1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản lý nhà nước về thi hành án dân sự thực trạng và giải pháp

76 2K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa một số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự của Đảng về cải cách tư pháp, trong những năm vừa qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều

Trang 1

KHOA LUẬT o0o

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 3

1.1 Khái quát chung về thi hành án dân sự 3

1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự 3

1.1.2 Vai trò của hoạt động thi hành án dân sự 7

1.1.3 Những đặc trưng cơ bản của thi hành án dân sự 10

1.2 Khái quát chung quản lý nhà nước về thi hành án dân sự 12

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về thi hành án dân sự 12

1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản 14

1.2.3 Các biện pháp quản lý nhà nước về thi hành án dân sự 16

1.2.4 Vai trò của quản lý nhà nước về thi hành án dân sự 17

1.3 Lược sử các quy định pháp luật về thi hành án dân sự 19

1.3.1 Thời kỳ từ tháng 8/1945 đến năm 1989 19

1.3.2 Thời kỳ từ năm 1990 đến trước khi có Luật thi hành án dân sự năm 2008 22 1.3.3 Thời kì năm 2008 cho đến nay 24

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 27

2.1 Hệ thống cơ quan quản lý thi hành án dân sự 27

2.1.1 Chính phủ 27

2.1.2 Bộ Tư pháp 27

2.1.3 Bộ Quốc phòng 28

2.1.4 Bộ Công an 29

2.1.5 Uỷ ban nhân dân các cấp 30

2.1.6 Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp 31

2.1.7 Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng 34

2.2 Hệ thống cơ quan thi hành án dân sự 36

2.2.1 Các cơ quan thi hành án dân sự 36

2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thi hành án dân sự 39

2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên 41

2.3.1 Chấp hành viên 41

2.3.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên 42

Trang 3

2.4 Nội dung quản lý nhà nước về thi hành án dân sự 43

2.4.1 Xây dựng cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự 43

2.4.2 Xây dựng cơ chế hoạt động thi hành án dân sự 44

2.4.3 Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật, kinh phí phương tiện cần thiết cho công tác thi hành án dân sự 46

2.4.4 Quản lý công tác đào tạo cán bộ, thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ làm công tác thi hành án dân sự 47

2.4.5 Quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ 48

2.4.6 Pháp luật về thanh tra, kiểm tra, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về thi hành án dân sự 48

2.4.7 Những hành vi cấm trong quản lý nhà nước về thi hành án dân sự 52

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ - 54

3.1 Thực trạng quản lý nhà nước về thi hành án dân sự 54

3.1.1 Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành 54

3.1.2 Quản lý công tác xây dựng đề án, văn bản 55

3.1.3 Quản lý công tác hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ và kiểm tra 56

3.1.4 Quản lý công tác tổ chức, cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng 57

3.1.5 Quản lý công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo 59

3.1.6 Về thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại 60

3.1.7 Quản lý về công tác kế hoạch tài chính, đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ công tác 61

3.1.8 Một số mặt công tác khác 62

3.2 Hạn chế, tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước về thi hành án dân sự Error! Bookmark not defined 3.2.1 Hạn chế, tồn tại Error! Bookmark not defined 3.2.2 Khó khăn, vướng mắc Error! Bookmark not defined 3.2.3 Nguyên nhân Error! Bookmark not defined 3.3 Một số giải pháp hoàn thiện về quản lý nhà nước đối với hoạt động thi hành án dân sự Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 THA: Thi hành án

2 THADS: Thi hành án dân sự

3 VKSND: Viện kiểm sát nhân dân

9 CQTHA: Cơ quan thi hành án

10 CQTHADS: Cơ quan thi hành án dân sự

11 UBND: Ủy ban nhân dân

12 CQQLNN: Cơ quan quản lý nhà nước

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước tiến hành cải cách về mặt tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có cơ quan thi hành án dân sự Để triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa một số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự của Đảng về cải cách tư pháp, trong những năm vừa qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết và các Luật liên quan đến cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp nói chung và cơ quan thi hành án dân sự nói riêng như: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Luật thi hành án dân sự 2008 và hàng loạt các văn bản pháp luật có liên quan đến thi hành án dân sự khác Những văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới về tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự Trên cơ sở đó, nhiều bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án án (quyết định dân sự trong bản án hình sự; bản án dân sự, hành chính, lao động, kinh tế) đã được các cơ quan thi hành án dân sự kịp thời đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật đạt kết quả tương đối cao Điều này, đã góp phần đảm bảo an ninh trật tự xã hội, giữ gìn kỷ cương phép nước và thực hiện dân chủ, công bằng xã hội

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong thi hành án dân sự vẫn còn có những bất cập chưa được giải quyết kịp thời như: Hệ thống văn bản pháp luật nói chung và các văn bản pháp luật thi hành án dân sự nói riêng vẫn còn nhiều khoảng trống, chưa điều chỉnh hết các quan hệ phức tạp nảy sinh trong thực tiễn thi hành án dân sự; mô hình tổ chức bộ máy các cơ quan thi hành án dân sự chưa thực sự khoa học, trong đó có một nguyên nhân quan trọng là quản lý nhà nước về thi hành án dân

sự còn nhiều bất cập, chưa phù hợp và không phát huy được hiệu quả Do đó, đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả của thi hành án dân sự Nhiều bản án, quyết định về dân sự đã

có hiệu lực pháp luật, nhưng không được tổ chức thi hành dứt điểm, đặc biệt, tình trạng vi phạm pháp luật, tiêu cực, sách nhiễu trong tổ chức thi hành án dân sự vẫn diễn

ra nhiều Từ những phân tích trên cho thấy công tác quản lý thi hành án dân sự có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, là mối quan tâm của dư luận và toàn xã hội

Với những lý do trên, người viết quyết định chọn đề tài “Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự - Thực tiễn tại Sóc Trăng” làm luận văn tốt nghiệp

Trang 6

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về thi hành án dân sự ở nước ta Thông qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng nhằm tìm ra những vấn đề bất cập trong quản lý về thi hành

án dân sự Từ đó người viết đưa ra một số giải pháp để khắc phục những hạn chế đó

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trọng tâm của đề tài được người viết chỉ giới hạn trong những nội dung cơ bản

về tổ chức, hoạt động, công tác quản lý về thi hành án dân sự

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng với các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích- tổng hợp, lịch sử- cụ thể và các phương pháp nghiên cứu khác như: so sánh, thống kê để đánh giá và làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu

5 Kết cấu của đề tài

Bên cạnh lời nói đầu, kết luận, nội dung nghiên cứu của đề tài này được trình bày gồm 3 chương và mỗi chương được thể hiện chi tiết qua các phần sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về thi hành án dân sự

Chương 2: Quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động thi hành án dân

sự

Chương 3: Thực trạng và giải pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động thi hành án dân sự- Thực tiễn tại Sóc Trăng

Trang 7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Thi hành án dân sự đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa Đảm bảo cho hoạt động thi hành án dân sự được diễn ra kịp thời và đúng pháp luật có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước và mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Để hiểu rõ hơn về thi hành án dân sự và quản lý nhà nước về thi hành án dân sự Trong chương này, người viết sẽ tìm hiểu sơ lược về khái niệm, vai trò,lược sử…về thi hành án dân sự cũng như quản lý nhà nước về thi hành án dân sự

1.1 Khái quát chung về thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự là hoạt động do Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành theo những thủ tục trình tự nhất định, nhằm đưa các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực thi hành của Tòa án ra để thi hành.1

Các bản án, quyết định được thi hành không chỉ bao gồm các bản án, quyết định của Tòa án và Trọng tài Việt Nam mà cả các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự 2008:

“Những bản án, quyết định được thi hành theo Luật thi hành án dân sự bao gồm:

1 Bản án, quyết định quy định tại Điều 1 của Luật này đã có hiệu lực pháp luật:

a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;

b) Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm;

c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án;

d) Bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

đ) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau

30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Toà án;

e) Quyết định của Trọng tài thương mại

1Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, Thi hành án dân sự là gì,

http://www.kienthucluat.vn/hoi-dap-phap-luat/lcmvt,1,9,0/37/thi-hành-an,thi –hanh-an-dan-su-la-gi/4086/

Trang 8

2 Những bản án, quyết định sau đây của Toà án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị:

a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc;

b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.”

Qua quá trình nghiên cứu người viết nhận thấy có một số quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, thi hành án dân sự là hoạt động tố tụng hành chính vì từ

khi công tác thi hành án dân sự được chuyển giao từ tòa án sang các cơ quan thuộc Chính phủ thì cơ quan tiến hành tố tụng thi hành án không phải là tòa án nữa Việc giải quyết khiếu nại, kháng nghị trong thi hành án đã khác hẳn về hình thức, thủ tục so với việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trong tố tụng dân sự.2

Trong khi đó quan điểm thứ hai lại cho rằng, thi hành án dân sự là thủ tục tố tụng thi

hành các bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định về hình sự, hành chính và quyết định khác do cơ quant hi hành

án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật.3

Mặt khác theo quan điểm thứ ba thì thi hành án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự,

giai đoạn thi hành án là giai đoạn cuối cùng của tố tụng dân sự vì nó mang đầy đủ tính chất, đặc trưng của tố tụng dân sự Theo quan niệm này, thì cơ quan thi hành án dân sự hiện nay tuy được đặt trong hệ thống các cơ quan hành chính, nhưng nó không có chức năng quản lý hành chính mà chỉ có chức năng thực hiện các bản án, quyết định của tòa án – cơ quan xét xử “Do vậy thực chất cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ của tố tụng dân sự là thi hành các bản án, quyết định của tòa án”.4

Ngoài ra, cũng còn một số quan điểm khác cũng cho rằng, thi hành án dân sự cũng giống như thi hành án hình sự, được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự Vì vậy, thi hành án dân sự phải được coi là một giai đoạn của tố tụng dân sự và là hoạt động mang tính chất tư pháp thuần túy

Trang 9

Tuy nhiên, các quan điểm này vẫn chưa thể giải quyết được thỏa đáng các vấn đề đặt

ra Cụ thể:

Hiện tại, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, thì việc thi hành án hình

sự được giao cho các cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức thi hành Nhưng việc thi hành án phạt tù vẫn được coi là một giai đoạn của quá trình tố tụng Đồng thời, theo quy định của pháp luật, thì cơ quan điều tra và một số cơ quan khác thuộc Chính phủ được giao nhiệm

vụ điều tra đối với một số tội phạm thuộc lĩnh vực quản lý như: Công an, Hải quan, Kiểm lâm, điều tra quân đội, những cơ quan này điều là các cơ quan thuộc Chính phủ, nằm trong hệ thống các cơ quan hành pháp, nhưng các hoạt động do các cơ quan này tiến hành vẫn là hoạt động tố tụng Chính vì vậy, không thể căn cứ vào việc cơ quan nào đảm nhận việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự để xác định hoạt động thi hành án dân

sự là tố tụng hay không tố tụng, mang bản chất là hoạt động tư pháp hay hoạt động hành chính

Mặt khác, theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, thì ngoài việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng được thi hành ngay, thì cơ quan thi hành án còn tổ chức thi hành cả quyết định của Trọng tài thương mại là cơ quan không nằm trong

hệ thống các cơ quan tư pháp Do đó, việc căn cứ vào công việc cơ quan thi hành án dân

sự phải thực hiện để xác định thi hành án dân sự là một giai đoạn của tố tụng là chưa thuyết phục

Để có thể xem xét thi hành án dân sự mang bản chất hành chính hay tư pháp, cần phải xem xét một số vấn đề sau:

Thứ nhất, mục đích của thi hành án dân sự

Trong quá trình tố tụng, cũng như sau khi đã kết thúc quá trình tố tụng, Tòa án cho ra một bản án hoặc quyết định giải quyết một cách tổng thể về nội dung vụ án (trường hợp

vụ án được đưa ra xét xử) Bằng bản án, quyết định của mình Tòa án nhân danh nhà nước xác định rõ sự thật khách quan của vụ án; xác định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia vào quá trình tố tụng Tuy nhiên, lúc này quyền và nghĩa vụ của các bên mới chỉ xác định được về mặt lý thuyết, trên cơ sở áp dụng các quy định của pháp luật có liên quan để giải quyết vụ việc và còn nằm trên giấy.Tương tự như vậy, khi giải quyết các tranh chấp, Trọng tài Thương mại cũng mới chỉ vận dụng các quy định của pháp luật để giải quyết vụ việc và kết quả của quá trình giải quyết tranh chấp đó cũng chỉ nằm trên giấy Để các quyền, nghĩa vụ này được thực thi trên thực tế, cần thiết phải có một hoạt động tiếp theo

để tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định đó

Trang 10

Do đó, có thể thấy, mục đích của thi hành án dân sự là tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và Trọng tài Thương mại, biến các quyền, nghĩa vụ về mặt lý thuyết thành các quyền, nghĩa vụ thực tế Thông qua thi hành án dân sự, trật tự pháp luật, tình trạng ban đầu của các quan hệ do bị hành vi vi phạm xâm hại được khôi phục

Như vậy, nếu xem mục đích của tố tụng là khôi phục lại trật tự pháp luật đã bị xâm hại, đưa nó trở về trạng thái ban đầu như trước khi bị vi phạm, thì thi hành án dân sự là một giai đoạn của tố tụng Có thể nói, mục đích của quá trình tố tụng bao trùm lên mục đích thi hành án dân sự Mục đích của thi hành án dân sự là nhằm củng cố thêm mục đích của tố tụng

Thứ hai, tính chất công việc

Theo quy định của Luật thi hánh án dân sự năm 2008, thì cơ quan thi hánh án dân sự

có trách nhiệm tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay đều là kết quả của quá trình giải quyết tranh chấp, nhưng tính chất lại khác nhau Bản án, quyết định của Tòa án là kết quả của quá trình tố tụng, nên nó mang bản chất tư pháp Còn quyết định của Trọng tài Thương mại, là kết quả quá trình giải quyết tranh chấp thông thường, nên nó không mang bản chất tư pháp

Thứ ba, về các công việc mà cơ quan thi hành án dân sự tiến hành

Cơ quan thi hành án căn cứ vào nội dung bản án, quyết định của Tòa án để thi hành, dựa trên những quy định về thi hành án được quy định trong Luật thi hành án 2008 và các văn bản hướng dẫn, đồng thời phải tuân thủ những quy định về cán bộ công chức Cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức thi hành đúngvới nội dung của bản án, quyết định hoặc đúng với nội dung bản án và đơn yêu cầu thi hành án Cơ quan thi hành án không được tổ chức thi hành án trái với nội dung bản án, quyết định của Tòa án và Trọng tài Thương mại.5 Đồng thời, trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự,

sử dụng quyền lực nhà nước trực tiếp tác động đến các bên có liên quan đến việc thi hành

án Mặc dù, trong quá trình thi hành án, quyền định đoạt của các bên đương sự vẫn được tôn trọng, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận với nhau

về cách thức thi hành án Tuy nhiên, nếu như các bên không thỏa thuận được về phương thức thi hành án, hoặc đã thỏa thuận nhưng bên phải thi hành án không tự nguyện thực hiện đúng, thì cơ quan thi hành án dân sự sử dụng quyền lực nhà nước thông qua việc áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết để tổ chức thi hành dứt điểm bản án, quyết định của

5 Điều 4 Luật thi hành án dân sự năm 2008 và Điều 2 Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 củ Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự

Trang 11

Tòa án, quyết định của Trọng tài Thương mại Đây là một trong những dấu hiệu rất đặc trưng thể hiện bản chất hành chính của thi hành án dân sự Tất cả các trường hợp, nếu như đương sự có điều kiện thi hành án, nhưng không tự nguyện thi hành, đều dẫn tới áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành dứt điểm bản án, quyết định của Tòa án và quyết định của Trọng tài Thương mại

Ngoài ra, khi thi hành trên thực tế, Chấp hành viên ngoài việc đảm bảo nội dung của bản án, quyết định của Tòa án còn phải tuân theo sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan quản lý Nhà nước về thi hành án dân sự và Thủ trưởng

cơ quan thi hành án dân sự, chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của mình Trong quá trình thực hiện, nếu có vi phạm những quy định về thủ tục thi hành dẫn tới việc khiếu nại của đương sự thì việc khiếu nại được giải quyết theo thủ tục hành chính

Từ các phân tích trên cho thấy, thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất hành chính – tư pháp

Ngoài ra, khác với hoạt động tố tụng khác đòi hỏi thủ tục rất chặt chẽ và chỉ do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện, thì việc thi hành án, trong một số trường hợp có thể để người dân tự chịu trách nhiệm, tức là có thể tiến hành xã hội hóa một số hoạt động thi hành án

Tóm lại, thi hành án dân sự là hoạt động hành chính –tư pháp, tổ chức thi hành các bản án , quyết định của Tòa án và Trọng tài Thương mại đảm bảo các bản án, quyết định

có hiệu lực trên thực tế nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong quan hệ pháp luật dân sự

1.1.2 Vai trò của hoạt động thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự là phương tiện đưa bản án, quyết định của Tòa án, của Trọng tài Thương mại vào thực tiễn cuộc sống.

Việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người phải thi hành án Chính vì vậy, người phải thi hành án thường xuyên tìm mọi cách lẩn trốn, không tự nguyện thi hành án Trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự, sau khi

áp dụng các biện pháp giáo dục, thuyết phục người phải thi hành án không đạt kết quả, cơ quan thi hành án sử dụng quyền lực nhà nước thông qua việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để tổ chức thi hành dứt điểm bản án Do đó, thi hành án trở thành công cụ hữu hiệu để đảm bảo cho các bản án, quyết định của Tòa án và của Trọng tài Thương mại được thực hiện trên thực tế

Trang 12

Thi hành án dân sự là thước đo kiểm nghiệm quá trình tố tụng.

Trong các giai đoạn tố tụng trước đó như điều tra, truy tố, xét xử của Tòa án và quá trình giải quyết tranh chấp của Trọng tài Thương mại, các cơ quan này mới chỉ xem xét nội dung vụ án dưới góc độ lý thuyết, vận dụng các quy định của pháp luật, phân tích về mặt pháp lý các sự kiện để xác định sự thật khách quan của vụ án, xác định ai là người có quyền, ai là người có nghĩa vụ, quyền và nghĩa vụ của mỗi người đến đâu và xác định ai

là người có quyền, nghĩa vụ liên quan và kết quả của quá trình đó là bản án, quyết định của Tòa án và quyết định của Trọng tài Thương mại Tuy nhiên, lúc này các quyền, nghĩa

vụ của các bên liên quan chỉ mới được xác định về mặt pháp lý, chưa được thực hiện trong thực tiễn Đến giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó trên thực tế, yêu cầu các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Lúc này sự phù hợp hay không phù hợp giữa các quyền, nghĩa vụ được xác định trong bản án với thực tế sẽ được bộc lộ

Mặt khác, trong quá trình tổ chức thi hành án, để việc thi hành án được thuận lợi, cơ quan thi hành án nghiên cứu kỹ nội dung bản án, các tình tiết có liên quan đến vụ án để lên phương án và lựa chọn biện pháp thi hành án Chính trong quá trình này, cơ quan thi hành án có thể phát hiện ra các sai sót của các giai đoạn tố tụng trước đó, từ đó sẽ kiến nghị với người có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định theo trình tự giám đốc thẩm hay tái thẩm

Như vậy, có thể nói rằng, thi hành án dân sự là công cụ, là thước đo, để kiểm tra tính đúng đắn của các giai đoạn tố tụng trước đó Nếu tính đúng đắn của các giai đoạn tố tụng trước đó được đảm bảo ở mức độ cao, thì việc thi hành án sẽ thuận lợi, ngược lại nếu các giai đoạn tố tụng trước đó có vấn đề, thì quá trình thi hành án dân sự sẽ gặp nhiều khó khăn

Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án người phải thi hành án và người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án.

Như đã nêu trên, thi hành án luôn đụng chạm trực tiếp đến lợi ích về vật chất của người phải thi hành án, nên quá trình thi hành án sẽ trực tiếp tác động đến đời sống của người phải thi hành án và trong nhiều trường hợp còn tác động cả đến cuộc sống bình thường của gia đình của người phải thi hành án Do đó, trên thực tiễn có rất ít người phải thi hành án tự nguyện thi hành án Mặt khác, cũng có nhiều trường hợp, người phải thi hành án không thỏa mãn với kết quả xét xử của Tòa án do quá trình xét xử không khách quan, hoặc có sự không rõ ràng về pháp lý, nên người phải thi hành án tìm mọi cách để trì

Trang 13

hoãn, chống đối việc thi hành án Chính vì vậy, thi hành án dân sự sẽ là một cơ chế hữu hiệu để người được thi hành án thực hiện quyền của mình

Tuy nhiên, thi hành án dân sự không chỉ bảo vệ riêng quyền lợi của người được thi hành án, mà thi hành án dân sự còn bảo vệ cả quyền lợi của người phải thi hành án, những người có quyền lợi liên quan đến việc thi hành án Thi hành án dân sự một mặt bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án, nhưng mặt khác, nó cũng bảo vệ người phải thi hành án trước những kiểu đòi nợ theo kiểu “luật rừng” Không những vậy, trong pháp luật

về thi hành án dân sự cũng có nhiều quy định cho phép người phải thi hành án chống lại

sự lạm dụng quyền lực của cơ quan thi hành án, Chấp hành viên trong tổ chức thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự góp phần đảm bảo trật tự pháp luật và nâng cao pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước để phán xử, nếu không được tổ chức thi hành, thì toàn bộ kết quả của quá trình tố tụng trước đó trở nên vô nghĩa, dẫn đến

kỷ cương phép nước bị xem thường Thông qua thi hành án dân sự, các mối quan hệ xã hội bị xâm hại được khôi phục lại tình trạng ban đầu, trật tự pháp luật được lập lại Bản án

có hiệu lực pháp luật được thi hành một cách triệt để sẽ có tác động đến ý thức chấp hành pháp luật của người được thi hành án, người phải thi hành án nói riêng và nhân dân nói chung, từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân, làm cho mọi người hiểu và làm theo pháp chế xã hội chủ nghĩa

Thi hành án dân sự là kênh tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân

Quá trình thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự thông qua các hoạt động nghiệp vụ của mình động viên, giáo dục, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án; tiến hành hòa giải để hai bên đương sự thỏa thuận với nhau về phương thức thi hành án Để làm được việc này, đòi hỏi chấp hành viên cơ quan thi hành án phải phổ biến, giải thích rõ các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và các quy định của pháp luật có liên quan để các bên thực hiện Do đó, trong quá trình thi hành án dân sự cơ quan thi hành án đã trực tiếp tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và pháp luật nói chung đến người được thi hành án, người phải thi hành án Mặt khác, do thi hành án là hoạt động mang tính chất đặc thù, quá trình thi hành án dân sự có

sự tham gia của rất nhiều cơ quan, tổ chức có liên quan, nên họ có điều kiện tiếp xúc, nắm bắt các quy định của pháp luật về thi hành án và các quy định có liên quan

Trang 14

1.1.3 Những đặc trưng cơ bản của thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự là hoạt động phức tạp, quyết định trực tiếp đến quyền và lợi ích của các bên có liên quan, đảm bảo tính thực thi của các bản án, quyết định của Tòa án Vì vậy có thể nêu ra một số đặc trưng cơ bản của thi hành án dân sự cơ bản như sau:

Hoạt động thi hành án dân sự có tính độc lập tương đối

Đây là một trong những đặc trưng cơ bản của hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động thi hành án dân sự nói riêng Tính độc lập trong hoạt động thi hành án dân sự ở đây được hiểu – trên cơ sở nội dung bản án, quyết định của Tòa án và theo đúng quy định của pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật Trong quá trình thi hành án, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, công dân,… không được phép can thiệp làm ảnh hưởng đến quá trình thi hành án như: làm cho việc thi hành án không đúng với quyết định của bản án, chậm thi hành án hoặc thi hành không đúng theo quy định của pháp luật

Tuy nhiên, do hoạt động thi hành án quyết định trực tiếp trên thực tế đến quyền lợi ích của các bên có liên quan nên nhiều trường hợp nếu đương sự không tự nguyện thi hành và cần thiết phải có sự cưỡng chế để đảm bảo thi hành thì dễ ảnh hưởng đến trật tự, an ninh chính trị ở địa phương nên cần phải có sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, sự tham gia bảo vệ cưỡng chế của cơ quan Công an…Song phụ thuộc này của Cơ quan thi hành án cũng không có nghĩa là các cơ quan có liên quan đến quá trình thi hành án có quyền can thiệp hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án làm trái nội dung của bản án, quyết định mà chỉ có tính chất hỗ trợ, tạo điều kiện để việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu quả hơn, nhanh hơn đồng thời cũng phù hợp với tình hình an ninh chính trị địa phương

Hiệu quả hoạt động thi hành án phụ thuộc chủ yếu vào vai trò cá nhân Chấp hành viên

Khác với hoạt động hành chính, hiệu quả hoạt động chủ yếu dựa trên cơ sở quyết định của người đứng đầu cơ quan hành chính, còn hoạt động thi hành án dân sự lại dựa trên cơ

sở chủ yếu các cá nhân Chấp hành viên Điều 20 Luật thi hành án dân sự 2008 quy định:

“Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín”

Ngoài ra, trong thi hành án dân sự, tính chủ động của Chấp hành viên trong lúc tổ chức thi hành án được đề cao Căn cứ vào tình hình thực tế, căn cứ vào quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, Chấp hành viên lựa chọn cách thức thi hành án Dựa vào sự tự nguyện của các bên đương sự, nếu các bên không tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên

Trang 15

áp dụng biện pháp cưỡng chế nhằm thi hành triệt để các bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài Thương mại

Hoạt động thi hành án dân sự đòi hỏi tính chính xác cao và không cho phép có sự sai sót

Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động đưa bản án, quyết định của Tòa án vào thực thi trên thực tế, cho nên hoạt động thi hành án dân sự không cho phép các cơ quan thi hành án có sai sót, vì nếu có sai sót sẽ rất khó, thậm chí có nhiều trường hợp không thể khắc phục được Thực tế chứng minh, nhà đã bán, phá dỡ, cho chuyển nhượng,… thì khó

có thể đưa nó trở lại tình trạng ban đầu Vì lẽ đó, đã không ít trường hợp Chấp hành viên thi hành sai dẫn đến hậu quả không khắc phục được nên ngoài việc phải nhận các hình thức kỉ luật còn phải thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Để thi hành án được đúng và đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án, thi Cơ quan thi hành án phải vận dụng rất nhiều các quy định của pháp luật Muốn tránh được những sai sót, một mặt đòi hỏi Chấp hành viên phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nắm vững pháp luật, bên cạnh đó phải có một cơ quan quản lý chuyên sâu về lĩnh vực pháp luật để tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn Chấp hành viên và các cơ quan thi hành án thực hiện đúng bản án và các quy định của pháp luật về thi hành án

Hoạt động thi hành án dân sự là lĩnh vực hoạt động đòi hỏi sự quản lý tập trung thống nhất công tác tổ chức

Hoạt động thi hành án là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, quyết định trực tiếp đến quyền cơ bản của công dân, đảm bảo về pháp chế thống nhất ở hiệu lực của bản

án, nên đòi hỏi hoạt động của cơ quan thi hành án phải có tính độc lập tương đối Chính vì vậy, pháp luật quy định Chấp hành viên có thể sử dụng ngay quyền lực được pháp luật quy định để buộc tất cả các chủ thể có nghĩa vụ (cho dù người đó là ai, với chức vụ quyền hạn gì,…) phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên Trong quá trình thi hành án, Chấp hành viên chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ muốn thực hiện được yêu cầu đó thì phải có một cơ chế hợp lý để Chấp hành viên có thể có được tính độc lập tương đối trong hoạt động của mình, tránh bị chi phối hoặc điều chỉnh bởi nguyên tắc mệnh lệnh hành chính làm cho việc thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác thiếu khách quan, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong thi hành án

Hoạt động thi hành án không có sự phân biệt đối xử

Bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào (cho dù cá nhân đó giữ cương vị lãnh đạo nào,

cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể, đơn vị lực lượng vũ trang,…) nếu có liên quan trực

Trang 16

tiếp đến việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án nào đó mà Tòa án đã tuyên thì đều phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án bình đẳng như nhau Đặc điểm này có liên quan trực tiếp đến việc xác định cơ chế quản lý và tổ chức bộ máy hoạt động của các cơ quan thi hành án

Đảm bảo hiệu lực chung của bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác

Cũng như các hoạt động khác (điều tra, truy tố, xét xử), hoạt động thi hành án cũng là hoạt động mang tính quyền lực chung, thống nhất trong phạm vi toàn quốc Một bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa sẽ không thể thi hành ở mỗi địa phương, mỗi đơn vị hành chính khác nhau thì có mỗi kiểu khác nhau mà chỉ có thể thực hiện theo một nguyên tắc thống nhất và có hiệu lực chung trong toàn quốc đối với bất kì cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có liên quan Đây cũng chính là yêu cầu chung của nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân đã được quy định trong Hiến pháp nước ta Thể hiện rõ nhất của đặc trưng này chính là cơ chế ủy thác thi hành án

mà hiện nay các cơ quan thi hành án đã, đang và sẽ tiếp tục thực hiện

1.2 Khái quát chung quản lý nhà nước về thi hành án dân sự

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về thi hành án dân sự

Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan.6

Bản chất của quản lý nhà nước là quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước được ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và được thực hiện bởi bộ máy nhà nước với cơ sở vật chất – tài chính to lớn, bằng phương pháp thuyết phục và cưỡng chế

Quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là toàn bộ

mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước.7

Quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa hẹp: là hoạt động quản lý do một loại cơ quan đặc

biệt thực hiện mà Hiến pháp và pháp luật nước ta gọi là các cơ quan hành chính nhà nước, còn gọi là hoạt động chấp hành và điều hành nhà nước, hay thường gọi đơn giản là hoạt động chấp hành và điều hành.8

6

Trường đại học luật Thành Phố Hồ Chí Minh, Những vấn đề của lý luận quản lý nhà nước,

http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/images/stories/dhluat/k/luathanhchinh/de%20cuong%20luat%20hanh%20chi nh.docx , [ngày 01/8/2013]

7Trường đại học luật Thành Phố Hồ Chí Minh, Những vấn đề của lý luận quản lý nhà nước,

http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/images/stories/dhluat/k/luathanhchinh/de%20cuong%20luat%20hanh%20chi nh.docx , [ngày 01/8/2013]

8Trường đại học luật Thành Phố Hồ Chí Minh, Những vấn đề của lý luận quản lý nhà nước,

http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/images/stories/dhluat/k/luathanhchinh/de%20cuong%20luat%20hanh%20chi nh.docx , [ngày 01/8/2013]

Trang 17

Thi hành án dân sự với tính cách là một hoạt động mang tính chất hành chính – tư pháp, trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay và các quyết định của Trọng tài Thương mại, cơ quan thi hành án, trực tiếp là cá nhân chấp hành viên, thay mặt nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành bản án, quyết định đó, cũng cần phải có sự quản lý chặt chẽ để đảm bảo cho quyền lực đó được sử dụng một cách có hiệu

quả nhất

Từ khái niệm thi hành án dân sự, khái niệm về quản lý nhà nước nêu trên, có thể hiểu quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án dân sự: là một bộ phận của quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính - tư pháp Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự là thông qua hoạt động tổ chức, điều hành của các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân được nhà nước giao quyền nhằm tổ chức và phối hợp những cố gắng chung của toàn

xã hội để giải quyết những nhiệm vụ của công tác thi hành án dân sự, mà cụ thể là đảm bảo các yếu tố vật chất, tinh thần, pháp lý cho hoạt động thi hành án dân sự đem lại hiệu quả cao nhất góp phần hoàn thiện cải cách nền hành chính nhà nước trong tình hình hiện nay

Quá trình quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự là chấp hành luật pháp, ban hành các văn bản, cụ thể hóa các quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự; tổ chức điều hành để đưa các văn bản quy phạm pháp luật đó vào thực tiễn thi hành án dân sự; tổ chức bộ máy thi hành án; đào tạo, quản lý nguồn nhân lực phục vụ hoạt động thi hành án dân sự; tiến hành kiểm tra việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự; kịp thời uốn nắn

và xử lý các vi phạm trong hoạt động thi hành án dân sự; bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động thi hành án dân sự9 nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự nhằm đảm bảo cho mọi bản án quyết định của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật được thi hành nhanh chóng, đầy đủ và đúng pháp luật

Như vậy, quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong việc sử dụng quyền lực nhà nước để xây dựng và sử dụng phương tiện pháp luật trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Trên mọi ý nghĩa cụ thể có thể hiểu, quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án dân

sự là một bộ phận của quản lý hành chính - tư pháp, do những cơ quan hành chính nhà

9 Thi hành án dân sự, vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự,

http://moj.gov.vn/TongCucThiHanhAn/News/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemID=423, [ngày 10/8/2013]

Trang 18

nước có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự để hiện thực hóa các quyền, nghĩa vụ trong bản án trên thực tế, góp phần nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa và đảm bảo sự ổn định trật tự, an toàn xã hội; tạo tiền đề thuận lợi cho việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản

Các nguyên tắc quản lý Nhà nước về thi hành án dân sự là các quy tắc chỉ đạo, các tiêu chuẩn hành vi mà các cơ quan quản lý Nhà nước phải tuân thủ trong quá trình quản lý thi hành án dân sự

Các nguyên tắc quản lý Nhà nước về thi hành án dân sự do con người đặt ra nhưng không phải do ý muốn chủ quan mà phải dựa trên các yêu cầu khách quan của các quy luật chi phối quá trình quản lý thi hành án dân sự Đồng thời, các nguyên tắc này phải phù hợp với mục tiêu của quản lý; phải đảm bảo tính hệ thống, tính nhất quán và phải được đảm bảo bằng pháp luật

Quản lý Nhà nước đối với thi hành án dân sự ở nước ta cần vận dụng các nguyên tắc

cơ bản sau đây:

Nguyên tắc tập trung dân chủ

Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa hai mặt cơ bản “tập trung” và “dân chủ” trong mối quan hệ hữu cơ biện chứng chứ không phải chỉ là tập trung, hoặc chỉ là dân chủ “Dân chủ” là điều kiện, là tiền đề của tập trung; cũng như “tập trung” là cái bảo đảm cho dân chủ được thực hiện Hay nói cách khác, tập trung phải trên

cơ sở dân chủ; dân chủ phải trong khuôn khổ tập trung

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của pháp luật một số nước về thi hành án, cho thấy tuy các hình thức tổ chức khác nhau, nhưng có chung một nguyên tắc là quản lý tập trung một đầu mối, tổ chức một cơ quan thi hành án độc lập, có quyền ra quyết định thi hành án và trực tiếp thực hiện quản lý mọi hoạt động liên quan đến công tác thi hành án

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về công tác thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước Bộ Tư pháp giúp Chính phủ quản lý Nhà nước về công tác thi hành án dân sự và tổ chức việc thi hành án dân sự Bộ trưởng

Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tư pháp giúp Chính phủ quản lý Nhà nước về công tác thi hành quyết định về tài sản trong bản án hình sự của Tòa án quân sự và tổ chức các cơ quan thi hành quyết định về tài sản trong bản án hình sự của Tòa án quân sự

Về nguyên tắc, hệ thống các cơ quan thi hành án được tổ chức theo ngành dọc từ trung ương đến địa phương: Tổng cục Thi hành án dân sự (ở trung ương), Cục thi hành án dân

Trang 19

sự (ở cấp tỉnh), Chi cục thi hành án dân sự (ở cấp huyện), nhưng việc tổ chức thi hành án thì chỉ có Cục thi hành án dân sự (ở tỉnh) và Chi cục thi hành án (ở huyện) Tổng Cục Thi hành án (ở trung ương) thuộc Bộ Tư pháp chỉ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và hướng dẫn nghiệp vụ, đôn đốc Cục thi hành án và Chi cục thi hành án thực hiện tổ chức thi hành án Tổng Cục Quản lý thi hành án dân sự không có thẩm quyền ra quyết định can thiệp vào công việc chuyên môn thi hành án của Cục thi hành án và Chi cục thi hành án Việc ra quyết định tạm hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ việc thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền của cơ quan tố tụng.10

Để hoạt động thi hành án dân sự đạt hiệu quả, cần thiết phải quan tâm đến hoạt động đặc thù mang tính chính trị – xã hội rộng lớn của nó để xây dựng cơ chế quản lý phù hợp Công tác quản lý thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng cần tập trung thống nhất về một đầu mối, giao cho một cơ quan Nhà nước đảm nhận, có thẩm quyền quản lý tập trung, thống nhất, chỉ đạo hướng dẫn, chi phối và phải chịu trách nhiệm về mọi vấn đề liên quan đến công tác thi hành án Bên cạnh đó, cần quy định cơ chế phối hợp, phát huy sức mạnh của toàn xã hội trong việc thực hiện công tác thi hành án

Nguyên tắc tăng cưòng pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước về thi hành

án dân sự

Quản lý Nhà nước được hiểu là sự tác động và điều chỉnh mang tính quyền lực Nhà nước đối với các quá trình, quan hệ xã hội, hành vi hoạt động của con người do các cơ quan Nhà nước tiến hành để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội Sự tác động mang tính quyền lực Nhà nước là sự tác động bằng pháp luật và theo nguyên tắc pháp chế, qua đó Nhà nước thể hiện quyền lực của mình đối với mọi hoạt động trong xã hội

Công tác thi hành án nói chung (bao gồm thi hành án hình sự, thi hành án dân sự, kinh

tế, lao động, hành chính…) vừa là công tác chuyên môn, nghiệp vụ, vừa thể hiện quyền lực Nhà nước, xuất phát từ nguyên tắc Hiến định: “Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng, những người và đơn

vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” (Điều 136 Hiến pháp năm 1992)

Để một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án phát sinh hiệu lực trên thực tế, cần phải có sự chấp hành, phối hợp chấp hành, phối hợp tác động của nhiều chủ thể Tuy nhiên sự tác động, điều chỉnh, hướng dẫn hành vi của các chủ thể này theo

10 Điều 2, Luật thi hành án dân sự 2008

Trang 20

cách nào đó nhằm hướng tới mục đích để phán quyết của Tòa án thể hiện hiệu lực trên thực tế chính là yêu cầu của quản lý Nhà nước về thi hành án

So với hoạt động quản lý Nhà nước trên nhiều lĩnh vực, hoạt động quản lý Nhà nước đối với công tác thi hành án dân sự mang nhiều yếu tố đặc thù Bởi lẽ, ngoài việc phải thực hiện đúng chức năng, nguyên tắc, nội dung của quản lý Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này, quản lý Nhà nước về thi hành án dân sự còn nhằm khẳng định tính nghiêm minh của pháp luật, thể hiện quyền lực Nhà nước, đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Nội dung quản lý, cách thức tác động và cơ chế quản lý cũng thể hiện những vấn đề riêng có, linh hoạt để công tác thi hành án đạt hiệu quả cao, góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong quần chúng nhân dân

Ngoài ra, quản lý nhà nước về thi hành án dân sự còn phụ thuộc vào tính tất yếu, có căn cứ và thời hiệu của bản án và quyết định đã có hiệu lực của Tòa án Điều này bảo đảm được tính khách quan, kịp thời, nghiêm minh của pháp luật, bản án, quyết định của Tòa

án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành đúng thời hạn và phát huy hiệu quả, qua

đó, công tác quản lý Nhà nước đối với thi hành án cũng sâu sát, nắm chắc được tiến độ và giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh

Hiệu quả của quản lý Nhà nước có thể đạt được từ quản lý vĩ mô và quản lý trực tiếp Song nếu thực hiện đồng bộ và có sự bổ sung, quan hệ trực tiếp với nhau thì hiệu quả của quản lý sẽ đạt cao hơn nhiều Có như vậy mới có thể làm tăng hiệu quả quản lý Nhà nước đối với công tác này và qua đó đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, thể hiện quyền lực Nhà nước

1.2.3 Các biện pháp quản lý nhà nước về thi hành án dân sự

 Phương pháp giáo dục, thuyết phục, vận động

Nếu như trong quản lý nhà nước nói chung, mệnh lệnh hành chính (mệnh lệnh, phục tùng) là phương pháp chủ yếu, thường được sử dụng thì biện pháp giáo dục, thuyết phục,

vận động lại được các cơ quan thi hành án rất coi trọng, đặc biệt trong các vụ án có tính

chất phức tạp

Vận động, thuyết phục thành lợi cho cả hai bên- người được thi hành án và người phải thi hành án Cơ quan THA cũng thoát khỏi gánh nặng vì nhiều trường hợp số tiền thu được từ người phải thi hành án không đủ trả tiền tạm ứng cho chi phí cưỡng chế Khi không phải cưỡng chế, cũng có nghĩa là loại trừ khả năng có chống đối, ảnh hưởng đến an

ninh trật tự tại địa phương hoặc các khiếu nại sau đó

Trang 21

Vận động, thuyết phục chỉ đạt hiệu quả khi có một hệ thống pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực thi hành án dân sự thống nhất, đồng bộ phù hợp với thực tiễn quản lý, pháp luật được phổ biến, tuyên truyền sâu rộng tới người thực hiện

 Phương pháp hành chính

Là biện pháp tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính buộc đối tượng quản lý phải phục tùng Trong quản lý nhà nước đối với hoạt động thi hành án dân sự, phương pháp này cũng hết sức cần thiết

Trong quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, biện pháp hành chính thể hiện sự tham gia của Nhà nước vào trong hoạt động thi hành án dân sự qua những thủ tục hành chính, các biện pháp xử lý vi phạm (xử phạt hành chính, cưỡng chế hành chính) và hệ thống các

cơ quan quản lý các cấp

 Phương pháp cưỡng chế

Các bản án, quyết định của Tòa án phải được thực hiện nghiêm chỉnh Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo các bản án, quyết định đó thì phải cương quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế, không thể mượn lý do hoà giải để kéo dài thời gian thi hành án

Bằng việc phân tích cho các bên thấy được quyền lợi và nghĩa vụ, đồng thời chỉ rõ bản án đã có hiệu lực bắt buộc phải thi hành Pháp luật chỉ cho họ một thời gian nhất định, nếu qua thời gian đó, họ không thi hành thì phải áp dụng biện pháp cưỡng chế Khi cưỡng chế, người phải thi hành án còn phải chịu toàn bộ các chi phí cưỡng chế

Trên thực tế, việc phải tổ chức cưỡng chế không nhiều, cưỡng chế chỉ tiến hành đối với những vụ việc có tính chất phức tạp, đương sự chây ỳ, chống đối Cưỡng chế là biện pháp quan trọng để đảm bảo hiệu lực của quản lý Nhà nước đối với hoạt động thi hành án dân sự

Ngoài các biện pháp cơ bản nêu trên, trong quản lý nhà nước về hoạt động thi hành

án dân sự còn sử dụng một số phương pháp khoa học khác như phương pháp thống kê, phương pháp điều tra… để phục vụ cho công tác quản lý

1.2.4 Vai trò của quản lý nhà nước về thi hành án dân sự

Từ khái niệm quản lý nhà nước về thi hành án dân sự ta có thể nói một cách cụ thể hơn, quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự là hoạt động của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền nhằm đảm bảo cho:

Một là, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được chấp hành đầy đủ,

nghiêm chỉnh, đúng luật Một trong những nguyên tắc của thi hành án dân sự là cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên phải tổ chức thi hành án đúng nội dung bản án quyết định

Trang 22

của tòa án và của Trọng tài Thương mại Hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp chỉ thực sự được phát huy khi bản án, quyết định của tòa án, quyết định của Trọng tài Thương mại được nghiêm chỉnh thi hành Một bản án quyết định có hiệu lực pháp lực nếu không được thi hành thì cũng không hơn gì mớ giấy lộn vì các quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan không được thực hiện trên thực tế Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự nâng cao hiệu quả của công tác thi hành các bản án, quyết định của Tòa án là đã trực tiếp tác động dến các cơ quan tư pháp, làm cho quá trình tố tụng trở nên có ý nghĩa thực tế trong cuộc sống

Hai là, đảm bảo hiệu lực điều hành, quản lý công tác thi hành án dân sự của bộ máy nhà

nước Để đảm bảo cho mục đích thi hành án đạt được, thì đòi hỏi toàn bộ hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự, từ hoạt động của bộ máy dến hoạt động của Chấp hành viên và các cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự phải được vận hành một cách nhịp nhàng, thống nhất, đúng pháp luật

Ba là, tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, đảm

bảo pháp chế và những yêu cầu khác đối với thi hành án dân sự Mọi hoạt động của bất cứ cá nhân, tổ chức nào có liên quan đến hoạt động thi hành án đều phải tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, các văn bản có liên quan Hoạt động của Chấp hành viên phải chuẩn xác, mẫu mực, đáp ứng được đòi hỏi của các quy định pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng và pháp luật nói chung Tuy nhiên, trong thực tế, không phải lúc nào hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự, của chấp hành viên và các cơ quan hữu quan cũng đạt được mục đích hoàn hảo như mong muốn, mà vẫn có những vi phạm pháp luật xảy ra trong quá trình thi hành án dân sự Để khắc phục được điều này, thì quản lý thi hành án dân sự có vai trò rất quan trọng, nó trở thành phương tiện đảm bảo cho hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và cơ quan hữu quan thi hành đúng pháp luật, trong khuôn khổ pháp luật

Bốn là, tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án một cách đầy đủ, hiệu quả buộc

những người phải thi hành án phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án Thi hành án dân

sự là một công việc tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tế của những người có liên quan đặc biệt là người phải thi hành án, nên trong giai đoạn thi hành án gặp rất nhiều khó khăn làm cho hoạt động thi hành án không được đảm bảo Vì vậy, hoạt động quản lý về thi hành án dân sự là rất cần thiết, nó đảm bảo cho cơ quan thi hành án dân sự có điều kiện thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả và buộc người phải thi hành án phải thi hành

Năm là, ngăn chặn, phòng ngừa, tiếp tục đấu tranh với những hành vi vi phạm trật tự

quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân

sự Do chủ thể quản lý nhà nước về thi hành án dân sự được tổ chức theo hàng dọc từ trung ương đến địa phương nên hoạt động quản lý thi hành án dân sự được diễn ra thường

Trang 23

xuyên, liên tục và chủ động, chính vì vậy mà có tác dụng ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự Đồng thời thông qua hoạt động quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời phát hiện và xử

lý các vi phạm nảy sinh trong thi hành án dân sự Điều này sẽ góp phần làm lành mạnh môi trường thi hành án dân sự, làm trong sạch bộ máy cơ quan thi hành án, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân

sự, từ đó nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, góp phần làm tăng cường hiệu quả của thi hành án dân sự

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện công tác quản lý về thi hành án dân sự, các chủ thể

quản lý sẽ phát hiện những điểm chưa phù hợp từ đó tiếp tục hoàn thiện pháp luật và cơ

chế tổ chức thực hiện trong lĩnh vực thi hành án dân sự

1.3 Lược sử các quy định pháp luật về thi hành án dân sự

Quá trình phát triển pháp luật thi hành án dân sự ở nước ta từ năm 1945 có thể được khái quát qua các thời kỳ sau:11

1.3.1 Thời kỳ từ tháng 8/1945 đến năm 1989

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến trước khi có Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989, là giai đoạn mà tổ chức hoạt động thi hành án dân sự chưa được dựa trên một văn bản pháp luật chính thức có hiệu lực pháp lý cao do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, thậm chí có thời kỳ chỉ căn cứ vào Điều lệ tạm thời về công tác Chấp hành án ban hành kèm theo Công văn số 827/CV ngày 23/10/1979 của Tòa án nhân dân tối cao Công tác thi hành án dân sự đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Toà án Tuy nhiên, về vấn đề quản lý Nhà nước, hình thức tổ chức và pháp luật thi hành án dân sự có

thể được chia thành các giai đoạn nhỏ như sau: 1945 -1949, 1950 - 1980, 1981 - 1989

Giai đoạn 1945 đến 1949: Trước cách mạng tháng Tám, ở nước ta đã tồn tại chế định Thừa phát lại Căn cứ Luật tố tụng dân sự ban hành theo Nghị định ngày 16/3/1910 của Toàn quyền Đông Dương Thừa phát lại là công lại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm

và quản lý, hành nghề trên cơ sở quy định của pháp luật, được hưởng thù lao của khách hàng theo biểu giá quy định và không có quyền từ chối thi hành nhiệm vụ khi được yêu cầu Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, Thừa phát lại chịu sự chỉ đạo trực tiếp của những công chức có trách nhiệm của Tòa án như: Chưởng lý, biện lý, thẩm phán, lục sự Tổ chức Thừa phát lại chủ yếu tồn tại, hoạt động ở các thành phố lớn, còn ở các vùng nông thôn việc thi hành án do chính quyền cơ sở đảm nhiệm

11Luật Minh Khuê, Những nội dung cơ bản của pháp luật thi hành án dân sự, Nguyễn Thanh Thủy – Lê Anh Tuấn,

http://luatminhkhue.vn/dan-su/nhung-noi-dung-co-ban-cua-phap-luat-thi-hanh-an-dan-su.aspx, [ngày 11/8/2013]

Trang 24

Một trong những nhiệm vụ chính của Thừa phát lại là thi hành án dân sự Chế định thừa phát lại đã hình thành, tồn tại ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến năm 1950 và sau đó còn tiếp tục tồn tại dưới chế độ nguỵ quyền Sài gòn cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975)

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trên cơ sở Sắc lệnh ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc cho giữ tạm thời các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những Bộ luật chung thống nhất cho toàn quốc, nếu những đạo luật ấy “không trái với các nguyên tắc độc lập của Nhà nước Việt Nam

và chính thể dân chủ cộng hoà” Chế định thừa phát lại tiếp tục được duy trì Tại Nghị định số 37 ngày 01/12/1945 về tổ chức Bộ Tư pháp, phòng giám đốc Hộ vụ được thành lập, trong đó có Ban công lại thực hiện nhiệm vụ quản lý tổ chức Thừa phát lại Cũng theo tinh thần Sắc lệnh ngày 10/10/1945, những quy định về thủ tục thi hành án dân sự tiếp tục được áp dụng Tổ chức Thừa phát lại - hình thức tổ chức

và hoạt động thi hành án dân sự đầu tiên của chế độ mới là công cụ đắc lực trong việc thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án nhân dân

Sắc lệnh số 13, ngày 20/11/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho tổ chức thi hành án dân sự Việt Nam Sắc lệnh quy định Ban Tư pháp

xã có quyền “thi hành những mệnh lệnh của thẩm phán cấp trên” bao gồm các bản

án, quyết định của Tòa án

Như vậy, tổ chức thi hành án dân sự đã được hình thành ngay trong những năm đầu sau cách mạng tháng Tám thành công và tồn tại dưới hai hình thức là: Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã Tuy tồn tại hai lực lượng thi hành án, nhưng việc thi hành án dù do Thừa phát lại hay Ban Tư pháp xã tiến hành đều thể hiện quyền lực Nhà nước và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước

Mặc dù còn ở những bước đi ban đầu nhưng tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự đã

có những đóng góp quan trọng vào việc hình thành và phát triển của nền Tư pháp mới thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước dân chủ nhân dân Nhưng ở giai đoạn này, tổ chức

và hoạt động thi hành án dân sự vẫn còn rất sơ khai, pháp luật thi hành án dân sự chưa đầy đủ và còn nhiều hạn chế, cần phải được tiếp tục củng cố, hoàn thiện trong giai đoạn tiếp theo

Giai đoạn từ tháng 5 - 1950 đến năm 1980: Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh

ký Sắc lệnh số 85/SL về “cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng“ tạo nên sự thay đổi có tính chất bước ngoặt trong tổ chức và hoạt động tư pháp nói chung và tổ

Trang 25

chức hoạt động thi hành án dân sự nói riêng, trong tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự có sự thay đổi từ chỗ việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã thực hiện được thay thế bằng Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của Biện lý Nhà nước thực thi trách nhiệm thi hành án thông qua việc Toà án chủ động thi hành án dân sự mà không cần chờ đến yêu cầu của các đương sự

Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960 Điều 24 của Luật này đã xác định: “Tại các tòa án nhân dân địa phương có nhân viên chấp hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định dân sự, những khoản xử về bồi thường và tài sản trong các bản án, quyết định hình sự” Vấn đề vị trí, chức năng, nhiệm vụ của nhân viên chấp hành án được xác định rõ trong Luật tổ chức tòa án nhân dân đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Ngày 13/10/1972, Chánh án tòa án nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 186/TC về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên Tên gọi “Chấp hành viên” ra đời từ và đó tồn tại cho đến ngày nay

Để đưa công tác thi hành án từng bước đi vào nề nếp, TAND tối cao đã ban hành Điều

lệ tạm thời về công tác thi hành án (kèm theo công văn số 827/CV ngày 23/10/1979) quy định khá chi tiết, cụ thể về trình tự, thủ tục THA

Như vậy, nét đặc trưng trong nội dung quy định của Điều lệ tạm thời, cũng như các văn bản pháp luật trong thời kỳ này là khẳng định trách nhiệm chủ động của Nhà nước đối với việc thi hành các BA,QĐ của TA; nguyên tắc tự định đoạt của đương sự trong quá trình THA không được ghi nhận, điều này đã tạo ra tâm lý thụ động, ỷ lại, chỉ biết trông đợi vào Nhà nước của người được THA và người phải THA Việc THA thể hiện tính chất

“bao cấp” nặng nề, vừa làm tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước, vừa làm hạn chế hiệu quả công tác THA do không phát huy được tính chủ động và trách nhiệm của đương

sự trong quá trình THA

Giai đoạn từ năm 1981 đến năm 1989: với sự ra đời của Hiến pháp năm 1980 và Luật

Tổ chức Toà án nhân dân năm 1981 ra đời tạo cơ sở pháp lý cho việc Bộ Tư pháp (mới được thành lập sau hơn 20 năm giải thể) đảm nhiệm công tác quản lý Toà án nhân dân về mặt tổ chức, trong đó có việc quản lý về mặt tổ chức đối với nhân sự làm công tác thi hành án dân sự Tại Nghị định số 143-HĐBT ngày 22/11/1981, Hội đồng Bộ trưởng (nay

là Chính phủ) giao cho Bộ Tư pháp có nhiệm vụ “trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy chế chấp hành án” Để thực hiện nhiệm vụ này,

Trang 26

ngày 18/7/1982, Bộ Tư pháp phối hợp với Toà án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên ngành số 472/TTLN về quản lý công tác thi hành án

Có thể thấy rằng, trong thời kỳ này tổ chức bộ máy cũng như nguyên tắc hoạt động của cơ quan THA chưa được chú trọng Cơ chế quản lý và tổ chức THA chưa tạo được

vị trí của CHV tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra

1.3.2 Thời kỳ từ năm 1990 đến trước khi có Luật thi hành án dân sự năm 2008

Pháp lệnh THADS ngày 28/8/1989, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1990, một hình thức văn bản pháp lý có hiệu lực cao, lần đầu tiên đã được ban hành, đặt cơ sở pháp

lý cho việc tăng cường, hoàn thiện tổ chức và hoạt động THADS Trên cơ sở đó, quy chế CHV đã được ban hành kèm theo nghị định số 68/HĐBT ngày 06/3/1990 của Hội đồng

Bộ trưởng, theo đó, chỉ có Chấp hành viên là người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định của Toà án Và Theo quy định tại Nghị định số 68/HĐBT ngày 06/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng, thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định số lượng biên chế Chấp hành viên, cán bộ thi hành án cho từng Toà án địa phương và bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành viên làm nhiệm vụ thi hành án

Với việc ban hành Pháp lệnh năm 1989, cơ chế THA đã có bước thay đổi cơ bản Theo Pháp lệnh này, cơ chế kết hợp quyền tự định đoạt của đương sự với sự chủ động của CQTHA và CHV đã tạo ra sự phát triển mới trong công tác THADS Tuy nhiên, Pháp lệnh năm 1989 vẫn có những quy định về quyền chủ động THA của CQTHA trong những trường hợp nhất định nhằm bảo vệ kịp thời lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân

Đầu những năm 1990, công cuộc đổi mới nói chung và cải cách bộ máy Nhà nước nói riêng đã được tiến hành một cách khá tích cực, khẩn trương Hiến pháp năm 1992 và các Luật về tổ chức bộ máy Nhà nước được Quốc hội khoá IX thông qua vào tháng 10/1992,

đã đặt ra những nguyên tắc nền tảng cho quá trình cải cách Tư pháp, trong đó công tác THADS được đổi mới một cách cơ bản Khác với Luật Tổ chức TAND năm 1981, Luật

Tổ chức TAND năm 1992 không quy định thẩm quyền của TAND trong việc THA Trong khi đó Luật Tổ chức Chính phủ năm 1992 lần đầu tiên đã xác định việc “quản lý công tác THA” là một trong những nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong lĩnh vực pháp luật và hành chính tư pháp Để thực hiện quy định của các đạo luật trên đây về công tác THA, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX ngày 6/10/1992 đã thông qua Nghị quyết

về việc bàn giao công tác THA từ TAND các cấp sang các cơ quan của Chính phủ “chậm nhất vào tháng 6/1993” Pháp lệnh THADS ban hành ngày 21/4/1993, có hiệu lực ngày 01/6/1993 thay thế Pháp lệnh THADS ban hành ngày 28/8/1989

Trang 27

Điểm khác biệt căn bản nhất của Pháp lệnh THADS năm 1993 so với Pháp lệnh THADS năm 1989 chính là ở các quy định về tổ chức, cơ chế THA mới Theo Pháp lệnh THADS năm 1989, TA có nhiệm vụ THADS, còn theo Pháp lệnh THADS năm

1993 thì nhiệm vụ THADS được chuyển cho một cơ quan Nhà nước mới thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 01/7/1993, đó là hệ thống các CQTHADS Việc ra các quyết định

về THA trước đây thuộc thẩm quyền của Chánh án TA, thì nay thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng CQTHA Có thể nói, Pháp lệnh THADS ngày 21/4/1993 đã tạo ra bước ngoặt

về tổ chức và hoạt động của công tác THADS ở nước ta, đưa công tác này sang một giai đoạn phát triển mới, đáp ứng yếu cầu của đất nước trong thời kỳ đổi mới

Tuy nhiên, Qua hơn 10 năm thi hành, Pháp lệnh THADS năm 1993 đã bộc lộ nhiều bất cập trước những đòi hỏi của quá trình đổi mới, cải cách hành chính, cải cách tư pháp Nhiều vướng mắc về cơ chế quản lý, mô hình tổ chức, thủ tục THADS chưa được tháo gỡ kịp thời, dẫn đến tình trạng án tồn đọng có xu hướng gia tăng, đòi hỏi pháp luật THADS cần có sự bổ sung, hoàn thiện kịp thời để nâng cao hiệu quả công tác THADS Vì vậy, ngày 14/01/2004 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh THADS sửa đổi thay thế Pháp lệnh THADS năm 1993

Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đã có những bước tiến mới về lập pháp, theo

đó quy định cụ thể, đầy đủ hơn về tổ chức các cơ quan thi hành án và thủ tục thi hành án Chính phủ cũng đã hoàn thành việc ban hành 03 Nghị định quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này là Nghị định số 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2004 “về kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án”, Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 “quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt hành chính trong thi hành án dân sự”, Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 “về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành

án dân sự và cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự”

Các văn bản pháp luật nêu trên đã quy định tương đối toàn diện tổ chức các CQQLNN

về THADS So với Pháp lệnh THADS năm 1993 thì đã có bước tiến bộ rõ rệt trong việc phân cấp quản lý nhà nước về THADS, xác định rõ hơn nội dung quản lý nhà nước về THADS của UBND cấp tỉnh và cấp huyện, tạo cơ sở pháp lý để hệ thống các cơ quan này hoạt động có hiệu quả Tuy nhiên, thực tiễn qua ba năm thực hiện Pháp lệnh THADS năm

2004 cũng cho thấy có những vướng mắc, bất cập trong chế định về các CQQLNN về THADS

Đối chiếu với quy định của Pháp lệnh THADS năm 1993, Nghị định số 30/CP ngày 02/6/1993 của Chính phủ thì những quy định tại Pháp lệnh THADS năm 2004 và Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày11/4/2005 của Chính phủ đã có một bước tiến rõ rệt trong

Trang 28

việc nâng cao vị trí, trách nhiệm của CQTHADS Theo đó, vị thế của CQTHA được nâng cao một bước, độc lập hơn trong tác nghiệp của mình CQTHADS không còn là một phòng, đội trực thuộc Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp như trước đây mà có tư cách độc lập nhất định Việc quy định thành lập các đơn vị trực thuộc trong CQTHA cấp tỉnh cũng như quy định chức danh thẩm tra viên tại các CQTHADS đã góp phần hoàn thiện tổ chức bộ máy các CQTHA

1.3.3 Thời kì năm 2008 cho đến nay

Công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp hiện nay đòi hỏi phải có sự đổi mới, chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tư pháp, trong đó có công tác thi hành án Nhận thức rõ tầm quan trong của công tác thi hành án, Đảng, Nhà nước từ lâu đã rất quan tâm ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng về lĩnh vực này, như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (1995), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1997), Nghị quyết 08/NQ-TƯ ngày 2 tháng 01 năm 2002 của Bộ chính trị khóa IX về một số nhiệm

vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2004) Gần đây, tại Nghị quyết số 48/NQ-

TƯ ngày 24-5-2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TƯ ngày 02-6-2005

về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Bộ Chính trị đã đẩy mạnh việc phải xây dựng Bộ luật thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực thi hành án và chỉ đạo cụ thể từ nay đến năm 2010 phải chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án cho Bộ Tư pháp

Từ những vấn đề nêu trên, ban hành luật thi hành án dân sự là một yêu cầu khách quan cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm thể chế hóa các Nghị quyết của Đảng, tạo cơ

sở pháp lý xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổ chức cơ quan quản lý, đồng thời góp phần xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổ chức cơ quan quản lý, góp phần hoàn thiện các quy định về thủ tục thi hành án, khắc phục những điểm bất hợp lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc tồn tại trong thi hành án dân sự12

Luật thi hành án có phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm các quy định về nguyên tắc thi hành án, tổ chức cơ quan thi hành án, thủ tục thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án Ngoài nội dung thi hành án bản án, quyết định của Tòa án, phạm vi điều chỉnh của luật thi hành án còn gồm việc thi hành án các phán quyết của Trọng tài thương mại Việt Nam theo pháp lệnh trọng tài thương mại, các bản án, quyết định của

12 Xem: Tờ trình chính phủ dự án luật thi hành án dân sự

Trang 29

Tòa án nước ngoài đã được công nhận và cho thi hành tại Việt nam, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

Nhìn lại chặng đường lịch sử hình thành và phát triển của THADS Việt Nam từ năm

1945 đến nay chúng ta có thể rút ra một số nhận xét cơ bản sau đây:13

Một là, dù trải qua các thời kỳ khác nhau, nhiệm vụ của các tổ chức THADS được pháp luật quy định (dù dưới hình thức Thừa phát lại, Ban Tư pháp xã, thẩm phán huyện hay là nhân viên THA, CHV được đặt tại các TA hoặc CQTHADS) vẫn luôn luôn có một điểm chung không thay đổi đó là đều thi hành các BA,QĐ của TA đã có hiệu lực pháp luật hoặc án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay

Hai là, THADS dù tồn tại bất kỳ dưới hình thức nào, dù là do TA trực tiếp tiến hành hay do cơ quan thuộc Chính phủ đảm trách, đều luôn có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động của TA, đặc biệt hiệu quả của hoạt động THADS phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của hoạt động xét xử

Ba là, ý nghĩa, vai trò của công tác THADS và pháp luật THADS ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn, sâu rộng hơn, chiếm vị trí ngày càng xứng đáng trong hệ thống các

cơ quan tư pháp Việt Nam Từ chỗ tổ chức THA chỉ do Thừa phát lại, Ban Tư pháp xã (1945-1950), thẩm phán huyện (1950-1959); nhân viên THA, CHV đặt tại các TA địa phương (1960-1993) thực hiện, đến nay chúng ta đã có một hệ thống các cơ quan thi hành

án dân sự (CQTHADS) gồm 64 THADS cấp tỉnh, hơn 660 THADS cấp huyện, chưa kể

hệ thống THA trong quân đội Từ chỗ chỉ được thể hiện trong một vài văn bản pháp luật dưới hình thức thấp (Thông tư, Điều lệ tạm thời ), đến nay đã trở thành hệ thống pháp luật THADS với hàng chục văn bản từ pháp lệnh, nghị định, quyết định của Thủ tướng, Chính phủ, thông tư hướng dẫn và hiện nay chúng ta đang xây dựng dự án Bộ luật THA với mức độ pháp điển rất cao, điều chỉnh một cách toàn diện các lĩnh vực THA, trong đó

có THADS

Bốn là, xu hướng chung của pháp luật THADS ngày càng thể hiện rõ nét nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự trong quá trình THA Ngay từ đầu, việc THA hoàn toàn dựa trên cơ sở yêu cầu của đương sự, sau đó có một thời gian khá dài (từ năm 1950 đến năm 1989) nguyên tắc tự định đoạt của đương sự bị phủ nhận, thay vào đó là việc Nhà nước chủ động hoàn toàn trong hoạt động THA Việc THA được tiến hành không phụ thuộc vào ý chí của người được THA Nhưng từ năm 1990

13 Luật Minh Khuê, Những nội dung cơ bản của pháp luật thi hành án dân sự, Nguyễn Thanh Thủy – Lê Anh

Tuấn, http://luatminhkhue.vn/dan-su/nhung-noi-dung-co-ban-cua-phap-luat-thi-hanh-an-dan-su.aspx, [ngày

01/9/2013]

Trang 30

đến nay, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong quá trình THADS lại được khôi phục và thể hiện như là xu thế tất yếu và sẽ tiếp tục tồn tại lâu dài trong tương lai Năm là, quá trình phát triển của pháp luật THADS cho thấy xu hướng xã hội hoá trong lĩnh vực THADS ngày càng được mở rộng biểu hiện trên một số nét sau:

+ Các việc do Nhà nước chủ động thi hành ngày càng bị thu hẹp lại, đồng thời việc THA do đương sự yêu cầu ngày càng chiếm vị trí chủ yếu trong THADS

+ Bên cạnh đơn yêu cầu, người được THA còn có nghĩa vụ cung cấp địa chỉ, tình hình tài sản, thu nhập của người phải THA; khi trả đơn yêu cầu thì phải theo dõi, phát hiện tài sản của người phải THA để yêu cầu trở lại

+ Người phải THA phải chịu mọi chi phí cưỡng chế THA

+ Nguyên tắc thỏa thuận, tự nguyện trong quá trình THA

+ Người được THA phải chịu phí THA

Trang 31

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT

ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Thi hành án dân sự luôn đặt dưới sự quan tâm của các chủ thể có thẩm quyền quản lý theo quy định của luật Trong chương này người viết tập trung đi vào tìm hiểu những quy định của luật về cơ quan thi hành án, cơ quan quản lý thi hành án, Chấp hành viên và những nội dung quản lý về thi hành án dân sự

2.1 Hệ thống cơ quan quản lý thi hành án dân sự

Vấn đề về hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định hiệu quả của công tác thi hành án dân sự, nên việc quy định nguyên tắc về hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự trong Luật, nhất là phân định rõ cơ quan quản lý thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự trong hệ thống tổ chức là cần thiết, tạo

cơ sở cho Chính phủ quy định cụ thể mô hình tổ chức cơ quan thi hành án dân sự

2.1.1 Chính phủ

Luật thi hành án dân sự năm 2008 tiếp tục quy định “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước" như Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 Tuy nhiên, Luật thi hành án dân sự năm 2008 quy định cụ thể thêm ba nhiệm

vụ, quyền hạn nữa của Chính phủ trong công tác thi hành án dân sự, đó là: Chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án dân sự; phối hợp với Toà

án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án dân sự và định kỳ hàng năm báo cáo Quốc hội về công tác thi hành án dân sự

2.1.2 Bộ Tư pháp

Với tư cách là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước

về thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp có 11 loại nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án dân sự:14 Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật

về thi hành án dân sự Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về thi hành án dân sự.Phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự Quản lý hệ thống tổ chức, biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; quyết định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án dân sự; đào tạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành viên, Thẩm tra viên Hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự Kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án dân sự; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự

14 Điều 167 Luật thi hành án dân sự năm 2008

Trang 32

Quyết định kế hoạch phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thi hành án dân sự Tổng kết công tác thi hành án dân sự Ban hành và thực hiện chế độ thống kê về thi hành án dân

sự Báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án dân sự Trong số những nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp nêu trên, có những nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định tại Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, tuy nhiên, một số nhiệm vụ, quyền hạn được bổ sung, như: Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về thi hành án dân sự; phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự; quyết định kế hoạch phân bổ kinh phí; đào tạo,

bổ nhiệm, miễn nhiệm Thẩm tra viên; tổng kết công tác thi hành án dân sự

2.1.3 Bộ Quốc phòng

Luật thi hành án dân sự quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng trong thi hành án dân sự với hai phương diện:15 Phối hợp với Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong quân đội trong việc ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban

hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự trong quân đội; bổ nhiệm, miễn

nhiệm Chấp hành viên; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thi hành án dân sự cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên và nhân viên làm công tác thi hành án dân sự trong quân đội và tổng kết, báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án dân sự Bộ Quốc phòng trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

- Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ thi hành án cho cơ quan thi hành án cấp quân khu; phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự trong quân đội

- Quản lý hệ thống tổ chức, biên chế; quyết định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án trong quân đội; bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu; khen thưởng, kỷ luật đối với quân nhân làm công tác thi hành án trong quân đội

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm về thi hành án trong quân đội

- Quản lý, lập kế hoạch phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động thi hành án trong quân đội

Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định nêu trên theo quy định của Chính phủ

Luật thi hành án dân sự cũng quy định Tư lệnh quân khu và tương đương trong quân đội có nhiệm vụ, quyền hạn:

15 Điều 168 Luật thi hành án dân sự năm 2008

Trang 33

+ Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc thi hành các

vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quân khu và tương đương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu.+ Yêu cầu cơ quan thi hành án cấp quân khu báo cáo công tác, kiểm tra, thanh tra công tác thi hành án trên địa bàn quân khu và tương đương

+ Có ý kiến bằng văn bản về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng

cơ quan thi hành án cấp quân khu

+ Quyết định khen thưởng hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân sự

2.1.4 Bộ Công an

Bộ Công an không phải là cơ quan quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, nhưng có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm việc thi hành án dân sự đạt hiệu quả Các đơn vị thuộc Bộ Công an, như: Cục Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp, Cục quản lý trại giam và trường giáo dưỡng v.v và Công an các địa phương đã thường xuyên tham gia phối hợp trong công tác thi hành án dân sự Ở nhiều địa phương, khi cơ quan thi hành án dân sự có yêu cầu tham gia bảo vệ cưỡng chế thi hành án hoặc xác minh nhân thân của người phải thi hành án, thì trước khi tham gia bảo vệ, lãnh đạo cơ quan Công an đã cử lực lượng tiến hành khảo sát địa bàn cưỡng chế, lập kế hoạch bảo vệ cưỡng chế phù hợp với đặc điểm, tình hình, từng đối tượng và từng vụ việc cụ thể Vì thế, các cơ quan thi hành án dân sự đã

tổ chức cưỡng chế thi hành án thành công nhiều vụ việc, ngăn chặn và làm hạn chế hành

vi chống đối của đương sự đối với người thi hành công vụ, bảo vệ an toàn tính mạng của những người tham gia cưỡng chế và các tài sản có liên quan đến việc thi hành án

Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Công an thực hiện một số biện pháp để tăng cường sự phối hợp của cơ quan Công an trong thi hành án dân sự.16

Luật thi hành án dân sự năm 2008 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an trong thi hành án dân sự với hai loại việc phối hợp và ba loại việc chỉ đạo:17 Phối hợp với

Bộ Tư pháp trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.Chỉ đạo cơ quan

Công an bảo vệ cưỡng chế thi hành án, phối hợp bảo vệ kho vật chứng của cơ quan thi

hành án dân sự trong trường hợp cần thiết Chỉ đạo trại giam, trại tạm giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thu các khoản tiền, tài sản mà người phải thi

Trang 34

hành án, thân nhân của người phải thi hành án nộp để thi hành án Chỉ đạo cơ quan Công

an có thẩm quyền phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Toà án xét, quyết định miễn, giảm hình phạt cho những người phải thi hành án có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật

2.1.5 Uỷ ban nhân dân các cấp

Uỷ ban nhân dân là một bộ phận cấu thành chính quyền địa phương Trong công tác thi hành án dân sự, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã có nhiều nhiệm vụ, quyền hạn Tuy nhiên, theo quy định của Luật thi hành án dân sự, đối với mỗi cấp Uỷ ban nhân dân thì nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác thi hành án dân sự có sự khác nhau, cụ thể là:

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan

trong thi hành án dân sự trên địa bàn Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo

đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh Có ý kiến bằng văn bản về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh Quyết định khen thưởng hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể,

cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân sự Yêu cầu cơ quan thi hành án dân

sự cấp tỉnh báo cáo công tác thi hành án dân sự ở địa phương Yêu cầu cơ quan thi hành

án dân sự cấp tỉnh kiểm tra công tác thi hành án ở địa phương.18

Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo

đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện Có ý kiến bằng văn bản về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện tự kiểm tra, đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh kiểm tra công tác thi hành án dân sự ở địa phương Quyết định khen thưởng hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân sự Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự báo cáo công tác thi hành án dân sự ở địa phương.19

Ủy ban nhân dân cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự trong việc thông báo thi hành án, xác minh

18 Điều 173 Luật thi hành án dân sự năm 2008

19 Điều 174 Luật thi hành án dân sự năm 2008

Trang 35

điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và các nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên địa bàn.20

Bên cạnh đó luật thi hành án dân sự cũng quy định Nhiệm vụ, quyền hạn của một số

cơ quan khác trong thi hành án dân sự như: Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát, trách nhiệm của cơ quan ra bản án, quyết định trong thi hành án, trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội, Kho bạc nhà nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trong thi hành án dân sự, trách nhiệm của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm trong thi hành án dân

sự

2.1.6 Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp

Tổng cục Thi hành án dân sự là cơ quan quản lý thi hành án dân sự trực thuộc Bộ Tư pháp21 Vị trí, chức năng của Tổng cục Thi hành án dân sự:22 Tổng cục Thi hành án dân

sự là cơ quan trực thuộc Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ

Tư pháp quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước; thực hiện quản lý chuyên ngành về thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật

Cơ cấu tổ chức, cán bộ của Tổng cục Thi hành án dân sự được quy định:23 Tổng cục Thi hành án dân sự có cơ cấu tổ chức gồm các đơn vị sau đây: Văn phòng; Vụ Quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ thi hành bản án, quyết định dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình, phá sản, trọng tài thương mại (gọi tắt là Vụ nghiệp vụ 1); Vụ Quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ thi hành phần dân sự, tiền, tài sản, vật chứng trong bản án, quyết định hình sự, hành chính và quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản (gọi tắt là Vụ Nghiệp vụ 2); Vụ Giải quyết khiếu nại, tố cáo; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Kế hoạch – Tài chính; Trung tâm Dữ liệu, Thông tin và Thống kê thi hành án dân sự

Tổng Cục Thi hành án dân sự có cơ cấu cán bộ, công chức sau đây: Tổng Cục trưởng, không quá 03 Phó Tổng cục trưởng; Vụ trưởng và tương đương, Phó Vụ trưởng và tương đương; Thẩm tra viên, Thẩm tra viên chính, Thẩm tra viên cao cấp thi hành án và công chức khác

20 Điều 175 Luật thi hành án dân sự năm 2008

21 Khoản 1 Điều 2 Nghị định 74/2009/NĐ-CP, ngày 09 tháng 9 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự

22 Điều 3 Nghị định 74/2009/NĐ-CP, ngày 09 tháng 9 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự

23 Điều 5 Nghị định 74/2009/NĐ-CP, ngày 09 tháng 9 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự

Trang 36

Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, số lượng, cơ cấu cán bộ, tổ chức và biên chế của các tổ chức giúp việc Tổng Cục trưởng

Tổng Cục trưởng và các Phó Tổng cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo quy định của pháp luật Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành

án dân sự chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tư pháp và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Tổng cục Thi hành án dân sự Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự chịu trách nhiệm trước Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự và trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công phụ trách

Trên cơ sở quy định của Luật thi hành án dân sự năm 2008 Tổng cục Thi hành án dân

sự có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định: Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ về thi hành án dân sự; Chiến lược, chương trình quốc gia, đề án, dự án, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm,

dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, dự thảo báo cáo Quốc hội, báo cáo Chính phủ về thi hành án dân sự Trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định hoặc ban hành: Thông tư, quyết định, chỉ thị về thi hành án dân sự; Thành lập, giải thể cơ quan thi hành

án dân sự địa phương; Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cho từ chức, cách chức Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự, Vụ trưởng và tương đương, Phó Vụ trưởng và tương đương thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng

cơ quan thi hành án dân sự địa phương; bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành viên, Thẩm tra viên thi hành án; Quy định về quy trình, thủ tục, tiêu chuẩn, định mức, biểu mẫu, giấy tờ

về thi hành án dân sự; Quy định về thống kê thi hành án dân sự

- Tổ chức thực hiện văn bản pháp luật, chiến lược, chương trình quốc gia, quy hoạch,

kế hoạch, đề án, dự án về thi hành án dân sự sau khi được phê duyệt, ban hành Ban hành theo thẩm quyền các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về thi hành án dân sự, văn bản cá biệt, văn bản quy phạm nội bộ theo quy định của pháp luật Tổ chức kiểm tra: Việc thực hiện trình tự, thủ tục và áp dụng pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự; Chế độ thống kê và báo cáo về thi hành án dân sự; Việc thu, chi tiền, giao, nhận tài sản trong thi hành án dân sự; việc thu nộp các khoản phí, lệ phí và chi phí tổ chức cưỡng chế thi hành án; Các hoạt động khác liên quan đến công tác thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật

Trang 37

- Giải quyết khiếu nại về thi hành án thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự Theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực thi hành án dân

sự Thực hiện phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hệ thống cơ quan thi hành án dân

sự theo quy định của pháp luật và theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Thực hiện kế hoạch, chương trình, đề án, dự án hợp tác quốc tế về thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật và phân công của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; đánh giá kết quả về hợp tác quốc tế trong công tác thi hành án dân sự Tuyên truyền, giáo dục, vận động tổ chức và cá nhân thực hiện nghiêm bản án và quyết định dân sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật

- Phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện thanh tra về thi hành án dân sự và xử lý hành vi không chấp hành án theo quy định của pháp luật Giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong quân đội

- Nghiên cứu, quản lý, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ thông tin và hiện đại hóa

cơ sở vật chất, kỹ thuật trong hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự Thống kê và xây dựng cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự

- Quản lý tổ chức, biên chế, cán bộ, công chức của các cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể các phòng chuyên môn thuộc Cục Thi hành án dân sự tỉnh; quyết định

bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cho từ chức, cách chức Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng chuyên môn thuộc Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cho từ chức, cách chức đối với một số chức vụ và bổ nhiệm, nâng ngạch, chuyển ngạch đối với một số chức danh quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 4 Nghị định 74/2009/NĐ-CP theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên, cán bộ, công chức của các cơ quan thi hành án dân sự địa phương theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ trưởng Bộ

Tư pháp

- Quản lý, thực hiện phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất – kỹ thuật, phương tiện hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự địa phương theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Quản lý khoản thu phí do cơ quan thi hành án dân

sự địa phương nộp cho Tổng cục Thi hành án dân sự để thực hiện việc điều hòa phí thi hành án và sử dụng theo quy định của pháp luật Thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính, cải cách tư pháp theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp được cấp có thẩm quyền phê duyệt Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Tư pháp giao

Trang 38

2.1.7 Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng

Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng là cơ quan quản lý thi hành án trực thuộc Bộ Quốc phòng.24 Vị trí, chức năng của Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng:25 Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng là cơ quan trực thuộc Bộ Quốc phòng, thực hiện chức năng tham mưu, giúp

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý nhà nước về công tác thi hành án trong quân đội

Cơ cấu tổ chức, cán bộ của Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng quy định:26 Cục Thi hành

án Bộ Quốc phòng có cơ cấu tổ chức gồm các đơn vị sau đây: Phòng Kế hoạch tổng hợp; Phòng Quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ; Phòng Kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo; Phòng Tổ chức cán bộ ngành; Phòng Hành chính, vật tư; Ban Khoa học và Công nghệ thông tin; Ban Tài chính

Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng có cơ cấu cán bộ sau đây: Cục trưởng, không quá 03 Phó Cục trưởng; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng; Trưởng ban Thẩm tra viên, Thẩm tra viên chính, Thẩm tra viên cao cấp thi hành án và cán bộ, nhân viên làm công tác thi hành án

Cục trưởng và các Phó Cục trưởng Cục Thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức theo quy định của pháp luật

Cục trưởng Cục Thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng

Bộ Quốc phòng và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Cục Thi hành án.Phó Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Cục trưởng và trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công phụ trách

Theo quy định của Luật thi hành án dân sự năm 2008 thì Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ:

- Trình Bộ trưởng Bộ Quốc phòng để phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tư pháp trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định: Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ

về thi hành án trong quân đội; Chiến lược, chương trình quốc gia, đề án, dự án, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm, dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ,

24 Khoản 1 Điều 8 Nghị định 74/2009/NĐ-CP, ngày 09 tháng 9 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự

25 Điều 9 Nghị định 74/2009/NĐ-CP, ngày 09 tháng 9 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự

26 Điều 11 Nghị định 74/2009/NĐ-CP, ngày 09 tháng 9 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự

Ngày đăng: 05/10/2015, 10:30

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w