Các tên thuộc loại này chủ yếu là các tên Hán - Việt, một số ít thuộc các ngôn ngữ khác như Khmer, Lào, Pháp, …Tên này có thể được dùng để chỉ một cây mới được du nhập vào hay một cây bả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
KHOA DƯỢC
GIÁO TRÌNH THỰC HÀNH DƯỢC KHOA 2
NHẬN THỨC DƯỢC LIỆU
Bộ môn dược liệu - Năm 2014
Lưu hành nội bộ
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN A ĐẠI CƯƠNG 1
I.TÊN GỌI CỦA CÂY THUỐC VÀ DƯỢC LIỆU 1
II CÁC ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÂY THUỐC TÓM TẮT CÁC ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ HỌ CÂY THUỐC THƯỜNG GẶP 10
III CÁCH ĐỌC TÊN KHOA HỌC CỦA THỰC VẬT 24
PHẦN B CÁC CÂY THUỐC VÀ DƯỢC LIỆU 33
AC-TI-SÔ 33
BẠC HÀ 34
BẠCH GIỚI TỬ 36
BÁN HẠ VIỆT NAM 36
BÌNH VÔI 38
BỒ CÔNG ANH TRUNG QUỐC 39
BỒ NGÓT 40
CÀ ĐỘC DƯỢC 41
CAM THẢO DÂY 43
CAM THẢO NAM 44
CÂU ĐẰNG 45
CÂU KỶ 46
CẨU TÍCH 48
CAU 49
CHÈ 50
CHÓ ĐẺ THÂN XANH 52
CỎ MỰC 53
CỎ SỮA LÁ NHỎ 54
CỎ SỮA LÁ TO 55
CỎ TRANH 56
CỎ XƯỚC 57
CỐI XAY 58
CỐT TOÁI BỔ 58
CÚC HOA 60
ĐẠI HỒI 61
ĐẢNG SÂM 63
DÀNH DÀNH 64
ĐẠI TÁO 65
DÂU 66
DIẾP CÁ 67
ĐINH HƯƠNG 68
Trang 3ĐINH LĂNG 69
ĐỖ TRỌNG 71
DỪA CẠN 72
GẤC 73
GAI 75
GỪNG 76
HỒ TIÊU 78
HOẮC HƯƠNG 79
HOÀNG BÁ 80
HÒE 81
HỒNG HOA 83
HÚNG CHANH 84
HƯƠNG NHU TÍA 85
HƯƠNG PHỤ 86
HUYẾT DỤ 87
ÍCH MẪU 88
KÉ ĐẦU NGỰA 90
KEO GIẬU 91
KIẾN CÒ 92
KIM NGÂN 93
KIM VÀNG 94
KINH GIỚI 95
LÁ LỐT 96
LẠC TIÊN 97
LÔ HỘI 98
LỰU 100
MÃ ĐỀ 101
MẠCH MÔN 102
MẮC CỠ 103
MĂNG CỤT 104
MÍA DÒ 105
MƠ TAM THỂ 106
MỰC 107
MUỒNG TRÂU 108
NÁNG 109
NGA TRUẬT 110
NGẢI CỨU 111
NGHỆ 112
Trang 4NGŨ BỘI TỬ 113
NGŨ GIA BÌ GAI 114
NGŨ TRẢO 116
NGŨ VỊ 117
NGƯU TẤT 118
NHÃN 119
NHÂN TRẦN TÍA 119
NHÀU 120
ỔI 121
PHÒNG KỶ 122
QUẾ 123
QUÝT 125
RAU DỪA NƯỚC 126
RAU MÁ 127
RAU ĐẮNG 128
RÂU MÈO 129
RAU SAM 130
RẺ QUẠT 131
RIỀNG 132
SẢ 134
SA NHÂN 135
SÀI ĐẤT 136
SÂM BỐ CHÍNH 137
SÂM ĐẠI HÀNH 138
SEN 139
SƠN TRA 140
SỬ QUÂN TỬ 141
TÁO 143
THẢO QUẢ 144
THẢO QUYẾT MINH 145
THẦU DẦU 146
THIÊN MÔN ĐÔNG 147
THIÊN NIÊN KIỆN 148
THÔNG THẢO 149
THÔNG THIÊN 150
THUỐC DẤU 151
THUỐC GIÒI 152
THUYỀN THOÁI 153
Trang 5TÍA TÔ 154
TIỂU HỒI 155
TÔ MỘC 156
TỎI 157
TRẠCH TẢ 158
TRẮC BÁCH 159
TRÀM 160
TRẦU KHÔNG 162
TRINH NỮ HOÀNG CUNG 163
TRÚC ĐÀO 164
TRƯỜNG SINH 165
XUYÊN TÂM LIÊN 166
Ý DĨ 167
PHỤ LỤC 169
Trang 6PHẦN A ĐẠI CƯƠNG
I.TÊN GỌI CỦA CÂY THUỐC VÀ DƯỢC LIỆU
1.1 Tên cây thuốc
1.1.1 Tên thông thường của cây thuốc
Các cây thuốc nói riêng hay các loài thực vật nói chung tồn tại trong một vùng địa lý nhất định đều thường có tên gọi do cư dân vùng đó đặt ra
Tên cây có thể có hai phần: (1) Tên chung chỉ một đặc điểm nào đó đại diện cho một nhóm lớn các cây và (2) Tên riêng để phân biệt với những cây khác trong cùng nhóm Ở một số cây khác phần tên chung có thể được dùng hay bỏ qua
1.1.1.1 Phần tên chung
- Chỉ dạng cây:
+ Cây: Tên chung chỉ các loài thực vậthoặc tên dùng để chỉ các cây có thân
gỗ như Cây muối, Cây nổ, Cây tổ kén, …
+ Dây: Chỉ các loài dây leo: Dây lõi tiền, Dây gắm, Dây gùi, Dây mật, … + Cỏ: Chỉ những loài cây nhỏ, thân thảo: Cỏ may, Cỏ cú, Cỏ cứt lợn, Cỏ tranh + Hoa (bông): Các loài cây có hoa đẹp: Hoa niên, Hoa hồng, Hoa giấy, Hoa phấn,…
Trang 71.1.1.2 Phần tên riêng
Tên riêng của cây thuốc có xuất xứ rất khác nhau, có thể là:
- Những từ rất riêng biệt, xuất hiện từ xa xưa khó tìm được xuất xứ hay ý nghĩa như: Củ mài, Quế, Ổi, Bồ kết, Na, …
- Những từ gợi nhớ về một hay vài đặc điểm của cây hay sự việc nào đó liên quan tới cây
+ Màu sắc: Hoàng đằng, Vàng đắng, Cỏ mực, Hồng hoa
+ Mùi vị: Diếp cá, Chua me, Mướp đắng, Dây mật, Dây khai, Cỏ hôi
+ Hình dáng một bộ phận nào đó của cây thuốc, hình dáng vị thuốc: Cây ruột gà (Ba kích), Cây xương khô, Xương rắn, Câu đằng, Lông cu li (Cẩu tích), Ổ rồng, Tổ kiến, Càng cua, Vú bò, Sừng dê, dây Cóc, Râu mèo, Kim vàng, Bạch hạc (Kiến cò), Tràm cừ, Tràm gió
+ Công dụng: Thiên niên kiện, Dây đau xương, Bá bịnh, Thuốc bỏng, Thuốc dòi, Vông nem
+ Các tính chất khác của cây: Cỏ sữa, Cây sữa, Cỏ may, Cỏ đĩ, Cây cứt lợn, Chó đẻ, Bồ cu vẽ, Nhẫn đông, Bảy lá một hoa, …
- Tên vay mượn từ các ngôn ngữ khác: Tên của cây vốn là tên của các dân tộc khác, các ngôn ngữ khác được du nhập vào tiếng Việt (phiên âm hay được bản địa hóa) Các tên thuộc loại này chủ yếu là các tên Hán - Việt, một số ít thuộc các ngôn ngữ khác như Khmer, Lào, Pháp, …Tên này có thể được dùng để chỉ một cây mới được du nhập vào hay một cây bản địa nhưng chưa có tên hay tên không thông dụng rồi lâu dần trở thành tên chính thức của cây Cũng có thể các tên có nguồn gốc ngoại lai này chỉ là một trong những tên được dùng song song với tên bản địa đã có sẵn (rất thường gặp trong Đông Y)
+ Sử dụng như tên chính thức của cây:
Xứ quân tử (Sử quân tử), Nhân sâm, Ngũ gia bì, …
đâu, Canh ki na, Digital, Actiso, …
Trang 8+ Sử dụng song song với tên Việt có sẵn: Du long thái (Rau dừa nước), Thỏ
ti tử (Tơ hồng), Bạch giới tử (Hạt cải trắng), Hương phụ (Cỏ cú, Cỏ gấu), Bạch mao căn (Cỏ tranh), …
- Tên đặt mới: Một số cây chưa có tên thông thường hay có tên nhưng không phổ biến lắm nay được các nhà khoa học hay những người có liên quan đặt tên mới Tên có thể được đặt theo nghĩa của tên dân tộc ít người, tên nước ngoài có sẵn, theo đặc điểm đặc biệt của cây hay được đạo trại, đặt theo nghĩa của tên khoa học: Cúc chân voi…
1.1.1.3 Tên phái sinh
Là những tên xuất phát từ một tên ban đầu sau đó được mở rộng ra bằng cách thêm một từ khác, thường là một tính từ để chỉ một nhóm cây thường rất gần gũi về mặt thực vật (cùng chi nhưng khác loài, khác xuất xứ), hoặc những cây có một đặc điểm nào đó giống nhau (hình dạng, công dụng, …):
như: Húng chanh, Húng quế, Húng rũi (Húng lũi), …
Mã tiền (cây), Mã tiền dây
+ Cũng có thể là các loài tương cận nhưng có xuất xứ khác nhau, được sử dụng chung một mục đích:
Trang 9 Thạch xương bồ, Thủy xương bồ
+ Hình dạng: cây có hình dạng chung hay một bộ phận nào đó giống nhau mặc
dù không có liên hệ gì về mặt họ hàng thực vật
+ Tính chất, công dụng: Các loài cây có thể gần hay khác xa nhau nhưng có cùng chung một đặc điểm nổi bật nào đó (màu sắc, mùi, vị, công dụng):
số người thuộc các dân tộc ít người dùng với một tác dụng đặc biệt nào đó
Annona squamosa L.: Mãng cầu (Miền Nam), Na (Miền Bắc)
Annona reticulata L.: Bình bát (Miền Nam), Nê (Miền Bắc)
Belamcanda chinensis (L.) DC.: Xạ can, Rẻ quạt
Trang 10Wedelia chinensis (Osbeck) Merr.: Sài đất, Húng trám, Cúc nhám, Ngổ
núi
+ Dễ gây nhầm lẫn: Do một tên gọi có thể được dùng để chỉ 2 hay nhiều cây khác nhau:
Wigg., Lactuca indica L và Elephantopus scaber L
Hà thủ ô được dùng để chỉ 2 loài thực vật khác nhau: Polygonum
multiflorum Thunb và Stretocaulon juventas Merr
thiêm (Siegesbeckia orientalis)
Siegesbeckia orientalis L
dây leo và Cây sữa (Alstonia scholaris (L.) R Br.)
1.1.2 Tên khoa học của một cây thuốc
Việc nhầm lẫn tên gọi dẫn tới nhầm lẫn trong thu hái, sử dụng dược liệu có thể ảnh hưởng tới chất lượng của thuốc và sức khỏe người sử dụng Vì vậy cần phải có
hệ thống tên gọi tương đối thống nhất trên toàn cầu để có thể trao đổi thông tin và tránh nhầm lẫn trong sử dụng Tên khoa học của thực vật (và các loài sinh vật khác) đáp ứng được những yêu cầu đó
Trong Thực vật học, Loài (Species) là đơn vị phân loại cơ bản của thực vật, là
tập hợp của các cá thể có đặc điểm chung phân biệt với các loài khác Các loài có
một số đặc điểm chung xác định nào đó được xếp vào các Chi (genus), các chi tập hợp thành Họ (familia) rồi Bộ (ordo), …
Tên khoa học căn bản của một thực vật là một tên kép bao gồm tên đầu chỉ Chi
và tên sau chỉ Loài của thực vật ấy Một tên khoa học đầy đủ của cây còn có tên của
tác giả (hay các tác giả) đã đặt tên cho cây được viết ở sau phần tên loài Sau phần tên tác giả có thể còn có thêm họ thực vật của cây
Trang 11Tên khoa học của một loài thực vật được viết bằng tiếng Latinh hoặc tên từ các ngôn ngữ khác đã được Latinh hóa Tên của chi và tên loài phải là một từ, nếu nhiều hơn một từ thì phải viết dưới dạng từ ghép (viết liền hay có dấu gạch ngang)
Tên chi là một danh từ số ít dùng làm chủ ngữ
Tên loài được viết ngay sau tên chi Tên loài có thể là một tính từ hay một danh từ
- Danh từ chỉ tên loài có thể là một danh từ đồng vị (cũng ở cách 1 như danh từ chỉ tên chi) hay danh từ ở cách 2 (sở hữu cách) Danh từ ở sở hữu cách có thể là tên người hay một danh từ chung
+ Tên người: Nếu là nam giới thì thêm hậu tố i hoặc ii, nếu là tên phụ nữ
hậu tố ianus, iana hay ianum phù hợp với danh từ chỉ tên chi về giống
+ Danh từ chung ở cách 2 chỉ tên loài được viết ở dạng số nhiều
- Tính từ chỉ tên loài phải phù hợp với danh từ chỉ tên chi về giống, số và cách
Ở một số loài cây, dưới loài còn có thể có các phân loài (subspecies) và/hoặc các thứ (varietas), các dạng (forma), … Phần tên của các phân loài, thứ, dạng này
và tên tác giả đặt tên cho nó sẽ được viết ngay sau phần tên đầy đủ của loài (nhưng vẫn đứng trước họ thực vật)
Tên của cây (tên chi, tên loài) thường thường được đặt với một ý nghĩa nào đó
có liên quan tới cây Nó có thể là một từ chỉ đặc điểm của cây (màu sắc, hình dáng của dạng cây, hoa hay lá, …), nơi sinh sống, ích lợi cho con người, tên địa phương của cây đã được Latinh hóa hay được đặt theo tên đất, tên người, …
Theo quy định chung, chỉ chữ đầu của tên chi được viết hoa, còn tên chỉ loài và các đơn vị dưới loài thì không viết hoa Tên chi, loài, phân loài, thứ, dạng thường được in nghiêng trong khi tên tác giả, tên họ thực vật thì in chữ thường với chữ đầu viết hoa Các từ viết tắt của tên tác giả phải có dấu chấm phía sau để chỉ sự viết tắt Một số ví dụ về viết tên thực vật:
- Bách hợp: Lilium brownii F E Brown var colchesteri Wilson, Liliaceae
Tên chi Tên loài Tên tác giả Thứ Tên thứ Tên tác giả Họ thực vật
- Bạch đàn: Eucalyptus camadulensis Dehnhart, Myrtaceae
Trang 12- Ba gạc: Rauwolfia serpentina Benth Apocynaceae
- Củ chóc: Typhonium divaricatum (L.) Decne, Araceae
- Mã tiền: Strychnos nux-vomica L Loganiaceae
- Đương quy: Angelica dahurica (Fisch ex Hoffrn) Benth Et Hook F var
formosana (Boiss) Shan et Yuan, Apiaceae
1.2 Tên dược liệu
1.2.1 Tên thông thường của dược liệu
Tên thông thường của dược liệu (bộ phận sử dụng làm thuốc) thường được gọi như tên của cây thuốc, nhưng cũng có thể có thêm các từ để chỉ bộ phận sử dụng làm thuốc như thảo (toàn cây), diệp (lá), tử (quả hay hạt) Ví dụ:
- Tiền hồ: rễ phơi khô của cây Tiền hồ
- Thảo quyết minh: hạt phơi khô của cây Thảo quyết minh
- Ngưu bàng tử: quả chín phơi khô của cây Ngưu bàng
- Hạt thầu dầu: hạt phơi khô của cây Thầu dầu
Cũng có khi tên sử dụng cho dược liệu không giống như tên thông thường của cây và / hoặckhác với tên dược liệu từ các bộ phận khác do sử dụng tên Hán-Việt của cây thuốc:
- Tân lang: hạt của cây Cau - Đại phúc bì: vỏ của quả cây Cau
- Trắc bách diệp: lá của cây Trắc bách - Bá (Bách) tử nhân: hạt của cây Trắc bách
- Ích mẫu thảo: phần trên mặt đất của cây Ích mẫu - Sung úy tử: hạt của cây Ích mẫu
- Câu kỷ tử: quả của cây Câu kỷ - Địa cốt bì: rễ của cây Câu kỷ
1.2.2 Tên khoa học của một dược liệu
Cũng giống như tên cây, tên thông thường của các loại dược liệu có thể gây khó hiểu hay nhầm lẫn trong thu hái và sử dụng Vì thế người ta cũng sử dụng tên khoa học của dược liệu để thống nhất chung về tên gọi của dược liệu
Trang 13Thông thường, tên khoa học của dược liệu bắt nguồn từ tên khoa học của cây thuốc và có thêm một từ để chỉ bộ phận dùng của dược liệu
Tên dược liệu được viết bằng tiếng Latinh, thường với tên bộ phận dùng làm thuốc đứng trước rồi đến tên khoa học của cây đứng sau và không có tên tác giả Tên khoa học của cây được viết ở cách 2 phù hợp với tên bộ phận dùng về giống và số Cũng như tên cây, tên khoa học của dược liệu được in nghiêng (với chữ đầu của
từ chỉ tên bộ phận dùng và từ chỉ tên chi được viết hoa hay viết hoa chữ đầu của tất
cả các từ)
- Với những dược liệu kinh điển, trong đó một chi chỉ có một cây sử dụng chính làm thuốc hoặc các loài sử dụng làm thuốc như nhau, không phân biệt thì tên khoa học của dược liệu chỉ gồm chữ chỉ bộ phận dùng của dược liệu và tên chi Ví dụ:
+ Pericarpium Arecae: Đại phúc bì (vỏ quả của cây Cau - Areca catechu L.) + Fructus Xanthii: Thương nhĩ tử (quả của cây Ké đầu ngựa - Xanthium
+ Radix Achyranthis asperae - Rễ của cây Cỏ xước (Achyranthes asperaL.) phân biệt với Radix Achyranthis bidentatae- Rễ của cây Ngưu tất Achyranthes
bidentataBl
+ Rhizoma Acori graminei- Thân rễ của cây Thạch xương bồ (Acorus
gramineusSoland.) phân biệt với Rhizoma Acori calami - Thân rễ của cây Thủy
xương bồ (Acorus calamusL.)
- Cũng có thể dùng tên bộ phận dùng + tên chi cho dược liệu truyền thống hay thông dụng nhất còn các loài khác thì có thêm tên loài để phân biệt với dược liệu này Ví dụ:
Trang 14+ Rhizoma Polygonati - Thân rễ của cây Hoàng tinh (Polygonatum
kingianumColl et Hemsl) phân biệt với Rhizoma Polygonatiofficinalis - Thân rễ của
cây Ngọc trúc (Polygonatum officinaleAll.)
- Tên của một số dược liệu có thể là tên riêng thông thường của dược liệu hoặc tên của bộ phận dùng đi kèm với tên thông thường của dược liệu (đã được Latinh hóa)
Một số từ Latinh dùng để chỉ bộ phận dùng của dược liệu:
Arillus: cơm quả (tử y, áo hạt)
Bulbus: giò, hành
Cacumen: ngọn cây mang hoa
Caculus: kết thạch
Carapax: mai, giáp (rùa, baba)
Caulis: dây leo
Membrana: màng Nidus: tổ (chim) Nodus: ngó (sen), đốt, mắt (cây) Nux: hạt (lớn)
Os: xương (động vật) Pericarpium: vỏ quả Periostracum: xác khô (động vật) Petiolus: cuống lá
Pollen: phấn hoa Radix: rễ
Ramulus: cành Ramus: cành Receptaculum: đế hoa Rhizoma: thân rễ Secretio: chất tiết, nhựa mủ Semen: hạt (nhỏ)
Trang 15Spica: bông (gié)
Spina: gai
Stigmata: núm nhụy
Styli: vòi nhụy Taenia: sợi, dải Uncus:móc
II CÁC ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÂY THUỐC TÓM TẮT CÁC ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ HỌ CÂY THUỐC THƯỜNG GẶP
2.1 Các đặc điểm thường dùng trong mô tả hình thái cây thuốc
2.1.1 Các đặc điểm mô tả dạng sống
Theo môi trường sống, người ta phân biệt ra thành các loại:
- Thực vật địa sinh: cây sống trên cạn Đa số các loài thực vật thuộc nhóm này
- Thực vật khí sinh: thực vật sống trong không khí lấy các chất dinh dưỡng từ khí quyển chung quanh (như các loài lan)
- Thực vật thủy sinh: thực vật hoàn toàn sống trong nước hay nổi trên mặt nước (các loại Bèo, Sen, Súng v.v…)
- Thực vật ký sinh: thực vật sống bám, hút các chất dinh dưỡng của động vật, thực vật khác (các loại Tầm gửi, Tơ hồng)
- Thực vật đầm lầy: thực vật phát triển và sinh trưởng ở đầm lầy
Theo dạng cây, người ta phân làm các loại:
- Cây gỗ (cây thân gỗ): cây đa niên có thân chính hóa gỗ phát triển mạnh, trên thân mang cành lá Thân cao có thể tới 40 m hay hơn Tùy theo chiều cao cây, người ta phân ra:
+ Cây gỗ nhỏ (tiểu mộc): cây gỗ cao dưới 15 m
+ Cây nhỡ: cao 15-25 m
+ Cây gỗ lớn (đại mộc): cao trên 25 m
- Cây bụi: cây thân gỗ, đa niên, không có thân chính hoặc thân chính không phát triển, cành nhánh bắt đầu từ gốc của thân chính, chiều cao không quá 7 m
Trang 16- Cây thảo (cây thân thảo): cây có thân mềm, thân không hóa gỗ, chết lụi vào cuối thời kỳ tạo quả Tùy thời gian sinh trưởng mà người ta phân ra:
+ Cây thảo nhất niên (cây một năm): cây hoàn thành chu kỳ sống trong 1 năm + Cây thảo lưỡng niên: cây ra hoa kết trái sau hai năm và sau đó sẽ chết + Cây thảo đa niên (cây nhiều năm): cây có thân ngầm sống nhiều năm còn phần trên mặt đất có thể tàn lụi hàng năm
- Dây leo: cây phát triển nhờ dựa trên các giá tựa Cây có thể leo bằng nhiều cách: + Nhờ thân quấn: thân cuốn quanh giá tựa
+ Nhờ rễ: tác rễ phụ bám vào giá tựa
+ Nhờ các bộ phận chuyên biệt: cành hay tua cuốn (do lá, lá chét, lá kèm biến đổi thành) cuốn vào giá tựa
+ Mọc trườn: cây mọc trườn lên trên các cây khác, dựa trên các cây khác
- Cây mọc bò: thân cây chủ yếu mọc bò lan trên mặt đất, phần thân khí sinh thường ngắn hay không có
2.1.2 Các đặc điểm mô tả hình thái của cây
2.1.2.1 Rễ
Rễ là cơ quan sinh trưởng của cây, có nhiệm vụ giữ cây đứng vững, hấp thụ các chất nuôi cây (nước, muối khoáng) đôi khi làm nhiệm vụ dự trữ
Về hình thái và / hoặc chức năng, rễ được phân thành các loại như sau:
- Rễ trụ (rễ cọc): rễ chính (rễ cái) phát triển từ rễ mầm phát triển mạnh mọc thẳng xuống đất Từ rễ chính mọc ra các rễ phụ nhỏ hơn Là đặc trưng của rễ cây hai lá mầm
- Rễ chùm: tập hợp của nhiều rễ có kích thước gần như nhau, ít phân nhánh, mọc từ cổ rễ Là đặc trưng của cây một lá mầm
- Rễ củ: rễ chuyên hóa có chức năng dự trữ các chất dinh dưỡng cho cây Rễ chính hoặc các rễ con có thể phồng to lên vì tích trữ nhiều chất dự trữ như Khoai lang, Củ mài, Bách bộ
Trang 17- Rễ phụ: rễ mọc ngang từ thân cây, cành hay thân ngầm nơi mắt, lóng và đâm xuống đất như Đa, Mía
- Rễ bám: mọc từ thân cây, giúp cây bám chắc vào giàn, không có chóp rễ và lông hút như Trầu không, Tiêu
- Rễ mút: rễ của các cây ký sinh, đâm sâu vào thân cây chủ để hút chất dinh dưỡng như rễ Tầm gửi, rễ Tơ hồng
- Rễ khí sinh: rễ mọc trong không khí, rễ non có diệp lục nên có màu xanh như
rễ các loài Phong lan
- Rễ thủy sinh: rễ của thực vật thủy sinh, nằm trong nước, thường kém phát triển, không phân nhánh, không có lông hút như rễ các loại Bèo
- Rễ hô hấp: thường là rễ của các thực vật đầm lầy mọc từ bùn đâm thẳng lên không khí để cung cấp oxy cho rễ như rễ Bần, Mắm
- Rễ cà kheo (rễ nạng): là những rễ phụ mọc ở lưng chừng cây, giúp cây chịu được sức mạnh của sóng như rễ Đước
+ Tam giác: cây thuộc họ Cói (Cyperaceae)
+ Năm góc: cây thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae)
+ Dẹp: cây Quỳnh (Epiphyllum oxypetalum), Xương rồng bà (Opuntia
vulgaris) thuộc họ Xương rồng (Cactaceae)
+ Có cạnh lồi: cây thuộc họ Xương rồng (Cactaceae)
Trang 18Ngoài ra cũng có thể có những loại thân khác có hình dạng rất khác nhau gọi là thân không đều hay gặp ở các loài dây leo thân gỗ
Thân cây có thể có cấu tạo sơ cấp hay thứ cấp hóa gỗ Thân có thể rất mỏng mảnh như các loài dây leo hay vững chắc như các loài thân gỗ Thân cây có thể đặc hay rỗng hoặc xốp ở giữa Một số loài cây có thân mọng nước (thân mọng) như các cây thuộc họ Xương rồng (Cactaceae)
Thân có thể đồng nhất hay phân thành nhiều đoạn, mỗi đoạn được gọi là một lóng (gióng), giữa các đoạn là đốt (hay mấu) nơi mọc của lá Thường gặp trong các cây họ Lúa (Poaceae)
Người ta phân thân làm hai loại chính, trong mỗi loại có thể được phân chia nhỏ hơn như sau:
- Thân trên mặt đất (thân khí sinh)
+ Thân đứng
ngọn (Cau, Dừa)
thân thường nhỏ, mềm và thấp
+ Thân bò: là loại thân mềm, mọc bò sát mặt đất (Rau má, Sài đất)
+ Thân leo: là loại thân mềm, tựa lên các giá thể bằng cách quấn (Dây cóc, Thần thông, Mơ lông), bám bằng tua cuốn (Lạc tiên, Gấc) hay rễ bám (Trầu không, Tiêu)…
- Thân dưới mặt đất (thân địa sinh, thân ngầm)
Thân nằm dưới mặt đất nên dân gian thường bị gọi nhầm là rễ hay củ:
+ Thân rễ: là những thân mọc nằm ngang ở dưới mặt đất tựa như rễ cây, mang các lá biến đổi thành vảy khô (Gừng, Nghệ, Riềng, Cỏ tranh)
Trang 19+ Thân hành (giò): là những thân rất ngắn, xung quanh phủ bởi những lá biến đổi thành các vảy mọng nước (hành, Tỏi)
+ Thân củ: là những thân phồng to lên vì chứa nhiều chất dự trữ (Khoai tây,
Su hào)
2.1.2.3 Lá
- Lá là cơ quan sinh trưởng của cây, mọc có hạn trên thân cây
- Lá có cấu tạo đối xứng đối với một mặt phẳng, thường có màu xanh lục
- Lá có nhiệm vụ quang hợp hô hấp và thoát hơi nước
- Các loại lá
+ Lá đơn: cuống lá không phân nhánh, lá có một phiến duy nhất
+ Lá kép: là lá có cuống phân nhánh, mỗi nhánh mang một phiến gọi là lá chét hay lá phụ
cuống lá chính, dạng giống như lông chim Lá kép lông chim được chia thành:
Lá kép lông chim chẵn: Lá kép lông chim với số lá chét chẵn
Lá kép lông chim lẻ: Lá kép lông chim với số lá chét lẻ tận cùng bằng một lá chét
Lá kép ba là một loại lá kép lông chim lẻ với một cặp lá chét và một lá chét tận cùng
Lá kép lông chim nhiều lần: là lá kép có các lá chét sắp xếp thành hai dãy trên cuống lá phụ, các cuống lá phụ này lại sắp xếp thành dãy trên cuống lá chính Lá kép lông chim nhiều lần có thể
có cả lá kép lông chim chẵn và lông chim lẻ
chân vịt
Trang 20Các loại lá: 1- lá đơn, 2- lá kép chân vịt, 3- lá kép lông chim, 4- lá kép 3 lá chét, 5 và 6 - lá kép lông chim 2 lần
- Cấu tạo của lá:
+ Phiến lá: là phần mỏng, rộng, có những đường lồi của gân lá
Mép lá nguyên: mép lá đều đặn không lồi lõm hay xẻ thùy Mép
lá có thể phẳng hay uốn lượn so với mặt phẳng phiến lá
Mép lá có răng cưa: mép lá có những phần lồi như răng cưa, to hay nhỏ, đều hay không đều, hướng ra phía ngoài
Mép lá khía: mép lá có những vết cắt đều hay không đều Khía
có thể làm thành những thùy rộng, tròn đều (khía tai bèo) hay nham nhở không đều
Mép lá xẻ thùy: phiến lá bị xẻ sâu tạo nên những thùy rộng Thùy lá có thể xẻ theo dạng long chim hay chân vịt tùy theo
Trang 21mức độ xẻ mà người ta gọi là mép lá có thùy, mép lá chẻ (thùy chẻ tới ½ phiến lá), mép lá chia (thùy sâu trên ½ phiến lá) hay mép lá xẻ (thùy xẻ sâu tới cuống lá chính, phiến lá như dạng sợi)
Hình dạng mép lá: 1- mép lá nguyên, 2- lá thùy lông chim, 3- lá chẻ lông chim, 4- lá chia lông chim, 5- lá
xẻ lông chim, 6- lá chẻ chân vịt, 7- lá chia chân vịt, 8- mép lá răng cưa, 9- mép lá răng cưa tròn
nhọn hay tim ngược (lõm), hình thận v.v…
Hình dạng đầu lá: 1- đầu lá thuôn, 2- đầu lá thuôn nhọn, 3,4- đầu lá có mũi nhọn, 5- đầu lá có mũi dài,6,7- đầu
lá tù, 8- đầu lá hình tim ngược, 9- đầu lá hình thận
hình thận, lệch v.v…
Trang 22làm thành mạng lưới Các gân có thể tỏa tròn từ tâm của lá
Gân song song: các gân lá gần như song song với nhau, gân có thể song song theo chiều dọc của lá hay theo chiều ngang bởi các gân phụ xuất phát từ gân chính
+ Cuống lá: Là phần hẹp, kéo dài của gân chính, nối phiến lá với thân hay cành cây
+ Bẹ lá: là phần rộng ở gốc cuống lá ôm lấy thân cây hay cành cây Bẹ lá chỉ có ở một số họ như họ Lúa (Poaceae), họ Ráy (Araceae), họ Hoa tán (Apiaceae)
Trang 23- Cách sắp xếp lá (diệp tự); là cách thức lá được đính trên cành
+ Lá mọc so le (mọc cách): mỗi mấu chỉ mang 1 lá (Dâm bụt, Huyết dụ) + Lá mọc đối: mỗi mấu mang 2 lá mọc đối diện nhau (Cà phê, Nhàu) Các cặp lá mọc kề nhau trên cành có thể hợp thành những góc nhất định Nếu hai cặp lá
kề nhau làm thành một góc vuông thì gọi là lá mọc đối chéo chữ thập (lá họ Hoa môi - Lamiaceae) (Tía tô, Bạc hà)
+ Lá mọc vòng: mỗi mấu mang 3 lá trở lên (3 lá:Trúc đào; 3-4 lá: Ba gạc; 7-8 lá: cây Sữa)
+ Lá mọc hình hoa thị: trường hợp thân cây rất ngắn, các lá trên cây gần giống như mọc từ cùng một mấu Toàn bộ lá sẽ xếp thành hình hoa thị ở sát mặt đất (Mã đề, Cúc chỉ thiên, Bồ công anh Trung Quốc)
cả cụm hoa được gọi là mo (ráy, cau, dừa)
+ Cuống hoa: cuống hoa là nhánh mang hoa, thường mọc ở nách lá bắc + Đế hoa: là phần đầu của cuống hoa, thường hơi phình lên, mang các bộ phận của hoa Đế hoa có thể lồi, lõm hay phẳng
+ Bao hoa: tập hợp những bộ phận dạng phiến nằm ở bên ngoài hay trên mép đế hoa, bao bọc bộ phận sinh sản bên trong làm nhiệm vụ che chở cho hoa Bao hoa gồm có:
Đài hoa
Tràng hoa
Trang 24Chú ý: các bộ phận của hoa có thể không đầy đủ: hoa có thể không có tràng hoa hay không có cả tràng hoa và đài hoa, Những hoa không có bao hoa gọi là hoa trần (hoa Sói, Tiêu)
+ Cơ quan sinh sản: gồm bộ nhị và bộ nhụy
phấn Các nhị có thể rời nhau hay dính nhau thành một hay nhiều bó
bầu nhụy
Núm nhụy: là phần đầu của bộ nhụy
Vòi nhụy: là phần hẹp dài nối núm với bầu
Bầu là phần phình to của bộ nhụy, cấu tạo bởi các lá noãn mang các noãn Noãn có nhiệm vụ tạo quả, hạt Tùy theo vị trí của bầu
so với nơi đính của bao hoa trên đế hoa, ta có:
Bầu thượng: bầu nằm trên bao hoa (ớt, cà)
Bầu hạ: bầu nằm dưới bao hoa (chuối, sim)
Bầu trung: các bộ phận ngoài của hoa đính ở giữa bầu (Kim ngân)
Hoa có cả nhị và nhụy được gọi là hoa lưỡng tính (lưỡng phái) Hoa chỉ có nhị hay nhụy gọi là hoa đơn tính (đơn phái)
Hoa (đơn tính) đực và cái xuất hiện trên cùng 1 cây được gọi là hoa đơn tính cùng gốc Hoa đực và cái xuất hiện trên 2 cây riêng biệt được gọi là hoa đơn tính khác gốc
- Hoa tự (cụm hoa, phát hoa):
Hoa tự là cách sắp xếp hoa trên cành hay thân cây
+ Hoa riêng lẻ: hoa mọc riêng lẻ 1 mình trên 1 cuống hoa không phân nhánh (Hoa hồng, Dâm bụt)
+ Hoa tự hợp: Nhiều hoa tập trung trên một cành hoa phân nhánh Hoa tự hợp có nhiều loại như chùm, gié, ngù, tán đơn, tán kép, đầu, xim…
Trang 252.1.2.5 Quả
Quả là một cơ quan sinh sản đƣợc tạo bởi sự phát triển của bầu sau khi thụ tinh
- Các phần của quả: vỏ quả ngoài, vỏ quả giữa, vỏ quả trong, thịt quả Trong quả có chứa hạt
- Các loại quả: đƣợc phân chia theo cấu tạo nhƣ sau:
+ Quả đơn là loại quả sinh bởi một hoa Các loại quả đơn:
Quả đại: Hồi
Trang 26Quả đóng (quả bế): hạt Sen, hạt Dẻ
Quả thóc: hạt Lúa
Quả loại cải: quả Cải, quả Bạch giới tử
+ Quả tụ (quả rời) sinh bởi một hoa có nhiều lá noãn rời nhau, mỗi lá noãn cho một quả riêng (Dâu tây, Hồi, Mãng cầu, Sen…)
+ Quả kép (quả phức) quả hình thành từ cả một cụm hoa (Dứa, Dâu tằm, Mít, Nhàu,…)
+ Quả giả một số loài cây đế hoa, có thể phát triển mạnh, mọng nước, có hình dạng giống như quả, vẫn thường được gọi nhầm là quả như Đào lộn hột, Táo (tây), Sung v.v… Quả thực của những cây này, có thể nằm trong hay ngoài quả giả
+ Áo hạt giả: có nguồn gốc như mồng nhưng phát triển hơn, bao lấy toàn bộ hạt (Nhục đậu khấu)
+ Mào: phần sống noãn lồi lên trông như cánh
Trang 27+ Cánh: màng mỏng dạng như cánh ở trên hạt Hạt có thể có một, hai hay
ba cánh
- Nhân hạt: Trong nhân hạt gồm có:
+ Cây mầm: gồm rễ mầm, thân mầm, chồi mầm và lá mầm
+ Phôi nhũ: là nơi chứa đựng chất dự trữ như tinh bột, các loại carbonhydrat khác hay chất béo để nuôi cây mầm lớn lên khi hạt nảy mầm Phôi nhũ gồm có hai loại là nội nhũ và ngoại nhũ Hạt có thể không có, có một trong hai hoặc cả hai thành phần này
2.2 Đặc điểm thực vật một số họ cây thường dùng làm thuốc
Họ Hoa tán (Apiaceae)
Thân thảo có lóng, rỗng, mặt ngoài có những rãnh dọc
Cuống lá có bẹ ở gốc
Lá mọc so le, có bẹ, phiến lá thường xẻ lông chim nhiều lần
Hoa tự: tán đơn hay kép
Quả bế đôi
Một số cây thuốc: Bạch chỉ, Đương quy, Sài hồ, Xuyên khung, Tiểu hồi, Rau má
Họ Cúc (Asteraceae)
Thân thảo ít khi là cây to
Lá đơn, thường mọc so le có khi thành hoa thị
Phiến lá thường có răng hay chia thành thùy
Hoa tự là đầu
Một số cây thuốc: Thanh hao hoa vàng, Ngải cứu, Actiso, Cỏ mực, Ké đầu ngựa
Họ Hoa môi (Lamiaceae)
Thân thảo, thân và cành có thiết diện vuông
Lá đơn, mép lá thường có khía răng cưa, có mùi thơm, mọc đối chéo chữ thập hay mọc vòng
Trang 28Hoa môi Hoa tự: xim co ở kẽ lá hay ở ngọn
Một số cây thuốc: Kinh giới, Tía tô, Ích mẫu, Bạc hà, Hương nhu, Râu mèo
Họ Đậu (Fabaceae)
Rễ có nốt sần
Thân thảo thân leo hay thân gỗ
Lá mọc so le kép lông chim
Hoa loại đậu Hoa tự chùm
Một số cây thuốc: Cam thảo, Cam thảo dây, Kim tiền thảo, Bạch biển đậu, Vông nem, Sắn dây
Họ Sim (Myrtaceae)
Cây bụi hay tiểu mộc
Lá đơn, nguyên thường mọc đối Lá có mùi thơm do có túi tiết tinh dầu
Hoa tự ở kẽ lá hay ngọn cành, chỉ nhị nhiều thò ra ngoài
Một số cây thuốc: Bạch đàn, Đinh hương, Tràm, Sim
Họ Cà phê (Rubiaceae)
Lá đơn nguyên, mộc đối, có lá kèm
Tràng hợp, bầu hạ
Một số cây thuốc: Cà phê, Canh ki na, Dành dành, Ba kích, Mơ tam thể, Câu đằng
Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)
Lá mọc đối hay mọc vòng, phiến lá nguyên, không có lá kèm
Một số cây thuốc: Trúc đào, Đỗ trọng nam, Thông thiên, Dừa cạn
Trang 29Họ Hành tỏi (Liliaceae)
Thân thảo sống dai nhờ thân rễ, thân cành, thân củ
Lá mọc cách, lá không cuống, phiến hình dải
Một số cây làm thuốc: Tỏi, Hành, Huyết dụ Hoa hiên
Họ Lúa (Poaceae)
Thân thảo, sống hàng năm hay sống dai
Lá mọc đối, xếp thành 2 dãy, lá không cuống, bẹ phát triển, có lưỡi nhỏ
Hoa tự là bông nhỏ họp lại thành chùm, bông
Cây làm thuốc: Sả, Cỏ Mần trầu, Bắp, Mía, Ý dĩ, Cỏ tranh
III CÁCH ĐỌC TÊN KHOA HỌC CỦA THỰC VẬT
Tuy không còn được sử dụng hàng ngày trong cuộc sống đương đại nhưng tiếng Latinh vẫn là ngôn ngữ chính để viết tên khoa học cho các sinh vật, mô tả các loài sinh vật mới, và sử dụng trong một số lĩnh vực khoa học khác như: giải phẫu học, y học hay dược học (gọi tên nguyên liệu làm thuốc, các dạng chế phẩm, kê đơn thuốc) Sau đây là một số hướng dẫn cơ bản về việc đọc các tiếng Latinh trong tên khoa học của các dược liệu
Việc phát âm các từ Latinh có thể khác nhau ở những vùng của thế giới nhưng thường sự khác nhau này sẽ không quá lớn và không gây ra các khó khăn trong trao đổi khoa học
Bảng chữ cái Latinh gồm 24 chữ cái là: a, b, c, d, e, f, g, h, i, k, l, m, n, o, p, q, r,
s, t, u, v, x, y, z
Trang 30Các chữ cái này đƣợc sắp xếp trong bảng chữ cái nhƣ sau:
Trang 3121 V v ve /v/
Hai chữI và j đối với tiếng Latinh chỉ là một và đọc nhƣ chữ i
Ngoài 24 chữ cái ở trên, ngày nay còn có them chữ w (v kép) để phiên âm các
từ khoa học W đƣợc đọc nhƣ âm [u] trong các từ có nguồn gốc tiếng Anh, hoặc nhƣ
v trong các từ có nguồn gốc tiếng Đức
3.2 Nguyên tắc đọc các nguyên âm
3.2.1 Nguyên âm đơn
- Các nguyên âm a, i, u đọc nhƣ âm [a], [i], [u] tiếng Việt
Labium: môi, cánh môi
Punica: màu đỏ
- Chữ j đọc nhƣ âm [i] tiếng Việt
Juventas: tuổi trẻ
Jasminium: cây Nhài
- Nguyên âm e đọc nhƣ âm [ê] tiếng Việt
Epidermis: biểu bì
Semen: hạt
- Nguyên âm o đọc nhƣ [ô] tiếng Việt
Lobus: thùy
Ocimum: có mùi thơm
- Nguyên âm y đọc nhƣ âm [uy] tiếng Việt
Calyculus: tiểu đài
Cyaneus: xanh lam
3.2.2 Nguyên âm kép và nguyên âm ghép
Trang 32Nguyên âm ghép: là 2 nguyên âm đi liền nhau, đọc thành 2 âm, nhƣng nguyên
âm đầu đọc ngắn, nguyên âm sau đọc dài
Opium: thuốc phiện
Hordeum: lúa mạch
Nguyên âm kép: là 2 nguyên âm đi liền nhau nhƣng đƣợc đọc thành một âm
- ae (ỉ): đọc nhƣ âm [e] tiếng Việt
Aegirophyllus: lá xanh thẫm
Aeruginosa: màu xanh đồng
- oe (œ): đọc nhƣ âm [ơ] tiếng Việt
Foeninus: màu xanh lam
Foetidus: cĩ mùi hơi
- au: đọc nhƣ âm [au] tiếng Việt
Caulis: thân
Autumnus: mùa thu
- eu: đọc nhƣ âm [êu] tiếng Việt
Eucalyptus: đậy kín, tên của cây Bạch đàn
Eugenius: chân thực
Ghi chú:
Dấu ( ) trên chữ e trong tổ hợp chữ ặ và oë báo hiệu rằng đây là nguyên âm
ghép và phải đọc riêng từng nguyên âm
Trang 33Kola: cây cola
- Phụ âm c
+ Đứng trước các nguyên âm: a, o, u đọc như [k] tiếng Việt
Corolla: tràng hoa Pericarpium: vỏ quả
+ Đứng trước e, i, y, ae, oe, đọc như [x] tiếng Việt
Cera: sáp Citrates: mùi chanh Cylindrica: hình trụ Caeruleus: màu xanh da trời Coenobialis: (thuộc) đền, miếu
- Phụ âm d đọc như [đ] tiếng Việt
Dulcis: ngọt Dichrous: 2 màu
- Phụ âm f đọc như [ph] tiếng Việt
Folium: lá Flos: hoa
- Phụ âm g đọc như [gh] tiếng Việt
Trang 34- Phụ âm r đọc như âm [r] tiếng Việt (rung lưỡi khi đọc)
Rhinoceros: tê giác Rotundus: tròn
- Phụ âm s
+ Thông thường được đọc như âm [x] tiếng Việt
Sanguis: máu Scaber: xù xì, thô nhám Sepalum: lá đài
Eriostemus: chỉ nhị có lông
+ Khi đứng giữa 2 nguyên âm hoặc giữa một nguyên âm và chữ m hoặc chữ n thì đọc như âm [z]
Roseus: màu hồng Resina: nhựa Jasminoides: dạng Jasminum Vietnamensis: thuộc về Việt Nam
- Phụ âm t:
+ Đọc như [t] tiếng Việt trong phần lớn trường hợp
Tomentosus: phủ lông nhung Tinctorius: dùng để nhuộm
+ Đọc như [x] của tiếng Việt khi đứng trước nguyên âm i mà sau nguyên
âm i lại có thêm một nguyên âm bất kỳ
Trang 35Solution: dung dịch Constipation: táo bón
Tuy nhiên, vẫn đọc nhƣ [t] của tiếng Việt khi t nằm trong tổ hợp phụ âm st, tt, tx
Carapax: Mai (rùa, ba ba)
+ Đứng giữa 2 nguyên âm đọc nhƣ [kz]
Exocarpium: vỏ quả ngoài
Flexuosus: ngoằn ngoèo
Trang 36+ Đứng trước phụ âm đọc như âm [u]
Fowler: dung dịch Fowler
3.3.2 Phụ âm ghép, phụ âm kép và phụ âm đôi
- Phụ âm ph: đọc như âm [ph] tiếng Việt
Heterophyllus: lá khác Macrocephalus: đầu to
- Phụ âm rh: đọc như âm [r] tiếng Việt (rung lưỡi)
Rheum: cây đại hoàng Rhizoma: thân rễ
- Phụ âm th: đọc như âm [th] tiếng Việt
Anthus: thuộc về hoa Erythroxylon: gỗ đỏ
Phụ âm đôi:
Trang 37Là 2 phụ âm của cùng một chữ, đi liền với nhau như hình thức một phụ âm ghép nhưng phụ âm đứng trước thuộc về âm tiết trước, phụ âm đứng sau thuộc về
âm tiết sau
Aryllus: áo hạt Senna: cây Phan tả Immaturus: chưa chín
Trang 38PHẦN B CÁC CÂY THUỐC VÀ DƯỢC LIỆU
AC-TI-SÔ Tên khác: Artichaut (Pháp), Artichoke (Anh)
Tên khoa học: Cynara scolymus L họ Cúc
(Asteraceae)
Mô tả cây
Cây thảo cao cỡ 1 m hay hơn, thân thẳng, cứng, có khía
dọc, bề mặt phủ lông trắng
Lá to dài, mọc cách, cuống lá to và ngắn, phiến lá bị
khía sâu,mặt trên lá có màu xanh lục, mặt dưới có
nhiều lông trắng mịn Cụm hoa hình đầu, ở ngọn cành,
màu tím nhạt Các lá bắc của cụm hoa dầy và nhọn
Phân bố, sinh thái
Ac-ti-sô có nguồn gốc ở châu Âu Ở Việt Nam trồng nhiều nhất là ở tỉnh Lâm Đồng, còn được trồng ở Sapa, Tam Đảo Tái sinh bằng hạt hoặc bằng chồi non
Bộ phận dùng, thu hái và chế biến
Toàn cây (Herba Cynarae scolymi) Cụm hoa được hái lúc chưa nở, lá được hái lúc
cây sắp hoặc đang ra hoa (loại bỏ sống lá, sấy hay phơi khô)
Thành phần hóa học
Cụm hoa chứa protid, lipid, đường (chủ yếu là Inulin, cần cho người bệnh đái tháo đường), khoáng (Mn, P, Fe), vitamin (A, B1, B2, C) Lá chứa cynarin, tanin, flavonoid (cynarosid, scolymosid) Cynarin là hoạt chất chủ yếu của Ac-ti-sô, hàm lượng cynarin trong lá non nhiều hơn trong lá già, trong phiến lá nhiều hơn trong cuống lá, trong chóp lá nhiều hơn trong gốc lá
Tác dụng dược lý, công dụng, cách dùng
Actiso tác dụng lợi mật (do có cynarin), bảo vệ gan, lợi tiểu, hạ cholesterol-huyết
Trang 39Lá tươi hay khô dùng dưới hình thức thuốc sắc 5-10% hoặc cao lỏng 2-10 g/ngày
Có khi chế thành cao mềm hay khô để chế thuốc viên, thuốc tiêm dưới da hay mạch máu.Hoa còn dùng ăn như rau
Chế phẩm
Chophytol (viên bao đường, thuốc nước, thuốc tiêm IV, IM - Rosa - Pharma, Pháp)
BAR (viên bao đường - Pharmedic), Cynara - phytol (viên bao – XNDP Lâm Đồng), Orthocynar (XNDP TW 25), Phytol và Betasiphon (ống uống – Nadypha)
Các loại cao Actiso, trà túi lọc Actiso
BẠC HÀ Tên khác: Bạc hà Á, Bạc hà nam
Tên khoa học: Mentha arvensisL., họ Hoa môi
(Lamiaceae)
Mô tả cây
Cây thân thảo, có thể cao đến 1 m Toàn cây có
mùi thơm Thân vuông, bề mặt có nhiều lông Lá
mọc đối, cuống dài từ 2-10 mm, phiến lá hình
trứng hay thon dài, mép có răng cưa Hoa mọc
vòng ở kẽ lá, màu tím hay hồng nhạt, có khi màu
trắng Quả hạt ít khi thấy
Phân bố, sinh thái
Mọc nhiều ở các nước có khí hậu nhiệt đới như Trung Quốc, Nhật,… ỞViệt Nam, mọc hoang ở miền núi, nơi đất ẩm, mát Còn được trồng ở nhiều nơi
Bộ phận dùng, thu hái và chế biến
Cả cây trừ rễ (Herba Menthae), lá (Folium Menthae), tinh dầu (Oleum Menthae),
menthol tách từ tinh dầu bạc hà
Thu hái lúc cây sắp ra hoa hay đang có nụ, lúc trời khô ráo
Trang 40Nếu chiết lấy tinh dầu: dùng lá tươi hoặc hơi héo
Nếu dùng khô: phơi trong râm hoặc sấy nhẹ đến khô
Toàn cây trừ rễ chữa nôn, thông mật trợ giúp tiêu hóa
Menthol chữa viêm mũi, ngạt mũi (ống hít)
Đơn thuốc
1 Thuốc chữa nôn thông mật giúp sự tiêu hóa:Lá bạc hà hay toàn cây bỏ rễ 5 g, pha vào
200ml nước sôi, cách 3 giờ uống 1 lần.Có thể dùng cồn bạc hà theo công thức kể trên để
uống thay, mỗi lần từ 5-10 giọt hay hơn
2 Chè chữa cảm mạo nhức đầu: Lá bạc hà 6 g, kinh giới 6 g, phòng phong 5 g, bạch
chỉ 4 g, hành hoa 6 g Nước sôi đổ vào chờ 20 phút, uống lúc đang nóng
Không dùng cho trẻ sơ sinh vì có tác dụng ức chế hô hấp, có thể gây ngạt thở
Hiện nay trên thế giới và nước ta còn dùng nhiều loài bạc hà khác: Bạc hà Châu Âu -
Mentha piperita L., Bạc hà Nhật Bản - Mentha arvensis L var piperascens Malinv,
Bạc hà cho tinh dầu lưu lan hương còn gọi là lục Bạc hà - Mentha viridis L (Mentha
spicata L.)