng mà anh lại nghĩ nhiều đến một nhân vật nào
đó xa xưa, tới một con người lí tưởng nào đó của thế giới huyền thoại” [11;tr.228] Chính
vẻ đẹp ấy làm Shimamura cảm thấy bối rối: “chỉ mới thoáng nhìn đã phải cụp ngay mắt xuống vì quá sửng sốt trước sắc đẹp của nàng và vẻ lạnh lùng xa cách của nàng khiến anh e ngại” [11;tr.225] Yôko theo cách cảm nhận Shimamura thì nàng có một vẻ đẹp làm
siêu lòng những con người đam mê cái đẹp như anh Vẻ đẹp của Yôko khác hẳn vẻ đẹpcủa Komako, nếu như vẻ đẹp của Komako mang nhiều trạng thái cảm xúc qua cách cảmnhận của Shimamura thì vẻ đẹp của Yôko là vẻ đẹp của gương mặt lạnh lùng: “Mặt nàng sững lặng như một cái mặt nạ, vẻ nghiêm trang đến nỗi không biết nàng kinh ngạc, khiếp
sợ hay giận dữ Một gương mặt mà Shimamura thấy trong trắng và giản dị khác thường”
[11;tr.298] Sự “sững lặng như cái mặt nạ” của Yôko khiến cô trở nên huyền bí và chính
sự huyền bí đó tạo nên cho cô cái đẹp lạ thường ở Yôko và thôi thúc Shimamura khámphá Tuy nhiên, vẻ đẹp nơi cô thể hiện tập trung nhất ở giọng nói Yôko có một giọng nóiđẹp: “vang cao và rung lên lướt như một tiếng vọng trên tuyết và trong màn đêm, nó có vẻ quyến rũ cảm động đến nỗi làm cho trái tim người ta man mác buồn” [11;tr.222-223] Đó
là giọng nói “có âm sắc trong và đẹp đến não lòng”, “khiến ai cũng phải mê mệt” Giọng
nói của Yôko thấm vào Shimamura một nỗi buồn bởi “tiếng rất sang như nàng tuyệt vọng gọi một hành khách nào đó đã khuất dạng trên một con tàu giữa mênh mông biển cả”
[11;tr.332] Giọng nói của Yôko là hiện thân cho vẻ đẹp tâm hồn, một vẻ đẹp dịu dàng,quyến rũ và dường như gắn liền với mảnh đất Xứ tuyết mà thôi Và khi Yôko cất tiếng hát,Shimamura lại cảm nhận được một thứ âm thanh đặc biệt: “một giọng hát thanh và sâu, thấm buồn, thứ tiếng huyền bí lay động lòng ta như không thể biết đâu tới” [11;tr.322].
Giọng nói tuyệt vời của Yôko tạo cảm giác đặc biệt đối với Shimamura cũng như ngườiđọc Không chỉ trong giọng nói, cả giọng cười của Yôko cũng chứa nỗi buồn man mát:
“Một giọng cười trong mà sắc, như chính giọng nói của nàng, tiếng cười như lúc nào cũng hướng về nơi vô định, từ nỗi cô quạnh mà ra Một tiếng cười không hề thô tháp, vô
Trang 35lối, mà nó lặng dừng sau khi đã gõ vào cánh cửa trái tim của chàng” [11;tr.354] Với tất
cả vẻ đẹp trên, Yôko để lại ấn tượng khó phai trong lòng người đọc như là một nhân vậthuyền thoại, đầy vẻ huyền bí nhưng không kém phần quyến rũ
Nhân vật Kikuji trong Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc nhận lời đến tham dự buổi trà đạo của
Chikako, một người quen cũ của ông Mitani – cha Kikuji Tại đây, anh tình cờ phát hiện
ra vẻ đẹp của những người phụ nữ đến dự buổi tiệc trà và những vẻ đẹp đã phần nào làmthay đổi cuộc sống của anh Vẻ đẹp của những người phụ nữ hiện diện ở nhiều lứa tuổi.Trước tiên là vẻ đẹp của bà Ota, một người đã từng là tình nhân của cha Kikuji, mộtngười đàn bàn theo Kikuji thì “ít nhất cũng bốn mươi lăm tuổi” Tuy nhiên, khi Kikuji
gần gũi với người phụ nữ này, Kikuji “có cảm tưởng như chàng đang ôm trong tay một người đàn bà trẻ hơn chàng” [11;tr.526] Bà Ota đẹp, trẻ hơn so với độ tuổi của bà:
“Chiếc cổ trắng khá dài vẫn như thế và đôi vai đầy đặn khá cân đối với chiếc cổ thanh
tú – kể ra đó cũng là một vóc dáng khá trẻ so với số tuổi của người đàn bà Chiếc miệng
và chiếc mũi nhỏ rất phù hợp với cặp mắt” [11;tr.215] Một vẻ đẹp hài hòa trên gương
mặt người phụ nữ lớn tuổi Phải chăng chính sự hài hòa ấy làm bà Ota trẻ hơn độ tuổi.Chẳng những có gương mặt đẹp cân đối, thái độ của bà Ota theo cảm nhận của Kikuji:
“có vẻ tha thiết dịu dàng, bà đã để lộ niềm vui khôn xiết đối với cuộc gặp gỡ bất thường này” [11;tr.215] Thái độ dịu dàng của người phụ nữ lúc nào cũng lôi cuốn người đàn ông,
hơn nữa với một người từng trải như bà Ota, chắc hẳn sự lôi cuốn ấy còn mãnh liệt hơn,
đó là lí do Kikuji cảm thấy “ở người thiếu phụ đứng tuổi thoát ra một vẻ nồng nàn khiến chàng như bị đẩy ra khỏi sự thận trọng cố hữu” [11;tr.524] và khi bà Ota mất, quỳ trước
mớ tro tàn, Kikuji cảm nhận “hình ảnh của người đàn bà không đến trong trí chàng, nhưng sự nồng nàn của bà ta vây bọc lấy chàng, làm chàng ngất ngây trong hương thơm của chính sự nồng nàn đó” [11;tr.568] Có thể thấy ở bà Ota là một vẻ đẹp không bao giờ
mất, ngay cả khi bà chết đi, và Kikuji vẫn cảm nhận được hương thơm của người đàn bà.Qua cách cảm nhận của nhân vật Kikuji, bà Ota đẹp không bởi ngoại hình trẻ hơn so với
độ tuổi mà quan trọng hơn, cái đẹp của bà Ota toát lên từ vẻ nồng nàn, vẻ đẹp mà Kikujichỉ cảm nhận khi gần gũi với bà Ota và chính vẻ đẹp không thể nhìn thấy được khiến nótrở nên bất tử
Gần gũi với bà Ota, Kikuji có dịp tiếp xúc với Fumiko, con gái của bà Ota Là congái của bà Ota, Fumiko có nhiều đặc điểm giống với mẹ của nàng và điều đó làm Kikujitìm thấy được hình ảnh bà Ota nơi Fumiko Qua cái nhìn của Kikuji: “Người con gái được thừa hưởng chiếc cổ dài và đôi vai đầy đặn của bà mẹ Miệng nàng rộng hơn, tuy nhiên môi nàng luôn mím chặt lại” [11;tr.515] hay “Nơi khuôn mặt tròn và tinh khiết của Fumiko, chàng bất gặp hình ảnh người mẹ” [11;tr.576] Chỉ là cái nhìn đầu tiên, Kikuji đã
Trang 36có những nhận xét tỉ mỉ về Fumiko, rõ ràng chính Kikuij cũng đã có ấn tượng với ngườicon gái tên Fumiko Qua thời gian tiếp xúc, Kikuji còn thấy Fumiko có nhiều điểm giốngvới bà Ota, ngay cả mùi hương: “Mùi người nàng thật mãnh liệt Nó tỏ ra mạnh mẽ, mùi của người đàn bà đã làm việc suốt mùa hạ Chàng cảm giác mùi của Fumiko và của mẹ nàng Mùi thân thể bà Ota” [11;tr.630] Hầu như, để khám phá ra vẻ đẹp của Fumiko,
Kikuji đã sử dụng tất cả các giác quan của mình để đánh giá một cách chân thực nhất vềFumiko Thừa hưởng vẻ đẹp của bà Ota, tuy nhiên Fumiko vẫn mang cho mình những vẻđẹp riêng biệt của cô, nhìn một cách tổng thể: “nàng không mập mạp, song đôi vai nàng cho thấy sự đều đặn, sự đầy đặn ấy nằm cả ở nơi cánh tay của nàng nữa” [11;tr.606].
Qua lời miêu tả của Kikuji, người đọc có thể thấy được vẻ đẹp cân đối về ngoại hình củaFumiko Màu da của Fumiko cũng được Kikuji nhắc đến trên một lần trong tác phẩm.Điều ngạc nhiên là khi trò chuyện với Kikuji, làn da trên người nàng bỗng trở nên hồnghào kì lạ, trong một lần Fumiko đến nhà Kikuji và yêu cầu Kikuji đừng gặp bà Ota nữa,sau khi đưa ra yêu cầu, “khuôn mặt thiếu nữ ửng hồng khi nàng nói câu trên” [11;tr535],
hay khi Kikuji đến viếng bà Ota khi người phụ nữ ấy mất, chỉ vì cảm thấy xấu hổ về việc
mẹ mình đã làm và cầu xin Kikuji tha thứ, “đôi má không tô điểm và chiếc cổ trắng ngần của nàng bỗng đỏ rần” [11;tr.572] Người đọc có thể nhận thấy vẻ e thẹn nơi Fumiko và
phải chăng chính sự e thẹn đó mà Kikuji “cảm thấy một vẻ đa cảm đầy nữ tính” nơi
Fumiko Và phải chăng chính sự e thẹn ấy làm nên vẻ đẹp nơi nàng Nhưng trên hết, vẻđẹp nổi bật nhất của Fumiko xuất phát từ tâm hồn của cô, một vẻ đẹp mang nỗi buồn sâusắc Vẻ u buồn ấy được Kikuji so sánh với vẻ u buồn của bà Ota, và thật bất ngờ khi nỗibuồn của Fumiko còn sâu sắc hơn của mẹ nàng: “Một vẻ u buồn hiện lên trong đôi mắt thiếu nữ, vẻ u buồn nặng nề hơn là vẻ u buồn nơi đôi mắt người mẹ” [11;tr.516] Và khi
nhìn thấy “nơi hũng sâu từ cổ đến ngực nàng là một vùng bóng tối hơi vàng” [11;tr.597]
đã khiến Kukiji suy nghĩ không biết là “do sự phản chiếu của ánh sáng hay đó là dấu hiệu của sự phiền muộn” nhưng dù sao đối với chàng, điều đó chẳng đem lại sự khó chịu
cho chàng mà trái lại, chàng cảm thấy thoải mái bởi với Kikuji: “ở Fumiko không có một
sự kháng cự nào, ngoài chính sự trong sạch” [11;tr.643] Như vậy, vẻ đẹp toát lên từ
Fumiko là một vẻ đẹp u buồn, vẻ đẹp của sự dịu dàng, giàu lòng hi sinh, chịu đựng đầy nữtính
Trong tác phẩm, nhân vật Kikuji còn phát hiện ra vẻ đẹp của một người phụ nữ.Một người phụ nữ chỉ xuất hiện hai lần nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc cho Kikuji, đó là
cô gái nhà Inamura, là cô gái có chiếc khăn thêu ngàn cánh hạc “Một trong hai thiếu nữ khá đẹp Nàng mang theo một gói đồ trong chiếc khăn màu hồng có điểm ngàn cánh hạc trắng” [11;tr.508] hay “cái ấn tượng về cô gái trong chiếc khăn có vẽ ngàn cánh hạc thật
Trang 37tươi mát và sạch sẽ” [11;tr.522] Tất cả sự ấn tượng về cô gái nhà Inamura của Kikuji đều
gắn liền với chiếc khăn ngàn cánh hạc Có lẽ, nàng là người phụ nữ đặc biệt nhất trong tácphẩm vì gây cho Kikuji nỗi ám ảnh về một vật không thuộc về nhan sắc, một tấm khănthêu ngàn cánh hạc Song song với vẻ đẹp toát ra từ tấm khăn thêu ngàn cánh hạc, vẻ hồnnhiên nơi cô gái được tạo ra từ sự im lặng Trong suốt buổi trà đạo, giữa sự tính toán củanhững khách mời, cô gái nhà Inamura hoàn toàn im lặng Sự im lặng của nàng một mặtthể hiện nàng là một con người kín đáo, mặt khác thể hiện sự vô tư, không bận tâm vớinhững toan tính ấy: “Với vẻ hồn nhiên, nàng đi thông suốt buổi lễ không một chút do dự”
[11;tr.517] Cũng chính thái độ ấy tạo cho Kikuji cảm giác: “cô gái nhà Inamura bỗng trở nên đẹp lạ thường, nàng bỗng nổi bật lên trên những câu chuyện nhỏ nhen của những người đàn bà lớn tuổi đang vây quanh chàng kia” [11;tr.517] Không chỉ kín đáo, ngay cả
trong cung cách của nàng cũng mang sự giản dị “cung cách của nàng hôm ấy thật giản dị
và lịch sự, ấn tượng đó sẽ mãi linh động – đôi bờ vai và cánh tay áo kimono dài, cả mái tóc nữa, tất cả như lung linh trong ánh sáng xuyên qua từ khung cửa căn giấy”
[11;tr.615] Có thể nói, cô gái nhà Inamura mang một vẻ đẹp lung linh, thánh thiện, màvới Kikuji: “vẻ trong sáng của nàng dường như đánh tan góc tối tụ lại tại góc căn phòng rộng” [11;tr.546].
Nhân vật Eguchi trong Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đẹ đẹ đẹp p p ng ng ngủ ủ ủ m m mêêêê, một ông già đã gần bảy mươi tuổi, đi
tìm lại tuổi xuân của mình nơi ngôi nhà có các người đẹp ngủ mê Như bao “lữ khách” đitìm cái đẹp, trong năm đêm ngủ với sáu người đẹp, ông Eguchi đã khám phá ra vẻ đẹpcủa những cô gái ngủ mê và đôi khi vẻ đẹp ấy làm trỗi dậy cảm giác thanh xuân nơi ông
Vẻ đẹp của những người đẹp ngủ mê trong ngôi nhà bí mật là vẻ đẹp của những ngườithiếu nữ còn trinh và bị thuốc cho ngủ mê Và với nhân vật Eguchi, những cô gái trẻ bịthuốc cho ngủ mê lại làm nổi bật vẻ đẹp của họ, bởi ông “tin rằng không có gì đẹp hơn khuôn mặt một cô gái trẻ đang chìm trong giấc ngủ không mông mị” [10;tr.84] Mỗi
người đẹp ngủ mê có một vẻ đẹp khác nhau Tuy nhiên, vẻ đẹp được đặc tả ở họ là vẻ đẹpcủa hình thể bởi những cô gái này đều rơi vào trạng thái vô thức Cô gái trong đêm đầutiên mang lại sự tươi mát cho Eguchi bởi màu hồng nơi bàn tay: “màu hồng ấm áp từ mu bàn tay trong càng hồng hơn khi tới các ngón tay Một bàn tay trắng sáng và mịn màng”
[10;tr.14] và màu hồng nơi dái tay: “ông vẫn thấy được dái tay của nàng có cùng màu hồng ấm áp ở bàn tay do máu mang đến, càng hồng hơn ở những đầu ngón tay” [10;tr.17].
Cô gái trong đêm thứ hai mang vẻ đẹp của một cô gái bước ra từ cõi liêu trai, vẻ đẹp màđối với Eguchi: “dù đang ngủ say, dù còn trinh, nàng vẫn khêu gợi vẫn cuốn hút, không thể chối cãi mà” [10;tr.56] Đó là vẻ đẹp mà Eguchi dường như trong suốt cuộc đời của
mình chưa bao giờ được cảm nhận trọn vẹn như thế Vẻ đẹp của nàng theo cách cảm nhận
Trang 38của Eguchi: “Da thịt nàng thơm ngát Gò má và mi đầy đặn Cổ trắng, trắng đến độ phản ảnh màu đỏ tía của tấm màn nhung Đôi mắt khép kín nhưng có vẻ chứa đựng một ma lực đang ngủ yên trước mặt ông” [10;tr.47] Cô gái đêm thứ ba mang vẻ đẹp của sự hài hòa,
thể hiện trên gương mặt của cô: “Khuôn mặt đang say ngủ trông thật dịu dàng dưới ánh đèn yếu ớt rọi từ trần nhà và phản chiếu từ những tấm màn nhung đỏ thẫm Hàng lông mày để tự nhiên, không trau chuốt, lông mi đều đặn và rất dài ông có thể cầm giữa hai ngón tay” [10;tr.83] Cô gái đêm thứ tư mang vẻ đẹp của một làn da mịn màng, cũng như
một thân hình cân đối mặc dù khuôn mặt nàng, theo Eguchi không thật sự quyến rũ: “nét mặt không đều, không được đầy đặn như thân nàng nhưng có vẻ ngây thơ hơn ông tưởng Sống mũi thấp, hai lỗ mũi hơi bẹt ra Đôi má tròn đầy Tóc rẽ giữa xuống gần nữa trán Cặp lông mày ngắn, rậm và đều” [10;tr.103] Đêm thứ năm Eguchi ngủ cùng hai cô gái,
một trong hai cô gái “có vẻ cục mịch và hoang dại”, Eguchi cảm nhận ‘màu da từ cổ tới ngực cũng không thể gọi là đẹp được Tuy nhiên màu da tối này cũng sáng lên được Hình như có mùi gì không rõ tiết ra từ nách” [10;tr.122] nhưng với Eguchi, đó là đặc điểm của
sự sống Cô gái thứ hai trong đêm thứ năm có chiếc cổ “thon và đẹp” và “mí kép khép kín rất nông nên có thể thành một mí đơn khi mở mắt” [10;tr.128] Qua cảm nhận của Eguchi,
người đọc thấy được vẻ đẹp khác nhau của người phụ nữ Mỗi người một vẻ, nhưng xét
về tổng thể, những người đẹp ngủ mê mang một vẻ đẹp có thể quyến rũ bất kì ai lưu lạingôi nhà bí mật Tuy nhiên, vẻ đẹp được Eguchi đặc tả nhiều nhất ở các người đẹp ngủ
mê là ngực và môi, hai bộ phận gợi cảm nhất ở người phụ nữ Bộ ngực của các người đẹpngủ mê được miêu tả đến mười ba lần Cô gái đêm thứ nhất với đôi vú “có vẻ căng tròn đẹp đẽ” [10;tr.27], “đầu vú nhỏ và còn hồng” [10;tr.28] Cô gái đêm thứ hai “cặp vú hơi
xệ nhưng vẫn đầy đặn và so với gái Nhật thì hai núm vú nở to” [10;tr.52] Cô gái trong
đêm thứ tư “ngực nàng đầy đặn, đôi vú hơi trễ xuống nhưng núm vú thì nhỏ một cách lạ thường” [10;tr.101] Trong đêm thứ năm, Eguchi ngủ cùng hai cô gái, cô gái có làn da
ngăm thì “núm vú rộng và đen” [10;tr.122], “núm vú còn dẹt và bộ ngực căng đầy”
[10;tr.123] và cái màu ấy theo Eguchi thì “không đẹp chút nào dưới ánh sáng phản chiếu
từ các tấm màn nhung đỏ thẩm” [10;tr.122] Cô gái da trắng thì “đôi vú nhỏ nhưng tròn
và chắc Nằm gọn trong lòng bàn tay” [10;tr.128] Chú trọng miêu tả bộ ngực, Eguchi
muốn tôn vinh vẻ đẹp của tạo hóa đối với người phụ nữ Vẻ đẹp ấy mang lại cho nhữngông già cảm giác tươi mát, thanh xuân Ngoài bộ ngực, đôi môi cũng là chi tiết được ônggià Eguchi chú trọng Một đôi môi đẹp có thể khơi gợi sự yêu đương Đôi môi của nhữngngười đẹp ngủ say mỗi người một vẻ Cô gái trong đêm thứ nhất có “đôi môi và những cái răng thấy được trông khỏe mạnh, tươi tắn” [10;tr.27] Cô gái trong đêm thứ hai “son ở cặp môi đỏ thẫm” [10;tr.46] và “đôi môi hơi trề xuống phía dưới” [10;tr.49] Đôi môi của
Trang 39cô gái trong đêm thứ ba có đặc điểm “chỗ môi dưới thì hơi dày hơn phía ngoài Ông không thấy được răng” [10;tr.83] Cô gái trong đêm thứ tư có đôi môi nhỏ nhưng không
nhỏ quá: “Răng ra sao dưới cặp môi nhỏ nhắn này? Ông kéo cái môi dưới xuống và thấy răng nàng đều đặn, tuy nhỏ nhưng không quá nhỏ so với đôi môi” [10;tr.106] Trong đêm
thứ năm Eguchi ngủ với hai cô gái, cô gái da ngâm tô son môi và “nhân trung cong lên, tạo thành một hình tam giác rọ nét trên miệng Trông thu hút một cách lạ lùng” [10;tr.124]
và “hình dạng lạ thường của cặp môi kích thích ông” [10;tr.125] Đôi môi của những
người đẹp ngủ say góp phần thể hiện “tính nữ” của họ Tất cả vẻ đẹp của những ngườiđẹp ngủ say làm cho Eguchi nhớ lại vẻ đẹp mà ông từng bắt gặp thời trai trẻ
Vẻ đẹp của những người đẹp ngủ say gợi lại cho Eguchi những người đàn bà thờitrai trẻ Trong đó, người đọc ấn tượng với vẻ đẹp của người yêu đầu đời của Eguchi vàngười đàn bà có chồng ông quen ở Kobe, người được xem như người đàn bà cuối cùngEguchi quan hệ tình ái Người yêu đầu đời của Eguchi là một cô gái trẻ, một cô gái mang
vẻ đẹp của sự trinh trắng, “sự trinh trắng của những bộ phận kín đáo trên cơ thể” mà với
Eguchi “suốt mấy chục năm sau ông không còn bao giờ nhìn thấy sự trinh trắng như thế nơi những người đàn bà khác” [10;tr.31] và ông cho rằng “rất có thể là không ai trên thế gian, trừ Eguchi, biết được sự trinh trắng vô song đó” [10;tr.33] Sự trinh trắng ấy gợi
cho Eguchi một cảm xúc mãnh liệt: “Ông bị xúc động mạnh, hơi thở nghẹn lại, nước mắt
ứa ra” [10;tr.31] Phải là một con người tôn thờ cái đẹp thì mới có những cảm xúc mãnh
liệt như thế Còn người phụ nữ cuối cùng ông Eguchi quan hệ tình ái, người đàn bà cóchồng ở Kobe thì mang vẻ đẹp của “một thân thể cân đối, rắn chắc, mịn màng” [10;tr.82]
và “người đàn bà thon thả, da thị chắc nịt như thế lâu lắm rồi ông mới được ôm ấp”
[10;tr.78] Vẻ đẹp ấy khiến Eguchi bất ngờ khi biết nàng đã có hai con: “thân thể nàng đâu cho ta cảm tưởng như vậy Nàng có đôi vú có vẻ như chưa từng ra sữa cho con bú”
[10;tr.78] Với Eguchi, người phụ nữ đó là “biểu tượng cho nữ tính ở tuổi thanh xuân”.
Có thể nói, người phụ nữ đầu tiên và ngươi phụ nữ cuối cùng đều đẹp khiến Eguchikhông thể nào quên được bởi vẻ đẹp ấy “vẫn còn là một kỷ niệm mãnh liệt theo ông mãi cho tới tận tuổi già” [10;tr.31].
Có thể nói trong hành trình khám phá cái đẹp, những “lữ khách” Shimamura,Kikuji và Eguchi đã khám phá ra vẻ đẹp nhiều màu sắc của những người phụ nữ mà họ códịp gần gũi, tiếp xúc Những vẻ đẹp mang lại cho họ một thứ cảm xúc mãnh liệt mà ngaychính bản thân họ cũng không thể lí giải được Đơn giản, họ như bị mê hoặc, thôi miênbởi những vẻ đẹp ấy và họ luôn có một khao khát chiếm hữu, dung hòa những vẻ đẹpnhiều màu sắc để tạo ra một thứ vẻ đẹp hoàn hảo nơi người phụ nữ
2.2.3 2.2.3 Kh Kh Khá á ám m m ph ph phá á á ccccá á áiiii đẹ đẹ đẹp p p trong trong trong vvvvă ă ăn n n h h hó ó óa a a Nh Nh Nhậ ậ ậtttt B B Bả ả ản n
Trang 40Song song với việc đi tìm vẻ đẹp ở hiện tại Những “lữ khách” còn kiếm tìm vẻđẹp của những giá trị truyền thống Những giá trị truyền thống tưởng chừng như bị bỏquên nhưng với những nhân vật “lữ khách”, nó mang một vẻ đẹp, một sức sống cuốn hútđến kì lạ Tìm đến vẻ đẹp truyền thống, nhân vật “lữ khách” như muốn lưu giữ lại nhữnggiá trị văn hóa của đất nước trước sự du nhập của văn hóa phương Tây.
Là một con người sinh ra và lớn lên ở Tokyo, nhân vật Simamura “đã biết khá nhiều về kịch Kabuki” Chẳng những thế, “thời sinh viên, anh đặc biệt say mê môn vũ đạo
và kịch câm Chưa thỏa mãn với hiểu biết của mình, anh nghiên cứu cả những tư liệu cổ nhất, đặt những mối liên hệ thân ái với những bậc thầy nổi tiếng của các trường phái truyền thống cũng như những nghệ sĩ đại diện cho các khuynh hướng mới” [11;tr.240].
Có thể thấy, ngay từ thời còn trẻ, Shimamura đã bị cuốn hút bởi những môn nghệ thuậttruyền thống Đối với Shimamura, vẻ đẹp của nghệ thuật truyền thống là vẻ đẹp có thểmang lại những cảm xúc mãnh liệt nơi tâm hồn anh Đó là thứ cảm xúc khi Shimamuranghe tiếng đàn samisen của Komako: “cảm giác như bị nhiễm điện anh rùng mình và nổi
da gà lên tận má” [11;tr.286] Vẻ đẹp phát ra từ tiếng đàn khiến Shimamura “tưởng như những nốt nhạc đầu tiên đã khoét một cái hốc trong ruột gan anh, tạo ở đó một khoảng trống cho tiếng đàn tinh khiết và trong sáng âm vang” [11;tr.286-287] Một sự cảm nhận
tinh tế của “lữ khách” trước tiếng đàn samisen cho thấy một con người “sành” nghệ thuậttruyền thống
Đến với Xứ tuyết, ngoài vẻ đẹp thiên nhiên lôi cuốn, tình yêu với Komako vàYôko, Shimamura còn đến nơi đây để tìm kiếm thứ vải chijimi, loại vải làm từ nghề thủcông gia đình Shimamura “sành sỏi về loại vải ấy, sục tìm trong các trong các cửa hàng lâu đời ở Tokyo những miếng vải đã trở thành khan hiếm” [11;tr.363] Thứ vải chijimi
khan hiếm ở Tokyo phồn hoa bởi “vải chijimi chỉ được sinh ra, khi có tuyết, có thể nói, tuyết là mẹ đẻ của chijimi” [11;tr.3363] Bởi được tuyết kéo sợi và chính tuyết dệt thành
những tấm vải nên loại vải chijimi có được sự mịn màng đặc sắc: “Sự mịn màng đặc sắc của loại vải ấy có được là nhờ dệt trong cái giá lạnh của mùa đông, lưu giữ đến tận cái nóng khắc nghiệt của mùa hè” [11;tr.366] và sự tồn tại lâu bền: “dù thứ vải rất đỗi mỏng manh, sản phẩm của mỹ nghệ, như vải chijimi ấy, cũng giữ được bằng chất vải, màu sắc sống động có tới nửa thế kỷ, còn lâu mới rách sờn, nếu được giữ gìn cẩn thận” [11;tr.366].
Và với Shimamura, vẻ đẹp của chijimi là vẻ đẹp bởi sự lao động nghiêm túc, cực nhọccủa những cô gái Xứ tuyết, là vẻ đẹp được kết tinh qua nhiều gia đoạn, từ việc kéo sợi:
“bàn tay của những người đàn bà trong Xứ tuyết này, làm việc triền miên trong những tháng dài phủ tuyết mùa đông, kéo sợi, dệt nên thành tấm vải gai mỏng, thứ cây được thu hoạch từ những thửa ruộng chênh vênh đầy núi” [11;tr.363] cho đến việc dệt “anh ngắm