Có thể thấy rằng, ở các hệ thống pháp luật trên thế giới, hợp đồng được thừa nhận về mặt pháp lý khi đáp ứng những yêu cầu sau: hợp đồng phải thể hiện được sự tự do ý chí của các bên th
Trang 1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NIÊN KHÓA: 2010 – 2014
Đề Tài BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG –
SO SÁNH, ĐỐI CHIẾU GIỮA CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VỚI
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
ThS DIỆP NGỌC DŨNG
Bộ môn Luật Thương mại
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THANH THOẠI MSSV: 5106099
Lớp: Luật Thương mại 2 Khóa 36
Cần Thơ, 12/2013
Trang 2SO SÁNH, ĐỐI CHIẾU GIỮA CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VỚI
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
ThS DIỆP NGỌC DŨNG
Bộ môn Luật Thương mại
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THANH THOẠI MSSV: 5106099
Lớp: Luật Thương mại 2 Khóa 36
Cần Thơ, 12/2013
Trang 3………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Trang 4Đối với bài viết này, người viết xin bảo lưu đầy đủ mọi quyền liên quan đến
vấn đề sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Do đó, mọi
chỉnh sửa, sao chép, trích dẫn hay bất kỳ hành động nào khác mà có sự tác động đến
quyền sở hữu trí tuệ của bài viết này phải ghi rõ nguồn của luận văn này Xin trân
trọng ghi nhận những ý kiến đóng góp chân thành từ người đọc để đề tài được hoàn
thiện hơn
Cần Thơ, ngày 21 tháng 11 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thanh Thoại
Trang 5BẢO LƯU BÀI VIẾT
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 5
1.1 HÀNG HÓA VÀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 5
1.1.1 Hàng hóa – Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 5
1.1.2 Hợp đồng mua bán hàng hóa 6
1.1.3 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 8
1.1.3.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 8
1.1.3.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 12
1.1.3.3 Nguồn luật điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 14
1.2 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 19
1.2.1 Nghĩa vụ của bên bán 19
1.2.1.1 Nghĩa vụ giao hàng hóa phù hợp với hợp đồng 19
1.2.1.2 Nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm và đúng thời hạn 25
1.2.1.3 Nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu, quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa 26
1.2.1.4 Nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa 27
1.2.2 Nghĩa vụ của bên mua 28
1.2.2.1 Nghĩa vụ thanh toán 28
1.2.2.2 Nghĩa vụ nhận hàng 29
1.3 VI PHẠM HỢP ĐỒNG VÀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 30
1.3.1 Khái quát về vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 30
1.3.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 32 1.3.3 Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 34
1.4 BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 36
1.4.1 Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 36
1.4.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm khi hàng hóa không phù hợp với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 38
1.4.3 Mối quan hệ với các biện pháp khác 39
Trang 6VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM
41
2.1 CÁCH TÍNH TOÁN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 41
2.1.1 Nguyên tắc bồi thường toàn bộ 41
2.1.2 Xác định thiệt hại 44
2.1.3 Thực tiễn áp dụng 47
2.2 GIỚI HẠN YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 50
2.2.1 Nguyên tắc dự đoán trước thiệt hại 50
2.2.2 Thời gian thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa 52
2.2.3 Nghĩa vụ chứng minh thiệt hại 56
2.2.4 Thực tiễn áp dụng 58
2.3 BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP HỦY HỢP ĐỒNG 61
2.3.1 Xác định thiệt hại trong trường hợp giao dịch thay thế 61
2.3.2 Xác định thiệt hại theo giá thị trường 63
2.3.3 Thực tiễn áp dụng 65
2.4 NGHĨA VỤ HẠN CHẾ TỔN THẤT 65
2.4.1 Nguyên tắc hạn chế tổn thất – Biểu hiện thiện chí trong thương mại quốc tế 65
2.4.2 Nghĩa vụ hạn chế tổn thất 67
2.4.3 Thực tiễn áp dụng 69
2.5 CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 69
2.5.1 Khái quát về chế định miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 69
2.5.2 Các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại 71
2.5.3 Thực tiễn áp dụng 77
2.6 NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 79
2.6.1 Nhận xét 79
2.6.1.1 Những điểm tương đồng 79
2.6.1.2 Những điểm khác biệt 80
2.6.1.3 Vấn đề còn tồn tại 82
2.6.2 Kiến nghị 82
KẾT LUẬN 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường và mở rộng quan hệ hợp tác như hiện nay, rất
nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được ký kết giữa các đối tác với nhau
Các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng này đều muốn đạt được hiệu quả lợi
nhuận cao nhất, hạn chế ở mức thấp nhất rủi ro mà mình sẽ gặp phải Cho nên khi
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đa số các bên đều thực hiện nghiêm
chỉnh nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà một trong các bên không
thực hiện nghĩa vụ mà họ đã cam kết, và đó là cơ sở dẫn đến tranh chấp giữa các
bên trong hợp đồng Trong các tranh chấp đó, có thể thấy tranh chấp liên quan đến
việc xác định bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa không phù hợp với
hợp đồng được xem là một trong các tranh chấp phổ biến Khi bên bán giao hàng
hóa không phù hợp với hợp đồng thì phần lớn phần thiệt thòi thường sẽ thuộc về
phía bên mua Bởi lẽ, điều mà họ mong đợi trong hợp đồng đã không được thực
hiện Khi đó, chế tài bồi thường thiệt hại là biện pháp khắc phục thường được các
bên sử dụng nhằm khôi phục lại những lợi ích từ hợp đồng cũng như những thiệt hại
mà bên mua phải gánh chịu Tuy nhiên, trên thực tế việc xác định bồi thường thiệt
hại trong trường hợp này vẫn còn nhiều tranh cãi, bởi lẽ, việc áp dụng chế tài bồi
thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng có sự không đồng nhất
giữa các hệ thống pháp luật
Với tư cách là một trong những Công ước quốc tế về thương mại được phê
chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất, Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế 1980 (CISG) được Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật
thương mại quốc tế (UNCITRAL) chủ trì soạn thảo và thông qua vào ngày 11 tháng
04 năm 1980 tại Viên (Áo) với sự có mặt của đại diện của khoảng 60 quốc gia và 8
tổ chức quốc tế.1 CISG có hiệu lực từ ngày 01/01/1988 Với 79 quốc gia thành viên
(tính đến ngày 21/11/2013), ước tính Công ước này điều chỉnh các giao dịch chiếm
đến hai phần ba thương mại hàng hóa thế giới.2
Mục đích của UNCITRAL khi chủ trì soạn thảo CISG là nhằm tạo ra một khung pháp lý thống nhất cho các bên đối tác
trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Mặc dù Việt Nam chưa chính thức là
thành viên của CISG, nhưng có thể nói rằng, Việt Nam đang “sống chung” với
CISG bởi các đối tác là bạn hàng lớn của Việt Nam cũng như các đối tác là thị
1
Báo cáo nghiên cứu khả năng Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế (CISG), Bộ Công Thương, Hà Nội, 2012, trang 3
2 Unilex, Contracting States, http://www.unilex.info/dynas ite.cfm?dssid=23 76&dsmid=13351&x=1, [truy
cập ngày 21/11/2013]
Trang 8trường tiềm năng đều đã là thành viên của Công ước này Điều đó đòi hỏi pháp luật
Việt Nam cần phải tương thích với pháp luật của các nước đối tác Như đã đề cập,
việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại khi hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
là vấn đề thường hay gây tranh cãi trong các tranh chấp thương mại quốc tế Để
hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này thì CISG được xem là cơ sở pháp lý
để so sánh, đối chiếu mang tính khách quan nhất Đó là lý do người viết chọn đề tài
“Bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng – so sánh, đối chiếu
giữa Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với
pháp luật Việt Nam” để nghiên cứu
Chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng đã được đề cập đến rất
nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa học luật trước đây Tuy nhiên, việc
nghiên cứu đó đa phần mang tính khái quát Trong đề tài nghiên cứu này, người viết
đi sâu vào những quy định liên quan đến việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp
hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, thông qua việc so sánh, đối chiếu các quy
định của CISG và pháp luật Việt Nam CISG là Điều ước quốc tế đa phương quan
trọng liên quan đến pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, những quy
định của nó đã trở thành tiêu chuẩn trong nhiều hệ thống pháp lý Điều đó có ý
nghĩa rất lớn khi so sánh pháp luật Việt Nam với CISG
2 Phạm vi nghiên cứu
Đối với đề tài này, người viết tập trung nghiên cứu các vấn đề được xem là
“cốt lõi” trong việc tính toán bồi thường thiệt do hàng hóa không phù hợp với hợp
đồng theo quy định của CISG và pháp luật Việt Nam Người viết không nghiên cứu
sâu các chế tài khác khi có sự giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Các giao
dịch mua bán hàng hóa trong đề tài được mặc nhiên hiểu là các giao dịch thương
mại quốc tế, không phải là các giao dịch giữa thương nhân hay người tiêu dùng với
người tiêu dùng Hàng hóa được đề cập đến trong đề tài luôn là những hàng hóa hữu
hình và có thể được dịch chuyển qua biên giới giữa các quốc gia
3 Mục tiêu nghiên cứu
Việc so sánh, đối chiếu chế định bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù
hợp với hợp đồng giữa CISG và pháp luật Việt Nam là tìm ra những điểm tương
đồng và khác biệt cũng như những vấn đề còn tồn tại trong hai hệ thống luật này
Trên cơ sở so sánh, đối chiếu đó, người viết sẽ đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn
thiện các quy định của pháp luật Việt Nam cho tương thích với pháp luật quốc tế
Điều đó hướng đến việc giảm bớt xung đột pháp luật trong việc giải quyết tranh
Trang 9chấp giữa các bên, tạo khung pháp luật thống nhất, hiện đại trong lĩnh vực mua bán
hàng hóa quốc tế, một lĩnh vực luôn chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại quốc tế
của Việt Nam Điều đó sẽ góp phần mở rộng giao thương hợp tác giữa các thương
nhân Việt Nam với các đối tác ở các nước trong khu vực và trên thế giới
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài này, người viết chủ yếu sử dụng các
phương pháp nghiên cứu lý luận dựa trên tài liệu sách, báo, tạp chí Phương pháp
phân tích luật viết, liệt kê, phân tích, quy nạp, diễn dịch cũng được người viết sử
dụng trong quá trình nghiên cứu Đặc biệt, phương pháp so sánh, đối chiếu sẽ được
người viết sử dụng thường xuyên trong đề tài Bên cạnh đó, người viết còn sử dụng
một số vụ tranh chấp điển hình để minh chứng cho các vấn đề được đề cập đến
trong quá trình nghiên cứu đề tài này
5 Bố cục đề tài
Thông qua quá trình nghiên cứu, đề tài “Bồi thường thiệt hại do hàng hóa
không phù hợp với hợp đồng – so sánh, đối chiếu giữa Công ước của Liên Hợp
Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với pháp luật Việt Nam” sẽ được
người viết trình bày cụ thể với những nội dung chính như sau:
- Lời nói đầu
- Chương 1 Khái quát về bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Ở chương này, người viết sẽ trình bày những
vấn đề cơ bản liên quan đến chế định bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù
hợp với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Đó được coi là một bức tranh tổng thể
về hợp đồng này, bao gồm: khái niệm, đặc điểm, nguồn luật điều chỉnh, đối tượng
của hợp đồng, nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hợp đồng, căn cứ phát sinh cũng
như trách nhiệm pháp lý khi có sự vi phạm hợp đồng xảy ra và các chế tài được áp
dụng Đặc biệt, người viết nhấn mạnh đến sự không phù hợp của hàng hóa với hợp
đồng, và vấn đề bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế Những vấn đề được đề cập ở chương này sẽ là nền tảng cho
việc so sánh, đối chiếu nội dung chính của đề tài
- Chương 2 Bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng –
so sánh, đối chiếu giữa Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế với pháp luật Việt Nam Trong chương này, người viết tập trung phân
tích các quy định của CISG và pháp luật Việt Nam liên quan đến chế định bồi
Trang 10thường thiệt hại khi được áp dụng đối với trường hợp hàng hóa không phù hợp với
hợp đồng Trên cơ sở phân tích các quy định đó cùng với thực tiễn áp dụng, người
viết sẽ đưa ra những nhận xét cũng như những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy
định của pháp luật Việt Nam tương thích với pháp luật quốc tế về chế định bồi
thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế
- Kết luận
Đề tài “Bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng – so
sánh, đối chiếu giữa Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế với pháp luật Việt Nam” là một đề tài tương đối mới và hẹp, đòi hỏi người
viết phải đi sâu vào phân tích làm rõ các vấn đề có liên quan Bên cạnh đó, trong
quá trình nghiên cứu, người viết có sử dụng nguồn tài liệu nước ngoài, điều đó đòi
hỏi những kỹ năng liên quan đến đọc hiểu và dịch thuật Do đây là lần đầu tiên tiếp
cận với một công trình nghiên cứu khoa học luật, với thời gian nghiên cứu còn hạn
chế cũng như vốn kiến thức hiểu biết có giới hạn Vì vậy, không thể tránh khỏi
những thiếu sót cũng như sai lầm trong quá trình nghiên cứu Người viết rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến đánh giá, phê bình của quý Thầy Cô, các nhà nghiên
cứu pháp luật và các bạn sinh viên
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG
HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ
Bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế là hình thức chế tài mà bên bán phải chịu trách nhiệm đối với bên mua
khi họ không đảm bảo hàng hóa phù hợp với các điều kiện mà các bên đã thỏa
thuận trong hợp đồng Điều này được thể hiện bằng các quy định cụ thể của CISG
và pháp luật Việt Nam Để việc so sánh, đối chiếu các quy định trên đạt kết quả
toàn diện, khách quan thì trước hết cần phải tìm hiểu khái quát những vấn đề liên
quan đến chế định bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
1.1 HÀNG HÓA VÀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1.1 Hàng hóa – Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Khái niệm hàng hóa được biết đến khi xã hội có sự trao đổi sản phẩm và sản
xuất phát triển Theo đó, hàng hóa được hiểu là sản phẩm của lao động, nó có thể
thỏa mãn những nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua
bán.3 Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi Giá trị sử dụng
của hàng hóa thể hiện ở chỗ nó có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, còn
giá trị trao đổi thể hiện ở chỗ nó có thể trao đổi với các hàng hóa khác theo một tỷ lệ
nhất định, cơ sở của giá trị trao đổi là giá trị Hàng hóa ngày nay được hiểu là
những gì có thể mang ra trao đổi, mua bán
Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng có các
đặc tính của hàng hóa, là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó
của con người thông qua trao đổi, mua bán với hai thuộc tính là giá trị sử dụng và
giá trị trao đổi Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao
gồm cả hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình được phân biệt vào dạng thức tồn
tại Nó có thể là vật, là sản phẩm lao động của con người hay là các quyền tài sản
mang tính vô hình Tuy nhiên, quan niệm về hàng hóa trong pháp luật của các quốc
gia có phạm vi rộng hẹp khác nhau Ví dụ: theo nội dung Điều 2-105 và các quy
định khác có liên quan trong Bộ luật Thương mại thống nhất của Hoa Kỳ (Uniform
Commercial Code – UCC) quy định phạm vi khái niệm hàng hóa rất rộng Hàng
hóa là những vật có thực được đưa ra thị trường để trao đổi Hàng hóa còn bao gồm
cả những giấy tờ có giá (thậm chí cả vận đơn đường biển), vật có thực và hàng hóa
3
Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010,
trang 189
Trang 12tương lai.4 Trong khi đó, CISG không trực tiếp định nghĩa hàng hóa mà chỉ liệt kê
những loại hàng hóa không thuộc đối tượng điều chỉnh của Công ước, bao gồm:
hàng hóa dùng cho mục đích các nhân, gia đình; hàng hóa được mua bán qua bán
đấu giá; hàng hóa dùng cho việc thi hành pháp luật; các loại cổ phiếu, hối phiếu,
chứng khoán đầu tư; tàu thủy, máy bay và các loại tàu chạy trên đệm không khí;
điện năng; hàng hóa được gia công nhưng phần lớn nguyên liệu phục vụ cho việc
gia công hàng hóa do bên mua cung cấp.5 Theo quy định của pháp luật Việt Nam,
“Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong
tương lai; những vật gắn liền với đất đai”.6
Theo quy định này, hàng hóa bao gồm các loại động sản và những vật gắn liền với đất đai Đất đai không được xem là
hàng hóa – đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước cũng như trong
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 1 Điều 27
Luật Thương mại 2005: “Mua bán hàng hóa quốc tế được thể hiện dưới các hình
thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu”
Căn cứ vào năm khái niệm này, có thể thấy hàng hóa là đối tượng của hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế phải là động sản Như vậy, nếu đối tượng của hợp đồng
mua bán hàng hóa là những vật gắn liền với đất đai thì trong trường hợp này, những
vật gắn liền với đất đai không được xem là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế, cho dù những vật đó được bán cho đối tác nước ngoài
Tóm lại, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải
thỏa mãn các quy định về Quy chế hàng hóa được phép mua bán, trao đổi theo pháp
luật của nước bên mua và bên bán Có thể thấy, phần lớn các loại hàng hóa đều
được phép tự do đem ra trao đổi, mua bán ngoại trừ một số loại hàng nhất định mà
thông thường, theo các quy định trong pháp luật các nước, đó là nhóm hàng bị cấm
xuất khẩu, nhập khẩu, các nhóm hàng bị hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu (được quản
lý theo hạn ngạch (quota) hoặc phải đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật, điều kiện chất
lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm v.v.).7
1.1.2 Hợp đồng mua bán hàng hóa
Trên thế giới, khái niệm hợp đồng được ghi nhận trong hầu hết các hệ thống
pháp luật của các nước Theo Điều 1–201 của Bộ luật Thương mại thống nhất của
4 Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2008,
trang 208
5 Điều 2, Khoản 1 Điều 3 CISG
6 Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại 2005
7
Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2008,
trang 209
Trang 13Hoa Kỳ thì “Hợp đồng là tổng thể các nghĩa vụ pháp lý, đó là kết quả của sự thỏa
thuận của các bên trong hợp đồng theo Bộ luật này và những quy định của pháp
luật hiện hành” Trong Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp, Điều 1101 quy định “Hợp
đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều bên cam kết với một
hoặc nhiều bên khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công
việc nào đó” Khái niệm hợp đồng cũng được quy định tại Điều 388 Bộ luật Dân sự
Việt Nam 2005, theo đó, “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Có thể thấy rằng, ở các hệ
thống pháp luật trên thế giới, hợp đồng được thừa nhận về mặt pháp lý khi đáp ứng
những yêu cầu sau: hợp đồng phải thể hiện được sự tự do ý chí của các bên tham gia
ký kết; hợp đồng phải là tập hợp những cam kết được pháp luật thừa nhận, ủng hộ
và bảo vệ; hợp đồng phải là những thỏa thuận, cam kết phản ánh sự thống nhất ý chí
thực sự của các bên tham gia hợp đồng.8
Trong các giao dịch thương mại, một trong những hợp đồng đóng vai trò quan
trọng và được sử dụng phổ biến đó là hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua
bán hàng hóa là quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện trên cơ sở
thuận mua, vừa bán, tức là trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên Hợp đồng mua
bán hàng hóa có bản chất chung của một hợp đồng mua bán, đó là sự thỏa thuận
nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua
bán Ở nhiều nước trên thế giới không có sự phân chia giữa hợp đồng mua bán
trong dân sự và hợp đồng mua bán trong thương mại Nhưng theo quy định của
pháp luật Việt Nam, có sự phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương
mại và hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự Luật Thương mại Việt Nam 2005
không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa, song có thể xác định bản
chất pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại trên cơ sở quy định
của Bộ luật Dân sự về hợp đồng mua bán tài sản Theo đó, hợp đồng mua bán hàng
hóa được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên, bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển
quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ
thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận
Căn cứ vào các yếu tố chủ thể, đối tượng, nơi xác lập và thực hiện hợp đồng,
hợp đồng mua bán hàng hóa được chia thành hợp đồng mua bán hàng hóa trong
nước và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Từ định nghĩa về hợp đồng mua bán
hàng hóa nêu trên, có thể thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước có những
8
Lê Thị Bích Thọ, Hợp đồng kinh tế vô hiệu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, trang 10
Trang 14đặc điểm nhất định Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước có thể được thiết lập
dưới hình thức bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể giữa các chủ thể
chủ yếu là thương nhân Theo đó, các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng phải có
ích nhất một bên là thương nhân hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận Tư cách
thương nhân sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật trong nước Quyền và nghĩa vụ của
các bên được coi là nội dung chính của hợp đồng Dựa vào những quy định của
pháp luật trong nước để xác định những loại hàng hóa nào được phép giao dịch
trong các hoạt động mua bán hàng hóa Đồng tiền thanh toán được các bên sử dụng
bắt buộc phải là nội tệ và ngôn ngữ được sử dụng giữa các bên trong hợp đồng phải
là quốc ngữ Trong mọi trường hợp, các bên không được thỏa thuận chọn luật nước
ngoài để điều chỉnh nội dung của hợp đồng, cũng như để giải quyết các tranh chấp
khi có phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng Đồng thời, các bên không được
thỏa thuận chọn cơ quan tài phán nước ngoài khi có tranh chấp xảy ra
1.1.3 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.3.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trong hệ thống các hợp đồng thương mại quốc tế, có thể nói rằng, hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế chiếm vị trí trung tâm Có một lúc nào đó mua bán hàng
hóa quốc tế là hình thức giao dịch thương mại duy nhất giữa các quốc gia và hiện
nay, vẫn là hình thức giao dịch chủ yếu, phổ biến, được sử dụng rộng rãi nhất trong
thương mại quốc tế.9
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất quốc tế Tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế có thể được quy định khác nhau trong pháp luật của các quốc gia cũng như
trong pháp luật quốc tế
- Theo Công ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế những động sản hữu
hình, tính chất quốc tế thể hiện ở các tiêu chí như: các bên giao kết có trụ sở thương
mại ở các nước khác nhau và hàng hóa, đối tượng của hợp đồng, được chuyển qua
biên giới một nước, hoặc là việc trao đổi ý chí giao kết hợp đồng giữa các bên được
lập ở những nước khác nhau (Điều 1 của Công ước) Nếu các bên giao kết không
có trụ sở thương mại thì sẽ dựa vào nơi cư trú thường xuyên của họ Yếu tố quốc
tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế.10
9 Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, Nxb
Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, 2007, trang 16
10
Nguyễn Xuân Công, Hợp đồng thương mại quốc tế - Những nội dung doanh nghiệp cần quan tâm, http://
moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?IemID=4021, [truy cập ngày 26/07/2013]
Trang 15- CISG chỉ đưa ra một tiêu chuẩn để khẳng định tính chất quốc tế của hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đó là các bên ký kết hợp đồng có trụ sở thương mại
đặt ở các nước khác nhau.11
Làm thế nào để xác định được trụ sở thương mại, trong khi các bên có thể có nhiều trụ sở thương mại hoặc cũng có thể không có bất kỳ trụ
sở nào? Để giải quyết vấn đề trên, những nhà soạn thảo CISG đã có sự dự liệu
trước Tại Điều 10 CISG quy định: “Trong trường hợp nếu một bên có hơn một trụ
sở thương mại trở lên thì trụ sở thương mại của họ sẽ được coi là trụ sở nào đó có
mối liên hệ chặt chẽ nhất đối với hợp đồng và việc thực hiện hợp đồng đó, có tính
tới các tình huống mà các bên đã biết hoặc đều dự đoán được vào bất kỳ lúc nào
trước hoặc vào thời điểm hợp đồng, còn nếu một bên không có trụ sở thương mại
thì sẽ lấy nơi cư trú thường xuyên của họ” Cũng giống như Công ước Lahaye năm
1964, CISG không quan tâm đến vấn đề quốc tịch của các bên khi xác định tính
chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tuy nhiên, CISG không đưa
ra tiêu chí hàng hóa phải được chuyển qua biên giới của một nước để xác định tính
chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, trong khi Công ước Lahaye
năm 1964 có quy định tiêu chí này
- Theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luật Thương mại Việt Nam 2005
không đưa ra tiêu chí để xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế mà liệt kê những hoạt động được coi là mua bán hàng hóa quốc tế tại Điều
27, bao gồm các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái
nhập và chuyển khẩu Cụ thể:
“Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải
quan riêng theo quy định của pháp luật”.12
“Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ
nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu
vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.13
“Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá được đưa từ nước ngoài hoặc
từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan
riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt
Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam”.14
11 Điều 1 CISG
12 Khoản 1 Điều 28 Luật Thương mại Việt Nam 2005
13
Khoản 2 Điều 28 Luật Thương mại Việt Nam 2005
14 Khoản 1 Điều 29 Luật Thương mại Việt Nam 2005
Trang 16“Tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra nước ngoài hoặc
đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải
quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam
và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam”.15
“Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán
sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập
khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam”.16
Với năm khái niệm về xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái
nhập và chuyển khẩu nêu trên, có thể thấy Luật Thương mại Việt Nam 2005 đã sử
dụng tiêu chí hàng hóa phải là động sản; hàng hóa có thể dịch chuyển qua biên giới
của Việt Nam hoặc qua biên giới của một nước (vùng lãnh thổ); hoặc di chuyển qua
khu chế xuất, khu vực hải quan riêng để xem xét tính quốc tế của hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế Hay nói cách khác, Luật Thương mại 2005 lấy tiêu chí “vận
chuyển hàng hóa qua biên giới” để xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế
Rõ ràng, có thể nhận thấy sự không đồng nhất về tiêu chí xác định tính quốc tế
của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa CISG và pháp luật Việt Nam Ví dụ,
một hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa thương nhân Việt Nam – trụ sở ở
Việt Nam với thương nhân Úc – trụ sở ở Úc Theo thỏa thuận của các bên, hàng hóa
sẽ được chuyển từ kho của bên thương nhân Việt Nam sang kho ở Việt Nam của
thương nhân Úc Theo cách xác định của CISG thì đây là quan hệ mua bán hàng
hóa quốc tế vì cả hai bên trong hợp đồng có trụ sở tại hai nước khác nhau Tuy
nhiên, theo cách xác định của pháp luật Việt Nam thì đây không phải là quan hệ hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Luật Thương mại 2005 vì đã
không có sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới trong hợp đồng trên
Mặc khác, Điều 758 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 quy định: “Quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là
cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc
là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng
căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát
sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” Như vậy,
khái niệm “mua bán hàng hóa quốc tế” với tư cách là hoạt động thương mại hoặc
15
Khoản 2 Điều 29 Luật Thương mại Việt Nam 2005
16 Khoản 1 Điều 30 Luật Thương mại Việt Nam 2005
Trang 17quan hệ thương mại theo quy định tại Khoản 1 Điều 27 Luật Thương mại 2005 có
phạm vi hẹp hơn so với “mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài” xuất phát từ khái
niệm “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” chiếu theo Điều 758 Bộ luật Dân sự
2005 Căn cứ vào khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại Điều 758 Bộ
luật Dân sự 2005 thì tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác
định dựa trên các tiêu chí sau: ít nhất một trong các bên tham gia mua bán hàng hóa
là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài; các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt
Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ mua bán hàng hóa theo
pháp luật nước ngoài; hàng hóa là đối tượng mua bán ở nước ngoài
Trong khi đó, mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại 2005 chỉ
căn cứ vào một tiêu chí duy nhất là “hàng hóa được vận chuyển qua biên giới” Với
những loại hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà hàng hóa không có sự dịch
chuyển qua biên giới thì sẽ không có sự điều chỉnh bởi quy định đối với mua bán
hàng hóa quốc tế trong Luật Thương mại 2005 Đơn cử như hợp đồng mua bán
hàng hóa giữa một thương nhân Việt Nam với một thương nhân nước ngoài, nhưng
hàng hóa chỉ được dịch chuyển trong lãnh thổ của một quốc gia thì không được xem
là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Luật Thương mại 2005
Trong trường hợp này, hợp đồng đó lại thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân
sự 2005 đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Về nguyên tắc, Bộ luật Dân sự được xem là đạo luật “gốc” sẽ có hiệu lực áp
dụng đối với các hoạt động thương mại chưa được điều chỉnh bởi Luật Thương mại
Theo Khoản 3 Điều 4 Luật Thương mại 2005 quy định: “Hoạt động thương mại
không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy
định của Bộ luật dân sự” Mặc dù vậy, hai khái niệm pháp lý “quốc tế” và “yếu tố
nước ngoài” vẫn đang tồn tại song song trong hệ thống văn bản quy phạm tư pháp
quốc tế Việt Nam và có sự khác biệt về nội hàm Hệ quả là khái niệm mua bán hàng
hóa quốc tế của Luật Thương mại 2005 được xây dựng không thống nhất với
nguyên tắc xác định yếu tố nước ngoài của Bộ luật Dân sự 2005
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
được đề cập đến mang tính chất thương mại và chịu sự điều chỉnh của Luật Thương
mại Việt Nam 2005 Với quan điểm này thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
không bao gồm các hợp đồng mua bán hàng hóa truyền thống có yếu tố nước ngoài
Theo đó, hợp đồng mua bán hàng hóa được hiểu là sự thỏa thuận của các bên, theo
đó bên bán có nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên
Trang 18mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa trả tiền cho bên bán, được thể hiện dưới các hình
thức nhập khẩu, xuất khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, và chuyển khẩu
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được coi là nền tảng cho sự phát triển
của nền kinh tế toàn cầu Trong xu thế thương mại hóa như hiện nay, khi mà nhu
cầu hội nhập, mở rộng quan hệ hợp tác giữa các quốc gia là một nhu cầu cần thiết
thì vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế càng được khẳng định Nó
không những góp phần mở rộng quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên trường quốc
tế, làm giảm sự khác biệt về kinh tế, chính trị, văn hóa của các nước mà còn góp
phần quan trọng thúc đẩy lĩnh vực thương mại quốc tế phát triển
1.1.3.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là loại hợp đồng gắn liền với “tính quốc
tế”, và đây được xem là yếu tố làm nên đặc trưng của hợp đồng này So với hợp
đồng mua bán hàng hóa trong nước, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có những
điểm mang tính đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường là thể
nhân hoặc pháp nhân có thể có trụ sở thương mại, nơi cư trú hoặc quốc tịch ở
các quốc gia khác nhau Trên thực tế thì pháp luật thương mại quốc tế không có sự
điều chỉnh đặc biệt nào đối với chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Vấn đề này được điều chỉnh bởi pháp luật của các quốc gia có liên quan, miễn là
chủ thể đó được thừa nhận tư cách chủ thể theo pháp luật của các quốc gia có liên
quan thì trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đương nhiên được công nhận
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được
coi là hợp pháp khi chủ thể của hợp đồng hợp pháp, tức là có năng lực pháp luật và
bên ký kết có năng lực hành vi và có thẩm quyền ký kết hợp đồng.17
Thứ hai, giống như hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, hàng hóa
cũng là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tuy nhiên, hàng hóa
là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải là động sản, thường là
những hàng hóa có thể dịch chuyển qua biên giới của một nước.18
Điều này đồng nghĩa rằng, đối với các hàng hóa không phải là động sản thì hàng hóa đó không
được xem là đối tượng của của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Đây chính là
điểm khác biệt cơ bản so với đối tượng hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước
17 Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, Nxb
Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, 2007, trang 12
18 Vấn đề này đã được trình bày ở phần 1.1.1 ở chương 1 của luận văn này, trang 5
Trang 19Thứ ba, hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định
của pháp luật Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới đều bắt buộc
các bên phải lập thành văn bản.19
Vấn đề này được quy định cụ thể tại Khoản 2
Điều 27 Luật Thương mại Việt Nam 2005: “Mua bán hàng hóa quốc tế phải được
thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị
pháp lý tương đương” Trong đó, các hình thức có giá trị pháp lý tương đương văn
bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy
định của pháp luật.20
Tuy nhiên, theo CISG thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không nhất thiết phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ
một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng
minh bằng mọi cách, kể cả bằng những lời khai của nhân chứng.21
Thứ tư, có sự khác biệt rõ ràng giữa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước về đồng tiền thanh toán Trong khi
đồng tiền thanh toán của các bên đối với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước là
nội tệ, trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đồng tiền thanh toán thường là
ngoại tệ ít nhất đối với một bên hoặc cũng có thể là nội tệ của cả hai bên Ví dụ: hợp
đồng được giao kết giữa bên bán Việt Nam và bên mua Hà Lan, hai bên thỏa thuận
sử dụng đồng euro làm đồng tiền thanh toán Lúc này đồng euro là ngoại tệ đối với
phía bên bán Việt Nam nhưng lại là nội tệ đối với bên mua Hà Lan Tuy nhiên, cũng
có trường hợp đồng tiền thanh toán đều là nội tệ của cả hai bên, như trường hợp các
bên đối tác trong hợp đồng thuộc các nước trong liên minh Châu Âu sử dụng đồng
euro làm đồng tiền chung
Thứ năm, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được ký kết bằng
tiếng nước ngoài đối với một bên hoặc cả hai bên trong hợp đồng Ví dụ: hợp
đồng được ký kết giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân Anh, hai bên thỏa
thuận chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng Trong trường hợp
này, tiếng Anh được xem là ngôn ngữ nước ngoài đối với thương nhân Việt Nam
nhưng lại là ngôn ngữ mẹ đẻ của thương nhân Anh Bên cạnh đó cũng có trường
hợp ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng là tiếng nước ngoài đối với các bên trong
hợp đồng, như trường hợp thương nhân Việt Nam và thương nhân Lào chọn tiếng
Anh làm ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng của mình
19 Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, Nxb
Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, 2007, trang 173
20
Khoản 15 Điều 3 Luật Thương mại Việt Nam 2005
21 Điều 11 CISG
Trang 20Thứ sáu, luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang tính
chất đa dạng và phức tạp Điều này có nghĩa là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế có thể phải chịu sự điều chỉnh không chỉ của luật pháp nước đó mà còn cả luật
nước ngoài, thậm chí phải chịu sự điều chỉnh của điều ước quốc tế, tập quán thương
mại quốc tế hoặc cả án lệ để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Khi
tham gia vào quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế, các bên trong hợp đồng có thể
thỏa thuận chọn nguồn luật thích hợp nhằm đảm bảo cân bằng quyền và nghĩa vụ
của các bên thay vì chỉ được sử dụng luật quốc nội như trong hợp đồng mua bán
hàng hóa trong nước Tuy nhiên, việc thỏa thuận đó không được trái với các nguyên
tắc cơ bản của pháp luật có liên quan Bên cạnh đó, việc áp dụng các nguồn luật trên
có thể là do các cơ quan tài phán quyết định áp dụng khi thụ lý giải quyết tranh chấp
giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng
Thứ bảy, tranh chấp phát sinh giữa các bên xung quanh việc ký kết và thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được giải quyết bởi cơ quan tài
phán nước ngoài đối với ít nhất một trong các bên Đó có thể là Tòa án hoặc
Trọng tài nước ngoài Các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường có
quốc tịch, trụ sở hoặc nơi cư trú ở các quốc gia khác nhau, cho nên cơ quan tài phán
có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các bên có thể là cơ quan tài phán nước
ngoài đối với một bên trong hợp đồng hoặc cũng có thể là cơ quan tài phán nước
ngoài đối với cả hai bên
Tóm lại, đây là những đặc điểm nổi bật mang tính chất đặc trưng của hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tính đặc trưng đó chính là yếu tố “nhận dạng” hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế so với các hợp đồng thương mại quốc tế khác nói
chung và hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước nói riêng
1.1.3.3 Nguồn luật điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nguồn luật điều chỉnh của hợp
đồng được xác định trong trường hợp các bên trong hợp đồng có thỏa thuận nguồn
luật điều chỉnh hay khi các nguyên tắc tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến nguồn luật
điều chỉnh Nguồn luật đó có thể là điều ước quốc tế về thương mại, pháp luật của
quốc gia hoặc tập quán thương mại quốc tế và thậm chí cả các án lệ
Thứ nhất, điều ước quốc tế về thương mại Điều ước quốc tế được coi là
nguồn điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi các điều ước này
điều chỉnh các quan hệ mua bán hàng hóa trong lĩnh vực thương mại Điều ước
quốc tế về thương mại là văn bản pháp lý do các quốc gia ký kết hoặc tham gia
Trang 21nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của mình với nhau trong giao dịch thương mại
quốc tế Một khi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế liên
quan đến vấn đề không được quy định hoặc quy định không đầy đủ trong hợp đồng,
các bên trong hợp đồng có thể dựa vào điều ước quốc tế về thương mại Do đó, điều
ước quốc tế về thương mại là nguồn luật điều chỉnh đầu tiên của hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế.22 Điều ước quốc tế về thương mại được áp dụng trong các trường
hợp sau:
- Quốc gia của các chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có ký
kết hay tham gia điều ước quốc tế tương ứng Hay nói cách khác, điều ước quốc tế
về thương mại chỉ có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các bên chủ thể trong hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nếu các chủ thể này có quốc tịch hoặc nơi cư trú
của các quốc gia là các nước thành viên của điều ước quốc tế đó Ví dụ: hợp đồng
được xác lập giữa bên bán Ý và bên mua Đức, cả hai quốc gia này đều là thành viên
của CISG nên CISG được mặc nhiên áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong
trường hợp này
- Mặc dù quốc gia của các chủ thể trong hợp đồng không tham gia ký kết hay
phê chuẩn điều ước quốc tế về thương mại, nhưng các bên trong hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế vẫn có thể thỏa thuận áp dụng điều ước quốc tế đó để điều chỉnh
cho nội dung hợp đồng của mình Ví dụ: mặc dù Việt Nam và Campuchia chưa là
thành viên của CISG, nhưng các bên trong hợp đồng vẫn có thể thỏa thuận chọn
CISG để áp dụng, miễn là việc áp dụng đó không trái với các quy định của pháp
luật hai nước
- Bên cạnh đó, điều ước quốc tế về thương mại còn được áp dụng trong trường
hợp khi nguyên tắc trong tư pháp quốc tế dẫn chiếu luật được áp dụng là luật của
nước là thành viên của điều ước quốc tế đó Vấn đề này được quy định tại Điểm b
Khoản 1 Điều 1 CISG Ví dụ: hợp đồng được ký kết giữa công ty Việt Nam với
công ty Nhật Bản Khi có tranh chấp xảy ra, dựa trên các nguyên tắc của tư pháp
quốc tế Tòa án xác định luật được áp dụng điều chỉnh cho quan hệ hợp đồng này là
luật của nước bên bán, tức là luật của Nhật Bản Trong trường hợp này, vì Nhật Bản
là thành viên của CISG nên CISG được xem xét áp dụng cho quan hệ hợp đồng
trên
Thứ hai, pháp luật của quốc gia Khi không có điều ước quốc tế hoặc có
nhưng điều ước quốc tế không đề cập hoặc đề cập không đầy đủ những vấn đề về
22 Giáo trình Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005, trang 82
Trang 22quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các chủ
thể của hợp đồng có thể dựa vào luật pháp của một quốc gia nào đó để giải quyết
vấn đề phát sinh Trong trường hợp này, pháp luật của quốc gia trở thành nguồn luật
điều chỉnh, bổ sung cho những thiếu sót của hợp đồng đó Pháp luật của quốc gia là
tổng hợp các quy định điều chỉnh những vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế Có thể thấy rằng, nguồn Luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế là pháp luật quốc gia có thể được thể hiện dưới hình thức luật thành văn
đối với các nước theo hệ thống Châu Âu lục địa (Civil Law) và luật không thành
văn đối với các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ (Common Law) Bởi vì ở
các nước theo hệ thống pháp luật chung Anh – Mỹ thì bên cạnh luật thành văn, ở
các nước này còn có cả luật không thành văn được ghi nhận trong các án lệ
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, pháp luật của quốc gia được xem
là nguồn luật áp dụng trong hai trường hợp đó là khi các bên trong hợp đồng thỏa
thuận áp dụng luật quốc gia và khi có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến luật của
quốc gia.23 Cụ thể:
- Trường hợp thứ nhất, khi các bên trong hợp đồng thỏa thuận áp dụng luật
quốc gia Trong quá trình ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các bên có
quyền tự do thỏa thuận Theo đó các bên có thể thỏa thuận mọi điều khoản liên
quan đến quyền và nghĩa vụ của mình, bao gồm cả việc tự do thỏa thuận luật áp
dụng Các bên có thể thỏa thuận luật trong nước của mỗi bên Trong trường hợp các
bên chủ thể không thể thỏa thuận áp dụng luật của một trong các bên thì các bên sẽ
thỏa thuận áp dụng luật của một nước thứ ba Luật của nước thứ ba ở đây được hiểu
là luật pháp của các nước có liên quan đến các giao dịch của các bên, ví dụ: luật nơi
ký kết hợp đồng, luật nơi thực hiện hợp đồng, luật nơi có tài sản liên quan đến hợp
đồng Bên cạnh đó, các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể thỏa
thuận lựa chọn luật quốc gia là luật áp dụng cho hợp đồng sau khi hợp đồng được
ký kết, thậm chí khi có tranh chấp phát sinh Tuy nhiên, trên thực tế trường hợp này
rất ít xảy ra, bởi vì các bên khó có thể đạt được một sự nhất trí về việc chọn luật áp
dụng Để đạt được sự thống nhất giữa các bên thì luật được lựa chọn là luật phải
đảm bảo cân bằng quyền và lợi ích của các bên trong hợp đồng
- Trường hợp thứ hai, luật quốc gia sẽ được áp dụng nếu có quy phạm xung
đột dẫn chiếu đến Trong trường hợp, mặc dù các bên chủ thể không thỏa thuận luật
áp dụng, nhưng trong các nguồn luật liên quan có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến
23
Diệp Ngọc Dũng, Tập bài giảng Luật thương mại quốc tế, Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ, 2002,
trang 7
Trang 23một hệ thống pháp luật của một quốc gia nào đó Thì pháp luật được dẫn chiếu sẽ
được áp dụng để điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế Ví dụ: để xác định
luật điều chỉnh cho quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế trong trường hợp các bên
không có thỏa thuận điều khoản luật áp dụng cho hợp đồng, tư pháp quốc tế của
một số nước quy định áp dụng hệ thuộc Luật nơi ký kết hợp đồng, theo đó luật áp
dụng cho hợp đồng trong trường hợp này là luật của nước nơi các bên ký kết hợp
đồng Như vậy, trong trường hợp này, mặc dù các bên không thỏa thuận luật áp
dụng, nhưng khi xác định luật điều chỉnh nội dung hợp đồng thì vẫn áp dụng pháp
luật của nước do quy phạm xung đột dẫn chiếu đến
Thứ ba, bên cạnh điều ước quốc tế về thương mại và pháp luật quốc gia,
tập quán thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng với tư cách là nguồn
chính thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tập quán thương mại quốc
tế là thói quen thương mại được hình thành lâu đời, có nội dung cụ thể, rõ ràng,
được áp dụng liên tục và được các chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế chấp
nhận một cách phổ biến Như vậy, không phải bất cứ tập quán thương mại nào cũng
có thể được coi là nguồn điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tập
quán thương mại quốc tế chỉ được coi là nguồn của hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế khi nó thỏa mãn các điều kiện pháp lý sau: tập quán thương mại quốc tế là
thói quen thương mại được hình thành lâu đời và phải được áp dụng liên tục; phải
có nội dung cụ thể, rõ ràng; phải là thói quen duy nhất trong giao dịch mua bán
hàng hóa quốc tế; phải được đại đa số các chủ thể trong giao dịch mua bán hàng hóa
quốc tế hiểu biết và chấp nhận Một trong những tập quán thương mại phổ biến đó
là các ấn phẩm INCOTERMS của Phòng thương mại quốc tế (International
Chamber of Commerce - ICC), gần đây nhất đó là ấn phẩm INCOTERMS 2010
Không giống như điều ước quốc tế về thương mại và pháp luật của quốc gia,
tập quán thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp lý trong hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế trong các trường hợp sau:24
- Tập quán thương mại quốc tế được các bên thỏa thuận áp dụng ghi trong
hợp đồng Hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên chủ thể Vì vậy nếu các bên chủ
thể trong hợp đồng thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại quốc tế để điều chỉnh
quyền và nghĩa vụ của họ thì tập quán thương mại quốc tế có giá trị ràng buộc các
bên Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hầu hết các nước thì việc thỏa thuận áp
24 Diệp Ngọc Dũng, Tập bài giảng Luật thương mại quốc tế, Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ, 2002,
trang 12
Trang 24dụng tập quán thương mại quốc tế phải tuân thủ theo một số nguyên tắc nhất định
Ví dụ: theo quy định của pháp luật Việt Nam thì các bên trong hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế được phép thỏa thuận áp dụng tập quán quốc tế nếu việc áp dụng
hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Việt Nam.25
- Tập quán thương mại quốc tế được các điều ước thương mại quốc tế liên
quan quy định áp dụng Trong trường hợp một điều ước quốc tế về thương mại có
quy phạm quy định áp dụng một hoặc một số tập quán thương mại quốc tế thì các
tập quán thương mại quốc tế đó sẽ đương nhiên được áp dụng cho các quan hệ của
các bên chủ thể mang quốc tịch hoặc có trụ sở ở các nước là thành viên của điều
ước quốc tế đó Điều này có nghĩa là kể cả trong trường hợp khi giao kết hợp đồng
các bên chủ thể này đã không thỏa thuận dẫn chiếu đến một tập quán thương mại
quốc tế, thì tập quán thương mại đó vẫn được áp dụng nếu nó được quy định trong
điều ước quốc tế về thương mại có liên quan
- Tập quán thương mại quốc tế được luật trong nước quy định áp dụng Trong
trường hợp luật trong nước điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa giữa các bên quy
định áp dụng tập quán thương mại quốc tế thì tập quán thương mại quốc tế đó được
áp dụng
- Cơ quan xét xử cho rằng, các bên chủ thể đã mặc nhiên áp dụng tập quán
thương mại quốc tế trong giao dịch thương mại của họ Đây là trường hợp áp dụng
tập quán thương mại quốc tế trong việc xét xử các tranh chấp phát sinh từ giao dịch
thương mại quốc tế Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận cụ thể về việc
áp dụng tập quán thương mại quốc tế, đồng thời các điều ước quốc tế và luật trong
nước có liên quan cũng không có quy định cụ thể về vấn đề này thì cơ quan xét xử
có thể áp dụng tập quán thương mại quốc tế để giải quyết tranh chấp khi có đủ cơ sở
pháp lý để khẳng định rằng trong khi giao kết hợp đồng, các bên chủ thể đã ngầm
hiểu là họ phải hành động theo tập quán thương mại quốc tế mà bất cứ nhà kinh
doanh mua bán hàng hóa quốc tế nào cũng hành động như vậy trong hoàn cảnh
tương tự
Có thể thấy rằng, tập quán thương mại quốc tế chỉ có giá trị bổ sung cho hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế Vì vậy, những vấn đề hợp đồng đã quy định thì tập
quán thương mại quốc tế sẽ không có giá trị, hay nói cách khác, hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế có giá trị pháp lý cao hơn so với tập quán thương mại quốc tế Khi
25 Khoản 4 Điều 759 Bộ luật Dân sự 2005 và Khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại 2005
Trang 25áp dụng, cần chú ý là do tập quán thương mại quốc tế có nhiều loại nên để tránh
nhầm lẫn hoặc hiểu không thống nhất về một tập quán nào đó, cần phải quy định cụ
thể tập quán đó trong hợp đồng
Thứ tƣ, ngoài ba nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa nêu
trên, án lệ cũng đƣợc xem là một nguồn điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế Án lệ được hiểu là việc làm luật của Tòa án khi công nhận và áp dụng
các quy tắc mới trong quá trình xét xử Những vụ việc đã được Tòa án giải quyết
được xem là cơ sở để đưa ra phán quyết cho các trường hợp có tình tiết hoặc vấn đề
tương tự sau này Tuy ít được sử dụng trong việc ký kết và thực hiện trong hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng trong một số trường hợp nhất định, án lệ
vẫn được áp dụng Thông thường, án lệ được áp dụng trong việc giải quyết các
tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chủ thể là các bên
thuộc hệ thống pháp luật Anh – Mỹ
Tóm lại, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, dù được ký kết hoàn chỉnh, chi
tiết đến đâu, bản thân nó cũng không thể dự kiến, chứa đựng, bao gồm tất cả những
vấn đề có thể phát sinh trong thực tế Trong trường hợp này, việc xác định nguồn
luật điều chỉnh cụ thể cho hợp đồng đóng vai trò rất quan trọng, bởi vì, đó là cơ sở
pháp lý để giải quyết tranh chấp giữa các bên nếu có xảy ra
1.2 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA
BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
Cũng giống như tất cả các hợp đồng mua bán hàng hóa khác, hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế được thực hiện thông qua việc các bên thực hiện nghĩa vụ của
mình được quy định trong hợp đồng Nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng được
xác lập trên cơ sở các điều khoản do chính các bên thỏa thuận, trong trường hợp
không có sự thỏa thuận thì nghĩa vụ của họ được xác định dựa trên cơ sở luật áp
dụng.26
1.2.1 Nghĩa vụ của bên bán
1.2.1.1 Nghĩa vụ giao hàng hóa phù hợp với hợp đồng
Trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, do các bên trong hợp đồng
thường cách rất xa, nên đàm phán thường tiến hành thông qua các phương tiện
thông tin liên lạc (phương thức giao kết hợp đồng gián tiếp) Song trên thực tế, triết
lý “bên mua lầm chứ bên bán thì không” đã cảnh báo rằng, so với bên mua, bên
26
Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, Nxb
Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, 2007, trang 188
Trang 26bán, hơn ai hết, luôn là bên biết rõ nhất về đặc tính của hàng hóa.27 Vì vậy họ luôn ở
vào vị trí có lợi hơn về thông tin so với bên mua, cho nên pháp luật buộc bên bán
phải chịu trách nhiệm đối với những thông tin về hàng hóa mà họ cung cấp cho bên
mua
Có thể thấy rằng, cũng giống như hợp đồng mua bán hàng hóa nội địa, trong
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, một trong nghĩa vụ cơ bản của bên bán là
nghĩa vụ giao hàng Nghĩa vụ này, theo thông lệ quốc tế, đồng thời cũng được coi là
nghĩa vụ chính của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Theo đó, bên bán phải đảm
bảo hàng hóa được giao cho bên mua phù hợp với những điều kiện của hợp đồng
Nguyên tắc này được thừa nhận ở hầu hết các hệ thống pháp luật
Theo quy định của CISG, bên bán có nghĩa vụ giao hàng phù hợp với quy định
của hợp đồng về số lượng, phẩm chất và mô tả như quy định trong hợp đồng, và
đúng bao bì hay đóng gói như hợp đồng yêu cầu.28 Ví dụ: công ty Việt Nam ký hợp
đồng mua của công ty Singapore 858 phuy mỡ bôi trơn GRMU3, xuất xứ Hà Lan
Sản phẩm có bao bì sẽ được giao trong phuy thép mới tiêu chuẩn của AGIP, có độ
dày của thép khoảng 1,2/1,0 mm Các phuy này sẽ được bơm 180 kg mỡ, trọng
lượng tịnh Trong trường hợp này, công ty Singapore được coi là đã giao hàng phù
hợp với hợp đồng, nếu hàng hóa do họ cung cấp đáp ứng các yêu cầu trên trong hợp
đồng đã ký với phía công ty Việt Nam Như vậy, nếu hợp đồng có quy định cụ thể
về số lượng, phẩm chất, bao bì hay cách thức đóng gói thì bên bán phải đảm bảo
giao hàng hóa phù hợp với các điều kiện đó
Trong trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể hoặc ngoại trừ những
trường hợp đã được các bên thỏa thuận khác, hàng hóa được coi là không phù hợp
với hợp đồng nếu:29
- Hàng hóa không thích hợp cho các mục đích sử dụng mà các hàng hóa
cùng loại vẫn thường đáp ứng Có một số học giả cho rằng, tiêu chí này được xác
định dựa trên chất lượng trung bình của hàng hóa cùng loại vào thời điểm giao
hàng Bên cạnh đó, một số học giả khác lại căn cứ vào khả năng thương mại của
hàng hóa theo tiêu chí trên Tuy nhiên, việc xác định sự không phù hợp của hàng
hóa theo tiêu chí này không phải lúc nào cũng dựa trên chất lượng trung bình của
27 Dương Anh Sơn, Nguyễn Ngọc Sơn, Tác động của các hình thức lỗi đến việc xác định trách nhiệm hợp
đồng nhìn từ góc độ nguyên tắc trung thực và thiện chí, http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmu law/index.ph p?o
ption=com_content&view =article&id=274:tcchtlvxtnh&catid=107:ctc20071&Itemid=110, [truy cập ngày
08/09/2013]
28
Khoản 1 Điều 35 CISG
29 Khoản 2 Điều 35 CISG
Trang 27hàng hóa cùng loại – được biết đến phổ biến ở các nước thuộc hệ thống luật Châu
Âu lục địa, cũng không phải dựa trên khả năng bán lại hàng hóa được áp dụng ở các
nước thuộc hệ thống luật Anh Mỹ Hàng hóa được xem là không phù hợp cho các
mục đích sử dụng mà các loại hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp ứng được xác
định tùy từng trường hợp cụ thể, có tính đến mục đích của các bên trong hợp
đồng.30 Bởi vì, chất lượng của hàng hóa bán ra phải có một tiêu chuẩn hợp lý, tức là
chất lượng đó nằm trong kỳ vọng thông thường của một bên bình thường cũng mua
hàng hóa đó Nếu hàng hóa dễ bị hư hỏng trong điều kiện bình thường (chẳng hạn
như thực phẩm) thì nó phải được đảm bảo chất lượng trong một khoảng thời gian
hợp lý sau thời điểm được giao Thời gian hợp lý cũng được áp dụng đối với các
loại hàng hóa khác Điều này tương ứng với các mục đích sử dụng thông thường đối
với các hàng hóa cùng chủng loại trên thị trường vào lúc ký kết hợp đồng Bên mua
có quyền hy vọng rằng, hàng hóa mà họ nhận được sẽ đáp ứng cho các mục đích sử
dụng thông thường của các hàng hóa cùng loại, ngay cả khi hợp đồng không có quy
định cụ thể mục đích sử dụng của hàng hóa đó
Các trường hợp hàng hóa có thể được xem là không phù hợp cho các mục đích
sử dụng thông thường mà các loại hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp ứng chẳng
hạn như: rượu vang được pha thêm một lượng lớn đường đã làm tăng nồng độ cồn
của rượu; bếp điện có những khiếm khuyết dẫn đến việc sử dụng nó trở nên nguy
hiểm; thịt lợn đông lạnh bị thối sau khi bên mua tiếp nhận hàng hóa Vấn đề đặt ra
là hàng hóa cùng loại đó được xác định là hàng hóa ở nước bên bán, bên mua hay
của một nước thứ ba? Hiện nay, chưa có bất kỳ giải thích chính thức nào về vấn đề
này Do đó, bên bán chỉ có thể chịu trách nhiệm về hàng hóa không phù hợp với
mục đích sử dụng thông thường mà các hàng hóa cùng loại ở nước bên mua vẫn
thường đáp ứng trong một số trường hợp sau: các quy định về mục đích sử dụng của
hàng hóa cùng loại đó cũng tương tự như nước của bên bán; bên bán có chi nhánh ở
nước bên mua; các bên trong hợp đồng đã tiến hành nhiều giao dịch tương tự trước
đó; bên bán thường xuyên xuất khẩu hàng hóa đó vào nước của bên mua. 31
- Hàng không thích hợp cho bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên bán đã
trực tiếp hoặc gián tiếp biết được vào lúc ký kết hợp đồng, trừ trường hợp nếu
căn cứ vào các hoàn cảnh cụ thể có thể thấy rằng không dựa vào ý kiến hay sự
phán đoán của bên bán hoặc nếu đối với họ làm như thế là không hợp lý Điều
30 Non-Conformity of Goods in Light of CISG, Unidroit Principles and the Palestinian Commercial Law
Draft, http://sljournal.uaeu.ac.ae/en/issues/52/images/3-%20English%20-%20.pdf,[truy cập ngày 9/10/2013]
31 Sđd (30)
Trang 28này đồng nghĩa với việc chất lượng của hàng hóa được giao không giống như chất
lượng mà bên bán đã dự đoán được vào lúc ký kết hợp đồng.32
Điều này được xem
là hợp lý bởi vì khi bên mua cho bên bán biết mục đích cụ thể của việc mua hàng
hóa, trong tình huống này, bên bán rõ ràng là có cơ hội để phản đối việc giao hàng
theo chất lượng mà bên mua kỳ vọng nhưng họ đã không hành động như thế
Ví dụ: công ty Trung Quốc và công ty Pháp giao kết hợp đồng mua bán với
nhau Theo đó, công ty Trung Quốc sẽ cung cấp cho công ty Pháp 2.000 găng tay
chuyên dùng cho công nhân hoạt động bốc xếp kính hoặc kim loại có độ sắc cao
Đến hạn công ty Trung Quốc giao cho công ty Pháp 2.000 găng tay vải Trong
trường hợp này công ty Pháp có quyền từ chối nhận hàng Bởi lẽ, số găng tay vải
mà phía công ty Trung Quốc cung cấp không đáp ứng mục đích chuyên dùng của
công ty Pháp, điều này nằm trong sự dự đoán trước của công ty Trung Quốc vào lúc
ký kết hợp đồng Trong tình huống trên, rõ ràng là công ty Trung Quốc đã biết mục
đích chuyên dùng của loại găng tay mà bên mua đặt hàng vào lúc ký kết hợp đồng
Thay vì cung cấp loại găng tay phù hợp (găng tay phủ cao su) thì công ty Trung
Quốc lại giao loại găng tay vải cho công ty Pháp Như vậy, hành vi giao hàng của
công ty Trung Quốc được xem là hành vi giao hàng hóa không phù hợp với mục
đích chuyên dùng của hàng hóa mà công ty Pháp mong muốn
Tuy nhiên, bên bán sẽ không chịu trách nhiệm về tính phù hợp của hàng hóa
về mục đích sử dụng nếu căn cứ vào các hoàn cảnh cụ thể có thể thấy rằng không
dựa vào kỹ năng hay sự phán đoán của bên bán hoặc nếu đối với họ làm như thế là
không hợp lý Các hoàn cảnh đó có thể là: bên bán và bên mua cùng có mức độ kỹ
năng cũng như sự phán đoán, hoặc kỹ năng và sự phán đoán của bên mua cao hơn
bên bán; bên mua từ chối dự định của bên bán liên quan đến một số đặc tính của
hàng hóa; bên mua cùng hợp tác sản xuất hàng hóa; bên mua tham gia vào quá trình
lựa chọn hàng hóa.33
- Hàng không có các tính chất của hàng mẫu hoặc kiểu dáng mà bên bán
đã cung cấp cho bên mua Thông thường, hàng mẫu được hiểu là một số ít hàng
được rút ra từ một lô hàng hoặc được sản xuất, sử dụng, thiết kế và gia công, đủ để
phản ánh và thay thế cho chất lượng hàng hóa của một lô hàng Trong hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế, căn cứ vào sự khác nhau của bên cung cấp hàng mẫu, có
32 Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, Nxb
Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, 2007, trang 189
33
Non-Conformity of Goods in Light of CISG, Unidroit Principles and the Palestinian Commercial Law
Draft, http://sljournal.uaeu.ac.ae/en/issues/52/images/3-%20English%20-%20.pdf,[truy cập ngày 9/10/2013]
Trang 29thể phân hàng mẫu thành các loại sau: hàng mẫu của bên bán (Seller’s Sample);
hàng mẫu của bên mua (Buyer’s Sample); hàng mẫu đối đẳng (Counter Sample). 34
Theo đó, hàng mẫu do bên bán cung cấp gọi là “hàng mẫu của bên bán” Tất cả
những việc mua bán lấy hàng mẫu của bên bán làm căn cứ chất lượng để giao hàng
đều được gọi là “mua bán dựa theo hàng mẫu của bên bán” Trong trường hợp này,
trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần ghi rõ chất lượng hàng mẫu làm
chuẩn (Quality as per seller’s sample) Sau này, chất lượng toàn bộ lô hàng mà bên
bán giao đều phải giống như hàng mẫu đã cung cấp Nếu như bên bán giao hàng hóa
không giống như hàng mẫu mà bên bán đã cung cấp thì trong trường hợp này, hành
vi giao hàng của bên bán được xem là giao hàng không phù hợp với hợp đồng
Bên cạnh việc giao hàng hóa không phù hợp với hàng mẫu, bên bán có thể
được xem là giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng nếu như bên bán không
đảm bảo hàng hóa phù hợp với kiểu dáng mà họ đã cung cấp cho bên mua Ví dụ:
Công ty Hàn Quốc ký hợp đồng bán cho công ty Singapore 1.000 áo sơ mi với hàng
mẫu kèm theo là áo sơ mi tay ngắn Nhưng khi nhận hàng phía công ty Singapore
phát hiện chỉ có 300 áo sơ mi tay ngắn, còn lại là áo sơ mi tay dài Trong trường
hợp này những áo sơ mi tay dài được xem là không phù hợp với kiểu dáng của hàng
hóa mà phía công ty Hàn Quốc đã cung cấp cho công ty Singapore
- Hàng không được đóng bao bì theo cách thông thường cho những hàng
cùng loại hoặc, nếu không có cách thông thường, thì bằng cách thích hợp để
giữ gìn và bảo vệ hàng hóa đó Theo quy định này, rõ ràng bên bán phải có nghĩa
vụ đóng gói hàng hóa, không chỉ khi hàng hóa được giao mà còn trong trường hợp
hàng hóa được đặt dưới sự định đoạt của bên mua Như vậy, bên bán sẽ phải chịu
trách nhiệm nếu như hàng hóa không được đóng bao bì theo cách thức được sử
dụng phổ biến đối với các hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp ứng Ví dụ: đối với
các mặt hàng làm bằng chất liệu thủy tinh dễ vỡ (nước hoa, gốm, sứ, bóng đèn…)
phải được đóng gói bằng giấy gói bubble ô lớn, được làm từ các bóng khí Nếu như
không có cách thông thường đó, thì bên bán phải đóng bao bì hàng hóa bằng cách
thức thích hợp để giữ gìn và bảo vệ hàng hóa đó tùy theo các điều kiện hoàn cảnh
cụ thể, chẳng hạn như các điều kiện của thời tiết, các loại phương tiện vận tải được
sử dụng để vận chuyển hàng hóa
Căn cứ vào quy định trên, nếu hàng hóa thoả mãn một trong các điều kiện này
thì hàng hóa đó có thể được coi là không phù hợp với hợp đồng Tuy nhiên, bên bán
34 Lê Hiếu Tiên, Nghiệp vụ buôn bán quốc tế, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1995, trang 90
Trang 30sẽ không phải chịu trách nhiệm về việc giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
nếu họ rơi vào các trường hợp kể trên, nếu như bên mua đã biết hoặc không thể
không biết về việc hàng hóa không phù hợp vào lúc ký kết hợp đồng.35
Khi bên bán giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, họ phải chịu trách
nhiệm chiếu theo hợp đồng và các quy định của CISG về mọi sự không phù hợp đó
vào lúc chuyển giao rủi ro sang cho bên mua, ngay cả khi sự không phù hợp của
hàng hóa chỉ được phát hiện ngay sau đó Không những thế, bên bán còn phải chịu
trách nhiệm về mọi sự không phù hợp của hàng hóa xảy ra sau thời điểm đã nói ở
điểm trên và là hậu quả của việc bên bán vi phạm bất cứ một nghĩa vụ nào của
mình, kể cả việc không thể hoàn toàn đảm bảo rằng trong một thời hạn nào đó, hàng
hóa vẫn thích hợp cho mục đích sử dụng thông thường hay mục đích cụ thể hoặc
vẫn duy trì được những tính chất hay đặc tính đã quy định.36
Vấn đề xác định tính phù hợp của hàng hóa so với hợp đồng cũng được pháp
luật Việt Nam ghi nhận tại Khoản 1 Điều 39 Luật Thương mại 2005 Theo đó, đối
với trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể thì hàng hóa được coi là không
phù hợp với hợp đồng khi hàng hóa đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:
“không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các loại hàng hóa cùng
chủng loại; không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên
bán biết hoặc bên bán phải biết thời điểm giao kết hợp đồng; không bảo đảm chất
lượng như chất lượng mà bên bán đã giao cho bên mua; không được bảo quản,
đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hóa đó hoặc không theo
cách thức thích hợp để bảo quản hàng hóa trong trường hợp không có cách thức
bảo quản thông thường”
Từ quy định trên cho thấy, các quy định về việc xác định tính phù hợp của
hàng hóa so với hợp đồng giữa CISG và pháp luật Việt Nam khá tương đồng với
nhau Ở hai hệ thống luật có sự giống nhau về mặt ý nghĩa của thuật ngữ “hàng hóa
không phù hợp với hợp đồng” Lý do điều này một phần được cho là các nhà làm
luật Việt Nam đã tham khảo CISG trong quá trình soạn thảo Luật Thương mại
2005 Đó là tiền đề để pháp luật Việt Nam tương thích với các quy định của pháp
luật thương mại quốc tế
Như vậy, theo quy định của CISG và pháp luật Việt Nam, hàng hóa được coi
là không phù hợp với hợp đồng nếu không thỏa mãn một trong các yêu cầu sau đây:
35
Khoản 3 Điều 35 CISG
36 Điều 36 CISG
Trang 31các yêu cầu về số lượng hàng hóa trong hợp đồng; các yêu cầu về chất lượng hàng
hóa theo thỏa thuận hoặc căn cứ vào chất lượng hàng mẫu; các yêu cầu về mục đích
của hàng hóa như những thông tin đã được các bên trao đổi hoặc căn cứ vào mục
đích sử dụng thông thường của hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp ứng; các yêu cầu
về cách thức bảo quản, đóng gói theo thỏa thuận của các bên hoặc căn cứ vào cách
thức thông thường áp dụng cho những hàng hóa cùng loại, hoặc cách thức thích hợp
để bảo quản hàng hóa nếu không có cách thức thông thường để bảo vệ hàng hóa đó
Về nguyên tắc, bên bán phải có nghĩa vụ đảm bảo hàng hóa phù hợp với hợp
đồng nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên khi giao kết hợp đồng Vì một lý do bất
kỳ mà bên bán không thực hiện nghĩa vụ nói trên, điều đó đồng nghĩa với việc lợi
ích của bên mua sẽ bị xâm hại Khi đó, bên mua được quyền khôi phục lại những
tổn thất mà họ phải gánh chịu cũng như các khoản lợi bị mất, căn cứ vào các điều
khoản trong hợp đồng cũng như các quy định của pháp luật có liên quan Tuy nhiên,
bên bán sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với sự không phù hợp của hàng hóa so
với các điều kiện của hợp đồng, nếu bên mua đã biết hoặc không thể không biết sự
không phù hợp đó vào thời điểm ký kết hợp đồng.37
1.2.1.2 Nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm và đúng thời hạn
Bên bán có nghĩa vụ giao hàng trực tiếp cho bên mua hay đại diện của bên
mua.38 Điều đó nhằm mục đích đảm bảo cho hàng hóa tới được nơi mà bên mua hay
đại diện của bên mua mong muốn Cả CISG và pháp luật Việt Nam đều quy định
bên bán phải có nghĩa vụ giao hàng tại địa điểm mà các bên đã thỏa thuận trong hợp
đồng.39
Địa điểm ở đây có thể là kho, bãi, xưởng của bên bán hay một địa điểm nào
đó mà cả hai bên đều thấy thuận tiện Nếu hợp đồng quy định bên bán phải giao
hàng thông qua vận chuyển thì bên bán phải giao hàng cho bên vận chuyển đó để
chuyển giao hàng cho bên mua Trong trường hợp hợp đồng không có sự tham gia
của bên vận chuyển và đối tượng mua bán của hàng hóa là vật đặc định hoặc hàng
cùng loại phải trích ra từ một khối lượng chung xác định hay phải được chế tạo, sản
xuất thì bên bán có nghĩa vị đặt hàng dưới sự kiểm soát, định đoạt của bên mua
Tuy nhiên, có những trường hợp cả bên bán và bên mua không thỏa thuận cụ thể về
địa điểm giao hàng thì bên bán có nghĩa vụ đặt hàng dưới sự kiểm soát, định đoạt
của bên mua tại nơi mà bên bán có trụ sở thương mại vào thời điểm ký kết hợp
37 Khoản 3 Điều 35 CISG, Khoản 3 Điều 444 Bộ luật Dân sự 2005, Khoản 1 Điều 40 Luật Thương mại 2005
38 Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, Nxb
Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, 2007, trang 189
39 Điều 31 CISG và Điều 35 Luật Thương mại Việt Nam 2005
Trang 32đồng Như vậy, nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm của bên bán tùy thuộc vào sự
thỏa thuận của hai bên cũng như luật áp dụng để xác định
Bên cạnh nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm, bên bán còn phải có nghĩa vụ
giao hàng hóa theo đúng thời gian đã xác định trong hợp đồng Thông thường thời
hạn giao hàng do các bên thỏa thuận trong hợp đồng Nếu trong hợp đồng các bên
chỉ thỏa thuận thời hạn mà không thỏa thuận thời điểm giao hàng thì hàng hóa được
giao vào mọi thời điểm trong thời hạn đó Trong trường hợp này vì lợi ích của cả
bên bán và cả bên mua pháp luật yêu cầu bên bán phải có nghĩa vụ thông báo trước
cho bên mua về thời điểm giao hàng Trường hợp các bên không thỏa thuận thời
hạn giao hàng thì bên bán có nghĩa vụ giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi
giao kết hợp đồng.40 Việc xác định thời hạn hợp lý phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều
kiện ký kết hợp đồng cũng như tính chất của hàng hóa Tóm lại, bên bán phải đảm
bảo hàng hóa được giao đúng thời hạn đã được xác định trong hợp đồng Để đảm
bảo nghĩa vụ này được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, trong hợp đồng các bên
nên thỏa thuận cụ thể thời gian mà bên bán có nghĩa vụ giao hàng Có như vậy thì
mới hạn chế được những rủi ro có thể xảy ra đối với các bên trong hợp đồng Đó
cũng là căn cứ để giải quyết tranh chấp của các bên nếu có thể xảy ra sau này, bên
bán không giao hàng đúng thời gian quy định trong hợp đồng dẫn đến bên mua bị
thiệt hại
1.2.1.3 Nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu, quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng
hóa
Bên bán có nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã
bán để bên mua không bị bên thứ ba tranh chấp.41 Điều này đồng nghĩa rằng, bên
bán phải đảm bảo hàng được giao không bị bên thứ ba tranh chấp liên quan đến
quyền sở hữu, trừ trường hợp bên mua chấp nhận hàng đang có sự tranh chấp đó
Sự tranh chấp của bên thứ ba ở đây có thể là do chủ sở hữu thực tế của hàng hóa;
hàng hóa không hợp pháp; việc chuyển giao hàng hóa phải hợp pháp Nghĩa vụ giao
hàng cho bên mua không bị bên thứ ba tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu có
hai yếu tố nội hàm: thứ nhất, bên bán có nghĩa vụ phải thông báo cho bên mua biết
việc hàng hóa là đối tượng của hợp đồng đang bị bên thứ ba tranh chấp; thứ hai, có
nghĩa vụ phải áp dụng các biện pháp cần thiết để loại bỏ sự tranh chấp đó nếu bên
40 Điều 33 CISG và Điều 37 Luật Thương mại 2005
41 Điều 41 CISG, Điều 443 Bộ luật Dân sự 2005, Điều 45 Luật Thương mại 2005
Trang 33mua không đồng ý nhận hàng.42 Nếu bên bán không hành động như thế thì khi đó,
bên mua có quyền từ chối nhận hàng và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại
Bên bán không những phải có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu mà còn phải có
nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa cho bên mua Luật Thương
mại Việt Nam 1997 không điều chỉnh mối quan hệ pháp lý giữa bên bán và bên mua
khi có sự tranh chấp của bên thứ ba liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng
hóa Sự hạn chế này đã được khắc phục trong Luật Thương mại Việt Nam 2005, cụ
thể tại Điều 46 quy định: “Bên bán không được bán hàng hóa vi phạm quyền sở hữu
trí tuệ Bên bán phải chịu trách nhiệm trong trường hợp có tranh chấp liên quan
đến quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa đã bán” Quy định này có nội dung
tương tự như Điều 42 CISG Có thể thấy rằng sự thay đổi này không những thể hiện
sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về thương mại mà còn
đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với thực tiễn hoạt động thương mại ở nước ta,
đặc biệt khi chúng ta tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới – WTO Tuy nhiên
bên bán sẽ không phải chịu trách nhiệm nếu: bên mua không thể không biết các
tranh chấp đó vào lúc ký kết hợp đồng; sự tranh chấp đó bắt nguồn từ việc bên bán
đã tuân theo các bản thiết kế kỹ thuật, hình vẽ, công thức hay những số liệu cơ sở
do bên mua cung cấp
1.2.1.4 Nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa
Bên bán không những có nghĩa vụ giao hàng như quy định của hợp đồng, đảm
bảo quyền sở hữu cũng như quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa mà còn phải có
nghĩa vụ giao cho bên mua các chứng từ liên quan đến hàng hóa Chứng từ liên
quan đến hàng hóa theo hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm: vận đơn, hóa
đơn thương mại (Commercial Invoice); chứng từ đóng gói (parking list); xuất xứ
hàng hóa (Certificate of Original)…Trong đó xuất xứ hàng hóa là chứng từ hết sức
quan trọng bởi nó có ý nghĩa cho việc xác định thuế khi bên mua làm thủ tục nhập
khẩu Trong một số trường hợp, ví dụ giao hàng theo điều kiện CIF (INCOTERMS
2010), thì bên bán có nghĩa vụ phải giao chứng từ bảo hiểm hàng hóa và chứng
nhận chất lượng hàng hóa cho bên mua
Bên bán có nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa cho bên mua đúng
thời hạn, tại địa điểm và phương thức như thỏa thuận nếu trong hợp đồng có quy
định Trong trường hợp, bên bán giao chứng từ trước thời hạn thì bên bán vẫn có
42
Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, Nxb
Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, 2007, trang 191
Trang 34thể khắc phục những thiếu sót của các chứng từ này trong thời hạn còn lại Tuy
nhiên, trong quá trình bên bán khắc phục sự thiếu sót đó mà gây bất lợi hoặc làm
phát sinh chi phí bất hợp lý cho bên mua thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán
khắc phục bất lợi hoặc chịu chi phí đó.43
Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn, địa điểm giao chứng từ liên quan đến hàng hoá cho bên mua thì bên bán phải
giao chứng từ liên quan đến hàng hoá cho bên mua trong thời hạn và tại địa điểm
hợp lý để bên mua có thể nhận hàng.44 Thời hạn và địa điểm hợp lý ở đây được hiểu
là bên bán phải giao chứng từ hàng hóa cho bên mua trong thời hạn và tại địa điểm
mà bên mua thấy cần thiết và không được gây bất kỳ trở ngại nào cho bên mua
Ngoài những nghĩa vụ cơ bản nói trên, trong trường hợp hợp đồng mua bán
hàng hóa quy định bên mua hoặc đại diện của bên mua kiểm tra chất lượng hàng
hóa trước khi giao hàng thì bên bán có nghĩa vụ phải đảm bảo cho bên mua hoặc đại
diện của bên mua tham gia kiểm tra hàng hóa.45
1.2.2 Nghĩa vụ của bên mua
Cũng giống như trong các hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường khác,
trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, bên mua có nghĩa vụ thanh toán và nhận
hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng
1.2.2.1 Nghĩa vụ thanh toán
Thanh toán là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua trong hợp đồng mua bán
nói chung và trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng Bên mua có
nghĩa vụ thanh toán cho bên bán theo thời hạn đã xác định trong hợp đồng Pháp
luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam có quy định rằng, trong trường hợp
không có thỏa thuận khác thì việc thanh toán phải được thực hiện đồng thời với việc
giao hàng hay chứng từ liên quan đến hàng hóa.46
Thông thường, các bên tự thỏa thuận tất cả các điều kiện của việc thanh toán
như: phương thức thanh toán, phương tiện thanh toán, địa điểm, thời hạn thanh
toán Trường hợp các bên không có thỏa thuận về những nội dung liên quan đến
việc thanh toán thì sẽ áp dụng các quy định của luật áp dụng Theo quy định của
pháp luật Việt Nam, nếu các bên không có thỏa thuận cụ thể về địa điểm thanh toán,
thời hạn thanh toán, giá hay cách xác định giá của hàng hóa thì khi đó:
43 Điều 34 CISG và Điều 42 Luật Thương mại Việt Nam 2005
44 Khoản 2 Điều 42 Luật Thương mại Việt Nam 2005
45
Điều 44 Luật Thương mại 2005
46 Điều 1651 Bộ luật Dân sự Pháp, Điều 58 CISG, Điều 50 Luật Thương mại 2005
Trang 35- Địa điểm thanh toán có thể là địa điểm kinh doanh của bên bán được xác
định vào thời điểm giao kết hợp đồng, nếu không có địa điểm kinh doanh thì tại nơi
cư trú của bên bán; hay có thể là địa điểm giao hàng hoặc giao chứng từ, nếu việc
thanh toán được tiến hành đồng thời với việc giao hàng hoặc giao chứng từ.47
- Bên mua phải thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc
giao chứng từ liên quan đến hàng hoá Bên cạnh đó, bên mua vẫn phải thanh toán
tiền mua hàng trong trường hợp hàng hoá mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro
được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của
bên bán gây ra.48
- Giá của hàng hóa trong trường hợp sẽ là giá của hàng hoá được xác định theo
giá của loại hàng hoá đó trong các điều kiện tương tự về phương thức giao hàng,
thời điểm mua bán hàng hoá, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều
kiện khác có ảnh hưởng đến giá.49
Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định thì bên mua được quyền ngừng
thanh toán tiền mua hàng Vấn đề này được pháp luật Việt Nam quy định như sau:
bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối, thì có quyền tạm ngừng việc thanh
toán; bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì
có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết; bên
mua có bằng chứng về việc hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm
ngừng thanh toán cho đến khi bên bán khắc phục xong sự không phù hợp đó.50
Nhìn chung, nghĩa vụ thanh toán của bên mua được pháp luật quy định rất cụ
thể Điều đó nhằm bảo vệ quyền lợi của bên bán, đặt biệt là trong trường hợp hợp
đồng không có quy định cụ thể về điều khoản thanh toán tiền hàng
1.2.2.2 Nghĩa vụ nhận hàng
Bên mua có nghĩa vụ phải nhận hàng đúng thời gian được quy định trong hợp
đồng Nhận hàng được hiểu là việc bên mua tiếp nhận hàng hóa trên thực tế từ bên
bán Bên mua phải thực hiện những công việc hợp lý để bên bán giao hàng, tùy từng
trường hợp cụ thể công việc hợp lý đó có thể là: hỗ trợ bên bán về thủ tục giao
hàng, hướng dẫn về phương thức vận chuyển, điều kiện bốc dỡ hàng hóa… Cần lưu
ý rằng việc nhận hàng hóa trên thực tế không đồng nghĩa với việc bên mua đã chấp
47 Điều 54 Luật Thương mại 2005
48 Điều 55 và Điều 50 Luật Thương mại 2005
49
Điều 52 Luật Thương mại 2005
50 Điều 51 Luật Thương mại Việt Nam 2005
Trang 36nhận hàng hóa được giao Sau khi hoàn thành việc giao nhận, bên bán vẫn phải chịu
trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hóa đã được giao, nếu đó là những
khiếm khuyết không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp
thông thường; và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó mà không
thông báo cho bên mua.51
Có thể thấy rằng, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ
đến các hợp đồng thương mại quốc tế khác, đặc biệt là hợp đồng vận tải hàng hóa
Vì vậy, việc bên mua không tiếp nhận hay chậm tiếp nhận hàng hóa trong nhiều
trường hợp gây ra nhiều hậu quả pháp lý hết sức nghiêm trọng Ví dụ, theo điều
kiện giao hàng FOB (INCOTERMS 2010), bên bán được xem là hoàn thành nghĩa
vụ giao hàng khi hàng hóa được đặt trên tàu tại cảng bốc hàng quy định Nhưng bên
mua đã không thực hiện nghĩa vụ tiếp nhận hàng theo thời hạn do hợp đồng quy
định Việc chậm tiếp nhận hàng có thể đưa đến những hậu quả pháp lý sau: bên bán
phải trả tiền lưu kho; hàng hóa có thể hư hỏng trong thời gian lưu kho; trong thời
gian chờ bên mua nhận hàng có thể xảy ra trường hợp bất khả kháng Trong trường
hợp này, bên mua phải chịu mọi phí tổn liên quan đến việc chậm tiếp nhận hàng và
mọi rủi ro do hàng hóa mất mát hay hư hỏng kể từ thời điểm bên mua phải thực
hiện nghĩa vụ nhận hàng của mình theo quy định của hợp đồng.52
Ngoài hai nghĩa vụ cơ bản nói trên, bên mua còn có một số nghĩa vụ khác như
kiểm tra chất lượng hàng hóa trước thời điểm giao hàng nếu trong hợp đồng có sự
thỏa thuận của các bên.53
1.3 VI PHẠM HỢP ĐỒNG VÀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
1.3.1 Khái quát về vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Về nguyên tắc, trong bất kỳ các hợp đồng, nghĩa vụ được đặt ra ít nhất đối với
một bên tham gia vào quan hệ hợp đồng đó Nếu hợp đồng đơn vụ, nghĩa vụ chỉ đặt
ra đối với một bên Đối với hợp đồng song vụ - hợp đồng sử dụng phổ biến trong
các giao dịch thương mại quốc tế, nghĩa vụ được đặt ra đối với cả hai bên Hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một hợp đồng song vụ, vì vậy, nghĩa vụ được đặt
ra đối với cả bên bán và bên mua Theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chịu
trách nhiệm về tính phù hợp của hàng hóa theo thỏa thuận của các bên trong hợp
đồng Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền cho bên bán Lợi nhuận là mục
51 Khoản 5 Điều 44 Luật Thương mại Việt Nam 2005
52
Điều 306 Bộ luật Dân sự 2005
53 Điều 38 CISG, Điều 44 Luật Thương mại 2005
Trang 37đích hướng tới của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, trên cơ sở
các bên phải cam kết thực hiện nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận Tuy nhiên,
không phải lúc nào hợp đồng cũng được thực hiện như những gì các bên đã cam
kết Do nhiều nguyên nhân, chủ quan cũng như khách quan, dẫn đến việc một bên
không thực hiện nghĩa vụ của mình như những gì họ đã cam kết, hay nói khác hơn
là bên đó đã vi phạm hợp đồng
Theo quy định của CISG, Công ước không trực tiếp định nghĩa thế nào là vi
phạm hợp đồng mà chỉ đưa ra định nghĩa vi phạm hợp đồng cơ bản tại Điều 25
Theo đó “Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra nếu sự vi
phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà bên bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng
kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm
không tiên liệu được hậu quả đó và một bên có trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu
được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự” Từ quy định này, chúng ta có thể suy
ra được khái niệm vi phạm hợp đồng theo tinh thần của CISG Theo đó, vi phạm
hợp đồng có thể hiểu là việc một bên giao kết hợp đồng không thực hiện nghĩa vụ
mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc thực hiện không hết nghĩa vụ hợp đồng
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng Ví dụ, các bên thỏa thuận cụ thể
về nghĩa vụ giao hàng trong hợp đồng nhưng bên bán không giao hàng hoặc giao
hàng thiếu, giao sai hàng hoặc giao hàng không đúng chất lượng như đã thỏa thuận
trong hợp đồng Như vậy, nếu bên bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng, tức
là bên bán đã vi phạm hợp đồng
Trong khi đó, khái niệm vi phạm hợp đồng được pháp luật Việt Nam ghi nhận
dưới một điều khoản riêng biệt Cụ thể tại Khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại Việt
Nam 2005: “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không
đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo
quy định của luật này” Quy định này cho thấy, việc thực hiện hợp đồng của các
bên là căn cứ quan trọng để xác định có sự vi phạm hợp đồng hay không Theo đó,
vi phạm hợp đồng chỉ phát sinh khi các bên làm trái lại những gì đã thỏa thuận
trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật liên quan đến hợp đồng Có thể
thấy rằng, khái niệm về vi phạm hợp đồng có cách hiểu khá tương tự giữa CISG và
pháp luật thương mại Việt Nam
Cơ sở pháp lý để xác định sự vi phạm hợp đồng là dựa trên các thỏa thuận hợp
pháp của các bên trong hợp đồng và theo quy định của pháp luật liên quan Trách
nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng chủ yếu dựa vào các điều
Trang 38khoản được ghi nhận trong hợp đồng Việc thực hiện đó phải chính xác, phù hợp
với những điều khoản này Do đó, nghĩa vụ của các bên cần phải được thể hiện dưới
những điều khoản cụ thể, rõ ràng trong hợp đồng, đặc biệt là những điều khoản liên
quan đến nghĩa vụ giao hàng của bên bán Vì đó là một trong những vấn đề phức
tạp dẫn đến tranh chấp giữa các bên khi có vi phạm hợp đồng xảy ra
Khái niệm vi phạm hợp đồng cơ bản cũng được pháp luật Việt Nam ghi nhận,
cụ thể tại Khoản 13 Điều 3 Luật Thương mại 2005 Theo đó: “Vi phạm cơ bản là sự
vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức không đạt được
mục đích của việc giao kết hợp đồng” Như vậy, vi phạm cơ bản theo quy định của
CISG và pháp luật Việt Nam được coi là loại vi phạm có gây ra hậu quả và hậu quả
này làm cho mục đích mà các bên chờ đợi khi ký kết hợp đồng không được thực
hiện Khác với vi phạm cơ bản, vi phạm không cơ bản là loại vi phạm mà khi phát
sinh không để lại hậu quả hoặc có hậu quả nhưng hậu quả không nghiêm trọng và
không làm ảnh hưởng đến mục đích của hợp đồng mà các bên đã giao kết Nhìn
chung, vi phạm hợp đồng được xem là nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc phát sinh
thiệt hại, chính thiệt hại đó sẽ là cơ sở cho việc xác định trách nhiệm pháp lý của
các bên
1.3.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được áp dụng
khi có các các căn cứ pháp lý nhất định Các hệ thống pháp luật không đồng nhất
khi xem xét các căn cứ phát sinh trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế Để đánh giá các yếu tố như lỗi, mối quan hệ nhân quả, thiệt hại thì mỗi hệ
thống pháp luật có một cách tiếp cận riêng của mình Căn cứ để xác định trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm:
Thứ nhất, hành vi vi phạm hợp đồng Pháp luật của các nước cũng như các
văn bản pháp luật quốc tế đều coi hành vi vi phạm là căn cứ pháp lý để áp dụng đối
với tất cả các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Như đã được phân tích, hành vi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là
hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ
phát sinh từ hợp đồng này Các bên trong quan hệ hợp đồng không chỉ phải thực
hiện đúng các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mà còn phải thực hiện đúng các nghĩa
vụ phát sinh từ những quy định của pháp luật có liên quan đến hợp đồng đó
Trang 39Thứ hai, thiệt hại thực tế xảy ra Thiệt hại thực tế là những thiệt hại có thể
tính toán được một cách tương đối hợp lý mà bên bị vi phạm phải chịu do hành vi vi
phạm hợp đồng của bên vi phạm (hàng hóa bị mất mát, hư hỏng, chi phí ngăn chặn,
hạn chế thiệt hại…) Pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam đều xem thiệt
hại thực tế do vi phạm hợp đồng gây ra là căn cứ bắt buộc phải có khi áp dụng chế
tài bồi thường thiệt hại Đối với các chế tài khác, thiệt hại thực tế có thể được xem
là tình tiết để xác định mức độ của chế tài được áp dụng
Thứ ba, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế
Đó là mối quan hệ giữa nguyên nhân là hành vi vi phạm hợp đồng đã trực tiếp gây
ra hậu quả là thiệt hại thực tế Bên có hành vi vi phạm hợp đồng chỉ phải bồi thường
thiệt hại khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm hợp đồng Trong
trường hợp, thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu không phải là hậu quả của
việc vi phạm hợp đồng thì bên vi phạm không phải bồi thường Trên thực tế, một
hành vi vi phạm hợp đồng có thể gây ra nhiều khoản thiệt hại và một khoản thiệt hại
cũng có thể được sinh ra do nhiều hành vi vi phạm hợp đồng Nhiều trường hợp
việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại
thực tế không phải là một vấn đề dễ dàng nếu chỉ dựa vào suy đoán chủ quan
Thứ tƣ, yếu tố lỗi Theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, lỗi của bên
vi phạm được coi là căn cứ bắt buộc áp dụng đối với tất cả các hình thức chế tài do
vi phạm hợp đồng.54 Pháp luật của các nước Châu Âu lục địa cũng coi lỗi là điều
kiện chủ yếu khi xác định trách nhiệm Bên vi phạm, theo nguyên tắc, được miễn
trừ trách nhiệm nếu chứng minh được rằng việc thực hiện nghĩa vụ là hoàn toàn
không thể thực hiện được do các yếu tố khách quan Pháp luật và thực tiễn xét xử ở
các nước này luôn theo nguyên tắc “Pacta sunt Servanda” (Điều 1134 Bộ luật Dân
sự Pháp) Khác với pháp luật của các nước Châu Âu lục địa, pháp luật Anh – Mỹ
không coi lỗi là căn cứ chủ yếu để xác định trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp
đồng Mức độ và hình thức của lỗi hoàn toàn không có ý nghĩa trong việc xác định
phạm vi mức độ của trách nhiệm.55
Như vậy, có thể thấy rằng, các hệ thống pháp luật khác nhau có cách xác định lỗi khác nhau
54 Điều 308 Bộ luật Dân sự 2005
55 Phạm Kim Anh, Khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự, http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/inde x ph
p?option=comcontent&view=article&catid=93:ctc20033&id=233:tc2003so3knlttnds&Itemid=106, [truy cập
ngày 12/08/2013]
Trang 40Tóm lại, các căn cứ vừa trình bày ở trên là cơ sở để xác định trách nhiệm pháp
lý đối với bên vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Trách nhiệm pháp lý
được thể hiện dưới các hình thức trách nhiệm nhất định
1.3.3 Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế
Một bên phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với sự vi phạm hợp đồng của mình
khi thỏa mãn các căn cứ pháp lý như đã phân tích trước đó Trong những trường
hợp này, pháp luật của tất cả các nước cũng như các văn bản pháp lý quốc tế đều
quy định những biện pháp chế tài đối với bên vi phạm nhằm mục đích bảo vệ quyền
lợi của bên bị thiệt hại Các hình thức chế tài đó có thể là: buộc thực hiện đúng hợp
đồng; phạt vi phạm; bồi thường thiệt hại; tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng, các hình thức chế tài khác do các bên thỏa thuận Riêng đối với chế tài bồi
thường thiệt hại, người viết sẽ dành riêng một mục cho chế tài này để có thể nghiên
cứu sâu hơn
Thứ nhất, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Buộc thực hiện đúng hợp
đồng là hình thức chế tài, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải tiếp tục thực
hiện nghĩa vụ của hợp đồng theo yêu cầu của bên bị vi phạm Vấn đề bên không
thực hiện đúng hợp đồng có phải tiếp tục thực hiện hay không được điều chỉnh rất
khác nhau trong các hệ thống pháp luật Một quan điểm tồn tại ở các nước theo hệ
thống pháp luật Châu Âu lục địa là hợp đồng có giá trị bắt buộc đối với các bên và
vì thế, nếu một bên không thực hiện đúng hợp đồng thì về nguyên tắc, bên kia có
quyền thực hiện đúng hợp đồng Theo quan điểm này thì buộc thực hiện đúng hợp
đồng áp dụng trong mọi trường hợp vi phạm Ngược lại đối với các quốc gia theo
hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, bồi thường thiệt hại là biện pháp được ưu tiên được
áp dụng Chỉ khi bồi thường thiệt hại tỏ ra là không thích hợp thì mới áp dụng biện
pháp buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng.56
Thứ hai, chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng Tạm ngừng thực hiện hợp
đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp, khi xảy
ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện
hợp đồng hay một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, trừ trường hợp bên vi phạm
được miễn trách nhiệm do hành vi vi phạm hợp đồng do pháp luật quy định hay do
các bên thỏa thuận Khi hợp đồng tạm ngừng thực hiện thì nó vẫn còn hiệu lực
Việc tạm ngừng có nghĩa là các bên sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ của mình
56
Đỗ Văn Đại, Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, trang 50