1. Khái quát quá trình phát triển của du lịch thế giới, Việt Nam 1.1. Các mốc phát triển của du lịch thế giới Cũng như nhiều ngành khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật sản xuất, ngành du lịch được hình thành sớm trong bối cảnh lịch sử nhất định. Lịch sử du lịch có nhiều bước thăng trầm, cả sự thành công lẫn thất bại. Nhìn chung, tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghiệp đề có ảnh hưởng tích cực đến du lịch. Chiến tranh, thiên tai, đói kém… là những lí do cơ bản kìm hãm sự phát triển của du lịch. Những hiểu biết về lịch sử hình thành và phát triển du lịch trong quá khứ sẽ rất bổ ích cho người là du lịch hôm nay. Lịch sử sẽ cung cấp nhiều bài học quý báu cho các hoạt động và chính sách du lịch hiện tại. Về cơ bản, các nhà nghiên cứu về lịch sử du lịch cho rằng sự hình thành và phát triển ngành du lịch từ khi xã hội loài người bước vào quá trình phân công lao động, khi nghề thủ công được tách khỏi sản xuất nông nghiệp, khi xã hội bắt đầu có sự phân công giai cấp. Khả năng tích lũy lương thực là một yếu tố rất quan trọng cho việc tạo ra nhu cầu du lịch theo nghĩa sơ đẳng nhất.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
Mã số môn học: MH 08
Người soạn: Nguyễn Trương Thu Quỳnh
Năm học: 2015-2016
Trang 2Chương 1: Khái quát về hoạt động du lịch và khách sạn
1. Khái quát quá trình phát triển của du lịch thế giới, Việt Nam
1.1 Các mốc phát triển của du lịch thế giới
Cũng như nhiều ngành khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật sản xuất, ngành du lịch được hìnhthành sớm trong bối cảnh lịch sử nhất định Lịch sử du lịch có nhiều bước thăng trầm, cả sựthành công lẫn thất bại Nhìn chung, tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghiệp đề có ảnh hưởngtích cực đến du lịch Chiến tranh, thiên tai, đói kém… là những lí do cơ bản kìm hãm sự pháttriển của du lịch Những hiểu biết về lịch sử hình thành và phát triển du lịch trong quá khứ sẽ rất
bổ ích cho người là du lịch hôm nay Lịch sử sẽ cung cấp nhiều bài học quý báu cho các hoạtđộng và chính sách du lịch hiện tại
Về cơ bản, các nhà nghiên cứu về lịch sử du lịch cho rằng sự hình thành và phát triểnngành du lịch từ khi xã hội loài người bước vào quá trình phân công lao động, khi nghề thủ côngđược tách khỏi sản xuất nông nghiệp, khi xã hội bắt đầu có sự phân công giai cấp Khả năng tíchlũy lương thực là một yếu tố rất quan trọng cho việc tạo ra nhu cầu du lịch theo nghĩa sơ đẳngnhất
Thời cổ đại:
Trong giai đoạn này có những phát minh quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc đi lại
Đó là phát minh ra thuyền buồm của người Ai Cập vào khoảng thiên niên kỷ thứ tư trước cônglịch Cũng thời gian này súc vật được thuần hóa không những là nguồn thức ăn dự trữ mà cònđược sử dụng để chuyên chở lương thực, vũ khí và chính con người Phát minh ra bánh xe củangười Sumeri vào khoảng 3500 t.CN là một sự kiện có ý nghĩa vô cúng to lớn đối với việc đi lạicủa loài người
Vào khoảng 3000 năm trước công nguyên, Ai cập là một điểm thu hút khách du lịch trênthế giới Họ đến để chiêm ngưỡng các kim tự tháp và các kỳ quan khác của đất nước văn minh,thịnh vượng này Ngoài các nhà hoạt động chính trị, các thương gia, giới quý tộc thường xuyênphải đi lại trong nước và ra nước ngoài, còn hầu hết những người có nhu cầu đi lại là nhữngngười tín ngưỡng sùng bái tôn giáo Trong những ngày lễ, hàng ngàn người đã hành hương đếncác nhà thờ, tu viện… để cầu nguyện và cúng bái Cuộc hành trình của họ kéo dài từ ngày nàysang ngày khác, có khi tới hàng tháng Trong thời gian này, khi chưa có hoạt động kinh doanh
ăn, nghỉ, thì những người này thường phải ăn nghỉ nhờ những người quen Dần dần dọc theonhững con đường dẫn đến các khu Thánh địa, các nhà trọ, quán ăn đã được xây dựng để phục vụkhách bộ hành ăn nghỉ và bắt đầu hình thành hoạt động kinh doanh trong du lịch tôn giáo
Từ thế kỷ IV trước công nguyên, Hy lạp đã phát triển cường thịnh, giai cấp chủ nô đã điđến các vùng đất ở Địa Trung Hải để thoả mãn nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh và nhằmmục đích nghỉ dưỡng, chữa bệnh ở một số nguồn chất khoáng Phương tiện đi lại chủ yếu là cưỡi
la, đi xe bò, người giàu thì đi bằng xe ngựa, bằng kiệu Du lịch công vụ cũng rất phát triển trongthời kỳ Hy lạp cổ đại, các chính khách, thương gia thường xuyên phải đi để thực thi các nhiệm
vụ đặc biệt Họ được cung cấp đầy đủ các dịch vụ về ăn uống, nghỉ ngơi, thậm chí có cả ngườidẫn đường, bào vệ
Năm 776 trước công nguyên, đại hội thể thao Olimpic đầu tiên tổ chức ở Hy lạp thu hútnhiều người tham dự Xung quanh những khu vực thi đấu người ta xây dựng nhiều cơ sở để phục
vụ ăn nghỉ, vui chơi cho các vận động viên và khán giả Và loại hình du lịch thể thao đã xuấthiện ở bán đảo này
Các quan lại giàu có người châu Á lại thích đi du lịch bằng kiệu hoa trang trí lộng lẫy cócửa chớp hoặc rèn che bao quanh, giá nâng được đặt trên vai của các phu khiêng kiệu Bên cạnh
Trang 3đó là hàng đàn lạc đà đưa các du khách đi theo dọc con đường tơ lụa của Trung Quốc, nối dài
từ Bagdad tới AdenSamarkand và Timbukfu Kinh coran đề nghị các chuyến đi nên bắt đầu vàothứ 6, sau buổi cầu kinh trưa nhưng phần lớn các đoàn lữ hành đều đi từ sáng sớm đến chiều tối
để có thể đi được 25 dặm một ngày Họ nghỉ trưa ở các trạm và ngủ đêm trong các căn lều tựdựng bên đường hay các trạm nghỉ
Trong số những chuyến đi biển đầu tiên, những chuyến đi của cư dân vùng Đông Nam Á
đến các khu vực ở châu Đại Dương thật đáng ngạc nhiên Bằng thuền độc mộc nhỏ, dài chừng 3
– 4m, họ đã vượt hàng trăm km đến tận các đảo Marquessas, Toumotu, Society…
Thời Trung Cổ:
Sự suy tàn của các quốc gia cổ đại trong đó có đế quốc La Mã từ thế kỷ thứ IV và từ khi
đế quốc Tây La Mã diệt vong (476) đã làm cho hoạt động du lịch bị ảnh hưởng sâu sắc Nhiềukiệt tác kiến trúc, nghệ thuật, xã hội, văn học bị vứt bỏ, hủy hoại Phương tiện đi lại trên bộ duynhất là xe ngựa và các xe ngựa kéo Cho tới tận thế kỷ thứ X, du lịch không còn an toàn, tiệnnghi và thoải mái như trước đó Chiến tranh liên miên, biên giới biến động làm cho việc đi lại trởnên khó khăn Đường xá trở thành các rảnh bẩn thỉu và đầy ngập bọn trộm cướp Vì vậy nhữngchuyến đi du lịch cũng ít ỏi và khá mạo hiểm
Thời kỳ này, đạo Thiên Chúa đã trở thành một lực lượng lớn mạnh ở châu Au Nó hậuthuẫn mạnh mẽ cho các cuộc chiến tranh nên đã thay thế và trở thành tư tưởng thống soái Dulịch tôn giáo là loại hình chủ yếu trong giai đoạn này Những cuộc thập tự chinh tôn giáo, hànhhương về thánh địa, nhà thờ diễn ra một cách rầm rộ Các quán trọ hai bên đường mọc lên đểphục vụ mọi người không phải vì mục đích kinh tế mà đa phần chỉ như dấu hiệu về sự đóng gópcủa con chiên cho sự sáng danh Đức Chúa Trời Xuất hiện những người chuyên hướng dẫn chokhách đi lại, cách hành lễ…
Thời kỳ này dã xuất hiện những chuyến viễn du dài ngày đầu tiên của loài người vớinhững tìm tòi khám phá mới đã phá vỡ tầm hiểu biết hạn hẹp của các cộng đồng Trung cổ vàkhơi dậy tính hiếu động, tò mò của con người Con người đã có những chuyến đi dài ngày nhằm
mở rộng “cánh cửa nhận thức” để được khám phá những vùng đất mới, những nền văn minhnhân loại
Năm1275, một thanh niên tên là Marco Polo theo cha và chú sang Trung Quốc trong mộtchuyến buôn Tại đây, Marco Polo được gặp Hốt Tất Liệt Bị cuốn hút bởi uy thế của Hoàng đế
và một thế giới bí ẩn, khác lạ ở phương Đông, ông đã ở lại đây 17 năm Khi về nước ông đã viếtcuốn: “Marco Polo phiêu lưu kí” kể về những gì mắt thấy tai nghe ở xứ Trung Hoa kì bí Cóthể coi đây là một trong những tài liệu hướng dẫn du lịch đầu tiên trên thế giới
Cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI những hiểu biết về địa lý, thiên văn, hải dương và kỷthuật đi biển đã giúp con người có những phát kiến địa lý lớn Từ năm 1492 đến 1504, ChistofeColombo đã tiến hành bốn cuộc hành trình thám hiểm sang một lục địa mới mà sau này gọi làChâu Mỹ Những chuyến đi này không phải vì mục đích du lịch, nhưng trên ý nghĩa nhất định,
đã mở hướng cho hoạt động lữ hành quốc tế trên biển
Năm 1548, Vasco de Gama đã cùng thủy thủ đoàn đi dọc theo bờ biển Tây Phi xuốngphía Nam Khi gần đến mũi cực Nam châu Phi, đoàn thuyền của ông bị bão thổi dạt sang bờđông của Nam Mỹ Lúc đó ông không hề biết rằng đây là một lục địa mới Ông cho thuyền quay
về phía Đông hướng tới Hảo Vọng Giác Vượt qua nhiều ngày lênh đênh trên biển đoàn thuyềncủa ông đã đến được An Độ, Thành công của ông đã mở ra một chân trời mói trong sự thôngthương buôn bán Đông Tây bằng đường biển
Trang 4Thời Cận Đại
Cuộc cách mạng tư sản, bắt đầu bằng cuộc cách mạng ở Netherland (1564 – 1609), đếncách mạng tư sản Anh (1642 – 1660), cách mạng tư sản Mỹ (1776 – 1783), cách mạng tư sảnPháp (1776 – 1883)… đã mở ra cho con người sự giao lưu mới với thiết chế tự do tư sản
Vào năm 1784, James Watt đã chế tạo ra động cơ hơi nước liên tục đầu tiên Phát minhnày châm ngòi nổ cho cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, mở ra chân trời mới cho ngành vậnchuyển và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triể du lịch loài người
Năm 1885, một kỹ sư người Đức là Benz đã sáng chế ra chiếc ôtô đầu tiên Do tính tiệních của nó, ngay năm sau, công nghiệp ôtô đã ra đời đã góp phần đáng kể cho việc thu hút và vậnchuyển du khách đi du lịch
Về phương tiện thông tin liên lạc, thời kì này con người đã phát minh ra các phương tiệntruyền tin không gian nhu điện tín (1876), điện thoại (1884), radio (1895)…
Nhu cầu tích tụ tư bản thúc đẩy giai cấp tư sản cho xây dựng mạng lưới giao thông lớncùng với các phương tiện vận chuyển ngày càng hiện đại và mở rộng các dịch vụ ở nhiều nơitrên thế giới Những cơ sở hạ tầng đó về khách quan cũng tạo thuận lợi cho các tuyến lữ hànhxuyên quốc gia Nếu trước kia, người ta chú ý tới các kỳ quan thế giới như kim tự tháp (Ai Cập),vườn treo Babilon, đền thờ Nữ thần Artemis ở Ephese.v.v thì nay đã mở ra nhiều nơi khác vớirừng, bờ biển đẹp và suối khoáng.v.v Du lịch quốc tế có xu hướng tăng trong thế kỷ XIII Đó làchuyến du lịch của các sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp đã đến các nước để kiểm chứng thực
tế trong 2-3 năm trở về áp dụng trong các Công ty, xí nghiệp của mình
Cuộc hành trình du lịch tập thể đầu tiên ở Anh do Thomas Cook tổ chức năm 1841 cho
570 người đi bằng tàu hỏa từ Leicester đến dự hội nghị của những người chống nghiện rượu tạiLaoughborough, cách 12 dặm đánh dấu một bước ngoặc mới trong ngành kinh doanh du lịch.Một năm sau ông thành lập Văn phòng du lịch đầu tiên ở Anh nhằm tổ chức cho người Anh đi dulịch trong nước và ra nước ngoài Ông bắt đầu có những chuyến du hành trong phạm vi hẹp ởnước Anh phục vụ cho học sinh, phụ huynh, các cặp vợ chồng.… tới những nơ mà họ chưa códịp tới Nắn bắt nhu cầu muốn đi nghỉ hè và tham quan du lịch ở pháp, năm 1854, hãng ThomasCook và các con đã bắt đầu tổ chức các tuyến du lịch sang châu Au
Thành công của Thomas Cook đạt được là do khả năng thông hiểu nhu cầu về du lịch ởthời đại ông Ông nắm bắt được những đòi hỏi, mong muốn và những yếu tố thúc đẩy du lịch đểtriển khai trong các tour của mình
Năm 1876, Thomas Cook cho ra mắt một loại hoá đơn đặc biệt gọi là “Phiếu thanh toán”,tiền thân của sec du lịch hiện nay Nhờ có hoá đơn này du khách có thể thanh toán tại hàng trămkhách sạn trong danh mục của Cook
Công ty lữ hành Thomas Cook trong thời gian 1850 tới 1900 là điềm báo cho một thời đại
du lịch thựch sự dành cho số đông dân chúng Và Thomas Cook đã được nhân loại suy tôn là
ông tổ của ngành lữ hành.
Thời kỳ hiện đại:
Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong ngành giao thông vận tải đã mở ramột kỷ nguyên mới cho sự phát triển du lịch Số lượng người đi đông hơn, nhanh hơn, tiết kiệmđược thời gian nên hành trình xa hơn, đến nhiều nơi hơn
Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, du lịch quốc tế đã đạt được những tiến bộ đáng kể.Nhưng trong những năm chiến tranh, du lịch quốc tế hầu như tê liệt
Trong những năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới các khu du lịch nghỉ biển lại đượcphục hồi và phát triển nhanh chóng, đặc biệt là Pháp, Ytalia, Anh, HyLap, Đức… Ở những nước
Trang 5này đã thành lập cơ quan Nhà nước về du lịch, một vài nước đã thành lập Bộ du lịch Và năm
1925 thì “Liên minh Quốc tế của các tổ chức du lịch được thành lập”
Trong chiến tranh thế giới thứ II, các hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế hầu như bịđình tuệ Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật trong du lịch phần bị phá huỷ, phần thì biếnthành cơ sở phục vụ chiến tranh
Trong những năm đầu sau chiến tranh, du lịch quốc tế được phục hồi rất chậm, bởi vì lúcnày các nước bị tàn phá trong chiến tranh đang bước vào giai đoạn hàn gắn vết thương chiếntranh và khôi phục nền kinh tế đất nước
Trong ba thập kỷ (từ những năm 50 đến những năm 80) sau chiến tranh thế giới thế II,cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới đã đạt được những tiến bộ vượt bậc, nó thúc đẩyngành kinh tế du lịch phát triển thật sự Sự tăng trưởng trung bình năm của du lịch quốc tế thập
kỷ 1950 – 1960 khoảng 10,98%, 1960 –1970 là 8,3%, thập kỷ 1970 – 1980 là 6%, thập kỷ 1980– 1990 khoảng 5%, trong mấy năm gần đây, tốc độ tăng trưởng lại nâng lên 7,5 – 9%
Cùng với sự tăng trưởng về số lượng, sự thay đổi về cơ cấu của khách du lịch, cùng với sựgia tăng của tổng doanh thu trong ngành du lịch, đã ra đời và phát triển nhiều loại hình du lịch.Vận chuyển khách bằng đường bộ và đường không đã chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trongngành du lịch quốc tế Các Công ty khách sạn, lữ hành, Công tuy môi giới… lần lượt ra đời đãlàm nảy sinh cuộc cạnh tranh gay gắt trên thị trường du lịch quốc tế
Kể từ khi hình thành và thoát thai để trở thành một ngành kinh tế độc lập, có chổ đứngtrong thương trường, ngành du lịch đã có những biến đổi thăng trầm Người ta ví ngành du lịchquốc tế như là “một con ngựa đua đường trường, có lúc chạy nhanh, lúc mỏi mệt thì nghỉ lại đểrồi dồn sức tạo sự đột phá mang theo sứ mệnh chuyển cái Đẹp tới cho con người”
Các Tổ chức quốc tế về du lịch
Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organisation - WTO; Organisation
Mondiale du Tourism - OLVLT):
Là 1 tổ chức quốc tế đứng đầu và được tín nhiệm rộng rãi nhất về lĩnh vực du lịch và lữhành Tổ chức này gồm 139 thành viên thuộc 139 quốc gia và hơn 350 thành viên chi nhánh đạidiện cho chính phủ quốc gia, hiệp hội du lịch, các viện giáo dục, các công ty tư nhân gồm hàngkhông, khách sạn và các nhà tổ chức tour
Trụ sở của WTO đặt tại Madrid, thủ đô Tây Ban Nha Ngôn ngữ chính thức của WTO làtiếng Anh, Pháp, 004Ega và Tây Ban Nha WTO là một tổ chức liên chính phủ về xúc tiến vàphát triển du lịch do Liên hiệp quốc giao phó Thông qua du lịch, mục tiêu của WTO là kíchthích phát triển kinh tế và tạo ra công ăn việc làm, đẩy mạnh gìn giữ và bảo vệ môi trường và disản cũng như tăng cường thúc đẩy hoà bình và hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc giatrên thế giới, tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản, không phân biệt chủng tộc, giớitính, ngôn ngữ và tôn giáo
Ban đầu WTO được thành lập vào năm 1 925 tại Hague với tên gọi là Liên minh quốc tếcác tổ chức quảng bá du lịch chính thức Sau thế chiến thứ 2, nó được chuyển đến Geneva và đổitên là Liên minh quốc tế các tổ chức du lịch chính thức (International Union for Official TourismOrganisations) viết tắt là IUOTO
Tháng 5 năm 1975 cuộc họp tòan thể đầu tiên của tổ chức này diễn ra tại Madrid
Năm 1976, WTO trở thành tổ chức điều hành của chương trình phát triển Liên hiệp quốc(UNDP)
Năm 1977 một hiệp định hợp tác chính thức đượcký kết với Liên hiệp quốc Ngày 17tháng 9 năm 1981, tại Hội nghị Đại hội đồng của WTO lần thứ 4 tại Ý, Việt Nam đã được kếtnạp là thành viên chính thức của tổ chức này
Trang 6WTO có nhiệm vụ chính là truyền tải sự hiểu biết về du lịch đến các nước đang pháttriển Cụ thể hơn là WTO cung cấp nhiều kinh nghiệm về du lịch cho những mục tiêu phát triểncủa các quốc gia trên thế giới.
WTO nổi tiếng về thống kê và nghiên cứu thị trường Việc nghiên cứu là một trongnhững đóng góp quan trọng trong khuôn khổ ngành du lịch; phân chia tác động của du lịch vềkinh tế quốc gia, dự đóan trước, khảo sát những xu hướng và công bố kết quả sẵn có
Mục tiêu khác của WTO là phát triển nguồn nhân lực WTO tạo ra tiêu chuẩn cho ngànhgiáo dục du lịch WTO tổ chức những cuộc hội thảo, những khóa học từ xa và những buổi ngọaikhóa cho các nhân viên du lịch thuộc các nước thành viên
WTO cũng nổ lực tạo điều kiện thuận lợi cho ngành lữ hành thế giới thông qua việc lọai
bỏ hoặc giảm các phương sách cũng như tiêu chuẩn hóa các yêu cầu về hộ chiếu, thị thực v.v
WTO củng cố chất lượng du lịch thông qua sự mở rộng tự do mua bán, tiếp cận, thăm dòkhách du lịch bị tàn tật, an tòan, an ninh và những tiêu chuẩn về kỹ thuật
Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới (World Travel and Tourism Council WTTC)
Là một liên minh tòan cầu gồm 100 viên chức đứng đầu ở tất cả các khu vực ngành côngnghiệp : lưu trú, ăn uống, du lịch biển, giải trí, vận chuyển và lữ hành
WTTC thành lập năm 1990 do một Hội đồng gồm 15 thành viên dẫn dắt, triệu tập 1 năm
2 lần va 2báo cáo cho cuộc họp hàng năm Những họat động hàng ngày được điều hành bởi chủtịch và nhóm nhân viên đặt tại Anh Mục tiêu đó là làm việc với các chính phủ để tạo cho du lịchmột chiến lược phát triển kinh tế và ưu tiên công ăn việc làm nhằm tiến đến mở cửa và cạnhtranh thị trường, xoá bỏ những rào cản phát triển để công nhận tiềm năng kinh tế của ngành dulịch và khả năng phát sinh công việc; phát triển nguồn vốn và tiến bộ kỹ thuật, kết nối cơ sở hạtầng với nhu cầu khách hàng
Hiệp hội khách sạn quốc tế (International hotel Association - LHA)
Được thành lập năm 1969 thay thế cho hiệp hội các nhà kinh doanh khách sạn và Liênhiệp khách sạn quốc tế
Mục tiêu hành động của một tổ chức quốc tế về ngành công nghiệp nhà hàng và kháchsạn nói chung thực thi các chức năng của một hiệp hội thương mại ở mức độ quốc tế Hiệp hội có4.300 hội viên ở̉ 145 quốc gia và vùng lãnh thổ Trụ sở của Hiệp hội đặt tại Paris - thủ đô Cộnghoà Pháp
Hiệp hội vận chuyển hàng không quốc tế (International Air Transport Assoeiation - IATA):
Là một tổ chức toàn cầu về hàng không quốc tế Chức năng chính của IATA là tạo sự antoàn trong việc vận chuyển hành khách và hàng hoá từ mọi
nơi ở̉ mạng lưới hàng không thế giới đến bất cứ nơi khác bằng sự kết nối cáctuyến đường bay
Nhiệm vụ của IATA là đại diện và phục vụ cho ngành công nghiệp hàng không thế giới :phục vụ 4 nhóm theo sự vận hành suôn sẻ của hệ thống vận chuyển hàng không thế giới: hànhkhông; công chúng; các chính quyền; nhóm thứ 3 như nhà cung cấp, nhân viên du lịch và nhânviên vận chuyển hàng hoá
IATA hoạt động mật thiết với tổ chức hàng không dân dụng quốc tế Văn phòng chínhcủa IATA đặt tạiMontreal, Canada Cơ quan điều hành đặt ở Geneva, Thuỵ Sỹ̃, ngoài ra còn cócác văn phòng đại diện cho các khu vực trên thế giới
Các Tổ chức trong khu vực:
Hiệp hội Du lịch châu Á Thái Bình Dương (Pacific Asia Travel Association PATA):
Trang 7-Đại diện cho những quốc gia ở̉ Thái Bình Dương và Châu Á hợp nhất lại để đạt đượcmục tiêu chung, đó là, vượt trội về phát triển du lịch và lữ hành trong khu vực rộng lớn này.Công việc của Hiệ•p hội là phát triển du lịch thông qua các chương trình nghiên cứu, phát triển,giáo dục và tiếp thị PATA đã hòan thành xuất sắc và tạo được tiếng vang trong số các tổ chứcthế giới.
PATA được thành lập năm 1951 tại Hawaii với tên gọi là Hiệp hội lữ hành khu vực TháiBình Dương (Pacific Area Travel Association), tổ chức này có mục đích thúc đẩy sự phát triểnhợp tác trong lĩnh vực du lịch giữa các nước, các cơ quan du lịch của các nước trong khu vực
Các thành viên PATA bao gồm các chính quyền, các công ty hàng không, hàng hải, cáckhách sạn, các công ty du lịch
Là 1 thành viên của PATA, chi hội PATA Việt Nam được thành lập ngày 04/01/1994Hàng năm PATA tổ chứ chội nghị thường niên lần lượt tại các nước thành viên nhằm traođổi kinh nghiệm, hỗ trợ hợp tác về du lịch giữa các nước trong khu vực
Cơ quan quyền lực tối cao của PATA là hội nghị thường niên, Ủy ban điều hành, Ủy banthường trực và Ban thư ký
Hội nghị thường niên của PATA xem xét các họat động của Hội trong năm, có thẩmquyền sửa đổi Điều lệ, nguyên tắc họat động và bộ máy tổ chức thông qua các vấn đề ngân sách,xác định địa điểm của kỳ họp kế tiếp và thông qua dự thảo nghị quyết của Hội nghị
Tạp chí PATA, bản tin PATA là những ấn phẩm du lịch có uy tín trên thế giới nhờ vàonhững thông tin rất thời sự và tin cậy PATA còn tổ chức hội chợ du lịch Thái Bình Dương nhằmhỗ trợ cho việc xúc tiến hợp tác kinh doanh du lịch
Hiệp hội Du lịch Châu Âu (European Travel Commission - ETC)
Là một khối liên minh chiến lược cộng tác giữa 31 tổ chức du lịch quốc gia Châu Âu ETC
là một tổ chức du lịch phi lợi nhuận, được thành lập năm 1948, trụ sở chính đặt tại Brussels, Bỉ Mục tiêu của ETC là :
- Hỗ trợ về hợp tác du lịch quốc tế ở các nước Châu Âu
- Trao đổi các thông tin về các dự án phát triển du lịch và kỹ thuật tiếp thị
- Cam kết triển khai các họat động nghiên cứu về du lịch
- Xúc tiến họat động du lịch đến các nước ở Châu Âu, đặc biệt từ Bắc Mỹ và Nhật Bản Hiện tại chiến lược của Hiệp hội này tập trung vào các họat động sau :
- Cải tiến chất lượng dịch vụ ở Châu Âu
- Kích cầu ở các nước lân cận bằng cách bỏ Visa, đơn giản hóa các thủ tục xuất nhập cảnh
- Cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp du lịch
- Thúc đẩy phát triển du lịch bền vững
Từ 1980 đến nay, ngày 27-9 là ngày mà ngành công nghiệp không khói của nhiều nước trên thế giới đón mừng Ngày du lịch thế giới (WTD) Mỗi năm, ngày này được đón mừng theo một đề tài đã được nhất trí chọn trước đó bởi Đại hội đồng Tổ chức Du lịch thế giới (WTO, trụ sở chính đặt tại Madrid, Tây Ban Nha).
1.2 Lịch sử phát triển du lịch Việt Nam
Dân tộc Việt Nam với “rừng vàng biển bạc” là cái nôi tạo nên bức tranh “sơn thuỷ hữu
tình” lôi cuốn bao người muốn khám phá cái Đẹp Chúng ta có thể khẳng định rằng hoạt động dulịch ở nước ta đã có từ lâu đời Việc mở mang bờ cõi của nhà nước phong kiến Việt Nam chắcchắn có liên quan chặt chẽ với các chuyến đi du lịch của vua quan và các học giả Những thi sĩnhư Trương Hán Siêu, Hồ Xuân Hương, với tâm hồn tự do, ưa phóng khoáng luôn có nhữngcuộc “dã ngoại” tìm đến thiên nhiên để tìm cảm hứng cho những cảm hứng sáng tác của mình
Trang 8Bà huyện Thanh Quan đã từng có cuộc hành trình dài ngày từ xứ Bắc vào kinh đô Huế để nhậnchức Cung trung giáo tập Các dấu tích trên đá của Nguyễn Nghiễm ở Bích Động (1973), củachúa Trịnh Sâm ở Hương Tích và nhiều vua quan, nhà nho khác là những bằng chứng về chuyến
du ngoạn của họ
Trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, việc khai thác tài nguyên phục vụ mục đích du lịch
và nghỉ dưỡng càng trở nên rõ nét hơn Hàng loạt nhà nghỉ, biệt thự được xây dựng ven các bãibiển, vùng hồ hay vùng núi, nơi có khí hậu dễ chịu như Đồ Sơn, Đà Lạt, Vũng Tàu, Ba vì, TamĐảo… Giai đoạn này chứng kiến tầng lớp quan lại, vua chúa sang “mẩu quốc ” để tuyên truyềncái gọi là “khai sáng văn minh” Bên cạch đó chúng ta còn chứng kiến nhiều du học sinh sangcác nước Pháp, Nhật, Trung Quốc theo những tổ chức khác nhau tìm đường giải phóng đấtnước Tuy vậy sự đi lại đó chỉ mang tính chính trị nhiều hơn là đi du lịch Trước năm 1945, dulịch Việt Nam chưa tạo cho mình một nét đặt trưng hay nói cách khác chưa có động lực để pháttriển
Sau ngày hòa bình lập lại (1954), đất nước tạm thời chia thành 2 miền Việc khai thác dulịch đi theo 2 hướng khác nhau Ở miền Bắc, mặc dù điều kiện kinh tế còn hết sức khó khăn songthanh thiếu niên, học sinh, sinh viên thường tổ chức các chuyến đi tham quan, cắm trại và thamgia các hoạt động vui chơi ngoài trời Ở miền Nam, một số khách sạn lớn đã được xây dựng đểđáp ứng nhu cầu một số ít người thuộc tấng lớp trên của xã hội và binh lính, sĩ quan nước ngoài
Ngày 9/7/1960 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 26 CP thành lập Công ty
Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương, đánh dấu sự ra đời của ngành Du lịch Việt Nam
Ngày 16/3/1963 Bộ Ngoại thương ban hành Quyết định số 164-BNT-TCCB quy
định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Công ty Du lịch Việt Nam
Ngày 18/8/1969 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 145 CP chuyển giao
Công ty Du lịch Việt Nam sang cho Phủ Thủ tướng quản lý
Ngày 27/6/1978 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Quyết nghị số 262
NQ/QHK6 phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Du lịch Việt Nam trực thuộc Hội đồng Chính
phủ
Ngày 23/1/1979 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 32-CP quy định nhiệm
vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch Việt Nam
Ngày 15/8/1987 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 120-HĐBT về chức
năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch
Ngày 9/4/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 119-HĐBT thành lập
Tổng công ty Du lịch Việt Nam
Ngày 31/12/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 447-HĐBT về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch
Ngày 26/10/1992 Chính phủ ban hành Nghị định số 05-CP thành lập Tổng cục Du
lịch
Ngày 27/12/1992 Chính phủ ban hành Nghị định số 20-CP về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch
Ngày 7/8/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 53/CP về cơ cấu tổ chức của Tổng
cục Du lịch
Ngày 25/12/2002 Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 18/2002/QĐ-BNV về việc cho
phép thành lập Hiệp hội Du lịch Việt Nam
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam là một bộ thuộc Chính phủ Việt Nam.
Ngày 31 tháng 7 năm2007, Quốc hội khóa 12 ra Nghị quyết quyết định thành lập Bộ Văn hóa,
Trang 9Thể thao và Du lịch Việt Nam trên cơ sở sáp nhập Ủy ban Thể dục Thể thao, Tổng cục Du
lịch và mảng văn hóa của Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam.
Việc hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh trong những năm qua, thể hiện rõnhất trong việc tăng cường các hoạt động hợp tác song phương và đa phương, tham gia tích cựcvào diễn đàn khu vực và châu lục Du lịch Việt Nam tích cực tham gia và khai thác những lợi thế
và quyền lợi của mình trong việc trong việc tham gia các tổ chức du lịch quốc tế và khu vực (Tổchức Du lịch Thế giới WTO, Hiệp hội Du lịch Châu Á – Thái Bình Dương PATA), các diễn đàn
du lịchnhư Diễn đàn du lịch ASEAN, Hội nghị Bộ trưởng Du lịch châu Á – Thái Bình Dương,Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC tại Chi lê Ngoài ra, Du lịch Việt Nam còn tranh thủ sự gúp
đỡ, tư vấn của các tổ chức quốc tế như WTO, Tổ chuức Phát triển bền vững Hà Lan (SNV) trongviệc xây dựng dự thảo Luật Du lịch Sử dụng hiệu qủa nguồn vốn ODA của các nước cho pháttriển nguồn nhân lực du lịch như nguồn vốn do Luxembourg và Liên minh châu Au (EU) tài trợ.Trong những năm gần đây, thế giới đã nhìn nhận Việt Nam như là một điểm đến an toàn đối với
du khách Bằng chứng là năm 2000, Thủ đô Hà Nội được trao danh hiệu “Thủ đô vì hoà bình”,
du khách đến với Việt Nam mà không phải lo lắng bởi xung đột, tiếng bom, tiếng súng Các nhàdoanh nghiệp, nhà đầu tư có môi trường kinh doanh thuậ lợi Chính điều này đã tạo nên môitrường đầu tư du lịch lí tưởng Năm 2004, đã có 15 dự án FDI đầu tư vào du lịch được cấp phépvới số vốn hơn 110 triệu USD
Hiện nay, chương trình hành động quốc gia về du lịch tiếp tục được tập trung triển khaithực hiện Nhiều sự kiện, lễ hội văn hóa du lịch đã được tổ chức như: Fesival Huế, Lễ hội Vănhóa du lịch biển Đà Nẵng, Năm Du lịch Điện Biên Phủ, Lễ hội 100 năm du lịch Sa pa, Lễ hộiVăn hóa du lịch “Nhịp cầu xuyên Á”, Tháng du lịch “Hội An – Cảm xúc mùa hè”, Hội thảo “Dulịch Quảng Trị với con đường Di sản Miền Trung”, Lễ hội Văn hóa du lịch Việt – Nhật tại TP
Hồ Chí Minh…
Du lịch việt Nam cũng đã chủ trì hoặc tham gia tổ chức các sự kiện quốc tế lớn như Hộinghị Bộ trưởng châu Á – Thái Bình Dương về Du lịch văn hóa gắn với xóa đói, giảm nghèo tạiHuế, Hội nghị Thưởng đỉnh về hợp tác Á –Âu (ASEM 5) tại Hà Nội.Việc tổ chức các sự kiệntrên đã tạo nên một khí thế mới cho Du lịch Việt Nam, thu hút số lượng lớn khách du lịch trong
và ngoài nước, thúc đẩy phát triển các loại hình, sản phẩm du lịch mới, đặc trưng mà Việt Nam
có thế mạnh
Theo dự báo của tờ báo điện tử Hospitality Net, Việt Nam – một đất nước giàu di sản văn
hoá và có bề dày lịch sử sẽ tiép tcj thu hút khách từ nhiều nơi trên thế giới Tờ báo viết: Theocuộc khảo sát do HotelBenchmark thực hiện thì từ tháng 9/2004, sự tăng trưởng về doanh thuphòng khách sạn tại thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cao hơn bất cứ quốc gia ĐôngNam Á nào khác Theo Tổng cục Du lich Việt Nam(VNAT), trong 9 tháng đầu năm số du kháchtăng 30,5%, đạt 2,1 triệu người so với cùng thời kì năm 2003 Nguồn du khách chủ lực là TrungQuốc, đóng góp hơn 27% lương du khách; tiếp theo là Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc Du lịchtrong nước cũng tăng trưởng khá khi thu nhập của người dân tăng nhanh và việc đi lai dễ dàng,thuận tiện hơn
Tính đến cuối năm 2004, cả nước đón được khoảng 2,9 triệu lượt khách quốc tế, vượt chỉtiêu kế hoạch đặt ra (2,8 triệu) và tănh gần 20% so với năm 2003; khách du lịch nội địa đạt 14triệu lượt; thu nhập du lịch đạt khoảng 28 ngàn tỷ đồng Các thị trường trọng điểm quốc tế vẫntiếp tục được duy trì và tăng trưởng Hầu hết khách quốc tế từ các thị trường truyền thống của Dulịch Việt Nam đều đạt mức tăng trưởng hai con số: khách Nhật tâng khoảng 30%, Hàn Quốc tăng80%, Sinhgapo tăng hơn 40%, Thái Lan tăng 39%, Malaysia: 26%, Mỹ: 28%, Canađa tăng hơn
Trang 1040%, Uc: 40% Hoạt động du lịch sôi động, tăng diện và quy mô, nhưng vẫn đản bảo được anninh và trật tự, an toàn xã hội.
Tuy đạt được những kết quả nêu trên, nhưng các chỉ tiêu chủ yếu về lượng khách, thu nhậpđạt được so với một số quốc gia có du lịch phát triển trong khu vực vẫn còn có khoảng cách khálớn; tổ chức bộ máy, nhân sự của ngành chưa tương xứng với vai trò, vị trí và mục đích chính trịcủa một ngành kinh tế mà Đảng ta xác định là mũi nhọn
Bước sang năm 2005, trong bối cảnh có nhiều sự kiện trọng đại của đất nước và của ngành
du lịch: 60 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, 75 năm thành lập Đảng, 30 năm giảiphóng miền Nam thống nhất đất nước, 45 năm ngày thành lập Ngành Du lịch v.v…, Du lịch ViệtNam phải vươn lên mạnh mẽ trên các mặt để phấn đấu Chỉ tiêu đặt ra là đón trên 18 triệu lượtkhách du lịch (3 triệu lượt khách du lịch quốc tế tăng 14% so với năm 2004) và hơn15 triệu lượtkhách nội địa, tăng 6,5% so với năm 2004)
Theo Tổng cục Thống kê, trong tháng 8/2009 ước tính tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt 314.915 lượt người, tăng 16% so với tháng 7 năm 2009 và giảm 8% so với cùng kỳ năm trước Ước tính tổng số khách quốc tế đến Việt Nam 8 tháng đầu năm 2009 đạt 2.479.939 lượt người, giảm 17,7% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó, lượng khách đến du lịch, nghỉ dưỡng là 1.460.709 lượt người, giảm 20,7%; khách đến vì công việc là 464.605 lượt người, giảm 20,7%; khách đến thăm thân là 387.141 lượt người, tăng 1,2%; khách đến vì các mục đích khác là 167.487 lượt người, giảm 18,4% so với cùng kỳ năm 2008 Trong 8 tháng đầu năm 2009, lượng khách đến từ các nước đều giảm nhưng tốc độ giảm đã chậm lại so với tháng trước: Trung Quốc giảm 35%, Hàn Quốc giảm 21,6%, Đài Loan giảm 17,5%, Thái Lan giảm 16,8%, Đài Loan giảm 15,4%; Australia giảm 11,8%, Nhật Bản giảm 11,4%, malaysia giảm 4,4%, Mỹ giảm 3,9%
Kinh doanh lữ hành: Điểm và khu du lịch thường kết hợp với các công ty lữ hành xây
dựng các chương trình bao gồm các dịch vụ (vé, bảo hiểm, ăn uống, lưu trú, HDV …) để cungcấp cho khách Như vậy việc kinh doanh lữ hành của điểm và khu du lịch chỉ thực hiện khi vàchỉ khi có sự kết hợp cới các công ty lữ hành Có như vậy nguồn khách của điểm du lịch và khu
du lịch mới ổn định và số lượng sản phẩm, dịch vụ được tiêu thụ với số lượng nhiều hơn
Kinh doanh du lịch lữ hành là nghề kinh doanh đặc trưng của kinh tế du lịch Nó có
chức năng sản xuất, lưu thông (mua – bán) và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch trên thịtrường để thu lợi ích kinh tế Đồng thời bảo đảm giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, antoàn xã hội, an ninh quốc gia và giao lưu quốc tế
Kinh doanh du kịch lữ hành diễn ra theo một số chu trình gồm 4 bước:
B1: Sản xuất hàng hoá ( Xây dựng chương trình cơ bản)
B2: Tiếp thị và ký kết hợp đồng du lịch
B3: Tổ chức thực hiệp hợp đồng du lịch
B4: Thanh quyết toán hợp đồng du lịch
2.1.2 Kinh doanh lưu trú
Kinh doanh lưu trú du lịch: Kinh doanh lưu trú là hoạt động kinh doanh nhằm cung
cấp các dịch vụ cho thuê buồng ngủ và các dịch vụ bổ sung khách trong thời gian lưu lại tạm thờitại các điểm và khu du lịch nhằm mục đích lợi nhuận Thông thường, đây là hoạt động kinh
Trang 11doanh chính, chủ yếu của đa số khách sạn và cũng là hoạt động thu hút vốn đầu tư lớn nhất trongkhách sạn Tuy nhiên hiện nay các loại hình cơ sở lưu trú trong các khu du lịch ngày càng đadạng phù hợp với các loại địa hình khác nhau Chúng ta có thể bắt gặp như: Camping,Bungalow, Motel …
Kinh doanh cơ sở lưu trú là một trong những hoạt đông cơ bản của hoạt động du lịch, nóđóng vai trò vừa là một sản phẩm du lịch, vừa là điều kiện cơ sở vật chất để phát triển du lịch tạiđịa phương
2.1.3 Kinh doanh ăn uống
Kinh doanh ăn uống: Bên cạnh hoạt động kinh doanh lưu trú, kinh doanh dịch vụ ăn
uống cũng là một hoạt động quan trọng của điểm và khu du lịch Đối tượng phục vụ của dịch vụnày không chỉ dành cho khách du lịch thuần túy mà còn đáp ứng nhu cầu của đối tượng kháchvãng lai hoặc khách khác Doanh thu từ ăn uống chỉ đứng sau doanh thu từ kinh doanh lưu trú
2.1.4 Kinh doanh vận chuyển
Hoạt động du lịch gắn liền với phương tiện vận chuyển khách du lich Đó là mối quan hệbiện chứng không thể tách rời hoặc phá bỏ được Phương tiện vận chuyển cũng là một nhân tốquan trọng tạo nên loại hình du lịch dựa trên tiêu chí của chính nó Đối với khách du lịch quốc tếthường di chuyển trên các máy bay, tàu biển liên quốc gia Các phương tiện này do ngành khácquản lí Ở các nước phat triển, các hãng du lịch lớn thường có các hãng vẩn chuyển riêng Đốivới khách du lịch nội địa, phương tiện đi lại phổ biến là ôtô chất lượng cao để phù hợp với điềukiện địa hình và thời gian lưu trú Kinh doanh vận chuyển ít nhiều chịu ảnh của hoạt động dulịch Vào mùa vụ du lịch, phương tiện vận chuyển hoạt động với tần suất cao và ngược lai, lúctrái vụ hoạt động với tần suất thấp
2.1.5 Kinh doanh dịch vụ bổ sung
Cung cấp các dịch vụ bổ sung là một phần quan trọng trong hoạt động du lịch Sở thích
và nhu cầu của khách du lịch tăng nhanh hơn so với sự cung cấp các dịch vụ ở những cơ sở đóntiếp khách Điều đó thúc đẩy các cơ sở đón tiếp hàng năm phải mở rộng các thể loại dịch vụ mà
trước hết là các loại dịch vụ bổ sung Dịch vụ bổ sung bao gồm:
Dịch vụ làm giàu thêm sự hiểu biết: triển lãm, quảng cáo, thông tin
Dịch vụ làm sống động hơn cho kỳ nghỉ và thời gian nghỉ (như vui chai, giải trí) : Tổ
chức tham gia cầm lễ hội, trò chơi dân gian, vũ hội ; học những điệu múa và bài hát dân tộc;học cách nấu món ăn đặc sản; karaoke, internet, bida, bowling …
Dịch vụ làm dễ dàng việc nghỉ lại của khác : Hoàn thành những thủ tục đăng ký hộ
chiếu, giấy quá cảnh, mua vé máy bay, làm thủ tục hải quan; các dịch vụ thông tin như cung cấptin tức, tuyến điểm du lịch, sửa chữa đồng hồ, giày dép, tráng phim ảnh; các dịch vụ trung giannhư mua hoa cho khách, đăng ký vé giao thông, mua vé xem ca nhạc; đánh thức khách dậy, tổ
chức trông trẻ, mang vác đóng gói hành lý
Dịch vụ tạo điều kiện thuận tiện trong thời gian khách nghỉ lại: Phục vụ ăn uống tại
phòng ngủ; phục vụ trang điểm tại phòng, săn sóc sức khỏe tại phòng; đặt một số trang bị chophòng như vô tuyến, tủ lạnh, radio, dụng cụ tự nấu ăn (phòng có bếp nấu)
Các dịch vụ thỏa mãn những nhu cầu đặc biệt của con người: Cho thuê xưởng nghệ
thuật (họa, điêu khắc); cho thuê hướng dẫn viên; cho thuê phiên dịch, thư ký; cho thuê hộitrường để thảo luận, hòa nhạc; cung cấp điện tín, các dịch vụ in ấn, chụp lại; cho sử dụng nhữnggian nhà thể thao, dụng cụ thể thao
Dịch vụ thương mại: Mua sắm vật dụng sinh hoạt; mua sắm vật lưu niệm; mua hàng hóa
quý hiếm có tính chất thương mại
Trang 12Như vậy, kinh doanh dịch vụ bổ sung ra đời muộn hơn so với các hoạt động kinh doanhkhác, nhưng nó ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh chung du lịch nóichung Việc tổ chức cung cấp các dịch vụ bổ sung sẽ đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu của khách dulịch, kéo dài hơn mùa du lịch, tăng doanh thu cho ngành, tận dụng triệt để hơn cơ sở vật chất sẵn
có, còn chi phí tổ chức cung cấp dịch vụ bổ sung không đáng kể so với lợi nhuận thu được
Đồi với các nhà kinh doanh lữ hành, dịch vụ bổ sung được ví như chất xúc tác kích thích
sự hành động của du khách chọn tour du lịch của công ty mình Nếu doanh nghiệp lữ hành nàokhai thác tối các thế mạnh về sự phong phú, độc đáo, khac lạ của dịch vụ bổ sung khi tiếp thịnguồn khách sẽ có hiệu quả kinh doanh cao hơn
Tăng dịch vụ cũng có nghĩa la tăng thêm việc làm cho người lao động Xu hướng hiệnnay là chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực dịch vụ Điều nàycũng có nghĩa là các dịch vụ bổ sung tạo ra thêm việc làm, đồng thời gián tiếp tạo nên sự chuyểndịch đó
Bên cạnh đó, sự đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ bổ sung là cơ sở cũng như tiêuchuẩn quan trọng để xếp hạng các cơ sở lưu trú Hiện nay rất nhiều cơ sở kinh doanh du lịchcạnh tranh và thu hút khách chủ yếu dựa vào thế mạnh của các dịch vụ bổ sung này nhằm thu hútkhách công vụ, thương gia,
- Kinh doanh hàng lưu niệm: Bán các đồ lưu niệm, các đặc sản của địa phương
- Kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí: Những trò chơi dành cho trẻ em, cho người
lớn, đặc biện các khu du lịch ngày nay có đưa vào những trò chơi mang cảm giác mạnh
- Dịch vụ chăm sóc sắc đẹp: Chủ yếu tại các khu du lịch như cắt tóc, trang điểm,…
2.2 Mối quan hệ giữa các bộ phận của ngành công nghiệp du lịch
Cơ sở kinh doanh lữ hành là bộ phận trung gian, làm cầu nối giữa khách du lịch với các cơ sởkinh doanh khác Các bộ phận của ngành công nghiệp du lịch có mối quan hệ liên kết chặt chẽ,phát triển cộng sinh
3 Bản chất và các đặc trưng của ngành công nghiệp du lịch
3.1 Bản chất
Du lịch cũng được hiểu là tập hợp các hoạt động kinh doanh nhằm giúp đỡ việc thực hiệncác cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người ví dụ như phục vụ vận chuyển, phục vụ ănuống, lưu trú, phục vụ hướng dẫn tham quan…
Kinh doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các công đoạn đầu tư tạo sản
phẩm du lịch, đến tổ chức tiêu thụ, thực hiện được các sản phẩm du lịch (hàng hoá và dịch vụ du lịch) trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
- Có sự phối hợp liên ngành, liên vùng
- Thực hiện chức năng thương mại
- Thực hiện chức năng đối ngoại
- Phát triển bền vững, bảo vệ môi trường
4 Các xu hướng phát triển du lịch
4.1 Các xu hướng phát triển du lịch của thế giới
Trang 13Ngày nay, mặc dù một số khu vực trên thế giới còn những bất đồng về chính trị, sắc tộc và
tệ nạn khủng bố song xu hướng chung của nhân loại là hoà bình, hữu nghị hợp tác và phát triển.Các quốc gia tranh thủ thời cơ để mở rộng quan hệ về kinh tế, chính trị và văn hoá xã hội Nhiềuhiệp hội, tổ chức đã ra đời như ASEM, ASIAN, OPEC, EU v.v… Các quốc gia đã có sự tìm hiểulẫn nhau về văn hoá, xã hội để mở ra hướng đầu tư thích hợp cho mình
Du lịch có xu hướng gia tăng theo số lượng: số lương khách, thành phần khách, loại hình,sản phẩm du lịch các doanh nghiệp kinh doanh du lịch Theo ước tính thì hiện nay có hơn 5%dân cư thế giới tham gia vào du lịch quốc tế Những yếu tố được coi là nguyên nhân chính ảnhhưởng tới sự tăng trưởng này là mức sống của người dân, giá cả các dịch vụ hạ hơn trong khimức thu nhập của họ tăng dần
Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, cơ cấu thành phần du khách có nhiều thay đổi hay còngọi là xã hội hóa thành phần du khách Du lịch không còn là đặc quyền của tầng lớp quý tộc,tầng lớp trên của xã hội nữa Xu thế quần chúng hoá thành phần du khách trở nên phổ biến ởnhiều nước Lý do của hiện tượng này cũng la mức sống của người dân được nâng lên cao, giá cảdịch vụ hàng hoá không đắt, các phương tiện giao thông vận tải, lưu trú phong phú và thuận tiện.Nhưng điều quan trọng là chính sách của địa phương có điểm du lịch Ở nhiều nơi, nhà nước cóchính sách khuyến khích người dân đi du lịch do thấy được ý nghĩa của hiện tượng này đối vớisức khoẻ cộng đồng
Nhờ sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, đặc biệt là ngành công nghiệp ô tô, tàu hoả, tàuthuỷ, máy bay siêu tốc và sự bùng nổ của công nghệ thông tin mà địa bàn du lich ngày càng mởrộng, cự li ngày càng dài ra Với vị trí đặc biệt của mình, sư phát triển cao về lực lượng sản xuất
và có nhiều di tích lịch sử, văn hoá mà Châu Âu có ngành du lịch quốc tế phát triển sớm mạnh và
là châu lục có nhiều người đi và đến du lịch nhất Hiện nay du lịch quốc tế đang có xu hướngphát triển nhanh ở châu Á, châu Phi, Châu Đại Dương, tuy nhiên khu vực Trung Cận Đông vàchâu Phi mới chỉ ở mức triển vọng vì hiện tại đang có nhiều bất ổn về kinh tế và chính trị
Căn cứ vào số khách nước ngoài tới du lịch và số người đi du lịch ra nước ngoài của từngnước, số ngoại tệ thu được của du khách cùng cán câu thanh toán du lịch, có thể phân ra 3 loạinước khác nhau trong sự phát triển du lịch quốc tế:
1 Các nước chủ yếu là du lịch bị động: Hoa kỳ, Nhật Bản, Anh, Uc, Balan,
CH Séc, Slovakia, NiuDilan
2 Các nước phát triển du lịch chủ động: Tây Ban Nha, Ý, Thuỵ Sĩ, Bồ Đào Nha, Ai
Cập
3 Các nước có sự phát triển cân bằng du lịch quốc tế chủ động, bị động: Pháp,
Hunggary, Ixraen, Thổ Nhĩ Kỳ, một số nước Nam Mỹ và các nước châu Á
Do đời sống ngày càng cải thiện cải thiện, nhu cầu tích luỹ tăng không ngừng nên trongcác chuyến du lịch, khả năng chi trả của con người là rất cao Nhu cầu mà con người hướng tới,bên cạnh nhu cầu ăn uống là phục hồi, duy trì sức khỏe, vui chơi giải trí, tìm hiểu, khám phá thếgới, tìm hiểu, khai thác thị trường và một nhu cầu đặc biệt khác là bay vào vũ trụ
Trên phạm vi thế giới, số khách du lịch lớn nhất là khách đi nghỉ ở bờ biển Trong tươnglai, tỷ lệ du lịch biển sẽ giảm đi do phát triển của du lịch trên núi Một đặc điểm nữa có ý nghĩalớn đối với phân bố là tính chất giải trí là tính chất giải trí đối lập, tức người đi du lịch thườngtìm đến môi trường đối lập với nơi họ sinh sống (Vùng núi - Vùng biển; Thành phố – Nôngthôn…)
4.2 Các xu hướng phát triển du lịch của Việt nam
Ngành Du lịch đã đề ra Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 – 2010 và địnhhướng tới 2020 với các mặt sau:
Trang 14 Định hướng thị trường: Tiếp tục phát triển các thị trường Đông Á – TBD (Nhật, Trung
Quốc, ASEAN), châu Âu (Đức, Pháp, Anh), Bắc Mỹ (Mỹ) Chú trọng thị trường bắc
Âu, Úc, New Zealand và các thị trường truyền thống, Đông Âu)
Sản phẩm du lịch: Phát triển du lịch sinh thái và văn hóa.
Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá: Đẩy mạnh xúc tiến quảng bá, thiết lập đại diện du
lịch
Đầu tư phát triển: Các khu du lịch quốc gia, các sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh,
tôn tạo và nâng cấp các điểm du lịch, cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng du lịch, tăng đầu tư ngânsách nhà nước lên 3 – 4% vào tổng đầu tư các ngành sản xuất dịch vụ
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Tăng cường số lượng, chất lượng đội ngũ, hệ
thống đào tạo, nghiên cứu khoa học vá công nghệ
Hợp tác quốc tế: Song phương, khu vực, các tổ chức quốc tế.
Trang 15Chương 2: Nhu cầu và động cơ du lịch
1 Khái niệm, các học thuyết về nhu cầu
1.1 Khái niệm nhu cầu
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển
Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau
1.2 Các học thuyết về nhu cầu
1.2.1 Học thuyết nhu cầu của Maslow
Trên thực tế học thuyết về tạo động lực được biết đến nhiều nhất là học thuyết thứ bậc
nhu cầu của Abraham Maslow Ông đặt ra giả thuyết rằng trong mọi con người đều tồn tại một
hệ thống nhu cầu 5 thứ bậc sau đây:
- Nhu cầu sinh lý: bao gồm ăn, mặc, ở, đi lại và các nhu cầu thể xác khác.
- Nhu cầu về an toàn: bao gồm an ninh và bảo vệ khỏi những nguy hại về thể chất và tình cảm.
- Nhu cầu xã hội: bao gồm tình thương, cảm giác trực thuộc, được chấp nhận và tình bạn.
- Nhu cầu về danh dự: bao gồm các yếu tố bên trong như tự trọng, tự chủ và thành tựu các các
yếu tố bên ngoài như địa vị, được công nhận và được chú ý
- Nhu cầu tự hoàn thiện: động cơ trở thành những gì mà ta có khả năng; bao gồm sự tiến bộ, đạt
được tiềm lực của mình và tự tiến hành công việc
Khi mà một trong số các nhu cầu này được thỏa mãn một cách căn bản, nhu cầu tiếp theo
sẽ chế ngự Theo quan điểm về động lực, lý thuyết của Maslow có thể phát biểu rằng, mặc dùkhông một nhu cầu nào có thể được thỏa mãn triệt để, song nhu cầu được thỏa mãn một cách cănbản không còn tạo ra động lực nữa
1.2.2 Học thuyết ba nhu cầu (McClelland)
David McClelland và những người khác đã đề ra ba động cơ hay nhu cầu chủ yếu tại nơilàm việc:
- Nhu cầu về thành tích (nAch): Động cơ để trội hơn, để đạt được thành tích xét theo một loạt các
tiêu chuẩn, để phấn đấu thành công
- Nhu cầu về quyền lực (nPow): Nhu cầu làm gây ảnh hưởng tới hành vi và cách ứng xử của
người khác, mong muốn người khác làm theo ý mình
- Nhu cầu về hòa nhập (nAff): Sự mong muốn có được các mối quan hệ thân thiện và gần gũi
giữa người với người
2 Nhu cầu du lịch
2.1 Khái niệm, bản chất của nhu cầu du lịch
Nhu cầu du lịch là sự mong muốn của con người đi đến một nơi khác với nơi ở thường xuyên của mình để có được những xúc cảm mới, trải nghiệm mới, hiểu biết mới, để phát triển các mối quan hệ xã hội, phục hồi sức khoẻ, tạo sự thoải mái dễ chịu về tinh thần
Nhu cầu du lịch là một nhu cầu đặc biệt, thứ cấp và tổng hợp
Nhu cầu du lịch được hình thành dựa trên nhu cầu sinh lý và cả nhu cầu tinh thần của conngười
2.2 Các loại nhu cầu du lịch
+ Nhu cầu thiết yếu trong du lịch: là những nhu cầu về vận chuyển, lưu trú và ăn uống cần phảiđược thoả mãn trong chuyến hành trình du lịch
+ Nhu cầu đặc trưng: là những nhu cầu xác định mục đích chính của chuyến'đi, ví dụ nhu cầunghỉ dưỡng, tham quan, giải trí, thăm viếng, tham gia lễ hội, học tập nghiên cứu,
Trang 16+ Nhu cầu bổ sung: là những nhu cầu chưa định hình trước, nó phát sinh trong chuyến hành trình
du lịch như: thông tin, tư vấn, mua sắm
2.3 Các yếu tố chủ yếu tác động tới nhu cầu du lịch
Nhu cầu du lịch không phải là nhu cầu cơ bản, do vậy, nhu cầu du lịch chỉ được thoả mãntrong những điều kiện nhất định, đặc biệt là điều kiện về kinh tế, kỹ thuật, xã hội
Thế giới hiện nay có trên 6 tỷ người, nhưng theo thông kê của Tổ chức Du lịch thế giới hàng năm có khoảng trên 800 triệu lượt người đi du lịch nước ngoài, tức chỉ khoảng trên 10% dân số thế giới Phần lớn dân cư có mong muốn được đi du lịch, nhưng để một người mong muốn trở thành khách du lịch phải có những điều kiện vật chất và xã hội nhất định Những điều kiện đó là :
2.3.1 Khả năng thanh toán cho các chuyến đi du lịch
Một người có khả năng đi du lịch hay không phải xem mức độ giàu có và thu nhập của gia đình Mức thu nhập của một gia đình hay của một người là một trong những yếu tố quyết định người
đó có thể trở thành khách du lịch hay không Theo công trình nghiên cứu về du lịch đã nêu ra mối quan hệ giữa tổng thu nhập quốc nội ( GDP) trên đầu người và mục đích du lịch :” Nếu GDPtrên đầu người đạt từ 800 USD đến 1.000 USD thì dân cư thường đi du lịch trong nước Khi đạt tới 4.000 USD – 10.000 USD thì sẽ đi du lịch nước ngoài và trên 10.000 USD sẽ đi du lịch vượt châu lục”.Thực tế đã chứng minh luận điểm này, khách du lịch quốc tế hầu hết đều từ các nước
có nền kinh tế phát triển như ở Tây Âu và Mỹ,Nhật bản v.v Chính vì vậy, các chuyên gia về du lịch khẳng định: “Mức thu nhập của con người là nhân tố kinh tế quan trọng nhất ảnh hưởng tới nhu cầu du lịch”
2.3.2 Thời gian rỗi
Thời gian nhàn rỗi là một điều kiện cơ bản để một người có mong muốn trở thành khách du lịch.Theo Maslow – nhà tâm lý học người Pháp “Thời gian nhàn rỗi tức là tên gọi chung khi mộtngười thoát ra khỏi vị trí làm việc, nghĩa vụ gia đình và xã hội, tự do tham gia hoạt động xã hội,
tự do phát huy sức sáng tạo vì bản năng nghỉ ngơi, tiêu khiển, không liên quan gì tới việc mưusinh và là hoạt động tuỳ ý” Xét về mặt cấu thành thời gian vật của con người trong một ngày cóthể chia làm bốn phần: thời gian hoạt động mưu sinh (thời gian làm việc nghề nghiệp theo phápluật quy định); thời gian sinh hoạt sinh lý ( ăn,ngủ,việc gia đình); thời gian sinh hoạt xã hội( quan hệ bạn bè,hội họp) và thời gian nhàn rỗi ( thời gian có thể tự do chi phối) Thời gian nhànrỗi nhiều hay ít và hình thức chi phối là chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng cuộc sống Xãhội càng phát triển, kinh tế càng giàu có thời gian nhàn rỗi càng nhiều
2.4 Xu hướng thay đổi nhu cầu du lịch
Thứ nhất: Cơ cấu nguồn khách sẽ ngày càng đa dạng
+ Về khả năng chi tiêu: du lịch đang ngày càng phổ biến, không chỉ những người giàu có từ các
nước phát triển mới đi du lịch mà tất cả các tầng lớp khác, từ nhiều quốc gia khác nhau cũngtham gia ngày càng đông đảo;
+ Về độ tuổi: người già, người mới nghỉ hưu đi du lịch ngày càng nhiều nên cần có nhữngchương trình đặc biệt phục vụ nhu cầu về nghỉ dưỡng cho đối tượng khách này
+ Về nhân thân: số người độc thân đi du lịch ngày càng tăng
Trang 17+ Về giới tính: Những thay đổi về vai trò và trách nhiệm trong gia đình khiến khách là phụ nữngày càng tăng, yêu cầu các cơ sở có những cải tiến, bổ sung các trang thiết bị, vật dụng và cácdịch vụ, lịch trình phù hợp với nhu cầu của nữ thương nhân.
+ Về loại hình: ngày càng nhiều những nhóm gia đình đăng ký đi du lịch với sự tham gia của đầy
đủ các thành viên của cả ba thế hệ trong gia đình, đặc biệt các dịp lễ, cuối tuần và kỳ nghỉ hè củatrẻ em
Thứ hai: Xu hướng chọn các dịch vụ, hàng hoá bền vững, có nhãn sinh thái, thân
thiện với môi trường.
Đây là xu hướng của khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, nhất là khách đến từ các nước châu
Âu, Bắc Mỹ, Nhật, Thái Lan Họ có ý thức và nhu cầu cao về an toàn và sức khoẻ, ngày càngnhiều người muốn quay về với thiên nhiên Vì vậy, cần triển khai thực hiện và tập trung tuyêntruyền cho các những chương trình, dịch vụ thân thiện với môi trường
Thứ ba: Ngày càng nhiều người sử dụng thời gian nhàn rỗi và thu nhập để nghỉ ngơi
và hưởng thụ các dịch vụ có lợi cho sức khoẻ và sắc đẹp.
Đáp ứng xu hướng này, cần tạo những khu vực không hút thuốc lá, không bán và phục vụ rượumạnh, bổ sung các thực đơn tăng cường rau, củ, quả chứng minh được nguồn gốc, các món ăn ítbéo, đường, calo hoặc ít carbohydrate, các đồ uống ít calo và ít cafein, tăng cường tổ chức câulạc bộ sức khoẻ với những dụng cụ, thiết bị thể thao, phòng tập yoga, sân tennis, sân tập goflmini, bể bơi, bể sục, phòng tắm nước khoáng, ngâm thuốc bắc, nơi phơi nắng hoặc các phòngmatxa ; các dịch vụ du lịch kết hợp chữa bệnh thời đại như các bệnh gut, tiểu đường, timmạch v.v
Thứ tư: Xu hướng ngày càng tăng nhu cầu khách lựa chọn chương trình du lịch có
sự kết hợp giữa các loại hình du lịch.
Ví dụ: nghỉ biển kết hợp với hội nghị, du lịch khen thưởng kết hợp thăm dò thị trường, du lịchnghỉ dưỡng ngắn ngày kết hợp với casino v.v đòi hỏi các cơ sở đa dạng hoá các sản phẩm nhưtạo chương trình nghỉ ngơi tham quan di tích lịch sử kết hợp thăm trang trại trồng rau, chè và cây
ăn quả, tổ chức các hoạt động giải trí trên biển
Thứ năm: Xu hướng chọn tour du lịch tự thiết kế, đặt chỗ qua mạng; tự lựa chọn
dịch vụ, không đi theo tour trọn gói.
Du lịch mang tính cá nhân nhiều nhất là dịch vụ ăn uống Vì vậy các doanh nghiệp lữ hành, vậnchuyển, khách sạn thường kết hợp tổ chức các chương trình chỉ cung ứng một phần dịch vụ dulịch như Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) đã tổ chức khá thành công góisản phẩm Free and Easy chỉ gồm vé máy bay, dịch vụ đón tiễn sân bay và 3 đêm khách sạn Nếu
có nhu cầu, khách có thể tiếp tục mua tour lẻ và các dịch vụ khác tại điểm đến Như vậy, để hỗtrợ thúc đẩy xu hướng này, cần hỗ trợ nâng cao năng lực tiếp cận thị trường của các doanhnghiệp, cơ quan xúc tiến du lịch bằng các công cụ cập nhật theo đời sống hiện đại như các mạngmobile, mạng xã hội như Facebook, Twitter…
Thứ sáu: Xu hướng đi nghỉ rời xa những nơi đô thị ồn ào, đến những nơi yên tính,
biệt lập
Đây là một xu hướng khiến các điêm du lịch ở các vùng xa trung tâm đô thị ngày càng đôngkhách Như vậy, xuất khẩu của dịch vụ du lịch có tiềm năng lớn cho những vùng sâu vùng xa vàđặc biệt khả năng cùng hỗ trợ xúc tiến thương mại Trong thời gian tới cần chú trọng hơn tới xuthế du lịch vì sức khỏe, vì xu hướng này hiện chưa được nhìn nhận một cách thích đáng trongcác chiến lược phát triển du lịch của tỉnh, vùng và cả nước Theo đó cần đẩy mạnh liên kết vùngtheo chuỗi cung ứng, hình thành các mô hình giúp phát triển sản phẩm du lịch mới: du lịch văn
Trang 18hóa, du lịch chăm sóc sức khỏe cá nhân, du lịch MICE, du lịch tàu biển, định vị du lịch cho từngkhu vực.
Thêm nữa, du khách đang có xu hướng thay đổi nhu cầu du lịch nghỉ dưỡng sang trải nghiệm cuộc sống dân dã với dân địa phương để tìm sự khác biệt thú vị
3 Động cơ du lịch
3.1 Khái niệm các loại động cơ du lịch
Động cơ là nội lực thúc đẩy con người thực hiện hoạt động theo một mục tiêu nhất định nhằmthoả mãn những nhu cầu sinh lý hoặc tâm lý của họ Như vậy động cơ có hai thành tố cơ bản lànhu cầu sinh học và nhu cầu tình cảm Tuy nhiên hai mặt này gắn kết chặt chẽ với nhau, khôngtách rời nhau
Cơ thể con người đồi hỏi thức ăn và nước uống Khi cần năng lượng bổ sung, cơ thể tạonên cảm giác đói và thúc đẩy người ta đi tìm và tiêu thụ thức ăn Cảm giác và hành động loại này
có liên quan chặt chẽ đến nhu cầu thiết yếu của con người - nhu cầu sinh học Động cơ cũng liênquan đến những nhu cầu thứ yếu khác mà chúng được gọi là nhu cầu tâm lý hay nhu cầu xã hội.Những nhu cầu này xuất hiện và phát triển trong quá trình nhận thức, học tập hoặc xã hội hóa
Tất nhiên hai loại nhu cầu này gắn kết chặt chẽ với nhau, ví dụ việc ăn uống hàng ngày.Chủ yếu thoả mãn nhu cầu sinh học của con người Các nghi lễ khi ăn uống, những sự sáng tạo
có liên quan đến bữa ăn đã làm cho việc ăn uống không còn chỉ đơn thuần là việc đáp ứng nhucầu sinh học mà còn đáp ứng nhu cầu xã hội Trong khi đó đối với du lịch, động cơ nhiều khi đốikháng nhau, phủ nhận lẫn nhau Du khách vừa muốn tìm nơi yên tĩnh để nghỉ ngơi vừa muốnđược tắm mình trong một không khí náo nhiệt Họ vừa muốn được không bị ai quấy rầy vừamuốn được kết bạn mới Như vậy động cơ du lịch rất phức tạp, đặc trưng đối với từng du khách
và nó chi phối quyết định du lịch của du khách tiềm năng Động cơ du lịch có tính cá nhân vàchủ quan nên khó có thể đo lường được nó Du khách thường không muốn tiết lộ hoặc không cókhả năng nhìn nhận đúng động cơ thực sự thúc đẩy họ đi du lịch Văn hoá hay ngôn ngữ có thể làmột thứ hàng rào ngăn cản họ chia sẻ động cơ của họ với người khác
Theo các nhà tâm lý “Động cơ là nhân tố chủ quan khuyến khích mọi người hành động Động cơ du lịch chỉ ra nguyên nhân tâm lý khuyến khích người ta đi du lịch, đi đâu, theo loại hình du lịch nào, điều này thường được biểu hiện ra bằng các hình thức như nguyện vọng, hứng thú, yêu thích, tìm kiếm điều mới lạ” Chính vì vậy, ngành du lịch phải tiến hành tuyên
truyền,quảng cáo một cách thiết thực, có hiệu quả để kích thích được động cơ du lịch của mọi người Xét về mặt khoa học, động cơ du lịch được hình thành bởi hai nhân tố rất cơ bản đó là nhân tố tâm lý và nhân tố cụ thể Nhân tố tâm lý- đó là việc tìm kiếm cảm giác mới lạ, thay đổi nếp sống thường ngày, mở rộng thêm kiến thức, mở rộng tầm nhìn , tìm cách thể hiện mình để được người khác ngưỡng mộ và tôn trọng Vì thế, người ta thường gọi du lịch là tiêu chuẩn để đánh giá mức độ chất lượng cuộc sống của mỗi người
Để nắm bắt được động cơ du lịch của mọi người nhằm kích thích họ đi du lịch theo các loại hình du lịch, các nhà tâm lý đã chia làm năm loại động cơ chủ yếu sau :
+ Động cơ tái hồi sức khoẻ: thông qua du lịch như nghỉ ngơi, điều dưỡng, vui chơi, giải trí, thể thao, tham quan v.v để giải toả tâm lý căng thẳng và phục hồi sức khoẻ
+ Động cơ về giao tiếp xã hội: thông qua du lịch để thăm người thân, bạn bè, thăm lại nơi đã từng ở và công tác, tiếp xúc với các dân tộc khác nhau, khảo sát xã hội v.v
+ Động cơ về mở rộng kiến thức về văn hoá : thông qua du lịch để tìm hiểu phong tục tập quán,
Trang 19nghệ thuật, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, tôn giáo tín ngưỡng.
+ Động cơ về thể hiện mình: thông qua du lịch để đi khảo sát khoa học, giao lưu học thuật, tham
dự hội nghị, hội thảo v.v tạo ra sự chú ý của mọi người đối với mình
+ Động cơ về kinh tế : thông qua du lịch để tìm hiểu thị trường, tìm các cơ hội đầu tư, xây dựng các mối quan hệ kinh doanh v.v nhằm đạt mục đích kinh tế
Nghiên cứu về động cơ du lịch của con người có một ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác thị trường khách du lịch cũng như giải quyết mối quan hệ cung-cầu của ngành du lịch
3.2 Các loại hình du lịch
3.2.1 Căn cứ theo môi trường tài nguyên
3.2.1.1 Du lịch văn hóa
Du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia
của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống Bên cạnh những loại
hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hútnhiều khách du lịch quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễhội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách dulịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phávăn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ.Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương - nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa vàcũng là nơi tồn tại đói nghèo Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hộicủa các nước để tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch thamgia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương
Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảng phát triển phần lớn không dựa vàonhững đầu tư lớn để tạo ra những điểm du lịch đắt tiền, mà thường dựa vào nguồn du lịch tựnhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc Những nguồn lợi này không tạo ra giá trị lớn chongành du lịch, nhưng lại đóng góp đáng kể cho sự phát triển của cộng đồng xã hội Những quốcgia phát triển mạnh du lịch văn hóa là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, và một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ
"Du lịch văn hóa là xu hướng của nhiều nước Loại hình du lịch này rất phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, rất tốt cho hoạt động xóa đói giảm nghèo quốc gia, vì vậy phải được xem là hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam", một quan chức của Vụ Hợp tác quốc tế thuộc
Tổng Cục Du lịch phát biểu Ở Việt Nam, nhiều hoạt động du lịch văn hóa được tổ chức dựa trênnhững đặc điểm của vùng miền Chương trình Lễ hội Đất Phương Nam (Lễ hội văn hóa dân gianvùng Đồng bằng Nam bộ), Du lịch Điện Biên (Lễ hội văn hóa Tây Bắc kết hợp với sự kiện chínhtrị: 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ), Con đường Di sản miền Trung (Lễ hội dân gian kết hợptham quan những di sản văn hóa được UNESCO công nhận) là những hoạt động của du lịchvăn hóa, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước Trong số đó, Festival Huế được xem làhoạt động du lịch văn hóa đặc sắc nhất Việt Nam Lễ hội được tổ chức thường xuyên 2 năm mộtlần, với sự hỗ trợ của Chính phủ Pháp Festival Huế 2004 là lần thứ ba VN có dịp giới thiệu với
du khách về lễ hội dân gian của miền Trung, đặc biệt là Nhã nhạc cung đình Huế - một di sản phivật thể vừa được UNESCO cộng nhận; và Lễ tế đàn Nam Giao - một lễ hội vương triều thấttruyền từ hàng chục năm nay Ngoài ra, lễ hội dân gian này còn có sự tham gia của các nướcPháp, Trung Quốc
3.2.1.2 Du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa
phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững Du lịch sinh thái
Trang 20(EcoTourism) Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm tại các điểm đi lại của các khuvực thiên nhiên, bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương Loạih́nh du lịch này tuy ra đời khá muộn nhưng nó đă nhanh chóng trở thành một loại h́nh du lịch cótriển vọng và đang phát triển với tốc độ khá nhanh, đặc biệt là trong các khu bảo tồn và vườnquốc gia Với ý nghĩa đó, đề tài đă nghiên cứu tiềm năng và giải pháp phát triển du lịch sinh tháitrong khu bảo tồn thiên nhiên nhằm gắn kết du lịch với bảo tồn và phát triển kinh tế cộng đồngđịa phương.
Du lịch sinh thái có nguồn gốc từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời Thực ra loạih́nh du lịch này đă có từ rất lâu nhưng ít được con người chú ý Kể từ khi loại hình du lịch máybay ra đời, cùng với sự phát triển khá nhanh của ngành du lịch với mối quan tâm về vấn đề bảo
vệ tài nguyên môi trường, nhất là sau hội nghị thượng đỉnh về môi trường tổ chức tại Stockholm(Thuỵ Điển) năm 1972 và tại Rio Dejanero (Brazil) năm 1992 th́ du lịch sinh thái mới thực sựphát triển và được xem như là một công cụ hữu hiệu để thoả măn sự khát khao của con người vềvới thiên nhiên, gắn kết bảo vệ tài nguyên môi trường với phát triển du lịch bền vững
Du lịch sinh thái có những đóng góp rất lớn về mặt kinh tế - xă hội ở nhiều quốc gia Chỉtính riêng Kenya, năm 1994 du lịch sinh thái trở thành một ngành xuất khẩu lớn nhất nước đónggóp 35% thu nhập ngoại tệ và 11% tổng sản phẩm quốc gia Ở Mỹ, các hệ thống vườn quốc gia,khu bảo tồn mỗi năm đón khoảng 270 triệu lượt khách đem về hàng chục tỷ đô la Một số nướcnhư Mêxicô, Úc, Malaixia, Eucoado, Kenya, Brazil, Ethiophia du lịch sinh thái cũng đă đóngvai tṛ quan trọng trong việc thu đổi ngoại tệ
Mặc dù chưa có con số thống kê cụ thể nhưng theo nghiên cứu sơ bộ của Fillion (1992),
du lịch sinh thái đă đóng góp 223 tỷ đô la trong thu nhập của nhiều quốc gia
Ngoài những lợi ích về mặt kinh tế, du lịch sinh thái đă mang lại nhiều lợi ích trong lĩnhvực bảo tồn và phát triển kinh tế cộng đồng Ở Coastarica, Vênêxuêla một số chủ trang trạichăn nuôi đă bảo vệ nhiều diện tích rừng nhiệt đới quan trọng và biến những nơi này thành điểm
du lịch sinh thái tự nhiên, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương Ecuado sử dụngkhoản thu nhập từ du lịch sinh thái tại đảo Galapago để duy tŕ mạng lưới vườn quốc gia nhờ
du lịch sinh thái mà người dân trong vùng đệm ở các khu bảo tồn, vườn quốc gia phát triển cácngành nghề thủ công, tham gia hoạt động du lịch để đảm bảo thu nhập, hạn chế sự tác động vàorừng
Ở Việt Nam, ngành du lịch phát triển tương đối muộn Hoạt động du lịch chỉ thực sự diễn
ra sôi nổi từ sau năm 1990 gắn liền với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước Theo số liệuthống kê từ năm 1990 đến 2002 lượng khách quốc tế tăng10,5 lần (từ 250.000 đến 2.620.000)khách nội địa tăng 13 lần (từ 1000.000 tăng lên 13.000.000) Thu nhập xă hội cũng tăng đáng kể,năm 1991 là 2.240 tỷ đồng đến năm 2002 là 23.000 tỷ đồng, trong đó hoạt động du lịch sinh tháitrong các khu bảo tồn và vườn quốc gia và du lịch biển đóng góp một tỷ trọng lớn Các số liệuthống kê ở một số vườn quốc gia như Cúc Phương, Cát Bà, Côn Đảo, Bạch Mă các khu bảotồn thiên nhiên như Phong Nha- Kẻ bàng, Hồ kẻ gỗ bình quân mỗi năm tăng 50% khách nộiđịa và 30 % khách quốc tế Trong giai đoạn từ 1995 – 1998 du lịch sinh thái đạt tăng trưởng16,5%
Du lịch sinh thái ở Việt nam cũng đă có những đóng góp lớn cho sự phát triển cộng đồng,bảo vệ tài nguyên môi trường Nhờ phát triển du lịch sinh thái mà đồng bào một số dân tộc, cưdân sinh sống trong vùng đệm các vườn quốc gia, khu bảo tồn có được việc làm, nâng cao mứcsống, các lễ hội, tập tục, ngành nghề thủ công được bảo tồn và phát triển
3.2.2 Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ
3.2.2.1 Du lịch quốc tế
Trang 21Được hiểu là chuyến đi từ nước này sang nước khác Ở loại hình du lịch này, khách dulịch phải đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch Du lịch quốc tế chia làm hai loại:
Du lịch quốc tế chủ động (Inbound Tourism): Nước chủ nhà chủ động đón khách từ các
nước tới tham quan và làm tăng thu nhập ngoại tệ
Du lịch quốc tế bị động (Outbound Tourism): Là nước này gửi khách đi du lịch sang
nước khác và phải mất một khoản ngoại tệ
Sự phát triển loại hình du lịch này là cơ sở cho các mối quan hệ hợp tác cùng có lợi vềcác mặt kinh tế, văn hoá xã hội gữa các quốc gia Tuỳ theo điều kiện củ thể của từng giai đoạn,mỗi nước phải tự xem xét nên phát triển du lịch quốc tế chủ động hay du lịch quốc tế bị động
3.2.2.2 Du lịch nội địa
Chuyến đi của người du lịch từ chỗ vùng này sang chỗ khác nhưng trong phạm vi đấtnước mình chi phí bằng tiền nước mình Điểm xuất phát và điểm đến nằm trong lãnh thổ nướcmình Loại hình du lịch này phát triển ở các nước đang phát triển và kém phát triển Nguyên chủyếu là do điều kiện kinh tế của người dân
3.2.3 Căn cứ theo vị trí địa lí
Một đặc điểm quan trọng của du lịch hiện đai và có ý nghĩa lớn đối với phân bố là tínhchất giải trí đối lập nhau tức là người du lịch thường tìm tới môi trường đố lập với nơi họ thườngsinh sống Thí dụ, những người dân sống ở các thành phố thì thích các hình thức nghỉ ngơi, dulịch gắn với thiên nhiên, với vùng quê yên tĩnh; ngược lai, những người sống ở nông thôn thường
bị hấp dẫn tại các thành phố lớn Đặc điểm này là một nhân tố quan trọng quyết định các loạihình xét theo vị trí địa lí sau:
3.2.3.1 Du lịch nông thôn
Loại hình này mới phát triển trong những năm gần đây Khách du lịch chủ yếu là nhữngngười sống ở thành phố chủ yếu là tìm tới chốn yên tĩnh để nghỉ ngơi hoặc tìm về kí ức của tuổithơ, thưởng thức hương vị của đồng quê với những món ẩm thực ngon lạ Ở Việt Nam, nếu pháttriển được loại hình du lịch này có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao mức sống của người dân
Từ Hội An (Quảng Nam), du khách có thể đến Trà Quế bằng xe đạp, bằng du thuyền…
và làng rau Trà Quế với những loại rau thơm độc đáo được canh tác theo cộng nghệ trồng rau sạch đã thật sự cuốn hút du khách Đến đây, du khách được hướng dẫn cách trồng rau, cách bón phân, cách tưới nước, đến cách chế biến và thưởng thức các món rau và những món ăn thuần tuý của địa phương như mỳ Quảng, cao lầu, cá hấp rau… Đồng thời du khách được sống trong bầu không khí trong lành, thật sự thư giãn khi cảm nhận nét thanh bình của làng quê Việt Nam.
Nông nghiệp cũng tìm được chỗ đứng trong du lịch nông thôn vì nó có nhiều cái có thểđóng góp: tính xác thực, các sản phẩm chất lượng cao, không gian rộng, di sản… Nó tham giavào việc đa dạng hóa du lịch Nhưng các hoạt động đón tiếp đòi hỏi một mức chuyên nghiệp cao
Tính đa chức năng của nông nghiệp ngày nay được công nhận rộng rãi: như vậy, có nghĩa
là ngoài việc sản xuất nông nghiệp còn có các nhiệm vụ khác: lãnh thổ, môi trường, xã hội… Vàtrong trường hợp này việc đón tiếp ở nông trại dưới mọi hình thức, du lịch nông nghiệp minh họatính đa chức năng ấy: một nền nông nghiệp mở cửa cho các thành phần xã hội khác thường khaokhát không gian và phát minh, đồng thời hoạt động bảo tồn di sản và tham gia vào sinh hoạt kinh
tế xã hội của nông thôn
Thông qua hoạt động sản xuất nông dân đóng góp vào tính thu hút của môi trường nôngthôn: cảnh quan được gìn giữ Đối với các người hoạt động đón tiếp ở nông trại, họ đã tham giavào sự đa dạng hóa cung cấp du lịch Những địa phương có tham vọng phát triển du lịch phảicung cấp được nhiều kiểu ăn ở và hoạt động đa dạng có thể thu hút các kiểu khách hàng khácnhau: việc “độc canh” du lịch không thể là giải pháp cho các địa phương Phải có các làng - nghỉ
Trang 22ngơi, các nhà ở nông thôn, các hiệu ăn, các nông trại-quán ăn, các khách sạn, các nơi cắm trại…Các khung cảnh khác nhau của các địa phương tăng thêm tính đa dạng của du lịch nông thôn.
Ở Pháp có nhiều mạng lưới du lịch nông thôn như Mạng lưới “Nhà ở nước Pháp” (Gites
de France), Mạng lưới “Đón tiếp nông dân” (Acceuil paysan), “Chào đón ở nông trại”(Bienvenue à la ferme)…
Các mạng lưới du lịch “Nhà ở nước Pháp”, “Đón tiếp nông dân”, “Chào đón ở nôngtrại”… là mạng lưới khắp nước Pháp của các nhà nông dân được sửa chữa lại để đón khách dulịch Đây không phải là các nhà mới xây dựng với tiện nghi hiện đại mà là các nhà cổ truyền cóngăn các phòng cho khách ở với các tiện nghi vệ sinh tối thiểu Các nhà phải giữ được phongcách địa phương
Nông dân nào muốn tham gia vào mạng lưới du lịch nông thôn phải sửa chữa nhà cửa củamình cho hợp với tiêu chuẩn của hệ thống du lịch Các mạng lưới này mở lớp huấn luyện về dịch
vụ du lịch, kiểm tra và xếp hạng các nhà nông dân theo tiêu chuẩn du lịch từ 1 đến 5 sao và quyđịnh giá thuê Các mạng lưới này phát hành các sách hướng dẫn du lịch để thông tin cho kháchhàng
Có nhiều loại cơ sở khác nhau Khách hàng đến ở nhà nông dân, cùng sinh hoạt và làmviệc với họ, tham gia các hoạt động văn hóa và đi thăm các thắng cảnh trong vùng Có các loạihình sau đây:
- Nhà khách: tiếp khách như “bạn” của gia đình, có phòng ngủ, bàn ăn với món ăn cổtruyền
- Nhà đón tiếp trẻ em: đón từng nhóm khoảng 10 trẻ em thành thị muốn sống ở nông thônvài ngày để biết thế nào là nông thôn Trẻ em được vui chơi, ăn ngủ với trẻ em nông thôn và cóngười phụ trách
- Trại hè: là một miếng đất gần một di tích văn hóa, lịch sử được tổ chức để có thể cănglều trại, nhà vệ sinh, bếp ăn ngoài trời có thể tiếp các nhóm khoảng 20 thanh thiếu niên về ở và
du lịch quanh vùng
- Trạm dừng chân: là nhà nghỉ chân trên các lộ trình du lịch đi bộ, xe đạp, xe máy gần các
di tích lịch sử để các đoàn du lịch có thể nghỉ chân, ăn uống
- Nhà nghỉ: có thể đón tiếp các gia đình về nghỉ ở nông thôn trong vài ngày
- Nhà sàn vui chơi: tổ chức các nhóm 3 đến 25 nhà sàn có thể tiếp 6 người ăn, ngủ Xungquanh có các nơi vui chơi như đi câu, đi săn, đi xe đạp, dạo chơi ở các di tích lịch sử, văn hóahay có phong cảnh đẹp
Các vùng ở Pháp có các chương trình hỗ trợ phát triển du lịch nông thôn Các hộ nôngdân muốn tổ chức các nhà khách trình các kế hoạch Nếu kế hoạch được duyệt sẽ được ký hợpđồng và trợ cấp 30-40% chi phí để sửa chữa và trang bị nhà khách
3.2.3.2 Du lịch thành thị
Khách du lịch muốn tham quan những thành quả của sự phát triển kinh tế, xã hội vớinhững toà nhà cao tầng, những nhà máy, công viên, các công trình kiến trúc đồ so và đi muasắm Đối tượng khách chủ yếu là những người sống ở nông thôn, những người sống ở thành phốcấp II, III, cá thị xã (đối với du lịch nội địa), khách du lịch ở các nước kém phát triển và đangphát triển (đối với du lịch quốc tế)
3.2.3.3 Du lịch biển
Một nhà thơ đã nói ví von rằng: “Thế giới ¾ nước mắt” (đại dương) Bên cạnh tạo điềukiện để phát triển thuy hải sản, giao thông đường thủy, biển còn có ý nghĩa rất lớn về du lịch.Hiện nay, du lịch biển đón một lượng khách lớn trên phạm vi thế giới Du lịch biển với hai chứcnăng chính là chữa bệnh và thể thao cho nên chúng ta có thể gọi đây là loai hình này là loại
Trang 23hình du lịch tổng hợp (du lịch nhỉ dưỡng và du lịch thể thao) Người ta cho rằng một bãi biểnđep, thu hút khách du lịch phải hội tụ các yếu tố: Sun (ánh nắng) – Sea (biển) – Sand (cát) Các
bờ biển đẹp, nước trong xanh, cát trắng mịn, luôn chan hoà ánh nắng là điều kiện hấp dẫn khách
du lịch Nhìn chung các nước vùng nhiệt đới là các nước phát triển mạnh về du lịch biển
3.2.3.4 Du lịch miền núi
Hiện nay du lịch biển đang thu hút lượng khách tham quan nhiều nhất nhưng trong tươnglai thì du lịch nghỉ núi sẽ chiếm ưu thế Du lịch nghỉ núi thường gắn với hoạt động thể thao, chữabệnh, hoà mình vào thiên nhiên để thư giãn, lấy lại sự thăng bằng về tâm lí
Các điểm nghỉ mát Tam Đảo, Sa Pa, Đà Lạt, Ba Vì… là những điểm nghỉ dưỡng núi đãxuất hiện khá lâu ở nước ta Ngoài loại hình này, do tính độc đáo và tương phản cao, miền núicòn rất thích hợp cho việc xây dựng và phát triển các loại hình du lịch tham quan, cắm trại, mạohiểm…
3.2.4 Căn cứ theo hình thức tổ chức
3.2.4.1 Du lịch cá nhân
Khách tự chọn cho mình một chương trình tham quan nghỉ ngơi trong số rất nhiềuchương trình du lịch do nhà tổ chức kinh doanh ấn định hoăc tự vạch ra chuyến hành trình, kếhoạch lưu trú, địa điểm ăn uống tuỳ nghi Loại hình này phát triển nhanh chóng và chiếm ưu thếtrong những năm gần đây Ưu điểm của du lịch đi lẻ là không bị lệ thuộc về thời gian, có thể kếthợp làm các việc khác, nói tóm lại là tự do Nhươc điểm là khách hầu như là phải tự lo tất cả cácviệc, vào mùa du lịch cao điểm, thường khó khăn trong việc đặt phòng, thuê xe du lịch
3.2.4.2 Du lịch theo đoàn
Loại hình này thường gắn với việc kinh doanh ỏ các công ty lữ hành Khách được tổ chức
đi tập thể theo một chương trình định sẵn, cùng phương tiện vẩn chuyển, cùng một HDV vàthường trả theo giá trọn gói Đối tượng khách chủ yếu là cá các nhân làm việc trong cùng một cơquan, hoặc có mối quan hệ bạn bè Du lịch theo đoàn phổ biến ở cá nước xã hội chủ nghĩa Ưuđiểm của du lịch theo đoàn là khách an tâm trong việc tham quan, mọi việc đá có HDV và công
ty lữ hành lo Nhược điểm là bị lệ thuộc vào thời gian chuyến đi, phụ thuộc vào chương trình củađoàn
3.2.5 Căn cứ theo phương thức hợp đồng
3.2.5.1 Du lịch trọn gói
Khách du lịch thường kí hợp đồng trọn gói với các công ty lữ hành khi muốn tham giavào một tuyết du lịch với một số tiền nhất định Thường các các dịch vụ trọng gói mà công ty lữhành liên kết với các đơn vị kinh doanh khác nhau cung cấp cho khách đó là:
3.2.6 Căn cứ theo phương tiện vận chuyển
Trang 243.2.6.1 Du lịch đường bộ
Du lịch xe đạp: Vừa kết hợp tham quan và thể thao, và tất nhiên tiết kiệm một số tiền về
phương tiện đi lại để phục vụ vào mục đích khác Bên cạnh đó du khách có thể xâm nhập dểdàng với cuộc sống dân bản xứ và đi tới những nơi đường sá chưa phát triển Loại hình nay chủyếu xuất hiện và được ưa chuộng ở châu Âu, đặc biệt ở các nước có địa hình bằng phẳng như HàLan, Đan Mạch Đối với khách nước ngoài tại Việt Nam, còn đối với người Việt Nam thì rấthiếm, chỉ có một số cơ sở làm dịch vụ cho khách là người nước ngoài thuê xe đạp, xe gắn máy đi
du lịch (phố Phạm Ngũ Lão – Tp.Hồ Chí Minh)
Du lịch xe ôtô: Loại hình du lịch này gắn liền với kĩ nghệ sản xuất xe hơi Người ta dự
tính rằng trung bình trên thế giới sản xuất 25 triệu xe hơi trong một năm Ở những nước côngnghiệp phát triển hầu như gia đình nào cũng có xe con Ở Tây Ban Nha, Thuỷ Sĩ, Tây Đức dulịch ôtô chiếm trên 90% Sử dụng ôtô có thể đi được nhiều nơi, thích hợp với nhiều dạng địahình Các gia đình thường dùng ôtô nghỉ ngơi cuối tuần Đặc biệt sự phát triển du lịch nội địagắn liền với loại hình du lịch ô tô du lịch ôtô
Tuy nhiên, một số khách thường bị dị ứng khi đi du lịch bằng ôtô Điều này thường dẫntới tâm lý ngần ngại của du khách, ảnh hưởng đến quyết định chọn sản phẩm du lịch của họ
3.2.6.2 Du lịch đường không
Là một trong những loại hình tiên tiến nhất, đáp ứng nhu cầu của khách, có thể tới thamquan, nghỉ dưỡng tại những nước, những vùng xa xôi nhất, tranh thủ sử dụng những ngày nghỉcuối tuần trong thời gian di chuyển ngắn nhất Trang thiết bị, tiên nghi và phục vụ chu đáo củangành hàng không ở nhiều nước làm cho khách du lịch rất ưa chuộng Nhược điểm là giá thànhvận chuyển cao, không phù hợp với tầng lớp có nhu cầu thấp
Các phương tiện chính trong loại hình du lịch bằng đường không mà chúng ta thường gặplà: máy bay dân dụng, máy bay lên thẳng, kinh khí cầu, cáp treo, các tàu vũ trụ
3.2.6.3 Du lịch đường thủy
Từ xa xưa vua chúa đã đi du ngoạn bằng thuyền trên sông, ho, biển Ngày nay, nhiềuhãng tàu có các loại tàu với chất lượng tương đương khách sạn 5 sao với nhiều loại dịch vụphong phú như thể thao, bơi, matxa.v.v… có thể đáp ứng nhu cầu cao của du khách Đối tượngkhách là những người có thu nhập cao Loại hình du lịch này là trọn gói, đặc biệt thích hợp vớinhững chuyên du lịch dài ngày, ghé thăm nhiều nơi, nhiều quốc gia
3.2.7 Căn cứ vào mục đích chuyến đi
3.2.7.1 Theo mục đích chung
Du lịch tham quan: Tham quan là hành vi quan trọng của con người với mục đích chính
là nâng cao hiểu biết cho cá nhân, loại hình du lịch này thoả mãn lòng ham hiểu biết và hamthích nâng cao văn hoá thông qua các chuyến đi du lịch đến những nơi lạ để tìm hiểu các di sảnvăn hoá, di tích lịch sử, các công trình kiến trúc nghệ thuật, các lễ hội độc đáo, các làng nghề thủcông truyền thống, các bản làng của ngưòi dân tộc thiểu số, phong tục tập quán và tìm hiểunhững thành quả kinh tế, chế độ xã hội, chất lượng cuộc sống của mỗi địa phương mỗi quốc gia
và có thể là một phong cảnh thiên nhiên kỳ thú… Loại hình du lịch tham quan có tác dụng nhậnthức là rất lớn, tác dụng giải trí không hiện hình hoặc có ý nghĩa thứ yếu Thời gian lưu lại củakhách đối với loại hình này trong thời gian rất ngắn, thường kéo dài một giờ, hoặc một vài phút.Đối tượng của loại hình du lịch này thường là những người có văn hoá cao như nhà giáo, nhàkhoa học, nhà sử học, nhà báo… Ưu thế của loại hình du lịch này là đại bộ phận không chịu ảnhhưởng của tính mùa vụ Điều này nó giúp cho sự cân bằng trong việc phát triển du lịch
Du lịch giải trí: Mục đích chuyến đi là thư giãn, xả hơi, bứt ra khỏi công việc thường
nhật căng thẳng để phục hồi sức khỏe (vật chất cũng như tinh thần) Trong chuyến đi, nhu cầu
Trang 25giải trí là nhu cầu không thể thiếu được của du khách Do vậy, ngoài thời gian tham quan, nghỉngơi, cần thiết có các chương trình vui chơi, giải trí trong chuyến đi cho du khách trong chuyến
đi Với sự phát triển của xã hội, mức sống gia tăng, số người đi du lịch chỉ nhằm mục đích giảitrí, tiêu khiển bằng các trò chơi cũng gia tăng đáng kể Để đáp ứng xu thế này cần quan tâm mởrộng các loại hình và các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ vui chơi giải trí như các khu du lịch,làng du lịch, công viên, khu vui chơi giải trí, sòng bạc… Ở Việt Nam, tuy các khu vui chơi giảitrí còn chưa hiện đại do hoàn cảnh kinh tế chưa cho phép song cũng đã thu hút được khá đôngkhách trong và ngoài nước, nhất là trong các dịp lễ tết Ví dụ rõ về mặt này là khu du lịch ĐầmSen, Suối Tiên ở Thành Phố Hồ Chí Minh Muốn phát triển loại hình du lịch này cần quan tâmđến các dự án cùng với việc đầu tư, quy hoạch du lịch, đào tạo các bộ nhân viên
Du lịch nghỉ dưỡng: Du khách tìm đến các bãi biển, vùng suối nước khoáng, nước nóng
có giá trị y học cao để chữa bệnh Bên cạnh đó do đời sống công nghiệp, sự làm việc căng thẳngnên tranh thủ những ngày nghỉ tìm đến với thiên nhiên, hoà mình vào thiên nhiên để thay đổimôi trường sống hàng ngày, tránh tình trạng stress Vì vậy, không gian du lịch phải thoáng mát,yên tĩnh Và điều quan trọng là phải có đội ngũ phục vụ chuyên nghiệp Thời gian lưu lại củakhách đối với loại hình du lịch này là rất lớn Đối tượng khách chủ yếu của loại hình du lịch nàycông nhân lao động, người già Ngày nay ở Việt Nam, các bộ ngành đang có xu hướng xây dựngcác nhà nghỉ tại các bờ biển đẹp vừa kinh doanh, vừa tạo điều kiện cho cán bộ công nhân đi nghỉvào dịp hè Do chịu ảnh hưởng của điều kiên thời tiết, khí hậu nên hiệu suất sử dụng không caohay nói cách khác loại hình này chịu ảnh hượng của tính mùa vụ
3.2.7.2 Theo mục đích riêng
Du lịch thể thao: Nhu cầu, sở thích của khách gắn với các môn thể thao Loại hình này
có hai loại khách chính đó là vận động viên trực tiếp tham gia thi tài ở các kì Thế Vận hội,Worldcup hoặc đến các vùng có tiềm năng thể thao như leo núi, trượt tuyết, săn bắn, bơi lội…(chủ động) và các cổ động viên xem các cuộc thi đấu và cổ vũ (bị động) Loại hình du lịch thểthao là một trong những loại hình đem lại nguôn thu rất lớn cho địa phương vì nó thu hut mộtlượng lớn khách du lịch Không phải ngẫu nhiên mà các quốc gia trên thế giới ngày càng ra sứcchạy đua để được đăng cai một kì Thế vận hội, Worldcup bên cạnh việc thu lợi nhuận là quảng
bá hình hình ảnh đất nước nhằm mục đích phát triển du lịch
Chúng ta thấy rằng, đối với các tổ chức kinh doanh lữ hành của quốc gia hay địa phươngđăng cai tổ chức thể thao hoàn toàn có thể chủ động đón những đối tượng tham gia vào cuộc thi(khách du lịch thể thao chủ động) Nhưng họ lại hoàn toàn không thể đoán trước mà chỉ dự báođược số du khách tới xem (khách du lịch thể thao bị động) Vì vậy trong phạm vi này có thể chorằng các công ty lữ hành phải đóng vai trò bị động
Trong điều kiện hiện nay, đối tượng du khách có xu hướng phát triển nhanh, vì thế đứng
ở góc độ bị động đối với đối tượng du khách này, các nhà kinh doanh du lịch phải xây dựng tính
dự báo đảm bảo tính thuyết phục, tránh cung cấp dịch vụ quá dư thừa hoặc quá thiếu theo nhucầu của du khách tới xem hoạt động thể thao
Hiệu quả du lịch từ khách du lịch bị động là không thể phủ nhận được, chính vì vậy mộttrong những mục đích chính của quốc gia dành giật đăng cai tổ chức các kỳ thể thao lớn khôngnằm ngoài mục đích như được nguồn tài chính lớn từ khách du lịch
Du lịch tôn giáo: Loại hình này thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người
theo các tôn giáo khác nhau (hiện nay, trên thế giới có các tôn giáo lớn như đạo Hồi, đạo Phật,đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, Nho giáo, Do Thái…) Đây là loại hình du lịch lâu đời rất phổbiến ở các nước tư bản Vì tôn giáo là nhu cầu tinh thần và là tín ngưỡng trong những cá nhântheo tôn giáo của họ, do đó dộng cơ đi và đến những nơi cội nguồn của tôn giáo là mong muốn
Trang 26và là nguyện vọng hàng năm của họ Ngoài ra còn có những đối tượng không thuộc thành phầntôn giáo, nhưng họ lại có xu hướng hiếu kỳ khi tham gia vào các hoạt động mang tính tôn giáo.Chính điều này mà mỗi năm tất cả các quốc gia trên thế giới hoạt động du lịch tôn giáo là rất lớn
và không ngừng tăng trưởng về số lượng du khách trên phạm vi khả năng thanh toán Các trungtâm nổi tiếng thế giới của loại hình du lịch này là Vaticãng, Gieluxalun Mec-ca, v.v… Ở ViệtNam, vào mùa xuân, các tín đồ Phật giáo hành hương về Yêu Tử- nơi khởi nguồn của đạo Phậtphái Trúc Lâm, Chùa Hương, thăm nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình).v.v…
Hoạt động hướng dẫn tham quan đối với loại hình du lịch này đòi hỏi phải có quá trìnhkhảo sát, chọn lọc và được chuẩn bị theo một chương trình nhất định Khi giới thiệu cần phảiđịnh hướng cho khách về thông tin biểu hiện tính tích cực, tránh thần thánh hoá, tránh đưa conngười vào bi quan, bi lụy
Du lịch thăm hỏi: Nảy sinh do nhu cầu giao tiếp xã hội nhằm gặp mặt, thăm hỏi, trò
chuện, chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn cùng bà con, họ hàng, bạn bè thân quen… Hình thức dulịch này có ý nghĩa quan trọng đối với những nước có nhiều người sống ở nước ngoài như ViệtNam, Ý, Anh, Tây Ban Nha, Nam Tư Đối tượng của loại hình du lịch này thường đi trong thờigian dài ngày và thường diễn ra vào thời điểm sự kiện quan trọng như dịp tết, quốc khánh, lễhội Khách du lịch gần như chỉ mua những dịch vụ không trọn gói của các công ty lữ hành Vàmỗi lần trở về thăm quê hương, khách du lịch thuộc loai hình này mang về một lượng ngoại tệlớn, tạo điều kiện tích lũy ngoại tệ cho quốc gia
Việt Nam cũng là một trong những quốc gia có đối tượng Việt kiều rất đông và hàng năm
có tới vài trăm ngàn người về thăm quê hương, là một thị trường khách mà các nhà kinh doanh
lữ hành quốc tế tại Việt Nam đang hướng tới Ngoài ra, trong phạm vi du lịch thăm thân nội địacũng rất phổ biến, âu cũng chính là do đặc điểm lịch sử để lại
3.2.7.3 Theo trách nhiệm
Du lịch MICE: MICE là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức
sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác MICE - viết tắt của Meeting(hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội nghị, hội thảo) và Exhibition (triển lãm).Tên đầy đủ tiếng Anh là Meeting Incentive Conference Event Bởi vậy các đoàn khách MICEthường rất đông (vài trăm khách) và đặc biệt mức chi tiêu cao hơn khách đi tour bình thường (doBan tổ chức các hội nghị quốc tế bao giờ cũng đặt phòng cho khách ở khách sạn 4 - 5 sao, dịch
vụ cao, tour sau hội nghị phải thiết kế chuyên biệt theo yêu cầu…) MICE hiện là loại hình dulịch mang lại nguồn thu rất lớn cho ngành du lịch ở các nước
Đối với Việt Nam loại hình du lịch này đã được các công ty trong ngành du lịch khai thác
từ nhiều năm nay, bước đầu đã có kết quả khả quan Khai thác thị trường MICE là một trongnhững mục tiêu của chiến lược phát triển ngành du lịch Việt Nam
Đánh giá về tiềm năng phát triển MICE, đoàn chuyên gia WTO cho rằng: VN có tiềmnăng rất lớn và nếu phát triển MICE sẽ là đối thủ đáng ngại của Singapore (trung tâm thu hútMICE lớn nhất Đông Nam Á hiện nay) Cảnh quan thiên nhiên ưu đãi, nhiều di sản văn hóa,thiên nhiên thuộc hàng kỳ quan thế giới, bãi biển đẹp, hệ thống khách sạn, resort phát triển…Tuy nhiên theo WTO để MICE phát triển Việt Nam nên thành lập MICE Bureau (tổ chức xúctiến phát triển MICE), xây dựng chiến lược marketing, cải thiện ngay hạ tầng phục vụ kháchMICE: visa, sân bay, hệ thống khách sạn, trong đó, việc xác định vị trí xây dựng trung tâm hộichợ triển lãm quốc tế rất quan trọng: nó phải gần sân bay, khách sạn, thuận tiện đi lại, giao dịch.Các giải pháp khác phải hướng vào việc phân tích số liệu thông tin thị trường, thiết lập chiếnlược thông tin quảng bá MICE và xây dựng website, phát triển thương mại điện tử, mở các lớpđào tạo nguồn nhân lực trong và ngoài nước
Trang 27Chương 3: Ngành kinh doanh lưu trú
1 Các loại hình lưu trú chủ yếu
1.1 Khách sạn (Hotel)
Khách sạn là những công trình kiến trúc kiên cố, có nhiều tầng, có nhiều phòng ngủ được trang
bị sẵn các thiết bị đồ đạc tiện nghi, dụng cụ chuyên dùng nhằm mục đích kinh doanh các dịch vụlưu trú, phục vụ ăn uống và các dịch vụ bổ sung khác
1.2 Khách sạn nghỉ dưỡng (Resort)
- Nằm ở các vùng cao nguyên, ven biển, hải đảo, vịnh, thung lũng Ví dụ Phan Thiết, Mũi Né, Nha Trang, Vũng Tàu
- Đối tượng khách có nhu cầu nghỉ dưỡng, nghỉ bệnh
1.5 Bãi cắm trại (Camping)
Đây là khu đất dược quỵ hoạch sẵn nằm gần các khu du lịch gần sông, núi, biển, hồ, với cáctrang thiết bị phục vụ khách dến cắm trại hoặc khách có phương tiện vận chuyển (ôtô, xe máy )đến nghỉ
1.6 Tàu Du lịch
Tàu du lịch là những tàu thuỷ chuyên vận chuyển khách du lịch trong hành trình dài ngày Nóđược xem như là một khách sạn trên biển, là loại hình lưu trú di động, trên có phòng ngủ, nhàhàng, Bar, bể bơi, sòng bạc Mức độ tiện nghi tuỳ thuộc vào từng loại tàu và cấp hạng của nó
1.7 Caraval
Nhà du lịch lưu động thực chất là những ca bin (khoang nhỏ) có bánh xe được những ngựời đi dulịch bằng ô tô sử dụng, nhằm đáp úng nhu cầu lưu trú, ăn uống tạm thời trong chuyến du lịch củahọ
1.8 Bungalow
Bungalow là cơ sở lưụ trú dược làm bằng gỗ hoặc các vật liệu đa dạng khác theo phương pháplắp ghép giản tiện Bungalow có thể đuợc làm đơn chiếc hoặc thành dãy, thành cụm và thườngđược dựng trong các làng biển, nghi núi hoặc làng du lịch
- Sản phẩm của khách sạn bao gồm vật chất và phi vật chất, có thứ do khách sạn tạo ra, có thứ dongành khác tạo ra nhưng khách sạn là khâu phục vụ trực tiếp
Trang 28- Sản phẩm của ngành khách sạn không thể lưu kho, không thể đem đến nơi khác quảng cáo hoặctiêu thụ, chỉ có thể sản xuất và tiêu dùng ngay tại chỗ
2.2 Đặc trưng về tính thời vụ và thời gian hoạt động
Thời gian hoạt động của khách sạn phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách, hoạt động kinhdoanh phục vụ của khách sạn diễn ra một cách liên tục không có ngày nghỉ và giờ nghỉ Nhưng
do yêu cầu của khách không đều đặn nên cường độ hoạt động kinh doanh của khách sạn diễn rakhông đều đặn và mang tính thời vụ
3 Phân hạng khách sạn của Việt Nam
QUY ĐỊNH VỀ TIÊU CHUẨN XẾP HẠNG KHÁCH SẠN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 02 /2001/QĐ-TCDL ngày 27 tháng 4 năm 2001 của Tổng cục Du lịch)
Khách sạn là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, bảo đảm chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch.
Khách sạn đạt tiêu chuẩn xếp hạng từ 1 đến 5 sao: là khách sạn có cơ sở vật chất, trang thiết bị, chất lượng phục vụ cao, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách du lịch về ăn, nghỉ, sinh hoạt, giải trí theo tiêu chuẩn của từng hạng, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, được đánh giá thông qua các chỉ tiêu:
– Thiết kế kiến trúc:
– Dây chuyền phục vụ giữa các bộ phận và trong từng bộ phận dịch vụ trong khách sạn : được bố trí hợp
lý, bảo đảm thuận tiện, một chiều.
– Bảng tên; hạng khách sạn; phù hiệu khách sạn (nếu có) : được đặt ở nơi dễ thấy (kể cả ban ngày và ban đêm).
– Cửa ra, vào của khách sạn : được bố trí thuận tiện, tối thiểu phải có 2 cửa, cửa dành riêng cho khách và cửa dành riêng cho cán bộ, công nhân viên phục vụ trong khách sạn.
– Chỗ để xe : Khách sạn phải bố trí chỗ để xe cho khách.
– Buồng : Diện tích tối thiểu của buồng ngủ, phòng vệ sinh (m 2 )
Trang 29Các khách sạn phục vụ khách với mục đích nghỉ dưỡng (nghỉ biển, nghỉ núi…) nên có diện tích để đặt thêm giường thứ 3 (trong trường hợp khách yêu cầu).
+ Sảnh : Sảnh đón tiếp (nơi có cửa ra, vào chính của khách sạn) phải đủ rộng để đón khách, phù hợp với quy mô của khách sạn.
+ Phòng vệ sinh ở các khu vực công cộng (khu vực đón tiếp, phòng ăn…) có phòng cho nam và nữ riêng.
2 Trang thiết bị, tiện nghi phục vụ:
– Hệ thống điện :
+ Độ chiếu sáng đảm bảo theo yêu cầu của từng khu vực.
+ Đèn cấp cứu để đề phòng khi có sự cố xảy ra.
+ Cung cấp điện đầy đủ 24/24 giờ cho sinh hoạt và phục vụ.
– Hệ thống nước :
+ Nước đủ cho sinh hoạt và phòng cháy, chữa cháy 24/24 giờ.
+ Cấp nước nóng : 24/24 giờ.
+ Hệ thống xử lý nước thải và chất thải, đảm bảo tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường.
– Trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy : Có hệ thống báo cứu hoả và phương tiện phòng cháy, chữa cháy – Phòng vệ sinh công cộng : có trang bị máy hơ tay, hoặc khăn tay, giấy lau tay.
– Về sức khoẻ : Những nhân viên phục vụ phải qua kiểm tra sức khoẻ (có giấy chứng nhận).
– Về trang phục : Những người quản lý và nhân viên phục vụ phải mặc đồng phục đúng theo quy định của khách sạn đối với từng chức danh và từng bộ phận dịch vụ trong thời gian làm việc tại khách sạn.
5 Thực hiện các biện pháp để bảo đảm yêu cầu về vệ sinh trong các lĩnh vực sau :
+ Vệ sinh môi trường, cảnh quan xung quanh khách sạn
+ Vệ sinh các khu vực trong khách sạn.
+ Vệ sinh trang thiết bị, dụng cụ phục vụ khách.
+ Vệ sinh thực phẩm.
+ Vệ sinh cá nhân (đối với nhân viên phục vụ)
B-YÊU CẦU ĐỐI VỚI TỪNG HẠNG
I-Yêu cầu về vị trí, kiến trúc
– Giao thông thuận tiện – Môi truờng cảnh quan sạch, đẹp
– Giao thông thuận tiện
– Môi truờng cảnh quan sạch, đẹp
– Giao thông thuận tiện
– Môi truờng cảnh quan sạch, đẹp
– Kiến trúc, xây dựng đẹp, vật liệu xây dựng tốt, nội ngoại thất được thiết
kế hợp lý
– Kiến trúc, xây dựng kiểu dáng đẹp, vật liệu xây dựng chất lượng cao, nội ngoại thất được thiết kế hợp lý, đẹp
– Kiến trúc cá biệt, kiểu dáng đẹp, vật liệu xây dựng cao cấp Nội ngoại thất được thiết kế đẹp, trang nhã, toàn cảnh được thiết kế thống nhất
– Có tối thiểu
50 buồng
– Có tối thiểu 80 buồng
– Có tối thiểu 100 buồng
Trang 30– Có sân, vườn cây xanh (Không bắt buộc đối với các khách sạn ở trung tâm thành phố)
– Không bắt buộc đối với các khách sạn ở trung tâm thành phố)
– Có sân và vườn rộng (Không bắt buộc đối với các khách sạn
ở trung tâm thành phố)
– Có nơi gửi xe cho khách ngoài khu vực khách sạn
– Nơi gửi xe trong khu vực khách sạn,
đủ cho 30 % tổng số buồng (Không bắt buộc đối với các khách sạn xây dựng trước ngày 1/1/1995 )
Nơi gửi xe trong khu vực khách sạn, đủ cho
50 % tổng số buồng (Không bắt buộc đối với các khách sạn xây dựng trước ngày 1/1/1995 )
– Các phòng ăn – Bar
– Các phòng ăn Âu, Á
– Các phòng tiệc – Phòng ăn đặc sản – Bar
– Bar đêm (có sàn nhảy và dàn nhạc)
– Các phòng ăn Âu, Á – Các phòng tiệc – Các phòng ăn đặc sản
– Các bar – Bar đêm (có sàn nhảy và dàn nhạc)
– Phòng nghiệp
vụ chuyên môn – Phòng trực (chung cho tất cả các buồng trong khách sạn) – Phòng cho nhân viên phục
vụ : + Phòng thay quần áo + Phòng tắm, vệ sinh- Kho để đồ – Khu bếp, kho bảoquản thực phẩm
Khu bếp : Tường ốp gạch men sứ, cao tối thiểu 2 m sàn lát vật liệu chống trơn.Có hệ thống thông gió tốt
– Phòng làm việc của Giám đốc, Phó Giám đốc
– Phòng tiếp khách – Các phòng nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật
– Phòng trực tầng
– Phòng cho nhân viên phục
vụ : + Phòng thay quần áo riêng cho nam và nữ + Phòng tắm, vệ sinh riêng cho nam và nữ- Khu giặt là
– Kho để đồ – Khu bếp, kho bảo quản thực phẩm
Khu bếp : +Tường phải ốp gạch men sứ,
– Phòng làm việc của Giám đốc, Phó Giám đốc
– Phòng tiếp khách – Các phòng nghiệp
vụ chuyên môn, kỹ thuật
– Phòng trực tầng – Phòng cho nhân viên phục vụ : + Phòng thay quần áo riêng cho nam và nữ + Phòng tắm, vệ sinh riêng cho nam và nữ + Phòng ăn cho nhân viên phục vụ
– Khu giặt là – Kho để đồ – Khu bếp, kho bảo quản thực phẩm Khu bếp : + Tường ốp gạch men
sứ, cao tối thiểu 2 m, sàn lát vật liệu chống trơn
+ Khu vực chế biến thực ăn nóng, nguội, bếp bánh riêng biệt + Trang bị đủ kho
– Phòng làm việc của Giám đốc, Phó Giám đốc
– Phòng tiếp khách – Các phòng nghiệp
vụ chuyên môn, kỹ thuật
– Phòng trực tầng – Phòng cho nhân viên phục vụ : + Phòng thay quần áo riêng cho nam và nữ + Phòng tắm, vệ sinh riêng cho nam và nữ + Phòng ăn cho nhân viên phục vụ
– Khu giặt là – Kho để đồ – Khu bếp, kho bảo quản thực phẩm Khu bếp : +Tường ốp gạch men
sứ, cao tối thiểu 2 m, sàn lát vật liệu chống trơn
+ Khu vực chế biến thức ăn nóng, nguội riêng biệt
+ Trang bị đủ kho
Trang 31gió tốt cao tối thiểu 2
m, sàn lát vật liệu chống trơn +Khu vực chế biến thức ăn nóng, nguội được tách riêngCó hệ thống thông gió tốt
lạnh, các kho đủ thông thoáng + Có cửa cách âm, cách nhiệt và cách mùi, phòng đệm giữa bếp và phòng ăn.
Có hệ thống thông gió tốt
lạnh, các kho đủ thông thoáng + Có cửa cách âm, cách nhiệt và cách mùi, phòng đệm giữa bếp và phòng ăn.
Có hệ thống thông gió tốt
II- Yêu cầu về trang thiết bị, tiện nghi
– Trang trí nội thất hài hoà,
đủ ánh sáng lượng khá
– Chất lượng khá Bài trí hài hoà (Tham khảo Phụ lục 3) Đối với buồng ngủ :
– Trang trí nội thất hài hoà, đủ ánh sáng Trang thiết bị đồng
bộ, chất lượng tốt
– Đồng bộ, chất lượng tốt.
Bài trí hài hoà (Tham khảo phụ lục 3) Đối với buồng ngủ :
– Trang trí nội thất hài hoà,
đủ ánh sáng
Trang thiết bị đồng
– Đồng bộ, chất lượng cao.
Bài trí hài hoà, thuận tiện (Tham khảo Phụ lục 3)
Đối với buồng ngủ :
– Trang trí nội thất đẹp, hài hoà, đủ ánh sáng Trang thiết
bị đồng bộ, chất lượng cao.
– Đồng bộ, hiện đại, chất lượng cao, trang trí nghệ thuật, hấp dẫn (khuyến khích mang tính dân tộc) (Tham khảo Phụ lục 3)
Đối với buồng ngủ : – Trang trí nội thất đẹp, hài hoà, đủ ánh sáng Trang thiết bị đồng bộ, hiện đại chất lượng cao
2 Yêu cầu về thảm – Có thảm trải
toàn bộ trong buồng ngủ
– Có thảm chất lượng cao trải toàn bộ trong buồng ngủ, hành lang, cầu thang.
– Có thảm trải chất lượng cao trải toàn
bộ trong buồng ngủ, hành lang, cầu thang
– Đảm bảo thông thoáng ở các khu vực
– Có điều hoà nhiệt độ ở các khu vực công cộng
– Có điều hoà nhiệt độ ở các khu vực công cộng
– Có điều hoà nhiệt
độ trung tâm ở các khu vực công cộng
4 Hệ thống lọc
nước
– Có hệ thống lọc nước, có thể uống trực tiếp.
– Có hệ thống lọc nước, có thể uống trực tiếp
5 Thang máy – Từ 4 tầng trở
lên có thang máy riêng cho khách, cho nhân viên phục
vụ và hàng hoá
– Từ 4 tầng trở lên có thang máy riêng cho khách, cho nhân viên phục vụ
và hàng hoá
– Từ 3 tầng trở lên có thang máy riêng cho khách, cho nhân viên phục vụ và hàng hoá
– Từ 3 tầng trở lên có thang máy riêng cho khách, cho nhân viên phục vụ và hàng hoá – Có thang máy phục vụ khách
bị tàn tật
– Từ 3 tầng trở lên có thang máy riêng cho khách, cho nhân viên phục vụ và hàng hoá – Có thang máy phục
Trang 32+ Tấm phủ chăn + Tấm phủ giưòng
Đồ điện :
+ Chuông gọi cửa
+ Ti vi cho 90
% tổng số buồng,
có ăng ten vệ tinh
+ Điều hoà nhiệt độ cho 90
% tổng số buồng + Tủ lạnh cho
90 % tổng số buồng
Các loại khác :
+ Bàn chải đánh giầy, bàn chải quần áo
+ Bàn salon, 2 ghế
+ Bàn trang điểm, ghế
Đồ điện :
+ Ti vi cho 100% tổng số buồng
+ Điều hoà nhiệt độ cho
100 % tổng số buồng
+ Tủ lạnh (mini bar) cho 100% tổng số buồng
+ Thiết bị báo cháy
Các loại khác :
+ Tranh treo tường + Bộ đồ ăn hoa quả, dụng
cụ mở bia, rượu + Mút đánh giầy
+ Bảng điều khiển cạnh giường (điều khiển các đồ điện)
+ Ti vi mầu với mạch VIDEO cho 100% tổng
số buồng, có trung tâm phát hình của khách sạn.
+ Radio casette hoặc hệ thống nhạc trung tâm của khách sạn + Máy FAX cho những buồng đặc biệt
% tổng số buồng + Điện thoại + Máy sấy tóc + Màn che bồn tắm
+ Mũ tắm + Nước gội đầu
+ Dao cạo râu + Bông ngoáy tai
+ Túi ny lông
để bỏ giấy vệ sinh phụ nữ
– Như 3 saoCó thêm :
+ Bồn tắm nằm (hoặc phòng tắm kính) cho 100 % tổng số buồng + Áo choàng sau khi tắm
– Như 4 saoCó thêm :
+ Bồn tắm nằm (cho 100% số buồng)và phòng tắm kính (cho 30% tổng số buồng + Dầu xoa da + Cân kiểm tra sức khoẻ
+ Thiết bị vệ sinh cho phụ nữ (biđê) + Băng vệ sinh phụ nữ
III-Yêu cầu các dịch vụ trong khách sạn và mức độ phục vụ
Trang 33đồ thành phố
– Đồng bộ, chất lượng tốt.
Bài trí hài hoà (Tham khảo Phụ lục 3) Đối với buồng ngủ : – Trang trí nội thất hài hoà, đủ ánh sáng
Trang thiết bị đồng bộ
– Như 3 sao
Có thêm : – Thay khăn mặt, khăn tắm 2 lần/ 1 ngày
– Đặt hoa tươi (hàng ngày) – Đặt quả tươi (hàng ngày) – Đặt báo, tạp chí (hàng ngày)
– Như 4 sao
Có thêm : – Vệ sinh phòng 2 lần/ 1 ngày
– Phục vụ ăn, uống tại buồng nếu khách có yêu cầu
– Các dịch vụ ăn, uống: phục vụ các món ăn Âu,
Á, tiệc với số lượng món ăn phong phú hơn
và các loại món
ăn chế biến đòi hỏi kỹ thuật cao hơn so với các khách sạn 1 sao;
phục vụ một số loại nước giải khát
– Số giờ phục vụ ăn, uống, giải khát từ 6 đến 24 giờ
– Phục vụ ăn uống tại buồng nếu khách có yêu cầu
– Các dịch vụ ăn, uống : phục vụ các món ăn Âu, Á, tiệc với số lượng phong phú, chế biến được các món ăn có kỹ thuật cao, đảm bảo chất lượng tốt; phục
vụ nước giải khát các loại (do khách sạn tự pha chế)
– Số giờ phục vụ
ăn, uống, giải khát từ 6 đến 24 giờ
– Phục vụ ăn uống tại buồng nếu khách có yêu cầu
– Phòng ăn đặc sản phục vụ từ 6 – 24 giờ
– Các dịch vụ ăn uống : phục vụ các món ăn Âu,
Á, tiệc cao cấp;
phục vụ nước giải khát các loại (do khách sạn tự pha chế) Món
ăn, đồ uống chất lượng cao, thực đơn thường xuyên thay đổi – Phục vụ ăn sáng tự chọn
– Số giờ phục vụ
ăn, uống, giải khát 24/24 giờ
– Phục vụ ăn uống tại buồng nếu khách có yêu cầu – Phòng ăn đặc sản phục vụ từ 6 – 24 giờ
– Các dịch vụ ăn uống : phục vụ các món ăn Âu, Á, tiệc cao cấp, có đặc sản Việt Nam, quốc tế; phục vụ nước giải khát các loại (do khách sạn tự pha chế) Món ăn, đồ uống chất lượng cao, thực đơn thường xuyên thay đổi
và đồ vật quý (có phòng an toàn) – Quầy lưu niệm,
mỹ phẩm – Lấy vé máy bay, tầu xe
– Như 2 sao
Có thêm : – Cho thuê văn hoá phẩm, dụng cụ thể thao
– Phòng họp – Phòng khiêu vũ – Dịch vụ xe taxi (có
xe ô tô của khách sạn)
– Các dịch vụ : Bán
– Như 3 sao
Có thêm : – Cửa hàng lưu niệm, bách hoá,
mỹ phẩm (thay quầy lưu niệm
mỹ phẩm) – Phòng cắt tóc nam, nữ
– Lấy vé xem nhạc, kịch
– Như 4 sao
Có thêm : – Phòng chiếu phim hoặc hoà nhạc
– Phòng hội nghị với các thiết bị phục vụ hội nghị
và thiết bị dịch thuật
– Cho thuê ô tô