1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Không gian và thời gian nghệ thuật trong cố đô của yasunary kawabata

56 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 703,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA: NGỮ VĂN NGUYỄN THỊ HẠNH KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG CỐ ĐÔ CỦA YASUNARY KAWABATA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Văn học

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA: NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HẠNH

KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN

NGHỆ THUẬT TRONG CỐ ĐÔ

CỦA YASUNARY KAWABATA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

HÀ NỘI- 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA: NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HẠNH

KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN

NGHỆ THUẬT TRONG CỐ ĐÔ

CỦA YASUNARY KAWABATA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ BÍCH DUNG

HÀ NỘI- 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn- Trường ĐHSP Hà Nội 2, trong tổ bộ môn Văn học nước ngoài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới các thầy, cô giáo trong

khoa, tổ, đặc biệt là TS Nguyễn Thị Bích Dung - người đã trực tiếp hướng

dẫn tôi hoàn thành đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của

TS.Nguyễn Thị Bích Dung Tôi xin cam đoan rằng:

- Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

- Kết quả này không trùng với kết quả của bất kỳ tác giả nào đã được công bố Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 20 tháng năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Đóng góp của khóa luận 6

8 Bố cục khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG CỐ ĐÔ 7

1.1 Khái niệm về không gian nghệ thuật 7

1.2 Không gian nghệ thuật trong Cố đô 8

1.2.1 Không gian chùa chiền, ni viện 10

1.2.2 Không gian sinh hoạt 18

1.2.3 Không gian tâm lý 24

CHƯƠNG 2.THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG CỐ ĐÔ 32

2.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 32

2.2 Thời gian nghệ thuật trong Cố đô 33

2.2.1 Thời gian tự nhiên 34

2.2.2 Thời gian tâm lý 40

2.3 Cách tổ chức thời gian 42

KẾT LUẬN 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Y Kawabata được các nhà nghiên cứu tôn vinh như người “Mở cánh cửa tâm hồn Nhật Bản” Ông là nhà văn Nhật Bản đầu tiên nhận giải Nobel văn

học vào năm 1968 với bộ ba tiểu thuyết: Xứ tuyết (1947), Ngàn cánh hạc (1951), Cố đô (1962)

Cố đô là một trong ba bộ tiểu thuyết tiêu biểu, đặc sắc làm nên tên tuổi

của Y Kawabata Mỗi tác phẩm của Y Kawabata đều cho thấy nghệ thuật viết văn tuyệt vời và tình cảm lớn lao, thể hiện được bản chất của cách tư duy Nhật Bản qua bút pháp sáng tác bậc thầy - một kiểu sáng tác lãng mạn mà không gian và thời gian nghệ thuật là một yếu tố rất quan trọng trong đó Không gian và thời gian là sản phẩm sáng tạo để nhà văn thể hiện quan niệm nhất định về con người, cuộc sống Vì vậy, việc tìm hiểu về không gian

và thời gian nghệ thuật là điều thú vị, là sự quan tâm của nhiều người

Đối với Y Kawabata, từ lâu “Không gian và thời gian nghệ thuật” trong sáng tác của ông vẫn được coi là một đề tài mới mẻ và hấp dẫn đối với những người say mê văn chương Nhật Bản - say mê dòng văn học xứ Phù Tang.Không gian và thời gian nghệ thuật là hiện tượng của thế giới khách quan khi

Trang 7

đi vào nghệ thuật được soi rọi bằng tư tưởng, tình cảm, được nhào nặn và tái tạo trở thành một hiện tượng nghệ thuật độc đáo, thấm đẫm cá tính sáng tạo của nhà văn

Không gian và thời gian trong văn học rất tiêu biểu cho khả năng chiếm lĩnh đời sống rộng, sâu và nhiều mặt của ngôn từ Cảm quan về không gian và thời gian gắn liền với cảm quan về con người và cuộc đời, gắn bó với ước mơ

và lý tưởng của nhà văn Không gian và thời gian là những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên diện mạo và giá trị của tác phẩm Mỗi nhà văn có cách tổ chức không gian và thời gian riêng tùy thuộc vào tài năng và phong cách của mỗi người Nhưng nhìn chung đó là những phạm trù quan trọng, giúp nhà văn tái hiện về hiện thực đời sống, phản ánh quan niệm nhân sinh quan của mình Tác phẩm văn học là sản phẩm của nhà văn Ở đó nhà văn không chỉ tái hiện lại những sự kiện, hiện tượng của thế giới, đề xuất một quan niệm khái quát tư tưởng rõ rệt về chúng mà còn xây dựng nên một thế giới nhân vật và

sự kiện tồn tại trong không gian và thời gian nghệ thuật nhất định đã gia công

và xử lý theo ý đồ của mình Tìm hiểu không gian và thời gian trong một tác phẩm văn học là điều rất thú vị và là mối quan tâm của nhiều người Từ lâu trong sáng tác của Y Kawabata đề tài này được xem là đề tài mới mẻ, hấp dẫn đối với những người say mê tìm hiểu văn chương xứ sở Phù Tang

1.2 Lí do sư phạm

Việc tìm hiểu sáng tác của Y Kawabata sẽ gúp người giáo viên tương lai

có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về văn học nước ngoài, đặc biệt là văn học Nhật Bản Từ đó tích lũy được những tư liệu cần thiết cung cấp cho học sinh hiểu biết thêm về những sáng tác văn học được học trong nhà trường phổ thông như thơ Haikư của Basho Và đặc biệt giúp các em có cái nhìn đúng đắn trong học tập và trong cuộc sống

Trang 8

Một tác phẩm văn chương sinh động, hấp dẫn được thể hiện qua rất nhiều phương diện nghệ thuật, trong đó “Không gian và thời gian nghệ thuật”

là đề tài độc đáo và đặc sắc Khi nghiên cứu đề tài này người viết không chỉ nắm được nội dung tư tưởng của tác phẩm mà còn là dấu hiệu nhận biết phong cách của nhà văn

Từ những lí do đó chúng tôi chọn đề tài Không gian và thời gian nghệ

thuật trong Cố đô của Y Kawabata với hi vọng sẽ khám phá được phần nào

đóng góp của tác giả làm nên giá trị nghệ thuật cho tác phẩm

2 Lịch sử vấn đề

Nói tới không gian và thời gian nghệ thuật là là nhắc tới một trong những vấn đề cơ bản của khoa nghiên cứu văn học hiện đại Ngày nay không gian và thời gian nghệ thuật rất được giới nghiên cứu chú trọng Tuy nhiên trước thế kỷ XX, khái niệm này dường như chưa được quan tâm một cách đúng mức

Y Kawabata là một trong những nhà văn góp phần làm phong phú các giá trị văn chương của nhân loại trong thế kỉ XX Sáng tác của ông luôn thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước:

Tạp chí văn học số 16 (tháng 9/ 1999) tác giả E.G.Sheidensticker nhận

xét: “Tôi cho rằng nên xếp Y Kawabata vào dòng văn chương mà ta có thể

dò đến tận bậc thầy Haikư của thế kỉ XVII” Trong bài viết này tác giả chủ yếu tìm hiểu nghệ thuật Chân không trong sáng tác của Y Kawabata

Tạp chí văn học số 9 năm 1999: Tác giả Lưu Đức Trung có bài viết bàn

về “Thi pháp tiểu thuyết Y Kawabata- Nhà văn lớn của Nhật Bản” Thể hiện

rõ thi pháp đặc trưng trong sáng tác của Y Kawabata là thi pháp Chân không (nói ít, gợi nhiều, ý được thoát ra từ khoảng trống của câu chữ)

Tạp chí văn học số 2 năm 2002, tác giả Nhật Chiêu có bài “Thế giới

Kawabata Yasunary trong tác phẩm của ông”

Trang 9

Tạp chí văn học số 1 năm 2004 với bài “Thủ pháp tương phản trong

truyện Người đẹp say ngủ của Y Kawabata” của tác giả Khương Việt Hà,

bài viết tập trung đi sâu tìm hiểu nghệ thuật của tác phẩm

Trong tạp chí văn học số 7 năm 2005: Đào Thị Thu Hằng có bài: “Y

Kawabata giữa dòng chảy Đông- Tây” Bài viết nghiên cứu về sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đối với Y Kawabata và khẳng định văn hóa phương Đông là gốc rễ trong tư tưởng nhà văn

Tạp chí văn học số 11 năm 2005 với bài: “Y Kawabata- Lữ khách

muôn đời đi tìm cái đẹp” của tác giả Nguyễn Thị Mai Liên Bài nghiên cứu đi sâu vào vẻ đẹp Nhật Bản trong sáng tác của Y Kawabata: Vẻ đẹp thiên nhiên,

vẻ đẹp phong tục, vẻ đẹp của tâm hồn con người

Trong nghiên cứu văn học số 6 năm 2006: Khương Việt Hà có bài bàn

về “Mĩ học Y Kawabata” bài viết trình bày rõ quan điểm về cái đẹp của Y Kawabata và nguồn gốc hình thành quan điểm đó

Tác giả Đào Thị Thu Hằng với cuốn chuyên luận “Văn hóa Nhật Bản

và Yasunary Kawabata” chuyên luận viết về những nét văn hóa đặc sắc của

Nhật Bản, về tác giả Y Kawabata và nghệ thuật kể chuyện trong sáng tác của ông, trong đó có nhắc đến phương diện không gian và thời gian

Nhìn chung, đã có một số bài viết đề cập đến “Không gian và thời gian nghệ thuật” trong sáng tác của Y Kawabata nhưng chưa được khai thác sâu

mà chủ yếu chỉ tập trung làm nổi bật cái đẹp trong tác phẩm của ông

Trong Lí luận văn học - Vấn đề và suy ngẫm của Nguyễn Văn Hạnh và

Huỳnh Như Phương, hai nhà nghiên cứu đi vào làm rõ một số đặc điểm về hình tượng thời gian và không gian Về hình tượng không gian có không gian thiên nhiên, không gian sinh hoạt, có thể là không gian mở hay không gian khép, là không gian tĩnh hay động.Về hình tượng thời gian có thời gian trần thuật, thời gian tâm lí Tác giả cũng nhấn mạnh “hình tượng thời gian cũng đồng thời biểu lộ cách nhìn của con người về thế giới”[9; tr 183]

Trang 10

Không gian và thời gian là hai khía cạnh của sự vật, là kích thước của sự sống, là một hiện tượng của thế giới khách quan Nghệ thuật biểu hiện sự sống, tái hiện sự sống làm sao không dựng cái khung không gian và thời gian lên được để chứa đựng vật, để cho sự vật có chỗ sống, sinh sôi nảy nở” (Huy Cận) Trong khóa luận này, người viết muốn tìm hiểu, khám phá sâu hơn

phương diện “Không gian và thời gian nghệ thuật trong Cố đô của

Y Kawabata”

Cố đô là là một trong ba tác phẩm đạt giải Nobel của Y Kawabata Tác

phẩm nói tới vẻ đẹp của thành phố Kyoto và các truyền thống cổ, cũng từ đó thể hiện tâm lí của con người - đặc biệt là nói tới cặp chị em song sinh đã bị chia cách từ lúc mới chào đời Không gian và thời gian trong tác phẩm được

Y Kawabata thể hiện rất độc đáo, sinh động khiến độc giả cảm nhận mới mẻ không dễ gì nắm bắt được ngay mà phải bằng cả tâm hồn, sự hứng thú của mình để tìm hiểu sâu sắc vấn đề này

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm mục đích khám phá không gian và thời gian nghệ thuật

trong Cố đô của Y Kawabata Qua đó thấy được tài năng của nhà văn và

những đóng góp lớn lao của ông cho nền văn học Nhật Bản nói riêng và cho nhân loại nói chung.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài này người nghiên cứu hệ thống các khoảng không gian và thời gian khác nhau trong tác phẩm, sau đó tiến hành phân tích, so sánh, đối chiếu giúp người đọc thấy được những đóng góp, sáng tạo mới mẻ của Y Kawabata

về vấn đề đang cần bàn

Trang 11

5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Không gian và thời gian nghệ thuật trong Cố đô của Y Kawabata

5.2 Phạm vi khảo sát

Tiểu thuyết Cố đô của Y Kawabata do Thái Văn Hiếu dịch

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, người viết đã sử dụng các phương pháp như:

- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu

- Phương pháp khảo sát tác phẩm

- Phương pháp tổng hợp nâng cao vấn đề

7 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đóng góp một phần nhỏ bé vào việc cung cấp ngữ liệu về việc giảng dạy những tác phẩm văn học Nhật Bản sau này ở phổ thông

8 Bố cục khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung của khóa luận được chia làm hai chương:

Chương 1: Không gian nghệ thuật trong Cố đô

Chương 2: Thời gian nghệ thuật trong Cố đô

Trang 12

NỘI DUNGCHƯƠNG 1

KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG CỐ ĐÔ

1.1 Khái niệm về không gian nghệ thuật

Không gian là hình thức cơ bản của thế giới Trong đó, các vật thể có độ dài và độ lớn khác nhau nhưng đó chưa phải là không gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian

Nếu thế giới nghệ thuật là thế giới của cách nhìn và mang ý nghĩa khái quát thì không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn, cách nhìn Không gian ấy có thể rất rộng có thể là rất hẹp Nó cũng có viễn cảnh,

có giá trị tình cảm Tình cảm có thể làm cho không gian bao la thêm hay gò

bó chật chội hơn Không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian hiện thực Đây là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong việc hình thành thế giới nghệ thuật, góp phần thể hiện thế giới quan tư tưởng của người nghệ sĩ trước hiện thực và xã hội, phụ thuộc vào cách phản ánh thế giới của nhà văn

vì nó mang tính chủ quan

Trong “Từ điển thuật ngữ văn học” các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình

Sử, Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa về không gian nghệ thuật như sau:

“Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật, thể hiện chỉnh thể của nó Sự miêu tả trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một “điểm nhìn” diễn ra trong “trường nhìn” nhất định Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian nên mang tính chủ quan, ngoài không gian vật thể có không gian tâm tưởng”[8; tr 322] Do vậy, không gian nghệ thuật có tính độc lập, tương đối, không quy được vào không gian địa lý Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hóa các mối quan hệ của bức tranh thế giới như: Thời gian, xã hội, đạo đức,

Trang 13

tôn ti trật tự Không gian nghệ thuật có thể mang tính địa điểm, tính phân giới, tính cản trở Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật Không gian nghệ thuật là một mô hình nghệ thuật về thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận mình trong đó Không gian nghệ thuật mang tính ước lệ, mang ý nghĩa cảm xúc, tâm tưởng của thế giới tinh thần Trong văn học, không gian được biểu hiện bằng các không gian điểm mang tính ước lệ tượng trưng: Làng quê, trong nhà, ngoài vườn, bến sông, thành phố, biển khơi, lễ hội, con đường…

Việc tìm hiểu không gian nghệ thuật của một tác giả, một tác phẩm có tầm quan trọng lớn, cho phép khám phá phong cách và cá tính sáng tác của người nghệ sĩ một cách khoa học về đời sống

1.2 Không gian nghệ thuật trong Cố đô

Cố đô là một trong những kiệt tác nghệ thuật đạt giải Nobel văn học của

Kawabata (năm 1968) Câu chuyện nói tới một cặp chị em song sinh đã bị chia cách từ lúc mới chào đời, tác phẩm đã nói lên vẻ đẹp của thành phố Kyoto và các truyền thống cổ với những phụ nữ Kyoto còn giữ vẻ duyên dáng, không bị nền văn hóa phương Tây làm biến chất

Tiểu thuyết Cố đô kể về cô gái trẻ Chieko, một đứa trẻ bị cha mẹ nghèo

xơ xác bỏ rơi và được gia đình thương gia Takichiro nhận nuôi, ở đây cô được nuôi nấng dạy dỗ theo những nguyên tắc truyền thống của Nhật Bản Chieko

là một cô bé nhạy cảm, trung thành, nhưng thường ấp ủ về thân thế của mình

Ở Nhật bản người ta cho rằng một đứa trẻ bị bỏ rơi sẽ khổ ải với tai ương suốt đời, thêm vào đó theo một quan niệm hết sức lạ lùng của Nhật Bản, trẻ sinh đôi còn chịu sự nhục nhã đáng xấu hổ Một ngày tình cờ cô gặp một cô gái lao động xinh đẹp trong rừng tuyết tùng gần thành phố và phát hiện ra rằng cô là người em song sinh của mình Họ gắn kết sâu sắc với nhau vượt qua hàng rào

Trang 14

giai cấp xã hội - cô gái thô kệch, làm việc nặng nhọc Naeko và cô gái thanh nhã, luôn được bảo vệ cẩn mật Chieko, nhưng sự giống nhau lạ lùng giữa họ

đã mau chóng làm phát sinh rắc rối, phiền toái Toàn bộ câu chuyện được đặt trong bối cảnh năm lễ hội tôn giáo ở Kyoto từ mùa xuân anh đào nở rộ đến mùa đông lấp lánh tuyết

Bản thân thành phố thật sự là một nhân vật quan trọng, thủ đô của vương quốc xưa, từng là nơi đóng đô của Thiên hoàng và triều đình, sau hàng ngàn năm vẫn là một thánh địa lãng mạn, quê hương mỹ thuật và hàng thủ công trang nhã, ngày nay tuy bị khai thác cho du lịch nhưng vẫn là địa điểm thăm viếng được ưa chuộng Với các chùa chiền phật giáo và các đền thờ Thần đạo, khu thủ công xưa và vườn thực vật, nơi này mang trong nó chất thơ mà Y Kawabata thể hiện bằng một phong cách dịu dàng, nhã nhặn, không ủy mị mà

tự nhiên như một sự hấp dẫn đầy xúc động Ông đã sống trong thất bại nặng

nề của đất nước và nhận thức chắc chắn rằng tương lai đòi hỏi những gì về tinh thần cầu tiến, nhịp điệu và sức sống công nghiệp Nhưng trong làn sóng hậu chiến của sự Mỹ hóa mạnh mẽ, tiểu thuyết của ông là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về sự cần thiết cứu lấy một cái gì đó trong vẻ đẹp và cá tính của Nhật Bản xưa cho một nước Nhật Bản mới Ông mô tả những lễ nghi, tôn giáo ở Kyoto một cách tỉ mỉ như thể chọn mẫu hoa văn trên thắt lưng truyền thống trong trang phục phụ nữ Những khía cạnh này trong tiểu thuyết có thể có giá trị tài liệu, nhưng độc giả thích thú với những đoạn miêu tả sâu sắc như vậy như đoạn tả nhóm người trung lưu của thành phố thăm viếng người thực vật – vốn bị đóng cửa một thời gian dài vì lính Mỹ chiếm đóng lập doanh trại ở đó

để nhìm xem những con đường đáng yêu với hàn cây long não còn nguyên và

có thể làm vui sướng những con mắt thành thạo hay không

Không gian Cố đô của Y Kawabata đã góp phần quan trọng trong việc

bộc lộ tư tưởng, dụng ý nghệ thuật của nhà văn Ở đây, ông đã dựng lên một không gian đồng hiện giữa hiện tại và quá khứ Y Kawabata thường khắc

Trang 15

họa một vài đường nét còn lại là những khoảng trống hư không Điều này cho thấy tác giả luôn trân trọng quá khứ, hướng về quá khứ để tìm lại vẻ đẹp truyền thống đang dần bị lãng quên

Căn cứ vào kết quả khảo sát cho thấy không gian nghệ thuật trong Cố đô

củaY Kawabata gồm ba kiểu không gian: Không gian chùa chiền, ni viện; Không gian sinh hoạt; Không gian tâm lý Các kiểu không gian trong tiểu

thuyết Cố đô được thống kê như sau:

Các kiểu không gian Số lần xuất hiện và tỉ lệ phần trăm

1 Không gian chùa chiền, ni viện

Không gian của nghệ thuật

Không gian của tâm linh

Không gian của lễ hội

2 Không gian sinh hoạt

Không gian ngôi nhà

Không gian thành phố Kimono

Không gian vùng Bắc Sơn

3 Không gian tâm lý

Qua kết quả khảo sát cho ta thấy kiểu không gian chủ đạo trong Cố đô là

không gian của tâm linh Sau đây là các kiểu không gian xuất hiện trong tiểu

thuyết Cố đô của Y Kawabata:

1.2.1 Không gian chùa chiền, ni viện

1.2.1.1 Không gian của nghệ thuật

Nhắc tới không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học là nói về một vấn đề có nhiều tranh cãi, nhiều quan niệm khác nhau, tuy nhiên các quan điểm đều gặp gỡ nhau trong quan niệm cho rằng: Không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian hiện thực Đó là mô hình nghệ thuật về thế

Trang 16

giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận của mình trong không gian đó Không gian nghệ thuật là một yếu tố quan trọng thuộc hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, là phạm trù thuộc hình thức nghệ thuật Tuy nhiên điều đặc biệt là ở chỗ, không gian nghệ thuật là hình thức mang tính nội dung Không gian nghệ thuật trong tác phẩm của Y Kawabata cũng

là một trong những yếu tố nghệ thuật độc đáo của Y Kawabata làm nên sự hấp dẫn cho tác phẩm

Trong Cố đô, bên cạnh những không gian hẹp của “các đường hẻm chật

chội có những ngôi nhà đã sạm đen vì cũ kỹ” là không gian những lối mòn, những con đường: “hai bên con đường nhỏ dẫn từ cánh cổng hẹp vào nhà có những bụi hagi trắng đang kì nở rộ” Và mở rộng hơn là không gian của những hồ nước được phủ lên sắc hồng tươi đẹp của hoa anh đào: “Nơi đây dưới tán lá xanh ngự trị cảnh tranh tối tranh sáng Mùi lá non và đất ẩm phảng phất… Con đường đã dẫn họ tới một khu vườn rộng có hồ ở giữa Hồ lớn hơn cái hồ mà họ vừa đi qua Cảnh vật vụt trở nên sáng sủa nhờ những cây anh đào đầy hoa in bóng trên mặt nước hồ” Thành phố Kyoto nổi tiếng với những

lễ hội bốn mùa,cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp và những chùa chiền thấp thoáng dưới những tán lá xanh Ở thành phố xinh đẹp, trù phú: “Kyoto là một thành phố lớn với những cây cối đẹp đến sững sờ Không sao tả được cái tuyệt mỹ nơi khu vườn bao quanh biệt thự hoàng gia cạnh chùa Xingakuin, cánh rừng thông bên hoàng cung, bao nhiêu vạt vườn mênh mang của những ngôi chùa cổ mà ngay cây cối trên các phố xá cũng rất tươi tốt Những cây liễu rủ ở Kiyamachi và bên bờ sông Takaxe, những con đường trồng liễu dọc các dãy phố Godgio và Horikata thật lạ thường… Cả những cây thông đỏ mọc thành hình bán nguyệt trên Bắc Sơn cũng khiến người ta thán phục” Chính cảnh đẹp tuyệt vời này đã thu hút du khách thập phương tụ họp về đây trong những ngày lễ hội và cũng là nơi hai chị em song sinh Naeko và Chieko tình

cờ tìm ra nhau sau mấy chục năm lưu lạc

Trang 17

Nhìn tổng thể, ngoài không gian thiên nhên, cây cỏ, không gian trong Cố

đô được Kawabata xây dựng đồng hiện gồm có: không gian phố phường Cố

đô, không gian cửa hiệu của gia đình Xada, không gian chùa chiền, không

gian làng, rừng - thông liễu ở Bắc Sơn, không gian Thất Lâu Thượng Quận Không gian phố cổ ở Kyoto: những ngôi chùa cổ, thành phố ngập tràn trong màu xanh tươi trẻ của cây cối Chieko và Xinichi đã hứng khởi có một lượt đi dạo không gian khu vườn cây phong lớn để ngắm cảnh thiên nhiên Không gian phố phường Kyoto cũng là nơi diễn ra các lễ hội mà lễ hội nào cũng nhắc Chieko liên tưởng về quá khứ.

1.2.1.2 Không gian của tâm linh

Chùa Heian Dgingu, nơi có hoa anh đào đang kì nở rộ, chùa này được coi là không cổ lắm Chieko nhận được lời mời của Xinichi Midzuki, đi xem anh đào nở ở chùa này Hơn nữa chùa Heian nổi danh với ngày lễ Kỷ Nguyên

“Người ta dựng ngôi chùa này vào năm 1895 để tưởng niệm thiên hoàng Kammu, người hơn ngàn năm trước đã hạ chiếu thiên đô về chỗ bây giờ là Kyoto Cổng tam quan và chùa ngoài giống y như cổng Otemmon và cung Daigokuden ở Heian” Không gian vườn chùa Heian “Vườn chùa ở Heian Dgingu thành ra một trong các địa điểm ưa dùng nhất để tổ chức hôn lễ” Chieko thả hồn mình vào rặng anh đào rủ, tâm trang vô cùng thoải mái, “tâm hồn nàng tràn đầy niềm rạo rực thiêng liêng” Ngoài những cây anh đào đồ sộ, tốt lạ thường, nơi đây còn có “bao nhiêu là thông - không to lắm nhưng dáng đẹp Giá một khi không có anh đào ra hoa, chỉ tấm áo màu xanh của thông thôi cũng đã thỏa mắt Cho dù bây giờ đây, màu xanh trinh nguyên của thông

và làn nước hồ trong vắt có lẽ chỉ là nền tôn thêm những đóa anh đào phớt hồng” Tâm trạng Chieko lúc này vô cùng tốt, nàng được hòa mình với thiên nhiên, không gian chùa chiền yên tĩnh, thanh tịnh Hai người ngắm cảnh ở chùa này và con nghĩ tới chùa Daigodgi, nơi đây người ta sắp sửa hoàn tất

Trang 18

việc trùng tu ngôi chùa tháp năm tầng Ngôi chùa này được ví “tươi rói như Đền Vàng…”

Bên cạnh không gian của chùa chiền là không gian của ni viện Mặc dù ông Takichiro Xada là một nhà kinh doanh tơ lụa nhưng ông đã vào ở ẩn trong chùa để học thiết kế những mẫu vẽ kimono độc đáo “Ngôi chùa không lớn mà dân tình Kyoto ai cũng biết nó ở biệt lập, xa lánh mọi cặp mắt tò mò của đám khách du lịch” Ni viện là nơi mà ông chủ kinh doanh tơ lụa chọn làm nơi sáng tạo nghệ thuật “Takichiro thuê một buồng trong chùa Lòng ông khao khát sự cô tịch mà ở đây mọi cái đều đồng điệu với tâm trạng ông” “ Xada là một thương gia bán buôn áo dài may sẵn có cửa hiệu ở khu Nakaghio”

Ni viện là nơi rất thích hợp với tính “ưa cô độc” của Takichiro Vì tình yêu thương con gái Chieko, ông có thể ở ni viện nửa tháng để dệt cho con gái một chiếc thắt lưng kimono Tình yêu thương từ cha mẹ là một niềm hạnh phúc to lớn, khác xa so với người chị em song sinh Naeko Đó là một thân phận hoàn toàn khác, một người phụ nữ lao động, làm công và một tiểu thư được cha mẹ yêu thương, quan tâm hết mực.

1.2.1.3 Không gian của lễ hội

Kyoto nơi gia đình Chieko sống là nơi có nhiều chùa cổ Phật giáo và Thần đạo Hằng năm nhiều lễ hội lớn nhỏ diễn ra làm cho Kyoto trở thành không gian văn hóa với nhiều hoạt động lễ nghi mang tính cộng đồng, vừa tôn nghiêm vừa thể hiện tinh thần đoàn kết Kawabata đã kì công miêu tả những công đoạn chuẩn bị và cách thức tiến hành nghi lễ ở các lễ hội, cách bài trí và sắp xếp không gian trong chùa cho mỗi dịp nghi lễ Chùa chiền và lễ hội gắn kết các nhân vật theo một sự tác hợp rất ngẫu nhiên nhưng đầy xúc cảm Một trong những lễ hội để lại nhiều ấn tượng đối với Chieko là lễ hội Ghion Hiện tại, lễ Ghion năm nay, Chieko trở nên ưu tư vì biết cha mẹ ruột không may

Trang 19

mất sớm Đó là nỗi buồn đau đối với nàng Một lễ Ghion xa xăm, khi Chieko còn trong sáng, ngây thơ đã dần trôi sâu hơn vào quá khứ nhưng lại vẫn cứ hiển hiện rõ như in trong kí ức Chieko Hằng năm, các nghi thức chuẩn bị cho

lễ hội vẫn không thay đổi, nhạc công và những chiếc kiệu được trang hoàng hoa dây kết bằng đèn lồng vẫn cứ rực rỡ như thế Tuy những chi tiết bài trí ở chùa xưa và nay có sự thay đổi theo thời gian lịch sử Và chúng gợi nhắc hồi

ức tươi đẹp khi Chieko và Xinichi mới chừng bảy, tám tuổi Là một cậu bé có nét đẹp xinh xắn, Xinichi ngày nhỏ đã được chọn làm chú tiểu có nhiệm vụ rước lễ Hình ảnh cậu bé Midzuki Xinichi “mặc quần áo chú tiểu, lông mày

kẻ, bôi môi son đỏ thắm, mặt xoa phấn trắng, đi cỗ xe đẩy trong ngày lễ Ghion” cách đó hàng chục năm không thể nào phai nhòa trong tâm trí của Chieko Có hẳn những nghi thức quan trọng dành riêng cho chú tiểu làm nhiệm vụ rước lễ Vì vậy vai trò của chú tiểu cũng trở nên thiêng liêng hơn và hình ảnh chú tiểu Xinichi bé bỏng trở thành ấn tượng khó phai trong kí ức nhiều người Đối với Chieko, đó là kí ức đẹp về tuổi thơ ngây thơ, vô tư lự trong sự bảo bọc bằng tình thương yêu của cha mẹ Lúc đó Chieko say mê đi theo chú tiểu khắp chốn và nhớ như in đến cả chi tiết “hai người bạn đồng lứa tóc cắt ngắn” đến chúc mừng Xinichi Cứ mỗi năm lễ hội Ghion diễn ra, hình ảnh của quá khứ lại đồng hiện với hiện tại trong dòng liên tưởng của cô Đối với cô, hình ảnh đó thuộc về những gì thân thương nhất Ấn tượng về Xinichi khi cậu đã trưởng thành vẫn cứ trong trẻo và gần gũi như thế trong ý thức của Chieko Cho dù về sau này thời gian có trôi qua, hình ảnh cậu bé Xinichi năm nào cũng sẽ mãi tươi mới khi xuất hiện trong trí nhớ của cô Khi ấy cô chưa biết mình không phải là con ruột của ông bà Takichirô Sau khi bí mật đã được tiết lộ, thì kí ức xa xưa trong Chieko lại hiện về rõ hơn bao giờ hết Trong lễ Ghion, riêng phần âm nhạc, có đến hai mươi sáu cách diễn tấu cùng với nhạc đệm dành cho vũ điệu cung đình Buổi tối trước khi rước lễ, tràng đèn lồng nhỏ trang hoàng kiệu cũng được chuẩn bị sẵn sàng Không gian tràn

Trang 20

ngập âm thanh và ánh sáng đó đã mang hình ảnh Xinichi khoác trang phục chú tiểu từ xa xăm về trong kí ức của Chieko Hằng năm lễ hội vẫn diễn ra theo quy luật của thời gian Năm nay, những nghi thức lễ hội vẫn vậy, nhưng tâm thế của cô thì đã khác Những mối ưu tư mơ hồ chiếm hết tâm trí Chieko

Do vậy, khi hẹn gặp Xinichi trong khung cảnh mùa xuân- mùa của các lễ hội, Chieko đã đột nhiên chia sẻ với Xinichi bí mật của mình Lúc này, quá khứ và hiện tại đan xen nhau xuất hiện như một đoạn phim nghệ thuật Đang là cảnh Chieko ở cửa hàng của thời hiện tại chuẩn bị đi ra đường, thì tiếp đến là đồng hiện quá khứ cảnh cuộc nói chuyện qua điện thoại hẹn đi ngắm hoa giữa Chieko và Xinichi Hình ảnh chú tiểu Xinichi còn trở đi trở lại trong hồi ức của Chieko nhiều lần nữa Khi đi dạo ngắm những chùm hoa uất kim hương nhiều màu sắc cùng bố mẹ, nghe bố hỏi ý kiến về việc tiếp nhận Hideo vào gia đình, Chieko chợt đồng hiện hình ảnh Xinichi khi chàng còn là chú tiểu Hồi ức tươi đẹp đó trở về là sự tiếc nuối khi phải xa rời tuổi thơ Rồi khi lễ hội Ghion đang tới gần, Chieko thích thú nhớ tới chú tiểu Xinichi năm nào ăn vận bảnh bao ngự trên chiếc kiệu thứ nhất Cuộc trò chuyện vui vẻ giữa Chieko, Xinichi và Riuxuke trên đường từ quán “Daiychi” trở về cũng lại nhắc đến chú tiểu Xinichi và “cô bé đi sau kiệu không chịu tụt lại” Kí ức của Riuxuke về cô bé Chieko cũng ấn tượng không kém hồi ức sống động về Xinichi trong tâm trí Chieko Đó là sự kiện nổi bật được kí ức tuổi thơ lưu giữ

và gợi nhiều cảm xúc Kỉ niệm đã làm cho tình thân càng trở nên khắng khít

Ba lễ hội chính trong năm của kinh đô cổ là lễ Kỉ Nguyên, lễ Cẩm Qùi

và lễ Ghion, đều do chùa Heian Dginu tổ chức, các đám rước thì đều từ hoàng cung Xuyên suốt thời gian lễ hội diễn ra trong năm định mệnh ấy, liên tục những mối liên hệ mới và những nhầm lẫn nảy sinh Lễ hội Ghion những ngày sau cùng không khí vẫn rộn ràng, nô nức, nhất là đêm rước lễ với những tràng đèn lồng nhỏ trang hoàng kiệu Chiếc cầu trên Đại lộ thứ tư là không gian Kawabata sắp đặt để tạo ra sự nhầm lẫn cho Hideo Hai chị em Chieko

Trang 21

và Naeko lần đầu tiên gặp nhau và nhận ra nhau Cùng một thời điểm, Hideo

đi xem hội vô tình gặp Naeko Sự việc này đồng hiện trong trí nhớ Hideo khi chàng một lần nữa đi ngang qua cây cầu ấy Việc nhầm lẫn dẫn dắt tới hệ quả cuối cùng là Hideo có được cuộc hẹn cùng đi dạo với Naeko trong lễ Kỉ Nguyên Trong lễ Kỉ Nguyên, Naeko đã diện thắt lưng hình thông liễu do Hideo tặng, đó là điều kiện để cô thôn nữ chốn Bắc Sơn được lộng lẫy giống như tiểu thư chốn kinh đô Xinichi và Riuxuke lại được sắp xếp để thấy khung cảnh này và đến lượt họ nhầm lẫn Những mảnh ghép được xâu chuỗi tạo nên

sự logic cho câu chuyện Lễ hội Ghion diễn ra cũng gợi trong lòng ông Takichirô và người bạn hoài niệm tiếc nuối về quá khứ vàng son lễ hội khi hai ông còn nhỏ Qua câu chuyện của hai người, ở lễ hội của thời xưa mọi chuẩn mực vẫn còn được duy trì, sự thiêng liêng và niềm háo hức vẫn như còn nguyên vẹn Lễ hội và chùa chiền cũng đồng thời lên ở trong Takichirô một thời quá khứ của thanh niên trai tráng, những hoạt động mang tính cộng đồng Cuộc thi chặt trúc với những luật lệ quy củ vốn có thời xa xưa vẫn cuốn hút ông Takichiro Không gian cổ kính thiêng liêng chốn chùa chiền cùng những

kí ức đồng hiện kết nối Chieko với bố mẹ mình Bằng niềm tin tâm linh, ông Takichirô chọn chùa chiền làm nơi tĩnh tâm, nuôi dưỡng những ý tưởng sáng tạo bản vẽ Cũng trên đường thăm cha trở về, khi Chieko đặt những bước chân xuống chùa, những hình ảnh về lần thỉnh chuông chùa Nembutsu cùng

mẹ hồi nào trở về đồng hiện Bà Xighe đến chùa cũng là để tìm đến sự thanh tịnh Chi tiết câu chuyện đồng hiện được miêu tả cặn kẽ Sự gắn kết giữa hai người phụ nữ đầy nữ tính đã tạo nên bức tranh đồng hiện đậm tình mẫu tử Những lễ hội được tổ chức thường xuyên tại Kyoto tạo nên đặc trưng riêng như một hình thức bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống Và trong bối cảnh đó, những con người Nhật trở nên gắn bó bền chặt Lễ hội, chùa chiền cùng với kỉ niệm cứ sống mãi trong kí ức Chieko và những nhân vật khác như

Trang 22

“Những khách ở xa đến quen cho là lễ Ghion kéo dài cả thảy có một ngày- mười bảy tháng bảy, lúc trong thành phố có rước Ymakobo” Nhưng thực chất lễ Ghion kéo dài hơn thế nhiều “lễ Ghion kéo dài suốt tháng bảy”

Lễ hội diễn ra vô cùng ý nghĩa “Mở đầu hội rước kiệu hàng năm là kiệu naghinataboka có các cậu bé mặc trang phục chú tiểu ngồi trên Ngày mùng hai và mùng ba tháng bảy, ở mỗi quận lại chuẩn bị một kiệu rước riêng của quận mình” Lễ hội ở đây diễn ra mang đậm dấu ấn của thành phố Kyoto từ việc chuẩn bị các nghi lễ cho tới việc rước kiệu như thế nào: “người ta làm kiệu từ đầu tháng, và đến mùng mười tháng bảy nghi thức “tẩy rửa” kiệu diễn

ra ở cầu Đại lộ thứ tư trên sông Kamogaoa Tuy gọi là “tẩy rửa” nhưng sự thực vị vua trụ trì chùa chỉ giản đơn nhúng cành cây thiêng xakaki uống nước rồi rẩy lên kiệu”

Để chuẩn bị cho lễ hội Ghion sắp diễn ra, mọi người đã chuẩn bị từ hôm trước Không ngoại lệ, không gian nơi cửa hiệu nhà Chieko cũng có sự chuẩn

bị “ở cửa hiệu của Chieko người ta đã dỡ dãy hàng rào tô điểm cho mặt tiền ngôi nhà để tu bổ”

“Ngày lễ Lửa ở chùa trên núi Kurama, dành cho việc xua đuổi các hung thần vốn được Chieko ưa thích hơn lễ Daimondgi Naeko cũng thường có mặt

ở lễ Lửa…” Nhật Bản là quốc gia có rất nhiều lễ hội nổi tiếng và thu hút rất

nhiều du khách cả trong nước và trên thế giới Qua việc tìm hiểu Cố đô cho

bạn đọc biết đến văn hóa của Nhật Bản vô cùng phát triển, người đọc khi đã được biết tới Nhật Bản chỉ muốn tới đó tự tìm hiểu và khám phá những giá trị văn hóa nơi đây

Hội Karyobinga, có bơi thuyền rồng trên khúc sông gần Araxiyama và Kyokuxinoen bên dòng suối chảy qua vườn chùa Kamigamo… Những lễ hội diễn ra được tổ chức theo những thời điểm cố định trong năm trở thành truyền

thống văn hóa Kyoto Toàn bộ Cố đô, những lễ hội diễn ra trong hệ qui chiếu

so sánh tâm cảnh và ngoại cảnh Lễ tống hạ vào đêm trước tiết lập thu, sau đó

Trang 23

nửa tháng đống lửa tiễn biệt cháy Ngày còn nhỏ, Chieko háo hức để ngắm khung cảnh này Nhưng hiện tại, khi đối diện với những tình huống quá bất ngờ trong cuộc sống, nỗi lòng đang rối như tơ vò, Chieko cảm nhận nỗi buồn không dứt, lễ tống hạ không còn là sự háo hức đối với cô nữa Lễ Ghion vào mùa hạ của hiện tại nhắc về một lễ Ghion xa xôi, sống động trong kí ức Quá khứ vui tươi đã lùi hẳn, hiện tại gieo vào lòng người những ưu tư không dễ

nguôi ngoai Cố đô luôn có kết thúc mở, rộng lối cho một khoảng mênh

mông vô định của xúc cảm tràn về Nội tâm nhân vật như một tập phim, trong

đó những mảnh ghép trắng đen là hình ảnh của quá khứ luôn ào ạt song song với những thước phim đầy màu sắc của hiện tại Lấy khung hình này chồng lên khung hình kia, ta phát hiện có nhiều sự trùng lặp một cách hữu ý Chính tiêu thức về cái đẹp đã khiến cho khoảnh khắc cái đẹp của quá khứ trở thành vĩnh hằng và để lại dư âm vang vọng nhiều hồi trong hiện tại Ta nhận diện nhân vật thiếu nữ qua nội tâm là những hình ảnh trong sáng, ấm áp tình cảm, khơi gợi sự hứng khởi đối với những cái đẹp trong cuộc sống khi nó trở về đồng hiện trong ý thức của nhân vật Dòng ý thức của các lữ khách là một tập hợp các hình ảnh về cái đẹp của thiên nhiên bốn mùa của Nhật Bản

1.2.2 Không gian sinh hoạt

1.2.2.1 Không gian ngôi nhà

Trên mỗi trang sách, Y Kawabata luôn ý thức về việc dựng lại không gian hẹp, truyền thống, đặc trưng riêng của nước Nhật (lễ hội, đền đài, cây cối, cố đô…) muôn đời không bị thời gian và con người làm cho nhạt phai Nhưng bên cạnh không gian thiên nhiên, quang cảnh biểu hiện cho niềm tự hào dân tộc còn có một dạng không gian khác, đó là không gian ngôi nhà Không gian này mang đậm ý nghĩa mục đích của tác giả Đây cũng là nét độc đáo trong nghệ thuật xây dựng không gian của nhà văn Chính không gian này

đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhà văn khai thác tâm lý, tình cảm, tính cách

Trang 24

của nhân vật Đời sống của nhân vật hiện lên cụ thể, sinh động, chân thực ở đây Ngôi nhà của Takichiro được xây dựng theo kiểu cách Kyoto xưa, cho nên người nào vào nhà vệ sinh cũng không khỏi phải theo lối hành lang hẹp, qua chỗ bàn ông ngồi trong phòng khách

Không những thế, “gian phòng chỗ Takichiro ngồi trên chiếc đệm mỏng sau bàn, sàn có trải tấm thảm cổ của hải ngoại Chiếc bàn được ngăn cách ra bằng những tấm rèm vải hoa quý Chính Chieko nghĩ ra việc treo rèm” Không gian ngôi nhà của Chieko còn hiện lên với vẻ đẹp của những pho tượng: “Trong nhà họ có bảy pho tượng thần Hotay Điều đó có nghĩa là, ít nhất cũng đã bảy năm rồi không có ai trong gia đình họ đi sang thế giới bên kia, họ vốn có cũng như vẫn còn lại ba người với nhau: cha, mẹ và Chieko” Ngôi nhà nhìn từ ngoài vào có hàng rào bên lối vào cửa hiệu và những phiến

gỗ Trên tầng hai, dưới mấy khung cửa sổ con có treo tấm biển hiệu cũ, bên trên nó là cái mái nhỏ xíu - một vật trang trí độc đáo và đồng thời cũng là dấu hiệu cho thấy hãng buôn đã lâu đời” Không gian ngôi nhà hiện lên cho thấy gia đình ông Takichiro là một gia đình thương gia buôn bán khá giả, có lối kiến trúc mang đậm chất cố đô Kyoto

Cửa hàng của gia đình Xada là không gian cư trú của ba thành viên Takichiro, Xighe và Chieko Tuy vậy vì thiết kế khá đặc biệt mà nó gây cản trở cho công việc sáng tạo của ông Takichiro Trong không khí tĩnh mịch nơi chùa chiền, khi phác thảo bản vẽ cho thắt lưng kimono, bất chợt ông Takichiro lại đồng hiện khung cảnh buôn bán ở cửa hàng nhà ông Việc mua bán ở cửa hàng và những người khách ra vào ngang qua phòng làm việc của ông gây phiền nhiễu cho ông không ít Ông phải kìm nén những bực dọc và

nó trở thành độc tố trong tâm hồn ông, hiện hình một cách rõ nét qua bản phác thảo kimono mà ông đưa Hideo xem mẫu Bức vẽ này thể hiện sự sáng tạo tuyệt vời của ông Takichiro, chiếc thắt lưng cùng mẫu vẽ đó được Hideo dệt như một cặp bằng cả tài năng và tâm hồn Một thành phẩm hoàn hảo được

Trang 25

tạo ra từ sự lao động nghệ thuật của hai lữ khách độc lập nhau đã tạo thành nhịp cầu để những tâm hồn cô độc được giải phóng Và dòng ý thức dẫn ông đến với tấm rèm vải hoa được Chieko chu đáo treo để ngăn cách âm thanh bên ngoài với phòng làm việc của ông

Cửa hiệu của gia đình Xada cách đó hàng chục năm nơi cô bé Chieko bị

bỏ rơi được dấu kín trong hồi ức của ông Takichiro và bà Xighe Đó là không gian nơi cái đẹp được sinh ra Nếu không có mảng kí ức của bà Xighe, người đọc sẽ phân vân giữa hai giả thuyết: Chieko bị bỏ rơi hay Chieko thực sự bị đánh cắp Bối cảnh đồng hiện này tồn tại trong kí ức bà Xighe như một ngăn

tủ không có chìa khóa để mở

Không gian buồng ngủ của Chieko tuy không xuất hiện trong dòng ý thức của nhân vật nào nhưng khung cảnh cố định này là khung nền diễn ra hai

sự việc ấm áp đối với Chieko Nơi đây khi thấy Chieko có cảm xúc khác lạ trong khi lễ Ghion đang diễn ra, bà Xighe đã ngủ chung giường vói con gái Cũng chính nơi đây, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng hai chị em gái đã ngủ chung với nhau Đây là không gian trong sự sắp đặt có ngụ ý của Y Kawabata để tạo sự đồng hiện trong ý thức của người đọc

1.2.2.2 Không gian thành phố “Kimono”

“Kyoto là một thành phố lớn với những cây cối đẹp đến sững sờ” Đây là một thành phố lớn, đẹp nhất Nhật Bản Vẻ đẹp tuyệt mĩ của “ khu vườn bao quanh biệt thự hoàng gia cạnh chùa Xingakuin, cánh rừng thông bên hoàng cung, bao nhiêu vạt vườn mênh mang của những ngôi chùa cổ mà ngay cây cối trên các phố xá cũng rất tươi tốt, chính chúng là điều trước nhất đập vào mắt du khách” Cảnh đẹp ở thành phố này không chỉ có vậy mà còn thể hiện ở: “Những cây liễu rủ ở Kiyamachi và trên bờ sông Takaxe, những con đường trồng liễu dọc các dãy phố Godgio và Horikaoa thật lạ thường Đây là loài liễu rủ thực sự, những cành non mềm mại của chúng buông xuống sát đất Cả

Trang 26

những cây thông đỏ mọc thành hình bán nguyệt trên Bắc Sơn cũng khiến người ta thán phục” Thành phố Kyoto đẹp theo từng mùa với những cảnh vật khác nhau: “Vào tiết xuân, rặng Đông Sơn khoác trên mình màu xanh mơn mởn, còn khi trời quang mây tạnh thì có thể thấy rõ cây cối tận trên núi Hiay Cái đẹp của cây cối tô đậm thêm cái đẹp của thành phố mà vẻ sạch sẽ nơi nó được thường xuyên coi sóc” Thành phố Kimono hiện lên với không gian rộng lớn vô cùng đẹp, thơ mộng với loài hoa anh đào nở rộ hay hình ảnh của những cây long não như xuất hiện ngay trước mắt bạn đọc: “Ông Xoxuke Otomo - chủ một xưởng dệt ở Nhixidgin - có một lối mòn trồng long não ưa thích trong bách thảo Cây không cao, hơn nữa lối mòn lại ngắn, nhưng ông thích đi dạo ở đấy, nhất là vào tiết xuân, lúc rặng long não đâm chồi…” Không chỉ có vẻ đẹp của long não mà ở Omuro anh đào được mệnh danh là

“trăng buổi bình minh”, chúng khai hoa muộn hơn những nơi khác ở Cố đô -

phải chăng cũng là để Kyoto chưa phải vội chia tay với hoa?” Thành phố hiện ra với những cảnh vật nên thơ, yên bình vô cùng hợp với khách du lịch

“cái thành phố ngập trong màu xanh tươi trẻ của cây cối Những tán lá non có

vẻ tươi hơn hẳn trên các ngôi nhà cổ, một điều khó bề cảm thấy gần những công trình xây dựng mới”

Không gian chiếc cầu trên Đại lộ thứ tư cũng được đồng hiện trong ý thức Hideo với vai trò là không gian gây nhầm lẫn Trong dịp lễ Ghion, sự tấp nập của dòng người xem hội và ánh sáng của đèn rước lễ đã khiến Hideo nhầm lẫn Naeko là Chieko Lần thứ hai, sau khi Hideo nhận lời Chieko dệt thắt lưng, trên đường trở lại cây cầu Hideo nhớ lại lần gặp định mệnh trước Việc nhớ lại cuộc gặp gỡ vô tình đó đã khiến Hideo cũng rối bời tâm tư

Không gian Thất Lâu Thượng Quận cũng không thay đổi ở cả hai lần ông Takichiro ghé đến Chỉ có sự thay đổi thời gian và con người Lần thứ nhất, sau khi gặp cô bé xinh đẹp trên chuyến xe điện, Takichiro đến phòng trà

và trò chuyện với một kĩ nữ trẻ, cô này kể ông nghe chuyện cắn lưỡi khách

Trang 27

chảy máu Lần thứ hai, ông gặp cô kĩ nữ này và cô bé trên chuyến xe điện với một diện mạo khác, lớn hơn, xinh đẹp hơn Ông đã bị cái đẹp trẻ trung của cô thiếu nữ cuốn hút Ông Takichiro lui tới không gian này để tìm cái đẹp khi đã vào độ tuổi xế chiều

1.2.2.3 Không gian vùng Bắc Sơn

Thiên nhiên Nhật Bản là thiên nhiên mang tính hai mặt, chính điều này

đã tạo nên sự hấp dẫn, cuốn hút với người Nhật Bản- Một thiên nhiên dịu dàng, tinh tế, thơ mộng nhưng cũng vô cùng dữ dội, khắc nghiệt luôn có sức lôi cuốn với người Nhật Bản Y.Kawabata đã tiếp thu truyền thống yêu cái đẹp của người Nhật Bản “Người Nhật vốn thích sống thanh cao, trọng danh

dự, gìn giữ đạo đức, khuôn phép, tâm hồn rộng mở, hòa hợp với thiên nhiên

Họ yêu vẻ đẹp từ trong phiến đá, một bông hoa trên cành, một hoa tuyết lửng lơ bay”

Vùng Bắc Sơn là nơi tập trung trồng cây thông liễu, có núi Hiay và lễ chùa Kamo: “Ở Kyoto là nơi có bao nhiêu chùa cổ Phật giáo và Thần đạo như thế, hầu như không ngày nào là không có hội chùa lớn nhỏ” Rừng thông Bắc Sơn, vắng vẻ và hùng vĩ nhắc Chieko nhớ về cha nuôi hay âm thanh rộn ràng

lễ Ghion thúc giục lòng người lập tức đưa Chieko trở về với hồi ức Xinichi dễ thương ngày xưa làm chú tiểu rước lễ

Không gian rừng thông liễu ở Bắc Sơn là một kí hiệu nghệ thuật đặc biệt kết nối chị em Chieko và Naeko Khi biết cha ruột ngày xưa bị ngã khi đang đốn thông liễu, Chieko chợt nhớ về thời thơ ấu cô đã có dịp đến thăm khu rừng này Khi ấy, ông Takichiro dẫn Chieko ngắm anh đào, hái cỏ trên núi Xiudzan, và sau đó cô đã đi bộ một mình đến Bắc Sơn để ngắm thông liễu Song hành với không gian rừng núi là khung cảnh hoa anh đào nở rực rỡ và thơ mộng Cô gán cho sự việc ngẫu nhiên đó một niềm tin tâm linh gắn với linh hồn người cha đã khuất Sự gắn kết vô hình nhưng bền chặt này là nhờ

Trang 28

sợi dây tình phụ tử ruột thịt Con đường lên núi Bắc Sơn là con đường trở về với mái nhà xưa, với cội nguồn gia đình của Chieko Vì vậy rừng thông liễu ở Bắc Sơn trở nên thiêng liêng và thân thuôc với Chieko Sau khi gặp người chị

em của mình, mỗi lần chợp mắt rặng liễu phủ đầy thông liễu tại làng Nakagaoa, lại hiển hiện trong tâm trí Chieko Hình ảnh rừng thông liễu mọc thành hàng thẳng tắp, thân thẳng, cân đối tạo nên vẻ đẹp chiếm hết tâm trí Chieko Có lúc thông liễu mọc ngay sát lòng sông Kiyotaki đầy đá Chieko hoàn toàn bị cái đẹp mạnh mẽ của rừng thông liễu chinh phục Thậm chí, cô còn gặp chính Naeko và khu rừng bạt ngàn đó trong giấc mơ của mình Vì những ấn tượng tốt đẹp về rừng thông liễu mà nhiều lần Chieko đến với Chieko để thưởng ngoạn phong cảnh Trong sách có câu: “Những cám dỗ của Kyoto” của tác giả Dgiro Orxaraghi ca ngợi cảnh thiên nhiên Bắc Sơn với những dãy ngọn thông liễu xanh và thông đỏ như những nét nhạc du dương giờ đây trở về đồng hiện trong dòng ý thức của Chieko Chính giọng ca của rừng núi và cây cối giờ đây vang vọng trong tâm hồn cô Không gian thông liễu được thẩm thấu bằng cảm nhận của âm thanh Muốn lưu dấu không gian

kỉ niệm, Chieko đã mượn tài năng của Hideo để kết tinh vẻ đẹp của rừng thông liễu và thông đỏ vào trong tấm thắt lưng kimono để tặng Naeko Trong

sự chan hòa với thiên nhiên, tình cảm của con người cũng trở nên chân thành, mộc mạc, dễ cảm nhận hơn Rừng thông là không gian động lưu giữ kỷ niệm của hai chị em Khi rừng thông được vẽ ra thành họa tiết của chiếc thắt lưng,

nó trở thành không gian tĩnh nhưng có sức gợi cảm xúc của những người trong cuộc Không gian Bắc Sơn còn gắn liền với ngôi nhà đổ nát nơi xưa kia

ba mẹ ruột của hai chị em sinh sống Naeko đã không muốn Chieko vướng bận vì điều này nhưng bản thân cô luôn day dứt vì ngôi nhà xiêu vẹo rách nát

đó gợi nhắc về ba mẹ bất hạnh

Ngày đăng: 05/10/2015, 16:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (biên soạn), “150 thuật ngữ văn học” - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
2. Nguyễn Thị Bích Dung (1999), “Y. Kawabata - Người sinh ra bởi vẻ đẹp Nhật Bản”, Thông báo khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội 2 ( Số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Y. Kawabata - Người sinh ra bởi vẻ đẹp Nhật Bản”
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Dung
Năm: 1999
3. Trùng Dương (dịch) - Ngàn cánh hạc- NXB Hội nhà văn (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngàn cánh hạc
Nhà XB: NXB Hội nhà văn (2001)
4. Ngô Quý Giang (dịch) - Tiếng rền của núi- NXB Hội nhà văn (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng rền của núi
Tác giả: Ngô Quý Giang
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2001
5. Giáp Thị Hà (2008), Khóa luận tốt ngiệp đại học, Thời gian và không gian nghệ thuật trong tác phẩm người đẹp say ngủ của Y. Kawabata, ĐHSP Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khóa luận tốt ngiệp đại học
Tác giả: Giáp Thị Hà
Nhà XB: ĐHSP Hà Nội 2
Năm: 2008
6. Nguyễn Thị Hà (2009), Khóa luận tốt nghiệp đại học, Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn, ĐHSP Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn
Tác giả: Nguyễn Thị Hà
Nhà XB: ĐHSP Hà Nội 2
Năm: 2009
7. Phạm Thị Hà (2010), khóa luận tốt nghiệp đại học, Không gian và thời gian trong Xứ Tuyết của Y. Kawabata, ĐHSP Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian và thời gian trong Xứ Tuyết của Y. Kawabata
Tác giả: Phạm Thị Hà
Năm: 2010
8. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên) (2007), Từ điển thuật ngữ văn học - Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2007
9. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương - Lí luận văn học, vấn đề và suy ngẫm - NXB Giáo dục - 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học, vấn đề và suy ngẫm
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
10. Đào Thị Thu Hằng (2005), “Y. Kawabata giữa dòng chảy Đông- Tây”, Nghiên cứu văn học (số 7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Y. Kawabata giữa dòng chảy Đông- Tây”
Tác giả: Đào Thị Thu Hằng
Năm: 2005
11. Thái Văn Hiếu (dịch) - Cố đô - Nhà xuất bản Hải Phòng (1988) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cố đô
Tác giả: Thái Văn Hiếu
Nhà XB: Nhà xuất bản Hải Phòng
Năm: 1988
12. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên) - Từ điển văn học - Nhà xuất bản thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá
Nhà XB: Nhà xuất bản thế giới
13. Y. Kawabata (2001) - Tuyển tập Y. Kawabata, Nxb Hội nhà văn, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Y. Kawabata
Tác giả: Y. Kawabata
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2001
14. Nguyễn Thị Dư Khánh - Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp (Sách dùng cho sinh viên Ngữ văn và giáo viên Ngữ văn phổ thông) - NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp (Sách dùng cho sinh viên Ngữ văn và giáo viên Ngữ văn phổ thông)
Tác giả: Nguyễn Thị Dư Khánh
Nhà XB: NXB Giáo dục
15. Nguyễn Thị Mai Liên (2005), “Y. Kawabata- Lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp”, Nghiên cứu văn học (số 11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y. Kawabata- Lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Liên
Nhà XB: Nghiên cứu văn học
Năm: 2005
16. Phương Lựu (Chủ biên) (2006)- Lý luận văn học- Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2006
17. Ngô Văn Phú (2001), Xứ Tuyết, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Tuyết
Tác giả: Ngô Văn Phú
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2001
18. Trần Đình Sử (1987) - Thi pháp thơ Tố Hữu – NXB Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Tố Hữu
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1987
19. Trần Đình Sử (2007) – Giáo trình Dẫn luận thi pháp học - Đại học Huế Trung tâm đào tạo từ xa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dẫn luận thi pháp học
20. Lê Ngọc Trà - Lí luận và văn học - NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh - 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và văn học
Tác giả: Lê Ngọc Trà
Nhà XB: NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1990

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng khảo sát các kiểu không gian và thời gian nghệ thuật trong Cố đô: - Không gian và thời gian nghệ thuật trong cố đô của yasunary kawabata
Bảng kh ảo sát các kiểu không gian và thời gian nghệ thuật trong Cố đô: (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w