1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quy định của pháp luật việt nam về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

55 413 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 659,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên vấn đề đặt ra nhiệm vụ phát triển toàn diện về mọi mặt của trẻ em là định hướng trong tương lai ở những nước có nền kinh tế kém phát triển và đang phát triển như ở Việt Nam, ch

Trang 1

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ

NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiên:

Lớp: Luật thương mại 2- k36

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN



Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội xảy ra phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới

và tùy theo điều kiện kinh tế, văn hóa, tập quán,…mà pháp luật của các nước có những quy định khác nhau về: độ tuổi, thủ tục cũng như quyền và nghĩa vụ của người nhận nuôi

và con nuôi

Trẻ em luôn là tâm điểm của sự quan tâm hàng đầu của mỗi dân tộc, vì thế mà các quốc gia trên thế gới luôn quan tâm tạo điều kiện về mọi mặt để cho tất cả các trẻ em điều được phát triển toàn diện không chỉ mang đến các lợi ích thiết thực cho trẻ em mà còn góp phần xây dựng hình ảnh của một thế giới mới trong tương lai

Trẻ em nếu được sinh ra là lớn lên trong một mái ấm gia đình hạnh phúc, được quan tâm chăm sóc và được sống trong một trường xã hội phát triển lành mạnh thì sẽ góp phần phát triển tích cực của toàn xã hội Tuy nhiên không phải bất kỳ trẻ em nào cũng được sinh ra và lớn lên trong một mái ấm gia đình đầy đủ, được chăm sóc, được yêu thương để phát triển toàn vẹn Mà bên cạnh đó còn vô số mảnh đời kém may mắn, bất hạnh, vì vậy việc quan tâm chăm sóc bảo vệ đối với những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và bất hạnh lại càng có ý nghĩa thiết thực hơn

Tuy nhiên vấn đề đặt ra nhiệm vụ phát triển toàn diện về mọi mặt của trẻ em là định hướng trong tương lai ở những nước có nền kinh tế kém phát triển và đang phát triển như

ở Việt Nam, chính vì thế mà pháp luật nước ta sớm nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nên việc ghi nhận chế định nuôi con nuôi đã hình thành rất sớm qua các hiến pháp năm 1946, Hiến Pháp năm 1959, Hiến Pháp năm 1980 và Hiến Pháp năm 1992 và đến nay là một quá trình phát triển và hoàn thiện các quy định về vấn đề nuôi con nuôi đặc biệt là vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn khá mới mẻ Hiến Pháp là cơ sở lý luận quan trọng bảo vệ quyền con người đặc biệt là quyền trẻ em, Hiến Pháp xác định trách nhiệm pháp lý của toàn xã hội đối với trẻ em và Hiến Pháp trao quyền năng cho trẻ em bằng cách ghi nhận các quyền của trẻ

em thông qua các bản Hiến Pháp và trong những năm qua trẻ em đã được sự chăm sóc và bảo vệ ngày càng được khẳng định hơn trong xã hội Từ Hiến Pháp năm 1946 đã ghi

nhận điều này “…trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng” ( Điều 14 Hiến Pháp 1946) Hiến Pháp 1959 là cơ sở quan trọng tiếp cho quan điểm về bảo vệ quyền lợi trẻ em “

nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em bảo đảm phát triển các nhà đỡ

đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” ( Điều 24 Hiến Pháp

1959) cho thấy nhà nước ta ngày càng quan tâm chăm sóc đến quyền lợi trẻ em là điều vô

Trang 4

cùng cần thiết “quyền được bảo hộ về nhà nước” là sự ghi nhận có tính khẳng định mạnh

mẽ cho các quy định về quyền trẻ em, quy định này được kế thừa trong bản Hiến Pháp

1980, đã góp phần quan trọng vào việc bảo đảm thực hiện quyền của trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình hạnh phúc; động viên khơi dậy tinh thần nhân đạo, nhân văn của con người Việt Nam; giữ gìn và phát huy truyền thống tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách trong nhân dân Và để bảo vệ lợi ích cho những trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi có hoàn cảnh khó khăn được sống trong một môi trường lành mạnh có cơ hội phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần Việt Nam đã ban hành Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 đây chính là cơ sở pháp lý đồng bộ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các cặp vợ chồng trong nước và những người nước ngoài mong muốn có con nuôi Bên cạnh đó Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 còn bảo vệ quyền lợi ích của cha mẹ nuôi giúp họ ổn định tư tưởng và yên tâm trong việc nuôi dưỡng và

chăm sóc con nuôi như cũng như con đẻ của mình

Để tìm hiểu kỹ hơn vấn đề nuôi con nuôi, đặc biệt là vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài qua đó có thể hợp tác quốc tế để bảo vệ trẻ em ngày càng phát triển sâu rộng

hơn Nên tác giả chọn đề tài “ Quy định của pháp luật việt nam về vấn đề nuôi con nuôi

có yếu tố nước ngoài.” Để làm luận văn tốt nghiệp Đại Học

2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: với đề tài “Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề

nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài” người viết đã phân tích một cách tổng thể các quy

định của pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở nước ta thông qua quá trình lập pháp để hiểu rõ bản chất pháp lý và tính nhân đạo của chế định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong các văn bản pháp luật Việt Nam Đồng thời phát hiện ra những hạn chế của quy định pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Từ đó

đưa ra cơ sở hoàn thiện pháp luật trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu với mục đích làm sáng tỏ những quy định của pháp luật về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đề tài nêu lên những quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp lịch sử để làm rỏ sự hình thành

và phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong từng thời kỳ lịch sử Ngoài ra, người viết còn sử dụng một số phương pháp khoa học

Trang 5

Chương 1 Khái quát chung về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Chương 2 Quy định của pháp luật việt nam về vấn đề xác lập nuôi con nuôi có yếu

tố nước ngoài

Chương 3 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật việt nam trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Trang 6

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm về nuôi con nuôi và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.1.1 Khái niệm về nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi theo nghĩa chung nhất là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi Nuôi con nuôi đã xuất hiện ngay trong công cuộc bảo vệ tổ quốc còn gặp nhiều khó khăn ở chặn đường phía trước nhưng trên tinh thần dân tộc và ý chí bảo vệ tổ quốc kiên cường của quân, dân ta và từ khi Hiến Pháp năm 1946 ra đời thì Hiến Pháp này được xem như một mốc son lịch sử của dân tộc với nhiều quy định bảo vệ quyền lợi của người công dân, đặc biệt là vấn đề bảo

vệ quyền lợi của trẻ em bên cạnh đó trong lĩnh vực hôn nhân gia đình sự quan tâm đến quyền lợi của trẻ em bắt đầu được chú trọng, tuy chưa thật sự đầy đủ nhưng các quy định này đã tạo nền tảng vững chắc trong các chế định về hôn nhân gia đình trong đó vấn đề nuôi con nuôi ngày càng được quan tâm nuôi con nuôi bước đầu được ghi nhận trong thông tư 30-NV/DC năm 1958 thi hành điều lệ đăng ký hộ tịch đơn giản tại vùng dân tộc

ít người do Bộ Nội Vụ ban hành, Thông Tư 87 –NV/DC năm 1958 ấn định thể thức và hướng dẫn thi hành nghị định 484 – ND/ LB về việc xét đơn xin thay đổi họ tên do Bộ Nội Vụ ban hành và thông tư các văn bản này cơ bản đã đưa ra những nguyên tắc, điều kiện xác lập, chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi cụ thể Đến Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 tại khoản 1, điều 3 vẫn tiếp tục kế thừa khái niệm đó nhằm kiến tạo một hệ thống các thuật ngữ pháp lý về nuôi con nuôi chứ không nhằm đưa ra một cách hiểu khác về chế định nuôi con nuôi ở Việt Nam Theo đó, nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ

và con lâu dài, bền vững giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi thông qua việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi các bên có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi, bảo đảm trẻ em được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình thay thế

Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã kế thừa quy định điều 69 của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 trong việc quy định điều kiện đối với người nhận con nuôi Theo quy định của Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 thì người nhận con nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi chưa thành niên; có tư cách đạo đức tốt; không phải là người đang bị hạn chế quyền

Trang 7

của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án nhưng chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những điều trái pháp luật, trái đạo đức xã hội Người được nhận làm con con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi, quy định này là phù hợp với độ tuổi của trẻ em được quy định trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Hôn Nhân Và Gia Đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 Theo đó việc xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi phải thông qua việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khi các bên có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích xác lập quan hệ lâu dài bền vững giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi Nếu như quan

hệ cha mẹ đẻ và con đẻ được xác lập trên quan hệ huyết thống thì quan hệ cha mẹ nuôi với con nuôi được xác lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trên cơ

sở đáp ứng nguyện vọng của các đương sự, sự tuân thủ các quy định của luật về điều kiện xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi

1.1.2 Khái niệm về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là vấn đề hiện được nhiều nước trên thế giới quan tâm Đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thật sự đã trở thành vấn đề nhân đạo mang tính toàn cầu hóa và được thể chế hóa trong pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước

Ở nước ta sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn khóc do đế quốc Mỹ gây ra để lại nhiều hậu quả trong đời sống gia đình của nhân dân ta và xã hội đó là những đứa trẻ mồ côi, người vợ góa, người tàn tật, Chính những đau thương đó mà vấn đề nuôi con nuôi, đặc biệt là vấn đề người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi không được đề cập đến trong Hiến Pháp năm 1946 - Hiến Pháp năm 1959 việc nuôi con nuôi vẫn còn bị giới hạn bởi phạm vi đối tượng nhận nuôi con nuôi chỉ là công dân việt Nam thường trú trên lãnh thổ Việt Nam Trong giai đoạn này vấn đề nuôi con nuôi chỉ được thừa nhận cho người Việt Nam và trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, trong thời điểm này thì việcnuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chưa được đề cập đến trong các quy định của pháp luật điều này hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và nền lập pháp của nước ta trong bấy giờ, do đất nước còn nhiều khó khăn mặc dù các quy định về quyền chăm sóc và bảo

vệ trẻ em đã được thừa nhận nhưng trên thực tế thì các quyền này chưa được thật sự quan

Trang 8

tâm đúng mức Bên cạnh đó vấn đề ngoại giao hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài vẫn còn khá mới mẻ, tuy nhiên các quy định về vấn đề nuôi con nuôi cũng tạo ra cơ sở pháp lý khá vững chắc cho vấn đề nhận con nuôi trong giai đoạn này, hơn nữa đó cũng là cơ sở pháp lý cho các qui định về vấn đề nuôi con nuôi trong tương lai đặc biệt là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Đến khi Hiến Pháp năm

1959, Hiến Pháp năm 1980 được ban hành, trong giai đoạn này đã khẳng định sự phát triển của nền lập pháp nước ta trong đó các chế định về lĩnh vực hôn nhân gia đình ngày càng được quan tâm Quan trọng hơn nữa là Luật hôn nhân gia Đình năm 1959 ra đời đã khẳng định tính quan trọng của việc điều chỉnh các vấn đề hôn nhân gia đình, nuôi con nuôi là chế định được ghi nhận tại điều 24 của Luật Hôn Nhân Gia Đình năm 1959, tuy nhiên hướng tiếp cận của chế định nuôi con nuôi chỉ mới chính thức việc cho, nhận nuôi con nuôi trong nước giữa người Việt Nam với nhau Các luật và văn bản hướng dẫn luật chưa đề cập một cách cụ thể về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, điều này cũng

dễ nhận thấy do hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước vẫn chưa có hướng phát triển mạnh Điều này gây rất nhiều cản trở trong việc phát triển hợp tác lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Thời kỳ Hiến Pháp năm 1980 đến Hiến Pháp năm 1992, đây là thời kỳ đánh dấu bước phát triển về chất trong công tác làm luật ở nước ta, vấn đề quyền được bảo vệ và chăm sóc trẻ em ngày càng được chú trọng hơn đặc biệt là vấn đề nuôi con nuôi cũng được quy định một cách

cụ thể Hiến Pháp năm 1980 ra đời cùng với luật Hôn Nhân Gia Đình năm 1986 cũng được ban hành và đã dành hẳn chương IV để quy định về vấn đề nuôi con nuôi, qua đó cho thấy những quy định về nuôi con nuôi ngày càng mang tính cụ thể, rõ ràng với quyền

và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia Đặc biệt trong giai đoạn này vấn đề nuôi con nuôi

có yếu tố nước ngoài đã được luật điều chỉnh thông qua Đại Hội lần thứ IV ban chấp hành Trung Ương Đảng đã mở cánh cửa đường lối đối ngoại ở nước ta, quan hệ hợp tác với các nước ngày càng sâu rộng, nhận thấy vấn đề nuôi con nuôi không còn bị giới hạn bởi phạm vi trong nước mà tất yếu phải chịu sự điều chỉnh bởi các quan hệ hợp tác quốc

tế Nhìn chung nhà nước ta đã có sự quan tâm đặc biệt ở cơ chế ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khá hoàn chỉnh và khá chi tiết từ các vấn đề trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời gan, quyền hạn của các cơ quan thụ lý cũng như các vấn đề về điều kiện trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài không còn mới mẻ mà nó trở nên phổ biến trong đời sống xã hội hiện nay, Hiến Pháp năm 1992 ra đời là cơ sở pháp lý vững chắc cho các quy định về vấn đề nuôi con nuôi, Quốc hội khóa X nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ

Trang 9

họp thứ 7 ngày 9/6/2000 đã thông qua luật hôn nhân gia đình, bộ luật tố tụng dân sự năm

2004, tiếp đó là bộ luật dân sự 2005… Các quy định này không chỉ tạo ra cơ sở pháp lý cho vấn đề nuôi con nuôi trong nước mà còn là nguồn quan trọng trong tư pháp quốc tế

về điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.Trong những năm gần đây nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được nhà nước đặc biệt quan tâm bằng việc ban hành nhiều chính sách, văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu

tố nước ngoài; Nghị định 24/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Hôn Nhân và Gia Đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 ra đời với nhiều điều sửa đổi liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhằm tạo điều kiện cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tìm được mái

ấm gia đình và sống tốt hơn

Như vậy nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một thuật ngữ pháp lý chuyên ngành Tư pháp quốc tế là một nhóm quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài Vì thế để hiểu một cách thống nhất về nuôi có yếu tố nước ngoài Luật Nuôi Con Nuôi năm

2010 đã định nghĩa Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại khoản 5 điều 3 như sau:

“Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với

người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài” theo đó việc nuôi con nuôi

giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện, trình tự, thủ tục đối với việc nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài, nhằm mục đích gắn bó tình cảm giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, đảm bảo cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục tốt

1.2 Mục đích, ý nghĩa của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.2.1 Mục đích của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng mang

một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đó chính là việc làm mang tính nhân đạo cao cả Mục đích cơ bản là làm phát sinh quan hệ cha mẹ con lâu dài, ổn định giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm người nhận làm con nuôi được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục một cách tốt nhất trong môi trường xã hội lành mạnh, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích của các bên trong quan hệ cha mẹ và con, quan hệ gia đình; ngăn ngừa, hạn chế những tác động, tranh chấp phát sinh từ việc nuôi con nuôi thực tế, ổn định

đời sống nhân dân

Bên cạnh đó việc nuôi con nuôi còn đáp ứng được nhu cầu chính đáng của các cặp

vợ chồng vô sinh, hiếm muộn Vì vậy việc bảo đảm trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ

Trang 10

mồ côi không nơi nương tựa được nuôi dưỡng, chăm sóc trong một mái ấm gia đình là điều rất cần thiết Việc làm này đã khắp sáng niềm tin cho những trẻ em bất hạnh, họ không những có cơ hội được sống trong sự yêu thương, chăm sóc và phát triển toàn diện,

mà còn có nhiều cơ hội để phát triển vươn lên tầm cao trong tương lai, có một gia đình hạnh phúc, một tương tươi sáng sẽ giúp cho những đứa trẻ đáng thương vơi đi nỗi đau mà sống tốt với gia đình và xã hội Đây là mục đích mà các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng luôn hướng tới luôn dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ thơ

1.2.2 Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nhằm đảm bảo thực hiện quyền trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng trong một gia đình hạnh phúc, việc nuôi con nuôi không chỉ động viên khơi dậy tinh thần nhân đạo, nhân văn của con người, mà còn phát huy được truyền thống tốt đẹp tương thân tương ái,

lá lành đùm lá rách của dân tộc Việt Nam nói riêng và cả thế giới nói chung

Hiện nay còn rất nhiều trẻ em có hoàn cảnh cơ nhở, trẻ em bị bỏ rơi phải sống cảnh lang thang bụi đời,…các em phải sống cực khổ, bươn chải để kiếm sống, không được sống trong một môi trường giáo dục tốt, một mái gia đình với tình thương yêu chăm sóc của cha, mẹ để các em có thể phát triển toàn diện về thể chất cũng như là tinh thần Hơn ai hết các em cần một mái ấm tình thương che chở cho các em trong lúc khó khăn này Vì vậy bất cứ trường hợp xin nhận trẻ em làm con nuôi phải đáp ứng đầy đủ mục đích, mang ý nghĩa đích thực của việc nhận con nuôi, sự giang tay của cộng đồng người Việt Nam đối với những trẻ em thiếu tình thương của gia đình cũng như vật chất là vô cùng cần thiết Tuy nhiên nếu chỉ giới hạn đi quyền lợi của trẻ em trong phạm vi của mỗi quốc gia thì sẽ không đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ em Vì vậy việc tăng cường hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là điều vô cùng cần thiết việc làm này sẽ đem lại một gia đình ổn định cho trẻ em trong trường hợp không tìm được gia đình thay thế thích hợp cho trẻ em ngay tại nước mình Bên cạnh đó việc cho trẻ

em làm con nuôi nước ngoài sẽ làm giảm gánh nặng cho cơ sở nuôi dưỡng mà vẫn đảm bảo được lợi ích tốt nhất cho trẻ em, mặt khác điều này còn phù hợp với chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại với nước ta đáp ứng nhu cầu hội nhập và giao lưu quốc tế Tất cả hãy hướng đến vì quyền lợi trẻ em, việc nuôi nhận con nuôi hãy xuất phát từ những mục đích cao đẹp của cộng đồng người, chúng ta hãy luôn biết quan tâm và chia sẻ những bất hạnh của những số phận kém may mắn để những ước mơ của những đứa trẻ kém may mắn được bay cao bay xa hơn

Trang 11

1.3 Đặc trưng của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.3.1 Đối tượng điều chỉnh

Yếu tố nước ngoài là căn cứ rất quan trọng trong việc xác định đối tượng diều

chỉnh cũng như các phương pháp điều chỉnh trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam được quy định tại điều 758 Bộ Luật Dân Sự

năm 2005 như sau: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất

một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.” Việc xác định yếu tố nước ngoài nhằm mục đích đưa ra cách thức giải quyết vấn

đề một cách đúng đắn trong việc xác định luật áp dụng và là căn cứ quan trọng trong thẩm quyền giải quyết giữa các quốc gia về các vấn đề phát sinh trong quan hệ dân sự có

yếu tố nước ngoài

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là quan hệ thuộc lĩnh hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, vì vậy đối tượng điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng dựa trên đặc trưng yếu tố nước ngoài Việc xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ nuôi con nuôi là các nguyên tắc chung trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Để xác định yếu tố nước ngoài của nhiều nước dựa trên các căn cứ khác nhau Pháp luật Việt Nam nhìn chung cách xác định yếu tố nước ngoài phù hợp với pháp luật các nước dựa trên các căn cứ bao gồm: Yếu tố chủ thể, Yếu tố khách thể, Yếu tố nơi cư trú của các bên đương sự

lý quan trọng để xác định tư cách chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là dựa vào dấu hiệu quốc tịch Luật quốc tịch Việt Nam hiện hành xác định quốc

tịch dựa trên các tiêu chí sau: “Người có quốc tịch Việt Nam là người có cha mẹ đều là

công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam không kể sinh ra trong, ngoài lãnh thổ Việt Nam” (theo điều 15 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008); “là người có cha và mẹ hoặc

Trang 12

chỉ có mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam” ( theo khoản 1 điều

16 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008); “là người có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam

còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con Trường hợp một người sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam.” (Theo khoản 2 điều 16 Luật quốc

tịch Việt Nam năm 2008 ); “là người sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam nhưng cha mẹ là

người không có quốc tịch hoặc không xác định được quốc tịch nhưng có nơi cư trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam” (Theo điều 17 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 );

“là người dưới 15 tuổi bị bỏ rơi hoặc tìm thấy ở Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam”

(Theo điều 18 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008) Mặt khác chủ thể tham gia vào quan

hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn phải có năng lực pháp luật và năng lực hành

vi, đây là đặc trưng không thể thiếu khi các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, hiện nay việc xác định năng lực pháp luật và năng lực hành vi của chủ thể tham gia vào quan

hệ dân sự có yếu tố nước ngoài dựa trên nguyên tắc luật quốc tịch hoặc luật nơi cư trú của đương sự trừ một số trường hợp luật có quy định khác Người có quốc tịch Việt nam được xem là công dân Việt Nam, được nhà nước đảm bảo thực hiện các quyền công dân, phải làm tròn nghĩa vụ công dân đối với nhà nước theo quy định của pháp luật Ngoài công dân Việt Nam là chủ thể cơ bản trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, thì người nước ngoài cũng là một chủ thể không kém phần quan trọng trong quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài cùng thường trú trên lãnh thổ Việt Nam với nhau, đây là quan hệ phát sinh giữa người có quốc tịch nước ngoài với nhau không đồng thời có quốc tịch Việt Nam, hoặc giữa người có quốc tịch nước ngoài với người không có quốc tịch thường trú trên lãnh thổ Việt Nam trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Như vậy việc xác định quốc tịch của một cá nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự

có yếu tố nước ngoài là việc xác định nơi mà cá nhân đó có mối quan hệ gắn bó với nước

mà công dân đó được hưởng các quyền và nghĩa vụ mà công đó phải thực hiên tại một quốc gia mà họ gắn bó theo các quy định của nhà nước Theo nguyên tắc này một cá nhân mang quốc tịch Việt Nam về mặt pháp lý cá nhân đó có tính chất ràng buộc với nhà

nước Việt Nam “Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà

nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam”(điều 1Luật Quốc Tịch Việt Nam năm 2008)

Trang 13

1.3.1.2 Yếu tố nơi cư trú của các bên đương sự

Yếu tố nơi cư trú của các bên đương sự là một các căn cứ để xem xét các đương

sự tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, vì vậy khi nói đến yếu tố nơi cư trú của đương sự tham gia nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có thể xảy ra hai trường hợp:

Thứ nhất: Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài Hiện nay với tình hình kinh tế

mở cửa hội nhập quốc tế việc qua lại giữa các nước ngày càng dễ dàng, công dân Việt Nam ra nước ngoài cư trú làm ăn sinh sống lâu dài ngày càng nhiều nên các quan hệ nuôi con nuôi có liên quan đến người Việt Nam định cư ở nước ngoài ngày càng tăng Khi đó việc áp dụng chính xác pháp luật để điểu chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là rất cần thiết, Theo khoản 1 điều 29 của Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 thì pháp luật được áp dụng để điều chỉnh về điều kiện đối với người nhận con nuôi trong quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một trong hai bên định cư ở nước ngoài thì pháp luật được áp dụng trong trường hợp này là pháp luật của nước nơi mà người đó thường trú và pháp luật Việt Nam Quy định này hoàn toàn phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế Vì vậy việc công nhận chủ thể này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia trong việc thiết lập các mối quan hệ đặc biệt trong lĩnh vực nuoi con nuôi

Thứ hai: Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam Hiện nay quan hệ nuôi con nuôi

giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam phát sinh ngày càng nhiều theo

xu hướng hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế ở nước ta Trước tình hình đó pháp luật Việt Nam đã quy định pháp luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi khi họ tham gia tại Việt Nam là Pháp luật Việt Nam, tức là áp dụng quy tắc nơi cư trú của đương

sự để giải quyết Việc áp dụng quy tắc này sẽ giúp cho các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết vụ việc nhanh chóng và thuận lợi

Có thể nói việc xác định yếu tố nước ngoài trong các quan hệ dân sự nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng là nền tảng cơ sở cho việc thiết lập

và giải quyết các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này

1.3.2 Phương pháp điều chỉnh

Hiện nay tư pháp quốc tế Việt Nam cũng như tư pháp quốc tế của đa số các nước trên thế giới điều có những cách thức và biện pháp rất riêng, đặc thù của mình để điều chỉnh và phân định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự mang tính chất quốc tế đó là hai phương pháp: phương pháp xung đột, phương pháp thực chất cả hai phương pháp này được kết hợp hài hòa cũng như sự tác động tương

Trang 14

Như vậy các quy phạm xung đột không trực tiếp quy định quan hệ nuôi con nuôi

có yếu tố nước ngoài sẽ được điều chỉnh như thế nào mà chỉ quy định pháp luật của nước nào cần được áp dụng để điều chỉnh quan hệ này khi phát sinh Chẳng hạn theo điều 29

của Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 quy định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài,

người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có

đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú và quy định của Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 ;Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 14 của Luật Nuôi Con Nuôi năm

2010 và pháp luật của nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú’’ ở đây điều

luật hoàn toàn không chỉ rõ vấn đề cần giải quyết, mà chỉ đưa ra pháp luật mà chủ thể cần tuân theo khi tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Điều đó có thể thấy tính gián tiếp của phương pháp xung đột thể hiện ở việc dẫn chiếu đến hệ thống

pháp luật áp dụng

Quy phạm xung đột nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam được ghi nhận trước hết là luật quốc gia và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết gia nhập như: hiệp định về nuôi con nuôi giữa Việt Nam với các nước Pháp, Đan Mạch, Thụy Điển,… Tóm lại Phương pháp xung đột một mặt nó luôn hoàn thiện và pháp điển hóa trong điều kiện quốc tế, mặt khác nó cũng lại luôn được bổ sung và hoàn thiện hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia

1

Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư Pháp Quốc Tế, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2006, Tr 31, Tr 32

2 Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư Pháp Quốc Tế, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2006, Tr 32

Trang 15

Quy phạm thực chất được pháp luật quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Đây là một quy phạm giải quyết một cách trực tiếp các vấn đề thông qua các quy định của luật Ví dụ theo khoản 2 điều 29 của Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 quy định về điều kiện của người nhận nuôi con nuôi: công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam Điều này có nghĩa là người nhận nuôi con nuôi phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện nhận con nuôi

Phương pháp thực chất là phương pháp giải quyết trực tiếp quan hệ nuôi con nuôi

có yếu tố nước ngoài, đây là phương pháp mang tính khả thi cao, nó loại bỏ sự khác biệt, thậm chí mâu thuẩn trong luật pháp giữa các nước với nhau trong quan hệ nuôi con nuôi

có yếu tố nước ngoài

Vì vậy phương pháp thực chất là một trong hững phương pháp điều chỉnh mang lại hiệu quả giải quyết xung đột pháp luật một cách tốt nhất Việc vận dụng và tăng cường khả năng áp dụng phương pháp thực chất thống nhất giữa các quốc gia sẽ thúc đẩy hợp tác về mọi mặt giữa các quốc gia, bảo đảm một trật tự kinh tế mới trên quy mô toàn cầu 1.3.3 Nguồn của luật điều chỉnh

Với nghĩa chung nhất thì nguồn của các quy phạm pháp luật là các điều kiện vật chất của đời sống xã hội Còn trong khoa học pháp lý thì nguồn của pháp luật là các hình thức chứa đựng và thể hiện các quy phạm pháp luật.4 Nguồn của tư pháp quốc tế có những đặc thù riêng biệt nhất định của mình Vì các quan hệ tư pháp quốc tế rất đa dạng

và phức tạp Khoa học tư pháp quốc tế Việt Nam đã được kiểm nghiệm trong những năm vừa qua đặc điểm cơ bản của tư pháp quốc tế mang hai tính chất:

Trang 16

Thứ nhất: nguồn của tư pháp quốc tế là điều ước quốc tế, nó mang tính chất điều

chỉnh quốc tế

Thứ hai: nguồn của tư pháp quốc tế là luật pháp của mỗi quốc gia, nó mang tính

chất điều chỉnh quốc nội Hai tính chất này luôn thống nhất với nhau trong điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế đó là các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, thương mại và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài

1.3.3.1 Điều ƣớc quốc tế

Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế thể hiện sự thoả thuận của các chủ thể pháp luật quốc tế trước hết là các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm quy định, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của các bên ký kết trong quan hệ quốc tế, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế.5

Điều ước quốc tế về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là nguồn pháp luật quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Hiện nay nhà nước ta đang rất chú trọng mở rộng quan hệ hợp tác về nuôi con nuôi quốc tế thông qua việc ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế song phương với nhiều quốc gia

Điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quy định các nguyên tắc áp dụng pháp luật chung cho quốc gia tham gia ký kết Hiện nay vấn đề xung đột pháp luật xảy ra ngày càng nhiều trong các lĩnh vực về hôn nhân gia đình trong đó có vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Vì vậy trong các hiệp định tương trợ tư pháp về nuôi con nuôi mà Việt Nam ký kết với các nước đã góp phần tích cực trong việc đề ra nhiều nguyên tắc thỏa thuận áp dụng góp phần hạn chế xung đột pháp luật xảy ra Các nguyên tắc và quy định trong hiệp định tương trợ tư pháp

về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là cơ sở pháp lý cho Việt Nam và các nước

ký kết thực hiện việc điều chỉnh nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được hoàn thiện về mặt pháp lý phù hợp quy chế pháp lý của trẻ em và các quốc gia tham gia ký kết Điều ước quốc tế sẽ được ưu tiên áp dụng khi xảy ra tranh chấp với quốc gia mà Việt Nam ký kết tham gia điều ước quốc tế, theo khoản 2 điều 7 của Luật Hôn Nhân và Gia Đình năm

2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 quy định “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật Hôn Nhân và Gia Đình, thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế”

5

Nông Quốc Bình và Nguyễn Hồng Bắc, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ớ Việt Nam trong thời

kì hội nhập quốc tế, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2006, Tr 122

Trang 17

Việc mở rộng quan hệ đối ngoại hợp tác giữa các quốc gia thông qua ký kết gia nhập điều ước quốc tế không chỉ mở ra cơ hội hợp tác, cùng nhau phát triển giữa các quốc gia mà còn góp phần hạn chế xung đột pháp luật

1.3.3.2 Pháp luật quốc gia

Pháp luật quốc gia là loại nguồn khá phổ biến so với các loại nguồn khác trong tư pháp quốc tế Luật pháp của mỗi quốc gia là một hệ thống văn bản pháp quy của một quốc gia bao gồm Hiến Pháp, luật và các văn bản dưới luật cùng với những tập quán và

án lệ, thực tiễn tư pháp Dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong đó có quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Ở nước ta các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nằm rải rác trong nhiều quy định của luật như: Luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, Luật nuôi con nuôi năm 2010, nghị định 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi… Các quy phạm pháp luật này chính là cơ sở pháp lý quan trọng điều chỉnh phù hợp các vấn đề phát sinh trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Hoạt động nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là hoạt động mang lại nhiều lợi ích thiết thực vì quyền lợi trẻ em, để hoạt động mang tính nhân đạo này ngày càng càng được phát triển, thì việc hoàn thiện các quy định pháp luật trong nước và việc mở rộng ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về nuôi con nuôi là vấn đề quan trọng ở mỗi quốc gia trong

đó có Việt Nam

1.4 Các hành vi bị cấm khi nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.4.1 Các hành vi bị cấm khi nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Hiện nay bên cạnh việc mở rộng các quan hệ hợp tác về nuôi con nuôi quốc tế đã không ít xuất hiện các trình trạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trái với mục đích của việc nhận con nuôi Tuy nhiên pháp luật lại chưa quy định các vấn đề này một cách

rõ ràng Nhà nước ta ban hành Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 quy định cụ thể các hành

vi trái quy định pháp luật về nuôi con nuôi tại điều 13 của Luật Nuôi Con Nuôi như sau: + Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục; bắt cóc, mua bán trẻ em

+ Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi

+ Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi

+ Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số

Trang 18

Những quy định trên tuy mới được đưa vào luật, song các hành vi bị cấm không phải là những hành vi mới, các hành vi này đã từng được quy định trong Luật Hôn Nhân

và Gia Đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 Luật Nuôi Con Nuôi đưa ra các hành

vi bị cấm nhằm bảo vệ một cách tốt nhất quyền lợi của các bên có liên quan đến vấn đề nhận nuôi con nuôi, cũng như bảo vệ các phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Tuy nhiên vấn đề này còn đòi hỏi nhiều hơn nữa sự quan tâm của Nhà Nước và các quốc gia trong việc hợp tác quốc tế về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, để đảm bảo đúng mục đích của nuôi con nuôi quốc tế

1.4.2 Các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Ở mỗi quốc gia có các quy định riêng về các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Nhằm mục đích giúp cho các trẻ em có hoàn cảnh khó khăn không nơi nương tựa được sống hạnh phúc và phát triển một cách toàn diện, nuôi con nuôi vừa là một quan hệ xã hội mang tính chất gia đình vừa là một quan hệ pháp luật được pháp luật điều chỉnh Chính vì thế mà Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 đã đưa ra quy định các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhằm góp phần góp phần giúp cho cơ quan có thẩm quyền thuận tiện trong việc xem xét, xử lý các vấn đề nuôi con nuôi đúng theo trình tự thủ tục luật định

1.4.2.1 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú

ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi

Theo quy định của pháp luật thì nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được quy định tại khoản 1 điều 28 của Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010, trường hợp nuôi con nuôi giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi là một trong những trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chịu sự điều chỉnh của Luật Nuôi Con Nuôi Theo khoản 3 điều 3 của Luật Quốc Tịch năm 2008 quy định về người Việt Nam định cư ở nước ngoài được hiểu là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài Nếu họ đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì sẽ được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, không phụ

Trang 19

1.4.2.2 Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước

ngoài làm con nuôi

Theo khoản 1 điều 5 của Luật Quốc Tịch năm 2008 quy định: “Người có quốc

tịch Việt Nam là công dân Việt Nam”, như vậy có nghĩa là một người là công dân Việt

Nam thì phải mang quốc tịch Việt Nam, muốn chúng minh được một người có mang quốc tịch Việt Nam hay không thì dựa vào giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, hộ chiếu,… Từ đó cho thấy nước ta dựa vào quốc tịch để xác định yếu tố nước ngoài, vậy trẻ

em nước ngoài là trẻ em không mang quốc tịch Việt Nam Công dân Việt Nam đáp ứng

đủ các điều kiện theo quy dịnh của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước nơi người được nhận làm con nuôi sẽ được nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi Trẻ em nước ngoài sau khi được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi một cách hợp pháp thì đương nhiên có quốc tịch Việt Nam kể từ thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công hận việc nuôi con nuôi đó

1.4.2.3 Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam

Theo khoản 5 điều 3 của Luật Quốc Tịch năm 2008 quy định “Người nước ngoài

cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam” Trong trường này người nước ngoài muốn nhận nuôi con nuôi tại Việt

Nam thì phải thường trú ở Việt Nam và khi nhận con nuôi phải tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật của Việt Nam về các điều kiện cho và nhận con nuôi Khi đó việc nuôi con nuôi sẽ được ghi nhận trên cơ sở đảm bảo những quyền và lợi ích hợp pháp cho người được nhận làm con nuôi và người nhận nuôi con nuôi

Trang 20

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VẾ VẤN ĐỀ XÁC LẬP QUAN HỆ

NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 2.1 Xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

2.1.1.Điều kiện đối với việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

2.1.1 1 Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Người nhận nuôi con nuôi đóng vai trò chủ đạo trong việc bảo vệ quyền và lợi

ích cho người được nhận làm con nuôi Vì vậy mà người nhận con nuôi không chỉ đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của nước nơi người đó là công dân mà còn phải đáp ứng đủ các điều kiện của pháp luật Việt Nam Theo quy định của điều 29 Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 thì người nhận con nuôi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú và quy định tại Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 14 của Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 và pháp luật của nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú”

Bên cạnh đó theo pháp luật Việt Nam, thì người nhận con phải đáp ứng đầy đủ

các điều kiện của điều 14 Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010, cụ thể như sau:

Thứ nhất, Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, đây là điều kiện tiên quyết trong

việc nhận nuôi con nuôi, vì người nhận con nuôi là người sẽ chăm sóc và bảo vệ con nuôi một cách tốt nhất Vì vậy người nhận con nuôi phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự dể

bảo vệ lợi ích của trẻ em được nhận làm con nuôi

- Theo quy định của Bộ Luật Dân Sự năm 2005, người có năng lực hành vi dân

sự đầy đủ là người đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

+ Từ đủ 18 tuổi trở lên Đây là điều kiện tuyên quyết bắt buộc đối với chủ thể là người xin nhận con nuôi vì họ là người sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ con nuôi sau này nên họ phải có năng lực hành vi dân sự Và không phải là người bị hạn chế

và bị mất năng lực hành vi theo khoản 1- điều 23 Bộ Luật Dân Sự năm 2005.6

6 Khoản 1 điều 23 quy định: Người nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Trang 21

Thứ hai, Người nhận con nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên Việc quy

định độ tuổi cách biệt giữa người xin nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi là một điều kiện bắt buộc không chỉ về mặt sinh học mà còn đảm bảo phù hợp với đạo đức

xã hội, đồng thời tránh được các trường hợp lạm dụng về tình dục trẻ em Hầu hết các nước đều quy định về độ tuổi của người xin nhận con nuôi, tuy nhiên việc quy định độ tuổi tối thiểu để có thể nhận con nuôi là khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi nước mà họ cho rằng người xin nhận con nuôi đến độ tuổi nào đó mới nhận thức được trách nhiệm và có kinh nghiệm tâm lý xã hội để có thể nuôi dưỡng con nuôi và quan trọng là khả năng tài chính của họ có thể đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi có điều kiện phát triển tốt nhất, theo quy định của pháp luật Việt Nam về độ tuổi thể hiện sự phù hợp và đảm bảo khoảng cách giữa hai bên, cũng như đây là khoảng cách tương xứng Tuy nhiên quy định này không áp dụng trong trường hợp cha dượng nhận con riêng của

vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi

Thứ ba, Có tư cách đạo đức tốt, có điều kiện về sức khỏe , kinh tế, chổ ở đảm bảo

việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi Điều kiện này nhằm hướng đến mục đích đảm bảo cho con nuôi được quan tâm, chăm sóc một cách tốt nhất Trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài điều kiện này cũng không kém phần quan trọng, đảm bảo khả năng loại trừ các hành vi lợi dụng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài để lừa đảo đưa trẻ đi mua bán, bốc lộc sức lao động, lạm dụng tình dục….Vì thế mà pháp luật Việt Nam

đã quy định người nhận con nuôi phải có đạo đức tốt để tránh trình trạng lợi dụng con nuôi, bảo vệ trẻ em khi được nhận làm con nuôi, tránh trình trạng con nuôi bị cha mẹ nuôi ngược đãi, có những hành vi, lời nói làm ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của trẻ em sau này Vì vậy cha mẹ nuôi phải có đạo đức tốt để cho trẻ em có thể phát triển trong một môi trường đầy tình yêu thương, cũng như được quan tâm, giáo dục tốt

Thứ tư, Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với

con chưa thành niên; Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ

sở chữa bệnh; Đang chấp hành hình phạt tù; Chưa được xóa án tích về một trong các tội

cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ

dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em Nếu một cá nhân thuộc một trong những trường hợp không được nhận con nuôi nêu trên, như vậy cá nhân này không đảm bảo được các yêu cầu cơ bản về nhân thân, tư cách đạo đức tốt, cũng như mục đích nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục tốt

Trang 22

cho con nuôi, điều này cho thấy không đảm bảo được mục đích chủ yếu của việc cho con nuôi Đây là quy định được nhiều nước quy định như là một điều kiện quan trọng trong

việc thiết lập trong quan hệ cha, mẹ nuôi với con nuôi

Tóm lại các quy định về điều kiện của người nhận con nuôi hoàn toàn cần thiết

và phù hợp với pháp luật quốc tế Các quy định này nhằm mục đích đảm bảo cho những đứa trẻ sẽ được nhận vào các gia đình có đủ điều kiện về vật chất cũng như tinh thần để

phát triển toàn diện về thể chất và nhân cách

2.1.1.2 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi có yếu tố nước

ngoài

Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 đã kế thừa và phát huy một cách thích hợp các quy định về vấn đề nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 đã đưa ra các quy định cụ thể về điều kiện đối với

người được nhận làm con nuôi nhằm mục đích vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em

Theo điều 8 của Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 quy định người được nhận làm con nuôi là trẻ em duới 16 tuổi Đây là độ tuổi phù hợp với đối tượng được nhận làm con nuôi nhất là phù hợp với nguyện vọng của người nhận nuôi con nuôi, trên thực tế thì trẻ

em có độ tuổi này thường có tâm lý dễ thích ứng với môi trường mới Tuy nhiên các nhà làm luật chọn độ tuổi này còn nhẳm mục đích tạo sự tương thích về mặt sinh học giữa những người thực thiên chức cao cả là làm cha, mẹ của những trẻ em được nhận làm con nuôi

Nếu là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ được nhận làm con nuôi trong trường hợp người nhận là cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi Như vậy những người từ đủ 18 tuổi trở lên được nhận làm con nuôi sẽ không được pháp luật thừa nhận chính thức, không làm phát sinh quan hệ pháp luật liên quan đến nhân thân, thừa kế Từ đó ta có thể thấy được việc nuôi con nuôi là hướng tới đối tượng trẻ em không được nuôi dưỡng, chăm sóc trong gia đình ruột thịt

Ngoài việc quy định độ tuổi thì Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 còn quy định hoàn cảnh của trẻ em khi được nhận làm con nuôi, nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ

em mồ côi; trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em mắc các bệnh hiểm nghèo; trẻ em được tiếp nhận vào cơ sở nuôi dưỡng thoe quy định của pháp luật Quy định này rất thiết thực và phù hợp với bản chất của việc nuôi con nuôi Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 còn quy định trẻ em chỉ được nhận làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai vợ chồng Quy định này phù hợp với pháp luật quốc tế nhằm mục đích chống lại khả năng lạm dụng việc nhận trẻ em làm con nuôi để

Trang 23

mua bán trẻ em Quy định này nhằm đảm bảo sự phù hợp với quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi, đây cũng là quy định phù hợp với bản chất của việc nuôi con nuôi đặc biệt là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, vì một người không thể làm con nuôi của nhiều người được, nếu như một trẻ em được làm con nuôi của nhiều người sẽ gây khó khăn cho việc quản lý các quan hệ về nhân thân, tài sản, quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như bảo

hộ pháp lý cho người được làm con nuôi, nhằm đảm bảo điều kiện cho trẻ em được chăm sóc, bảo vệ tốt nhất

Vì vậy, việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, đối tượng được nhận làm con nuôi phải thỏa mãn những điều kiện nhất định của pháp luật nước tiếp nhận cũng như pháp luật Việt Nam nhằm mục đích đem lại lợi ích tốt nhất cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, tạo cơ hội cho các trẻ em này được sống trong một gia đình hạnh phúc, được học tập và phát triển như những đứa trẻ khác

2.1.2 Yếu tố tự nguyện trong nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Trong quan hệ nuôi con nuôi sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác ( theo khoản 3 điều 21 của Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010).7 Nhằm đảm bảo mục đích nuôi con nuôi, quyền lợi của các bên và tránh các hành

vi lợi dụng việc nuôi con nuôi để thực hiện hành vi trái pháp luật Bên cạnh đó nuôi con nuôi còn thể hiện ý chí mong muốn của người nhận con nuôi về việc nhận nuôi đứa trẻ và thiết lập quan hệ cha mẹ và con đối với đứa trẻ đó Ngoài ra việc cha mẹ đẻ hoặc của người giám hộ của trẻ em được cho làm con nuôi phải minh bạch và xuất phát từ sự tự nguyện của bản thân họ mà không có bất cứ sự tác động , thúc ép dụ dỗ hoặc hứa hẹn hay một áp lực nào

2.1.3 Thẩm quyền, trình tự , thủ tục giải quyết việc nhận nuôi con nuôi

2.1.3.1 Thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết việc đăng ký nuôi con nuôi

tại cơ quan Việt Nam

Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

Theo khoản 2 điều 9 của Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 quy định thẩm quyền

đăng ký việc nuôi con nuôi: “Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

(sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.”

7

Khoản 3 điếu 21 quy định sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe doạ hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác

Trang 24

Còn “đối với việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thì Ủy ban nhân dân tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung Ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân Tỉnh), nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi, có thẩm quyền quyết định cho người đó làm con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng trẻ em quyết định cho trẻ em đó làm con nuôi Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi nước ngoài sau khi có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” ( theo khoản 2 điều 2 Nghị định 19/ 2011/

NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi Con Nuôi ) Các quy định trên phù hợp với việc xác định các điều kiện về trẻ em được nhận làm con nuôi, giúp cho việc xác minh nguồn gốc trẻ em được đảm bảo các yêu cầu về nuôi con nuôi thuận tiên hơn

Trình tự, thủ tục giải quyết việc đăng ký nuôi con nuôi tại cơ quan Việt Nam

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một hoạt động khá phổ biến trên thế giới,

ở Việt Nam đã quy định về, trình tự ,thủ tục giải quyết việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam được cụ thể như sau:

Trường hợp thứ nhất, của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước

ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có các giấy tờ, tài liệu sau đây:

- Bước1: lập hồ sơ của người xin nhận con nuôi phải có các giấy tờ đầy đủ sau

đây:

+ Đơn xin nhận con nuôi; Bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế; Văn bản cho phép được nhận con nuôi ở Việt Nam; Bản điều tra về tâm lý, gia đình; Văn bản xác nhận tình trạng sức khoẻ; Văn bản xác nhận thu nhập và tài sản; Phiếu lý lịch tư pháp; Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân

Nếu người nhận con nuôi thuộc trong các trường hợp được nhận con nuôi đích danh theo quy định tại khoản 2 điều 28 của Luật Nuôi con Nuôi năm 2010,8 thì nộp hồ

8 Khoản 2 điều 28 quy định: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây:

a) Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;

b) Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;

c) Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;

d) Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi;

đ) Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm.

Trang 25

+ Giấy tờ, tài liệu để chứng minh trẻ em được nhận làm con nuôi là trẻ em thuộc một trong các trường hợp sau: Trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh làm con nuôi theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 28 của Luật Nuôi con nuôi gồm trẻ em bị sứt môi hở hàm ếch; trẻ em bị mù một hoặc cả hai mắt; trẻ em bị câm, điếc; trẻ em bị khoèo chân, tay; trẻ em không có ngón hoặc bàn chân, tay; trẻ em nhiễm HIV; trẻ em mắc các bệnh về tim; trẻ em bị thoát vị rốn, bẹn, bụng; trẻ em không có hậu môn hoặc bộ phận sinh dục; trẻ em bị các bệnh về máu; trẻ em mắc bệnh cần điều trị cả đời; trẻ em bị khuyết tật khác hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác mà cơ hội được nhận làm con nuôi bị hạn chế

+Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã, nơi cư trú tại Việt Nam và giấy tờ, tài liệu khác để chứng minh người nhận con nuôi là người nước ngoài đang làm việc, học tập liên tục tại Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm, tính đến ngày nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi

Hồ sơ của người nhận con nuôi được lập thành 02 bộ và nộp cho Bộ Tư pháp thông qua cơ quan trung ương về nuôi con nuôi của nước nơi người nhận con nuôi thường trú; trường hợp nhận con nuôi đích danh thì người nhận con nuôi có thể trực tiếp nộp hồ sơ cho Bộ Tư pháp

- Bước 2: Thủ tục nộp và tiếp nhận hồ sơ của người Việt Nam định cư ở nước

ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi được quy định tại điều 17 Nghị Định 19/2011/ NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi Con Nuôi như sau:

+ Trường hợp nhận con nuôi đích danh, thì người nhận con nuôi trực tiếp nộp hồ

sơ tại Cục Con nuôi Trường hợp có lý do chính đáng mà không thể trực tiếp nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi, người nhận con nuôi ủy quyền bằng văn bản cho người có quan hệ họ

Trang 26

hàng, thân thích thường trú tại Việt Nam nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi hoặc gửi hồ sơ cho Cục Con nuôi qua đường bưu điện theo hình thức gửi bảo đảm

+ Trường hợp nhận con nuôi không đích danh, thì người nhận con nuôi thường

trú tại nước là thành viên của điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi với Việt Nam nộp hồ sơ cho Cục Con nuôi thông qua tổ chức con nuôi của nước đó được cấp phép hoạt động tại Việt Nam; nếu nước đó không có tổ chức con nuôi được cấp phép hoạt động tại Việt Nam, thì người nhận con nuôi nộp hồ sơ cho Cục Con nuôi thông qua Cơ quan đại diện Ngoại giao hoặc Cơ quan Lãnh sự của nước đó tại Việt Nam

+ Cục Con nuôi xem xét, tiếp nhận hồ sơ của người nhận con nuôi căn cứ số

lượng trẻ em Việt Nam có đủ điều kiện làm con nuôi ở nước ngoài

- Bước 3: lập hồ sơ của người được giời thiệu làm con nuôi nước ngoài gồm có:

+ Giấy khai sinh;

+ Giấy khám sức khoẻ do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;

+ Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;

+ Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ

bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân

sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất năng lực hành vi dân sự;

+ Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng

+ Văn bản về đặc điểm, sở thích, thói quen đáng lưu ý của trẻ em;

+ Tài liệu chứng minh đã thực hiện việc tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ

em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi không có người nuôi dưỡng hoặc trẻ em có cha mẹ đẻ, người thân thích nhưng không có khả năng nuôi dưỡng, trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng cần có gia đình thay thế nhưng không thành

+ Hồ sơ được lập thảnh 03 bộ và nộp cho Sở Tư pháp nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ lập hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi sống tại gia đình; cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi sống tại cơ sở nuôi dưỡng

- Bước 4: Trách nhiệm kiểm tra, xác minh hồ sơ và xác nhận trẻ em có đủ điều

kiện được cho làm con nuôi

Trang 27

Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, tiến hành lấy ý kiến của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi Nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó, việc kiểm tra hồ sơ được tiến hành trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Việc lấy ý kiến phải lập thành văn bản và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến.Trường hợp trẻ

em bị bỏ rơi cần được xác minh thì Sở Tư pháp đề nghị Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xác minh; cơ quan công an có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp Khi công chức tư pháp tiến hành kiểm tra hồ sơ phải nghiên cứu tìm hiều tâm tư, nguyện vọng và hoàn cảnh của những người liên quan, phải kiểm tra đảm bảo trẻ em đáp ứng đủ các yêu cầu về độ tuổi, đối tượng được nhận đích danh cũng như yếu tố tự nguyện Nhằm tránh trường có người lợi dụng việc nuôi con nuôi để thực hiện hành vi trái pháp luật

Trách nhiệm kiểm tra và chuyển hồ sơ của người nhận con nuôi được quy định tại điều 34 của Luật Nuôi Con Nuôi, điều 18 và 19 Nghị Định 19/ 2011/ NĐ-CP ngày

21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi Con Nuôi cụ thể như sau:

Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra và xử lý hồ sơ của người nhận con nuôi trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Việc kiểm tra hồ sơ sẽ được tiến hành như sau:

+ Sau khi nhận đủ hồ sơ của người nhận con nuôi, Cục Con nuôi kiểm tra, thẩm định hồ sơ để xác định; Người nhận con nuôi đã được cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó thường trú bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện nuôi con nuôi theo pháp luật của nước đó; Người nhận con nuôi đáp ứng đủ điều kiện nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam

+ Khi thẩm định hồ sơ, nếu thấy cần thiết, Cục Con nuôi lấy ý kiến của chuyên gia tâm lý, y tế, gia đình, xã hội để xác định người nhận con nuôi có điều kiện tốt nhất để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; Hồ sơ của người nhận con nuôi được chấp

thuận nếu đáp ứng các yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 18 Nghị Định 19/

2011/ NĐ-CP;9trường hợp không chấp thuận, Cục Con nuôi trả lại hồ sơ và nêu rõ lý do bằng văn bản

9 khoản 1 và khoản 2 Điều 18 quy định:

Ngày đăng: 05/10/2015, 10:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w