Qua các khái niệm trên cho ta thấy hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm: Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc hoặc theo chiều ngang; Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
MSSV: 5106003 Lớp: Luật Thương mại 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH
TRANH TẠI VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG 4
1.1 K hái quát về cạnh tranh 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Đ ặc điểm 5
1.2 Khái niệm hạn chế cạnh tranh 6
1.3 Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường……….7
1.4 Khái quát về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh Tranh……….11
1.4.1 Khái niệm 11
1.4.2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh……….13
1.5 Sự cần thiết phải có quy định của pháp luật điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 15
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH TRANH 18
Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh 18
Khái niệm 18
Hành vi vi phạm 18
Xử lý vi phạm 20
Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng 21
2.2.1 Khái niệm .21
2.2.2 Hành vi vi phạm 22
2.2.3 Xử lý vi phạm 26
Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng 27
2.3.1 Khái niệm 27
2.3.2 Hành vi vi phạm 28
2.3.3 Xử lý vi phạm 31
Trang 3Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất
bình đẳng trong cạnh tranh 32
2.4.1 Khái niệm 32
2.4.2 Hành vi vi phạm 33
2.4.3 Xử lý vi phạm 34
Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng 35
2.5.1 Khái niệm 35
2.5.2 Hành vi vi phạm 36
2.5.3 Xử lý vi phạm 39
Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới 40
2.6.1 Khái niệm 41
2.6.2 Hành vi vi phạm 41
2.6.3 Xử lý vi phạm 43
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG 45
3.1 Thực trạng hiện nay về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 45
3.2 Một số bất cập và đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường………50
3.2.1 Về mục tiêu của Luật cạnh tranh 51
3.2.2 Về cấu thành của hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng 52
3.2.2.1 Có sự mâu thuẫn giữa hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu trong Luật cạnh tranh và Luật thương mại 52
3.2.2.2 Hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu không hoàn toàn phản cạnh tranh 52
3.2.2.3 Hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại đến khách hàng chỉ quy định đối với hàng hóa mà bỏ sót dịch vụ 53
3.2.3 Về cấu thành của hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh 54
3.2.4 Về cấu thành của hành vi áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong điều kiện giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh 55
Trang 43.2.5 Về biện pháp xử lý vi phạm 56
3.2.6 Về những vấn đề khác 57 KẾT LUẬN ……… 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 1 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nhân luôn phải tranh đua với nhau để tồn tại
và phát triển Mỗi doanh nghiệp thường xuyên phải đổi mới công nghệ, đổi mới cung cách quản lý để ứng phó với sức ép liên tục từ các đối thủ cạnh tranh Vượt trước để nắm được lợi thế trong cuộc cạnh tranh là phần thưởng mà nhà kinh doanh nào cũng mong muốn đạt được Thế nên khi nắm được quyền lực thị trường, điều dễ hiểu là không ai muốn từ bỏ, thậm chí nhiều doanh nghiệp đã lạm dụng vị trí đó bóp méo cạnh tranh để thu lợi nhuận cho mình, ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của người tiêu dùng Chính vì vậy, việc xây dựng các quy định chuyên biệt để điều chỉnh những hành vi này điều luôn được các quốc gia chú trọng
Ở nước ta, từ khi thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, số lượng và quy mô của các doanh nghiệp đã tăng lên một cách nhanh chóng Cùng với đó, hiện tượng cạnh tranh đã
và đang diễn ra một cách gay gắt, thậm chí rất nhiều trường hợp cạnh tranh không lành mạnh, gây thiệt hại lớn đối với các doanh nghiệp làm ăn chân chính và người tiêu dùng Luật cạnh tranh được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3-12-2004 Tuy nhiên, cho đến nay quá trình thực thi Luật này gặp nhiều vướng mắc, bất cập, đặc biệt là trong việc điều chỉnh các hành vi lạm dụng quyền lực thị trường để hạn chế cạnh tranh
Vì vậy, việc nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này là rất cần thiết
Chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước, đã và đang khẳng định sự đúng đắn thông qua những thành tựu quan trọng trong hoạt động kinh tế: lượng vốn đầu tư được thu hút vào Việt Nam ngày càng tăng và số lượng doanh nghiệp có tiềm lực kinh doanh cũng tăng lên một cách đáng kể… Tuy nhiên, quá trình mở cửa thị trường này đòi hỏi chúng ta phải gỡ bỏ rào cản về thủ tục hành chính, thuế quan và những ưu đãi với doanh nghiệp trong nước… Điều đó khiến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của chúng ta không chỉ đối mặt với sự cạnh tranh với các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, độc quyền trong nước mà còn với các tập đoàn đa quốc gia hùng mạnh trên thế giới nhất là khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO Vì vậy, nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh sẽ là một điều kiện then chốt, một đòi hỏi bắt buộc để phát triển nền kinh tế, cũng như góp phần cho tăng trưởng kinh tế dài hạn của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu Theo xu hướng phát triển, các
Trang 6GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 2 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
doanh nghiệp khi tham gia vào kinh doanh đều mong muốn phát triển hơn nữa thế lực của mình, nhất là những doanh nghiệp có thị phần lớn Việc các doanh nghiệp phát triển lành mạnh là điều tất cả các nước đều khuyến khích Nhưng không thể đảm bảo một doanh nghiệp tham gia thị trường kinh doanh lành mạnh lúc nào cũng tuân thủ pháp luật
Do đó với nỗ lực xây dựng một thị trường kinh doanh lành mạnh, công bằng, bình đẳng
và thực sự trở thành một mảnh đất thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước hiệu quả Pháp luật cạnh tranh cần đặc biệt chú ý tới cơ chế phát triển hoạt động của các thương nhân khi tham gia thị trường Một trong những giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao môi trường kinh doanh là kiểm soát các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Từ những phân tích trên, tác giả chọn đề tài “Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần đưa Luật cạnh tranh đi vào áp dụng được hoàn thiện hơn
3 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu đề tài bao gồm nhiều vấn đề khác nhau Tuy nhiên, do giới hạn của một luận văn cử nhân, việc nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất thuộc về nội dung đề tài như khái niệm, đặc điểm, nội dung, biện pháp xử lý vi phạm và
ý nghĩa của quy định luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh; khảo sát thực trạng về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong thời gian qua, qua đó tác giả nhận thấy một số bất cập và hạn chế trong quy định của pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Trên cơ sở đó, tác giả đưa
ra một số đề xuất để hoàn thiện quy định của pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh
4 Phương pháp nghiên cứu
Với những kiến thức cơ bản và tài liệu thu thập được, tác giả đã sử dụng phương pháp triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử chủ nghĩa Mác-Lênin, của lý luận nhà nước và pháp luật trong điều kiện cơ chế kinh tế mới Bên cạnh đó, kết hợp với phương
Trang 7GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 3 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, chứng minh… để nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, Luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Chương 2: Những quy định pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
và tất cả những ai quan tâm về cạnh tranh và kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để đề tài nghiên cứu ngày càng hoàn thiện hơn
Trang 8GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 4 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, ở đó sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai và đổi mới cái gì được quyết định thông qua thị trường
Có thể nói không có cơ chế thị trường thì không có quy luật cạnh tranh Chính vì vậy cạnh tranh là một quy luật quan trọng trong nền kinh tế thị trường Cạnh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu của nền kinh tế thị trường, là động lực để thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế Theo cuốn Black’Law Dictionary diễn tả cạnh tranh là “sự nổ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba”1
Theo góc độ kinh tế thì cạnh tranh được hiểu là một quá trình trong đó các thành viên tham gia thị trường để đảm bảo thị trường tiêu thụ phải tranh đua đưa ra những điều kiện tốt hơn so với những đối thủ của mình (về khối lượng, chất lượng, giá cả, hình thức, mẫu
mã, và điều kiện thương mại khác) Đối thủ là các nhà sản xuất hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc thay thế
Hay theo cuốn “Từ điển kinh doanh của Vương Quốc Anh”, xuất bản năm 1992 thì thuật ngữ cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa như sau: Cạnh tranh là sự
1
Bryan A Garner, Black’Law Dictionary, St Paui, 1999, trang 278
Trang 9GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 5 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành một loại khách hàng về phía mình”2
Còn theo một định nghĩa được Lobe đưa ra từ gần một thế kỉ nay (mà khoa học pháp
lý cũng không thể phát triển thêm một cách đáng kể) có thể hiểu cạnh tranh là sự cố gắng của hai hay nhiều người thông qua những hành vi của ít nhất hai nhà cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cùng loại hoặc có thể trao đổi được, nhằm cùng một loại khách hàng
Với tư cách là một hiện tượng xã hội riêng của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở mọi lĩnh vực, mọi công đoạn của quá trình kinh doanh và gắn liền với bất cứ chủ thể nào đang hoạt động trên thị trường Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào ý định và hướng tiếp cận của các nhà khoa học
1.1.2 Đặc điểm
Mặc dù cạnh tranh được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng suy cho cùng cạnh tranh cơ bản có ba đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh
Cạnh tranh phải có sự hiện diện của các thành viên thương trường Cạnh tranh được hình thành từ sự đa dạng về sở hữu kéo theo sự đa dạng về chủ thể kinh doanh, đây là các nhà sản xuất, các doanh nghiệp được tổ chức dưới nhiều hình thức, thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau Đây cũng là một trong những điều kiện cần và đủ để cạnh tranh xuất hiện trong cơ chế thị trường
Thứ hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanh nghiệp
Cạnh tranh là có sự ganh đua vì mục tiêu lợi nhuận giữa các thành viên trên thương trường Trong nền kinh tế quan liêu, bao cấp thì hầu như không có cạnh tranh Việt Nam
là một điển hình: trước năm 1986, ta còn cơ chế bao cấp, tất cả sản phẩm đều do nhà nước phân phối theo chế độ tem phiếu, các nhà sản xuất theo chỉ tiêu do nhà nước đưa ra, sản phẩm không đa dạng và không có tính sáng tạo, còn hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh kém, nếu như có doanh nghiệp bị thua lỗ thì nhà nước sẽ đền bù, tạo ra một tâm lý
ỷ lại, không hề có sự năng động trong sản xuất, tạo sự ì ạch, vô trách nhiệm của các chủ thể kinh tế Còn người sử dụng sản phẩm thì không có quyền lựa chọn sản phẩm mà mình
2
Dẫn theo Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam,
Nxb chính trị quốc gia, 2004, trang 19
Trang 10GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 6 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
mong muốn mà chỉ nhận mua sản phẩm theo chỉ tiêu được giao Nhưng nền kinh tế thị trường thì các nhà sản xuất, các nhà kinh doanh đặt ra mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu nên giữa họ sẽ có sự cạnh tranh gay gắt với nhau để có thể tồn tại và phát triển Đây mới thực sự là cạnh tranh và các đối thủ phải áp dụng kỹ thuật cao, sử dụng tài nguyên một cách có hiệu quả, sử dụng lao động một cách hợp lý
Thứ ba, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giành thị trường mua hoặc bán sản phẩm
Trên thị trường, cạnh tranh chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp có chung lợi ích tiềm năng về nguồn nguyên liệu đầu vào (cạnh tranh mua); hoặc về thị trường đầu ra của sản phẩm (cạnh tranh bán) của quá trình sản xuất Việc có chung lợi ích để tranh giành làm cho các doanh nghiệp trở thành đối thủ của nhau Nói tóm lại, chỉ khi nào xác định được các doanh nghiệp cùng trên một thị trường liên quan mới có thể kết luận được rằng các doanh nghiệp đó là đối thủ cạnh tranh của nhau Khi họ có chung khách hàng hoặc đối tác để tranh giành, có chung một nguồn lợi ích để hướng đến mới có căn nguyên nảy sinh
ra sự ganh đua giữa họ với nhau
Trong môi trường cạnh tranh thì người tiêu dùng đóng vai trò quan trọng Sự lựa chọn của người tiêu dùng là yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp Người tiêu dùng có quyền lựa chọn những sản phẩm hợp với sở thích của mình và giá thành rẻ nhất Vì thế
sự lựa chọn đó làm cho cạnh tranh có khả năng tạo ra một áp lực liên tục đối với giá cả, buộc các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm và cải thiện mẫu mã, hình thức đẹp mắt để phù hợp với mong muốn của người tiêu dùng, nếu không làm như vậy thì doanh nghiệp sẽ bị đào thải hay phá sản
1.2 KHÁI NIỆM VỀ HẠN CHẾ CẠNH TRANH
Pháp luật nhiều nước đã xây dựng các chế định về việc cấm và kiểm soát các biểu hiện hạn chế cạnh tranh, Luật cạnh tranh lành mạnh Croatia quy định: “kìm hãm cạnh tranh tự do là sự ngăn cản, hạn chế tự do của thương nhân hoặc là sự ngăn cản, hạn chế công việc của thương nhân liên quan đến việc mua bán hàng hóa và dịch vụ trên thị trường” Còn Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hợp quốc quy định: “hành vi gây hạn chế kinh doanh là những hành vi hay ứng xử của doanh nghiệp thông qua sự sáp nhập hay lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hạn chế khả năng tiếp cận thị trường hay tạo ra các sức ép cạnh tranh quá mức gây ra hay sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến thương mại quốc tế đặc biệt là thương mại của những nước đang phát triển và sự phát triển kinh tế
Trang 11GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 7 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
của những nước này bởi những thỏa thuận hay dàn xếp chính thức, phi chính thức, bằng văn bản hay không bằng văn bản giữa các doanh nghiệp có cùng lợi thế thị trường” Qua các khái niệm trên cho ta thấy hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm:
Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc hoặc theo chiều ngang;
Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường như định giá độc quyền, phân biệt đối xử giữa các khách hàng …
Tập trung kinh tế để tạo thành vị trí thống lĩnh thị trường như tích tụ dọc, tích tụ ngang và hình thành tập đoàn
Theo khoản 3, Điều 3 của Luật cạnh tranh Việt Nam thì “hành vi gây hạn chế cạnh tranh là hành vi làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường” Các hành vi này làm cho tình trạng cạnh tranh bị biến dạng, cạnh tranh bị yếu đi hoặc không còn tồn tại cạnh tranh nữa Ban soạn thảo Luật cạnh tranh Việt Nam cũng dựa theo khuôn mẫu của
Bộ quy tắc mẫu về cạnh tranh của Liên hợp quốc để quy định các hành vi hạn chế cạnh tranh trong chương II Luật cạnh tranh “Kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh”, đây là một điểm học hỏi tích cực
1.3 KHÁI NIỆM VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG
Đây là một khái niệm mới và khó có thể định nghĩa một cách chính xác Một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là doanh nghiệp bằng khả năng có những hành vi chi phối thị trường về giá cả hay có khả năng tác động đến giá
Vị trí thống lĩnh thị trường được hiểu là khả năng kiểm soát thực tế hoặc tiềm năng đối với thị trường của một hay một nhóm doanh nghiệp Sự kiểm soát có thể căn cứ trên
cơ sở: thị phần, doanh thu hàng năm, quy mô tài sản, nhân viên…, ngoài ra nó còn được
Trang 12GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 8 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
căn cứ vào khả năng của công ty trong việc tăng (hoặc giảm) giá trên (hoặc dưới) mức cạnh tranh trên thị trường trong một giai đoạn nhất định Vị trí thống lĩnh thị trường được hiểu là vị trí không chỉ một doanh nghiệp, mà còn có thể là của một nhóm doanh nghiệp cùng phối hợp hành động3 Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường có xu hướng hạn chế cạnh tranh, vì thế Luật cạnh tranh ở các nước đều có những quy định kiểm soát doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường một cách chặt chẽ
Đối với trường hợp một nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, pháp luật muốn tập trung vào cơ cấu thị trường có độ tập trung cao trong cạnh tranh như hình thức độc quyền nhóm Xác định vị trí thống lĩnh thị trường có ý nghĩa rất lớn đối với việc xác định hành vi lạm dụng Một hành vi áp đặt giá quá thấp hoặc quá cao có thể chỉ là hành
vi của doanh nghiệp bình thường Tuy nhiên, khi nó được thực hiện bởi một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thì hành vi ấy không còn bình thường nữa và nó có khả năng đe dọa đến cơ cấu và trật tự cạnh tranh trên thương trường
Pháp luật cạnh tranh các nước cũng có quy định tương đối gần nhau về các tiêu chí xác định một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Các tiêu chí này có thể xác định bằng thị phần; năng lực tài chính, khả năng thâm nhập vào thị trường mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đang tồn tại; khả năng của doanh nghiệp đó về việc chi phối hoạt động tại khu vực thị trường…
Pháp luật của Mỹ, Châu Âu và một số nước như Anh, Thụy Điển và hầu hết các nước đều sử dụng mức thị phần là căn cứ chủ yếu để đánh giá quyền lực thị trường của doanh nghiệp Ta có thể tìm thấy các quy định xác định vị trí thống lĩnh thị trường trên cơ sở thị phần trong pháp luật của Anh, theo đó vị trí thống lĩnh thị trường của một công ty được xác lập khi công ty đó mua hoặc bán 25% trở lên của một loại hàng hóa, dịch vụ trong nước hoặc trên một khu vực thị trường nhất định, độc quyền nhóm xuất hiện khi các công
ty chiếm 25% thị phần cùng hành động làm ảnh hưởng đến cạnh tranh Tại Balan, một công ty có vị trí thống lĩnh thị trường khi thị phần của nó vượt quá 40% Luật Cộng Hòa Séc và Bồ Đào Nha xác định mức thị phần là 30% là có vị trí thống lĩnh thị trường4 Bằng phương pháp định lượng, thông qua các án lệ Tòa án Mỹ thông thường coi một chủ thể có ưu thế trên thị trường nếu chi phối hơn 40% thị phần, hay nhóm chủ thể chi
3
Ts Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Nxb
chính trị quốc gia, 2004, trang 125
4
Hoàng Xuân Bắc, Bình luận luật mẫu về cạnh tranh, bản dịch Tiếng Việt, Bộ thương mại, 2002
Trang 13GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 9 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
phối hơn 70% thị phần Chính vì tỷ lệ % này mà việc xác định cho được thị trường là vấn
đề quan trọng
Còn ở pháp luật Châu Âu không đưa ra tiêu chí định lượng cụ thể mà thông qua các
án lệ mới tổng hợp lại rằng một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là chiếm khoảng 40% - 50% thị phần trở lên Luật cạnh tranh Thụy Điển quy định phạm vi chiếm thị phần là 35% thì bị coi là có vị trí thống lĩnh thị trường
Luật cạnh tranh của Việt Nam cũng lấy tiêu chí là thị phần để quy định một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Theo Điều 3 khoản 5 của Luật cạnh tranh có định nghĩa: “Thị phần” của doanh nghiệp đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỉ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm”
Việc lấy tiêu chí thị phần để đánh giá một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp trong Luật cạnh tranh Việt Nam là điều hợp lý và phù hợp với xu hướng pháp luật thế giới Theo đó, pháp luật Việt Nam quy định “Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau:
a Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;
b Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;
c Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan”5 Dựa vào tỷ lệ thị phần là một trong những căn cứ quan trọng để quy định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường trên thị trường liên quan và căn cứ vào đó Nhà nước mới có một tiêu chí cụ thể để điều tra các doanh nghiệp trên thị trường Tuy các quốc gia trên thế giới đều lấy tiêu chí thị phần là căn cứ quan trọng để đánh giá doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường nhưng ở các quốc gia khác nhau thì việc xác định mức thị phần làm căn cứ kết luận vị trí thống lĩnh không giống nhau Với kinh nghiệm lập pháp và tình hình thực tế của quy mô kinh doanh, quy mô cạnh tranh chủ yếu trên thị trường của mỗi nước mà mức thị phần khác nhau và mức thị phần mà pháp luật xác định cho một doanh
5
Khoản 2, Điều 11, Luật cạnh tranh 2004 số 27/2004/QH11 được ban hành ngày 03/12/2004
Trang 14GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 10 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là khác nhau Ví dụ pháp luật Latvia xác định vị trí thống lĩnh của một doanh nghiệp là khi thị phần của doanh nghiệp đó chiếm 40%, còn vị trí thống lĩnh của 3 doanh nghiệp được xác định là 70%
Trong khoản 1 Điều 11 của Luật cạnh tranh Việt Nam có nêu: “Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể”
Luật cạnh tranh Việt Nam cũng lấy tiêu chí chủ yếu là thị phần để quy định một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, đây là một tiêu chí phù hợp với pháp luật trên thế giới
Về tỷ lệ thị phần để xem xét vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp thì các nhà làm luật đã phải nghiên cứu rất kỹ vì như trên đã đề cập thì tùy theo quy mô kinh doanh, quy mô cạnh tranh chủ yếu trên thị trường của mỗi nước mà mức thị phần khác nhau và mức thị phần mà pháp luật xác định cho một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh thị trường là khác nhau thế nên tỷ lệ thị phần là 30% là hợp lý vì ở nước ta doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đến 96% tổng số các doanh nghiệp Các doanh nghiệp này có số vốn dưới 10 tỷ đồng Việt Nam hoặc số lao động dưới 300 người6 Và nền kinh tế ở Việt Nam là nền kinh tế còn ở trình độ thấp do đó một doanh nghiệp có được thị phần 30% trở lên là không nhiều nếu quy định doanh nghiệp có thị phần là 40% hoặc 50% là quá cao so với nền kinh tế Việt Nam Đơn cử một trường hợp điển hình là Công ty kinh doanh dược phẩm Zuellig Pharma mới chỉ chiếm 26% thị phần mà đã gây lũng đoạn thị trường thuốc tân dược7, điều đó cho thấy thị phần 30% là rất lớn
Yếu tố thị phần là chủ yếu nhưng không phải là tất cả vì pháp luật Mỹ và Châu Âu còn xem xét các yếu tố khác để chứng minh vị trí thống lĩnh thị trường:
Dựa vào vị thế cạnh tranh, thể hiện ở tương quan so sánh về thị phần giữa chủ thể đang xem xét và các đối thủ cạnh tranh của nó;
Dựa vào sự vượt trội về các nguồn lực cho sản xuất, quy mô và năng lực kinh doanh;
Trang 15GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 11 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
Dựa vào sự vượt trội về kỹ thuật và các sở hữu các giải pháp kỹ thuật, quyền sở hữu trí tuệ
Luật cạnh tranh Việt Nam cũng có quy định tương tự: bên cạnh lấy yếu tố thị phần để quy định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thì theo khoản 1 Điều 11 Luật cạnh tranh còn đề cập đến “Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đánh kể” Theo quy định này doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường có mức thị phần dưới 30% nhưng lại có khả năng hạn chế cạnh tranh đáng kể như khống chế giá, định đoạt giá để lũng đoạn thị trường như trường hợp công ty kinh doanh dược phẩm có 26% thị phần như trên Vì thế theo Luật cạnh tranh không phải thị phần là yếu tố duy nhất để kết luận vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp Theo pháp luật Việt Nam thì khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của doanh nghiệp trên thị trường liên quan được xác định dựa vào một hoặc một số căn cứ chủ yếu sau đây:8
Năng lực tài chính của doanh nghiệp;
Năng lực tài chính của tổ chức kinh tế, cá nhân thành lập doanh nghiệp;
Năng lực tài chính của tổ chức, cá nhân có quyền kiểm soát hoặc chi phối hoạt động của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp;
Năng lực tài chính của công ty mẹ;
Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp;
Quy mô của mạng lưới phân phối
1.4 KHÁI QUÁT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH TRANH
8
Điều 22, Nghị định của chính phủ số 116/2005/NĐ – CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật cạnh tranh
Trang 16GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 12 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế” Như vậy, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là một trong ba hành vi cụ thể của hành vi hạn chế cạnh tranh Để cụ thể hóa hành vi này, Điều 13 Luật cạnh tranh đã liệt kê các hành vi mà các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường không được thực hiện, bao gồm: “bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh; áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng; hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng; áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh; áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới”
Như vậy chủ thể thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh là các doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Các doanh nghiệp này đã thực hiện những hành vi vi phạm mà Điều 13 Luật cạnh tranh đã liệt
kê gây giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường Cũng cần phải lưu ý là pháp luật cạnh tranh cũng nghiêm cấm các doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện các hành vi được quy định tại Điều 13 Luật cạnh tranh Vì vậy, khi có doanh nghiệp thực hiện các hành vi trên, người tiến hành điều tra cần xác định rõ vị trí của doanh nghiệp để kết luận doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm hay hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm Từ đó, có thể khái quát “hành vi lạm dụng để hạn chế cạnh tranh là những hành vi được quy định trong Luật cạnh tranh do doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trên thị trường liên quan thực hiện làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường”9 Về vấn đề này, luật cạnh tranh của các nước có hai cách tiếp cận khác nhau:
- Cách tiếp cận thứ nhất, quy định tương tự như Luật cạnh tranh Việt Nam, chẳng hạn, Điều 79 Luật cạnh tranh Canađa quy định ba dấu hiệu của hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh là: “một hoặc một nhóm doanh nghiệp kiểm soát thị trường liên quan; thực hiện hành vi phản cạnh tranh được quy định trong luật cạnh tranh; hành
9
PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,
trang 9
Trang 17GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 13 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
vi đó đã, đang hoặc có thể làm cản trở, làm giảm cạnh tranh trên thị trường một cách đáng kể”10 Hoặc theo khoản 8 Điều 2 Luật thương mại Hàn Quốc quy định:
“hành vi gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể là hành vi gây ảnh hưởng hoặc được coi là gây ảnh hưởng tới giá cả, khối lượng, chất lượng và các điều kiện nhất định hay hiệp hội thương mại nhất định và kết quả là làm giảm cạnh tranh trên một thị trường thương mại nhất định”
- Cách tiếp cận thứ hai, có quy định khác so với Luật cạnh tranh Việt Nam, như theo quy định của “Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hợp quốc được thông qua ngày 22 tháng 4 năm 1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của Tổ chức hợp tác và phát triển Liên hợp quốc định nghĩa hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh là hành vi mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường sử dụng để duy trì tăng cường vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh”11
So với cách tiếp cận thứ nhất, việc xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh của Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hợp quốc và Luật mẫu về cạnh tranh dễ dàng hơn, bởi lẽ để chứng minh một doanh nghiệp thực hiện hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh theo cách tiếp cận thứ nhất cần phải chứng minh được doanh nghiệp gây hậu quả (hoặc có khả năng) làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh Tuy nhiên, việc xác định mức độ giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh là không hề đơn giản do khó có một đại lượng khách quan nào có thể cân, đo, đong đếm được mức độ ganh đua trên thị trường thực tế Ngược lại, theo cách tiếp cận thứ hai, việc xác định khả năng duy trì, củng cố vị trí của doanh nghiệp sẽ đơn giản hơn do các nhà điều tra có thể sử dụng các số liệu về thị phần của các doanh nghiệp, các thông số kinh tế, kỹ thuật trên thị trường liên quan… để đưa ra kết luận
1.4.2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh
Thứ nhất, chủ thể tiến hành hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường
Pháp luật cạnh tranh nói chung không nghiêm cấm việc hình thành doanh nghiệp có vị trí
10
Cơ quan phát triển quốc tế Canađa, Bộ thương mại Việt Nam, Luật Cạnh tranh Canađa và bình luận Bản dịch
của Vụ pháp chế, Bộ Thương mại, 2004
11
PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,
trang 10
Trang 18GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 14 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
thống lĩnh thị trường mà chỉ hướng đến việc xóa bỏ hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh Một doanh nghiệp có thể đạt vị trí thống lĩnh thị trường do
“hình thành từ sự tích tụ trong quá trình cạnh tranh; từ những điều kiện tự nhiên của thị trường như: yêu cầu về quy mô hiệu quả tối thiểu, sự biến dị của sản phẩm, sự tồn tại của các rào cản gia nhập thị trường; hoặc sự bảo hộ quyền lực nhà nước…” Trong trường hợp này, vị trí thống lĩnh thị trường là hợp pháp và được pháp luật bảo hộ Thậm chí còn
có nhiều quan điểm khuyến khích doanh nghiệp tạo lập vị trí thống lĩnh thị trường, như theo quan điểm của thạc sĩ Nguyễn Văn Chương thì đó là tiền đề cho cơ chế “hiệu quả kinh tế quy mô” Tuy nhiên, vị trí thống lĩnh thị trường sẽ đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường, theo đó “quyền lực thị trường là khả năng của một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp trong việc tác động đến giá cả thị trường của một loại hàng hóa hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua” Do đó, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường sẽ có nhiều lợi thế hơn về khả năng kiểm soát nguồn nguyên liệu, giá cả, số lượng, chất lượng… khi ganh đua với các doanh nghiệp khác trên thị trường liên quan và mặt khác, cũng có khả năng chi phối các quan hệ với khách hàng của doanh nghiệp Từ
đó, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường có khả năng gây hạn chế cạnh tranh và gây thiệt hại không những cho các doanh nghiệp khác mà còn cho khách hàng của các doanh nghiệp Chính vì nguyên nhân này, Luật cạnh tranh đã cấm các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện các hành vi nhằm hạn chế cạnh tranh
Thứ hai, các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh là những hành vi mà Luật cạnh tranh liệt kê Như đã phân tích ở trên, Luật cạnh tranh
không quy định rõ khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh, do đó, các nhà làm luật đã cố gắng liệt kê các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường cụ thể để ngăn chặn hành vi trên Như vậy, chỉ khi nào một doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện hành vi quy định tại Điều 13 Luật cạnh tranh, tức
là chứng minh hành vi của doanh nghiệp có đầy đủ các dấu hiệu của hành vi cụ thể được quy định
Thứ ba, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh là sự áp đặt của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường lên các doanh nghiệp đối thủ hoặc khách hàng của doanh nghiệp Đây là dấu hiệu để phân biệt hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh và hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Trong kinh tế học, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được nhìn nhận là sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế
Trang 19GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 15 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh Như vậy, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau Hình thức của thỏa thuận là sự thống nhất cùng hành động của các doanh nghiệp Nói cách khác, các doanh nghiệp đã tự nguyện thỏa thuận với nhau để áp dụng một tiêu chuẩn thống nhất về giá, điều kiện và nội dung kí kết hợp đồng, kỹ thuật công nghệ… Trong khi
đó, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là sự áp đặt của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường lên khách hàng và các đối thủ cạnh tranh Như vậy, trong mối quan
hệ với doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, khách hàng và doanh nghiệp không thể tự do thoả thuận mà bị bắt buộc phải thực hiện các hành vi theo yêu cầu của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Nói cách khác, trong biểu hiện của hành vi này sẽ thiếu đi yếu tố tự nguyện, sự tự do ý chí của các khách hàng và doanh nghiệp đối thủ cạnh của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường
Thứ tư, hậu quả của hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường Việc xác định tác hại
của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là một bước rất quan trọng để chống lại hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, các nhà hoạch định chính sách cạnh tranh của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (viết tắt là OEDC) đã chỉ rõ: “chỉ có thể chống lại sự lạm dụng quyền lực thị trường thành công khi pháp luật và người thi hành nó xác định được những hành vi cụ thể có thể gây hại cạnh tranh và đánh giá tác động toàn diện của chúng trên thị trường liên quan” Luật cạnh tranh Việt Nam cũng có cách tiếp cận tương tự khi liệt kê cụ thể những hành vi vi phạm và chỉ rõ hậu quả của hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh để hạn chế cạnh tranh là làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường Tuy nhiên, để có thể đánh giá tác động toàn diện của các hành vi vi phạm trên thị trường là rất khó khăn khi Luật cạnh tranh Việt Nam đã không giải thích thế nào là giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường và cũng không quy định các căn cứ để xác định mức độ tác động của các hành vi Trong quá trình xây dựng Luật cạnh tranh, các nhà làm luật Việt Nam cũng rất mong muốn quy định các căn cứ cụ thể xác định mức độ thiệt hại gây ra, tuy nhiên, điều này là vô cùng nan giải vì:
Hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm ba nhóm hành vi cụ thể là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế, do đó khó có thể quy định một khái niệm chứa đựng những căn cứ cho từng hành vi
Trang 20GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 16 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được liệt kê rất đa dạng, bao gồm sáu hành vi cụ thể được quy định tại Điều 13 Luật cạnh tranh, mỗi hành vi cụ thể xâm hại một đối tượng khác nhau và tác hại của nó gây ra trên thực tế cũng rất khác nhau, do đó việc xây dựng các căn cứ xác định mức độ tác hại của mọi hành vi là điều không thể
Vì thế, để xác định mức độ thiệt hại của các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường cả về góc độ lý thuyết đối với nhà nghiên cứu và trong công tác thực thi pháp luật đối với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền họ đều phải dựa vào việc phân tích từng hành
vi vi phạm
1.5 SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG
Đã có một giai đoạn, nguyên tắc tự do trong kinh doanh được xem trọng tuyệt đối
Lúc này, Nhà nước – chủ thể nắm trong tay quyền lực xã hội – cũng không thể tác động đến cạnh tranh, bởi vì “thị trường tự do tồn tại khi không có sự can thiệp của Chính phủ
và tại đó các tác nhân cung cầu được phép hoạt động tự do”12 Theo nhà kinh tế học người Anh – Adam Smith (1723-1790) thì đã tồn tại một “Bàn tay vô hình” điều tiết các quan hệ thị trường Lúc này, khả năng, hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ quyết định thành bại của chính mình “Bàn tay vô hình” của thị trường sẽ tước đi các nguồn lực kinh tế từ những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả và chuyển những nguồn lực này cho các doanh nghiệp có khả năng hơn Vì vậy, công quyền không cần phải can thiệp sâu vào đời sống thị trường13 Tuy nhiên, cùng với thời gian, “Bàn tay vô hình” dường như trở nên bất lực với những toan tính ngày càng tinh vi hơn của con người
Trong thực tiễn, các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường đã tiến hành nhiều cách khác nhau để tối đa hóa lợi nhuận thu được Một số doanh nghiệp có chiến lược nâng cao khả năng kinh doanh một cách chính đáng, đi lên bằng chính khả năng của doanh nghiệp mình Các doanh nghiệp này không ngừng sáng tạo những thủ pháp cạnh tranh, đầu tư phát triển khoa học, kỹ thuật, nâng cao công nghệ, trình độ quản lý, sản xuất kinh doanh, quản lý lao động để nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm Từ đó, đáp ứng nhiều hơn nhu cầu của khách hàng, thu hút khách hàng sử dụng sản phẩm của doanh
Trang 21GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 17 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
nghiệp mình Tuy nhiên, bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn lại tiến hành những hành vi không lành mạnh bao gồm hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh để giảm sức cạnh tranh, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp đối thủ, cho khách hàng và cho toàn bộ nền kinh tế So với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh gây ra những tác hại to lớn hơn, bởi vì nếu như hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ gây ra những thiệt hại cho doanh nghiệp đối thủ và cho khách hàng, thì hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp lại có thể gây ảnh hưởng đến toàn bộ cấu trúc thị trường, tác động đến nền kinh tế, cản trở sự phát triển của toàn xã hội, ảnh hưởng đến nền văn minh của nhân loại Trong trường hợp này, “Bàn tay vô hình” không thể tác động đến những doanh nghiệp có những hành vi toan tính không lành mạnh Vì vậy, Nhà nước – chủ thể thực thi công quyền – phải đứng
ra thực hiện các biện pháp để bảo vệ sự lành mạnh của cạnh tranh Trong các biện pháp được Nhà nước thực hiện thì pháp luật là biện pháp quan trọng và hiệu quả nhất để Nhà nước tác động đến hành vi phản cạnh tranh nói chung và hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh nói riêng vì những lí do sau:
Thứ nhất, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trước hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh Như đã phân tích, khi một doanh nghiệp đạt được
vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp này sẽ tồn tại một quyền lực thị trường khiến người tiêu dùng không được lựa chọn sử dụng các sản phẩm của các doanh nghiệp khác, thậm chí khi ký kết các hợp đồng với các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, người tiêu dùng còn phải chịu những điều kiện bất hợp lý Lúc này,
sự ra đời của pháp luật sẽ giúp người tiêu dùng tránh được những tác động do các hành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường vì pháp luật sẽ bảo vệ người tiêu dùng trước những hợp đồng không trung thực và không công bằng theo hướng phải sửa đổi lại các điều khoản không công bằng, đồng thời, quy định những trách nhiệm đối với những quy phạm có thể đe dọa đến người tiêu dùng14
Thứ hai, nhờ có pháp luật, các doanh nghiệp sẽ được bảo vệ trước những hành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Sự ra đời của pháp luật sẽ lập lại trật tự thị trường, giúp các doanh nghiệp giải phóng khỏi sự bất bình đẳng khi có doanh nghiệp đạt được vị trí thống lĩnh thị trường Hơn nữa, những chế tài của pháp
14
TS Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Ths Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb Tư pháp,
Hà Nội, 2006, trang 84-85
Trang 22GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 18 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
luật sẽ làm cho doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường phải dè dặt hơn khi thực hiện những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp
Thứ ba, pháp luật bảo vệ toàn bộ nền kinh tế, tạo nên một môi trường kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng tự do thông qua các quy định về tự do kinh doanh và quyền được tồn tại bình đẳng của các doanh nghiệp Với tư cách là một lĩnh vực đặc thù của nền kinh tế thị trường, pháp luật tác động đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp, thông qua đó “pháp luật cạnh tranh bảo vệ quyền tự do kinh doanh của các thành viên thị trường, bảo vệ môi trường cạnh tranh, bảo vệ sự lành mạnh của nền kinh tế”15
Thứ tư, hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh sẽ giúp Việt Nam nhanh chóng
mở rộng thị trường và đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và bảo vệ nền kinh
tế thị trường quốc gia
Thứ năm, khuyến khích doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, bằng con đường cạnh tranh lành mạnh Thực hiện các biện pháp ngăn chặn các hậu quả tiêu cực do hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây ra Góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển của nền kinh tế thị trường
15
TS Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Ths Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb Tư pháp,
Hà Nội, 2006, trang 79
Trang 23GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 19 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH TRANH
2.1 BÁN HÀNG HÓA, CUNG ỨNG DỊCH VỤ DƯỚI GIÁ THÀNH TOÀN BỘ NHẰM LOẠI BỎ ĐỐI THỦ CẠNH TRANH
2.1.1 Khái niệm
Trong tình trạng xã hội đang bị lạm phát như hiện nay thì đối với nhiều người tiêu dùng chất lượng sản phẩm không phải là điều quan trọng nhất mà giá cả mới là vấn đề ưu tiên hàng đầu Do đó, các doanh nghiệp luôn cố gắng hạ giá thành sản phẩm để thu hút khách hàng Trong đó, có nhiều doanh nghiệp đã sử dụng những hành vi không lành mạnh trong cuộc cạnh tranh về giá bằng cách sử dụng giá cả như một công cụ để tiêu diệt đối thủ Hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ cạnh tranh là một trong những hành vi không lành mạnh ấy Cụ thể, “doanh nghiệp có
Trang 24GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 20 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
vị trí thống lĩnh thị trường đã chấp nhận lỗ khi bán hàng hóa dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường”16.Khi doanh nghiệp thực hiện hành vi này, các doanh nghiệp khác cũng không thể bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ với mức giá cũ Như vậy, “doanh nghiệp đã tạo ra một môi trường cạnh tranh về khả năng chịu lỗ”17 Với khả năng tài chính vượt trội, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường sẽ có khả năng chịu đựng bền bĩ hơn và tồn tại Trong khi đó, các doanh nghiệp khác khi không còn khả năng chịu đựng sẽ phải chấp nhận từ bỏ thị trường
Khoản 1 Điều 23 Nghị định 163/2005/NĐ-CP quy định hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh là việc bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ với mức giá thấp hơn tổng các chi phí cấu thành giá thành sản xuất hàng hóa, dịch vụ và chi phí lưu thông hàng hóa, dịch vụ
2.1.2 Hành vi vi phạm
Để xác định hành vi vi phạm trước hết cơ quan điều tra cần xác định thế nào là giá thành sản xuất Theo quy định của Điều 24 Nghị định 116/2005/NĐ-CP giá thành sản xuất bao gồm các chi phí vật tư trực tiếp (chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu…), chi phí nhân công trực tiếp (các khoản trả cho người lao động trực tiếp sản xuất như tiền lương, tiền công…), chi phí sản xuất chung (chi phí chung phát sinh ở các phân xưởng,
bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp như tiền lương, phụ cấp…) và theo quy định tại Điều 25 Nghị định 116/2005/NĐ-CP, chi phí lưu thông hàng hóa, dịch vụ bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, cung ứng dịch vụ như tiền lương, chi phí tiếp thị, chi phí đóng gói, chi phí vận chuyển… Nếu hiệu số giữa giá bán thực tế hàng hóa, cung ứng dịch vụ và giá thành toàn bộ của hàng hóa, dịch vụ là một số âm thì có thể kết luận có hành vi vi phạm mà không cần điều tra về hậu quả thực tế của hành vi gây ra cho thị trường Như vậy theo pháp luật Việt Nam, khi xác định hành vi này, cơ quan điều tra sẽ “suy đoán và quy kết dựa vào hiện tượng giá bán bị hạ thấp một cách bất bình thường”18 Trong khi đó, pháp luật cạnh tranh của nhiều nước lại quy định khác với Việt Nam Chẳng hạn, ở Ấn Độ, Hoa Kì, Canađa khi xác định hành vi vi phạm, cơ quan điều
16
PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,
PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,
trang 78
Trang 25GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 21 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
tra cần phải chứng minh được ý định loại bỏ đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường19 Cụ thể, ở Canađa, Hoa Kì để xác định hành vi và mục đích loại
bỏ đối thủ của việc bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới chi phí toàn bộ, cơ quan có thẩm quyền phải xác định liệu có tồn tại những điều kiện thị trường đủ để cho phép doanh nghiệp bị điều tra có thể thu hồi lại những tổn thất do việc định giá thấp không và mức giá bán có thấp một cách bất hợp lý so với chi phí hay không20 Trong khi đó, pháp luật Việt Nam sử dụng phương pháp liệt kê những tình huống được coi là không vi phạm
Cụ thể, khoản 2, khoản 3 Điều 23 Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định hành vi bán hàng hóa dưới giá thành toàn bộ sẽ không được xem là loại bỏ đối thủ cạnh tranh nếu hạ giá bán hàng hóa tươi sống; hạ giá bán hàng hóa tồn kho do chất lượng giảm, lạc hậu về hình thức, không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng; hạ giá bán hàng hóa theo mùa vụ; hạ giá bán hàng hóa trong chương trình khuyến mại theo quy định của pháp luật… và có niêm yết công khai, rõ ràng tại cửa hàng, nơi giao dịch về mức giá cũ, mức giá mới, thời gian hạ giá Như vậy, chỉ khi nào có những tình huống trên thì hành vi bán hàng hóa dưới giá thành toàn bộ của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường mới không bị xem là vi phạm Thiết nghĩ, các nhà lập pháp Việt Nam cần phải học hỏi kinh nghiệm của Hoa kỳ, Canađa khi xác định hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ Bên cạnh đó, khi xác định hành vi bán hàng hóa, dịch vụ dưới giá thành toàn bộ, cơ quan cạnh tranh sẽ gặp rất nhiều khó khăn, bởi lẽ:
Các thông số về chi phí phần lớn do doanh nghiệp cung cấp Trong điều kiện các tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán ở Việt Nam chưa được tôn trọng và minh bạch như hiện nay sẽ dẫn đến kết quả điều tra có thể sẽ không chính xác;
Việc xác định các chi phí của loại hình dịch vụ là rất khó khăn do tính chất vô hình của dịch vụ Việc xác định các bộ phận cấu thành của chi phí dịch vụ và quy định một tiêu chuẩn cụ thể để xác định chi phí cho loại hình này là vô cùng nan giải;
19
PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,
trang 79
20
PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,
trang 79 -80
Trang 26GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 22 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
Trình độ chuyên môn của cán bộ cạnh tranh là chưa cao trong khi việc phân tích các số liệu về chi phí, giá cả… đòi hỏi người thực thi pháp luật vừa có trình độ lý thuyết lẫn kinh nghiệm thực tế
2.1.3 Xử lý vi phạm
Trên cơ sở xem xét các yếu tố như mức độ gây hạn chế cạnh tranh do hành vi vi phạm gây ra, mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra, khả năng gây hạn chế cạnh tranh của các đối tượng vi phạm, thời gian thực hiện hành vi vi phạm, khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm và các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng, doanh nghiệp vi phạm quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có thể phải chịu một trong những hình thức xử lý vi phạm sau:
Theo quy định tại Điều 18, Nghị định 120/2005/NĐ-CP:
Phạt tiền đến 5% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc từng doanh nghiệp thuộc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đối với hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh
Phạt tiền từ 5% đến 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đối với hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh thuộc một trong những hành vi sau đây:
- Hàng hóa, dịch vụ liên quan là các mặt hàng lương thực, thực phẩm trang thiết bị y tế, thuốc phòng và chữa bệnh cho người, thuốc thú y, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi và các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe21
- Doanh nghiệp vi phạm có thị phần trên thị trường liên quan từ 50% trở lên22
Phạt tiền từ 5% đến 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm của doanh nghiệp thuộc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đối với hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh thuộc một trong những trường hợp sau:
Trang 27GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 23 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
- Là doanh nghiệp có thị phần trên thị trường liên quan lớn nhất trong nhóm doanh nghiệp thống lĩnh thị trường;
- Là doanh nghiệp giữ vai trò tổ chức, lôi kéo các doanh nghiệp khác trong nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường cùng thực hiện hành vi vi phạm
Ngoài việc bị phạt tiền theo quy định của pháp luật nói trên thì doanh nghiệp vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả sau đây23:
- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành
vi vi phạm;
- Buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinh doanh liên quan;
- Buộc cơ cấu lại doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường
2.2 ÁP ĐẶT GIÁ MUA, GIÁ BÁN HÀNG HÓA, DỊCH VỤ BẤT HỢP LÝ HOẶC
ẤN ĐỊNH GIÁ BÁN LẠI TỐI THIỂU GÂY THIỆT HẠI CHO KHÁCH HÀNG
2.2.1 Khái niệm
Theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật cạnh tranh 2004, các hành vi bị cấm bao gồm
ba hành vi: áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý; áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hơp lý; ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng
Áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý
Tại Việt Nam, hành vi mua hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng được báo chí và phương tiện truyền thông liên tục nhắc đến Điệp khúc “được mùa mất giá” trong lĩnh vực nông nghiệp dường như là câu chuyện muôn thuở Việc mua giá thấp đối với các mặt hàng như muối, thủy sản, trái cây được lặp đi lặp lại từ rất lâu, kể cả khi Luật cạnh tranh đã có hiệu lực Khi một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp sẽ lợi dụng vị trí không bình đẳng giữa các doanh nghiệp và khách hàng để
23
Xem thêm khoản 4 Điều 18 Nghị định 120/2005/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh
Trang 28GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 24 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
bóc lột khách hàng trong các giao dịch giữa doanh nghiệp và khách hàng Doanh nghiệp
sẽ sử dụng quyền lực thị trường của mình để định giá mua thấp cho khách hàng
Theo quy định tại khoản 1, Điều 27 Nghị định 116/2005/NĐ-CP, hành vi áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ được coi là bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng nếu giá mua tại cùng thị trường liên quan được đặt ra thấp hơn giá thành sản xuất hàng hóa, dịch vụ trong điều kiện chất lượng hàng hóa, dịch vụ đặt mua không kém hơn chất lượng hàng hóa, dịch vụ đã mua trước đó và không khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch họa hoặc biến động bất thường làm giá bán buôn hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ trên thị trường liên quan giảm tới mức dưới giá thành sản xuất trong thời gian sáu mươi ngày liên tiếp so với trước đó
Ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng
Hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Nghị định 116/2005/NĐ-CP là việc khống chế không cho phép các nhà phân phối, các nhà bán lẻ bán lại hàng hóa thấp hơn mức giá đã quy định trước
2.2.2 Hành vi vi phạm
Áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý
Hành vi này xảy ra khi doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đóng vai trò là người mua hàng hóa, dịch vụ Doanh nghiệp sẽ dùng quyền lực thị trường do vị trí thống lĩnh của mình mang lại để buộc khách hàng của mình là người bán sản phẩm, cung ứng dịch vụ phải bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành của sản phẩm Để xác định
Trang 29GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 25 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
hành vi vi phạm, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành so sánh giá thành của sản phẩm và giá mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Giá thành sản phẩm là tổng giá thành sản xuất hàng hóa, dịch vụ bao gồm chi phí vật tư trực tiếp (chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu…), chi phí nhân công trực tiếp (các khoản trả cho người lao động trực tiếp sản xuất như tiền lương, tiền công…), chi phí sản xuất chung (chi phí chung phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp như tiền lương, phụ cấp…) và chi phí lưu thông hàng hóa, dịch vụ bao gồm tiền lương, chi phí tiếp thị, chi phí vận chuyển, chi phí bảo quản…24 Khi tiến hành kinh doanh thì bất cứ doanh nghiệp nào cũng mong muốn thu được lợi nhuận Họ sẽ tiến hành các hoạt động thương mại bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại
để nhằm mục đích sinh lợi25 Như vậy, việc doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ dưới giá thành sản xuất là trái với mong muốn của các doanh nghiệp bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đó Vì thế, nếu giá mua của giao dịch thấp hơn so với giá thành sản xuất của sản phẩm thì có thể kết luận hành vi vi phạm của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Thiệt hại mà khách hàng phải gánh chịu là mức chênh lệch giữa giá thành và giá thực tế mà doanh nghiệp đã mua Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp việc áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ thấp hơn giá thành cũng bị xem là
vi phạm Khoản 1 Điều 27 Nghị định 116/2005/NĐ-CP cho phép doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ đã mua trước đó hay có khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch họa hoặc biến động bất thường làm giá bán buôn hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ trên thị trường liên quan giảm tới mức dưới giá thành sản xuất trong thời gian sáu mươi ngày liên tiếp so với trước
Áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý
Hành vi này xảy ra khi doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là người bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng Doanh nghiệp sẽ sử dụng vị trí thống lĩnh thị trường của mình để tăng giá thành sản phẩm Theo đó, trong thời gian tối thiểu sáu mươi
Trang 30GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 26 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
ngày liên tiếp, giá bán lẻ trung bình của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan tăng một lần hoặc nhiều lần vượt quá 5% so với giá bán trước thời gian tối thiểu đó Thiệt hại
mà khách hàng phải gánh chịu là mức giá tăng lên của hàng hóa, dịch vụ Cụ thể, “phần tăng thêm sẽ làm tăng thu nhập của doanh nghiệp cũng chính là lợi ích mà họ bóc lột từ khách hàng”26.Giống như quy định đối với hành vi áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng, Nghị định 116/2005/NĐ-CP cũng đưa ra những tình huống mà khi xảy ra thì doanh nghiệp dù có bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên giá thành sản xuất cũng không bị xem là vi phạm, cụ thể hiện tượng tăng giá xảy ra khi mức cầu của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường tăng đột biến vượt quá năng lực sản xuất hoặc công suất thiết kế của doanh nghiệp hoặc có biến động bất thường của thị trường làm tăng giá thành sản xuất của hàng hóa, dịch vụ tăng vượt quá 5% trong thời gian sáu mươi ngày liên tiếp trước khi có sự tăng giá Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Nghị định 116/2005/NĐ-CP thì các nhà làm luật Việt Nam đang mong muốn ngăn cấm hiện tượng tăng giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý chứ không ngăn cấm việc đặt ra mức giá bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật Cạnh tranh
2004, bởi lẽ, cơ quan có thẩm quyền sẽ không thể xử lý doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường nếu doanh nghiệp tăng giá không vượt quá 5% hoặc mặc dù doanh nghiệp áp đặt giá quá cao so với giá thực tế của sản phẩm nhưng không có sự tăng giá sản phẩm thì
cơ quan có thẩm quyền không thể xử lý được Theo kinh nghiệm của các nước, hành vi
áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý được mô tả là hành vi ấn định mức giá cao một cách vô lý Theo đó, cơ quan cạnh tranh sẽ xác định một mức giá bất hợp lý dựa vào chi phí sản xuất và tình hình thị trường, và sau đó đem so sánh với giá bán sản phẩm thực
tế Nếu giá bán thực tế quá cao so với mức giá hợp lý đó thì có thể kết luận có sự vi phạm Sau đó, cơ quan cạnh tranh sẽ chứng minh mức giá mà doanh nghiệp áp đặt là bất hợp lý Cuối cùng, cơ quan cạnh tranh sẽ xem xét những lý do dẫn đến việc bán giá quá cao như do chi phí tăng hoặc do nhu cầu tăng… Cách tiếp cận này mới thực sự diễn tả đúng về hành vi áp đặt giá bán bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng27.Tuy nhiên, “các
26
PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,
trang 105
27
PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,
trang 108-109
Trang 31GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 27 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
nhà hoạch định chính sách cạnh tranh khuyến cáo việc ngăn cấm hành vi định giá cao cần phải lưu ý khả năng cơ quan cạnh tranh có thể điều tiết quá sâu vào quan hệ thị trường, bởi giá cả thể hiện khả năng tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường và lợi nhuận lại có vai trò tác động cho việc gia nhập hay rút khỏi thị trường Khi đó, Nhà nước lạm dụng quy định này để điều tiết giá cả có thể làm cho vai trò trên của lợi nhuận bị vô hiệu”28
Ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng
Hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng phản ánh mối quan
hệ giữa doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường với các doanh nghiệp phân phối, doanh nghiệp bán lẻ Khi phân tích hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng, chúng ta cần phải phân biệt hành vi này với hành vi thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật cạnh tranh 2004 bởi vì hai hành vi trên theo kinh tế học thì đều xem là một dạng thỏa thuận về giá Theo đó, hành vi thỏa thuận giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp theo quy định tại Điều 14 Nghị định 116/2005/NĐ-CP là việc thống nhất cùng hành động của các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau để từ đó xác định một mức giá chung hay một công thức tính giá chung mà các thành viên tham gia sẽ áp dụng29 Như vậy, đối với hành vi thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, thì các doanh nghiệp phải là đối thủ cạnh tranh của nhau, và việc áp dụng giá đã thỏa thuận là kết quả của sự tự nguyện của chính các doanh nghiệp đó Trong khi đó, như đã phân tích ở trên, hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng là kết quả của sự áp đặt giữa các doanh nghiệp có vị trí không ngang bằng Luật cạnh tranh 2004 sử dụng cụm từ “định giá bán lại tối thiểu” để thể hiện sự áp đặt của hành vi lạm dụng Theo quan điểm của các nhà lập pháp Canađa, những nổ lực của doanh nghiệp trong việc thuyết phục các nhà phân phối tăng hoặc giảm giá không phải là
sự vi phạm Bởi lẽ, trong thực tế, các doanh nghiệp thường xuyên cung cấp cho hệ thống phân phối sản phẩm của mình thông tin về diễn biến thị trường cũng như những dự báo của thị trường trong tương lai, để từ đó đưa ra những gợi ý về chiến lược giá cả Những hành vi như thế về mặt kinh tế mang lại hiệu quả trong kinh doanh cho các doanh nghiệp
28
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OEDC) – Ngân hàng thế giới, Khuôn khổ cho việc xây dựng và thực thi luật
và chính sách cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2004, trang 170
29
PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,
trang 113
Trang 32GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 28 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
và tạo nên sự thống nhất của hệ thống phân phối sản phẩm30.Khi doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng thì các doanh nghiệp phân phối, các nhà bán lẻ chỉ có thể bán hàng hóa với mức giá cao hơn mức giá đã được ấn định Khác với hành vi áp đặt giá mua, giá bán bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng, hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu phản ánh mối quan hệ giữa doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường với các nhà phân phối, các nhà bán lẻ của mình Tuy nhiên, đối tượng mà doanh nghiệp có vị trí thống lịnh thị trường hướng đến để bóc lột lại là chính khách hàng của doanh nghiệp Khoản 2 Điều 3 Luật cạnh tranh 2004 quy định việc gây thiệt hại cho khách hàng là dấu hiệu cơ bản để xác định sự vi phạm Tuy nhiên, các nhà làm luật lại không mô tả thế nào là thiệt hại mà khách hàng phải gánh chịu Đây là một kẻ hở rất lớn của pháp luật, bởi lẽ, việc ấn định giá bán lại tối thiểu có thể nằm trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp với mục đích ngăn chặn các nhà phân phối, nhà bán lẽ hàng hóa với giá thấp để từ đó tạo thế độc quyền Vì thế, việc xác định hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng nên chỉ được đặt ra khi doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường sử dụng quyền lực thị trường để bóc lột khách hàng bằng cách giới hạn quyền lựa chọn của họ Hơn nữa, việc các nhà làm luật Việt Nam chỉ quy định hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu chỉ đối với hàng hóa mà không có dịch vụ là một thiếu sót rất lớn, do các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoàn toàn có thể áp đặt các nhà phân phối, nhà bán lẻ không được cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn mức giá mà các doanh nghiệp đó đã cung cấp nhưng các cơ quan cạnh tranh lại không có cơ sở để xử lý
2.2.3 Xử lý vi phạm
Tùy thuộc vào mức độ vi phạm mà pháp luật sẽ có các biện pháp xử lý khác nhau về hành vi áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng Cụ thể tại Điều 19 Nghị định 120/2005/NĐ-CP quy định như sau:
Phạt tiền đến 5% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi
vi phạm của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc từng doanh nghiệp thuộc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đối với một trong các hành vi sau đây:
30
Cơ quan phát triển quốc tế Canađa, Bộ Thương Mại Việt Nam, Luật cạnh tranh Canađa và bình luận, Bản dịch
của Vụ pháp chế, Bộ Thương mại, 2004, trang 79-83
Trang 33GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 29 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
- Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng;
- Ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng
Phạt tiền từ 5% đến 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đối với hành vi áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng thuộc một trong những trường hợp sau31:
- Hàng hóa, dịch vụ liên quan là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, trang thiết bị y tế, thuốc phòng và chữa bệnh cho người, thuốc thú y, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi và các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe;
- Doanh nghiệp vi phạm có thị phần trên thị trường liên quan từ 50% trở lên
Phạt tiền từ 5% đến 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm của doanh nghiệp thuộc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đối với hành vi áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Là doanh nghiệp có thị phần trên thị trường liên quan lớn nhất trong nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường;
- Là doanh nghiệp giữ vai trò tổ chức, lôi kéo các doanh nghiệp khác trong nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh cùng thực hiện hành vi vi phạm
Ngoài việc bị phạt tiền theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp vi phạm các quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả
31
Xem thêm khoản 2 Điều 10 Nghị định 120/2005/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh
Trang 34GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 30 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
2.3 HẠN CHẾ SẢN XUẤT, PHÂN PHỐI HÀNG HÓA, DỊCH VỤ, GIỚI HẠN THỊ TRƯỜNG, CẢN TRỞ SỰ PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT, CÔNG NGHỆ GÂY THIỆT HẠI CHO KHÁCH HÀNG
2.3.1 Khái niệm
Theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Luật Cạnh tranh 2004, các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường không được thực hiện hành vi hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng Đối với hành vi này, “doanh nghiệp đã tự hạn chế khả năng kinh doanh của mình so với nhu cầu của thị trường hoặc hạn chế khả năng phát triển của thị trường”32 Là người nắm giữ quyền lực thị trường, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường có khả năng tác động đến khả năng cung hoặc cầu trên thị trường liên quan, bởi
lẽ, họ có khả năng tác động trực tiếp vào khả năng cung ứng sản phẩm, hàng hóa của thị trường cho người tiêu dùng Lúc này, khách hàng sẽ chịu thiệt hại do hành vi trên của doanh nghiệp bởi vì nhu cầu của họ không được đáp ứng đầy đủ, chất lượng sản phẩm giảm, giá sản phẩm cao do nguồn cầu giảm… Theo quy định tại Điều 28 Nghị định 116/2005/NĐ-CP hành vi này bao gồm ba hành vi đó là: hành vi hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ gây thiệt hại cho khách hàng; hành vi giới hạn thị trường gây thiệt hại cho khách hàng và hành vi cản trợ sự phát triển kỹ thuật, công nghệ làm thiệt hại cho khách hàng
Hành vi hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ gậy thiệt hại cho khách hàng
Hành vi hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ gây thiệt hại cho khách hàng
“là hành vi tạo sự khan hiếm sản phẩm trên thị trường bằng chiến lược kinh doanh cắt giảm lượng hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thực tế xuống thấp hơn mức có thể cung ứng”33
Hành vi giới hạn thị trường gây thiệt hại cho khách hàng
32
PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,
trang 130
33
PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,
trang 146
Trang 35GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân 31 SVTH: Lê Thị Hồng Thắm
Theo quy định tại khoản 2 Điều 28 Nghị định 116/2005/NĐ-CP thì hành vi giới hạn thị trường bao gồm hai hành vi cụ thể là chỉ cung ứng hàng hóa, dịch vụ trong một hoặc một số khu vực địa lý nhất định và chỉ mua hàng hóa, dịch vụ từ một hoặc một số nguồn cung nhất định mà không có lý do chính đáng
Hành vi cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ làm thiệt hại cho khách hàng
Dưới điều kiện cạnh tranh bình thường, các doanh nghiệp luôn không ngừng nâng cao
kỹ thuật công nghệ để nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo hạ giá thành sản phẩm để thu hút khách hàng Có thể nói, nhờ có cạnh tranh, khách hàng đã thụ hưởng được những thành quả do sự phát triển kỹ thuật, công nghệ mang lại Tuy nhiên, khi một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp
sẽ dùng quyền lực thị trường để hạn chế cạnh tranh và làm cho động lực cho sự phát triển
kỹ thuật, công nghệ sẽ giảm gây ảnh hưởng đến quyền thụ hưởng của khách hàng
Theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Nghị định 116/2005/NĐ-CP thì hành vi cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ làm thiệt hại cho khách hàng là hành vi mua sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp để tiêu hủy hoặc không sử dụng và hành vi đe dọa hoặc ép buộc người đang nghiên cứu phát triển kỹ thuật, công nghệ phải ngừng hoặc hủy
bỏ việc nghiên cứu đó