1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quy chế pháp lý về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng

66 726 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 850,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân là do các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng còn rất ít, nhiều bất cập bên cạnh đó là những thiếu sót mà pháp luậ

Trang 1

TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ,

CÔNG CHỨNG

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TS Cao Nhất Linh Trần Phượng Nguyên

Bộ môn: Luật Thương mại MSSV: 5106167

Lớp: Luật Thương mại

Cần Thơ 12/2013

Trang 2

Qua quá trình làm luận văn em đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn rất tận tình của thầy Cao Nhất Linh Bên cạnh đó em cũng nhận được sự giúp đỡ của thầy cô trong Khoa Luật và các bạn của em đã giúp đỡ em rất nhiều để em hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp Tuy vậy, do kiến thức còn hạn chế cũng như còn thiếu kinh nghiệp thực tế nên không tránh khỏi những sai sót em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô để em có thể hoàn thiện hơn đề tài luận văn tốt nghiệp của mình Em chân thành cảm ơn!

Trang 3



Trang 4



Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ, CÔNG CHỨNG 4 1.1 Tổng quan về bảo hiểm thương mại 4

1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm 4

1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm 7

1.1.3 Vai trò của bảo hiểm 10

1.1.3.1 Vai trò đối với kinh tế - xã hội 10

1.1.3.2 Bảo hiểm đóng vai trò là một hoạt động trung gian tài chính 12

1.1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm thương mại 12

1.1.4.1 Trên thế giới 12

1.1.4.2 Ở Việt Nam 14

1.2 Tổng quan về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng 15

1.2.1 Khái niệm về trách nhiệm nghề nghiệp 15

1.2.1.1 Khái niệm nghề nghiệp 15

1.2.1.2 Khái niệm luật sư, công chứng 17

1.2.1.3 Khái niệm trách nhiệm nghề nghiệp 17

1.2.1.4 Sự cần thiết của bảo hiểm trách nghiệp nghề nghiệp 18

1.2.2 Khái niệm về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp 20

1.2.2.1 Hợp đồng bảo hiểm 20

1.2.2.2 Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng 22

Trang 6

sư, công chứng 25

CHƯƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ, CÔNG CHỨNG 28

2.1 Xác lập quan hệ hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng 28

2.1.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp 28

2.1.2 Hình thức của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp 30

2.1.3 Chủ thể 31

2.1.3.1 Bên bảo hiểm 31

2.1.3.2Bên tham gia bảo hiểm 32

2.1.3.3 Bên thứ ba trong hợp đồng bảo hiểm 33

2.1.4 Khách thể 34

2.2 Nội dung của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghề nghiệp của luật sư, công chứng 35

2.2.1 Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng 35

2.2.2 Phí bảo hiểm 36

2.2.3 Thời hạn bảo hiểm 38

2.2.4 Phạm vi bảo hiểm và loại trừ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng 39

2.2.4.1 Phạm vi bảo hiểm 39

2.2.4.2 Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm 40

2.2.5 Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm 44

2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng 45

2.3.1 Quyền của các bên trong hợp đồng bảo hiểm 46

Trang 7

2.3.1.2 Quyền của bên doanh nghiệp bảo hiểm 47

2.3.2 Nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm 49

2.3.2.1 Nghĩa vụ của bên tham gia bảo hiểm 49

2.3.2.2 Nghĩa vụ của bên doanh nghiệp bảo hiểm 51

2.4 Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng 53

2.4.1 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng 53

2.4.2 Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm 54

2.4.2.1 Thời điểm bắt đầu 54

2.4.2.2 Thời điểm kết thúc 55

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ, CÔNG CHỨNG 56

3.1 Thực trạng của việc thi hành pháp luật của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng 56

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng 64

KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nền kinh tế nước ta từ khi chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã đạt được những thành tựu đáng kể, tốc độ tăng trưởng GDP luôn đạt được ở mức cao, lạm phát bị đẩy lùi, kim ngạch xuất nhập khẩu được cải thiện, các ngành sản xuất vật chất, dịch vụ cũng đạt tốc độ tăng trưởng khá cao Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được cải thiện Do vậy, nhu cầu đảm bảo ổn định cuộc sống và việc đầu tư cho tương lai là nhu cầu cần thiết, ngày càng được mọi người quan tâm Việc mua bảo hiểm là một dạng của đầu tư đề phòng rủi ro tốt nhất đối với mọi người và nhất là đối với những cá nhân, tổ chức có công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn cao như luật sư, công chứng Bỡi lẽ, một khi làm việc mà tổ chức, cá nhân hành nghề luật sư, công chứng sơ suất, bất cẩn sẽ gây ảnh hưởng đến khách hàng của họ có khi gây thiệt hại vô cùng lớn mà họ không thể lường trước được Công việc của họ đòi hỏi phải có độ chính xác rất cao và uy tín là điều mà khách hàng tin tưởng ở

họ nhất khi tìm đến nhờ họ tư vấn hay công chứng giấy tờ và một khi họ sơ xuất, bất cẩn sẽ làm mất niềm tin nơi khách hàng từ đó uy tín của họ trong lòng khách hàng sẽ

bị giảm xúc theo lỗi mà họ đã phạm Nếu muốn khách hàng tin tưởng công việc của mình thì tổ chức, cá nhân hành nghề luật sư, công chứng nên tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp Khi tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là biện pháp tự bảo vệ mình cũng như bảo vệ lợi ích khách hàng của mình niềm tin nơi khách hàng sẽ tăng cao hơn Riêng tổ chức, cá nhân hành nghề công chứng sẽ cảm thấy an tâm hơn trong công tác của mình Điều đáng nói ở đây là việc pháp luật đã quy định bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là bảo hiểm bắt buộc nhưng rất ít tổ chức, cá nhân hành nghề luật sư, công chứng chịu tham gia loại hình bảo hiểm này Nguyên nhân là do các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng còn rất ít, nhiều bất cập bên cạnh đó là những thiếu sót mà pháp luật chưa

dự liệu được hết dẫn đến áp dụng luật vào thực tiễn còn nhiều khó khăn cho cả doanh nghiệp bảo hiểm và bên tham gia bảo hiểm trong việc xác lập hợp đồng bảo hiểm

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này cùng với kiến thức đã học

người viết chọn đề tài: “Quy chế pháp lý về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật

sư, công chứng mà cụ thể là những quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng Vì vậy người viết chủ yếu tâp trung vào

Trang 9

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 2

nghiên cứu các quy định của pháp luật có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng được quy định trong Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, Bộ luật dân sự 2005 và các văn bản có liên quan

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm giúp bản thân người viết hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng Bên cạnh đó người viết phân tích các quy định của pháp luật nhằm chỉ ra những điểm bất cập của pháp luật Việt Nam cùng với những khó khăn trong quá trình thực hiện quy định đó, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng Mục đích cuối cùng

là đóng góp một phần nhỏ trong việc xây dựng hoàn thiện khung pháp lý hiệu quả hơn, khả thi hơn, giúp cho các tổ chức, cá nhân hành nghề luật sư, công chứng nhận được tầm quan trọng của bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với công việc của họ

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn người viết đã sử dụng các phương pháp như phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh tổng hợp

và diễn giải, suy luận logic để hoàn thành luận văn Cụ thể là quy định của pháp luật

về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng rất ít, không bao quát hết thực tế hiện nay Vì vậy, người viết đi phân tích những quy định chung sau đó suy luận ra các nội dung mà người viết trình bày ở các phần bên dưới, người viết dựa vào các quy định của các công ty bảo hiểm trong thực Cuối cùng, người viết tổng hợp các vấn đề trong một mối quan hệ thống nhất giúp người đọc có cái nhìn tổng quát và nhìn nhận đúng bản chất vấn đề

Trang 10

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ, CÔNG CHỨNG

1.3 Tổng quan về bảo hiểm thương mại

1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm

Theo các nhà kinh tế bảo hiểm, một định nghĩa đầy đủ và thích hợp cho bảo hiểm phải bao gồm việc hình thành một quỹ tiền tệ tức là quỹ bảo hiểm, sự hoán chuyển rủi ro và phải bao gồm cả sự kết hơp số đông các đơn vị riêng lẻ và độc lập, chịu củng một rủi ro như nhau thành một nhóm tương tác

Tuy nhiên, bảo hiểm do đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn của con người vốn dĩ rất phong phú và biến động, nên cũng rất đa dạng Rất khó tìm kiếm một định nghĩa về bảo hiểm cho nhiều góc nhìn tương ứng với các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh

tế - xã hội Các nhà nghiên cứu kinh tế - xã hội, các học giả bảo hiểm đã lần lượt đưa

ra nhiều định nghĩa khác nhau Theo Dennis Kessler “bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít”1

Hay theo David Bland_Insurance Princiles and

Practice, Nxb Tài chính năm 1998 thì “Bảo hiểm là một hợp đồng theo đó một bên gọi

là công ty bảo hiểm bằng việc thu một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm, cam kết thanh toán cho bên kia gọi là người được bảo hiểm, một khoản tiền hoặc hiện vật tương đương với khoản tiền đó khi xảy ra một sự cố đi ngược lại với quyền lợi của người được bảo hiểm”2 Hay theo định nghĩa của Từ điển thuật ngữ kinh doanh bảo hiểm do

Bảo Việt phát hành năm 2002 “Bảo hiểm là cơ chế chuyển giao theo hợp đồng gánh nặng hậu quả của một số rủi ro thuần túy bằng cách chia sẽ rủi ro cho nhiều người gánh chịu”3 Hoặc là một định nghĩa chi tiết hơn của Từ điển bảo hiểm Pháp Việt, Nxb

Thống kê năm 1996 “Bảo hiểm là một nghiệp vụ mà trong đó, một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm hay khoản đóng góp cho chính mình hay cho một người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả một khoản bồi thường từ một bên khác là người bảo hiểm, người chịu trách nhiệm với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt hại theo luật số lớn”4

Trang 11

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 4

Sự khác nhau trong quan điểm trên xuất phát từ việc nhìn nhận bảo hiểm bởi các góc độ và hình thức tiếp cận khác nhau, Bảo hiểm là một lĩnh vực rộng và phức tạp hàm chứa yếu tố kinh doanh, pháp lý và kỹ thuật nghiệp vụ đặc trưng nên khó tìm

ra một định nghĩa hoàn hảo thể hiện tất cả những khía canh đó Điều có thế chấp nhận được là cần xây dựng một khái niệm từ góc độ và cách thức tiếp cận hữu ích cho muc đích nghiên cứu Trên phương diện lý thuyết cơ bản thì bảo hiểm là phương pháp chuyển rủi ro được thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm theo đó bên mua chấp nhận trả phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cao kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Hay nói cách khác, bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người được bảo hiểm đối với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thỏa thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi

là phí bảo hiểm

Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm chúng ta có thể đưa ra

một định nghĩa: “Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của bên bảo hiểm với bên được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thỏa thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã nộp phí bảo hiểm đầy đủ”

Nhằm để hiểu rõ hơn về bảo hiểm thì cần phải làm rõ cơ bản những khái niệm

có liên quan sau:

Người bảo hiểm được hiểu là doanh nghiệp bảo hiểm là bên chấp nhận yêu cầu bảo hiểm bằng việc giao kết hợp đồng bảo hiểm, cấp cho bên mua bảo hiểm hợp đồng bảo hiểm hoặc bằng chứng về hợp đồng bảo hiểm vì thế có những nghĩa vụ và quyền theo thỏa thuận của hợp đồng bảo hiểm

Người được bảo hiểm là người có sở hữu về đối tượng được bảo hiểm Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm, tính mạng, sức khỏe, khả năng lao động, tuổi thọ là đối tượng được bảo hiểm Thông thường người được bảo hiểm cũng là người tham gia bảo hiểm, là người thụ hưởng Tuy nhiên, cũng có những trường hợp người tham gia bảo hiểm khác người được bảo hiểm Chẳng hạn, việc mua sản phẩm bảo vệ thân thể cho trẻ em buộc phải có người khác đứng ra tham gia bảo hiểm

Theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm thì người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, có trách nhiệm dân sự, tính mang được bảo hiểm theo hợp

Trang 12

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 5

đồng bảo hiểm Đối tượng được bảo hiểm bao gồm con người, tài sản, trách nhiệm dân

sự và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật.5

Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm là người được nhận bồi thường hoặc tiền trả bảo hiểm Thông thường quyền lợi bảo hiểm thuộc về người được bảo hiểm Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp người được hưởng quyền lợi bảo hiểm lại là người khác Phức tạp nhất là khi có sự khác nhau giữa người tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm và người được hưởng quyền lợi bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm con người, đặc biệt là bảo hiểm cho sự cố chết người của người được bảo hiểm

Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm6 Mức phí bảo hiểm thường do người bảo hiểm định ra trên cơ cở tính toán xác suất xảy ra rủi

ro hoặc trên cơ sở thống kê tổn thất nhằm đảm bảo số phí thu về để bồi thường và bù đắp các chi phí khác đồng thời có lãi Số thu về phí bảo hiểm trong khi chưa bồi thường là một nguồn vốn quan trọng để công ty bảo hiểm đầu tư vốn sang những lĩnh vực kinh doanh khác

Để hiểu rõ hơn về bảo hiểm ta cần tìm hiểu các hoạt động khác có liên quan như kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, hoạt động mô giới bảo hiểm và đại

lý bảo hiểm Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ

sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm7 Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoảng phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm8 Hoạt động đại lý bảo hiểm là hoạt động giới thiệu, chào bán sản phẩm thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm và các công việc khác nhằm thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo ủy quyền của doanh nghiệp bảo hiểm9 Còn hoạt động mô giới bảo hiểm là việc cung cấp thông tin tư vấn cho bên mua bảo hiểm về sản phẩm bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và các công việc liên quan đến

Trang 13

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 6

việc đàm phán, thu xếp và thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm10

Như vậy, thực chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người ra cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Do đó, một nghiệp vụ bảo hiểm nào đó muốn tiến hành được phải có nhiều người tham gia hay nói cách khác bảo hiểm chỉ hoạt động được trên cơ sở luật số lớn Càng có nhiều người tham gia thì xác suất xảy ra rủi ro đến với từng người càng nhỏ, quỹ tích tụ ngày càng lớn, việc chi trả bảo hiểm càng dễ dàng, đồng thời rủi ro được san sẻ cho nhiều người hơn Đây là quy luật xuyên suốt, không thể thiếu được trong bất kỳ một nghiệp vụ bảo hiểm thương mại nào

1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm

Bảo hiểm có những đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, bảo hiểm là một ngành dịch vụ đặc biệt

Dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người

mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thức phi vật thể Như vậy, là một ngành dich vụ bảo hiểm cũng mang đặc điểm là cung cấp sản phẩm dưới hình thức phi vật thể, các sản phẩm của bảo hiểm đều hình thành ở dạng vô hình nói đúng ra là một lời hứa và bên cạnh đó người mua sản phẩm bảo hiểm cũng phải trả một khoản phí để được cung cấp dịch vụ Tuy nhiên, không giống như các nghành dịch vụ khác, dịch vụ mà các doanh nghiệp bảo hiểm mang lại là sự đảm bảo về mặt vật chất, tài chính trước rủi ro

để đáp ứng nhu cầu an toàn của con người, của xã hội Và người mua bảo hiểm cũng muốn được an tâm trước những tổn thất mà họ không thể biết trước

Bảo hiểm là một dịch vụ tài chính cũng giống như những dịch vụ tài chính khác: tín dụng, chứng khoán, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính Tuy nhiên, xét ở khía cạnh người được bảo hiểm thì không có khái niệm lãi, lỗ Người tham gia bảo hiểm với mục đích bù đắp tổn thất cho họ nếu không mau gặp rủi ro Nếu không gặp rủi ro thì họ không được hoàn tiền phí bảo hiểm đã đóng

Thứ hai, bảo hiểm là sự đóng góp của số đông

Bản chất của bảo hiểm là sự phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu, trong mối quan hệ của bảo hiểm không chỉ có người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm mà là tổng thể các mối quan hệ giữa người được bảo hiểm trong cùng một cộng đồng bảo hiểm Trong đó

10 Khoản 4, Điều 3, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010

Trang 14

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 7

người tham gia bảo hiểm đồng ý đóng một khoản phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm hình thành nên quỹ bảo hiểm sẵn sang bù đắp tổn thất bằng tiền khi một trong những người tham gia bảo hiểm bị tổn thất Trong cộng đồng người tham gia bảo hiểm, từng cá nhân sữ góp phần chia sẽ rủi ro cho người không may gặp thiệt hại, và với vai trò là người nắm giữ quỹ bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thực hiện chi trả bồi thường Doanh nghiệp bảo hiểm muốn bảo đảm và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất trong hoạt động bảo hiểm thì phải thực hiện tố nguyên tắc lấy số đông bù cho số ít Trong trường hợp có hợp đồng có giá trị lớn hoặc đối tượng bảo hiểm có nguy cơ dẫn đến rủi ro cao thì doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện các biện pháp phân tán rủi ro như đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm Mặt khác, để giảm bớt chi phí bồi thường các doanh nghiệp phải tăng cường các biện pháp đề phòng, ngăn ngừa và hạn chế tổn thất bảo hiểm

Thứ ba, bảo hiểm gắn liền với yếu tố rủi ro

Rủi ro là khả năng xảy ra biến cố bất thường có hậu quả thiệt hại hoặc mang lại hậu quả không mong đợi Rủi ro chính là sự không chắc chắn, những gì chắc chắn xảy

ra thì không phải là rủi ro Bảo hiểm chính là sự bù đắp, khắc phục hậu quả của rủi ro Chính vì con người không thể biết trước được những gì không may sẽ đến với mình và đến với mình và đến lúc nào trong tương lai, nó hoàn toàn có thể xảy ra trong mọi mặt của đời sống xã hội, chẳng hạn như ốm đau, bênh tật, va vẹt xe, cháy nhà, thiên tai… nên họ mới mua bảo hiểm để đảm bảo rằng thiệt hại có thể được bù đắp thông qua bảo hiểm Do tính chất bất ngờ của rủi ro bảo hiểm cả không gian, thời gian và quy mô nên doanh nghiệp phải xây dựng các quỹ dự phòng để thực hiện cam kết của mình trước bên tham gia bảo hiểm

Rủi ro là một khái niệm quan trọng, một thuật ngữ cơ bản trong bảo hiểm Suy

cho cùng, nguyên lý của bảo hiểm là “không có rủi ro thì không có bảo hiểm” Đối với

doanh nghiệp bảo hiểm, trong thực tế không những cần phải nghiên cứu nắm bắt được quy luật của rủi ro, dự kiến được rủi ro, phát hiện rủi ro, nhận diên rủi ro mà còn phải đánh giá được rủi ro và lựa chọn những rủi ro có thể bảo hiểm để tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm của mình Còn đối với nhà nước, là chủ thể quản lý hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, phải dựa vào đối tượng kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm mà có những quy định phù hợp nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương trong kinh doanh bảo hiểm Cụ thể đối tượng kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm là rủi ro là sự không chắc chắn, nên thực chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm là bán các lời hứa trong tương lai Các lời hứa này là các cam kết chi trả về

Trang 15

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 8

tài chính từ phía doanh nghiệp bảo hiểm và do vậy pháp luật phải có cơ chế phù hợp

để doanh nghiệp bảo hiểm đảm bảo được khả năng tài chính của mình

Thứ tư, bảo hiểm hoạt động theo quy định của pháp luật

Bảo hiểm đóng vai trò là công cụ góp phần ổn định các hoạt động kinh tế xã hội, đời sống của dân cư thúc đẩy quá trình tích tụ vốn trong xã hội Để tránh thất thoát cho tài sản các cá nhân, tổ chức có thể tham gia bảo hiểm cho tài sản của mình và nếu gặp rủi ro thì thiệt hại sẽ được bù đắp bằng tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm chi trả Đồng thời, cũng chính nhờ tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm trả cho cá nhân, tổ chức có thể duy trì được hoạt động bình thường, ổn định đời sống khi gặp rủi

ro Mặt khác, an toàn về tính mang sức khỏe là vấn đề tích cực trong việc bù đắp vật chất trong các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm nó trở thành một trong những phương tiện bảo vệ tài sản của con người Vì vậy bảo hiểm đã sớm được pháp luật điều chỉnh cụ thể là trong Bộ luật dân sự, Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản có liên quan Các hoạt động của bảo hiểm phải tuân theo một cơ chế do luật đinh để đảm bảo an toàn và phát triển Do bản chất và chức năng của nó mà pháp luật đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm Nếu thiếu sự điều chỉnh của pháp luật thì hoạt động kinh doanh bảo hiểm không thể tiến hành thuận lợi và nghĩa vụ các bên tham gia quan hệ bảo hiểm không được bảo đảm thực hiện trong những trật tự

phù hợp với lợi ích của Nhà nước và cộng đồng

1.1.3 Vai trò của bảo hiểm

Hoạt động của bảo hiểm thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế

xã hôi Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa phát triển với nhiều thành phần kinh tế đa dạng của các loại hình doanh nghiệp, các ngành nghề cùng với việc nảy sinh thêm nhu cầu của các tầng lớp dân cư trong xã hội về của cải vật chất, bảo hiểm và đảm bảo xã hội đòi hỏi hoạt động bảo hiểm phải thích ứng với cơ chế thị trường và phát huy vai trò, tác dụng ở mọi lĩnh vực khác nhau

1.1.3.1 Vai trò đối với kinh tế - xã hội

Rủi ro tổn thất phát sinh làm thiệt hại của cải vật chất con người tạo ra và chính bản thân con người, làm gián đoạn quá trình sinh hoạt của đời sống xã hội, ngưng trệ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế Hoạt động tài chính trước hết là nhằm khắc phục hậu quả rủi ro tài chính Rủi ro có thể mang đến những thiệt hại tài chính bất thường cho cá nhân, tổ chức Hơn lúc nào hết họ cần đến nguồn tài chính kịp thời để bù đắp thiệt hại, lấy lại sự cân bằng, ổn định tình hình tài chính Với mục đích khôi phục sản xuất, làm cho sản xuất kinh doanh của những người tham gia bảo hiểm

Trang 16

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 9

tiếp tục phát triển bình thường nếu như đối tượng được bảo hiểm của họ gặp rủi ro, sự

cố gây tổn thất Sự có mặt của các tổ chức bảo hiểm đã đáp ứng nhu cầu đó một cách nhanh chóng Bởi lẽ thông qua quỹ bảo hiểm được tạo lập từ trước một cách chủ động,

có ý thức từ phí bảo hiểm của những người tham gia, tổn thất của một hay một số

người sẽ được phân tán, dàn mỏng theo quy luật “số đông bù số ít”

Nếu tham gia bảo hiểm các cá nhân, tổ chức sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm phối hợp quản lý rủi ro, thực hiện các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất Vấn đề này không chỉ có ý nghĩa đối với người tham gia, doanh nghiệp bảo hiểm mà còn có ý nghĩa lớn đối với xã hội và thực chất là góp phần bảo đảm an toàn xã hội

Hơn nữa vượt lên ý nghĩa về tiền bạc bảo hiểm mang đến trạng thái an toàn về tinh thần, giảm bớt rủi ro cho người được bảo hiểm Trong thực tế kinh doanh các doanh nghiệp bảo hiểm cần nhận thức rõ ý nghĩa xã hội đó để tự nâng cao hình ảnh

“một nhà bảo trợ” trong hoạt động bồi thường, chăm sóc khách hàng Đó cũng chính

là ý nghĩa nhân văn của bảo hiểm trong xã hội hiện đại, thể hiện hình ảnh tốt đẹp của các doanh nghiệp bảo hiểm trước công chúng

Thứ hai, hoạt động bảo hiểm góp phần giải quyết việc làm cho xã hội Điều này làm giảm bớt tình trạng lao động bị thất nghiệp trong xã hội Bởi lẽ ngành bảo hiểm đã thu hút một lượng lớn lao động làm việc tại các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp

mô giới bảo hiểm, mạng lưới đại lý bảo hiểm và các ngành nghề liên quan như: giám đinh sức khỏe, giám định tổn thất Trong bối cảnh nạn thất nghiệp đang ám ảnh nền kinh tế toàn cầu thì sự phát triển của ngành bảo hiểm vẫn được coi là còn nhiều tiềm năng ở các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng Qua đó góp phần giải quyết tình trang thiếu việc làm cũng như vấn đề xã hội liên quan khác Về phương diện tâm lý, bảo hiểm còn là chỗ dựa tinh thần cho những người tham gia bảo hiểm giúp họ yên tâm trong cuộc sống và trong hoạt động kinh doanh.11

1.1.3.2 Bảo hiểm đóng vai trò là một hoạt động trung gian tài chính

Do đặc điểm của bảo hiểm là cần phái có các quỹ dự trữ, dự phòng, quỹ bồi thường hoặc chi trả Khi các loại quỹ này chưa sử dụng đến cũng sẽ là nguồn vốn đầu

tư đáng kể góp phần phát triển và tăng trưởng kinh tế Kể cả hoạt động bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại đều thực hiên theo nguyên tắc ứng trước Vì vậy các tổ chức bảo hiểm xã hội và các công ty bảo hiểm thương mại thường nắm giữ một quỹ tiền tệ rất lớn Nguồn quỹ nhàn rỗi này thực sự làm cho họ trở thành những nhà đầu tư lớn, là nhà trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Mặt khác, bảo

11

ThS Võ Thị Pha: Giáo trình Lý thuyết bảo hiểm, NXB Tài chính năm 2005, trang 17, 18

Trang 17

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 10

hiểm còn góp phần làm giảm nhẹ cho gánh nặng Ngân sách nhà nước đặc biệt là bảo hiểm thương mại còn góp phần tăng tích lũy cho ngân sách.12

1.1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm thương mại

1.1.4.1 Trên thế giới

Hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm đó là hình thức dự trữ đề phòng những rủi

ro có thể xảy ra, và sau này con người dần dần nhận thấy có tổ chức và dự trữ theo nhóm có hiệu quả và thuận lợi hơn dự trữ cá nhân đơn thuần

Ở Ai Cập, khoảng 4500 năm trước Công Nguyên, những người thợ kéo đá đã lập ra các quỹ tương hỗ để giúp đỡ, chia sẽ rủi ro cho những người gặp hỏa hoạn những người Trung Hoa cổ đại, thời nhà Chu vào khoảng 500 năm trước công nguyên cũng đã sử dụng kỹ thuật phân chia rủi ro đơn giản bằng cách tổ chức các đoàn thuyền vận chuyển hàng hóa và súc vật trên dòng sông Dương Tử, trong đó hang hóa của mỗi chủ hàng được chia nhỏ cho mỗi thuyền chuyên chở và nếu chiếc nào bị chìm thì các thương gia cùng nhau gánh chịu

Ở Babylone, vào khoảng 1700 năm trước Công Nguyên và ở Athens (Hy Lạp) khoảng 500 năm trước công nguyên đã xuất hiện quan hệ tín dụng với lãi suất rất cao trong lĩnh vực buôn bán Vận chuyển hàng hóa trên biển và qua sa mạc Điều đặc biệt trong quan hệ tín dụng này là nếu hàng hóa bị tổn thất thì người cho vay phải chịu rủi

ro mất vốn và lãi Tại Rome, Hệ thống cho vay với điều kiện tương tự đã ra đời lãi xuất có thể lên tới 50% Thực chất đó là sự kết hợp giữa hoạt động tín dụng với ý đồ bảo hiểm và do đặc trưng bằng cơ chế lãi suất cao đi đôi với chấp nhận rủi ro nên được

mệnh danh là “cho vay mạo hiểm lớn” Một phần lãi có thể hiểu như tiền thân của phí

bảo hiểm Hoạt động cho vay bảo hiểm lớn hoạt động khá lâu và phổ biến trên nhiều khu vực trên thế giới Tại Rome, kéo dài đến tận thời Trung Cổ - thời kỳ thống trị của nhà thờ Thiên Chúa Giáo

Trước những đòi hỏi đó đã hình thành một hệ thống bảo đảm mới của bảo hiểm hàng hải các nhà buôn chấp nhận một khoảng tiền ấn định trước để nhận được bảo đảm giá trị tàu thuyền và hàng hóa chuyên chở trong trường hợp tổn thất Những thỏa thuận bảo hiểm đầu tiên được gắn liền với hoạt động thương mại và vận chuyển hàng hóa đường biển đã ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XIV Bút tích của bản hợp đồng cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy được ký kết tại Genes năm 1347 Đến năm 1424, cũng

12

ThS Võ Thị Pha: Giáo trình Lý thuyết bảo hiểm, NXB Tài chính năm 2005, trang 18, 19

Trang 18

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 11

tại hải cảng Genes, công ty bảo hiểm đầu tiên của ngành vận tải đường biển và đường

bộ cũng được thành lập

Sau bảo hiểm hàng hải, tiếp đến là sự ra đời của các loại bảo hiểm khác Tại Luân Đôn, ngày 2 tháng 9 năm 1666, hỏa hoạn đã xảy ra và kéo dài trong nhiều ngày thiêu cháy khoảng 13.200 nóc nhà trong đó 87 nhà thờ Mức độ nghiêm trọng của thảm họa đã khiến những nhà chức trách thành phố Luân Đôn mở văn phòng cháy đầu tiên ra đời, lấy tên là Friendly Society Fire Office Công ty hoạt động trên nguyên tắc tương hỗ với hệ thống phí bảo hiểm cố định, người được bảo hiểm phải chịu một phần thiệt hại xảy ra Sau đó, nhiều công ty bảo hiểm cháy khác tiếp tục ra đời ở nước Anh như là: Amicable (1969); Sun (1710); Union (1714); London (1714); Wesminiter

(1717) Tại pháp, văn phòng bảo hiểm hỏa hoạn mang tên “LaRoyal Incedie” do

CLAVER thành lập năm 1786 tại Paris, công ty bảo hiểm đầu tiên ra đời năm 1686

Cuối thế kỷ 19, cùng với sự xuất hiện của nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí, hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm xuật hiện và phát triển rất nhanh như bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm vỡ kính, bảo hiểm mưa đá và băng tuyết, bảo hiểm otô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự…Ngày nay, bảo hiểm đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội và ngành bảo hiểm đang giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế nhiều quốc gia, nhất là các nước phát triển.13

Có thể từ sự ra đời của bảo hiểm hàng hải đến bảo hiểm hỏa hoạn đã xuất hiện

do mức độ rủi ro cao những tác động từ tự nhiên và con người mà hậu quả của những rủi ro ấy là rất lớn Chính vì vậy, đó là sự ra đời tự nhiên và tất yếu của bảo hiểm trong hoạt động thương mại

1.1.4.1 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, không có tài liệu nào chứng minh một cách chính xác về thời gian xuất hiện của hoạt động bảo hiểm Theo ý kiến của nhiều chuyên gia,và năm 1880 có các Hội bảo hiểm ngoại quốc như Hội bảo hiểm Anh, Pháp, Thụy Sỹ, Hoa Kỳ…đã để

ý đến Đông Dương, Các Hiệp hội bảo hiểm ngoại quốc đại diện tại Việt Nam bởi công

ty thương mại lớn Ngoài việc buôn bán các công ty này còn mở thêm một trụ sở để làm đại diện bảo hiểm

Giai đoạn từ năm 1945 đến 1975, ở Miền Nam đã tồn tại 57 công ty bảo hiểm dưới nhiều loại hình pháp lý: công ty cổ phần, công ty tương hỗ và công ty bảo hiểm

13

ThS Võ Thị Pha: Giáo trình Lý thuyết bảo hiểm, NXB Tài chính năm 2005, trang 37-40

Trang 19

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 12

nước ngoài Sau năm 1975, một số công ty bảo hiểm tư nhân ở Miền Nam đã được quốc hữu hóa và sáp nhập vào Công ty bảo hiểm Việt Nam.14

Ở Miền Bắc, vào năm 1964, Chính phủ đã ký kết quyết định 1979/CP ngày 7-1964 cho phép thành lập Công ty bảo hiểm Việt Nam (tên giao dịch là Bảo Việt) trực thuộc Bộ Tài Chính Bảo Việt chính thức hoạt động vào tháng 1 năm 1975, thực hiện hai chức năng quản lý nhà nước và trực tiếp kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm

12-Sự độc quyền khiến hoạt động bảo hiểm trước năm 1990 được biết đến dưới tên là bảo hiểm nhà nước.Mặc dù có vị trí nhỏ bé với một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất, nhưng ngành bảo hiểm Việt Nam đã góp phần đáng kể trong việc chia sẽ rủi ro của những ngành kinh tế quan trọng như ngoại thương, vận tải biển thông qua hoạt động bảo hiểm hàng hải, tái bảo hiểm và hoạt động đại lý giám định cho các công ty bảo hiểm của các nước xã hội chủ nghĩa

Nghị định 100/1993/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm được ban hành đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nền kinh doanh bảo hiểm Việt Nam Độc quyền trong kinh doanh bảo hiểm của một doanh nghiệp nhà nước duy nhất đã chấm dứt với sự ra đời một loạt các doanh nghiệp bảo hiểm

Ngày 3/5/1999 Ban tổ chức cán bộ Chính phủ đã có quyết định phê duyệt điều

lệ của Hiệp hội bảo hiểm Viêt Nam Hệ thống pháp luật kinh doanh bảo hiểm không ngừng được hoàn thiện, chỉnh sửa và bổ sung Ngày 9 tháng 12 năm 2000, Luật Kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua

kỳ hợp thứ 8, khóa X và có hiệu lực từ ngày 1/4/2001, đặt nền móng pháp lý cơ bản cho sự phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam.15

Có thể nói sự ra đời của bảo hiểm chẳng những trên thế giới mà tại Việt Nam thì hoạt động bảo hiểm phát triển một cách mạnh mẽ, tạo môi trường cạnh tranh cho các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động bảo hiểm, góp phần đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cho thị trường trong nước và hội nhập quốc tế

1.2 Tổng quan về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sƣ, công chứng

1.2.1 Khái niệm về trách nhiệm nghề nghiệp

1.2.1.1 Khái niệm nghề nghiệp

Trang 20

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 13

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội

Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công nghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ Công nghệ các hợp chất cao phân tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh học và các ngành dịch vụ, du lịch tiếp nối ra đời…

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hàng hóa Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người

lao động Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này như thế nào là do “hàm lượng chất xám”

và “chất lượng sức lao động” quyết định Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần

trong quá trình vận hành của cơ chế thị trường Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm,

tự tạo việc làm…

Chúng ta hãy cùng nhau làm sáng rõ hai khái niệm Nghề và Chuyên môn: Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội

Nghề bao gồm nhiều chuyên môn Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội

Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15.000 chuyên môn, còn ở nước

Mỹ, con số đó lên tới 40.000

Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn nhiều

như vậy nên người ta gọi hệ thống đó là “Thế giới nghề nghiệp” Nhiều nghề chỉ thấy

Trang 21

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 14

có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác Hơn nữa, các nghề trong xã hội luôn

ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ Nhiều nghề

cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như về phương pháp sản xuất Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng đa dạng hóa Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị đào thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện Ở nước

ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trường (dạy nghề, trung học chuyên nghiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau.16

1.2.1.2 Khái niệm Luật sư, công chứng

Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)17

Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng18

1.2.1.3 Khái niệm trách nhiệm nghề nghiệp

Pháp luật chưa quy định rõ khái niệm trách nhiệm nghề nghiệp và hiện tại chưa

có nguồn tài liệu nào định nghĩa chính xác về khái niệm này Khái niệm này được đưa

ra theo cách hiểu riêng của mỗi người Chúng ta có thể hiểu như sau:

Trách nhiệm nghề nghiệp là trách nhiệm của cá nhân, tổ chức đối với công việc của mình Mỗi cá nhân, tổ chức khi gây ra lỗi vô ý hay cố ý điều phải chịu trách nhiệm

về việc đó

1.2.1.4 Sự cần thiết của bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

Ở nhiều nước phát triển, trong danh mục sản phẩm của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thì cơ cấu các sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bao giờ cũng là nhiều nhất, sau đó mới đến bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp được đánh giá là sản phẩm tiềm năng và sẽ là xu hướng chung tại các nền kinh tế đang phát triển

Số liệu của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cho thấy, tính đến hết 9 tháng đầu năm 2010, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới vẫn đứng đầu về doanh thu với 3.885 tỷ

Trang 22

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 15

đồng (tăng 19,66% so với cùng kỳ năm ngoái), bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người 1.683 tỷ đồng (tăng 28,74%) Tuy nhiên, các nghiệp vụ có tốc độ tăng trưởng cao là bảo hiểm nông nghiệp 6,1 tỷ đồng (tăng 520%), bảo hiểm tín dụng 14 tỷ đồng (tăng 148%), bảo hiểm trách nhiệm chung (bao gồm: bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp) là 323 tỷ đồng (tăng 42,7%)19 Từ số liệu trên cho thấy tiềm năng của bảo hiểm nghề nghiệp là rất lớn Khi mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp thì người mua sẽ cảm thấy an tâm hơn khi làm việc không bị áp lực công việc quá nhiều Doanh nghiêp bảo hiểm thì thu được tiền để đầu tư kinh doanh quan trọng hơn là khách hàng sẽ tin tưởng hơn vào những người tư vấn của mình

Nhưng dù sản phẩm có tốc độ tăng trưởng ngày càng cao nhưng tỷ trọng bảo hiểm vẫn còn thấp và tốc độ tăng trưởng tuyệt đối vẫn rất thấp Chính vì thế, bảo hiểm trách nhiệm nói chung và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp nói riêng, mặc dù rất tiềm năng, nhưng vẫn chưa thực sự hấp dẫn các doanh nghiệp bảo hiểm Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhóm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bao gồm: bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công ty môi giới bảo hiểm, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công ty chứng khoán, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công ty quản lý quỹ, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của nhà thầu giám sát thi công công trình xây dựng, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công ty kiểm toán, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho doanh nghiệp thẩm định giá

Thực tế, nhận thức chung của người Việt Nam về các sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm chưa cao, họ chưa thấy cần thiết, hoặc cũng có thể do tập quán, thói quen kinh doanh, không ai sợ trách nhiệm hoặc trách nhiệm là của tập thể Ngược lại, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp có phạm vi trách nhiệm khá nặng nề, nên các doanh nghiệp còn e ngại khi triển khai Mặt khác, lĩnh vực này cũng tiềm ẩn rủi ro liên quan đến trục lợi bảo hiểm, do hành lang pháp lý về lĩnh vực này chưa thực sự chặt chẽ Trong khi

đó, cách tính phí bảo hiểm chưa thống nhất, cụ thể Vì thế, thị trường này vẫn còn quá nhỏ, dẫn đến cung từ các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước còn hạn chế

Như đã phân tích ở trên thị trường bảo hiểm này còn tiềm ẩn nhiều khía cạnh bất lợi cho cả doanh nghiệp bảo hiểm lẫn người mua bảo hiểm nên cần được quan tâm nhiều hơn Do vậy nhà nước cần chú trọng loại hình bảo hiểm trách nhiệm nghề

Trang 23

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 16

nghiệp này hơn để xua đi cái ý nghĩ của những người không có thói quen chịu trách nhiệm cá nhân mà chỉ đổ lỗi cho tập thể làm việc sai sót, bất cẩn, người nào gây ra sai sót bất cần thì người đó bồi thường.Và nếu không muốn bồi thường do hành vi bất cẩn

đó gây ra thì tốt nhất là mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho mình Để đảm bảo

uy tín cá nhân, cơ quan, tổ chức làm cho người dân tin tưởng hơn vào vai trò và công việc của cá nhân,cơ quan, tổ chức mình Quan trọng hơn là nước ta đang trên đà phát triển thì phải có tốc độ phát triển ngang bằng các nước trên thế giới Nước ta có nguồn nhân lực dồi giàu nhưng thiếu vốn vì vậy cần phải nhận nguồn vốn từ nước ngoài đầu

tư vào Nhưng nếu muốn nhận được nguồn vốn đầu tư này thì bản thân chúng ta phải chứng minh với họ một đều là người Việt Nam rất có uy tín và dám nghĩ dám làm khi làm sai thì sẽ bồi thường không gì tốt hơn là mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

để đảm bảo khi có sai sót, bất cẩn gì thì sẽ được bồi thường bản thân doanh nghiệp nước ngoài sẽ không bị thiệt hại gì còn uy tín của doanh nghiệp trong nước thì được nâng cao hơn.Thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thúc đẩy kinh tế phát triển loại hình bảo hiểm này cần được nhân rộng để góp phần làm nguồn tài chính được lưu

thông cá nhân, tổ chức thì có trách nhiệm với nghề nghiệp của mình hơn

1.2.2 Khái niệm về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

1.2.2.1 Hợp đồng bảo hiểm

Định nghĩa

Theo Bộ luật dân sự 2005: "Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” 20

Theo Bộ luật hàng hải năm 2005: “Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng được ký kết giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm mà theo đó, người bảo hiểm thu bảo hiểm phí do người được bảo hiểm trả và người được bảo hiểm được người bảo hiểm bồi thường tổn thất của đối tượng bảo hiểm do các hiểm hoạ hàng hải gây ra theo mức độ và điều kiện đã thoả thuận với người bảo hiểm”.21

Theo Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm ” 22

Trang 24

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 17

Luật không quy định rõ đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm mà do các hợp đồng bảo hiểm qua quá trình tồn tại đã quy định nên đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm dưới đây:

Hợp đồng bảo hiểm có một số tính chất chung trong khuôn khổ những quy định của luật pháp về hợp đồng dân sự, ngoài ra, nó còn có một số tính chất riêng biệt gắn liền với đặc trưng kinh tế - kỹ thuật ngành bảo hiểm Cụ thể như sau:

Hợp đồng bảo hiểm mang tính tương thuận: Hợp đồng bảo hiểm được thiết lập

dựa trên sự chấp thuận của cả đôi bên trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tự do giao kết trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức xã hội

Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng song vụ: Các bên ký kết đều có quyền và nghĩa

vụ, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Người bảo hiểm phải đảm bảo cho các rủi ro còn người được bảo hiểm phải trả phí bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm có tính chất may rủi: Nếu không tồn tại rủi ro (sự kiện bảo hiểm) thì không có việc giao kết cũng như tồn tại hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm có tính chất tin tưởng tuyệt đối: Mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người bảo hiểm được thiết lập trong tình trạng tạo ra rủi ro cho nhau Do

đó, để tồn tại và có thể thực hiện thì hai bên phải có sự tin tưởng lẫn nhau Tính chất tin tưởng tuyệt đối và nguyên tắc trung thực tối đa chỉ là hai mặt của cùng một vấn đề

Hợp đồng bảo hiểm có tính chất phải trả tiền: Mối quan hệ quyền và nghĩa vụ giữa hai bên thể hiện ở mối quan hệ tiền tệ Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền phí bảo hiểm, người bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm/bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra

Hợp đồng bảo hiểm có tính chất gia nhập: Hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồng theo mẫu Quy tắc bảo hiểm (nội dung chính của hợp đồng) do người bảo hiểm soạn thảo trước, bên mua bảo hiểm sau đọc thấy phù hợp với nhu cầu của mình thì gia nhập vào

Hợp đồng bảo hiểm có tính dân sự - thường mại hỗn hợp: Bên mua bảo hiểm có thể là một thể nhân hoặc pháp nhân dân sự hay thương mại, người bảo hiểm cũng có thể là một pháp nhân dân sự (hội tương hỗ) hay thương mại (công ty bảo hiểm) Do

đó, mối quan hệ giữa họ, cụ thể là hợp đồng bảo hiểm sẽ có thể có tính dân sự hay thương mại thuần túy hoặc dân sự - thương mại hỗn hợp.23

23

Nguyễn Tiến Hùng, Hợp đồng bảo hiểm, viet/article-11_hop-dong-bao-hiem-c6.html , [ngày truy cập 18/08/2013]

Trang 25

http://www.dichvubaohiem.vn/home/chi-tiet/bai-GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 18

1.2.2.2 Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng

Hiện tại khoa học pháp lý chưa có một khái niệm định nghĩa chính thức về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng Do đó, chúng ta có thể tập hợp tất cả các khái niệm cơ bản để đưa một khái niệm rõ ràng hơn

Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng là một phần nằm trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự nên trước hết muốn hiểu được nó thì chúng ta phải hiểu rõ khái niệm bảo hiểm trách nhiệm dân sự Trách nhiệm dân sự được hiểu là trách nhiệm phát sinh do vi phạm nghĩa vụ dân sự Trong đó nghĩa vụ dân sự chính là việc

mà theo quy định của pháp luật thì một hoặc nhiều chủ thể không được làm hoặc bắt buộc làm một hành động nào đó đối với một hoặc nhiều chủ thể khác Người chịu trách nhiệm dân sự mà không thực hiện đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đó thì phải chịu trách nhiệm đối với người bị hại và trước pháp luật

Nhìn chung thì trách nhiệm dân sự là trách nhiệm bồi thường về vật chất và tinh thần Trong đó trách nhiệm bồi thường về vật chất và tinh thần là trách nhiệm bồi thường những tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm nghĩa vụ dân sự gây ra bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí ngăn chặn thiệt hại, thu nhập thực tế

bị giảm sút Người thiệt hại về tinh thần đối với người khác do xâm pham đến tính mạng sức khỏe, danh dự, uy tín của người khác thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị hại Trong pháp luật dân sự thì ngoài việc gây ra thiệt hại đối với người bị hại còn phải do hành vi vó lỗi của chủ thể mới phát sinh trách nhiệm dân sự Từ định nghĩa trên có thể thấy được yếu tố lỗi là yếu tố quan trọng để xác định có hay không hành vi gây thiệt hại dẫn đến việc phải bồi thường.Trong bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng cũng vậy yếu tố lỗi cũng được xem là yếu tố quyết định.Có thể hiểu “Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng là bảo hiểm trách nhiệm pháp lý của người được bảo hiểm, phát sinh do việc vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp gây ra Doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp đảm bảo về mặt tài chính cho các cá nhân, tổ chức, công ty hành nghề chuyên môn đối với trách nhiệm dân sự phát sinh từ việc hành nghề chuyên môn (có thể do hành động hoặc thiếu sót của người chịu trách nhiệm chuyên môn chính cũng như nhân viên của họ gây ra)” 24

Như vậy, thực chất Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng là bảo hiểm cho các cá nhân hành nghề độc lập hoặc trong một tổ chức nghề

24 Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-phi-nh/1886-cau-hi-313-th-nao-la-bo-him-trach-nhim-ngh- nghip-bo-him-trach-nhim-ngh-nghip-lut-s-bo-him-trach-nhim-ngh-nghip-bac-s-bo-him-cho-trng-hp- nao-.html , [ngày truy cập 22/08/2013]

Trang 26

http://webbaohiem.net/c%E1%BA%A9m-nang-GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 19

nghiệp nhất định Những người hành nghề chuyên môn này phải thực hành công việc, thao tác nghề nghiệp chuyên môn đúng với sự cẩn thận và tay nghề đảm bảo yêu cầu chuyên môn đã đăng ký hoặc được giao Tuy nhiên, trong thực tế do nhiều nguyên nhân khác nhau, vẫn có thể xảy ra những trường hợp gây thiệt hại cho bên thứ ba từ những hành động bất cẩn, những sai phạm hoặc thiếu sót trong quá trình thực hiện

Từ những khái niệm trên có thể định nghĩa rõ ràng hơn về “hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng: là sự thỏa thuận của hai bên bên doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm (tổ chức, cá nhân hành nghề luật sư, công chứng) theo đó bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm còn bên doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ bồi thường cho các trách nhiệm pháp lý đối với bên thứ

ba phát sinh từ bất cẩn nghề nghiệp của người mua bảo hiểm hoặc nhân viên của họ dẫn đến tổn thất cho khách hàng”

Ví dụ: Ông A đang làm luật sư và ông A đã mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công ty B Khi ông A tư vấn cho khách hàng C nào đó mà tư vấn sai gây thiệt hại thì ông A không phải bồi thường cho khách hàng C mà chính công ty bảo hiểm B sẽ bồi thường vì ông A đã mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

Trong cuộc sống hàng ngày, lúc này hay lúc khác, dù không hề mong muốn và

dù khoa học kỹ thuật có tiến bộ đến đâu, người ta vẫn có thể phải gánh chịu những rủi

ro tổn thất bất ngờ do chuyên môn của mình gây ra Tác động của rủi ro làm cho con người không thu hái được kết quả như đã dự định trước và tạo ra sự ngưng trệ quá trình sản xuất, sinh hoạt của xã hội Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đóng vai trò như một công cụ an toàn thực hiện chức năng bảo vệ con người, bảo vệ tài sản cho kinh tế và xã hội Cụ thể là:

 Đối với người dân, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng đảm bảo cho họ về mặt tài chính nhằm khắc phục hậu quả khi những cá nhân, tổ chức hành nghề chuyên môn sai sót, bất cẩn trong khi làm việc ảnh hưởng tới lợi ích của người dân

 Đối với bên mua bảo hiểm, tham gia bảo hiểm giúp bên mua bảo hiểm với việc

bỏ ra một khoản phí bảo hiểm ổn định và nhỏ có thể hoán chuyển rủi ro, những yếu tố không ổn định và tổn thất không lường trước trong lúc làm việc sang cho nhà bảo hiểm Nhờ vậy, bên mua bảo hiểm có thể an tâm làm viêc, sản xuất và khi có những tổn thất xảy ra, bồi thường bảo hiểm sẽ giúp họ nhanh chóng phục hồi sản xuất kinh doanh Tạo được niềm tin cho khách hàng và góp phần năng cao uy tín cá nhân, tổ chức, cơ quan của mình

Trang 27

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 20

 Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, có nguồn vốn lưu động có thể đầu tư sang các lĩnh vực khác Nâng cao vị thế và uy tín của doanh nghiệp bảo hiểm tao niềm tin cho khách hàng mua bảo hiểm

 Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng chẳng những có tác dụng bồi thường tổn thất sau khi có rủi ro phát sinh trong quá trình làm việc mà còn góp phần rất lớn cho việc đề phòng rủi ro và hạn chế tổn thất Doanh nghiêp bảo hiểm thường sử dụng những chuyên gia giỏi, tổ chức các dự án nghiên cứu, tư vấn tài trợ cho cơ quan quản lý nhà nước áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất hoặc tư vấn cho khách hàng tăng cường quản trị rủi ro ở đơn vị mình

 Thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, điều tiết quỹ mô nền kinh

tế tiền tệ được lưu thông, góp phần tăng trưởng kinh tế quốc dân, tạo việc làm giảm thiểu thất nghiệp

1.2.2.3 Nguyên tắc cơ bản của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật

sư, công chứng

Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động bảo hiểm là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở Việt Nam, và doanh nghiệp bảo hiểm phải bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam kết của mình đối với bên mua bảo hiểm Ngoài ra còn có những nguyên tắc cơ bản dưới đây:

 Nguyên tắc gắn kết và độc lập trong quan hệ giữa người bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thứ ba

Bên thứ ba là nạn nhân người có tài sản hoặc tính mạng, sức khỏe trực tiếp bị thiệt hại trong sự kiện bảo hiểm

Người được bảo hiểm là người phải chịu trách nhiệm trước thiệt hại của người thứ ba

Khi phát sinh sự kiện bảo hiểm, người được bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người thứ ba theo quy định của pháp luật dân sự, còn người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm Cũng có trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường trực tiếp cho người thứ ba Mặc

dù có sự gắn kết trách nhiệm bồi thường của người được bảo hiểm và trách nhiệm bồi thường bảo hiểm của người bảo hiểm vẫn mang tính độc lập nhất định về phạm vi và mức độ bồi thường

Trang 28

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 21

 Nguyên tắc xác định giới hạn trách nhiệm bảo hiểm

Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm bồi thường theo pháp luật của người được

bảo hiểm đối với thiệt hại của người thứ ba nên có nhiều trường hợp khi giao kết hợp đồng bảo hiểm không đinh ước trước được về giá trị thiệt hại tối đa của đối tượng bảo hiểm có thể phát sinh trong một sự cố cũng như trong thời hạn bảo hiểm Vì thế, vẫn tồn tại hai phương thức bảo hiểm: bảo hiểm có giới hạn trách nhiệm và bảo hiểm không có giới hạn trách nhiệm trong bảo hiểm có giới hạn trách nhiệm, thỏa thuận hợp đồng bảo hiểm đã xác định rõ số tiền bột thường tối đa mà doanh nghiệp bảo hiểm

có thể chi trả trong một sự cố bảo hiểm hoặc cho cả thời hạn bảo hiểm

Đối với phương thức bảo hiểm không giới hạn, hợp đồng bảo hiểm không thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm của bảo hiểm Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường toàn bộ trách nhiệm bồi thường của người được bảo hiểm đối với thiệt hại của người thứ ba phát sinh trong sự kiện bảo hiểm Rất ít doanh nghiệp bảo hiểm áp dụng theo phương thức không giới hạn vì một thực tế là bảo hiểm không giới hạn có thể ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm cũng như khả năng trả phí bảo hiểm của các cá nhân, tổ chức có nhu cầu bảo hiểm

 Nguyên tắc bồi thường

Số tiền bồi thường mà người được bảo hiểm cũng như người thứ ba có thể nhận được tối đa chỉ bằng thiệt hại của họ trong sự kiện bảo hiểm Đó là nội dung nguyên tắc cơ bản chi phối việc bồi thường của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp Thực hiện nguyên tắc bồi thường đòi hỏi phải áp dụng một số biện pháp cần thiết trong những trường hợp đặc biệt Biện pháp thế quyền được sử dụng trong trường hợp xác định được có người thứ ba phải chiu trách nhiệm đối với thiệt hại của đối tượng bảo hiểm trọng sự kiện bảo hiểm Biện pháp chia sẽ trách nhiệm bồi thường được sử dụng trong trường hợp bảo hiểm trùng

Bảo hiểm trùng trong bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là trường hợp trách nhiệm bồi thường của người được bảo hiểm cho người thứ ba được bảo hiểm đồng thời bằng đồng thời nhiều hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp Nếu sự kiện bảo hiểm làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của nhiều hợp đồng bảo hiểm, việc chia sẽ trách nhiệm bồi thường được giải quyết như sau25:

 Xác đinh trách nhiệm bồi thường độc lập của từng hợp đồng bảo hiểm (số tiền từng hợp đồng bảo hiểm phải chi trả nếu không tồn tại hợp đồng bảo hiểm khác)

25

ThS Võ Thị Pha: Giáo trình Lý thuyết bảo hiểm, NXB Tài chính năm 2005, trang 99-103

Trang 29

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 22

 Xác định tổng trách nhiệm bồi thường độc lập của các hợp đồng

 So sánh tổng trách nhiệm bồi thường độc lập của các hợp đồng bảo hiểm (A) và

số tiền bồi thường của người được bảo hiểm cho người thứ ba hoặc bên thứ ba (B) Trường hợp A≤B: số tiền bồi thường của từng hợp đồng bảo hiểm bằng trách nhiệm bồi thường độc lập của hợp đồng đó

Trường hợp A>B: thực hiện việc chia sẻ trách nhiệm bồi thường Thông thường áp dụng công thức sau:

Tổng trách nhiệm bồi thường độc lập của các hợp đồng bảo hiểm

Số tiền bồi thường của người được bảo hiểm cho người thứ ba (hoặc bên thứ ba)

Trang 30

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 23

CHƯƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ

NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ, CÔNG CHỨNG

Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng là sự thỏa thuận của hai bên bên doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm (tổ chức, cá nhân hành nghề luật sư, công chứng) theo đó bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm còn bên doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ bồi thường cho các trách nhiệm pháp lý đối với bên thứ ba phát sinh từ bất cẩn nghề nghiệp của người mua bảo hiểm

hoặc nhân viên của họ dẫn đến tổn thất cho khách hàng

2.1 Xác lập quan hệ hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng

Xác lập hợp đồng bảo hiểm là quá trình thể hiện, thống nhất và thực hiện ý muốn giao kết hợp đồng bằng các hành vi pháp luật của bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm.Việc xác lập hợp đồng bảo hiểm phải tuân theo những nguyên tắc chỉ đạo và chuẩn mực hóa các hành vi lập hợp đồng bảo hiểm của bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm

2.1.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

Đối với loại hình bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiêp của luật sư, công chứng thì việc xác lập hợp đồng bảo hiểm phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:

 Nguyên tắc tuân thủ pháp luật, không trái đạo đức xã hội Hệ thống pháp luật của xã hội nhằm bảo vệ trật tự xã hội, đạo đức xã hội và những chuẩn mực, lẽ phải của con người đã được xã hội thừa nhận Xác lập hợp đồng bảo hiểm thì hành vi của bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải nằm trong khuôn khổ có lợi cho lợi ích chung của cộng đồng, lợi ích căn bản của các thành viên xã hội

 Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng Tự nguyện, bình đẳng thể hiện ý nguyện và

vị thế của bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm trong giao kết hợp đồng Hợp đồng bảo hiểm phải được giao kết trên cơ sở thể hiện rõ và thống nhất ý muốn của hai bên bằng sự đàm phán minh bạch, công bằng giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm Bất kỳ bên nào cũng không được dựa vào các ưu thế và ý muốn riêng của mình để bắt ép bên kia giao kết hợp đồng bảo hiểm Sự can thiệp của tổ chức, cá nhân; việc lợi dụng các mối quan hệ ràng buộc liên quan để áp đặt giao kết hợp đồng đều không thể chấp nhận và rất có hại cho môi trường kinh doanh lành mạnh cần thiết cho

sự phát triển bền vững của ngành bảo hiểm

Trang 31

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 24

 Nguyên tắc thiện chí, hợp tác và trung thực Xác lập hợp đồng nhằm đạt được các lợi ích hợp pháp và hợp lý cho cả hai bên Thực tế, tình trạng đối nghịch lợi ích kinh tế có thể xảy ra và trong trường hợp đó, hợp đồng bảo hiểm chỉ được giao kết trên

cơ sở hợp tác thiện chí của các bên Bất cứ một mưu toan, ý đồ, hành vi gian lận của các bên trước sau sẽ dẫn đến sự xung đột lợi ích và các hậu quả vô hiệu hợp đồng, chấm dứt hợp đồng

Trên cơ sở quán triệt những nguyên tắc cơ bản trên, việc xác lập hợp đồng được khởi đầu bằng đề nghị giao kết hợp đồng của bên mua bảo hiểm Đề nghị giao kết hợp đồng bảo hiểm thông thường được thể hiện bằng người tham gia bảo hiểm sau khi nghiên cứu các điều khoản, quy tắc bảo hiểm, loại sản phẩm bảo hiểm thích hợp với nhu cầu bảo hiểm của mình sẽ điền các thông tin cần thiết vào giấy yêu cầu bảo hiểm (theo mẫu in sẵn mà doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp khi chào bán bảo hiểm) và gửi cho doanh nghiệp bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ xem xét để đi đến quyết định chấp nhận bảo hiểm hay không Nếu chấp nhận bảo hiểm, các bên thỏa thuận nội dung hợp đồng bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cấp cho mua bảo hiểm hợp đồng bảo hiểm hoặc bằng chứng của hợp đồng bảo hiểm Giấy yêu cầu bảo hiểm cũng trở thành một bộ phận không thể tách rời của hợp đồng bảo hiểm bên cạnh các văn bản tài liệu khác

Khi hợp đồng bảo hiểm được giao kết cho một thời hạn nhất định và trường hợp bên mua bảo hiểm mong muốn tiếp tục tham gia bảo hiểm cho giai đoạn tiếp theo, các bên sẽ làm thủ tục tái hợp đồng bảo hiểm Thông thường trước thời điểm kết thúc thời hạn bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm chủ động gửi thông báo đề nghị tái bảo hiểm, bên mua bảo hiểm nộp phí bảo hiểm, và doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cấp bằng chứng hợp đồng bảo hiểm26

2.1.2 Hình thức của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

Hình thức của hợp đồng là sự thể hiện ý chí của các bên trong việc giao kết hợp đồng Theo quy đinh của Khoản 1 Điều 401 BLDS quy định hợp đồng có thể được giao kết bằng nhiều hình thức khác nhau có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Theo Khoản 2 Điều 402 BLDS năm 2005 quy định nếu pháp luật có quy định hợp đồng phải tuân theo một hình thức nhất định thì các bên phải tuân theo hình thức đó

26

ThS Võ Thị Pha:Giáo trình Lý thuyết bảo hiểm, NXB Tài chính năm 2005, trang 99-104

Trang 32

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 25

Theo quy định của pháp luật thì hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản27 Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng là một trong những loại hợp đồng bảo hiểm, do đó cũng tuân theo các quy định pháp luật về hình thức hợp đồng Hiện nay, đa phần các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng được thể hiện dưới hai dạng là đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm

Thứ nhất, Đơn bảo hiểm

Đơn bảo hiểm thường là hình thức của hợp đồng bảo hiểm tự nguyện, có thể có các dạng khác nhau và thường bao gồm nhiều trang Các thông tin ghi trên đơn chi tiết, cụ thể tất cả các vấn đề liên quan đến hợp đồng bảo hiểm: tên, địa chỉ của chủ doanh nghiệp bảo hiểm; bên mua bảo hiểm; đối tượng bảo hiểm; số tiền bảo hiểm; phạm vi bảo hiểm; điều kiện bảo hiểm; điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; thời hạn bảo hiểm; mức phí và phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường; giải quyết tranh chấp Đơn bảo hiểm thường kèm theo các phụ lục để chi tiết hoá các thông tin đặc điểm của từng khách hàng cụ thể, đồng thời giải thích thuật ngữ trong đơn bảo hiểm Nội dung đơn bảo hiểm gồm phần mở đầu; phần quy định về các điều khoản chính; phần quy định về các điều khoản loại trừ; phần quy định về các điều kiện; chữ

ký, ghi rõ họ tên của người đại diện cho doanh nghiệp bảo hiểm28

Thứ hai, Giấy chứng nhận bảo hiểm

Trong trường hợp mà việc tham gia bảo hiểm là bắt buộc theo quy định của pháp luật thì người tham gia bảo hiểm thường phải chứng minh với người thứ ba rằng

họ đã tham gia bảo hiểm và hợp đồng đó đang có hiệu lực pháp luật Quy định này cũng được áp dụng với hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng vì nó là một loại hình bảo hiểm bắt buộc theo đó người tham gia bảo hiểm cũng phải xuất trình được một bằng chứng xác thực là họ đã tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền và nó là điều kiện tiên quyết

để tổ chức, cá nhân được tham gia hoạt động kinh doanh29 Nghĩa là họ luôn phải mang theo bên mình một bằng chứng chứng minh hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu

Đoạn 2, Khoản 2, Điều 7 Luật doanh nghiệp năm 2005

2 Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác

Trang 33

GVHD: TS.CAO NHẤT LINH SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN Trang 26

lực Vì vậy, hình thức của hợp đồng bảo hiểm này thường được thiết kế dưới dạng giấy chứng nhận bảo hiểm30

2.1.3 Chủ thể

Chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm gồm: Bên bảo hiểm (bên bán bảo hiểm)

và bên tham gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm), bên thứ ba trong hợp đồng bảo hiểm

2.1.2.1 Bên bảo hiểm

Bên bảo hiểm là bên đã nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và cam kết nhận rủi ro về phía mình Theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm thì bên nhận bảo hiểm chỉ có thể là một tổ chức có tư cách pháp nhân và được phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm được gọi là doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm này phải có quyền kinh doanh bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp31 Theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải đáp ứng yêu cầu về tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng và có quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm đóng đủ phí bảo hiểm32 Doanh nghiệp bảo hiểm được kinh doanh bảo hiểm bắt buộc không được từ chối bán bảo hiểm bắt buộc33 Doanh nghiệp bảo hiểm được phép thành lập, tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan Điều 59 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 200034 quy định các loại hình doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công

ty cổ phần bảo hiểm, hợp tác xã bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tương hỗ

2.1.3.2 Bên tham gia bảo hiểm

Bên tham gia bảo hiểm (còn gọi là bên mua bảo hiểm) là bên đã nộp cho bên bảo hiểm một khoản tiền được gọi là phí bảo hiểm Khác với bên bảo hiểm bên tham

“Điều 59 các tổ chức kinh doanh bảo hiểm

Các tổ chức kinh doanh bảo hiểm

1 Công ty cổ phần bảo hiểm

2 Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm

3 Hợp tác xã bảo hiểm

4 Tổ chức bảo hiểm tương hỗ”

Ngày đăng: 05/10/2015, 10:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w