Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao hơn.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I:LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 3
I.Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 3
1.Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 3
2.Vai trò của cạnh tranh 5
2.1 Đối với doanh nghiệp 5
2.2 Đối với người tiêu dùng 6
2.3 Đối với nền kinh tế 6
III.Các yếu tố cấu thành năng lực canh tranh của doanh nghiệp 7
IV:Nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 9
1.Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 9
1.1:Nguồn vật lực và tài chính: 9
1.2.Nguồn nhân lực 10
2.Các nhân tố bên ngoài 12
2.1.Các nhân tố về chính trị, pháp luật 12
2.2.Các nhân tố về mặt kinh tế 12
2.3.Môi trường kinh doanh công nghệ 13
2.4.Môi trường cạnh tranh 14
2.5.Các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp: 15
3.Các nhân tố thuộc môi trường ngành 15
3.1.Các đối thủ tiềm năng 15
3.2.Sức ép của nhà cung ứng 16
3.3.Sức ép của người mua 16
3.4 Sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế 16
3.5.Sức ép của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong ngành 17
CHƯƠNG II:PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM 18
1.Khái quát thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam .18
Trang 22 Phân tích năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam 27
3.Kết Luận 31
CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM 34
1.Phương hướng phát triển của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam 34
1.1Định hướng về phát triển sản phẩm 35
1.2.Định hướng về đầu tư và phát triển sản xuất 36
1.3.Phát triển doanh nghiệp phải đi đôi với công tác bảo vệ môi trường 36
2.Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam .37
2.1.Xây dựng chiến lược thị trường 37
2.2 Đánh giá các hoạt động khuếch trương và kích thích tiêu thụ 39
2.3 Đẩy mạnh công tác khuếch trương sản phẩm và kích thích tiêu thụ 40
2.4.Hoàn thiện sản phẩm 41
2.5 Phát triển ngành Dệt May trước hết phải tập trung vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật chuyên ngành, công nhân lành nghề 43
2.6.X ây dựng chiến lược phát triển thương hiệu doanh nghiệp cũng như sản phẩm của công ty 45
2.7.Tăng cường sự hỗ trợ của chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước về vốn, cơ chế, chính sách, luật pháp, xúc tiến thương mại, giáo dục - đào tạo, tư vấn về thiết bị, công nghệ hiện đại cho các doanh nghiệp 46
2.8 Xây dựng văn hóa doanh nghiệp .47
2.9.Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ, kỹ năng quản lý 47
Danh mục tài liệu tham khảo
1 Website Tổng Cục Thống Kê
2 Báo cáo tổng kết năm 2006 của Bộ Thương Mại
3 Chiến lược cạnh tranh, Micheal Porter
4 Thời Báo kinh tế Việt Nam
Trang 35 Tạp chí phát triển kinh tế
Trang 4tế quốc dân và có khả năng cạnh tranh được với các quốc gia khác trên thế giới.Chúng
ta phải biết tập trung vào các ngành mũi nhọn để nó trở thành một nguồn thu ngoại tệchính Dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệpViệt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành dệt mayViệt Nam hiện nay đang được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực phát triểnkhá mạnh Nói thế không có nghĩa là nghành dệt may của Việt Nam là thế lực trên thịtrường dệt may thế giới, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là những tập đoàn mạnh
về dệt may có thể vượt qua mọi đối thủ khác trong nghành Với những lợi thế riêng biệtnhư vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, thu hút nhiều lao động và cónhiều điều kiện mở rộng thị trường trong và ngoài nước với sự tham gia của nhiều thànhphần kinh tế khác nhau Tuy vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế,ngành dệt may đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, phải cạnh tranh ngang bằngvới các cường quốc xuất khẩu lớn như Trung Quốc, ấn Độ, Inđônêxia, Pakixtan, HànQuốc Đặc biệt, từ 1/1/2006, thuế xuất nhập khẩu hàng dệt may từ các nước Aseanvào Việt Nam sẽ giảm từ 40-50% như trước đó xuống tối đa còn 5% nên hàng dệt mayViệt Nam phải cạnh tranh quyết liệt với hàng nhập từ các nước trong khu vực.Trên thếgiới hiện nay nổi lên rất nhiều các doanh nghiệp tương đối lớn , đặc biệt tập trung vàonghành dệt may.Nổi bật lên đó là các quốc gia đứng đầu về dệt may như Trung Quốc,Đài Loan……liệu các doanh nghiệp dệt may của chúng ta có thể cạnh tranh được vớidoanh nghiệp dệt may khác trên thị trường quốc tế hay thậm chí là trên chính thi trườngtrong nước hay không? Đó là câu hỏi mà mỗi chúng ta đều phải suy nghĩ, trăn trở.Ngành dệt may tuy liên tục đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị và dây chuyềnđồng bộ chuyên sản xuất một mặt hàng như dây chuyền may sơ mi, may quần âu, quần
Trang 5Jean, complet, hệ thống giặt là nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu xuất khẩungày càng cao Xuất khẩu hàng dệt may tuy đạt kim ngạch cao, nhưng chủ yếu làm giacông, ngành dệt vẫn nhập khẩu nhiều và nguyên liệu cho sản xuất của ngành dệt hầunhư hoàn toàn nhập khẩu từ nước ngoài.Hiện nay khủng hoảng tài chính toàn cầu khiếnngành dệt may bị cắt giảm đơn hàng sản xuất, giá thành sản phẩm cũng giảm mạnh Thịtrường xuất khẩu dệt may đang bị thu hẹp, các đơn hàng xuất khẩu bị cắt giảm, và nhiều
dự đoán sẽ tiếp tục cắt giảm tới đầu năm 2010 Do đó, ngành dệt may cần có nhiều biệnpháp thích hợp, để vượt qua khó khăn từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong năm
nay.Với ý nghĩa đó em đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam “ nhằm mục đích tìm ra được những hướng
nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam để có thể cạnhtranh được với các doanh nghiệp dệt may khác trên thị trường dệt may trong bối cảnhcạnh tranh rất khốc liệt và xu thế trong khi nền kinh tế thế giới đang trải qua khủnghoảng.Nội dung đề án chia làm ba chương:
Chương I: Lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương II:Phân tích năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Chương III.Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
Em xin chân thành cám ơn cô Ts.Lê Hải Hà đã hướng dẫn chúng em có thể hoànthành đề án môn học đầu tiên này một cách tốt nhất.Trong quá trình bắt đầu viết đề ánnày không tránh khỏi những sai sót em rất mong những ý kiến đóng góp của cô và cácbạn để bổ sung thêm những hiểu biết của mình
Trang 6CHƯƠNG I:LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆPI.Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanhnghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của kháchhàng để thu lợi nhuận ngày càng cao hơn Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây là các yếu tố nộihàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tàichính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá,
so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thịtrường Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp đượcđánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh.Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phảitạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thểthoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được kháchhàng của đối tác cạnh tranh
Cạnh tranh là một phạm trù đã xuất hiện từ rất lâu nó gắn với nền sản xuất hànghoá,khi mà hàng hoá san xuất ra không phải chỉ đơn thuần để tiêu dùng mà là để traođổi trên thị trường.Ai cùng muốn hàng hoá của mình được bán với giá cao, được kháchhàng mua với số lượng lớn.Tuy nhiên nhu cầu của người tiêu dùng là có hạn mà sốlượng các nhà cung cấp lại lớn vì vậy sẽ nổi lên những nhà cung cấp có khả năng bánđược hàng hoá nhiều hơn, giá cao hơn những nhà cung cấp khác.Người ta gọi nhữngnhà cung cấp đó những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao.Phạm trù năng lựccạnh tranh chỉ là một yếu tố trong nghĩa cạnh tranh rộng lớn.Trong quá trình nghiên cứu
về cạnh tranh, người ta sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh.Năng lực cạnh tranhđược xem xét ở nhiều góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh của một quốc gia,năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịchvụ…… Vì vậy chúng ta phải phân biệt để tránh nhầm lẫn giữa năng lực cạnh tranh của
Trang 7doanh nghiệp với các góc độ năng lực cạnh tranh khác.Bản thân nó cũng đã thấy sựkhác biệt về đối tượng nghiên cứu nên có lẽ sự nhầm lẫn đáng tiếc có lẽ cũng sảy rakhông nhiều.
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất
cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và cóhạn chế về mặt khác Vần đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và
cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòihỏi của khách hàng Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp đượcbiểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing,tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin…Tuy nhiên, đểđánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được các yếu tốphản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiệnviệc đánh giá bằng cả định tính và định lượng Các doanh nghiệp hoạt động sản xuấtkinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnhtranh khác nhau Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lựccạnh tranh của một doanh nghiệp bao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sảnphẩm và bao gói; kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin và xúc tiếnthương mại; năng lực nghiên cứu và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp;trình độ lao động;thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần; vị thếtài chính; năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp hiện nay,thông qua phương pháp so sánh trực tiếp các yếu tố nêu trên để đánh giá năng lực cạnhtranh của mình so với đối tác cạnh tranh Đây là phương pháp truyền thống và phần nàophản ánh được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên, hạn chế của phươngpháp này là không cho phép doanh nghiệp đánh giá tổng quát năng lực cạnh tranh củamình với đối tác cạnh tranh mà chỉ đánh giá được từng mặt, từng yếu tố cụ thể Đểkhắc phục nhược điểm trên, việc nghiên cứu vận dụng ma trận đánh giá các yếu tố môitrường nội bộ, qua đó giúp doanh nghiệp so sánh năng lực cạnh tranh tổng thể của mìnhvới các đối thủ trong ngành là một giải pháp mang tính khả thi cao và được áp dụng phổbiến trong các doanh nghiệp
Chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề rộng hơn về cạnh tranh để từ đó hiểu sâu hơn vềnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ông tổ của lý luận phương Tây A.Smith cho
Trang 8rằng cạnh tranh có thể làm giảm giá cả sản phẩm và chi phí từ đó tăng năng suất củadoanh nghiệp dẫn đên làm lợi cho xã hội Hơn 200 năm sau thời A.Smith, quan điểm đó
ăn sau vào hệ thống lý luận kinh tế ở phương Tây.Cạnh tranh được coi là động lực cho
sự phát triển, cạnh tranh diễn ra các mạnh nền kinh tế càng sôi động ,càng có nhữngđiều kiện để thuân lợi phát triển trong khi các nguồn lực ngày càng hiếm.Tuy nhiênchúng ta chỉ đè cập đến những cạnh tranh mang tính công bằng, trong sự tích cực.Trongnền kinh tế tri thức, tầm quan trọng của cạnh tranh không những không thay đổi mà cònđược nâng lên rất nhiều.Vì vậy vấn đề năng lực cạnh tranh sẽ trở thành vấn đề đối vớidoanh nghiệp khi mà trong xu thế hiện nay cạnh tranh là một điều không thể tránhkhỏi.Ngày nay để đảm bảo cho yêu cầu tồn tại và phát triển người ta đã tính toán được
tỷ lệ lợi nhuận đạt được phải ít nhất bằng tỷ lệ cho việc tài trợ cho những mục tiêu củadoanh nghiệp.Vì thế một doanh nghiệp tham gia thị trường không có năng lực cạnhtranh hay năng lực cạnh tranh yếu thì sẽ không thể tồn tại được Quá trình duy trì sứcmạnh của doanh nghiệp phải là một quá trình lâu dài hay đó có thể coi như quá trình duytrì sự sống của doanh nghiệp
2.Vai trò của cạnh tranh
Tại sao chúng ta phải cạnh tranh? tại sao chúng ta phải nâng cao năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp mình? Đó chính là bởi vì vai trò rất to lớn của chúng không chỉđối với bản thân doanh nghiệp mà còn đối với người tiêu dùng, đối với toàn bộ nền kinhtế
Tính đến thời điểm hiện nay, cả nước có khoảng 350 nghìn doanh nghiệp (DN)đăng ký hoạt động theo Luật DN và khoảng gần bốn triệu hộ kinh doanh Nâng caonăng lực cạnh tranh của DN là một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay nhằm giúp
DN tiếp tục trụ vững và phát triển trong những năm tới, góp phần nâng cao sức cạnhtranh của cả nền kinh tế.(14/10/2008)
2.1 Đối với doanh nghiệp
Cạnh tranh như là một công cụ một “cái sàng” để lựa chọn và loại bỏ các doanhnghiệp.Vì vậy nâng cao khả năng cạnh tranh cua doanh nghiệp có vai trò rất to lớn
Trang 9Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Cạnh tranh tạo rađộng lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm mọi cách nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển các dịch vụ để quảng bá chodoanh nghiệp mình, cũng như các dịch vụ để tiến hành tiêu thụ sản phẩm một cáchnhanh nhất.Bắt đàu từ việc nghiên cứu thị trường, để xác định nhu cầu thị trường để từ
đó đưa ra các quyết định sản xuất kinh doanh sao cho phù hợp đáp ứng được nhu cầu thịtrường đó
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứngnhu cầu ngày càng cao và thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng.Muốn vậy cácdoanh nghiệp phải áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào trong quá trình sảnxuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề người laođộng….từ đó làm cho doanh nghiệp phát triển hơn
2.2 Đối với người tiêu dùng
Cạnh tranh làm cho hàng hoá có chất lượng tốt hơn, mẫu ma càng ngày càng đẹp
và đa dạng để đáp ứng yêu cầu ,nhu cầu phong phú của người tiêu dùng của xã hội.Vìvậy đối với người tiêu dùng cạnh tranh có các vai trò sau:
Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm dịch
vụ phù hợp vứi túi tiền và sở thích của mình
Những lợi ích mà người tiêu dùng thu được từ hàng hoá cao hơn, thoả mãn ngàycàng tốt hơn những nhu cầu của họ nhờ các dịch vụ đi kèm theo ngày càng được quantâm hơn.Ví dụ như dịch vụ bảo hành cho sản phẩm …
2.3 Đối với nền kinh tế
Cạnh tranh được coi như linh hồn của nền kinh tế, vai trò của nó đối với nền kinh
tế được thể hiện như sau:
Cạnh tranh là môi trường, động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh
tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xoá bỏ nhưng độc quyền, bất bình đẳng, bấthợp lý trong kinh doanh
Cạnh tranh đảm bảo thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự phân công laođộng xã hội cực kỳ sâu sắc Để có thể cạnh tranh được trên thị trường đòi hỏi các doanh
Trang 10nghiệp các doanh nghiệp phải trang bị khoa học cho mình đồng thời thúc đẩy cơ sở hạtầng phát triển Đồng thời trong quá trình đó, một doanh nghiệp hiếm có thể hoạt độngtốt và có hiệu quả trong nhiều lĩnh vực mà trong đó có sự cạnh tranh cao, gay gắt.Vì vậy
từ cạnh tranh có thể dẫn đến việc một doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động trong một hayhai lĩnh vực mà mình có thế mạnh
Cạnh tranh thúc đẩy sự đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
xã hội, kích thích nhu cầu phát triển, làm nảy sinh nhưng nhu cầu mới, góp phần nângcao chất lượng đời sống xã hội và phát triển nền kinh tế
Cạnh tranh làm cho nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho doanhnghiệp vươn ra thi trường quốc tế
Cạnh tranh giúp cho nền kinh tế nhìn nhận đúng hơn về kinh tế thị trường, rút rađược những bài học thực tiễn bổ sung vào lý luận kinh tế thụ trường của nước ta
Tuy nhiên bên cạnh những tác động tích cực cạnh tranh cũng nảy sinh những vấn
đề tiêu cực như hiện tượng làm hàng giả, buôn lậu trốn thuế……gây nên sự bất ổn củathi trường, làm thiệt hại cho lợi ích của người tiêu dùng và nhà nước
Phát huy những yếu tố tích cực hạn chế những tác đông tiêu cực của cạnh tranhkhông chỉ la nhiệm vụ của nhà nước của doanh nghiệp của mà còn là nhiệm vụ của mỗi
cá nhân
III.Các yếu tố cấu thành năng lực canh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa vào các ưu thế của nó so với các doanhnghiệp khác Ưu thế chính là những thông số hay những đặc tính của sản phẩm nhờ đósản phẩm có được sự ưu việt sự vươt trội hơn so với sản phẩm của các đối thủ cạnhtranh trực tiếp.Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gồm rất nhiều yếu tố tạo nên,được hình thành nên đòi hỏi thời gian, đầu tư của chính doanh nghiệp đó:
Vị thế của doanh nghiệp trên thương trường: Được đánh giá trên cơ sở uy tín,
hình ảnh, thị phần… Những doanh nghiệp có vị thế cao trên thương trường rất dễ cạnhtranh với các doanh nghiệp khác.Những doanh nghiệp này có khả năng đa dạng hoá thịtrường, phát triển sản phẩm, phát triển thị trường để nâng cao năng lực cạnh tranh.Cóthể nói vị thế của doanh nghiệp đó là yếu tố quan trọng trong việc hình thành nên nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp Từ những vị thế đó sẽ tạo cho người tiêu dùng thấy an
Trang 11tâm khi mua san phẩm của doanh nghiệp đó, dẫn đến lượng sản phẩm tiêu thụ củadoanh nghiệp sẽ lớn hơn các doanh nghiệp khác như thế có thể nói là doanh nghiệp đãchiến thắng trong cuộc cạnh tranh với các đối thủ của mình Bởi vì mục đích của cạnhtranh chính là kiếm được lợi nhuận, bán được sản phẩm do mình làm ra.
Lợi thế về vốn và chi phí: Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình cạnh tranh
của các doanh nghiệp vì sản phẩm trên thị trường là tương đối đồng nhất thì việc giảmgiá bán là một biện pháp rất hiệu quả để tăng khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp.Trong quá trình kinh doanh lợi thế về vốn khiến cho doanh nghiệp không bị hụthơi trong những cuộc đua với các doanh nghiệp khác Đối với một số doanh nghiệp họchấp nhận thua lỗ trong một vài năm để có thể đánh bại các doanh nghiệp khác bằngcách cạnh tranh về giá.Với tiềm lực vốn lớn họ co thể làm được điều đó, mục tiêu đầutiên đó là chiếm lĩnh thị trường, khi mà các doanh nghiệp khác với giá bán cao hơnkhông thể tiêu thụ được sản phẩm chắc chắn sẽ phải rút khỏi thị trường.Mặc dù cũngmuốn cạnh tranh về giá hay muốn tạo ra sự khác biệt về sản phẩm nhưng vì nguồn vốn
có hạn và cũng không có cách nào giảm chi phí sản phẩm nên cũng đành phải chấp nhậnđiều đó
Văn hoá doanh nghiệp: đây là một phạm trù tương đối mới mẻ đối với doanh
nghiệp.Tuy nhiên hiện nay nó cũng trở thành yếu tố cấu thành nên năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp Đó chính là môi trường trong doanh nghiệp, văn hoá ứng xử của cácthành viên trong công ty, các chiến lược, khâủ hiệu, phương châm làm việc của cácthành viên…Từ đó tạo ra môi trường làm việc có hiệu quả, giúp cho nhân viên ý thứcđược trách nhiệm của mình trong việc góp phần xây dựng công ty, doanh nghiệp ngàycàng vững mạnh.Có thể đó chỉ là việc rất đơn giản chẳng hạn như tổ chức những buổivui chơi tập thể cho nhân viên trong những ngày nghỉ hay nhân dịp nào đó……
Sự linh hoạt, nhạy bén của người quản lý doanh nghiệp:Trong bất kỳ một thời
đại nào từ trước đến nay, vai trò của người quản lý vẫn luôn luôn được đề cao, quyếtđịnh đến sự sống còn của doanh nghiệp Sự nhạy bén của người quản lý tạo điều kiệnthuận lợi cho doanh nghiệp có thể nắm bắt được các cơ hội sản xuất kinh doanh, cơ hộiphát triển thị trường Khi mà thị trương luôn biến động thì người quản lý giỏi phải biếttìm ra những lối đi cho doanh nghiệp của mình Đồng thời phải biết sử dụng những
Trang 12người, nhân viên co năng lực thực sự, kết hợp họ lại với nhau thành một tập thể vữngmạnh để đóng góp cho sự phát triển của công ty.
Khả năng thích ứng: đó chính là khả năng thích nghi với sự thay đổi của môi
trường kinh doanh để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Hệ thống đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ: tiêu chuẩn chất
lượng mà doanh nghiệp áp dụng nhằm đảm bảo cho chất lượng sản phẩm của mình Quaviệc áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng, hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm làm chokhác hàng tin tưởng vào sản phẩm của doanh nghiệp mình Đó chính là những quy trìnhchẳng hạn như tiêu chuẩn kiểm tra chất lượng an toàn thực phẩm…
Các dịch vụ hậu mãi sau khi bán: chẳng hạn như các dịch vụ bảo hành sau khi
bán, dịch vụ giao hàng tận nhà, các chương trình khuýên mại cho khách hàng khi muasản phẩm của doanh nghiệp….Từ đó khiến cho khách hàng cảm thấy yên tâm khi muacác sản phẩm của doanh nghiệp
Kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường: Bao gồm những phương pháp
chiến thuật, chiến lược trong kinh doanh Đây là tài sản vô hình tạo nên năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp
IV:Nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
1.1:Nguồn vật lực và tài chính:
Khả năng tài chính của doanh nghiệp:
Khả năng tài chính của doanh nghiệp quyết định đến việc thực hiện hay khôngthực hiện một hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối của doanh nghiệp.Doanhnghiệp có tiềm lực về tài chính có khả năng thuận lợi đổi mới công nghệ, đầu tư trangthiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.Khi doanh nghiệp có tiềmlực tài chính mạnh thì sẽ dễ dàng tham gia những vụ đầu tư có giá trị lớn, từ đó lợi nhậnchắc chắn sẽ rất cao Đồng thời doanh nghiệp cũng có khả năng đa dạng hoá các loạihình kinh doanh của mình.Việc có một tiềm lực tài chính mạnh sẽ giúp doanh nghiệp cóthể cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác đặc biệt là cạnh tranh về giá
Trang 13Máy móc và thiết bị của doanh nghiệp:
Tình trạng máy móc và công nghệ có ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp.Nó là yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuấtcủa mỗi doanh nghiệp và tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, đến giá thành, giábán sản phẩm
Có thể khẳng định rằng một doanh nghiệp với một hệ thống máy móc thiết bị vàcông nghệ tiên tiến cộng với khả nang quản lý tốt sẽ tạo ra được sản phẩm chất lượngtốt, giá thành hạ từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.Ngược lại mộtdoanh nghiệp trong tay sở hữu một công nghệ cũ kỹ lạc hậu sẽ không có khả năng cạnhtranh được với các doanh nghiệp khác vì chất lượng thì kém hơn rất nhiều nếu không thìgiá thành cũng sẽ đắt hơn.Ngày nay việc sở hữu công nghệ tiên tiến có lẽ là điều kiệnquan trọng để giúp doanh nghiệp có thể cạnh tranh được với nhau
Ngày nay việc trang bị công nghệ cho quá trình sản xuất cũng như quy trìnhquản
lý diễn ra một cách dễ dàng tuy nhiên doanh nghiệp cần sử dụng với quy mô hợp lý mớiđạt được hiệu quả cao.Doanh nghiệp phải biết cách ứng dụng các thành tựu khoa học kỹthuật vào trong chính doanh nghiệp mình.Chẳng hạn như đưa tin học vào trong cáchquản lý của mình, thay thế những văn phòng lưu trữ dữ liêu cồng kềnh bằng những phầnmềm gọn nhẹ, chính sác và có thể dễ dàng tìm kiếm chỉ bằng những thoa tác rất đơngiản trên máy tính…
Hệ thống phân phối của doanh nghiệp:
Mạng lưới quản lý phân phối của doanh nghiệp được quản lý điều hành một cáchhợp lý thì nó sẽ trở thành phương tiện hiệu quả để tiếp cận khách hàng.Doanh nghiệpchinh phục khách hàng bằng các hình thức mua bán, vận chuyển, thanh toán một cáchhợp lý nhất
1.2.Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực quyết định đến quá trình sản xuất kinh doanh, nó bao gồm nhữngnội dung chủ yếu sau:
Ban giám đốc doanh nghiệp:
Là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhất trong doanh nghiệp, những người vạch rachiến lược, trực tiếp điều hành, tổ chức thực hiện công việc kinh doanh của doanh
Trang 14nghiệp Đối với những công ty cổ phần, những tổng công ty lớn ngoài ban giám đốc còn
có Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị là người đại diện cho những người chủ sở hữucủa doanh nghiệp, quyết định phướng hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Các thành viên của ban giám đốc có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu các thành viên có trình độ, kinh nghiệm và khảnăng đánh giá, năng động, có mối quan hệ tốt với bên ngoài thì họ sẽ không chỉ đem lạicho doanh nghiệp những lợi ích trước mắt như: tăng doanh thu, tăng lợi nhuận mà còn
uy tín lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp Đây mới là yếu tố quan trọng tác động đến khảnăng cạnh tranh của doan nghiệp
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thành viên ban giám đốc phải lànhững người gương mẫu tuân theo kỷ luật của doanh nghiệp để cho các thành viên khácnoi theo
Đội ngũ cán bộ quản lý cấp doanh nghiệp:
Là những người quản lý chủ chốt có kinh nghiệm công tác, phong cách quản lý,khả năng ra quyết định, khả năng xây dựng ê kíp quản lý và hiểu biết sâu rộng lĩnh vựckinh doanh sẽ là một lợi thế quan trọn cho doanh nghiệp.Người quản lý làm việc trựctiếp với nhân viên cấp dưới , với chuyên viên vì vậy trình độ làm việc của họ sẽ giúp họnảy sinh những ý tưởng mới, sáng tạo phù hợp với sự phát triển và trưởng thành củadoanh nghiệp
Các cán bộ quản lý cấp phân xưởng, đốc công, công nhân:
Trình độ tay nghề của công nhân và lòng hăng say làm việc của họ là yếu tố tácđộng rất lớn đến năng lực cạnh tranh cảu doanh nghiệp.Bởi vì khi tay nghề cao kết hợpvới lòng hăng say làm việc thì năng suất lao động chắc chắn sẽ cao trong khi chất lượngsản phẩm được bảo đảm Đây là tiền đề để doanh nghiệp tham gia và đứng vững trongcạnh tranh Muốn làm được điều này doanh nghiệp cần phải tổ chức đào tạo và đào tạolại đội ngũ lao động của mình, giáo dục cho họ lòng nhiệt tình, hăng say làm việc phục
vụ cho lợi ích công ty và cũng cính là cho lợi ích của chính họ.Tuy nhiên để đạt đượcđiều đó thì doanh nghiệp cần phải có những chế độ đãi ngộ hợp lý cho người lao động:chẳng hạn như tăng lương, chế độ thưởng hợp lý, chế độ lương bổng khi về hưu, côngtác bảo hiểm lao động……
Trang 152.Các nhân tố bên ngoài
2.1.Các nhân tố về chính trị, pháp luật
Các nhân tố về phát luật có ảnh hưởng mạnh mẽ đên khả năng cạnh tranh của cácdoanh nghiệp Nó bao gồm hệ thống luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chínhsách của nhà nước, tổ chức bộ máy điều hành của chính phủ và các tổ chức chính trị xãhội
Một thể chế chính trị ổn định, luật pháp rõ ràng rông mở là cơ sở cho việc đảm bảothuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh có hiệu quả.Ví dụ luậtthuế có ảnh hưởng rất lớn đến cạnh tranh, đảm bảo sự bình đẳng của các doanh nghiệpthuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau và trên mọi lĩnh vực; thuế xuất nhập khẩu cũngảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất trong nước
Các yếu tố được lưu ý cơ bản:
-Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển xã hội và nền kinh tế của Đảng cầmquyền
-Chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện các quan điểm mục tiêucủa chính phủ
và điều hành của chính phủ
-Mức độ ổn định chính tri- xã hội
-Thái độ phản ứng của các tổ chức xã hội các nhà phê bình xã hội
-Thái độ phản ứng của dân chúng
2.2.Các nhân tố về mặt kinh tế
Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nước:
Nhân tố này có tác đông sâu sắc và nhanh chón đối với từng quốc gia nói chung vàtừng doanh nghiệp nói riêng nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở.Nếu đồng nội tệtăng lên, giá cả của doanh nghiêp sẽ giảm, khả năng cạnh tranh của nước ngoài kém, khi
đó giá bán tính bằng ngoại tệ sẽ cao hơn các đối thủ cạnh tranh.Hơn nữa, khi đông nội tệlên giá khuyến khích nhập khẩu vì giá cả hàng nhập khẩu sẽ giảm ngay trên thi trườngtrong nước.Ngược lại khi đồng nội tệ giảm giá khả năng cạnh tranh của các doanhnghiệp tăng trên thị trường trong nước và thi trường nuớc ngoài vì khi đó giá bán hànghoá sẽ giảm hơn so với đối thủ cạnh tranh kinh doanh hàng hoá do nước khác sản xuất
Tốc độ tăng trưởng:
Trang 16Tốc độ tăng trưởng cao làm cho thu nhập của dân cư tăng, khả năng thanh toáncủa họ tăng dẫn đến sức mua tăng Đây là cơ hội tốt cho các nhà doanh nghiệp, nếu nhàdoanh nghiệp nào nắm bắt được điều này và có khả năng đáp ứng nhu cầu của kháhhàng ( về mặt số lượng, chất lượng, giá bán, mẫu mã) thì chắc chắn doanh nghiệp đó sẽthành công và có khả năng cạnh tranh cao
Lãi suất cho vay của ngân hàng:
Nhân tố này cũng có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh cảu doanh nghiệpbởi vì vôn vay nằm tronh cơ cấu vốn của doanh nghiệp là không thể không thiếuđược.Khi lãi suất cho vay của ngân hàng cao dẫn đến chi phí của doanh nghiệp tăng lên
do phải trả tiền vay lớn hơn, khả năng cạnh tranh cảu doanh nghiệp kém đi nhất là khicác đối thủ cạnh tranh có tiềm lực về vốn mạnh
2.3.Môi trường kinh doanh công nghệ
Nhóm các yếu tố này ngày càng quan trọng và có ý nghĩa chiến lược quyết địnhđên môi trường cạnh tranh, tác động một cách quyết định đến hai yếu tố cơ bản nhất tạonên khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thi trường đólà chất lượng và giá bán Khoahọc công nghệ tác động đến chi phí cá biệt của các doanh nghiệp, qua đó tạo nên khảnăng cạnh tranh của sản phẩm nói riêng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nóichung.Hiện nay xu hướng trên thế giới đã chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh
vè chất lượng sản phẩm,cạnh tranh giữa các sản phẩm dịch vụ có hàm lượng khoa học
kĩ thuật cao, bởi vì trên thế giới đã có luật chống bán phá giá để khống chế điều này
Kỹ thuật và công nghệ mới sẽ giúp các cơ sở sản xuất trong nước tạo ra đượcnhững thế hệ công nghệ và kỹ thuật tiếp theo nhằm trang bi và tái trang bị toàn bộ cơ sởsản xuât kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, đây là tiền đề để các doanh nghiệp ổn định
và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
Các yếu tố quan trọng của môi trường này bao gồm:
Tiềm năng của nền kinh tế: là một yếu tố tổng quát phản ánh nguồn lực có thể
huy động và chất lượng của nó Bao gồm: tài nguyên con người, vị trí địa lý và tiềm lựcquốc gia
Hoạt động ngoại thương, xu thế đóng mở của nền kinh tế: tác động mạnh mẽ
đến các cơ hội phát triển của doanh nghiệp, các điều kiện của cạnh tranh, khả năng sử
Trang 17dụng ưư thế quốc gia và thế giới công nghệ, nguồn vốn, hàng hoá mở rộng quy mô hoạtđộng.
Hệ thống thuế, mức độ hoàn thiện và thực thi: liên quan đến sự công bằng
trong cạnh tranh, thể hiện ưư thế phát triển trong nền kinh tế và cần được xem xét khiđánh giá cơ hội kinh doanh
Trình độ trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ của ngành của nền kinh tế :ảnh
hưởng đến khả năng sản xuất sản phẩm với các cấp chất lượng, năng suất lao động, khảnăng cạnh tranh
Khả năng nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nền kinh tế: phản ánhtiềm năng phát triển và đổi mới công nghệ sản xuất, công nghệ quản lý liên quan đếnđổi mới ssản phẩm, chu kỳ sống của sản phẩm, khả năng cạnh tranh có tính tiên phong
2.4.Môi trường cạnh tranh
Cạnh tranh là nhân tố được xác định là động lực cho sự phát triển của nền kinh tếthi trường với nguyên tắc ai hoàn thiện hơn, ai thoả mãn tốt hơn nhu cầu, hiệu quả tốthơn thì người đó sẽ thắng tồn tại và phá triển.Duy trì cạnh tranh bình đẳng, đúng phápluật là nhiệm vụ của chính phủ Trong điều kiện đó vùă mở ra các cơ hội để doanhnghiệp kiến tạo hoạt động của mình vừa yêu cầu donh nghiệp phải vươn lên phía trước
để vượt qua đối thủ Các doanh nghiệp cần phải xác định cho mình một chiến lược cạnhtranh hoàn hảo Chiến lược cạnh tranh cần phải phản ánh được các yếu tố ảnh hưởngcủa môi trường cạnh tranh bao quanh doanh nghiệp
Các nhân tố của môi trường cạnh tranh bao gồm:
Điều kiện chung về cạnh tranh trên thị trường:
Các quan điểm khuyến khích hay hạn chế cạnh tranh, vai trò và khả năng củachính phủ trong việc điều kiển cạnh tranh, các quuy định về cạnh tranh và ảnh hưởngcủa nó trong thực tiễn sản suất kinh doanh có liên quan đến quá trình đánh giá cơ hộikinh doanh và lựa chọn giải pháp kinh doanh
Số lượng đối thủ:số lượng đối thủ bao gồm
+Các đối thủ cạnh tranh sơ cấp: cùng tiêu thụ một mặt hàng, một loại sả phẩmđồng nhất
Trang 18+Các đối thủ cạnh tranh thứ cấp: sản xuất và tiêu thụ những sản phẩm có khả năngthay thế.
Đây là cơ sở để xác định mức độ khốc liệt của cạnh tranh trên thị trường thôngquađánh giá trạng thái cạnh tranh trên thị trường mà doanh nghiệp tham gia
Điểm mạnh điểm yếu của các đối thủ cạnh tranh:
Liên quan đến sức mạnh cụ thể của từng đối thủ trên thị trường: quy mô, thị phần,tiềm lực tài chính, kỹ thuật công nghệ, tổ chức quản lý, lợi thế cạnh tranh qua đó xácđịnh được vị thế của đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Chiến lược cạnh tranh của các đối thủ trên thị trường: Liên quan đến mục
tiêu, giải pháp cách thức cạnh tranh của từng doanh nghiệp trên thị trường, mỗi doanhnghiệp có thể lụă chọn chiến lược kinh doanh được xây dựng theo vị thế của doanhnghiệp trên thị trường
2.5.Các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp:
Các nhân tố tự nhiên bao gồm tai nguyên thiên nhiên của đát nước, vị trí địa lý,phân bố của chính doanh nghiệp đó.Các nhân tố này tạo ra những điều kiện thuận lợihay kho khăn ban đầu cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.Nếu tài nguyên thiênnhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi sẽ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí( nguyên vật liệu, chi phí vận chuyển) do đó năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
sẽ tăng Hơn nũă vị trí địa lý tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khuếch trươngsản phẩm, mở rộng thị trường Ngược lại những yếu tố tự nhiên không thuận lợi sẽ tạo
ra khó khăn ban đầu cho doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽgiảm
3.Các nhân tố thuộc môi trường ngành
3.1.Các đối thủ tiềm năng
Việc gia nhập ngành của một doanh nghiệp dù không trực tiếp nhưng cũng ảnhhưởng ít nhiều đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp khác.Sự xuất hiện củanhững đối thủ mới thường gây những khó khăn cho doanh nghiệp vì thông thườngngười đi sau thường có nhiều căn cứ cho việc ra quyết định và những chiêu bài của họthường mang tính bất ngờ
Trang 193.2.Sức ép của nhà cung ứng
Với vai trò là người cung ứng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, quyền lựccủa nhà cung ứng thể hiện thông qua sức ép về giá từ đó ảnh hưởng đến năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp bị lệ thuộc vào nhà cung ứngquá nhiều.Một số những đặc điêm sau có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanhnghiêp thông qua các nhà cung ứng:
Số lượng người cung ứng:Thể hiện mức cung nguyên vật liệu và mức độ lựa chọnnhà cung ứng của các doanh nghiệp cao hay thấp.Nhiều nhà cung ứng tạo ra sự cạnhtranh trên thị trường nguyên vật liệu nó có tác dụng làm giảm chi phi đầu vàotừ đó nângcao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Tính độc quyền của nhà cung ứng: tạo ra cho họ những điều kiện để ép giá các nhàsản xuất, làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua việc gây ra nhữngkhó khăn về gía
3.3.Sức ép của người mua
Người mua tranh đua với các doanh nghiệp bằng cách bắt ép giá giảm xuống mặc
cả để có chất lượng tốt hơn, được phục vụ tốt hơn và đồng thời làm cho các đối thủchống lại nhau.Tất cả đều làm cho doanh nghiệp những thiệt hại dù ít hay nhiều
3.4 Sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế
Sự ra đời của các sản phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đáp ứng sự biến động củangu cầu thị trường theo hướng ngày càng đa dạng hơn, phong phú hơn cao cấp hơn vàchính đó lại làm giảm khả năng của các sản phẩm thay thế.Các sản phẩm thay thế đángquan tâm nhất là :những sản phẩm thuộc về xu thế cải thiện việc đánh đổi tình hình giá
cả chung lấy của ngành và hai là do lợi nhuận của ngành cao.Trong trường hợp đó cácsản phẩm thay thế sẽ ồ ạt nhảy vào cuộc từ đó doanh nghiệp phải cạnh tranh với cácdoanh nghiệp có sản phẩm thay thế.Sản phẩm thay thế thường có sức cạnh tranh caohơn do được sản xuất trong những dây chuyền hiện đại hơn, tiên tiến hơn Mặc dù chịu
sự chống trả của các sản phẩm bị thay thế nhưng các sản phẩm thay thế có nhiều ưu thếhơn do đó sẽ làm thu hẹp thị trường của các sản phẩm bị thay thế Cách khắc phục củadoanh nghiệp là tìm kiếm sản phẩm mới hay tìm kiếm nhu cầu của người tiêu dùng mới
Trang 203.5.Sức ép của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong ngành
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành là một trong những yếu tốphản ánh bản chất của môi trường này Sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh chính trênthi trường và tình hình hoạt động của chúng là lực lượng tác động mạnh mẽ tức thì tớiquá trình hoạt động của mỗi doanh nghiệp Trong một ngành bao giờ cũng tồn tại nhiềudoanh nghiêp khác nhau nhưng trong đó chỉ có một số đóng vai trò chủ chốt như nhữngđôis thủ cạnh tranh chính có thể khống chế thị trường
Các ngành mà có một hay một và doanh nghiệp khốngchế thị trường thì cường độcạnh tranh ít hơn bởi doanh nghiệp thống lĩnh trong việc chỉ đạo giá.Trong trường hợpdoanh nghiệp không phai là người thống lĩnh thì khả năng cạnh tranh hầu như là không
có hay nói cách khác là năng lực cạnh tranh của doanh nghiêp là yếu.Nhưng nếu ngànhchỉ bao gồm một số doanh nghiệp và các doanh nghiệp này có quy mô,thế lực tươngđương nhau thì cường độ cạnh tranh sẽ cao để giành thị trường.Khi đó năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp sẽ cao khi có lợi thế về sản phẩm, giá cả chất lượng và ngượclại.Cạnh tranh cũng trở nên căng thẳng khi trong mộy ngành có lượng lớn doanh nghiệp
vì khi đó một số doanh nghiệp sẽ tăng cường cạnh tranh mà các doanh nghiệp khackhông thể nhận ra ngay
Chú ý chúng ta chỉ quan tâm đên năng lực cạnh tranh của các doanh nghiTệp màdựa vào các điều kiện chính đáng chứ không phải vì những may mắn hay sự giúp đỡ củathế lực nào đó để có được năng lực cạnh tranh với các đối thủ khác
Trang 21CHƯƠNG II:PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM1.Khái quát thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Trong những năm qua, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã đạt được rất nhiềuthành công trong việc giải quyết việc làm cho người lao động cũng như đóng góp vàokim ngạch xuất khẩu chung của cả nước, từng bước đưa nước ta trở thành một trong 10quốc gia có ngành dệt may phát triển nhất thế giới Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt maycủa Việt Nam không ngừng được gia tăng qua các năm Năm 2003, kim ngạch xuấtkhẩu mặt hàng này mới chỉ dừng ở 3,6 tỷ USD; thì sang năm 2004 đạt 4,3 tỷ USD vàcho đến năm 2008 kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam đặt ra là 9,5 tỷ USD.Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang trải qua cuộc khủng hoảng thìcác doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng không tránh khỏi tình trạng chung đó
Ngành Dệt may bước vào thực hiện kế hoạch năm 2009 trong bối cảnh tình hìnhthế giới tiếp tục có nhiều diễn biến xấu: ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suythoái kinh tế ngày càng nặng nề và khó dự đoán Thị trường xuất khẩu ngày càng thuhẹp do sức mua tại các nước nhập khẩu tiếp tục giảm mạnh, cùng với Ấn Độ, Bănglađet
và việc Trung Quốc vừa được dỡ bỏ hạn ngạch đã gây áp lực rất lớn đối với hàng dệtmay, da giày của Việt Nam Bên cạnh đó, từ tháng 2/2009, Ủy ban an toàn sản phẩmtiêu dùng của Hoa Kỳ sẽ kiểm tra nghiêm ngặt hơn các quy định an toàn sản phẩm nhưtính dễ cháy của vải, cấm tuyệt đối các sản phẩm có thắt dây ở vùng cổ trên áo Việcgiám sát hàng dệt may vẫn còn nguy cơ bị áp đặt trở lại Tại thị trường EU, các doanhnghiệp Việt Nam không được hưởng quy chế GSP cho mặt hàng da giày Việt Nam nhậpkhẩu vào EU, việc kiện chống phá giá với giày mũ da chưa được giải quyết đã ảnhhưởng lớn đến mặt hàng này của Việt Nam.Nền kinh tế Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản đều
có mức tăng trưởng âm trong năm 2009, ngành Dệt may đã cảm nhận sẽ có những ảnhhưởng không nhỏ đến kim ngạch xuất khẩu Vì đây là những thị trường nhập khẩu hàngdệt may chính của Việt Nam, nên theo ước tính của ngành dệt may, trong năm 2009,nhu cầu sử dụng hàng dệt may ở các nước trên có khả năng giảm 15% Thị trường sẽchật hẹp hơn rất nhiều, và các nhà sản xuất trong và ngoài nước cũng phải cạnh tranh
Trang 22gay gắt hơn Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ phải đối mặt với hai nguy cơ chínhtrong năm 2009 Thứ nhất: Từ trước tới nay sản phẩm của Việt Nam lấy trọng tâm pháttriển hàng cao cấp khá nhiều, nhưng trong bối cảnh kinh tế suy giảm, phân khúc hàngcao cấp cũng sẽ bị thu hẹp bởi người tiêu dùng tiết kiệm chi tiêu từ cao cấp xuống trungcấp.
Thứ hai: Sự cạnh tranh về giá đối với những nước sản xuất lớn như Trung Quốc,Banglades, Indonesia, Ấn Độ… Ngay với thị trường trong nước, đã có những dự báotrong khoảng 3 – 6 tháng tới, hàng dệt may Trung Quốc sẽ được đẩy sang Việt Nam vớikhối lượng tương đối lớn Nhiệm vụ trọng tâm được xác định năm 2009 của ngành làduy trì được vị trí trên thị trường, nhiều hơn là thu lợi cao Vì nếu không biết cách giữthì qua giai đoạn này, thậm chí còn mất cả vị trí trên thị trường, mất cả doanh nghiệp,mất cả người lao động Đứng trước khó khăn về thị trường, các Hiệp hội dệt may, dagiày dự báo năm 2009: Xuất khẩu hàng dệt may phấn đầu đạt khoảng 9,5 tỷ USD tăng5% so với thực hiện năm 2008 Xuất khẩu hàng da giày phấn đấu đạt khoảng 5,3 tỷUSD tăng 12% so với thực hiện năm 2008 Ngay cả dịp Tết, các doanh nghiệp (DN) dệtmay cũng thất thu đáng kể Cộng với những khó khăn của các thị trường xuất khẩu đãkhiến nhiều DN đứng trước nguy cơ phải đóng cửa, hơn chục nghìn người lao động
có khả năng mất việc làm
Mặc dù Tết là dịp đẩy mạnh bán hàng và đã có nhiều nỗ lực quảng bá tiêu thụnhưng theo thống kê từ Bộ Công Thương cho thấy, ngành dệt may tháng Tết đã thất thuđáng kể
Nhóm sản phẩm quần áo cho người lớn bán ra tháng 1/2009 chỉ đạt 94,1% so vớicùng kỳ năm trước Ngoài lý do người dân tiết kiệm chi dùng, hàng dệt may trong nước
đã tỏ ra yếu thế trong cuộc cạnh tranh với quần áo Trung Quốc giá rẻ và mẫu mã đadạng Đó là chúng ta đề cập đên tình hinh sản xuất, tiêu thụ của ngành dệt may trongnước còn đối với thị trường xuất khẩu thì ra sao liệu có khả quan hơn không?
Trong lĩnh vực xuất khảu, ngành dệt may đang đối diện với nguy cơ đóng cửanhiều nhà máy do đơn hàng bị cắt giảm mạnh Hiện một số doanh nghiệp nước ngoài tạiĐồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu, Long An… phải đóng cửa, sa thải hàng loạt côngnhân Tình hình sẽ còn khó khăn hơn khi giá hàng hóa tại các thị trường xuất khẩu chínhgiảm trên 20%, riêng thị trường nhập khẩu dệt may lớn nhất Hoa Kỳ sẽ cắt giảm nhập
Trang 23khẩu 15% hàng dệt may Do đó, số nhân công mất việc trong toàn ngành ước tính cóthể lên đến hơn chục ngàn người Các doanh nghiệp dệt may đã kiến nghị Chính phủtrích 1% từ kim ngạch xuất khẩu để hỗ trợ tài chính cho người lao động trong các xínghiệp đang gặp khó khăn và có nguy cơ đóng cửa Kiến nghị này dành cho các doanhnghiệp có thành tích trong xuất khẩu.
Theo số liệu thống kê, trong tháng 2/2009, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may củanước ta đạt 563 triệu USD, giảm 24% so với tháng 1 và tăng 23% so với cùng kỳ nămngoái Tính chung 2 tháng năm 2009, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,3 tỷ USD, tăng 3,1%
so với cùng kỳ năm ngoái và bằng 11,3% kế hoạch xuất khẩu năm
Trong tháng 2/2009, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta sang hầu hếtcác thị trường chủ chốt đều giảm rất mạnh Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang thịtrường Mỹ giảm 23,67% so với tháng trước, đạt 300,4 triệu USD Như vậy, hai thángđầu năm, xuất khẩu hàng dệt may của nước ta sang thị trường Mỹ giảm 4,4% so vớicùng kỳ năm ngoái, đạt 700,1 triệu USD
Do xuất khẩu giảm mạnh trong tháng 2/2009, chỉ đạt 90,7 triệu USD, giảm 37% sovới tháng trước, nên kim ngạch xuất khẩu hai tháng đầu năm của nước ta sang EU chỉtăng 0,71% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 235 triệu USD
Đáng chú ý, trong khi xuất khẩu hàng dệt may của các doanh nghiệp nước ta sangcác thị trường chủ chốt đều giảm mạnh, thì xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và cácnước trong khối ASEAN vẫn tăng khá Tháng 2/2009, kim ngạch xuất khẩu hàng dệtmay của ta sang Nhật Bản tăng 3,2% so với tháng 1 và tăng 53% so với cùng kỳ nămngoái Nâng tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của ta sang Nhật tăng 26,8% sovới 2 tháng năm 2008, đạt 138 triệu USD Đây là tín hiệu tích cực đối với ngành dệtmay nước ta Dự đoán, xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Nhật Bản sẽ tiếp tụctăng trưởng tốt, nhờ việc thực thi Hiệp định miễn thuế hàng hoá xuất nhập khẩu
Tương tự, xuất khẩu hàng dệt may của nước ta sang các nước trong khối ASEANtrong tháng 2/2009 cũng tăng trưởng cao, tăng 19,79% so với tháng 1 và tăng 69,58% sovới cùng kỳ năm ngoái Tính chung 2 tháng, kim ngạch xuất khẩu tăng 31% so với 2tháng năm 2008, đạt 26,7 triệu USD.Xuất khẩu hàng dệt may của nước ta sang Đài Loanphục hồi mạnh 2 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 51,4 triệu USD, tăng160,81% so với cùng kỳ năm ngoái.Xuất khẩu sang Hàn Quốc cũng tăng khá Trong 2
Trang 24tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của ta sang Hàn Quốc đạt trị giá 26,1triệu USD, tăng 41,79% so với 2 tháng năm 2008.
Như vậy, với kết quả xuất khẩu đạt được trong hai tháng đầu năm của ngành dệtmay nước ta là khá cao, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu tiếp tục lan rộnglàm sức mua tại các thị trường chính giảm mạnh Về lâu dài, ngoài việc cố gắng giảmthiểu tác động từ cuộc khủng hoảng xuống mức thấp nhất, các doanh nghiệp bên cạnhviệc chủ động tìm kiếm phát triển thị trường mới cũng phải quan tâm tới việc phát triểnthị trường nội địa.Như vậy chúng ta cũng đã có được những hình dung tổng quan vềthực trạng hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian vừa qua đặc biệt làtrong những tháng đầu năm 2009 Nhận định về tình hình sản xuất kinh doanh của các
DN dệt may, Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) Vũ Ðức Giang chobiết, sáu tháng đầu năm nay, ngành dệt may Việt Nam có thể bị giảm 10%-15% sảnlượng, 20%-30% kim ngạch xuất khẩu và số lao động bị cắt giảm tạm thời có thểkhoảng 100 nghìn người Chỉ có một số ít DN có thương hiệu và mối quan hệ truyềnthống với các nhà nhập khẩu lớn mới có thể thu xếp đơn hàng để sản xuất đến tháng 4(so với những năm trước là đến tháng 6), còn lại hầu hết các DN vừa và nhỏ, DN có100% vốn đầu tư nước ngoài không thu xếp đủ đơn hàng sản xuất trong quý I Một số
DN phải tạm ngừng hoạt động, một số khác phải giảm lao động và giảm thời gian sảnxuất khiến cho một bộ phận nhỏ công nhân giảm thu nhập, mất việc làm
Với các DN may, đơn hàng tiếp tục giảm khoảng 20% trong quý I, giảm 15%trong quý II so với năm 2008 Còn với các DN sợi, năm 2009, thị trường sợi đã khá hơn
về sức mua, nhưng giá bán tiếp tục giảm do giá vật liệu thấp và cạnh tranh giá gay gắtnên có thể sản lượng của DN sợi tăng 5%-7%, nhưng doanh thu lại có khả năng khôngtăng, thậm chí giảm 5-7% Các DN dệt nhuộm đang là những DN yếu nhất của ngành,tuy nhiên đây lại là lĩnh vực hy vọng có thể phục hồi nếu giải quyết tốt vấn đề quản lýcông nghệ và đáp ứng được yêu cầu của các DN Nhật Bản Riêng các DN phân phối sảnphẩm dệt may (hệ thống siêu thị và các công ty thương mại) lại chịu sức ép trực tiếp củaviệc mở cửa thị trường bán lẻ, do vậy cần có bước chuyển biến mạnh mẽ về phươngthức kinh doanh, mạng lưới bán hàng, cũng như các hoạt động quảng bá, truyền thông
"Người Việt Nam sử dụng hàng dệt may Việt Nam" Việc hình thành các chuỗi liên kết
Trang 25từ sản xuất nguyên liệu - sản xuất may mặc - kênh phân phối chưa đáp ứng yêu cầu đặt
ra nên chưa phát huy hết lợi thế cạnh tranh của toàn hệ thống
Trong bối cảnh khó khăn đó nhiều doanh nghiệp dệt may đã tìm ra cho mìnhnhững hướng đi tương đối đúng đắn.Trong đó, bên cạnh việc chú trọng khai thác thịtrường nội địa, thì tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu là giải pháp được nhiều DN dệtmay triển khai Chẳng hạn như tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tập đoàn đã chỉ đạo các
DN thành viên bám sát thị trường, khách hàng xuất khẩu hiện có, làm tốt công tác chămsóc khách hàng để giữ vững những thị trường xuất khẩu truyền thống Tập trung khaithác thế mạnh làm hàng chất lượng cao để tăng giá trị gia tăng, giao hàng đúng hạn, đápứng cả những đơn hàng số lượng ít và nhất là đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn môitrường, quan hệ lao động hài hòa là những lợi thế để DN dệt may giữ chân khách hàngtruyền thống và thu hút khách hàng mới Bên cạnh đó, DN cũng cần tìm mọi cách giảmgiá thành để có được giá bán phù hợp thị trường nhưng vẫn duy trì được lao động, thunhập Trong giai đoạn khó khăn hiện nay, sự liên kết, hỗ trợ giữa các DN là rất quantrọng Các DN lớn có thể hỗ trợ, giúp đỡ DN vừa và nhỏ tại các địa phương, các đơn vịliên kết của tập đoàn để có đơn hàng ổn định
Ngoài các thị trường truyền thống, các DN cũng cần năng động tìm kiếm thịtrường ngách mà Việt Nam có lợi thế, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến nghiên cứu thịtrường ngoài nước và đặc biệt quan tâm tổ chức mời khách hàng tiềm năng vào thươnglượng tại Việt Nam Có chiến lược tiếp cận với thị trường Nhật Bản để khai thác tốtHiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản, đồng thời khai thác thị trường mới đầytiềm năng tại Trung Ðông, Nam Phi, Nga
Với sự nỗ lực của nhiều doanh nghiệp, ngay từ những tháng đầu năm nay, nhiềudoanh nghiệp trong nước đã ký được những hợp đồng xuất khẩu mặt hàng sợi cao cấp,sợi trung bình sang thị trường Trung Ðông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a, Phi-li-pin, Trung Quốc Các mặt hàng áo giắc-két, măng-tô, vét-xtông, khăn các loại, vải caocấp đã có thêm hợp đồng mới tại thị trường EU, Trung Ðông, Nhật Bản Tỷ trọng sảnxuất hàng FOB tăng do nhiều doanh nghiệp đã đáp ứng yêu cầu về chất lượng, nguyênphụ liệu Sản phẩm vải 100% cốt-tông cao cấp của Công ty Pang-rim, do Hàn Quốc đầu
tư 100% vốn, đã được khách hàng Nhật Bản, Hàn Quốc, EU chấp nhận làm nguyên liệuđặt hàng may mặc xuất khẩu; vải lụa, tơ tằm của Công ty dệt Thái Tuấn được xuất khẩu