Ngoài ra, trong các công ước và điều ước quốc tế, quyền con người cũng được ghi nhận một cách cụ thể, điển hình là sự ghi nhận của Bộ luật quốc tế về quyền con người bao gồm bản Tuyên ng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT
NHỮNG QUYỀN KINH TẾ, VĂN HÓA VÀ XÃ HỘI
MỚI ĐƯỢC GHI NHẬN TRONG DỰ THẢO SỬA ĐỔI
HIẾN PHÁP VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
DƯƠNG VĂN HỌC PHẠM THỊ NGỌC TRÂM
Bộ môn: Luật Thương mại Mssv: 5106201
Lớp: Luật Hành chính K36
Cần Thơ, tháng 12 năm 2013
Trang 2
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ SỰ GHI NHẬN QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM Error!
Bookmark not defined
1.1 Khái niệm quyền con người Error! Bookmark not defined 1.1.1 Khái niệm quyền con người theo luật pháp quốc tế Error! Bookmark not
1.2.1.1 Tính tất yếu lịch sử, khách quan của quyền con người Error!
Bookmark not defined
1.2.1.2 Tính cộng đồng người, cộng đồng nhân loại của quyền con người
Error! Bookmark not defined
1.2.1.3 Đặc điểm bình đẳng của quyền con người Error! Bookmark not
1.2.2 Tính đặc thù của quyền con người Error! Bookmark not defined
1.2.2.1 Đặc điểm đặc thù về mặt lịch sử cụ thể của quyền con người Error!
Bookmark not defined
1.2.2.2 Đặc điểm đặc thù trong thể chế hóa Error! Bookmark not defined
1.2.3 Mối quan hệ biện chứng giữa tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con
người Error! Bookmark not defined 1.3 Lịch sử hình thành và sự phát triển quyền con người Error! Bookmark not
defined
1.3.1 Sự hình thành và phát triển của tư tưởng về quyền con người Error!
Bookmark not defined
1.3.2 Quá trình ghi nhận của pháp luật quốc tế về quyền con người Error!
Bookmark not defined
1.4 Vai trò của Hiến pháp trong vấn đề ghi nhận quyền con người Error!
Bookmark not defined
Trang 31.5 Sự ghi nhận quyền con người trong lịch sử lập hiến Việt Nam Error!
Bookmark not defined
1.5.1 Hiến pháp năm 1946 Error! Bookmark not defined 1.5.2 Hiến pháp năm 1959 Error! Bookmark not defined 1.5.3 Hiến pháp năm 1980 Error! Bookmark not defined 1.5.4 Hiến pháp năm 1992 Error! Bookmark not defined 1.6 Sự ghi nhận quyền con người trong Hiến pháp của một số quốc gia Error!
Bookmark not defined
1.6.1 Hiến pháp nước Anh Error! Bookmark not defined 1.6.2 Hiến pháp nước Mỹ Error! Bookmark not defined 1.6.3 Hiến pháp nước Pháp Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUYỀN KINH TẾ, VĂN HÓA VÀ XÃ HỘI ĐƯỢC GHI NHẬN TRONG DỰ THẢO HIẾN PHÁP VIỆT NAM SỬA ĐỔI Error! Bookmark
not defined
2.1 Khái quát về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp Việt Nam năm 1992 và sự ghi nhận
các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới Error! Bookmark not defined
2.2 Các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong Dự thảo Hiến
pháp sửa đổi Error! Bookmark not defined
2.2.1 Quyền được hưởng an sinh xã hội Error! Bookmark not defined 2.2.1.1 Sự ghi nhận của pháp luật quốc tế Error! Bookmark not defined 2.2.1.2 Sự ghi nhận của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 Error! Bookmark
not defined
2.2.1.3 Pháp luật Việt Nam về đảm bảo an sinh xã hội Error! Bookmark not
defined
2.2.1.4 Thực trạng thực hiện quyền được đảm bảo an sinh xã hội tại Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập Error! Bookmark not defined
2.2.1.5 Giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả quyền được đảm bảo an sinh xã
hội Error! Bookmark not defined
2.2.2 Quyền tham gia vào đời sống văn hóa Error! Bookmark not defined
2.2.2.1 Sự ghi nhận của pháp luật quốc tế Error! Bookmark not defined 2.2.2.2 Sự ghi nhận của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 Error! Bookmark
not defined
2.2.2.3 Pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền tham gia vào đời sống văn
hóa Error! Bookmark not defined 2.2.2.4 Thực trạng về văn hóa cộng đồng Việt nam Error! Bookmark not
defined
Trang 42.2.2.5 Giải pháp thúc đẩy sự phát triển của quyền con người về văn hóa
Error! Bookmark not defined 2.2.3 Quyền được sống trong môi trường trong lành Error! Bookmark not
defined
2.2.3.1 Sự ghi nhận của pháp luật quốc tế Error! Bookmark not defined 2.2.3.2 Sự ghi nhận của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Error!
Bookmark not defined
2.2.3.3 Pháp luật Việt Nam hiện hành về việc bảo đảm thực hiện quyền được
sống trong môi trường trong lành Error! Bookmark not defined 2.2.3.4 Thực trạng ô nhiễm môi trường tại Việt Nam Error! Bookmark not
defined
2.2.3.5 Giải pháp thúc đẩy phát triển quyền được sống trong môi trường trong
lành tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề quyền con người trải qua sự phát triển lâu dài đầy những thăng trầm trên thế giới, gắn liền với sự đấu tranh của nhân dân vì tự do, dân chủ, chống lại sự áp bức, bóc lột
Kể từ khi Liên Hợp Quốc ra đời năm 1945, việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người đã thực sự được mở rộng trên phạm vi toàn thế giới mà tiêu biểu là sự có mặt của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 Ngay trong lời nói đầu
của bản Tuyên ngôn đã khẳng định: “việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới”
Có thể nói Hiến pháp là một công cụ hữu hiệu nhất trong vấn đề ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền con người không chỉ của Việt Nam mà của phần lớn các quốc gia trên thế giới Chính vì vậy, Việt Nam không ngừng nổ lực để hoàn thiện Hiến pháp nước nhà với mục đích thực hiện tốt hơn trong vấn đề quyền con người đúng với
vị trí một thành viên của Liên Hợp Quốc và tinh thần của các công ước mà Việt Nam
đã ký kết Điều này có thể thấy qua các bản Hiến Pháp từ Hiến pháp đầu tiên năm
1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 đến Hiến pháp hiện tại năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đang được đặt biệt quan tâm
Bên cạnh các quyền dân sự, chính trị, Hiến pháp cũng không quên đề cập đến các quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội vì đây là một trong hai nhóm quyền chính cấu thành các quyền và tự do cơ bản của con người
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, con người phải chịu nhiều tác động ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân kể cả cộng đồng ở nhiều mặt như sự tha hóa về văn hóa, sự du nhập của các loại hình văn hóa không lành mạnh từ nước ngoài, môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng, tệ nạn xã hội tăng cao, vấn đề thất nghiệp… Chính vì vậy, những quyền của con người phải cần được đảm bảo hơn, cần ghi nhận một cách cụ thể và đầy đủ hơn trên các lĩnh vực để dù ở đâu, trong bất kỳ bối cảnh nào quyền con người cũng được bảo vệ
Từ những phân tích trên, với đề tài “Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo Hiến pháp Việt Nam sửa đổi” người viết sẽ tập
trung phân tích những quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự
Trang 6Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
thảo Hiến pháp Việt Nam sửa đổi, cơ chế nhằm đảm bảo thực hiện các quyền đó trong tương lai khi nó được chính thức thừa nhận với mục đích giúp con người ngày càng được bảo vệ tốt hơn những quyền chính đáng của mình
3 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được
pháp luật quốc tế ghi nhận và sự thừa nhận của dự thảo sửa đổi Hiến pháp Việt Nam, các cơ chế nhằm đảm bảo thực hiện tốt các quyền Đồng thời người viết cũng nêu lên những khó khăn ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền và các giải pháp giúp các quyền đã nêu được thực hiện tốt trong thực tiễn đời sống
Đối tượng nghiên cứu: Người viết tập trung nghiên cứu các quyền về kinh
tế, văn hóa và xã hội lần đầu tiên được đề cập đến trong dự thảo Hiến pháp sửa đổi bao gồm quyền được đảm bảo an sinh xã hội, quyền tham gia vào đời sống văn hóa và quyền được sống trong môi trường trong lành
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: Phương pháp phân tích luật viết, phương pháp chứng minh, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, diễn dịch
5 Bố cục luận văn
Đề tài “Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận
trong dự thảo Hiến pháp Việt Nam sửa đổi” có bố cục như sau:
Lời nói đầu
Chương 1: Khái quát chung về quyền con người và sự ghi nhận quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam
Trang 7Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Chương 2: Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong
dự thảo Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 8
Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ SỰ GHI NHẬN QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM
1.1 Khái niệm quyền con người
1.1.1 Khái niệm quyền con người theo luật pháp quốc tế
Quyền con người chính là sự kết tinh của những giá trị văn hóa của tất
cả các dân tộc trên thế giới thông qua một quá trình phát triển lịch sử lâu dài của nhân
loại Kể từ khi Liên Hợp Quốc chính thức thừa nhận vào năm 1948, với sự ra đời của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, quyền con người đã phát triển như một khuôn khổ đạo đức, chính trị, pháp lý và như một định hướng nhằm phát triển một thế giới tự do khỏi sợ hãi và tự do làm điều mong muốn Ngày nay, quyền con người được thừa nhận là một khái niệm toàn cầu như được ghi nhận trong tuyên bố của Hội nghị thế giới Vien (Áo) về quyền con người năm 1993 và các Nghị quyết của Liên Hợp Quốc đã được thông qua nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày ra đời của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (1948-1998)
Tuy nhiên, cho đến nay, cách hiểu về khái niệm quyền con người vẫn chưa
có sự thống nhất Một mặt, đang còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc, bản chất của quyền con người Mặt khác, quyền con người được xem xét dưới nhiều gốc độ khác nhau như: triết học, đạo đức, chính trị, pháp luật Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một gốc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người Tùy vào tính chủ quan của mỗi người, tùy vào lĩnh vực nghiên cứu mà quyền con người được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa phổ biến nhất vẫn là định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người
Theo định nghĩa này, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm người trước những hành động hoặc sự bỏ mặc làm
1 Định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người:
“Human rights are universal legal guarantees protecting individuals and groups
against actions and omissions that interfere with fundamental freedoms, entitlements and human dignity”
United Nations - OHCHR, Freequently Asked Questions on a Human Rights-based
Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr.1
Trang 9Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Định nghĩa này mang tính chất của học thuyết về các quyền mang tính chất
pháp lý Việc bảo vệ quyền con người là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại, không
phải của riêng một khu vực hay một quốc gia nào Khi có bất kì một sự xâm phạm nào
đến con người ở một quốc gia nơi thực hiện hành vi xâm hại đó thì không chỉ quốc gia
đó sử dụng pháp luật để bảo vệ họ và giải quyết vấn đề mà cộng đồng quốc tế cũng có
thể chống lại hành vi xâm phạm đến nhân phẩm và tự do cơ bản của con người thông
qua luật pháp quốc tế hay các công ước mà quốc gia kí kết
Bên cạnh định nghĩa trên, một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn,
theo đó, quyền con người là những sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng
nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội, đều có ngay từ
thuyết về quyền tự nhiên Bởi vì, những quyền cơ bản của con người không do pháp
luật, phong tục tập quán quy định mà các quyền này vốn của mỗi con người sinh ra đã
có sẵn, nó giống như một điều tất yếu mà tất cả chủ thể của nhân loại đều được hưởng
quyền này
Ngoài ra, trong các công ước và điều ước quốc tế, quyền con người cũng
được ghi nhận một cách cụ thể, điển hình là sự ghi nhận của Bộ luật quốc tế về quyền
con người bao gồm bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948, Công ước quốc tế
về các quyền dân sự và chính trị 1966 và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn
hóa 1966 Tại điều 2 của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 quy định:
“Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do nêu trong bản Tuyên
ngôn này mà không có bất kì sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính,
ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc
xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác Ngoài ra, cũng không có bất
cứ sự phân biệt nào với một người mà dựa trên địa vị chính trị, pháp lý hoặc quốc tế
của quốc gia hoặc lãnh thổ mà người đó xuất thân, dù đó là lãnh thổ độc lập, ủy trị,
quản thác, chưa được tự quản hay đang phải chịu bất kì hạn chế nào khác về chủ
quyền.”
Tại Điều 1 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
năm 1966 ta có thể thấy quy định cụ thể : “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết Xuất
phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát
triển kinh tế, xã hội và văn hóa Vì lợi ích của mình, mọi dân tộc đều có thể tự do định
2Nguyễn Đăng Dung – Võ Đông Giao, Lã Khánh Tùng: Giáo trình Lý Luận và Pháp Luật về Quyền con người,
Nxb Chính trị quốc gia, năm 2009, tr.8
Trang 10Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
đoạt tài nguyên thiên nhiên và của cải của mình, miễn là không làm hại đến các nghĩa
vụ phát sinh từ hợp kinh tế quốc tế mà dựa trên nguyên tắc các bên cùng có lợi và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế Trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không được phép tước đi những phương tiện sinh tồn của một dân tộc Các quốc gia thành viên Công ước này, kể cả các quốc gia có trách nhiệm quản lý các Lãnh thổ ủy trị và các Lãnh thổ quản thác, phải thúc đẩy việc thực hiện quyền tự quyết dân tộc và phải tôn trọng quyền đó phù hợp với các quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc.”
1.1.2.Khái niệm quyền con người theo pháp luật Việt Nam
Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia,
cơ quan như Trung tâm Nghiên cứu pháp luật quyền con người ở Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu quyền con người và quyền công dân ở Khoa Luật Đại
học Quốc gia Hà Nội từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, các định nghĩa này được hiểu như sau: “quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo
Trong lịch sử lập Hiến Việt Nam, quyền con người đã được ghi nhận một cách cụ thể:
Hiến pháp năm 1946 quy định chi tiết tại Chương II, điều 10: “Công dân Việt Nam có quyền:
- Tự do ngôn luận
- Tự do xuất bản
- Tự do tổ chức và họp hội
- Tự do tín ngưỡng
- Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.”
Hiến pháp năm 1959 quy định chi tiết tại Chương III Điều 25: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó” và Điều 26: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
có các quyền tự do tín ngưỡng, hoặc không theo một tôn giáo nào”
3Nguyễn Đăng Dung, Võ Đông Giao, Lã Khánh Tùng: Giáo trình Lý Luận và Pháp Luật về Quyền con người,
Nxb Chính trị quốc gia, năm 2009, tr.14.
Trang 11Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Hiến pháp năm 1980 quy định chi tiết tại Chương V điều 67: “Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân
Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền
Có thể nhận thấy rằng kỹ thuật lập hiến của Việt Nam từ Hiến pháp năm
1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 đến Hiến pháp 1992 đã có nhiều thay đổi, song có một sự thật không thay đổi chính là sự ghi nhận quyền con người là một giá trị bất biến qua thời gian
Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người Cho dù cách nhìn nhận
có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao
cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử
1.2 Bản chất đặc trưng của quyền con người
1.2.1.Tính phổ biến
Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ quyền con người là
những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân
Trang 12Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Liên quan đến tính chất này, cũng cần lưu ý là bản chất của sự bình đẳng về quyền con người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền, mà là bình đẳng về tư cách chủ thể của quyền con người4 Ngoài ra nó còn được cụ thể qua các đặc điểm sau:
1.2.1.1 Tính tất yếu lịch sử, khách quan của quyền con người
Quyền con người, xét trên tất cả các phương diện của nó ra đời như một tất yếu lịch sử, mang tính khách quan Tính tất yếu lịch sử của quyền con người xuất phát
từ tính tất yếu lịch sử của xã hội loài người; từ nguồn gốc, quá trình vận động, phát triển và tính tương lai của nó; từ logic phát triển lịch sử của con người, của xã hội; từ logic của mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài mang tính lịch sử phổ biến của lịch sử
xã hội loài người, là một trong những giá trị tinh thần quý báu nhất, cao cả nhất của nền văn minh nhân loại trong thời đại ngày nay
Tính khách quan của quyền con người thể hiện ở chỗ quyền con người xuất phát, đáp ứng và thúc đẩy các nhu cầu khách quan của con người, của phát triển con người và của xã hội, của phát triển xã hội Các nhu cầu khách quan của con người tạo ra quyền con người5
Cụ thể về quyền được tham gia vào đời sống văn hóa được hình thành dựa trên các nhu cầu của con người về các hoạt động văn hóa trong đời sống hằng ngày như lễ hội truyền thống, trò chơi dân gian, các loại hình văn hóa, nghệ thuật Một nhu cầu cơ bản của con người, về logic, sẽ tạo ra một quyền
1.2.1.2 Tính cộng đồng người, cộng đồng nhân loại của quyền con người
Tính cộng đồng người, cộng đồng nhân loại của quyền con người thể hiện
ở dạng khái quát nhất ở “bản chất con người” cái làm cơ sở để tạo nên tính cộng đồng
cao nhất của quyền con người Bản chất con người là nền tảng mà vượt lên trên nó thì chúng ta không thể phát triển được Tiếp đến, tính cộng đồng người, cộng đồng nhân
loại của quyền con người, phản ánh “đặc tính người” của con người – đặc tính chỉ có
ở cộng đồng người, là đặc tính liên kết tất cả mọi người thành cộng đồng người và đặc tính này đòi hỏi phải có quyền con người cho mỗi người, cho mọi người, cho cộng
4Nguyễn Đăng Dung – Võ Đông Giao, Lã Khánh Tùng: Giáo trình Lý Luận và Pháp Luật về Quyền con người,
Nxb Chính trị quốc gia, năm 2009, tr.14
5Võ Khánh Vinh - Quyền con người:Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, tập 1, Nxb Khoa học - xã hội,
năm 2010, tr.11
Trang 13Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
đồng người, cộng đồng nhân loại Tính cộng đồng người, cộng đồng nhân loại của
quyền con người phản ánh tính đạo đức, bản chất đạo đức của con người6
Quyền con người là biểu tượng phân biệt của loài người, cũng là dấu hiệu
cụ thể có thể được sử dụng để xác định tính cộng đồng người, tính cộng đồng nhân loại của chúng ta
1.2.1.3.Đặc điểm bình đẳng của quyền con người
Tính bình đẳng của quyền con người thể hiện tập trung nhất ở chỗ mọi cá nhân cần được thừa nhận giá trị con người một cách bình đẳng và bởi vậy, xứng đáng được tôn trọng như nhau, bất kể có những khác biệt về tính cách và hoàn cảnh cá nhân, điều đó có thể được minh chứng cụ thể tại Điều 2 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền
năm 1948: “Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được công bố trong Bản Tuyên Ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác…” hay
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi Sự phân biệt xã hội chỉ được phép thành lập trên cơ sở nó đem lại lợi ích chung cho cả cộng đồng” nêu tại Điều 1 trong Tuyên ngôn nhân quyền và
dân quyền của Pháp năm 1789 Nói cách khác, mỗi người và mọi người đều có quyền con người – những quyền mà mỗi người và mọi người có “đơn giản là với tư cách một con người” Tính bình đẳng của quyền con người còn thể hiện ở chỗ mọi người đều
6 Võ Khánh Vinh - Quyền con người:Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, tập 1, Nxb Khoa học - xã hội,
năm 2010, tr.12
Trang 14Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
bình đẳng về mọi quyền con người được pháp luật quy định trong lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, mọi người đều bình đẳng trong cơ hội thực hiện các quyền con người và đòi hỏi thực hiện các quyền con người, mọi người đều bình đẳng khi bảo vệ các quyền con người bị xâm phạm, mọi người vi phạm quyền con người đều phải bị
xử lý, ví dụ chi tiết tại Ðiều 7 của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 : “Tất
cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng, không kỳ thị phân biệt Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị
vi phạm Bản Tuyên ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như vậy” Quyền con người luôn luôn đề cao phẩm giá cá nhân của con người, và vì vậy có
thể áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người, ở mọi thời điểm và trong mọi hoàn cảnh
1.2.1.4.Đặc điểm bất khả xâm phạm của quyền con người
Quyền con người là những quyền bất khả xâm phạm, điều đó đã được ghi
nhận trong tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra
có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh
Điều này có nghĩa rằng đã là người thì không thể không có quyền con người
cho dù người đó đối xử tồi tệ như thế nào đối với người khác hoặc bị đối xử man rợ
như thế nào đi chăng nữa Quyền con người là những quyền bẩm sinh, tự nhiên và không thể bị tước đoạt, tại Ðiều 1 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 đã nêu: “Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái” Con người với tư cách là các cá nhân trong xã hội (chứ không đơn thuần
chỉ là thành viên của một giai cấp hay một nhóm xã hội cụ thể), họ có khả năng tư duy
và hành động độc lập và có lý trí, nhờ đó mà có khả năng tự quyết định việc thực hiện quyền của mình, thực hiện điều gì là tốt nhất cho mình mà không xâm phạm đến quyền của người khác Điều này nói lên rằng mọi người có các quyền bẩm sinh, tự nhiên không thể bị xâm phạm, không thể bị tước đoạt Quyền con người là những quyền không thể ban phát, chuyển nhượng8
Chẳng hạn, không thể ban phát, chuyển nhượng quyền sống của người này cho người khác, không thể chuyển nhượng nhân phẩm, danh dự của người này cho người khác
7Trích Tuyên ngôn độc lập của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ năm 1776: “We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness.”
8Võ Khánh Vinh - Quyền con người:Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, tập 1, Nxb Khoa học - xã hội,
năm 2010, tr.13
Trang 15Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
1.2.1.5 Đặc điểm được thể chế hóa thành pháp luật
Để thực hiện quyền con người ở nghĩa tự nhiên cần phải thể chế hóa các quyền đó thành các quyền pháp lý Với tư cách là một giá trị tư tưởng trừu tượng, một thực tiễn hiện thực, quyền con người được thể chế hóa, được ghi nhận, bảo đảm và bảo
vệ bằng pháp luật và từ đó được thực hiện trong thực tiễn hiện thực ở những phương diện và mức độ khác nhau Có thể nhận thấy ở việc ghi nhận các quyền con người tại những điều khoản nêu trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - xã hội, văn hóa năm 1966, Hiến pháp của các quốc gia Tất cả đều nhằm mục tiêu bảo vệ các quyền vốn có của con người, đảm bảo các quyền được thực hiện bởi hệ thống các quy phạm pháp luật quốc tế, khu vực và từng quốc gia Đặc điểm này nói lên tính pháp quyền của quyền con người
Việc thể chế hóa quyền con người thành pháp luật được tiến hành ở những phương diện khác nhau Đó là: thể chế hóa quyền con người thành các quyền pháp lý nội dung, (các chuẩn mực pháp lý về các quyền), chẳng hạn như quyền sống, quyền tự
do kinh doanh, quyền tự do đi lại…; thể chế hóa quyền con người thành các cơ chế pháp lý để đảm bảo, thực hiện và bảo vệ các quyền con người; thể chế hóa thành pháp luật các hành vi bị coi là các hành vi xâm phạm các quyền con người và trách nhiệm pháp lý đối với việc thực hiện những hành vi xâm phạm quyền con người
1.2.2 Tính đặc thù của quyền con người
1.2.2.1 Đặc điểm đặc thù về mặt lịch sử cụ thể của quyền con người
Quyền con người, xét ở phương diện giá trị trừu tượng lẫn ở phương diện giá trị hiện thực, ở phương diện tự nhiên lẫn ở phương diện pháp lý là một trong những hiện tượng xã hội gắn liền với quá trình phát triển của xã hội loài người nói chung, của từng xã hội khu vực và của từng xã hội quốc gia Quá trình này nhìn một cách tổng thể trải qua các giai đoạn khác nhau theo logic phát triển là đi từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Ở mỗi giai đoạn phát triển có những đặc điểm riêng do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức, truyền thống, lịch sử thế giới, khu vực quốc gia, dân tộc quy định Chính những đặc điểm riêng đó quy định tính đặc thù khái quát nhất của quyền con người Điều đó có nghĩa rằng ở mỗi giai đoạn phát triển, xét ở cả mức độ toàn thế giới, ở mức độ khu vực và ở mức độ quốc
Trang 16Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
gia, ngoài những đặc điểm phổ biến quyền con người còn có những biểu hiện đặc thù9
Giai đoạn trước thế kỷ XIX quyền con người chỉ được ghi nhận trong giới hạn của một
số quốc gia như Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 hay Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1776 Tuy nhiên, cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới tình hình trên thế giới đã có nhiều thay đổi, Liên Hợp Quốc ra đời và đặc biệt chú trọng tới vấn đề nhân quyền khi trong Hiến chương Liên Hợp Quốc nhấn mạnh việc tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền và tự
do cơ bản của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo Từ đó cho thấy vấn đề nhân quyền đã thực sự trở thành mối quan tâm quốc tế rộng lớn
Có thể nói đây là biểu hiện đặc thù của từng giai đoạn phát triển quyền con người Lịch sử phát triển quyền con người cho thấy rõ điều đó
1.2.2.2 Đặc điểm đặc thù trong thể chế hóa
Quyền con người có đặc điểm phổ biến là đặc điểm được thể chế hóa thành pháp luật, nhưng việc thể chế hóa quyền con người thành pháp luật ở mỗi giai đoạn phát triển của xã hội loài người (thế giới) của mỗi khu vực và mỗi quốc gia – dân tộc lại có những đặc thù riêng Đặc điểm đặc thù đó thể hiện ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, số lượng các quyền con người ở phương diện các quyền pháp lý
(quốc tế, khu vực, quốc gia) ở các giai đoạn phát triển khác nhau của thế giới, của từng khu vực, của từng quốc gia – dân tộc là không giống nhau và phát triển theo xu hướng ngày càng mở rộng các quyền đó, nhưng việc mở rộng lại không giống nhau
Ví dụ điển hình trong quá trình lập hiến của Việt Nam: Hiến pháp năm 1946
là bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam, sau Chương I quy định về chính thể thì Chương II quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân với 18 Điều (từ Điều 4 đến Điều 21), Hiến pháp năm 1959 nghĩa vụ và quyền lợi của công dân được quy định tại Chương III với 21 Điều (từ Điều 22 đến Điều 42), đến Hiến pháp năm 1980 nghĩa vụ
và quyền lợi của công dân được quy định tại Chương V với 29 Điều (từ Điều 53 đến Điều 81), Hiến pháp năm 1992 với những yêu cầu của thời kỳ hội nhập đã có những ghi nhận đáng kể hơn với 34 Điều cũng tại Chương V về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân Hiện tại, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần này dành cả Chương II với 37 Điều (từ Điều 15 đến Điều 52) để quy định về quyền con người, quyền và nghĩa
9 Võ Khánh Vinh - Quyền con người:Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, tập 1, Nxb Khoa học - xã hội,
năm 2010, tr.16.
Trang 17Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
vụ cơ bản của công dân Với bố cục và số lượng các Điều luật cho thấy Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần này đã tiếp tục quán triệt quan điểm “Bao nhiêu quyền hạn đều là của dân” Theo đó, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 quy định nhiều Điều mới, như: Điều 16; Điều 21; Điều 44; Điều 45; Điều 46 Ngoài ra, các Điều còn lại cũng được sửa đổi, bổ sung Tuy vậy, từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm
1959, Hiến pháp năm 1980 cho đến Hiến pháp năm 1992 không ghi hẳn là quyền con người mà chỉ nêu là quyền công dân, mãi đến Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 mới lần đầu tiên ghi nhận cụm từ “quyền con người” Đó mới là sự nhìn nhận đúng đắn vì thực ra quyền công dân là một bộ phận của quyền con người Tất cả nội dung này cho thấy Nhà nước đặc biệt quan tâm đến quyền con người, các quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân và đưa nó thành những nguyên tắc Hiến định
Thứ hai, mức độ, trạng thái, chất lượng, hiệu quả bảo đảm, thúc đẩy, thực
hiện và bảo vệ quyền con người (quốc tế, khu vực, quốc gia) ở các giai đoạn phát triển khác nhau của thế giới, của từng khu vực, của từng quốc gia là khác nhau
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Hội Quốc Liên đã ban hành quy chế hoạt động, trong đó quy định các nước thành viên có trách nhiệm bảo đảm quyền bình đẳng và nhân đạo về điều kiện lao động cho tất cả nam nữ và trẻ em là công nhân của mình, đồng thời cố gắng thực hiện và hợp tác quốc tế về tôn trọng và bảo đảm các quyền cơ bản và tự do cá nhân Tuy nhiên, hoàn cảnh quốc tế trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX chưa tạo ra cơ hội cho sự hợp tác quốc tế này Trong chiến tranh thế giới thứ hai, do tính cấp bách của tình hình thế giới trước sự xâm phạm thô bạo quyền con người của chủ nghĩa phát xít, đã xuất hiện tư tưởng về sự cần thiết hợp tác quốc tế trong việc tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người Vì thế, ngay từ trong quá trình chuẩn bị cho sự ra đời của Liên Hợp Quốc, 24 quốc gia trong trạng thái chiến tranh với Đức cùng 21 quốc gia khác đã cùng ký vào bản “Tuyên bố” vào ngày 01 tháng 01 năm 1942, trong đó thể hiện niềm tin rằng thắng lợi cuối cùng trước chủ nghĩa phát xít là điều kiện cần thiết cho việc bảo vệ cuộc sống, tự do, độc lập, cho việc bảo vệ quyền con người và quyền bình đẳng ở tất cả các nước10
Thứ ba, tình hình vi phạm quyền con người (quốc tế, khu vực, quốc gia) ở
các giai đoạn phát triển khác nhau của thế giới, của từng khu vực, của từng quốc gia là khác nhau
10Trần Văn Thắng - Hợp tác quốc tế bảo vệ quyền con người trong thế giới ngày nay - Trong “Quyền con người: tiếp cận đa ngành và liên ngành, tập 1, Nxb Khoa học - xã hội, năm 2010, tr.112
Trang 18Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Trên thế giới, trong các triều đại phong kiến, nhiều người bị coi là nô lệ cho các tầng lớp vua chúa, họ bị chế độ vi phạm nghiêm trọng nhân quyền, bị hạn chế
về các quyền chính trị, tự do ngôn luận, tự do về văn hóa Họ sống trong sự nô dịch dưới chính sách cai trị bất bình đẳng của tầng lớp thống trị Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, dưới sự can thiệp của Liên Hợp Quốc về nhân quyền và sự ý thức của nhiều quốc gia, những chính sách hà khắc vi phạm nhân quyền của các chế độ trước không còn tồn tại Mặc dù vậy, ở giai đoạn khác nhau thì sẽ có những vi phạm về nhân quyền khác nhau Hiện nay, một số quyền con người vẫn bị vi phạm như quyền được sống trong môi trường an toàn, trong lành bị vi phạm quá nhiều do sự phát triển nhanh chống của khoa học – kĩ thuật, những công nghệ tiên tiến Hằng ngày, con người phải hứng chịu một khối lượng lớn các chất thải từ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ
1.2.3 Mối quan hệ biện chứng giữa tính phổ biến và tính đặc thù của
quyền con người
Tính phổ biến của quyền con người được hiểu là những đặc tính, đặc điểm, những mặt chung của quyền con người ở mọi lúc, mọi nơi của quyền con người, được lặp lại trong quyền con người ở phạm vi quốc tế, ở từng khu vực, ở từng quốc gia khác nhau
Tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau Điều đó thể hiện ở chỗ:
Tính phổ biến của quyền con người chỉ tồn tại trong tính đặc thù của quyền con người, thông qua tính đặc thù của quyền con người mà biểu hiện sự tồn tại của mình, nghĩa là không có tính phổ biến thuần túy của quyền con người tồn tại bên ngoài tính đặc thù của quyền con người Chẳng hạn, không có các quyền con người nói chung tồn tại bên cạnh quyền được sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể
Tính đặc thù của quyền con người chỉ tồn tại trong mối liên hệ với tính phổ biến của quyền con người Nghĩa là không có đặc điểm đặc thù nào của quyền con người tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với tính phổ biến của quyền con người Ví dụ: Mỗi quyền con người là một biểu hiện của tính đặc thù của quyền con người, nhưng mỗi quyền con người không thể tồn tại ngoài mối liên hệ với các quyền con người, bởi vì các quyền con người là các quyền không thể chia cắt, không thể tách biệt một cách cơ học11
11
Võ Khánh Vinh - Quyền con người: tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, tập 1, Nxb Khoa học - xã hội,
năm 2010, tr.18
Trang 19Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
1.3 Lịch sử hình thành và sự phát triển quyền con người
1.3.1 Sự hình thành và phát triển của tư tưởng về quyền con người
Khát vọng bảo vệ nhân phẩm của tất cả con người là cốt lõi của khái niệm quyền con người Nó coi cá nhân con người là trọng tâm của sự quan tâm Nó dựa trên một hệ thống giá trị toàn cầu phổ biến nhằm hướng đến những giá trị cao quý của cuộc sống và tạo ra một khuôn khổ để xây dựng hệ thống quyền con người, được các quy phạm và tiêu chuẩn quốc tế bảo vệ Ý tưởng về nhân phẩm con người đã có từ thời xa xưa trong lịch sử nhân loại, dưới các hình thức khác nhau, trong tất cả các nền văn hóa
và tôn giáo Quyền con người gắn liền với lịch sử loài người Đó là sản phẩm của những điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội nhất định và chịu sự chi phối của các cơ sở kinh tế - xã hội đó Tuy nhiên, do tính độc lập tương đối của tư tưởng, quan niệm về quyền con người còn phụ thuộc một phần quan trọng vào sự phát triển của tư duy về
xã hội nói chung, đặc biệt là tư duy triết học, chính trị của mỗi thời đại nói riêng
Sự xuất hiện các nhà nước chiếm hữu nô lệ, với mâu thuẫn giai cấp giữa chủ nô và nô lệ cùng những mâu thuẫn khác trong xã hội là cơ sở để hình thành những
tư tưởng và yêu sách về quyền con người; mục đích là khẳng định nhân phẩm, địa vị của người lao động, quyền bình đẳng tự nhiên, quyền được bảo vệ và quyền được tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội Những tư tưởng ban đầu về quyền con người mang tính chất phê phán đối với tình trạng bất công xã hội, phản ánh những nấc thang ban đầu trong tư duy nhân loại về phẩm giá con người Những tư tưởng này được thể hiện trong nhiều lĩnh vực: triết học, tôn giáo, pháp luật
Ở Trung Quốc, Mặc Tử (478 - 392 TCN) là một trong những nhà triết học
có nhiều quan điểm đặc sắc về quyền con người Đó là những quan niệm về quyền tự nhiên của con người, quyền của nhân dân tham gia công việc quản lý nhà nước, quyền được đứng lên chống lại sự áp bức, bất công Ông đề cao những giá trị tự do và bình đẳng tự nhiên của con người, coi nguồn gốc của nhà nước phát sinh từ sự thõa thuận
xã hội
Sau thời kì Phục hưng, luật tự nhiên đã được gắn liền với quyền tự nhiên Những đại biểu cho những tư tưởng tiến bộ về quyền con người trong giai đoạn này có thể kể đến: Hugo Grotius, Thomas Hobbes, Rene Descartes, Leibniz, Spinoza, John Locke
Đầu thế kỷ XVII, nhà tư tưởng người Hà Lan Hugo Grotius(1583 - 1645) một trong những nhà lý luận sáng lập ra học thuyết về quyền tự nhiên, đã xem xét
Trang 20Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
nguồn gốc và bản chất nhà nước và pháp luật từ lý trí con người chứ không phải từ tôn giáo và kinh thánh Theo Grotius, luật tự nhiên và luật thực định cùng song song tồn tại Luật tự nhiên xuất phát từ bản tính, nhu cầu, lợi ích và từ lý trí của con người, đó
là hình thức pháp lý đặc biệt không phải được quy định từ phía nhà nước Còn pháp luật thực định do nhà nước đặt ra phải phù hợp với những đòi hỏi của luật tự nhiên Khái niệm luật tự nhiên của Grotius là cơ sở để đề xuất các quyền tự nhiên của con người, các quyền này có nguồn gốc từ các quy luật vĩnh viễn của tự nhiên, là hiện thân của lẽ phải và công lý, nó tồn tại bẩm sinh và bất khả xâm phạm12
Những tư tưởng về quyền tự nhiên được tiếp tục phát triển bởi nhà triết học Baruch Spinoza (1632 - 1677) Trong quan niệm của ông, con người có các quyền tự nhiên bất khả xâm phạm về tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận; các quyền này có trước khi nhà nước xuất hiện và độc lập với sự tồn tại của nhà nước
Phải đến John Locke (1632 - 1704) thì lý luận về quyền con người mới được phát triển một cách toàn diện và đầy đủ Locke cho rằng, trong trạng thái tự nhiên, con người có các quyền: tự do, bình đẳng và tư hữu Đó là các quyền bẩm sinh phù hợp với bản chất lâu đời và bất biến của con người và không ai có thể thay đổi được13
Những tư tưởng về quyền tự do, quyền bình đẳng của con người của các nhà
tư tưởng giai đoạn này phù hợp với quá trình hình thành và phát triển nhà nước pháp quyền, nên về sau này đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (1789) và được sử dụng trong soạn thảo Hiến pháp (1791) của Cách mạng Pháp
Sự hưng thịnh những tư tưởng và học thuyết về quyền con người không chỉ
có ở Châu Âu, mà còn được truyền bá sang những thuộc địa của Anh ở Bắc Mĩ Nỗi bậc nhất trong lịch sử đấu tranh giải phóng của nhân dân Mỹ là nhà tư tưởng và hoạt động chính trị lỗi lạc Thomas Jefferson (1743 - 1826), tác giả của văn kiện cách mạng
vĩ đại nhất thời bấy giờ là Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 Những tư tưởng của Jefferson được thể hiện rõ trong Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776: “Chúng tôi tin rằng những chân lý này là hiển nhiên, rằng tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa cho họ những quyền không
Trang 21Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
ai có thể xâm phạm được; Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và
Như vậy, bằng việc tuyên bố các quyền tự do, bình đẳng và quyền khởi nghĩa của nhân dân như những quyền tự nhiên không thể bị tước đoạt của con người, Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã góp phần xác lập một cách vững chắc những nguyên tắc cơ bản của quyền con người, đó là quyền của cá nhân phải được bảo vệ trước quyền lực chính trị và chủ quyền của nhân dân chính là nền tảng cho mọi hoạt động của nhà nước
Cùng với Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp (1789), Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776) có vị trí xứng đáng trong lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do và những quyền tự nhiên không thể tước đoạt của con người
1.3.2 Quá trình ghi nhận của pháp luật quốc tế về quyền con người
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa
đế quốc và từ bỏ ngọn cờ dân chủ, tự do và nhân quyền Sau sự thảm khóc và tàn phá của hai cuộc chiến tranh thế giới, các nước đồng minh chống phát xít và nhiều quốc gia trên thế giới nhận thấy sự cần thiết và phải thành lập một tổ chức quốc tế rộng lớn nhằm phòng ngừa cho những thế hệ trong tương lai khỏi thảm họa chiến tranh, bảo
đảm quyền con người có được sự thừa nhận và bảo vệ trên bình diện quốc tế Ngày
24/10/1945 Liên Hợp Quốc ra đời và thông qua Hiến chương Liên Hợp Quốc Hiến
chương đã yêu cầu tất cả các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc phải cam kết bằng hành động chung hoặc riêng trong sự nghiệp hợp tác với Liên Hợp Quốc để thúc đẩy
sự tiến bộ xã hội, tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền và tự do cơ bản của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo
Vấn đề nhân quyền đã thực sự trở thành mối quan tâm quốc tế rộng lớn
Tháng 12 năm 1948 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền ra đời xác định khá toàn
diện các quyền và tự do cơ bản của con người Từ năm 1948 đến năm 1965 Liên Hợp Quốc đã thông qua 14 Hiệp ước và Nghị định thư về nhân quyền Năm 1966, hai Công ước quốc tế quan trọng nhất về các quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa được thông qua tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc Cho đến nay, Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế đã thông qua một khối lượng lớn các văn bản pháp lý về
14Trích Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776: “We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness”
Trang 22Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
nhân quyền Điều này chứng tỏ rằng hầu hết các nước trên thế giới đã sẵn sàng đẩy mạnh việc thực hiện quyền con người và xem đó là đòi hỏi phổ biến của mọi nhà nước
và mọi dân tộc trong thời đại ngày nay Liên Hợp Quốc kêu gọi cộng đồng quốc tế cần ủng hộ việc tăng cường và đề cao dân chủ, phát triển và tôn trọng các quyền con người
và các tự do cơ bản trên toàn thế giới Quyền con người đã có một sự phát triển lịch sử lâu dài và ngày nay đang được sự quan tâm sâu sắc của cộng đồng quốc tế Mỗi bước tiến bộ của lịch sử, quyền con người đều xuất hiện như là thành quả của văn hóa và văn minh, của đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội Nó phản ánh quá trình nhân loại đấu tranh tự giải phóng mình khỏi tình trạng nô dịch, bóc lột và phụ thuộc, vươn tới cuộc sống xứng đáng hơn với danh dự về phẩm giá con người Chính vì vậy, K.Marx
đã nhận xét: “Quyền con người với tư cách là hiện thân của tự do”15 Tự do ở đây mang ý nghĩa là ý thức và hành động, nhờ đó con người từng bước khắc phục được
tình trạng tha hóa, thực hiện sự phát triển toàn diện con người
1.4 Vai trò của Hiến pháp trong vấn đề ghi nhận quyền con người
Lịch sử phát triển của chủ nghĩa lập hiến và lịch sử phát triển của học thuyết
Nhà nước pháp quyền cho thấy sự phát triển gắn bó hữu cơ giữa Hiến pháp và Nhà nước pháp quyền Hiến pháp là bản văn ghi nhận ý chí của nhân dân, xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất sự lựa chọn chính trị của nhân dân Chính vì lẽ
đó mà Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất, bên cạnh việc quy định các vấn đề cơ bản nhất như chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước thì Hiến pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Hiến pháp với vai trò là đạo luật đi đầu trong vấn đề thừa nhận chính thức các quyền con người, ví như 10 tu chính án Hiến pháp 1789 của Hợp Chủng Quốc Hoa
Kỳ hay Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp được Hội đồng bảo hiến xem như có giá trị Hiến pháp Việt Nam ngay từ Hiến pháp đầu tiên 1946 cũng là văn bản pháp lý cao nhất đầu tiên ghi nhận những quyền cơ bản của con người Nhìn chung tất
cả đều hướng đến việc thừa nhận những quyền cơ bản của mọi người để mọi người sống không phải lo sợ sự xâm phạm hay những tác động tiêu cực của xã hội
Nếu xem xét một cách cụ thể thì Hiến pháp chỉ ghi nhận những quyền cơ bản nhất của con người, những quyền gắn bó mật thiết và có tác động lớn đến đời sống
15
C.Mác và Ăngghen Toàn tập, t.1 Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, tr.183
Trang 23Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
của con người như quyền bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân vì đây
là các cơ quan đại diện và thay mặt nói lên những nhu cầu, nguyện vọng của toàn thể nhân dân, quyền về văn hóa hay tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo đều là những quyền gắn bó và không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con người, đó là những giá trị truyền thống hình thành và phát triển qua nhiều thế hệ
Ngoài ra, việc Hiến pháp ghi nhận quyền con người đã cho thấy một thay đổi rất lớn trong tư tưởng của các nhà làm luật kể cả những người đứng đầu Nhà nước
Vì quyền con người không chỉ cần quan tâm đơn thuần mà phải có một cơ chế hợp lý
để bảo đảm được thực hiện một cách rộng rãi trên thực tế Chính vì vậy, các quyền con người được Hiến pháp ghi nhận là một điều tất yếu và cần thiết Điều này cho thấy việc thừa nhận và bảo vệ quyền con người đã thực sự trở thành một mối quan tâm rộng lớn không chỉ ở cấp độ quốc tế, khu vực mà còn ở quốc gia
Bên cạnh đó, giá trị pháp lý tối cao của Hiến pháp cũng là thay cho sự cam kết của quốc gia trong việc đảm bảo thực thi quyền con người mà quốc gia đã thừa nhận cũng là một căn cứ đầy thuyết phục, tạo lòng tin cho mọi người dân Quốc gia thể hiện sự tôn trọng các quyền con người thông qua quá trình đưa nó trở thành một nội dung trong Hiến pháp, góp phần ngăn chặn tối đa sự xâm phạm đến các quyền trong thực tiễn cuộc sống
Qua đó đã tạo ra một tiền đề cho cả một hệ thống pháp luật đằng sau Hiến pháp, làm cơ sở trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan được
cụ thể hơn, hoàn thiện hơn Vì suy cho cùng tất cả các văn bản quy phạm pháp luật được hình thành cũng đều dựa trên cơ sở văn bản tối cao là Hiến pháp, quy định của các văn bản đều không được trái với Hiến pháp
1.5 Sự ghi nhận quyền con người trong lịch sử lập hiến Việt Nam
1.5.1 Hiến pháp năm 1946
Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp đầu tiên cụ thể hóa các quyền con người,
nội dung của Hiến pháp được xuyên suốt bởi quan điểm đã được ghi ở Điều 1: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn
người được đạo luật cơ bản ghi nhận và bảo đảm
16 Điều 1 Hiến pháp Việt Nam năm 1946
Trang 24Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Cũng lần đầu tiên người dân lao động Việt Nam được xác nhận có tư cách công dân của một nước độc lập có chủ quyền Ba nguyên tắc xây dựng Hiến pháp năm
1946 là đoàn kết toàn dân, đảm bảo các quyền tự do dân chủ và thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân Trong số 7 Chương thì Chương về “nghĩa vụ và quyền lợi của công dân” được xếp thứ 2, gồm 18 Điều Trong đó có 16 Điều trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam Hiến pháp đặt nghĩa vụ trước quyền lợi Chương II quy định các quyền tự do dân chủ của công dân trong các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội và tự do cá nhân Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật được ghi nhận trong đạo luật của
Nhà nước cụ thể tại Điều 7: “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình” 17 Nội dung tiến bộ, dân chủ và nhân đạo của Hiến pháp năm 1946
còn được thể hiện ở những quy định về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của công dân như quyền học tập (Điều 15), quyền được Nhà nước ưu tiên chăm sóc giúp đỡ của công dân thuộc dân tộc thiểu số (Điều 8), của công dân già cả, tàn tật, trẻ em (Điều 14), của giới cần lao trí thức và chân tay (Điều 13) hay các quyền về dân sự, chính trị như quyền tự do ngôn luận, tự do tổ chức và hội họp, tự do cư trú, đi lại trong nước và
ra nước ngoài (Điều 10), quyền bất khả xâm phạm về nhà ở và thư tín (Điều 11)
Như vậy, với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Hiến pháp năm 1946, địa vị pháp lý của người dân nước ta đã có sự thay đổi căn bản Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, Hiến pháp đã trang trọng ghi nhận quyền con người, quyền công dân – một trong những nội dung cơ bản nhất của Hiến pháp18
1.5.2 Hiến pháp năm 1959
Kế thừa và phát triển những quy định của Hiến pháp năm 1946 về các quyền cơ bản của công dân và những bảo đảm của Nhà nước cho các quyền ấy, Hiến pháp năm 1959 đã có bước tiến mới trong việc ghi nhận quyền con người và xác lập quyền cơ bản của công dân và những bảo đảm pháp lý cho chúng Nếu Hiến pháp năm
1946 chỉ quy định những quyền cơ bản của công dân trong bốn lĩnh vực chính trị, dân
sự, văn hóa, xã hội thì Hiến pháp năm 1959 dành 5 Điều (các Điều 11, 14, 16, 30) quy
định 7 quyền mới của công dân về kinh tế Cụ thể ở điều 30: “ Công dân nước Việt
17 Điều 7 Hiến pháp Việt Nam năm 1946
18Nguyễn Đình Thơ - Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát triển ,
http://www.moj.gov.vn/hienphap1992/News/Lists/giaidapthacmac/View_Detail.aspx?ItemID=5209, [truy cập ngày 21/10/2013]
Trang 25Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Nam dân chủ cộng hoà có quyền làm việc Nhà nước dựa vào sự phát triển có kế hoạch của nền kinh tế quốc dân, dần dần mở rộng công việc làm, cải thiện điều kiện
Trong lĩnh vực chính trị, Hiến pháp năm 1959 quy định 5 quyền cơ bản của công dân tại các Điều 5, Điều 23, Điều 29 (trong đó có hai quyền mới là quyền khiếu
nại và tố cáo), cụ thể Điều 29 ghi nhận: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét
và giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp luật của nhân viên
Với những quy định tiến bộ về quyền cơ bản của công dân thì Hiến pháp năm 1959 đã một lần nữa khẳng định tư tưởng xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là luôn đặt vấn đề bảo vệ các quyền con người lên hàng đầu, là một mục tiêu quan trọng trong suốt quá trình lập hiến của mình
1.5.3 Hiến pháp năm 1980
Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Hiến pháp năm 1946, địa vị pháp lý của người dân nước ta đã có sự thay đổi căn bản Trước Cách mạng tháng Tám, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến Về mặt chính trị cũng như pháp lý, người Việt Nam lúc đó không được gọi là công dân Xét về phương diện lịch sử, nếu quyền con người, quyền công dân ở các nước tư bản ra đời gắn liền với cuộc cách mạng tư sản xoá bỏ chế độ thần dân phong kiến, thì ở nước ta quyền làm người, quyền công dân gắn liền với cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc, xoá bỏ chế độ thực dân lẫn xã hội thần dân Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, Hiến pháp đã trang trọng ghi nhận quyền con người, quyền công dân – một trong những nội dung cơ bản nhất của Hiến pháp Như vậy là ở Việt Nam, địa vị pháp lý của công dân được xác lập gắn liền với việc dân tộc giành được độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Thấm nhuần tư tưởng nhân quyền của chủ tịch Hồ Chí Minh, Hiến pháp năm 1980 tiếp tục việc đề cao các quyền con người, quyền công dân
Lần đầu tiên, Hiến pháp năm 1980 dành một Điều riêng (Điều 65) quy định
quyền của trẻ em trong đó quy định rõ Nhà nước và xã hội chú trọng bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, mở rộng dần việc đảm nhiệm nuôi dạy trẻ em, làm
19 Điều 30 Hiến pháp Việt Nam năm 1959
20 Điều 29 Hiến pháp Việt Nam năm 1959
Trang 26Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
cho sinh hoạt, học tập và trưởng thành của trẻ em được bảo đảm và quyền mới về kinh
tế, văn hóa, xã hội tại Điều 61: “công dân có quyền được bảo vệ sức khỏe”
Ngoài ra, Hiến pháp năm 1980 ghi rõ: “Công dân có quyền có nhà ở” 21 Trước Hiến pháp năm 1980, chưa có quy định nào trong các bản Hiến pháp năm 1946
và Hiến pháp năm 1959 quy định về vấn đề này Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 chỉ quy định quyền bất khả xâm phạm về nhà ở Với quy định này, Nhà nước ta thể hiện sự quan tâm sâu sắc tới một trong những vấn đề xã hội bức xúc nhất của người dân là nhà ở
Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 1980, đối với quyền bình đẳng nam, nữ (Điều 63), Hiến pháp bổ sung bốn điểm mới: một là, Nhà nước và xã hội có nghĩa vụ chăm
lo nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ
để phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội; hai là, Nhà nước cần hoạch định chính sách lao động phù hợp với điều kiện của phụ nữ; ba là, xã viên hợp tác xã cũng được hưởng phụ cấp sinh đẻ; bốn là, Nhà nước và xã hội phải chăm lo phát triển các nhà hộ
sinh, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, các nhà ăn công cộng và những cơ sở phúc lợi khác
Từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp 1980, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính quyền của ai, phục vụ ai xuyên suốt toàn bộ nội dung Các bản Hiến pháp đều khẳng định nguyên tắc: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, xác định bản chất Nhà nước là Nhà nước của dân, do dân và vì dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức22
1.5.4 Hiến pháp năm 1992
Với những đòi hỏi trong quá trình đổi mới nhằm đưa đất nước Việt Nam
ngày một tiến xa trên con đường hội nhập và phát triển toàn diện hơn thì yêu cầu đối với Hiến pháp cũng phải là một Hiến pháp đổi mới, sao cho phù hợp Đáp ứng nhu cầu
đó, Hiến pháp năm 1992 đã ra đời cùng những đổi mới và có sự kế thừa, sửa đổi, bổ
sung Hiến pháp năm 1980
Về hình thức thể hiện, các quyền và nghĩa vụ ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 với kỹ thuật lập pháp chuẩn xác hơn Lần đầu tiên thừa nhận thuật ngữ
“quyền con người” trong Hiến pháp, tại điều 50 đã khẳng định: “Ở nước cộng hòa xã
21 Điều 62 Hiến pháp Việt Nam năm 1980
22 Nguyễn Đình Thơ -Quyền công dân trong Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát triển,
http://www.moj.gov.vn/hienphap1992/News/Lists/giaidapthacmac/View_Detail.aspx?ItemID=5209, [truy cập ngày 21/10/2013]
Trang 27Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và
xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến
bổ sung : “Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” Việc bổ sung này là cần thiết nhằm phòng ngừa và chống lại những hành vi
phân biệt đối xử với phụ nữ, đánh đập, hành hạ, mua bán phụ nữ, sử dụng phụ nữ như
là một công cụ để làm giàu phi pháp
Hiến pháp năm 1980 ghi rõ: “Công dân có quyền có nhà ở” (Điều 62)
Trước Hiến pháp năm 1980, chưa có quy định nào trong các bản Hiến pháp năm 1946
và Hiến pháp năm 1959 quy định về vấn đề này Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 chỉ quy định quyền bất khả xâm phạm về nhà ở Tới Hiến pháp năm 1992
thì quyền này được sửa lại thành ba quyền mới tại Điều 62 là: quyền được xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật, quyền được pháp luật bảo hộ của người có nhà
Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 1992 bổ sung thiết chế gia đình vào các thiết
chế khác (Nhà nước và xã hội) cùng có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em
và thanh niên Điều đó khẳng định vị trí, vai trò ngày càng tăng của gia đình với tư cách là tế bào của xã hội, cái nôi đầu tiên của con người, đồng thời nhắc nhở mọi người hãy quan tâm xây dựng, củng cố gia đình để trẻ em, thanh niên được chăm sóc, giáo dục tốt hơn vì tương lai của đất nước, vì hạnh phúc của mọi nhà25
Ngoài ra, tại
Điều 57 Hiến pháp năm 1992 còn ghi nhận quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội mới đó là quyền được tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật
Tiếp tục phát huy và khẳng định nguyên tắc: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, xác định bản chất Nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân
mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức” và
đề cao giá trị quyền con người từ trong Hiến pháp Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa
X đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp 1992
bằng việc tiếp tục cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
23 Điều 50 Hiến pháp Việt Nam năm 1992.
24 Điều 62 Hiến pháp Việt Nam năm 1992
25 Nguyễn Đình Thơ -Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát triển ,
http://www.moj.gov.vn/hienphap1992/News/Lists/giaidapthacmac/View_Detail.aspx?ItemID=5209, [truy cập ngày 21/10/2013].
Trang 28Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Suy cho cùng thì bốn bản Hiến pháp đều luôn coi trọng việc bảo vệ các quyền con người – một giá trị bất biến mà luật pháp quốc tế đã ghi nhận từ rất sớm Nhà nước Việt Nam cũng bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của tổ quốc và nhân dân, thông qua đó kế thừa có chọn lọc và phát triển những giá trị tinh hoa của nhân loại, xem nhân quyền là sản phẩm chung của tất cả mọi người chứ không phải riêng một ai
1.6 Sự ghi nhận quyền con người trong Hiến pháp của một số quốc gia 1.6.1 Hiến pháp nước Anh
Nước Anh không có Hiến pháp thành văn Hiến pháp Anh thực chất là sự tập hợp các văn kiện về quyền con người được hình thành dần dần trong lịch sử nước Anh, đặc biệt là Đại Hiến chương Magna Carta năm 1215 và Đạo luật về các quyền năm 1689
Bản Đại Hiến chương Magna Carta của Anh ngày 15 tháng 6 năm 1215, kết quả của những nổ lực của các vị nam tước người Anh buộc vua John phải kí Đại Hiến chương, thừa nhận các quyền vốn có từ xưa của họ mà nhà vua không được xâm phạm, không những là một cấu phần trọng yếu đầu tiên của Hiến pháp Anh mà còn được xem như nguồn gốc của Hiến pháp tự do hiện đại Theo Anson, Đại Hiến chương vừa là Luật Hiến pháp vừa là Tuyên ngôn về các quyền, vừa là thõa thuận giữa vương triều và nhân dân Hiến chương đã ghi nhận một số quyền con người như: quyền sở hữu, thừa kế, quyền tự do buôn bán, quyền không bị đánh thuế quá mức, quyền được xét xử đúng đắn và bình đẳng trước pháp luật Ngoài ra, Hiến chương còn quy định về việc kiểm soát quyền lực nhà nước, ngăn chặn không cho các cơ quan nhà nước xâm phạm quyền hợp pháp của công dân Chỉ đến những thế kỷ sau, vào thế kỷ XVII, thông qua cuộc đấu tranh giữa Nghị viện Anh và sự độc tài của dòng họ Stuarts, Đại Hiến chương Magna Carta mới trở thành tiền thân của Hiến pháp tự do và được định nghĩa theo nghĩa hiện đại
Bên cạnh Đại Hiến chương Magna Carta, phải nói đến Bản Tuyên ngôn về các quyền mà Viện nguyên lão và Viện dân biểu đã đệ đơn lên Hoàng tử Orange năm
1688 và sau đó được ban hành dưới hình thức một Đạo luật về các quyền
Từ Đại Hiến chương 1215 cho đến Luật về các quyền 1689, các luật về quyền con người của Anh dần dần trở thành Hiến pháp Anh Mặc dù các đạo luật này không chứa đựng các quy tắc cụ thể về cấu trúc quyền lực, nhưng điều đó không có
Trang 29Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
nghĩa nó không phải là luật cơ bản cho chính quyền Các quyền con người mà nó bảo đảm chính là một giới hạn đối với chính quyền Tôn trọng các quyền con người đó chính là các nguyên tắc của việc điều hành một chính quyền dân chủ tự do, và hợp hiến26
1.6.2 Hiến pháp nước Mỹ
Trong khi ở Anh, các đạo luật về quyền con người trở thành Hiến pháp mặc
dù không có các quy định về cấu trúc chính quyền thì ở Mỹ bản Hiến pháp 1787 lại được coi là một đạo luật về các quyền con người mặc dù chỉ quy định về cấu trúc chính quyền mà không kê khai các quyền con người Cho rằng bản thân Hiến pháp chính là một đạo luật về các quyền con người
Hamilton viết: “Bản Hiến pháp đã được dự thảo, nếu được chấp thuận, sẽ trở thành đạo luật về các quyền của Hợp chủng quốc” Thực vậy, nếu không chỉ nhìn vào bề nổi của Hiến pháp với các quy phạm về cách thức tổ chức và điều hành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, mà còn nhìn sâu vào ý nghĩa thực sự đằng sau các quy phạm đó, mục đích thực sự của quy phạm đó người ta có thể nhận thấy Hiến pháp không giản đơn chỉ là một bản mô tả các công quyền mà còn là một đạo luật về nhân quyền Ý nghĩa thực sự và mục đích thực sự của Hiến pháp được chỉ rõ trong lời
nói đầu của Hiến pháp Mỹ: “Chúng tôi, nhân dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, với mục đích xây dựng một liên bang hoàn hảo hơn, thiết lập công lý, bảo đảm an ninh trong nước, tạo dựng phòng thủ chung, thúc đẩy sự thịnh vượng trong toàn khối, giữ vững nền tự do cho bản thân và con cháu của chúng ta, quyết định xây dựng bản Hiến pháp
Như vậy, người ta có thể nhận thấy mục đích của Hiến pháp là bảo vệ các quyền tự do Toàn bộ các quy định của Hiến pháp về Quốc hội, Tổng thống, Tòa án không nằm ngoài mục đích bảo vệ các quyền tự do của con người
Tuy nhiên, phe chống liên bang không tin vào việc Hiến pháp đã giới hạn chính quyền một cách chặt chẽ đến mức chính quyền đó không vi phạm quyền con người Chính vì vậy, minh định cụ thể các quyền con người trong Hiến pháp là điều cần thiết Những nổ lực của phe chống liên bang đã dẫn đến việc ra đời 10 tu chính án Hiến pháp năm 1789 10 tu chính án này chính là Luật về các quyền của người Mỹ
Trong đó quyền con người được ghi nhận điển hình tại Điều 1: “Quốc hội Mỹ sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng,
Trang 30Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình” hay Điều 9: “Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân”
đã từng là trụ sở của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc Ông René Cassin, một luật sư nổi tiếng của Pháp, cựu thành viên của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc, giải Nobel Hòa bình, là một trong những người soạn thảo tuyên ngôn Kể từ đó, Pháp đã tham gia vào việc soạn thảo những học thuyết và những công cụ quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền Trên tinh thần hội nghị Vienne năm 1993, Pháp cho rằng phổ biến và bảo vệ tất
cả các quyền của con người là sự quan tâm chính đáng của cộng đồng quốc tế Bên cạnh đó, Pháp cũng rất lưu tâm đến vấn đề quyền dân sự, chính trị và quyền kinh tế, xã hội, văn hóa
Hiến pháp của nước Pháp hiện nay không có các quy định về quyền con người, nhưng tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp được Hội đồng bảo hiến coi như có giá trị Hiến pháp Cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 đã dẫn đến sự ra đời của “Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền” bất hủ Điều 1 Tuyên ngôn trịnh trọng
tuyên bố “người ta sinh ra đều tự do và bình đẳng về quyền lợi” Tuyên ngôn đã đưa
ra hai loại quyền, đó là quyền con người và quyền công dân Theo nội dung của tuyên ngôn, con người được xem xét ở hai khía cạnh: Một là, con người với nghĩa tự nhiên,
tự bản thân khi sinh ra đã có các quyền bất khả xâm phạm; Hai là, con người với nghĩa công dân – thành viên của cộng đồng xã hội, thuộc về một nhà nước, một xã hội nhất định28
28Bùi Ngọc Sơn - Quyền con người và Hiến pháp trong “Quyền con người: Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học”- tập 1, Nxb Khoa học - xã hội, năm 2010, tr.90
Trang 31Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUYỀN KINH TẾ, VĂN HÓA VÀ XÃ HỘI ĐƯỢC GHI NHẬN TRONG DỰ THẢO HIẾN PHÁP VIỆT NAM SỬA ĐỔI
2.1 Khái quát về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp Việt Nam năm 1992 và sự ghi nhận các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới
Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng chính trị - pháp lý phức tạp được hiểu và nhìn nhận dưới nhiều gốc độ khác nhau, song chúng ta có thể hiểu Nhà nước pháp quyền theo cách đơn giản, đó là nhà nước quản lý kinh tế, xã hội bằng pháp luật
và hoạt động tuân theo pháp luật29 Xây dựng nhà nước pháp quyền do vậy đòi hỏi phải có một bản Hiến pháp mang nội dung pháp quyền, dân chủ, bao quát về nguyên tắc hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó phải đặc biệt chú trọng đến quyền con người và cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền Hiến pháp cần xác định rõ ràng về trách nhiệm Nhà nước đối với quyền con người, cơ chế bảo vệ Hiến pháp, hiệu lực áp dụng trực tiếp của các nguyên tắc, tinh thần, quy tắc của Hiến pháp, làm sao cho chúng được viện dẫn, dẫn dắt ý thức, hành vi của con người trong thực tế Đây cũng là một trong những nhiệm vụ cơ bản của việc tạo lập một nền văn hóa pháp quyền, nhân quyền ở nước ta hiện nay30
Đối chiếu với các quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền con người thì
về mặt hình thức, ta thấy, chúng đã bao quát được tất cả các quyền quan trọng của con người đã được Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và quyền kinh tế, văn hóa và xã hội ghi nhận Tuy nhiên, cách thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 còn mang tính chất hình thức, chưa thể hiện sự coi trọng quyền con người thực sự với tính chất là quyền tự nhiên, vốn có của con người, còn mang tính chất ban phát theo kiểu xin - cho
Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần sửa đổi Hiến pháp năm 1992 sao cho phù hợp đồng thời đáp ứng nhu cầu thực tiễn đã đặt ra
Trang 32Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Thứ nhất, sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam về chế định quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo định hướng thể hiện rõ vị trí vấn
đề quyền con người trong Hiến pháp
Thứ hai, việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về chế định quyền con người và
quyền cơ bản của công dân là nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót, bất cập trong các quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền con người, quyền công dân
Thứ ba, việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về chế định quyền con người và
quyền cơ bản của công dân là nhằm ghi nhận, thể hiện quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng cầm quyền ở Việt Nam về quyền con người, quyền công dân31
Nếu trước đây Hiến pháp năm 1992 quy định “Chương V - Quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân” thì trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 ghi nhận “Chương
II - Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”
Như vậy, có thể thấy, việc chuyển vị trí từ Chương V lên Chương II của Dự thảo, ngay sau Chương I của Dự thảo (về chế độ chính trị) đã khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp và tư tưởng tôn trọng đối với các quyền này Dự thảo cũng đã sắp xếp lại các điều theo các nhóm quyền để bảo đảm tính thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân, bảo đảm tính khả thi hơn Trong đó, các quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa được ghi nhận từ Điều 33 đến Điều 46 như quyền sở hữu tư nhân (Điều 33), quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 35), quyền kết hôn và ly hôn (Điều 39), quyền hưởng thụ các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa, tiếp cận các giá trị văn hóa (Điều 44), quyền xác định dân tộc (Điều 45), quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 46)
2.2 Các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi
Quyền con người và phát triển con người không phải là vấn đề riêng của
một nhóm người, cộng đồng, dân tộc hay quốc gia nào đó, mà từ lâu, nó đã trở thành vấn đề chung của toàn nhân loại Chính vì vậy, các nước trên thế giới đã cùng nhau đưa ra những bản công ước quốc tế về quyền con người và phát triển con người Đối với Việt Nam, ngay từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt
31PGS.TS Phạm Hữu Nghị - Về định hướng sửa đổi, bổ sung các quy định của Hiến pháp 1992 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, được đăng trên Tạp chí số tháng
10 năm 2012.
Trang 33Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Nam đã khẳng định, phải tôn trọng và đảm bảo quyền con người Không chỉ thừa nhận
về mặt đường lối và chủ trương, nhiều chính sách về quyền con người đã được Nhà nước ban hành và thực thi có hiệu quả Sự có mặt của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm
1992 tiếp tục phát huy quan điểm của Đảng về sự ghi nhận các quyền con người mà điển hình là ghi nhận thêm các quyền mới đáng được lưu tâm
Trong nội dung này, người viết sẽ tập trung tìm hiểu những quyền của con
người về kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đồng thời là sự ghi nhận của pháp luật quốc tế cũng như những cơ chế
nhằm đảm bảo thực hiện các quyền đã nêu tại Việt Nam trong thời kì hội nhập
2.2.1 Quyền được hưởng an sinh xã hội
2.2.1.1 Sự ghi nhận của pháp luật quốc tế
Theo Công ước số 102 “Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã
hội” được hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế thông qua ngày 28 tháng 6 năm 1952, an sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội thực hiện đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại sự cùng quẫn về kinh tế
và xã hội dẫn đến sự chấm dứt hay giảm súc đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, mất việc làm, mất sức lao động, tuổi già hoặc cái chết; những dịch vụ
về chăm sóc y tế và những quy định về hỗ trợ đối với những gia đình có con nhỏ gặp phải khó khăn trong cuộc sống
Như vậy, có thể thấy an sinh xã hội bao quát một phạm vi rất rộng lớn và có tác động đến nhiều người Mục đích của nó là thông qua sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần nhằm trợ giúp cho con người, những thành viên của xã hội, trong những trường hợp rủi ro, hiểm nghèo mà bản thân họ không tự giải quyết được góp phần phát triển
xã hội ổn định, bền vững32
Quyền được đảm bảo an sinh xã hội lần đầu tiên được đề cập trong Điều 22
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, trong đó nêu rằng: “ mọi người đều có
về quyền con người sau đó được tái khẳng định trong Điều 9 Công ước quốc tế về các
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, trong đó nêu một cách ngắn gọn rằng: “các quốc gia
32Nguyễn Hữu Chí - Quyền con người trong pháp luật an sinh xã hội trong Quyền con người - tiếp cận đa ngành
và liên ngành luật học, tập 2, Nxb Khoa học – xã hội, năm 2010, tr.10
33 Trích Điều 22 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948
Trang 34Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
thành viên Công ước này thừa nhận quyền của mọi người được hưởng an sinh xã hội,
Liên quan đến Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa chưa có bình luận nào cụ thể về Điều này, tuy nhiên, trong hướng dẫn thiết lập báo cáo quốc gia về việc thực hiện Công ước, Ủy ban xác định khái niệm an sinh xã hội bao gồm các chương trình cụ thể về: chăm sóc y tế; trợ cấp tàn tật; trợ cấp tuổi già; trợ cấp tai nạn lao động; trợ cấp đau
ốm bằng tiền; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp gia đình; trợ cấp làm mẹ; trợ cấp cho người còn sống Cũng trong hướng dẫn này, Ủy ban nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập các chương trình an sinh xã hội cụ thể cũng như việc dành một tỷ lệ thích đáng ngân sách quốc gia cho việc bảo đảm quyền an sinh xã hội35
Theo công ước số 102 nội dung cụ thể của các chương trình về an sinh xã hội như sau36:
- Chăm sóc về y tế: là việc phải cung cấp những trợ giúp cho người được
bảo vệ khi tình trạng của họ cần đến sự chăm sóc y tế có tính chất phòng bệnh hoặc chữa bệnh Các trường hợp bảo vệ phải bao gồm mọi tình trạng đau ốm vì bất kì nguyên nhân nào và cả trong trường hợp thai nghén, sinh đẻ và các hậu quả tiếp theo
- Trợ cấp ốm đau: là việc bảo đảm sự cung cấp cho những người được
bảo vệ khoản trợ cấp do mất khả năng lao động do ốm đau gây ra và dẫn đến gián đoạn thu nhập
- Trợ cấp thất nghiệp: dành cho những người bảo vệ được nhận một
khoản trợ cấp khi mất việc làm không “tự nguyện” Trường hợp bảo vệ phải bao gồm tình trạng gián đoạn thu nhập và xảy ra do không thể có được một công việc phù hợp trong khi người được bảo vệ có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc
- Trợ cấp tuổi già: thông qua khoản trợ cấp để đảm bảo cho những người
được bảo vệ trong tình trạng họ có thời gian sống tốt hơn, lâu hơn một độ tuổi quy định
34 Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966
35Nguyễn Đăng Dung, Võ Đông Giao, Lã Khánh Tùng - Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Đại học Hà Nội, năm 2009
36Nguyễn Hữu Chí - Quyền con người trong pháp luật an sinh xã hội trong “Quyền con người - tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học” - tập 2, Nxb Khoa học-xã hội, năm 2010, tr.11