1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm nội dung tiểu thuyết đất rừng phương nam của nhà văn đoàn giỏi

80 6,5K 42

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 791,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đoàn Giỏi dựng truyện đơn giản nhưng hấp dẫn, mỗi truyện đều có chi tiết rất ấn tượng và thấy cả sức sống mãnh liệt của những người đi mở đất phương Nam, một cuộc sống mới nơi đất rừng s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

LÊ THỊ BẢO TRÂN MSSV: 6106438

ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TIỂU THUYẾT

ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM CỦA NHÀ VĂN

Trang 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Bối cảnh lịch sử, văn hóa – xã hội vùng Nam Bộ

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Đoàn Giỏi

1.4.1 Giới thuyết về tiểu thuyết

1.4.2.Giới thuyết về nội dung

1.4.3 Giới thuyết về giá trị của tác phẩm

CHƯƠNG 2 BỨC TRANH VỀ THIÊN NHIÊN, CUỘC SỐNG

VÀ SINH HOẠT CỦA CON NGƯỜI NAM BỘ

TRÊN VÙNG ĐẤT MỚI

2.1 Thiên nhiên Nam Bộ - đặc trưng riêng của Đất rừng phương Nam

2.1.1 Thiên nhiên phương Nam hoang sơ, khắc nghiệt

2.1.2 Thiên nhiên phương Nam trù phú, hiền hòa, gắn bó với cuộc sống của con người

Trang 3

2.2 Cuộc sống và sinh hoạt của con người Nam Bộ trên vùng đất mới

2.2.1 Tập quán sinh hoạt của con người Nam Bộ chủ yếu dựa trên điều

kiện tự nhiên

2.2.2 Những khó khăn trong sinh hoạt của con người Nam Bộ trên vùng đất mới

2.3 Bức tranh ngôn ngữ Nam Bộ - dân dã và giàu tính biểu cảm

2.4 Ý nghĩa của bức tranh vùng đất mới Nam Bộ

CHƯƠNG 3 BẢN LĨNH VÀ TÍNH CÁCH CỦA CON NGƯỜI

NAM BỘ TRÊN VÙNG ĐẤT MỚI

3.1 Con người Nam Bộ dũng cảm, gan góc trong quá trình khai phá tự nhiên

3.2 Con người Nam Bộ hào hiệp, nghĩa khí trong quan hệ với cộng đồng 3.3 Con người Nam Bộ anh hùng trong việc đấu tranh bảo vệ quê hương 3.4 Ý nghĩa nhân văn về bản lĩnh và tính cách con người Nam Bộ trên vùng đất mới

C PHẦN KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỤC LỤC

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngày nay, cho dù trong thế giới văn chương muôn màu muôn vẻ, nhưng trong lòng bạn đọc yêu văn chương vẫn giữ lại nét chân dung về Đoàn Giỏi, đó là một nhà văn Nam Bộ với tính cách đặc biệt Nam Bộ Ông không giống ai, đi theo con đường

mà mình đã chọn là quay về cội nguồn văn hoá dân tộc, mà chính xác là văn hoá Nam

Bộ bằng lối văn mộc mạc, bằng chữ nghĩa giản dị gần gũi với đời sống thực tế, làm sống lại nhiều vấn đề về đất và con người nơi đây Nhà văn Đoàn Giỏi không thể nào lẫn lộn với bất kỳ ai trong các tác giả văn chương hiện đại, càng không dễ dàng xóa đi sức ảnh hưởng của ông trong việc nghiên cứu, tìm hiểu miền Nam Dù ông đã ra đi nhưng những gì còn ở lại mãi là những áng văn chương để đời, làm tên tuổi Đoàn Giỏi không thể phai nhạt trong dòng chảy của thời gian

Vào cuối thế kỷ XX, Đoàn Giỏi được giới văn học cả nước biết đến như một tài năng của văn chương Nam Bộ Ông không những là một nhà văn tài hoa uyên bác mà còn được đánh giá cao như một nhà Nam Bộ học, một nhà văn hóa Khi nhắc đến

Đoàn Giỏi, người ta thường nghĩ ngay đến tiểu thuyết Đất rừng phương Nam Tác

phẩm đã gầy dựng được uy tín và vị thế của nhà văn trong thi đàn văn học nước nhà Mặt khác, tác phẩm thể hiện một vốn chiều sâu về văn hóa, sự hiểu biết và nhiệt tâm của người cầm bút Dù không là tất cả nhưng người và đất Nam Bộ như hiện ra trong lòng chúng ta như thật, dẫu biết thời gian có thể xóa đi những dấu ấn của một thời -

dấu ấn của công cuộc mở đất, của con người miền Nam Tiểu thuyết Đất rừng phương

Nam là một tiểu thuyết đặc sắc viết về những vùng đất và con người miệt vườn Nam

Bộ thời kháng chiến chống Pháp Một tác phẩm mà hầu như ai cũng yêu thích, nó lôi cuốn độc giả từ đầu đến cuối Tác phẩm không phải là những trang văn lãng mạn, những câu chuyện tình lâm li bi đát mà là một câu chuyện mang tính hiện thực sâu sắc Khi đọc tác phẩm, chúng ta cảm nhận được thế giới riêng của vùng sông nước Đoàn Giỏi dựng truyện đơn giản nhưng hấp dẫn, mỗi truyện đều có chi tiết rất ấn tượng và thấy cả sức sống mãnh liệt của những người đi mở đất phương Nam, một cuộc sống mới nơi đất rừng sơn lam chướng khí và thấy cả hào khí của tầng lớp lưu dân trên vùng đất Nam Bộ Như chúng ta đã biết, Nam Bộ thuở xa xưa là một vùng đất chưa được khám phá nhiều Những tiềm năng phong phú, đa dạng của vùng đất mới này bắt

Trang 5

buộc mọi người phải ra sức tìm hiểu nó một cách cặn kẽ Càng đi sâu tìm hiểu những đặc điểm về lịch sử, về địa lý, về xã hội và đặc biệt là về con người miền Nam, chúng

ta càng thấy việc tìm hiểu này không chỉ là cần thiết, không thể thiếu được mà còn bổ ích và đầy hứng thú đối với các nhà khoa học, các nhà văn hoá nghệ thuật Do đó,

những đóng góp của nhà văn Đoàn Giỏi trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam đã

phần nào cung cấp thêm một tư liệu quý trong việc tìm hiểu và tiếp cận vùng sông nước Nam Bộ khá mới mẻ và hấp dẫn này

Sau hơn nửa thế kỷ cầm bút, Đoàn Giỏi được nhìn nhận là một trong số ít nhà văn Việt Nam đã dành cả cuộc đời gắn bó cho một vùng đất Chính những trang viết dung dị, nhân hậu, thấm đẫm văn hóa Nam Bộ và thể hiện một tấm lòng dạt dào tình yêu quê hương đất nước, một lòng gắn bó với quê hương đất nước đã chinh phục được nhiều thế hệ bạn đọc Tác giả chẳng cần lạ hóa câu chuyện, cứ như ghi đúng những gì

nó từng xảy ra và đôi khi vẫn còn tồn tại Với vùng đất ấy có biết bao câu chuyện lôi cuốn con người và bằng giọng văn chân tình, nhẹ nhàng, đa dạng đã viết thêm trang sử cho văn hóa một vùng sông nước, cho nét đặc trưng bản chất, cho nét đẹp đơn sơ bình

dị của con người miền Nam sống mãi với thời gian Đất rừng phương Nam còn là một

vẻ đẹp sắc hương tồn tại mãi mãi Nó không chỉ là hương rừng dịu ngọt, say mê, tinh khiết quyến rũ lòng người mà nó là hương của đạo nghĩa, của tình người, của tất cả những gì cuộc sống lắng đọng như những mật ngọt mà rừng tràm, hương tràm miền Nam đem lại Điều này chỉ những ai từng đến và sống ở rừng mới có thể ngẫm chất ngọt ngào mà Đoàn Giỏi cảm nhận, khai thác và ghi nhận Chúng ta còn thấy được ở trong tâm người cầm bút, khi đã kỳ công viết về một vùng đất còn là ẩn số, còn nhiều điều chưa được khám phá

Cuộc đời viết văn và chiến đấu của Đoàn Giỏi đã đưa bước chân của một người nghệ sĩ, một người con nặng lòng vì Tổ Quốc rong ruổi khắp nơi, vào Nam ra Bắc, trước hết để thực hiện nhiệm vụ cứu nước, sau đó là việc không ngừng sáng tạo nên các tác phẩm văn chương đa dạng chất liệu hiện thực đời sống Hầu hết trải dài trên trang văn của Đoàn Giỏi là chất ký nhẹ nhàng về cuộc sống và con người Nam Bộ, nơi

mà tác giả đã quặn thắc tim mình thương nhớ mỗi lúc đi xa Tất cả những gì mà tiểu

thuyết Đất rừng phương Nam đọng lại không chỉ là trang văn đẹp mà là kho tư liệu

quý cho con người và cuộc đời Khi các thế hệ sau gợi nghĩ về Đoàn Giỏi thì hình ảnh một vùng đất và con người phương Nam luôn tỏa ngợp trong tâm hồn người đọc Vì

Trang 6

thế, chúng tôi muốn thông qua đề tài: “Đặc điểm nội dung tiểu thuyết Đất rừng

phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi” để tìm hiểu thêm về con người, sự nghiệp văn

học cũng như những đặc điểm về nội dung của tiểu thuyết Đất rừng phương Nam

trong sáng tác của ông theo hướng tiếp cận về nét riêng, đặc sắc để hiểu một cách cụ thể hơn Đó chính là lý do mà chúng tôi chọn để tiến hành nghiên cứu luận văn của mình

2 Lịch sử vấn đề

Như trên đã trình bày thì hầu như Đoàn Giỏi luôn trong tâm thức độc giả bao

thế hệ với bóng dáng uy nghi, đồ sộ của Đất rừng phương Nam Chính vì điều đó mà

đã có rất nhiều lời phê bình, nhận định của bạn đọc văn chương, nhận định của các nhà nghiên cứu xoay quanh tác phẩm và tác giả Chúng tôi qua quá trình thu thập tài liệu

để nghiên cứu lịch sử vấn đề: “Đặc điểm nội dung tiểu thuyết Đất rừng phương Nam

của nhà văn Đoàn Giỏi” từ sách báo, những bài nghiên cứu của nhiều tác giả khác

nhau được in tải trên hệ thống mạng Internet, đã tìm thấy cơ sở xác đáng để bắt tay vào công việc nghiên cứu luận văn của mình

Đầu tiên, khi nói về Đoàn Giỏi, nhà văn Huỳnh Mẫn Chi đã thâu tóm tất cả sự hoang sơ, trầm tịch của vùng đất phương Nam vào tính cách giản dị và mộc mạc của

chính Đoàn Giỏi Huỳnh Mẫn Chi trong bài viết về Đoàn Giỏi và áng văn của đất, của

rừng phương Nam đã nhận xét rằng: “Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam chính là tác phẩm nổi bật nhất trong quá trình sáng tác của Đoàn Giỏi Bởi, bối cảnh câu chuyện rất đặc trưng của vùng Tây Nam Bộ Với rừng tràm bạt ngàn, dòng sông mênh mông, con đò bập bềnh, tôm cá đầy đàn, Đoàn Giỏi như gửi trọn vào tác phẩm của mình Đất rừng phương Nam đã mang đến người đọc nhiều thú vị về bối cảnh, con người, tập tục văn hóa của vùng nông thôn Nam Bộ Nội dung câu chuyện cũng vậy, Đoàn Giỏi chỉ xoay quanh ở vùng đất Nam Bộ Ông mượn hình ảnh một cậu bé bị lưu lạc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ để giới thiệu đất rừng phương Nam Nơi đó, một vùng đất vô cùng giàu có, hào phóng và hùng vĩ với những con người trung hậu, trí dũng, một lòng một dạ theo kháng chiến Tác phẩm gần như tập hợp tất

cả đất rừng và người phương Nam Có thể nói, Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi như một xã hội của miền sông nước Tây Nam Bộ thu nhỏ Bởi ở nơi đó, người đọc đã tìm thấy hình ảnh người dân của vùng đất phương Nam từ sông Tiền, sông Hậu trải dài đến Kiên Giang - Rạch Giá, rồi xuống tận rừng U Minh, sau đó dừng lại ở Năm

Trang 7

Căn, Cà Mau Bối cảnh trong Đất rừng phương Nam là cả một đất trời thiên nhiên ưu đãi, cánh đồng bát ngát mênh mông, sóng nước rì rầm, rừng rậm bạt ngàn trù phú, thú rừng hoang dã muôn loài Sự tài tình của Đoàn Giỏi đã tái tạo lại bối cảnh sông nước, con người của thuở ông cha ta còn mang gươm mở cõi” [23] Ngoài ra, Huỳnh Mẫn

Chi đã nghiên cứu Đoàn Giỏi trên phương diện chất liệu đề tài và đưa đến nhiều nhận định sâu sắc và xác đáng Văn chương của Đoàn Giỏi luôn mạnh mẽ, gai góc, cuồng nhiệt như chính cá tính của ông Điều đó đã làm nên một vùng đất hùng vĩ, bạt ngàn

trong Đất rừng phương Nam Huỳnh Mẫn Chi nhìn về giá trị văn chương của Đoàn

Giỏi xuất phát từ cái nhìn về tính cách con người của nhà văn Chính cá tính của Đoàn

Giỏi đã chi phối các trang viết: “Một Đoàn Giỏi phóng khoáng hào hiệp và luôn luôn

sâu nặng với miền đất phương Nam Tác phẩm của Đoàn Giỏi thường đậm chất nghĩa khí và hào hùng Dù có sinh sống, công tác và hoạt động ở đâu, ông cũng luôn luôn hướng về về vùng đất Nam Bộ” [23]

Đồng cảm với Huỳnh Mẫn Chi, nhà văn Văn Hồng trong Hiệp sĩ Đất rừng

phương Nam tiếp tục nêu ý kiến rằng: “Trong Đất rừng phương Nam, nhân vật có nhiều tầng lớp, nhiều ngành nghề như một xã hội thu nhỏ, hoạt động suốt hai triền sông (sông Tiền và sông Hậu Giang) vào rừng U Minh, xuống tận mũi Cà Mau Đất rừng phương Nam có kết cấu chương hồi kiểu truyền thống, không gian, thời gian rạch ròi, nhân vật thiện ác, trắng đen tách bạch và bộc lộ qua hành động, hình dáng, ngôn ngữ Một văn cách dễ đọc, dễ hiểu, hợp với đại chúng trẻ em Mặc cho cả thế kỷ nay, văn chương thế giới không ngừng tìm tòi những cách viết mới: trộn lẫn không gian và thời gian, ý thức, tiềm thức và vô thức…, văn cách truyện kể với những biến tấu khác nhau vẫn không hề mất sức sống Biến tấu của Đoàn Giỏi mang tính hiện đại

Đó là cách tiếp cận thời gian tâm lí, cách trộn lẫn các thi pháp sử thi, phản gián, khám phá Nếu theo truyền thống thì truyện phải kể từ Mỹ Tho, quê An hay ít ra cũng phải từ ngày tản cư, chạy giặc Nhưng tác giả đã mở đầu bằng lần lưu lạc thứ ba, sau khi An lạc cha mẹ và đoàn thuyền quân lương Một ngón chơi theo quy luật:

Khi ta ở, đất chỉ là đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn

(Chế Lan Viên)”

Tác giả Lê Hồng Thiện cũng góp một phần công sức khi viết về Đoàn Giỏi

bằng kỷ niệm chân thành khi bàn về hoàn cảnh ra đời của Đất rừng phương Nam Tác

Trang 8

phẩm ấy là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội bức bách trong thời chiến Vào năm 1957,

khi đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam Bắc, vì thế: “Ban biên tập Nhà xuất bản

Kim Đồng muốn có một tác phẩm giới thiệu về phong cảnh đất nước, con người miền Nam tươi đẹp, trù phú, giúp bạn đọc thêm hiểu và yêu miền Nam” và có lẽ “Lúc viết tác phẩm này hình ảnh quê hương đã ngấm vào máu, vào từng câu chữ của ông, cho nên dù viết vội mà truyện vẫn hay” [26] Cùng nhấn mạnh vai trò to lớn của Đoàn Giỏi

khi tái hiện thành công và xuất sắc bức tranh hoành tráng về mảnh đất và con người

phương Nam qua Đất rừng phương Nam của Lê Hồng Thiện thì còn có rất nhiều ý

kiến hay mà chuẩn xác của nhiều nhà nghiên cứu

Khi xét về khả năng tác động của Đất rừng phương Nam đến tình cảm yêu mến

một vùng đất xa lạ đối với người chưa từng biết và đến vùng đất Nam Bộ hay những con người Nam Bộ, Ngô Văn Phú đã trình bày cảm xúc của mình khi được tiếp cận tác

phẩm: “Đọc xong Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, ta cảm thấy, với người viết

đó là mảnh đất quê hương ruột rà đầy yêu thương tự hào, còn với ta, người đọc, thì đó

là miền đất hứa”

Giá trị lớn lao mà Đất rừng phương Nam đem lại cho kho tàng sách viết về

thiếu nhi Việt Nam nói riêng và nhiều tầng lớp độc giả nói chung đã được Đỗ Quang

Hạnh ghi nhận trên báo Lao động số 52 ra ngày 3/3/1999: “Phải thành thật nói rằng,

Đất rừng phương Nam (1957) đã lôi cuốn chúng tôi về một miền đất xa lắc, xa lơ đầy

bí ẩn và vô cùng hấp dẫn Gần như không có cuốn sách nào của các nhà văn Việt Nam viết cho thiếu nhi có khả năng đáng yêu đến thế!”

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng đã bày tỏ cảm nghĩ của mình về sự tài tình

của nhà văn Đoàn Giỏi trên báo Văn nghệ, số ra ngày 3/4/1999: “Trong con mắt tôi,

với nhà văn Đoàn Giỏi, sự sáng tạo đồng nghĩa với một cuộc đấu tranh, một cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt Trong quá trình sáng tạo Đất rừng phương Nam, tôi có cảm giác anh Năm Đoàn Giỏi đã đánh vật với từng chữ, với thân hình của anh, tôi thấy có lúc anh mệt mỏi rồi như người vụt vùng dậy sau lúc thua trận Xuất thân là họa sĩ, anh

vẽ thiên nhiên bằng văn chương đầy màu sắc Cả đời đạm bạc, đi, đọc và viết để dành

cả đời cho văn chương”

Bằng tài năng cùng với nhiệt huyết sôi nổi của mình, Đoàn Giỏi đã làm cho nhiều người nghiêng mình thán phục, khơi gợi nơi họ bao cảm xúc dạt dào khi nghĩ về

quê hương đất nước Ma Văn Kháng trong bài viết Lời tưởng niệm – trên báo Văn

Trang 9

nghệ số ra ngày 3/4/1999 đã cho rằng: “Đọc Đất rừng phương Nam, tình yêu đất nước

của chúng ta, một lần nữa giàu có thêm, vì trong văn ông, tình yêu đất nước bắt nguồn

và liên hệ bền chặt với sự độc đáo của nền văn hóa lâu đời của dân tộc”

Theo một bài viết của Đoàn Minh Tuấn trên báo Văn nghệ trẻ ra ngày 4/4/1999,

về sự tồn tại lâu bền của con người và văn nghiệp của Đoàn Giỏi trong kí ức của các bạn đọc văn chương thì ông có trích dẫn trực tiếp một nhận xét của I-Na-Zi-Mô-Nhi-

Na (nhà văn Nga) dành cho Đoàn Giỏi như sau: “Trong các nhà văn đương đại của

Nam Bộ, Đoàn Giỏi là người có cá tính Nhân vật của ông rất dữ dội và hào hiệp, điển hình cho vùng châu thổ Cửu Long Đọc Đất rừng phương Nam làm tôi thích miền Nam”

Còn trong tập tiểu luận – phê bình Tiếng vọng những mùa qua của Nguyễn Thị Thanh Xuân lại nhận định một cách đầy trân trọng về người cha đẻ của Đất rừng

phương Nam: “Có mảnh đất sinh ra những nhà văn, và ngược lại, có nhà văn từ trang viết đã biến miền quê riêng của mình thành miền quê chung thân thuộc trong tâm tưởng bao người Với Đoàn Giỏi, tôi nghĩ rằng ông đã đón nhận được cái hạnh phúc

đó Ông đã đem đến cho bạn đọc cả nước những hiểu biết và tình cảm về một vùng đất

mà trước đó xa ngái, hoang sơ trong hình dung của mọi người Ông đã xây dựng những nhân vật lòng đầy nghĩa khí mà tinh tế và giàu chất văn hóa…” [21; tr.113]

Trên đây là các ý kiến xoay quanh tác phẩm Đất rừng phương Nam, ngoài ra

còn có nhiều người tìm hiểu về Đoàn Giỏi trên mặt rộng của sự nghiệp sáng tác Có

nghĩa là nghiên cứu nội dung sáng tác không chỉ bám vào tác phẩm Đất rừng phương

Nam mà còn nghiên cứu nhiều tác phẩm khác của ông Cũng không vượt ra ngoài giới

hạn khẳng định giá trị văn chương của Đoàn Giỏi là viết nhiều, viết khỏe và viết hay

về vùng đất Nam Bộ nên Nguyễn Bá tìm thấy mùi vị của núi rừng, sông nước và hơi

thở của đất của người Nam Bộ chất chứa trong hồn văn của Đoàn Giỏi: “Những trang

văn của ông thấm đượm hơi thở của sông nước, rừng cây, những câu chuyện cả thực,

cả kỳ bí của thiên nhiên Nam Bộ hoang sơ” [22] Có lẽ Nguyễn Bá có cái nhìn chân

thực và thấu đáo như thế là do điều may mắn khi được tiếp xúc cuộc sống trực tiếp với Đoàn Giỏi

Hoặc qua bài nghiên cứu của Lưu Hồng Sơn với tựa đề Đoàn Giỏi - người lưu

giữ huyền thoại phương Nam sẽ giúp chúng ta định hình được vai trò to lớn của cây

bút Đoàn Giỏi khi viết về mảng đề tài phương Nam với tư cách là người giữ gìn huyền

Trang 10

thoại Vẫn là nghiên cứu Đoàn Giỏi trên cái nhìn gắn liền với vùng đất và con người Nam Bộ nhưng Lưu Hồng Sơn đi sâu hơn vào bút pháp nghệ thuật độc đáo để lột tả hết các kì bí, hấp dẫn, lôi cuốn của thời kỳ khai hoang đất phương Nam Lưu Hồng Sơn thu tóm tài năng quan sát và sự đa tài của Đoàn Giỏi ở phương diện làm sống dậy

cả linh hồn núi rừng, sông nước vùng Tây Nam Bộ Đặc biệt, Lưu Hồng Sơn còn đi sâu vào nghiên cứu nghệ thuật huyền thoại hóa với nhưng cái li kì huyền bí của thiên nhiên Cuối cùng, tác giả bài viết còn đưa ra hai nguyên nhân khách quan và chủ quan

để giải thích vì sao Đoàn Giỏi lại chuyên tâm đầu tư vào Đất rừng phương Nam xuất

sắc như vậy

Tóm lại, có rất nhiều người biết đến, nghĩ về rồi nghiên cứu về cuộc đời và tác

phẩm Đất rừng phương Nam Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các bài nghiên

cứu, bài viết rải rác khác cũng có đề cập đến nội dung tiểu thuyết, nhưng nhìn chung chỉ là những nhận xét tạt ngang, hoặc chỉ tìm hiểu tính cách con người Nam Bộ trong văn chương, chưa có những công trình chuyên sâu về đề tài này Bài viết dưới đây chúng tôi tìm hiểu con người Nam Bộ tổng hòa trong quan hệ với môi trường địa lý tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử, môi trường văn hóa xã hội mang tính thời đại Với hướng

tiếp cận như vậy, đặt vấn đề tìm hiểu đặc điểm nội dung của tiểu thuyết Đất rừng

phương Nam dựa vào con người Nam Bộ là đi tìm những đặc điểm đặc thù về lối sống,

cách suy nghĩ, ứng xử của cộng đồng người Nam Bộ, được biểu hiện thông qua tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước và các tình cảm thiêng liêng khác của con người Vì vậy, trên tinh thần tìm hiểu, nghiên cứu, tập hợp những ý kiến nêu trên, chúng tôi xin được phép đi sâu vào khám phá một cách chi tiết, đầy đủ với tên đề tài:

“Đặc điểm nội dung tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi”.

3 Mục đích yêu cầu

Chúng ta phải thừa nhận rằng, những trang viết trong tiểu thuyết Đất rừng

phương Nam của Đoàn Giỏi luôn chan chứa hơi thở của rừng cây, của sông nước miền

Nam, luôn thắm đượm tình người, tình quê hiền lành, mộc mạc Đầu tư cả tâm huyết

và khối óc để suốt đời tìm tòi, sáng tạo nên Đoàn Giỏi đã dành phần lớn thời gian để viết về mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình Với mục đích có thêm nhiều người hiểu thêm và yêu mến thêm văn chương của Đoàn Giỏi nên luận văn của chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu tác phẩm xuất sắc nhất của ông với tư cách khẳng định Đoàn Giỏi là một nhà văn Nam Bộ, một nhà văn đã rất nặng tình với quê cha đất mẹ Đầu tiên, chúng tôi

Trang 11

sẽ tìm hiểu, tiếp cận bối cảnh lịch sử hình thành và phát triển văn hóa xã hội của vùng Nam Bộ Tiếp theo là nghiên cứu, phân tích, thống kê những nội dung liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Đoàn Giỏi Sau đó, để đi sâu vào nội dung, chúng

tôi tiến hành khảo sát tiểu thuyết Đất rừng phương Nam trên hai khía cạnh là thiên

nhiên và con người Nam Bộ thông qua cách miêu tả của tác giả, với mục đích làm nổi bật đặc điểm nội dung của tiểu thuyết Qua đó, phản ánh được giá trị của tác phẩm có tính thời đại sâu sắc, thông qua các giá trị nhận thức, giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực trong tác phẩm

Các giá trị trên được thể hiện, được cụ thể hoá qua hoạt động tiếp nhận tác phẩm Ở đây người đọc là lí do tiếp nhận sự tồn tại của tác phẩm, bởi mục đích của Đoàn Giỏi xét đến cùng là kí thác, gửi gắm tâm sự, bộc lộ cảm xúc cá nhân và tinh thần thời đại của mình vào tác phẩm Tất cả đều hướng tới người đọc, hướng tới sự giao tiếp, đối thoại qua tác phẩm Người đọc tiếp nối và tham gia mục đích sáng tạo của nhà văn, hiện thực hoá ý đồ nghệ thuật của nhà văn qua sự đồng điệu và nhân lên cảm xúc, qua sự đánh thức tâm hồn và thông qua những hiểu biết mới mẻ về cuộc đời

Đất rừng phương Nam được chúng ta công nhận là một tác phẩm thành công của nhà

văn Đoàn Giỏi Qua tác phẩm này, chúng ta không chỉ nhận thấy tài năng của nhà văn,

sự hiểu biết sâu sắc, cặn kẽ của ông về thiên nhiên và người nông dân Nam Bộ, mà điều quan trọng hơn đó chính là cái tâm, cái tấm lòng gắn bó thiết tha, sâu nặng của

Đoàn Giỏi đối với mảnh đất quê hương Nếu chỉ với Đất rừng phương Nam mà Đoàn

Giỏi đã đem tên tuổi của đất phương Nam, tên tuổi của mình đến với rất nhiều độc giả trong nước và nước ngoài thì chúng tôi mong rằng qua luận văn này sẽ giúp độc giả hiểu hơn về tâm tư, tình cảm của nhà văn, về những đóng góp thật sự có giá trị của tác phẩm khi nói về vùng đất phương Nam bạt ngàn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

“Đặc điểm nội dung tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn

Giỏi” là một đề tài đi vào nghiên cứu tiểu thuyết trên phương diện nội dung Do đó,

đối tượng nghiên cứu của luận văn là tiểu thuyết Đất rừng phương Nam Xem xét nội

dung các câu chuyện, từ đó xâu kết những nét đặc sắc của mảnh đất phương Nam Qua

đó chúng tôi xoay quanh vấn đề phân tích đặc điểm nội dung của tác phẩm, chúng tôi

sẽ bám chặt vào hệ thống đề tài, chủ đề, con người, cảnh vật, không gian, thời gian… Đồng thời cũng đề cập đến những vấn đề thời đại, con người và xã hội vùng sông nước

Trang 12

Nam Bộ mà tác phẩm đã đồng hành Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, nhà phê bình về những tác phẩm viết về cuộc sống và con người Nam Bộ thời kháng chiến để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt để làm cho tiểu thuyết có một dấu ấn riêng

5 Phương pháp nghiên cứu

Nhằm nghiên cứu một cách có hiệu quả và đáp ứng được những yêu cầu của đề tài nghiên cứu việc đầu tiên chúng tôi làm là sưu tầm các tài liệu có liên quan đến đề tài Tiếp theo là sử dụng lần lượt các phương pháp nghiên cứu sau để xử lí tài liệu và tiến hành nghiên cứu

Đó là phương pháp tổng hợp tư liệu để hệ thống hóa lại các tư liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu cũng như tổng hợp lại các vấn đề, sắp xếp các tư liệu một cách hợp lí Các thao tác đọc tác phẩm, nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan làm cơ

sở nghiên cứu lập đề cương tổng quát, đề cương chi tiết, lập bản thảo được chúng tôi thực hiện sau đó Phương pháp lịch sử được chúng tôi sử dụng chủ yếu khi nghiên cứu

đề tài Chúng tôi đặt tác phẩm vào thời đại mà nó ra đời để thấy rõ những giá trị, ý nghĩa và ảnh hưởng của nó trong thời đại ấy

Thao tác so sánh, đối chiếu và phân tích được vận dụng khá nhiều nhằm giải quyết và làm sáng tỏ vấn đề Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng biện pháp miêu tả để có thể hệ thống và triển khai những nhận xét dễ dàng hơn Thao tác chứng minh, bình luận cũng được chúng tôi sử dụng để lí giải và đưa ra những đánh giá của mình về đề tài nghiên cứu Và cuối cùng là các thao tác diễn dịch quy nạp để trình bày kết quả thu được thông qua quá trình nghiên cứu

Các phương pháp trên được vận dụng một cách linh hoạt, uyển chuyển và phối hợp chặt chẽ để hỗ trợ cho nhau, chứ không phải là sự tồn tại riêng lẻ, biệt lập Điều này giúp cho luận văn được hoàn thành một cách có hệ thống và có khoa học hơn

Trang 13

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Bối cảnh lịch sử văn hóa – xã hội vùng Nam Bộ

Nam Bộ bao gồm hai vùng đất có các đặc điểm riêng là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Để có được danh xưng như ngày nay thì vùng đất Nam Bộ hoang vu ngày xưa đã bao lần thay tên đổi họ Vào thời nhà Tây Sơn, Nam Bộ có tên là xứ Gia Định hay Đồng Nai (Gia Định thành) Tồn tại suốt gần hai thế kỷ (XVII – XVIII), đến năm

1834 dưới thời Minh Mạng thì Gia Định được đổi tên thành Nam Kỳ lục tỉnh Kỳ theo nghĩa ở đây là một cõi đất và Nam Kỳ là cõi đất phương Nam với sự phân chia của sáu tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Đồng Nai, An Giang, Hà Tiên và Vĩnh Long Còn Nam Kỳ dưới thời Pháp thuộc được phân chia với mục đích chia rẽ đất nước ta thành ba miền,

đó là Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ để dễ bề cai trị Năm 1867, Nam Kỳ lục tỉnh chính thức rơi vào tay giặc Pháp, đến khi Nhật đảo chính Pháp (9 – 3 – 1945) thì Nam

Kỳ đổi tên thành Nam Bộ Nam Bộ là danh xưng do thống sứ người Nhật Nashimura đặt để chỉ một phần đất ở phía Nam Những tên gọi thay đổi qua nhiều chặng đường lịch sử thể hiện số phận thăng trầm của vùng đất Nam Bộ hôm nay Và khi nhắc về Nam Bộ bên cạnh những thuận lợi thì cũng không quên nghĩ về lịch sử của quá trình khai phá đầy gian truân, mất mát Trước thế kỷ XVII, vùng đất này ngủ yên trong vẻ hoang sơ u tịch với dân số bản địa ít ỏi và thưa thớt Sang thế kỷ XVII, dưới thời các chúa Nguyễn, cư dân người Việt ở miệt ngoài di cư vào đây lập nghiệp khai phá, thực dân Pháp tiếp nối quá trình đó trong chính sách khai thác thuộc địa Vùng đất Nam Bộ trong suốt tiến trình lịch sử của mình luôn trải qua những biến cố liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc Nói về lịch sử Nam Bộ thì không thể không nhắc đến cuộc khẩn hoang do triều đình nhà Nguyễn huy động Nhà Nguyễn chính thức đặt hệ thống cai trị trên đất Gia Định vào năm 1698 Từ đó, triều đình nhà Nguyễn bắt đầu triển khai nhiều cuộc di dân đến vùng đất mới, tiến hành khai khẩn, lập làng lập ấp, thực hiện thâm canh lúa nước, tạo được sự thành công không bao lâu thì cuộc sống của người dân lục tỉnh lại lâm vào vòng nô lệ khi thực dân Pháp chiếm toàn bộ đất nước Nhà Nguyễn trở nên bất lực khi cấu kết với Pháp, khiến người dân sống trong cảnh lầm

Trang 14

than Nhờ ý chí quyết tâm với lòng yêu nước sâu sắc của con người, vùng đất Nam Bộ

đã thực sự giải phóng sau cuộc đại chiến mùa xuân năm 1975 thắng lợi

Về mặt văn hóa, nhà nghiên cứu văn hoá Ngô Đức Thịnh đã chia đất nước ta thành bảy vùng văn hoá, trong đó văn hoá Nam Bộ là vùng thứ bảy và có đặc điểm là vùng đất mới Việc phân vùng văn hoá được xác định trên cơ sở mối quan hệ giữa văn

hoá lịch sử và địa lý của một vùng và gọi tắt là vùng văn hoá Ông viết: “Vùng văn hoá

là một vùng lãnh thổ, có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở

đó từ lâu có mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã trải qua các mối quan hệ giao lưu, ảnh hưởng văn hoá qua lại mật thiết, nên từ lâu đã hình thành những sắc thái văn hoá chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, có thể phân biệt với những vùng văn hoá khác’’ [20; tr.64] Trong mỗi vùng như vậy lại có những tiểu vùng và có

những đặc trưng riêng lẻ ‘‘Vùng văn hoá Nam Bộ, xét trên cả phương diện địa lý và

lịch sử, đều là vùng thứ bảy và có ba tiểu vùng Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và tiểu vùng Sài Gòn - Gia định’’ [20; tr.17] Điều kiện địa lý và lịch sử làm cho Nam Bộ có

những nét đáng lưu ý về mặt văn hoá Đây là nơi cộng cư của nhiều tộc người như Việt, Hoa, Khmer, Chăm… trong đó người Việt đóng vai trò chính Ngay người Việt cũng là những người dân “từ thuở mang gươm đi mở cõi” để chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt trên vùng đất “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lền tựa bánh canh”

Nam Bộ là vùng đất hội nhập nhiều luồng văn hóa Đông - Tây khác nhau nên cốt cách con người và nghệ thuật hấp thu được những sắc thái và linh khí của văn hóa các dân tộc Quá trình đó đã bồi đắp nên những giá trị nhân văn, hình thành những giá trị văn hoá mang sắc thái riêng cho vùng đất này Ngoài ra, chúng ta không thể không nói tới ngôn ngữ - tiếng Nam Bộ Đó là phương ngữ Nam Bộ được hình thành trong quá trình người Việt đến khẩn hoang đồng bằng Nam Bộ Nó thu hút vào ngôn ngữ của những con người từ muôn nơi lưu lạc đến, nhưng đồng thời cũng sản sinh và phản ánh thế giới tự nhiên, con người nơi vùng đất mới với bao màu sắc mới mẻ và đa dạng Nam Bộ là mảnh đất màu mỡ, trù phú phía Nam của Tổ quốc, hành trang tinh thần của người Việt về phương Nam có cả truyền thống thượng võ và cả nét hào hoa của lịch sử

4000 năm văn hiến Đây là vùng đất trẻ, văn hoá vùng đất này dù đã được hình thành trong một thời gian dài nhưng vẫn đang ngày được định hình rõ nét hơn Những giá trị này trải qua quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội có tính đặc thù của

Trang 15

Nam Bộ đã dần tạo nên những giá trị mang đậm sắc thái Nam Bộ mà giới nghiên cứu thường nói đến khi đặt trong mối quan hệ với văn hóa truyền thống như tính thoáng

mở, năng động, sáng tạo, trọng nghĩa, bao dung… Nhìn từ phương diện lịch sử, có thể thấy Nam Bộ nổi bật lên vị thế tiên phong trong nhiều lĩnh vực Trước hết, Nam Bộ là vùng đất đi đầu trong việc chống thực dân phương Tây xâm lược và bị đặt trong thế tiếp xúc văn hóa, văn minh mang tính cưỡng bức một cách điển hình Chính trong thử thách, người dân Nam Bộ đã thể hiện hơn đâu hết truyền thống yêu nước chống ngoại xâm – một biểu hiện cốt lõi của hệ giá trị văn hóa dân tộc Nhưng điều đáng nói chính

là ở cách thể hiện lòng yêu nước đậm tính cách văn hóa Nam Bộ Đấy là tinh thần trượng nghĩa của người dân Nam Bộ, của những dân ấp dân lân mến nghĩa làm quân

chiêu mộ mà Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện sâu sắc trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần

Giuộc

Về mặt xã hội, có thể nói người Nam Bộ trong lịch sử là người mang gươm đi

mở cõi, trong hiện tại, cung cách làm ăn của người Nam Bộ thoáng hơn, cởi mở và năng động Chắc chắn họ sẽ là những người có đóng góp sáng tạo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Do Nam Bộ là khu vực sinh thái và địa lý có sức hấp dẫn mạnh mẽ bởi cảnh quan thiên nhiên của vùng sông nước nên người dân ở vùng đất này chủ yếu sống bằng nông nghiệp Trong công cuộc khẩn hoang để khai phá đất đai và phát triển nghề trồng lúa nước cũng như trong cuộc sống, ảnh hưởng và giao lưu giữa các tộc người diễn ra thường xuyên Từ công cụ sản xuất, nhà ở đến cách ăn mặc, nếp sống, lễ nghi đều có thể tìm thấy sự đan xen giữa các truyền thống văn hóa Trong quá trình đó, người Việt cũng tiếp nhận các yếu tố văn hóa Khmer Chiếc khăn rằn của người Khmer Nam Bộ đã trở nên phổ biến và trở thành một biểu tượng quen thuộc của người Nam Bộ Bên cạnh đó, các hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày của người dân luôn gắn bó với mọi biến động của dòng nước Nếu ngoài Bắc người dân bám lấy mặt đường để làm ăn buôn bán, thì ở trong Nam người dân bám lấy mặt sông, mặt kênh mà sinh sống Có chỗ một dãy dài vài ba cây số, người dân làm nhà chen chúc hai bờ sông, sàn nhà mấp mé mặt nước Nhà nào cũng hướng ra mặt sông, mở cửa là bước xuống xuồng Sông rạch ở đây còn đem phù sa nước ngọt bồi đắp, tưới mát cho những miệt vườn đầy ắp trái cây, những cánh đồng lúa tươi tốt và đặc biệt có lượng thủy sản nhiều vô kể Con người nơi đây đã gắn chặt cuộc đời mình với sông nước, nơi nào có sông, rạch là có ghe, xuồng Có chiếc ghe để làm ăn sinh sống là nhu cầu và

Trang 16

ước vọng của người dân Nhiều gia đình đời này qua đời khác lập nghiệp bằng chiếc ghe, xem nó như ngôi nhà của mình Nhiều ghe xuồng tụ lại tạo nên khu dân cư nổi, chợ nổi trên sông Người xưa đã nói thiên - địa - nhân hợp nhất, nghĩa là trời, đất, con người luôn có mối giao kết liên quan đến nhau, vùng đất, thời tiết nào con người ở đó

có phong cách, sắc thái riêng của vùng đó Ngày nay, Nam Bộ đang vững bước đi lên

và mang trong mình niềm tự hào về một thời vàng son của cha ông trong cuộc khai hoang mở đất và cuộc đấu tranh giữ gìn thành quả của tổ tiên trước mọi kẻ thù xâm lược Tóm lại, từ bối cảnh lịch sử xã hội - văn hoá, luận văn của chúng tôi có thêm cơ

sở để làm rõ diện mạo cũng như những đặc điểm nổi bật về phương diện nội dung của

tiểu thuyết Đất rừng phương Nam mà nhà văn Đoàn Giỏi đã dày công nghiên cứu và

xây dựng

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Đoàn Giỏi

Dựa vào tư liệu khảo sát và nghiên cứu của Đỗ Thành Nam trong Đoàn Giỏi –

nhà văn của núi cả cây ngàn thì cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Đoàn Giỏi

có nhiều chuyển biến sâu sắc và trải qua nhiều biến động Đoàn Giỏi tên thật là Đoàn Văn Giỏi sinh ngày 17/5/1925 tại xã Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Ông còn có các bút danh khác như Nguyễn Hoài, Nguyễn Phú Lễ, Huyền Tư Cụ thân sinh ra ông là một điền chủ yêu nước, từng có hàng trăm héc ta ruộng màu mỡ ven sông Tiền Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, cụ đã hiến tất cả tài sản ấy cho chính quyền mới, trong đó có chỗ hiện là trụ sở Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành Thuở nhỏ, Đoàn Giỏi học ở trường trung học Mỹ Tho, sau theo học trường cao đẳng

mỹ thuật Gia Định Tư chất nhà văn trong ông bộc lộ sớm Ngay từ năm 1943, ông đã chuyển từ cây cọ, bảng màu sang trang giấy, cây bút Truyện ngắn đầu tay của Đoàn Giỏi được Hồ Biểu Chánh chọn đăng trên tờ Nam Kỳ tuần báo Từ đó, hễ viết được truyện nào, cây bút trẻ đều đưa Hồ Biểu Chánh xem trước Trong thâm tâm, Đoàn Giỏi luôn xem Hồ Biểu Chánh là người thầy văn chương đầu tiên của mình [24]

Khi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, Đoàn Giỏi đã có lối rẽ bất ngờ, ông vào công tác trong lực lượng công an Có thời kỳ, ông là Trưởng công an huyện Châu Thành Về những kỷ niệm liên quan đến giai đoạn này, bạn bè Đoàn Giỏi còn

nhớ mãi một chuyện: “Có lần, ông đã lên lớp một người khách (bị anh em du kích tình

nghi giữ lại) là chỉ có theo thực dân đế quốc mới ăn mặc như vậy vì thấy người khách này ăn vận quá sang trọng Đâu hay đó chính là luật sư Nguyễn Hữu Thọ đang cải

Trang 17

trang để ra vùng kháng chiến theo lời mời của Uỷ ban Kháng chiến Nam Bộ Sự năng

nổ, nhiệt tình trong công việc đã khiến ông có lúc thất thố như vậy Điều rất lấy làm vui là sau này, khi nhà văn Đoàn Giỏi chuyển ra công tác ở Hà Nội, luật sư Nguyễn Hữu Thọ (bấy giờ là Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam) đã chủ động mời ông tới chơi, ân cần hỏi thăm đời sống, công việc” Nhà văn Anh Đức vẫn còn

nhớ như in ngày ông là một cậu bé 14 tuổi, được gặp chàng thanh niên Đoàn Giỏi hơn

ông chục tuổi: “Tôi từ một trường trung học kháng chiến ra, về công tác tại Ty Thông

tin tỉnh Rạch Giá, vừa lúc anh Đoàn Giỏi từ Mỹ Tho về lãnh chức phó trưởng Ty Thông tin ấy Ngay từ hồi trẻ anh đã có vóc dáng đậm đạp, cái ống píp luôn phì phèo trên miệng” Về ngoại hình của Đoàn Giỏi, qua lăng kính của nhà văn Anh Đức thì có

vẻ tay chơi, song qua trí nhớ của nhà văn Hoàng Tấn thì lại hóa rất hiền lành, thư sinh

Âu cũng là sự phong phú, đa dạng của một nhà văn Hoàng Tấn kể:“Ít hôm sau, chúng

tôi được may mắn tham gia buổi lễ phong quân hàm cho Trung tướng Nguyễn Bình, được cử hành trọng thể giữa chiến khu Đồng Tháp Mười do các đồng chí lãnh đạo Khu và Trung ương Cục chủ trì Sau những bài hát, bản nhạc có xen kẽ tiết mục ngâm thơ và độc tấu là vở kịch thơ Áo đêm trăng - cái đinh của đêm văn nghệ Đây là một sáng tác mới, còn chưa ráo mực của Nguyễn Bính Ngoài các nhân vật phụ, hai nhân vật chính là cô nữ cứu thương và người yêu của cô là anh bộ đội Chiếc áo cô may tặng anh cho bớt lạnh khi xông pha trận mạc, là nội dung chính của vở kịch Nguyễn Bính - tác giả thủ vai chính, còn nhà văn Đoàn Giỏi thì giả gái, đóng vai người nữ cứu thương Dạo ấy tác giả của Đất rừng phương Nam đang ở tuổi đôi mươi, đẹp trai nên khi giả gái trên sân khấu ai cũng nhầm là phụ nữ thiệt, chỉ đến lúc Đoàn Giỏi cất tiếng ngâm bài Tống biệt thì thiên hạ mới vỡ ra”[24]

Năm 1951, Đoàn Giỏi về công tác tại Hội Văn nghệ Nam Bộ và là thành viên của Hội đồng biên tập tạp chí Lá Lúa Công việc mới đã khơi lại mạch nguồn sáng tác nơi ông, khiến ông cầm bút trở lại Năm 1954, Đoàn Giỏi tập kết ra Bắc Những ngày hòa bình lập lại, Đoàn Giỏi đã gây ấn tượng mạnh với độc giả đất Hà thành qua bài ký

Đèn tôi bay về lục Hồ Chí Minh với một phong cách mới lạ Tiếp đó là sự ra đời của

hàng loạt tác phẩm thú vị về mảnh đất phương Nam nắng gió Nhà văn Nguyễn Huy

Tưởng, sau khi đọc một số truyện ngắn, bút ký của Đoàn Giỏi, đã phải thốt lên: “Thấy

có vảy, có cựa, có mã rồi đấy”[24]

Trang 18

Đến năm 1955, Đoàn Giỏi chuyển sang sáng tác và biên tập sách báo, ông công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam, rồi Hội Văn nghệ Việt Nam Ông là Ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa I, II, III Đoàn Giỏi hút hồn người đọc bởi những trang văn đặc sắc, ngồn ngộn chất liệu, hơi thở của một vùng sông nước hiện còn bị chia cắt, không mấy người tiếp cận được Ông lại là người con của vùng đất Nam Bộ giàu có ấy nên khi viết về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, chúng ta bắt gặp trên trang văn của ông luôn phập phồng cảm xúc và thực sự có sức nặng Chẳng thế mà đọc

truyện ngắn Cây đước Năm Căn của Đoàn Giỏi, nhà thơ Xuân Diệu, người mặc dù chưa đặt chân tới Năm Căn bao giờ đã xúc cảm viết nên bài thơ Bà má Năm Căn rất

cảm động Đoàn Giỏi sáng tác rất nhiều thể loại từ truyện ngắn, truyện vừa, truyện ký

đến thơ, kịch thơ Trong đó có các tác phẩm nổi tiếng như Cá bống mú (1956), Đất

rừng phương Nam (1957), Hoa hướng dương (1960), Ngọn tầm vông (1956), Trần Văn Ơn (1955), Khí hùng đất nước (1948), Những dòng chữ máu Nam Kỳ (1975), Người Nam thà chết không hàng (1947), Chiến sĩ Tháp Mười (1949), Giữ vững niềm tin (1954)…

Những ngày cuối đời, sức khoẻ của nhà văn Đoàn Giỏi có những diễn biến bất

thường Bởi vậy, đi đâu ông cũng mang theo bên mình đề cương cuốn tiểu thuyết Núi

cả cây ngàn kể về cuộc đời một cô gái bị bỏ rơi trong rừng sâu và nhân đó, phản ánh

lại cuộc chiến đấu của người dân Nam Bộ chống thực dân Pháp những ngày đầu chúng

đặt chân lên đất nước ta Cuốn sách hứa hẹn là một Đất rừng phương Nam thứ hai

Tiếc thay, do chứng bệnh gan hành hạ nên Đoàn Giỏi đành để tác phẩm rơi vào tình trạng mãi mãi chỉ là đề cương phác thảo Nhà văn Đoàn Giỏi trút hơi thở cuối cùng vào ngày 2/4/1989 tại thành phố Hồ Chí Minh Ngày 7/4/2000, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định đặt tên Đoàn Giỏi cho một con phố thuộc quận Tân Phú Tại Tiền Giang quê hương nhà văn, hiện cũng có một ngôi trường trung học mang tên Đoàn Giỏi [24]

1.3 Tác phẩm Đất rừng phương Nam

Đất rừng phương Nam là tác phẩm nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tác của

nhà văn Đoàn Giỏi Cuốn sách có lối hành văn theo kiểu chương hồi, dễ đọc, dễ hiểu,

đề cập tới cuộc sống của nhiều tầng lớp người hoạt động suốt hai triền sông Tiền và sông Hậu, vào đến rừng U Minh, xuống tận mũi Cà Mau, với rừng tràm bạt ngàn, dòng sông dạt dào tôm cá Mượn câu chuyện về một cậu bé bị lưu lạc trong kháng chiến

Trang 19

chống Pháp, Đoàn Giỏi đã tái tạo lại bối cảnh sông nước, con người của một thời còn

nhiều sơ khai Có thể nói, Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi như một xã hội của miền sông nước Tây Nam Bộ thu nhỏ Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam sau này đã

được Hãng phim Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh chuyển thể thành phim do tác giả Nguyễn Vinh Sơn viết kịch bản và làm đạo diễn Bộ phim sau đó đã được xuất khẩu sang Mỹ và được đông đảo khán giả Mỹ đón nhận Trước đấy nhiều năm, tiểu

thuyết Đất rừng phương Nam đã được dịch sang các thứ tiếng như Nga, Ba Lan, Trung

Quốc, Đức, Tây Ban Nha và được độc giả các nước này nồng nhiệt đón nhận Đoàn Giỏi trở thành một trong những “đại sứ văn học” xuất sắc của Việt Nam ở nước ngoài [24]

Đoàn Giỏi là nhà văn đã biến đất rừng phương Nam trở thành thân thuộc, đáng yêu đối với độc giả xa gần Những trang văn của ông thấm đượm hơi thở của sông nước, rừng cây, những câu chuyện kỳ bí của thiên nhiên Nam Bộ hoang sơ và truyền được hơi thở ấy cho độc giả Có được điều đó không những là nhờ tình yêu của ông đối với miền đất Nam Bộ quê hương mà còn ở óc quan sát tỉ mỉ, tinh tế, lối văn kể chuyện hấp dẫn trong tác phẩm của mình

1.3.1 Hoàn cảnh sáng tác

Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi là tác phẩm được đông đảo độc

giả biết đến Tác phẩm này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài Và xung quanh sự ra đời của tác phẩm cũng có nhiều điều thú vị Theo nghiên cứu của Lê Hồng Thiện thì năm 1957, khi đất nước ta bị chia cắt hai miền Nam Bắc, ban biên tập nhà xuất bản Kim Đồng muốn có một tác phẩm giới thiệu về phong cảnh đất nước, con người miền Nam tươi đẹp, trù phú, giúp bạn đọc thêm hiểu và yêu miền Nam Biết nhà văn Đoàn Giỏi hiểu rõ vùng đất này nên ban giám đốc nhà xuất bản Kim Đồng cử nhà văn Trần Thanh Địch đến gặp nhà văn Đoàn Giỏi ở Hà Nội để “đặt hàng” Nói đến quê hương miền Nam, nhà văn Đoàn Giỏi vui vẻ nhận lời ngay và hứa sẽ hoàn thành tác phẩm sau một tháng

Đến hẹn lại lên, khi thấy nhà văn Trần Thanh Địch đến tìm, nhà văn Đoàn Giỏi mới giật mình và nhớ ra ông chưa viết được chữ nào Nhà văn đành xin lỗi và xin nhà xuất bản cho thêm ít ngày Tiễn bạn xong, nhà văn liền đóng cửa phòng và viết một mạch Đoàn Giỏi xây dựng xong bố cục và nhân vật cuốn sách mất một buổi sáng rồi sau đó mải miết viết thâu ngày thâu đêm, có lúc vừa ăn bánh mì vừa viết, có lúc mệt

Trang 20

quá ngủ thiếp đi, đầu gục xuống bản thảo Đúng hẹn, Trần Thanh Địch đến gõ cửa Sau tiếng “mời vào”, Đoàn Giỏi lia nốt những dòng cuối cùng của tập truyện và lăn đùng ra giữa nhà, hai mắt giật giật vì quá kiệt sức Nhà văn Trần Thanh Địch cuống quýt vơ đống bản thảo trên bàn nhét vội vào túi rồi ra gọi xích lô chở Đoàn Giỏi đến

bệnh viện Vào viện nằm đôi tuần, khi ông ra viện cũng là lúc Đất rừng phương Nam

ra lò Tác phẩm đã được độc giả đón nhận nồng nhiệt Có lẽ, lúc viết tác phẩm này hình ảnh quê hương đã ngấm vào máu, vào từng câu chữ của ông, cho nên dù viết vội

mà truyện vẫn hay Và tiểu thuyết đã ra đời trong hoàn cảnh lạ lùng như thế, để đến ngày nay bạn đọc có cơ hội thưởng thức một áng văn lẫy lừng thâu tóm cả một vùng đất phương Nam [26]

1.3.2 Tóm tắt tác phẩm

Đất rừng phương Nam đã mang đến người đọc nhiều thú vị về bối cảnh, con

người, tập tục văn hóa của vùng nông thôn Nam Bộ Nội dung câu chuyện cũng vậy, Đoàn Giỏi chỉ xoay quanh ở vùng đất Nam Bộ Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Mẫn Chi

thì: “Ông mượn hình ảnh một cậu bé bị lưu lạc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp

ở Nam Bộ để giới thiệu Đất rừng Phương Nam Nơi đó, một vùng đất vô cùng giàu có, hào phóng và hùng vĩ với những con người trung hậu, trí dũng, một lòng một dạ theo kháng chiến Tác phẩm gần như tập hợp tất cả thiên nhiên và con người trong một thời gian và không gian nhất định của phương Nam [23]

Truyện kể về một cậu bé tên An sống cùng với cha mẹ ở thành phố trong những ngày thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam, đổ quân vào Nam Bộ Pháp mở những cuộc càn quét khiến cho những người dân sống tại các thành thị phải di tản An cùng ba mẹ chạy giặc Cậu theo cha mẹ chạy hết từ vùng ngày tới vùng khác của miền Tây Nam Bộ An kết bạn cùng với những đứa trẻ cùng trang lứa và có một cuộc sống tuổi thơ vùng nông thôn đầy êm đềm Nhưng cứ vừa ổn định được vài ngày thì giặc đánh tới nơi và lại phải chạy Trong một lần mải chơi, giặc đánh đến và An đã lạc mất gia đình Cậu trở thành đứa trẻ lang thang Tuy nhiên, cậu may mắn gặp được những người tốt bụng cưu mang mình Đó là dì Tư béo, chủ quán nhậu, bà ta nhận cậu về để phụ giúp cho quán Thế là từ đó cậu có nơi nương tựa, không còn phải chịu cảnh lang thang đói khổ Tại quán dì Tư béo, An có cơ hội tiếp xúc với nhiều người như anh Sáu tuyên truyền, những anh bộ đội, những kẻ Việt gian bán nước như vợ chồng Tư Mắm, những người nông dân chân chất như lão Ba Ngù Kể về vợ chồng Tư Mắm, họ là gián

Trang 21

điệp nhưng giả danh thành tiểu thương bán mắm dọc các con kênh rạch Vợ Tư Mắm

là một người đàn bà rất xinh đẹp, bà ta muốn mua chuộc An làm tay sai Một lần bị phát hiện thân phận, họ đốt quán dì Tư Béo rồi chạy trốn Dì Tư chống xuồng về miệt Thới Bình làm ăn cho yên ổn, An không đi theo mà tiếp tục phiêu bạt cuộc sống không nhà Sau đó, cậu gặp lại ông lão bắt rắn và trở thành con nuôi của ông Tuy sống với một gia đình mới nhưng cậu bé An cảm nhận được tình thương bao la, dạt dào Ba mẹ nuôi của An xem An như con ruột, dạy bảo cậu và chăm sóc cho cậu tận tình Cậu có thêm một anh em tốt là thằng Cò, nhờ nó mà cậu biết cách câu rắn, biết cách săn chim, biết cách đi rừng không bị lạc Bên cạnh đó, An còn biết đến chú Võ Tòng, một người

có vẻ bề ngoài hung hãn, mặt và ngực đầy những vết sẹo, tóc tai bù xù nhưng có tấm lòng rất tốt, chú là anh hùng giết rất nhiều hổ dữ, nhưng trong một lần đối đầu với giặc, chú đã anh dũng hy sinh Càng ngày thực dân Pháp càng lộng hành, chúng tiến hành nhiều cuộc càn quét không cho người dân sống yên ổn An cùng gia đình cha mẹ nuôi lên xuồng chạy giặc Cả gia đình đi về hướng U Minh Hạ và xây một ngôi nhà nhỏ để trú nắng che mưa Chính sự rong ruổi này, những tạo hóa của thiên nhiên đã

mở ra cho cậu bé An biết bao nhiêu điều kì diệu, cậu bé được khám phá rất nhiều điều

bổ ích và có những bài học phiêu lưu đầu đời hết sức thú vị Sau đó, An tham gia làm chiến sĩ du kích, cậu cùng với các chiến sĩ khác lên đường giết giặc để bảo vệ tổ quốc Câu chuyện về cuộc đời cậu bé An khép lại trong hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phất phới, báo hiệu một niềm tin thắng lợi ở tương lai

1.3.3 Nhận xét về tác phẩm

“Đất rừng Phương Nam là một tiểu thuyết có kết cấu chương hồi theo kiểu truyền thống, không gian, thời gian rạch ròi, nhân vật thiện ác, trắng đen rõ ràng và bộc lộ qua hành động hình dáng, ngôn ngữ Tiểu thuyết phiêu lưu có hoàn cảnh luôn thay đổi, nhân vật luôn đứng trước những bí ẩn, khó khăn, thử thách Năm 1961, tiểu

thuyết phiêu lưu của Đoàn Giỏi đã được vô số độc giả hoan nghênh” [27]

Đoàn Giỏi như một nhà sinh thái học, phong tục học uyên bác Không chỉ ngạc

nhiên mà còn thấm đẫm cảm xúc, bởi Đoàn Giỏi là một nhà thơ, một “thi sĩ của Đất

rừng phương Nam” (ý của Trần Đình Nam) Cùng với thiên nhiên được Đoàn Giỏi vẽ

với những màu sắc lộng lẫy, cuồn cuộn tràn trề sức sống là những con người Nam Bộ với những nét sắc sảo lạ lùng Ông không nhiều lời, đôi khi chỉ vài ba nét nhưng thể hiện vô cùng chân thực bản lĩnh và tính cách của con người nơi đây Nhân vật trong

Trang 22

tập truyện được xây dựng trên những kinh nghiệm hiểu biết, cảm nhận sâu sắc của tác giả về con người Nam Bộ Họ phần lớn là những người sống ngay thẳng, có nghĩa có tình, có sự tự tôn dân tộc Đặc biệt họ có tài năng, phẩm chất riêng mà nhìn bề ngoài không thể đánh giá được Từ đó tác giả cho ta thấy, những nhân vật trong tác phẩm tạo được nét chân thật, cụ thể, gần gũi mà còn phác họa được bức tranh chung về diện mạo cuộc sống và con người Nam Bộ mà người đọc ít nhiều chưa biết hết

Khi bản thân chúng ta sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương, hằng ngày tiếp xúc ta không nghĩ đến nhưng khi đọc tác phẩm, ta nhận ra Đoàn Giỏi đã viết, đã nói, đã khái quát lên rất sinh động và gần như chính xác nét hành động, tính cách, tâm

lý của con người của vùng miền đất cuối cùng của Tổ quốc Đọc tác phẩm, ta nhận ra con người Nam Bộ không chỉ trong văn chương mà nó rất thật ngoài đời Đó là những con người mộc mạc, bộc trực, chân thành, hào hiệp, trọng nhân nghĩa, điệu nghệ, chất phác Ta còn như nhận ra ở đó có dáng dấp cha ông mình, bản thân mình trong những tính cách, suy nghĩ của các nhân vật Đoàn Giỏi đã xây dựng nên những tính cách con người Nam Bộ rất điển hình Bắt gặp những suy nghĩ, hành động của họ ta liền nhận ra ngay đó là con người miền Nam chứ không thể lẫn vào đâu được Con người Nam Bộ hiện lên trong tác phẩm của Đoàn Giỏi là những người siêng năng, chất phác, hiền lành Họ khai phá vùng đất mới bằng sức lao động dẽo dai, bền bĩ và lòng quyết tâm cao độ Không chỉ thế họ rất dũng cảm đối mặt với những khó khăn và cũng rất thẳng thắng, chung thủy, tình nghĩa không đổi, hay có sự hồn nhiên ngây thơ của thằng Cò

và cậu bé An Đặc biệt điều mà tất cả chúng ta dễ nhận thấy đặc trưng cơ bản của con người Nam Bộ lúc bấy giờ là tình yêu quê hương đất nước Ở đó không phải là những biểu hiện cụ thể lớn lao, sôi nổi mà ẩn sau lời nói, lời tâm sự, lời hát và qua hành động của những con người nông dân miệt vườn mới thấy một khí khái, một tình yêu nước sâu kín, lòng căm thù giặc sâu sắc Con người Nam Bộ biểu hiện tình yêu quê hương đất nước của mình từ công cuộc khai phá mở đất, biết sống hòa nhập với thiên nhiên

và biết yêu quý làng xóm, nơi cư ngụ và cao hơn biết yêu ghét, căm thù những gì trái với đạo lý con người Họ không chỉ căm ghét những hành động bán nước mà còn căm ghét cả những tên Việt gian làm tay sai nối giáo cho giặc Đồng thời họ cũng trân trọng yêu thương những con người tài trí, tốt đẹp và hào hiệp với những con người biết cảm thông với hoạn nạn của người khác, không vì bản thân mình

Trang 23

Tác phẩm đã ít nhiều đem đến cho người đọc cái phong vị lối sống, sinh hoạt rất đặc trưng của con người Nam Bộ Một cuộc sống rất phóng khoáng, tự do Những con người cởi mở, lạc quan Dù sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt, thiếu thốn, khó khăn nhưng họ không nao núng, không sờn lòng Ngoài ra những hoạt động văn hóa, những hình thức sinh hoạt tinh thần hiện lên rất chân thật, đa dạng, ít nhiều phác họa lại một thời mà đời sống của con người dù còn lắm khốn khó vất vả nhưng lối sống tự

do tự tại, tính tự lập và chiến đấu giúp họ vượt qua khó khăn và biết làm giàu tâm hồn mình bằng những hình thức sinh hoạt độc đáo

1.4 Một số tiền đề lý luận

1.4.1 Giới thuyết về tiểu thuyết

Theo nghiên cứu của Lại Nguyên Ân, tiểu thuyết là trình bày đời sống cá nhân

và đời sống xã hội như những tố chất có tính độc lập tương đối, không làm cạn kiệt được nhau, không ngốn nuốt được nhau; đây là đặc điểm nội dung quyết định thể loại tiểu thuyết Mặc dù chịu sự quy định trước hết của tính độc lập ấy, câu chuyện số phận của một cá nhân vẫn có ý nghĩa khái quát chung, ý nghĩa bản thể Đồng thời sự giao tiếp của nhân vật giao tiếp với những lý tưởng, những mục tiêu của tập thể (xã hội, dân tộc, quốc gia) thường là điểm kết thúc, điểm đỉnh (cao trào) trong sự phát triển cái ý thức về bản thân (tự ý thức) của nhân vật; nhưng mọi ý đồ diễn tả các kết quả của điểm đỉnh ấy (triển khai thành hành động trong cốt truyện) đều đưa đến chỗ làm biến dạng

cả bản chất nội dung lẫn cấu trúc thể loại của tiểu thuyết Trong một cách hiểu khác,

nhận định của Belinski: “tiểu thuyết là sử thi của đời tư” chỉ ra khái quát nhất về một

dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó Sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách Sự

kiến giải về tính cách trong tiểu thuyết biểu hiện ở chỗ, trong tiểu thuyết: “con người

không hóa thân đến cùng vào cái thân xác xã hội lịch sử thực tồn” Theo M.M

Bakhtin, một trong những đề tài nội tại căn bản của tiểu thuyết chính là đề tài về việc nhân vật không tương hợp với số phận và vị thế của nó Con người hoặc là cao lớn hơn

số phận mình hoặc là nhỏ bé hơn tính người của mình Với mọi khác biệt của tiểu thuyết về đề tài, về dung lượng, về mức độ kịch tính, về các nguyên tắc kết cấu cốt truyện, về các phương thức trần thuật có thể thấy một số điểm nhấn về phong cách Một trong những điểm nhấn dễ thấy nhất là đem tính nội dung trực tiếp của tiểu thuyết

Trang 24

thấm đẫm mọi thành tố cốt truyện, khi đó tình tiết rắc rối sẽ trở thành phương tiện phản ánh xung đột giữ cá nhân và xã hội, sẽ thúc đẩy hành động của nhân vật, sẽ tăng cường vai trò cấu tạo cốt truyện của nó

Là một thể loại cao cấp nhất thuộc phương thức tự sự, tính chất văn xuôi, vì vậy, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho nội dung của thể loại Tính chất đó đã tạo nên trường lực mạnh mẽ để thể loại dung chứa toàn vẹn hiện thực, đồng hóa và tái hiện chúng trong một thể thống nhất với những sắc màu thẩm mỹ mới vượt lên trên hiện thực, cho phép tác phẩm phơi bày đến tận cùng sự phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống Giống như các hình thái tự sự khác như truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết lấy nghệ thuật kể chuyện làm giọng điệu chính của tác phẩm Thông thường ở tác phẩm xuất hiện người kể chuyện như một nhân vật trung gian có nhiệm vụ miêu tả và

kể lại đầu đuôi diễn biến của chuyện Tuy sự tồn tại của yếu tố này là ước lệ nghệ thuật của nhiều thể loại thuộc tự sự, nghệ thuật kể chuyện của tiểu thuyết vẫn cho thấy

sự đa dạng đặc biệt về phong cách: có thể thông qua nhân vật trung gian, có thể là nhân vật xưng “tôi”, cũng có thể là một nhân vật khác trong tác phẩm, tạo nên các tác phẩm có một điểm nhìn trần thuật Hiện nay, một trong những xu hướng tìm tòi đổi mới tiểu thuyết là việc tăng thêm các điểm nhìn ở tác phẩm, khi vai trò của nhân vật trung gian hoặc nhân vật xưng “tôi” được “san sẻ” cho nhiều nhân vật trong cùng một tác phẩm

Đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyết chính là khả năng phản ánh toàn vẹn và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực Là một thể loại lớn tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quát lớn về chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, cho phép nhà văn mở rộng tối đa tầm vóc của hiện thực trong tác phẩm của mình Ở phương diện khác, tiểu thuyết là thể loại

có cấu trúc linh hoạt, không chỉ cho phép mở rộng về thời gian, không gian, nhân vật,

sự kiện mà còn ở khả năng dồn nhân vật và sự kiện vào một khoảng không gian và thời gian hẹp, đi sâu khai thác cảnh ngộ riêng và khám phá chiều sâu số phận cá nhân nhân vật Các thể loại văn học khác thường chỉ tiếp nhận một sắc thái thẩm mỹ nào đó

để tạo nên âm hưởng của toàn bộ tác phẩm, như bi kịch là cái cao cả, hài kịch là cái thấp hèn, thơ là cái đẹp và cái lý tưởng Ở tiểu thuyết không diễn ra quá trình chọn lựa màu sắc thẩm mỹ khi tiếp nhận hiện thực mà nội dung của nó thể hiện sự pha trộn,

Trang 25

chuyển hóa lẫn nhau của các sắc độ thẩm mỹ khác nhau: cái cao cả bên cái thấp hèn, cái đẹp bên cái xấu, cái thiện lẫn cái ác, cái bi bên cạnh cái hài

Ở phương diện cuối cùng, tiểu thuyết là một thể loại mang bản chất tổng hợp

Nó có thể dung nạp thông qua ngôn từ nghệ thuật những phong cách nghệ thuật của các thể loại văn học khác như thơ (những rung động tinh tế), kịch (xung đột xã hội), ký (hiện thực đời sống); các thủ pháp nghệ thuật của những loại hình ngoại biên như hội họa (màu sắc), âm nhạc (thanh âm), điêu khắc (sự cân xứng, chi tiết), điện ảnh (khả năng liên kết các bức màn hiện thực); và thậm chí cả các bộ môn khoa học khác như tâm lý học, phân tâm học, đạo đức học và các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học viễn tưởng khác Nhiều thiên tài nghệ thuật đã định hình phong cách từ khả năng tổng hợp này của thể loại, như Tolstoi với tiểu thuyết - sử thi, Dostoevski với thể loại tiểu thuyết - kịch, Solokhov với tiểu thuyết anh hùng ca - trữ tình, Roman Roland với tiểu thuyết - giao hưởng

1.4.2 Giới thuyết về nội dung

Theo nghiên cứu của Trần Đình Sử, nội dung là hiện thực cuộc sống được phản ánh trong sự cảm nhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn Đó là một hệ thống gồm nhiều yếu tố khách quan và cảm quan xuyên thấu vào nhau Trước hết, tác phẩm văn học cung cấp cho người đọc những biểu hiện phong phú và độc đáo của cuộc sống mà tính loại hình của chúng tạo thành đề tài tác phẩm Vấn đề quan trọng nhất nổi lên từ

đề tài, buộc tác giả phải bày tỏ thái độ, có ý kiến đánh giá là chủ đề Ý kiến của tác giả trước vấn đề được nêu ra trong tác phẩm là tư tưởng Thái độ đánh giá nhiệt tình bảo

vệ tư tưởng tạo nên cảm hứng chủ đạo hay cảm hứng tư tưởng Quan niệm về tác giả

và con người được dùng làm hệ quy chiếu để tác giả xác định đề tài, chủ đề, lý giải tư tưởng của tác phẩm có cội nguồn sâu xa trong thế giới khách quan Cuối cùng, tương quan giữa sự biểu hiện của đời sống và sự cảm thụ chủ quan tạo nên nội dung thẩm mỹ của hình tượng Nội dung tác phẩm là kết quả khám phá, phát hiện khái quát của nhà văn, nếu sơ lược nội dung này vào các phạm trù xã hội học sẽ làm nghèo nàn nội dung tác phẩm

Nội dung tác phẩm chỉ tồn tại bằng hình thức và qua hình thức tác phẩm Đó là cấu tạo gồm nhiều yếu tố phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc vào nội dung tác phẩm Văn bản ngôn từ là yếu tố thứ nhất của hình thức tác phẩm có hai chức năng là vẽ ra bức tranh đời sống và biểu hiện thái độ, cái nhìn của chủ thể lời nói bằng phương tiện

Trang 26

ngôn ngữ Đến lượt mình, “bức tranh đời sống” của tác phẩm lại trở thành văn bản hình tượng mà ý nghĩa của các thành tố của nó như chi tiết, tình tiết, nhân vật, cốt truyện, nhịp điệu trong toàn bộ thể hiện các yếu tố trong nội dung kể trên Kết cấu có thể ví như ngữ pháp, có vai trò tổ chức các đơn vị có ý nghĩa của văn bản hình tượng thành những lời phát biểu Thể loại văn học là những quy tắc tổ chức hình thức tác phẩm phản ứng với những loại hình nội dung nghệ thuật của nó Hình thức nghệ thuật của tác phẩm là hiện tượng độc đáo, ứng với nội dung độc đáo, hoàn toàn không phải

là số cộng đơn giản của các thủ pháp và phương diện nghệ thuật Trong tính chỉnh thể, hình thức nghệ thuật có nghĩa là hình thức cảm nhận đời sống, là cách tự bộc lộ của nội dung tác phẩm Do đó, các yếu tố nội dung của tác phẩm như đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng, tính cách… về thực chất đều là các lớp ý nghĩa của cái biểu đạt, do người đọc cảm nhận và khái quát lên Do vậy, nội dung của tác phẩm không đứng yên, bất biến mà được mở rộng, đào sâu trong quá trình tiếp nhận, làm cho tác phẩm văn học tồn tại như một quá trình

1.4.3 Giới thuyết về giá trị của tác phẩm

Văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, nó cùng với các bộ môn nghệ thuật khác tạo nên diện mạo tinh thần của một dân tộc Nếu như phương thức phản ánh của hội họa là màu sắc, của âm nhạc là giai điệu, của kiến trúc là hình khối thì của văn học chính là ngôn từ nghệ thuật Vì thế cho nên, bản thân văn học gắn bó chặt chẽ với ngôn ngữ dân tộc và là một trong những kênh quan trọng để nuôi dưỡng và phát triển

hệ thống vốn từ Tiếng Việt cùng với các quy tắc sử dụng nó Mặt khác, văn chương cũng như tất cả các loại hình nghệ thuật khác, đều hướng tới việc phản ánh hiện thực, tái tạo hiện thực hoặc xây dựng một hiện thực viễn tưởng Như thế, đối tượng phản ánh của nó chính là con người, cuộc đời và mục đích hướng tới cũng chính là cải tạo

xã hội, hướng con người đến những giá trị đẹp của cuộc sống Bởi vậy cho nên, trong các giá trị căn bản của văn học, người ta không thể không nói đến hai giá trị cốt lõi, đó

là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo

Theo nghiên cứu của thạc sĩ Ngô Viết Hoàn về giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong văn chương, ông cho rằng giá trị hiện thực trong tác phẩm văn học là toàn

bộ hiện thực được nhà văn phản ánh trong tác phẩm văn học, tùy vào ý đồ sáng tạo mà hiện tượng đó có thể đồng nhất với thực tại cuộc sống hoặc có sự khúc xạ ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên hầu hết hiện thực trong các tác phẩm văn chương đều là

Trang 27

hiện thực được hư cấu, nó có ý nghĩa phản ánh hiện thực của một thời kì trên nhiều góc độ khác nhau hơn là hiện thực cụ thể Về căn bản, giá trị hiện thực gồm hai đặc điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, làm rõ các hiện thực được nhà văn đưa vào tác phẩm Nói cách khác tác phẩm đó phản ánh hiện thực gì? Trong giai đoạn nào? Hiện thực đó được thể hiện qua những nét tiêu biểu nào? Ý nghĩa của việc phản ánh hiện thực đó là gì?

Thứ hai, là con người điển hình Đây là nét đặc trưng trong tác phẩm hiện thực

Lẽ đương nhiên gắn với mỗi thời kỳ, mỗi xã hội nhất định, bao giờ cũng có mẫu người đại diện cho toàn xã hội Mẫu người ấy được nhà văn khái quát và xây dựng lại thành các hình tượng điển hình trong tác phẩm của mình Do đó, muốn làm rõ giá trị nhân đạo của một tác phẩm nào đó, cần phân tích được nhân vật điển hình trên các phương diện ngoại hình, tính cách, hành động, lời nói… Nhân vật đó đại diện cho tầng lớp, giai cấp trong xã hội, thể hiện một tiếng nói chung cho một lớp người Thông qua nhân vật điển hình, giúp tác giả phản ánh được hiện thực

Tiếp theo là giá trị nhân đạo, đây là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn đối với những nỗi đau của những con người, những mảnh đời bất hạnh trong cuộc sống Đồng thời, nhà văn còn thể hiện sự nâng niu, trân trọng với những nét đẹp trong tâm hồn và niềm tin khả năng vươn dậy của con người trong bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc đời Để làm

rõ giá trị nhân đạo của một tác phẩm, cần phân tích các khía cạnh sau:

Tố cáo xã hội: đây chính là hoàn cảnh chung mà ở đó các nhân vật bị đẩy vào tình cảnh bi đát, đau khổ Thông thường ở phương diện tố cáo, các nhà văn thường thể hiện quan điểm lên án, phê phán với các tầng lớp thống trị, những kẻ ăn trên ngồi trước, ỷ mạnh hiếp yếu, chà đạp cuộc sống của con người và làm hủy hoại các giá trị đạo lý

Ca ngợi: có thể ca ngợi một truyền thống tốt đẹp nào đó hoặc ca ngợi một phẩm chất tốt đẹp của một con người hoặc một lớp người trong xã hội Đây chính là vẻ đẹp

bị lấp vùi bởi tầng lớp thống trị, đàn áp

Thương cảm, bênh vực: xuất phát từ việc phát hiện, khám phá được những nét đẹp tìm ẩn của nhân vật, hoặc nhận thức được hoàn cảnh đã đẩy những con người tốt đẹp, lương thiện vào đường cùng hoặc đẩy họ vào con đường tội lỗi nên các nhà văn bày tỏ niềm thương cảm với họ, tạo ra những tình huống hoặc xây dựng những nhân

Trang 28

vật phụ làm chỗ dựa, bênh vực, che chở cho họ, giúp họ vượt lên khó khăn, thách thức

và vươn lên khẳng định bản thân mình, khẳng định niềm tin, ước mơ và khát vọng trong cuộc sống

Trang 29

CHƯƠNG 2 BỨC TRANH VỀ THIÊN NHIÊN, CUỘC SỐNG

VÀ SINH HOẠT CỦA CON NGƯỜI NAM BỘ

TRÊN VÙNG ĐẤT MỚI

2.1 Thiên nhiên Nam Bộ - đặc trưng riêng của Đất rừng phương Nam

2.1.1 Thiên nhiên phương Nam hoang sơ, khắc nghiệt

Có thể nói, cảnh sắc thiên nhiên là nét đặc trưng phân loại vùng miền, cũng là đối tượng chiếm lĩnh của văn chương nghệ thuật Và đó cũng chính là nét khác biệt để người ta dễ dàng phân biệt mỗi vùng quê riêng Đã từ lâu đời, tồn tại trong tâm thức con người Việt Nam hình ảnh cây đa, mái đình, những lũy tre bao bọc quanh làng là nhắc về vùng quê Bắc Bộ Hay những hình ảnh quả đồi, những vùng đất sỏi khô cằn thì ta lại man mác nhớ về miền Trung ruột thịt Còn khi lạc vào hệ thống sông ngòi chằng chịt, sông nước mênh mông với rừng cây bạt ngàn thì không đâu hết đó là Nam

Bộ Đoàn Giỏi không những tài hoa uyên bác trong sáng tác nghệ thuật mà còn rất am hiểu thực tế về vùng quê cha đất mẹ, ông đã làm sống lại thiên nhiên xa xưa bằng ngòi bút điêu luyện của mình Ngày nay, trong tác phẩm của ông, chúng ta đã nhìn thấy được dấu tích hoang sơ, khắc nghiệt của đất rừng phương Nam ngày trước Qua bóng dáng uy nghi, đồ sộ của một tác giả lớn, thiên nhiên Nam Bộ mở ra cho chúng ta một cái nhìn tổng quan mang tính hiện thực sâu sắc

Thiên nhiên phương Nam ban cho con người nhiều thử thách khắc nghiệt trong hành trình khai khẩn bắt đầu cuộc sống trên vùng đất mới Sự hoang dã, dữ dội, khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây hiện dần lên qua từng trang viết, khiến người đọc phải kinh ngạc Chúng ta nên thừa nhận rằng, Đoàn Giỏi có đôi mắt tiểu thuyết, ông quan sát đối tượng một cách hết sức tỉ mỉ và kỹ lưỡng, ông miêu tả bằng những ngôn từ rất chính xác và sinh động Từng rung động của đất rừng phương Nam đều được Đoàn Giỏi lắng nghe, nắm bắt một cách tài tình Sau đây là một cảnh của đại ngàn mà tác giả viết, mà qua đó chúng ta sẽ được cảm nhận rất nhiều về sự hoang sơ, âm u của khung cảnh nơi đây:

“Bấy giờ, mặt trời đã lặn vào những đám mây đỏ bầm ở cuối dải rừng xa

Xuồng chúng tôi lướt qua một quãng kênh, hai bên bờ lau sậy mọc rậm rịt Trước mặt tôi dần dần mở ra một mảng trời vàng rực Ánh sáng lấp lánh màu bụi vàng kim loại

Trang 30

tỏa thành những đường dài rẻ quạt chạy thẳng lên không Một bầy cò nối nhau bay theo hình mũi tên, trông mệt mỏi vội vàng, những đầu cánh trắng nặng nề nhún lên nhún xuống quạt gió lướt đi, cứ như vương vướng những tia vàng hấp hối khiến chúng không bay mau được Xuồng vẫn trôi băng băng Một lúc lâu, qua khỏi những cánh đồng ngập tím một màu hoa bèo Nhật Bản, chúng tôi bắt đầu chui vào vòm cây đen thẳm như một cái hang Trời đã tối Trên đầu tôi, những cánh lá dại đan nhau thành một tấm trần kín mít, không để một tia sáng nhỏ lờ mờ của một bông sao nào có thể lọt xuống được Tối như bưng mắt Cái mẻ hun đặt trước mũi xuồng cứ phả khói mù mịt, khiến tôi gần như ngạt thở Tôi khom người chồm tới, thổi phù phù vào những đầu củi ngún lem nhem Lửa phực cháy lên những ngọn mỏng như lụa đỏ, chao qua chao lại Ánh lửa soi sang hai bên cành lá rậm rịt, vụt kéo trở về những mảng màu xanh lục, đỏ, vàng, lốm đốm của những hình hoa lá bị nhận chìm trong bong tối đen ngòm” [5;

Không dừng lại ở đó, khu rừng khi bị giặc Pháp đốt phá còn khắc nghiệt không kém Rừng cháy, các sinh vật chen chúc nhau, chúng tranh nhau chạy một cách hoảng

loạn, điên dại: “Trong khói mù nhô ra một con heo đầu đàn, cao gần bằng con bò,

lông gáy dựng ngược, mũi ngước lên thở phì phì làm cho hai cái nanh dài chỗ khóe mép vươn ra như hai lưỡi dao găm Rồi vun vun tràn đến một bầy heo rừng, con lớn con bé tranh nhau chạy, sống lưng nhấp nhô tràn tới như một làn sóng mực Nai co giò phóng bay qua những lùm cây thấp Hươu, chồn bông lau, cáo mèo…, tất cả những con thú bốn chân trong rừng đều nhắm mắt nhắm mũi tranh nhau chạy Thỉnh

Trang 31

thoảng một vài con gì không biết cứ chạy đâm bổ vào người chúng tôi Chân tôi đạp lên một khúc lưng con vật gì trơn trơn, to như bắp chuối Tôi bị hất một cái mạnh, lảo đảo chúi tới trước Một con trăn gió uốn lưng trườn tới, đầu cất cao hơn ngọn sậy, ngoằn ngoèo lướt hút vào bụi cây tra um tùm Lâu lâu lại gặp một con rắn to phóng ngược hướng gió, chắn ngang đường chúng tôi Tía con tôi phải chạy tránh chúng, cũng có lúc cứ mặc kệ, nhảy bừa qua, bất chấp cả những cái đầu phồng mang dẹt đét đang lắc lư phun nọc phì phì Khỉ, vượn, nhọ nồi cuống quýt kêu léc nhéc trên cây Một con vượn bạc má bồng con nhảy xuống đất, cố chạy theo vết chúng tôi” [5;

tr.188]

Chúng ta còn nhận thấy được thời tiết phương Nam khiến con người gặp nhiều

khó khăn: “Những ngày đầu mùa mưa năm 1946 cứ ì ạch nặng nề lê đi từng bước khó

khăn như người đàn bà sắp ở cữ cứ trở dạ mãi mà vẫn chưa đẻ được Ở cái vùng nước mặn miền Tây Nam Bộ này, người ta mong mưa như bọn trẻ con chúng tôi mong mẹ về chợ Mưa có nước ngọt uống, có nước cầy bừa, nhưng điều quan trọng nhất trước mắt, là mưa có thể làm chậm bước của địch trong các cuộc tiến công, gây trở ngại cho chúng trên các nẻo đường hành quân vì trơn tuột, sình lầy Trời càng sắp mưa thì càng oi bức khó chịu, ban ngày mặt trời đổ nắng chang chang, nóng như giội lửa Chỉ khi đêm đến mới có đôi chút gió lao xao từ vùng vịnh Thái Lan thổi tới Thường thường, đêm nào người trong chợ cũng xách chiếu ra ngồi dọc bờ kênh hóng mát” [5;

tr.24] Mùa khô thì gây hạn hán, mùa mưa thì gây lũ lụt, khiến cho con người và sinh

vật nơi đây càng thêm vất vả trong việc thích nghi Chỉ việc quan sát cảnh trời sắp

chuyển mưa thôi cũng đủ thấy thiên nhiên vốn có sẵn một nét hung hãn, dữ tợn: “Mây

ở đâu từ dưới rừng xa, lúc nãy còn không trông thấy, giờ đã đùn lên đen sì như núi, bao trùm gần kín khắp bầu trời Từng cuộn mây khói đen là là hạ thấp xuống mặt kênh làm tối sầm những ngọn sóng đang bắt đầu gào thét, chồm chồm tung bọt trắng xóa Từng đàn cò bay vùn vụt theo mây, ngửa mặt trông theo gần như không trông kịp Xóm chợ Ngã Ba Kênh dường như bé lại thu mình cúi rạp xuống mặt đất Mấy chiếc xuồng ba lá, mấy chiếc tam bản của người trên phố buộc dưới chân cầu nước trồi lên hụp xuống theo lượn sóng nhào, dựng mũi ngóc lên như ngựa muốn bứt dây cương”

[5; tr.64,65] Mây kéo đến chân trời một màu đen sì cùng với “gió thổi ầm ầm ù ù, như

có hàng nghìn chiếc cối xay lúa khổng lồ đang quay thẳng cánh lên trời” [5; tr.65]

Thiên nhiên đang nổi giận và dường như trút xuống những mái nhà của con người:

Trang 32

“Dãy phố ngó ra mặt kênh chuyển mình nghe răng rắc, cột gỗ hàng hiên lay lay như

đưa theo một chiếc võng vô hình Ngói bị cuốn tung lên, bay khua lảng cảng trên nóc nhà nhiều nghe đến phát sợ” [5; tr.65] Những cơn mưa tầm tả rơi xuống, dữ tợn:

“Trời đất mỗi lúc một tối sầm lại Vũ trụ quay cuồng trong cơn gió mãnh liệt Những

tia chớp xé rạch bầu trời đen kịt phát ra những tiếng nổ kinh thiên động địa chung quanh ngôi miếu” [5; tr.66] Nhưng không lâu sau đó thì thiên nhiên lại trở nên bình

thản, êm đềm, vạn vật bắt đầu hoạt động trở lại: “Một lúc sau, gió lụi dần, rồi tắt hẳn

Trên ngọn đa tối sầm mà cơn gió cuồng vừa gào rú ghê người ban nãy, mấy con chim chào mào xôn xao chuyền cành nhảy nhót, hót líu lo Nắng vàng màu da chanh phủ lên cây cỏ một thứ ánh sáng dịu mắt, trong suốt và lung linh dường như có thể sờ được” [5; tr.68] Sự thay đổi thất thường của thiên nhiên như thế là những thách thức

đặt ra cho những con người nơi đây, dù gây nhiều trở ngại nhưng đối với ý chí bền bỉ của con người Nam Bộ thì sự chịu đựng và khả năng thích nghi với môi trường là một điều không khó

Cảm nhận về đất rừng phương Nam khi ấy, ngày nay nhìn lại vẫn thấy không

có gì có thể thay thế được tác phẩm Đất rừng phương Nam Dù hiện tại, mọi thứ đã

khác đi ít nhiều nhưng đất miền Nam hoang sơ và hùng vĩ ngày xưa, dù chỉ đọc và hình dung qua con chữ cũng phải gật gù công nhận rằng, những hình ảnh ấy sẽ không bao giờ có thể phai nhòa được trong tâm trí của những thế hệ về sau Tác phẩm cũng

có thể xem là dấu tích bằng văn chương về đất rừng phương Nam thuở sơ khai và mở

ra trong lòng chúng ta niềm say mê, thích thú muốn được như Đoàn Giỏi để đi ngược dòng lịch sử Thiên nhiên còn khắc nghiệt, dữ tợn, hoang dã như những ngày đầu của công cuộc mở đất nhưng nó vẫn giữ được nét bình dị, nên thơ bình yên và mang nét

đặc trưng của một vùng sông nước rất gần gũi và rất đẹp trong tâm trí con người

2.1.2 Thiên nhiên phương Nam trù phú, hiền hòa, gắn bó với cuộc sống con người

Với những đặc điểm nêu trên, chúng ta còn được nhà văn Đoàn Giỏi xác định thêm rằng, thiên nhiên phương Nam hoang sơ, khắc nghiệt bao nhiêu thì cũng trở nên trù phú, hiền hòa và gắn bó với cuộc sống của con người bấy nhiêu Phải nói rằng, thiên nhiên Nam Bộ có phần ưu đãi cho người đi tìm cuộc sống mới Sản vật trời cho thật là phong phú và dường như luôn sẵn có Đoàn Giỏi đã hấp dẫn người đọc bằng sự giàu có trù phú mà tạo hóa đã ban tặng cho nơi này Ông đã viết về nó bằng cả một

Trang 33

niềm tự hào, vì vậy đối với sự miêu tả và cảm nhận tinh tế của ông, chúng ta có thêm

cơ hội để tìm hiểu thêm một khía cạnh khác của nội dung tiểu thuyết

Đến với vùng đất Nam Bộ, chúng ta được cảm nhận sự trù phú của một quê hương đôi phần bỡ ngỡ khi nhìn thấy nó đầu tiên nhưng ngay sau đó là say mê, đắm

mình vào cái thế giới kỳ lạ, hấp dẫn lạ lùng như nhà văn Tô Hoài cảm nhận: “Những

cánh rừng, những cánh rừng bạt ngàn nhưng rừng ở đây lại rất trẻ Rừng mắm, rừng đước, rừng tràm, đâu cũng la liệt rừng, phía nào cũng như nhau một màu xanh nước, xanh cây, xanh biển và trời xanh trong Những cánh rừng không trên đất cằn, không ở núi mà rừng lòa xòa trên những kênh rạch ra đến lợi biển, chân cây với chân sóng gặp nhau” [5; tr.7] Thiên nhiên Nam Bộ trù phú nhưng không thiếu nét mỹ lệ, yêu kiều để

níu bước chân những người viễn xứ Sự trù phú ấy khiến Nam Bộ mang đến vẻ đẹp nao lòng Trong một chừng mực nào đó có thể gắn sự giàu có của sản vật tự nhiên với

sự dồi dào của môi trường Ngược lại, chính sự tồn tại của các loài trong tự nhiên một cách tự do với số lượng nhiều tạo nên chất tự nhiên, tính chất sẵn có Tất cả những

điều ấy càng khơi nguồn âm điệu dạt dào cho tác phẩm Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi thêm giàu chất trữ tình, đậm màu thi vị

Đầu tiên, sự trù phú của thiên nhiên Nam Bộ được thể hiện ở hệ thống sông ngòi dày đặt Khung cảnh của một vùng quê như ẩn giấu bao trầm tích đáng yêu, đáng

quý cứ mở ra trong mắt chúng ta trong chuyến đi dài ngày của nhân vật An: “Ở vùng

rừng ngập nước của xứ Cà Mau này, sông ngòi kênh rạch là đường giao thông chính Hầu như ngày nào tôi cũng mò ra đứng trên bờ sông hưởng cái thú xem đủ các kiểu thuyền sông thuyền biển dong buồm cánh én chạy phăng phăng rẽ nước trắng xóa như tàu thủy, từ chiếc xuồng vỏ gòn nhỏ, như con cá thòi lòi nhảy sóng rất tinh, cho đến chiếc ghe chài đồ sộ như một quả đồi ì ạch, nặng nề, chỉ có thể nhờ tàu kéo dắt đi Nơi

bờ sông, người ta chờ gọi thuyền mua thuyền bán, và lúc nào cũng có thể nghe được tin tức chiến sự nhiều nơi của khách tứ phương trên những con thuyền từ khắp chốn đi qua” [ 5; tr.278] Tác phẩm dù đưa ta đến nơi nào thì cũng không hề ngắt những dòng

chảy của cảm xúc mà luôn neo đậu lại hồn ta như những cái bến hẹn hò với một vùng đất mới Kênh rạch, sông ngòi, vẫn biết đó là đặc trưng của vùng đất phương Nam nhưng độ đậm đặc của nó thì phải đến nơi này mới rõ Đây là một hệ thống mạng nhện bủa giăng chi chít những dòng chảy chằng chịt, liên thông không có khởi đầu và không biết nơi nào là kết thúc Đôi mắt của người kể mở ra rất rộng như thể hiện một sự ngạc

Trang 34

nhiên tột độ nào đó Trên thì trời xanh, dưới nước thì xanh, chung quanh mình chỉ toàn một sắc xanh cây lá Cùng với cảm nhận của thị giác, một cảm nhận chưa quen như thế thì cảm nhận thính giác như vỗ về bát ngát một lời ru êm đềm không dứt Và lời ru

ngọt ngào ấm áp bao dung ấy là từ: “Tiếng rì rào bất tận của những khu rừng xanh

bốn mùa cùng tiếng sóng rì rào từ biển Đông và Vịnh Thái Lan ngày đêm không ngớt vọng về” [5; tr.273] Nghĩa là từ lâu lắm, từ xa xôi Âm thanh ấy lại là một thứ âm

thanh ẩm ướt rất đặc biệt chỉ nơi này mới có, nó mằn mặn và cũng hơi tanh nồng được thổi về trong hơi gió muối Cái tôi của người kể chuyện bị choáng ngợp và khó khăn lắm mới tách được ra khỏi cái khí quyển dày đặc những cuốn hút lạ lùng Những cảm giác đa chiều đó có tác dụng tôn vinh một vùng sông nước dày đặt

Nổi bật ở đây là dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên, hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng Ôm lấy dòng sông là rừng đước bạt ngàn, rừng đước dựng lên cao ngất như dãy trường thành vô tận Bức tranh hiện lên với vẻ hùng vĩ, trù phú nhưng cũng còn cái vẻ hoang sơ Vẻ hoang sơ ấy ẩn chứa trong rừng đước trải dài theo bãi, ngọn bằng tăm tắp, lớp này chồng lên lớp kia cùng với nhiều cung bậc màu xanh tiếp nối Quả thật là một sự quan sát tinh tế của nhà văn Bằng sự cảm nhận của thị giác và thính giác, tác giả đã mở ra trước mắt người đọc những vẻ đẹp riêng biệt và độc đáo của vùng đất mới Qua các động từ “thoát qua”, “đổ ra”, “xuôi giữa dòng” mà tác giả sử dụng đã giúp chúng ta hình dung được cảnh sông nước ở đây Muốn tới dòng sông Năm Căn rộng lớn ấy phải qua những con kênh rạch nhỏ rất khó khăn, trắc trở Hình ảnh xuôi dòng đã diễn tả con thuyền đang nhẹ nhàng xuôi theo dòng nước

êm ả sau những phút thăng trầm nơi kênh, rạch Nghệ thuật miêu tả của tác giả thật đặc sắc, tài tình:“ Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên

bờ, rừng được dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận Cây đước mọc dài theo bãi, theo từng lứa trái rụng, ngọn bằng tăm tắp, lớp này chồng lên lớp kia ôm lấy dòng sông, đắp từng bậc màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ lòa nhòa

ẩn hiện trong sương mù và khói sóng ban mai” [5; tr.274]

Cách gọi tên các hệ thống sông ngòi, địa danh rất gần gũi Chỉ có điều không phải tên ông hoàng bà chúa, trong sách sử hay truyền miệng dân gian, chỉ đơn giản là dựa vào đặc điểm sinh thái động, thực vật ven bờ mà đặt tên giản dị như rạch Mái

Giầm, kênh Bọ Mắt, kênh Ba Kía, xã Năm Căn, Chà Là, Cái Keo, Bảy Háp: “Ở đây,

Trang 35

người ta gọi tên đất tên sông không phải bằng những danh từ mỹ lệ, mà cứ theo đặc điểm riêng biệt của nó mà gọi thành tên Chẳng hạn như gọi rạch Mái Giầm, vì hai bên bờ rạch mọc toàn những cây mái giầm cọng tròn xốp nhẹ, trên chỉ xòa ra độc một cái lá xanh hình chiếc chèo nhỏ; gọi kênh Bọ Mắt vì ở đó tụ tập không biết cơ man nào là bọ mắt đen như hạt vừng, chúng cứ bay theo thuyền từng bầy như những đám mây nhỏ, ta bị nó đốt vào da thịt chỗ nào là chỗ đó ngứa ngáy nổi mẩn đỏ tấy lên; gọi kênh Ba Khía vì ở đó hai bên bờ tập trung toàn những con ba khía, chúng bám đặc sệt quanh các gốc cây (Ba khía là một loại còng biển lai cua, càng sắc tím đỏ, làm mắm

xé ra trộn tỏi ớt ăn rất ngon) Còn như xã Năm Căn thì nghe nói ngày xưa trên bờ sông chỉ độc có một cái lán năm gian của những người tới đốn củi hầm than dựng nên, cũng như Cà Mau là nói trại đi theo chữ “Tức khơ mâu”, tiếng Miên nghĩa là

“nước đen” [5; tr.273] Qua cách đặt tên, ta thấy thiên nhiên ở đây còn rất hoang dã

nhưng phong phú, con người rất gần gũi thiên nhiên, biết được đặc điểm của từng nơi,

từng vùng, từng con kênh, bờ rạch chẳng hạn như: “Con kênh Mặt Trời còn phơn phớt

màu đào buổi sáng, giữa trưa bỗng hóa ra một dòng thủy ngân cuồn cuộn lóa mắt, rồi dần dần biến thành một con suối lửa lúc trời chiều” [5; tr.264]

Thiên phương Nam còn có sự trù phú về đất đai và rừng cây, Đoàn Giỏi đã

miêu tả thiên nhiên phương Nam thật hùng vĩ trên từng trang sách: “Những ngày nắng

ráo như hôm nay, rừng khô hiện lên với tất cả vẻ uy nghi tráng lệ của nó trong ánh mặt trời vàng óng Những thân cây trám vỏ trắng vươn thẳng lên trời, chẳng khác gì những cây nến khổng lồ, đầu lá rủ phất phơ như những đầu lá liễu bạt ngàn Từ trong biển lá xanh rờn đã bắt đầu ngả sang màu úa, ngát dậy một mùi hương lá tràm bị hun nóng dưới mặt trời, tiếng chim không ngớt vang ra, vọng mãi lên trời cao xanh thẳm khôn cùng Trên những trảng rộng và chung quanh những lùm bụi thấp mọc theo các lạch nước, nơi mà sắc lá còn xanh, ta có thể nghe tiếng vù vù bất tận của hàng nghìn loại côn trùng có cánh không ngớt bay đi bay lại trên những bông hoa nhiệt đới sặc

sỡ, vừa lộng lẫy nở ra đã vội tàn nhanh trong nắng Mùi hương ngòn ngọt nhức đầu của những loài hoa rừng không tên tuổi đằm vào ánh nắng ban trưa, khiến con người

dễ sinh buồn ngủ và sẵn sàng ngả lưng dưới một bóng cây nào đó, để cho thứ cảm giác mệt mỏi chốn rừng trưa lơ mơ đưa mình vào một giấc ngủ chẳng đợi chờ” [5;

tr.185] Không chỉ có vậy, vùng đất mới còn mở ra những: “Rừng đước mênh mông

Cây đước mọc dài tăm tắp, cây nào cây nấy thẳng như cây nến khổng lồ Rễ cao từ ba

Trang 36

bốn thước tua tủa giương ra chung quanh như những cánh tay từ trong thân cây thò ra bám đất Mặt đất lầy nhẵn thín, không một cọng cỏ mọc Chỉ có vài chiếc lá rụng mà nước triều chưa lên kịp để cuốn đi, và bóng nắng chiếu xuyên qua những tầng lá dày xanh biếc, soi lỗ chỗ trên lượt bùn mượt mà vàng song li ti vết chân của những con dã tràng bé tẹo” [5; tr.289] Vì là vùng đất ngập mặn, nên nơi đây là xứ sở của các loại

cây đước, mắm, tràm, vẹt Chúng vừa giúp con người chống lũ lụt, vừa giúp đất chống xói mòn Chúng mọc thành bụi, thành rừng, vô tình biến vùng đất này trở thành nơi căn cứ cách mạng hiểm trở Do gần gũi với thiên nhiên nên Đoàn Giỏi thấy được rằng

dù rừng là nơi đe dọa mạng sống con người nhưng cũng là nơi nuôi sống con người Những rừng tràm, rừng đước ấy mọc đầy bãi biển là nguồn lợi lớn giúp cho con người

có thể khai thác gỗ quý để làm nhà, làm xuồng đi lại để phục vụ đời sống Rừng còn cung cấp cho con người bao nhiêu lâm sản quý giá, bao nhiêu loại thượng cầm hạ thú khác Đó là thế giới của những chim, rắn, rùa, mật ong,… và ông đã dựng lại những buổi đi ăn ong, bắt rùa, bắt rắn rất thú vị

Sự trù phú của thiên nhiên còn được thể hiện qua lượng sản vật dồi dào Trước

hết, đối với người dân Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX - thời khai hoang mở đất và thực dân Pháp cai trị - thiên nhiên là một nguồn sống của họ Thiên nhiên vô cùng phong

phú với vô số sản vật Nguồn lợi tự nhiên ấy giúp người dân, nhất là dân nghèo có thể khai thác để sinh sống Sản vật dưới sông như cá, tôm, tép, lươn, rắn,… nhiều vô số

kể Trên rừng thì có rùa, rắn, thú rừng, mật ong Chưa kể người dân còn sinh sống

bằng nghề đốn củi hoặc dựa vào nguồn lợi của cây cối vùng đồng bằng mà có thể

không bao giờ lo phải thiếu ăn thiếu mặc Mở đầu cho câu chuyện của mình, Đoàn Giỏi đã miêu tả sự phong phú của những đặc sản tự nhiên được đem ra bày bán trong

một phiên chợ nhỏ ở một vùng quê xa lạ: “Một con ba ba to gần bằng cái nong, đặt lật

ngửa, cứ ngọ nguậy bơi bơi bốn chân trước ông cụ già ngồi lim dim đôi mắt Những con rùa vàng to gần bằng cái tô, đều tăm tắp như đổ cùng một khuôn ra, nằm rụt cổ trong mấy chiếc giỏ cần xé Đây là một con nai người ta vừa xẻ thịt ra bán, cái thủ còn nguyên chưa lột da bày giữa đống thịt đỏ hỏn trên một tấm lá chầm Cua biển cũng có, ếch cũng có nghêu sò cũng có Còn cá tôm thì nhiều lắm, đủ các loại tôm, không kể xiết Tôi bước thêm mấy bước, qua những đống trái khóm chín vàng tỏa thơm mùi mật, thấy hai con trút nằm khoanh, vảy xếp lại như những đồng hào lấp lánh Có tiếng chim gì mổ nhau kêu quang quác trong chiếc lồng kẽm chỗ tối tối, ngọn

Trang 37

đèn vừa bị cánh chim đánh nhau quạt tắt, và người chủ bán chưa kịp thắp lên Một chú khỉ con cứ nhảy qua nhảy lại lia lịa, chờn vờn trèo lên đống bí ngô”[5; tr.15] Cậu

bé An đã vô cùng ngỡ ngàng trước sự chứng kiến tận mắt của mình, ở đó trông giống một vườn bách thú hơn là một cái chợ Quá nhiều thú rừng và thủy sản, chúng vô cùng phong phú đúng như câu nói rừng vàng biển bạc Một nguồn tài nguyên hết sức dồi dào mà thiên nhiên dành tặng cho con người để tính kế sinh nhai

Với nguồn tài nguyên bạc ngàn như thế, Nam Bộ quả xứng danh là anh chị rừng xanh Từ ngàn xưa, ông cha ta đã đúc kết quan niệm “chim trời cá nước” thì ta không thể bỏ qua những sân chim, vườn cò được Ở đây, chim cò sinh sôi nảy nở trên hàng vạn hecta đất, trên những rừng tràm xanh mướt Chúng ta bắt gặp hình ảnh của vô vàn những loài chim hoang dã, chúng vô cùng phong phú và đa dạng với nhiều chủng loại

khác nhau: “Những con chàng bè đồ sộ như con ngỗng, mỏ to bằng cổ tay cứ gõ vào

nhau lộp cộp, làm rung rung mảnh da mềm thòng xuống tận cổ như cái diềm lụa mỡ

gà Những con giang sen cẳng cao lêu nghêu, nặng hàng năm bảy cân thịt, bị khớp

mỏ, tréo cánh đứng giữa đám sếu đen sếu xám mào đỏ, đầu không ngớt nghiêng qua nghiêng lại ngó theo mấy con ó biển đang lượn vòng trên kênh Cò thì không biết bao nhiêu mà kể Cò ngà, cò trắng, cò xanh, cò ma buộc từng xâu, chất nằm hàng đống Chỗ này mươi giỏ le đặt bên cạnh một đống lồng nhốt đầy chim trích Những con trích lông xanh, mỏ đỏ như quả ớt ngắn, cặp chân hồng như đôi đũa sơn, coi bộ tốt mã nhất Con nào con nấy lộng lẫy như con gà tre, cứ ngước cổ kêu trích trích ché , nghe đến nhức màng tai Chỗ kia lổm ngổm hàng sọt chim cồng cộc lông đen như nhọ chảo, không ngớt cựa quậy, mổ vào nhau kêu léc chéc” [5; tr.266] Mỗi loài chim với

đặc điểm màu sắc, hình thể khác nhau đã góp phần làm cho bức tranh sân chim thêm sặc sỡ, âm thanh mỗi loài chim làm náo động cả khu rừng Rất nhiều loài chim quý và

lạ tập trung một chỗ, được con người săn bắt rồi trao đổi mua bán và làm thức ăn dự trữ Tục ngữ Việt Nam có câu: “Đất lành chim đậu” và vốn dĩ, Nam Bộ là một vùng đất lành nên mới có nhiều loài chim di cư đến như vậy, chúng sống và sinh sản tự nhiên mà không có sự tác động của con người, con người chỉ bỏ công thu hoạch sản vật thiên nhiên ấy để đổi lấy cuộc sống tốt đẹp hơn

Một trang viết khác, Đoàn Giỏi cũng đã miêu tả thêm cảnh tượng sống động về các loài chim qua sự thích thú và tò mò của cậu bé An, trong vai một người khách từ

nơi xa đến, may mắn được chiêm ngưỡng vẻ kỳ vĩ của thế giới loài chim: “Từ chỗ vệt

Trang 38

rừng đen xa tít đó, chim cất cánh tua tủa bay lên, giống hệt đàn kiến từ lòng quả đất chui ra, bò li ti đen ngòm lên da trời Càng đến gần, khi bóng chim chưa hiện rõ hình đôi cánh, thì quang cảnh đàn chim bay lên giống như đám gió bốc tro tiền, tàn bay liên tri hồ điệp Những bầy chim đen bay kín trời, vươn cổ dài như tàu bay cổ ngỗng lướt qua trên sông, cuốn theo sau những luồng gió vút cứ làm tai tôi rối lên, hoa cả mắt Mỗi lúc tôi càng nghe rõ tiếng chim kêu náo động như tiếng xóc những rổ tiền đồng Và gió đưa đến một mùi tanh lợm giọng, khiến tôi chỉ chực nôn ọe Chim đậu chen nhau trắng xóa trên những đầu cây mắm, cây chà là, cây vẹt rụng trụi gần hết lá Cồng cộc đứng trong tổ vươn cánh như tượng những người vũ nữ bằng đồng đen đang vươn tay múa Chim già đây, đầu hói như những ông thầy tu mặc áo xám, trầm tư rụt

cổ nhìn xuống chân Nhiều con chim rất lạ, to như con ngỗng đậu đến quằn nhánh cây Một con điêng điểng ngóc cổ lên mặt nước, thoạt trông tôi tưởng là một con rắn

từ dưới nước cất đầu lên Khi thuyền chúng tôi chèo đến gần, nó bèn ngụp xuống lặn mất Chốc sau đã lại thấy nó nổi lên gần bờ, mỏ ngậm con tôm xanh gần bằng cổ tay còn đang vung râu cựa quậy Tôi mê quá! Mà thằng Cò cũng mê như tôi Hai đứa cùng ước, phải chi mình được dừng thuyền lại đây vài hôm để bắt chim thì phải biết! Chim từ những đâu tập trung về ở đây, nhiều không thể nói được! Ở đây, còn có rất nhiều giống chim lạ, không thấy bày bán ở chợ Mặt Trời Chúng đậu thấp lắm, đứng dưới gốc cây có thể thò tay lên tổ nhặt trứng một cách dễ dàng” [5; tr.270] Bên cạnh

đó, những cái chợ hiện ra thật sinh động giữa thiên nhiên, thể hiện sự hòa hợp gần gũi của những con người cần cù lao động hiền hòa bên một tòa thiên nhiên hoang vu hẻo lánh nhưng không kém phần sôi nổi, sầm uất Từ khu chợ nhỏ họp nhóm không tên đến chợ Mặt Trời, chợ Năm Căn Chợ nào cũng nằm sát bờ sông, ồn ào, đông vui, tấp nập với nhiều đặc sản địa phương Đó là những con thuyền bán hàng len lỏi mọi nơi,

có thể mua được mọi thứ mà không cần bước ra khỏi thuyền Những người con gái Hoa kiều bán hàng lởi xởi, những người Chà Châu Giang bán vải, những cụ già người Miên bán rượu, với đủ các giọng nói líu lô, đủ kiểu ăn vận sặc sở

Tóm lại, thiên nhiên trong Đất rừng phương Nam là một không gian trù phú

hiền hòa, gắn bó với cuộc sống của con người Điều đó đã tạo nên nét đẹp của miền Nam xa xưa một thuở nhưng nó sẽ không bao giờ bị mất đi Vì thế, tác giả đã thể hiện được khát vọng chinh phục thiên nhiên, tinh thần làm chủ đất trời của con người Nam

Bộ trong tác phẩm của mình

Trang 39

2.2 Cuộc sống và sinh hoạt của con người Nam Bộ trên vùng đất mới 2.2.1 Tập quán sinh hoạt của con người Nam Bộ chủ yếu dựa trên điều kiện tự nhiên

Đất rừng phương Nam kể lại những câu chuyện về vùng đất mới đặc thù Về

những cuộc khẩn hoang, chinh phục thiên nhiên, về cách ứng xử của con người với con người, con người với thời cuộc Mở đầu tác phẩm, Đoàn Giỏi cho chúng ta bắt gặp hình ảnh người nông dân gặp vô cùng khó khăn trong buổi đầu xây dựng cơ nghiệp khi

họ vừa phải lo cho cuộc sống mưu sinh, vừa phải lo kháng chiến Hình ảnh con người trong tác phẩm đã đem lại cho người tiếp nhận những cái nhìn mới lạ về toàn cảnh bức tranh của cuộc sống cũng như lối sống bình dị, chân chất, mộc mạc, chan chứa nghĩa tình của người dân Nam Bộ Đoàn Giỏi đã thật tài tình khi thể hiện cái nhìn từ trong tâm của ông, ông quan sát tỉ mỉ, tinh tế để chúng ta cảm nhận các nhân vật một cách sâu sắc nhất

Do tính chất đặc thù nên hệ thống sông rạch ở Nam Bộ đã có những mặt tích cực đáng kể tạo nên nét sinh hoạt độc đáo của con người nơi đây Và chính sông rạch

đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng hình thành nên tính cách, lối sống, quan niệm, tập quán của con người Nam Bộ Chính yếu tố sông rạch đã góp phần quan trọng vào cuộc sống của người dân nơi này Việc họ chọn địa bàn cư trú ven sông rạch không phải là một lựa chọn ngẫu nhiên mà đó là tất cả những kinh nghiệm thực tiễn từ việc tương tác với môi trường tự nhiên Sinh sống ven sông đã tạo thuận lợi cho việc di chuyển bằng đường thủy, ngoài ra lượng phù sa bồi đắp quanh năm thuận lợi cho việc dẫn thủy nhập điền, tưới tiêu ruộng đồng, hoa màu, nơi ở thoáng mát cùng bao tiện ích của cuộc sống sinh hoạt thường nhật như tắm, giặt, đánh bắt thủy hải sản, giao lưu trao đổi hàng hóa, bán buôn Con người Nam Bộ sống tập trung với nhau thành một dải dài theo dòng chảy của con sông và đã dùng ghe xuồng để làm phương tiện đi lại Thật ra, giao thông đường thủy là phương tiện đi lại đã có từ lâu đời của người Việt Nam Nhưng do ở Nam Bộ có nhiều sông, rạch nên loại hình này phát triển rất đa dạng Cư dân Nam Bộ có tập quán sống ven sông rạch, có nguồn thủy sản rất dồi dào nên người

ta dùng chiếc xuồng để đánh bắt cá tôm Chiếc xuồng phục vụ cho việc buôn bán rồi kết thành điểm chợ buôn bán, trao đổi hàng hóa trên sông, hình thành nên các khu chợ nổi hội tụ đủ các loại người tứ xứ đến buôn bán, làm ăn Từ những người dân bình thường đến những kẻ tứ cố vô thân, rời bỏ quê hương tha phương kiếm sống, với một

Trang 40

chiếc ghe chất đầy hàng hóa, nay họ ở chỗ này, mai chỗ khác, len lỏi vào tận những

con kinh, con rạch, những đường nước hẹp đem hàng hóa phục vụ đến tận nhà: “Từ

sáng sớm, ghe xuồng đã vào cập bến chợ, đậu san sát như lá tre Mũi xuồng này buộc nối vào lái thuyền kia, đen kín mặt nước Má nuôi tôi xách rổ lên chợ mua chim non và trứng để làm thức ăn dự trữ mang theo thuyền” [5; tr.356] Dọc theo triền sông thường

diễn ra các buổi họp chợ, buôn bán, trao đổi hàng hóa và cũng là một nơi cung cấp thông tin cho mọi người Thỉnh thoảng ghe xuồng ngược xuôi thường hay ghé lại nghỉ ngơi, vào hàng quán để ăn uống và mua sắm lương thực dữ trữ cho những chuyến đi

kế tiếp

Con người Nam Bộ còn hình thành nên những khu, những xóm dân cư sinh sống cùng một nghề, cùng chia sẻ những hoạn nạn, khó khăn, thương yêu và đùm bọc

lẫn nhau: “Đây là một xóm nghèo, nhà cất lưa thưa trên bờ một con rạch nhỏ dựa lưng

vào rừng Những người thợ đốt than đã tiếp tay đốn cây, chặt lá dựng cho chúng tôi một ngôi lều nhỏ Ngày ngày tía nuôi tôi vác rìu theo thợ rừng đốn củi mướn cho các

lò hầm than Má nuôi tôi thì xách giỏ đi bắt ba khía về làm mắm Thằng Cò và tôi bữa nào cũng rủ bọn trẻ trong xóm dắt con Luốc sục sạo vào rừng săn chồn, săn kỳ đà Cũng có khi chúng tôi mò ra tận sông cái lội xuống bãi bắt cua, bắt vọp Chúng tôi thường men theo con đường mòn của thợ đốn củi dắt nhau ra chơi dọc bờ sông Nơi nào cũng vậy, bọn trẻ nhỏ chúng tôi bao giờ cũng tìm ra được nhiều trò chơi trên các

bờ sông, cho đến lúc chán thì nhảy ngay xuống nước tha hồ bơi tắm Ở đấy khi nước triều xuống, còn có những con cá biển đủ các loại màu sắc và hình thù khác nhau, mắc cạn nằm trong những vũng nước trong veo Con nào bé thì sau khi đã nghịch chán, chúng tôi bụm nó trong tay mang ra thả xuống mé nước Con nào kha khá, ăn được thì chúng tôi xâu mang xách về ở vùng rừng ngập nước của xứ Cà Mau này, sông ngòi kênh rạch là đường giao thông chính Hầu như ngày nào tôi cũng mò ra đứng trên bờ sông hưởng cái thú xem đủ các kiểu thuyền sông thuyền biển dong buồm cánh én chạy phăng phăng rẽ nước trắng xóa như tàu thủy - từ chiếc xuồng vỏ gòn nhỏ, như con cá thòi lòi nhảy sóng rất tinh, cho đến chiếc ghe chài đồ sộ như một quả đồi ì ạch, nặng nề, chỉ có thể nhờ tàu kéo dắt đi Nơi bờ sông, người ta chờ gọi thuyền mua thuyền bán, và lúc nào cũng có thể nghe được tin tức chiến sự nhiều nơi của khách tứ phương trên những con thuyền từ khắp chốn đi qua” [5; tr.423]

Ngày đăng: 05/10/2015, 14:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Phan Thanh Nhàn (1993), Rừng U Minh – Dấu ấn và cảm thức, Hội văn nghệ Kiên Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng U Minh – Dấu ấn và cảm thức
Tác giả: Phan Thanh Nhàn
Năm: 1993
19. Vũ Tiến Quỳnh (1998), Phê bình bình luận văn học – Anh Đức – Nguyễn Quang Sáng – Nguyên Ngọc – Đoàn Giỏi, Nhà xuất bản văn nghệ - thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình bình luận văn học – Anh Đức – Nguyễn Quang Sáng – Nguyên Ngọc – Đoàn Giỏi
Tác giả: Vũ Tiến Quỳnh
Nhà XB: Nhà xuất bản văn nghệ - thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
20. Ngô Đức Thịnh (1993), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1993
21. Nguyễn Thị Thanh Xuân (2004), Đoàn Giỏi, đất và rừng phương Nam, Tiếng vọng những mùa qua (phê bình và tiểu luận), Nhà xuất bản trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Giỏi, đất và rừng phương Nam, Tiếng vọng những mùa qua (phê bình và tiểu luận)
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Xuân
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ
Năm: 2004
22. Nguyễn Bá (2010), Đoàn Giỏi – người con yêu của đất Nam Bộ thành đồng, http://www.baocamau.com.vn/newsdetails.aspx?newsid=10808 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Giỏi – người con yêu của đất Nam Bộ thành đồng
Tác giả: Nguyễn Bá
Năm: 2010
23. Huỳnh Mẫn Chi (2011), Đoàn Giỏi và những áng văn của đất và rừng phương Nam, http://nhavantphcm.com.vn/chan-dung-phong-van/doan-gioi-va-ang-van-cua-dat-cua-rung.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Giỏi và những áng văn của đất và rừng phương Nam
Tác giả: Huỳnh Mẫn Chi
Năm: 2011
24. Đỗ Thành Nam (2010), Đoàn Giỏi Nhà văn của núi cả cây ngàn. http://vnca.cand.com.vn/vi-vn/tulieuvanhoa/2010/11/55484.cand Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Giỏi Nhà văn của núi cả cây ngàn
Tác giả: Đỗ Thành Nam
Năm: 2010
25. Lưu Hồng Sơn (2012), Đoàn Giỏi – Người lưu giữ huyền thoại phương Nam, http://www.hcmussh.edu.vn/3cms/upload/dhxhnv/File/dhkhxhnv/Tintuc/Luu%20Hong%20Son%20-%20Doan%20Gioi.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Giỏi – Người lưu giữ huyền thoại phương Nam
Tác giả: Lưu Hồng Sơn
Năm: 2012
26. Lê Hồng Thiện (2006), Nhà văn Đoàn Giỏi viết Đất rừng phương Nam nhanh như thế nào?, http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2006/4/4484527. Truyện ngắn Đoàn Giỏi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Đoàn Giỏi viết Đất rừng phương Nam nhanh như thế nào?," http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2006/4/44845 27
Tác giả: Lê Hồng Thiện
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w