1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

công tác phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ em ở nước ta trong xã hội hiện nay – thực trạng ở tỉnh hậu giang

77 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề nên người viết chọn đề tài “Công tác phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ em ở nước ta trong xã hội hiện nay – thực trạng tại tỉnh Hậu

Trang 1

CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI

PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM Ở NƯỚC TA TRONG XÃ HỘI HIỆN NAY –

THỰC TRẠNG Ở TỈNH HẬU GIANG

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Cn Nguyễn Hữu Lạc Trần Quốc Thật

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin dành lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thầy cô giáo khoa Luật trường Đại học cần thơ đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới giảng viên Nguyễn Hữu Lạc, người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu, giúp tôi hoàn thành luận văn

Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Mặc dù tôi đã cố gắng để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô và các bạn

Cần Thơ, tháng 11, năm 2013 Sinh Viên

Trần Quốc Thật

Trang 3

LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 4

LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 5

MỤC LỤC

trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu luận văn 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BẠO LỰC VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM 3

1.1 Tổng quan về bạo lực gia đình 3

1.1.1 Các khái niệm 3

1.1.1.1 Khái niệm gia đình và thành viên gia đình 3

1.1.1.2 Khái niệm bạo lực gia đình 5

1.2 Chủ thể của bạo lực gia đình 5

1.3 Biểu hiện của bạo lực gia đình 5

1.4 Các hành vi được xem là bạo lực gia đình 6

1.5 Phân loại hành vi bạo lực gia đình 8

1.5.1 Bạo lực về thể chất 8

1.5.2 Bạo lực về tình dục 9

1.5.3 Bạo lực về tinh thần 10

1.5.4 Bạo lực về kinh tế 10

1.6 Một số yếu tố tác động đến bạo lực gia đình 11

1.6.1 Phong tục, tập quán 11

1.6.2 Tâm lý 11

1.6.3 Điều kiện kinh tế xã hội 12

1.6.4 Định kiến giới 13

1.6.5 Trình độ dân trí 13

Trang 6

1.7 Sơ lược về quy định của pháp luật việt nam về phòng chống bạo lực gia

đình đối với phụ nữ và trẻ em 14

1.7.1 Các quyền của phụ nữ theo pháp luật Việt Nam 14

1.7.2 Pháp luật bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong lĩnh vực chính trị, xã hội và học tập 17

1.7.3 Các quy định của pháp luật về bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm của phụ nữ, trẻ em 18

1.7.4 Pháp luật ghi nhận, bảo vệ tài sản và các lợi ích kinh tế của phụ nữ và trẻ em 19

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 21

2.1 Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình 21

2.1.1 Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải phù hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam 21

2.1.2 Hành vi bạo lực gia đình được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật 22

2.1.3 Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ 23

2.1.4 Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình 23

2.2 Nghĩa vụ của các chủ thể của bạo lực gia đình 23

2.2.1 Quyền, nghĩa vụ của nạn nhân 23

2.2.2 Nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình 25

2.3 Trách nhiệm của cá nhân, gia đình và các cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình 27

2.3.1 Trách nhiệm của cá nhân, gia đình 27

2.3.2 Các hoạt động phòng chống bạo lực gia đình 30

Trang 7

2.3.2.1 Hoạt động phòng ngừa bạo lực gia đình 30

2.3.2.2 Hoạt động bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình 32

2.4 Thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc xử lí người có hành vi bạo lực gia đình bị xữ lý vi phạm hành chính 33

2.5 Xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình 34

2.5.1 Xử lý kỷ luật 34

2.5.2 Xử lý hành chính 35

2.5.3 Xử lý theo pháp luật dân sự 37

2.5.4 Xử lý theo pháp luật hình sự 39

2.6 Tính hợp lí và bất cập của một số biện pháp xử lí vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình 41

2.6.1 Biện pháp cảnh báo 41

2.6.2 Biện pháp phạt tiền 42

2.6.3 Cách li nạn nhân hoặc cấm tiếp xúc 44

2.7 Các biện pháp bảo vệ và trợ giúp nạn nhân là phụ nữ và trẻ em bị bạo lực 45

2.7.1 Các biện pháp trợ giúp về vật chất tinh thần 45

2.7.2 Biện pháp hành chính: 48

2.7.3 Biện pháp hình sự 50

2.7.4 Các biện pháp khác 50

2.8 Một số đề xuất kiến nghị nhằm đảm bảo tính khả thi của một số biện pháp xử lí vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình 51

CHƯƠNG III THỰC TRẠNG – NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP VỀ VẤN ĐỀ BẠO LỰC VÀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở TỈNH HẬU GIANG 55

3.1 Tình hình bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh hậu giang 55

3.1.1 Bạo lực giữa vợ và chồng 55

3.1.2 Bạo lực giữa cha mẹ và con cái 56

3.1.3 Bạo lực giữa các thành viên khác trong gia đình 57

Trang 8

3.2 Số liệu thông kê về tình trạng bạo lực gia đình ở Hậu Giang từ năm 2009 –

2012 58

3.3 Nguyên nhân của bạo lực gia đình ở hậu giang 59 3.4 Hậu quả của bạo lực gia đình 61 3.5 Công tác phòng chống bạo lực gia đình ở hậu giang 62

3.5.1 Công tác phối hợp giữa các sở, ngành trong việc phòng, chống bạo lực gia đình 63 3.5.2 Những khó khăn về công tác phòng chống bạo lực gia đình ở hậu giang 64

3.6 Những giải pháp nhằm hạn chế vấn đề bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ em

ở nước ta nói chung và ở hậu giang nói riêng 66 KẾT LUẬN 70

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Bạo lực gia đình là một hiện tượng xã hội tồn tại dai dẳng từ xưa đến nay ở mọi quốc gia, mọi dân tộc, mọi vùng miền Bạo lực gia đình là những hành vi mang tính chất bạo lực được các thành viên trong gia đình dùng để giải quyết các vấn đề mâu thuẫn, xung đột trong gia đình Hành vi này không chỉ để lại hậu quả tiêu cực trong thời điểm hiện tại mà còn để lại những tổn thương tâm lý lâu dài cho người chịu bạo lực Đặc biệt, sự ảnh hưởng của bạo lực gia đình đối với trẻ em là rất nghiêm trọng

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm tới việc phòng, chống bạo lực gia đình và đã ban hành nhiều đạo luật trực tiếp và gián tiếp liên quan như: Hiến pháp năm 1992; Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Bộ luật Dân sự; Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính;

và đặc biệt là Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Những văn bản này đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong đời sống xã hội trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình tuy nhiên công tác phòng, chống bạo lực gia đình tuy đã được các quốc gia trên thế giới cũng như ở nước ta quan tâm nhưng hiệu quả mang lại còn thấp vì bạo lực gia đình vẫn được giấu kín đằng sau cánh cửa mỗi gia đình Hơn nữa, bạo lực gia đình là một vấn đề xã hội nhạy cảm với tính phổ biến cao, từ xã hội phương Tây đến

xã hội phương Đông; từ thành thị đến nông thôn; từ nhóm có trình độ văn hoá thấp đến nhóm có trình độ văn hoá cao, từ nhóm không có việc làm đến nhóm có việc làm

ổn định Bạo lực gia đình có thể xảy ra ở tất cả các mối quan hệ trong gia đình: Bạo lực giữa chồng và vợ, bạo lực giữa cha mẹ và con cái, bạo lực giữa anh chị em với nhau Chính sự đa dạng, phức tạp cùng với tính phổ biến của bạo lực gia đình nên công tác phòng, chống bạo lực gia đình hiện nay gặp nhiều khó khăn

Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề nên người viết chọn đề tài “Công tác

phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ em ở nước ta trong xã hội hiện nay – thực trạng tại tỉnh Hậu Giang” nhằm đi sâu vào vấn đề phòng, chống bạo lực

gia đình ở nước ta nói chung và ở Hậu Giang nói riêng, đồng thời có cái nhìn thấu đáu hơn về tình trạng bạo lực gia đình cũng như đề ra những giải pháp nhằm hạn chế tối ưu tình trạng bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu các quy định của pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình hiện nay, đồng thời xem xét thực trạng về bạo lực gia đình tại tỉnh Hậu Giang để tìm ra một số giải pháp pháp lý nhằm ngăn chặn có hiệu

quả hành vi này

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào các quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, và kết hợp với các quy định có liên quan trong các văn bản pháp luật khác

Bên cạnh đó, người viết còn kết hợp với vấn đề thực tiển tại tỉnh Hậu Giang, nơi địa phương đang sinh sống để thấy được thực trạng bạo lực gia đình tại địa phương, đồng thời kết hợp với một số văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh liên quan đến tình hình bạo lực gia đình ở tỉnh Hậu Giang để đưa ra cái nhìn chuẩn xác hơn về tình trạng bạo lực gia đình ở Hậu Giang

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Người viết dựa theo học thuyết Mac – Lê, gồm chủ nghĩa

duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng khi nghiên cứu đề tài bao gồm: Quy nạp, Diễn dịch, Phân tích, Tổng hợp…

5 Kết cấu luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về bạo lực gia đình và quy định của pháp luật việt nam

về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ em

Chương 2: Quy định của pháp luật về Công tác phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ em ở nước ta hiện nay

Chương 3: Thực trạng – nguyên nhân, giải pháp về bạo lực gia đình ở tỉnh Hậu Giang

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BẠO LỰC VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁ LUẬT VIỆT NAM VỀ

PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI

VỚI PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM 1.1 Tổng quan về bạo lực gia đình

1.1.1 Các khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm gia đình và thành viên gia đình

Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các

mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng

và hoặc quan hệ giáo dục,[1] Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài Thực tế, gia đình có những ảnh hưởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội

Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội Vì vậy, có

thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội

mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người Gia đình là

một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó

cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người.[2]

Không giống bất cứ nhóm xã hội nào khác, gia đình có sự đan xen các yếu tố sinh học, kinh tế, tâm lý, văn hóa Những mối liên hệ cơ bản của gia đình bao gồm

vợ chồng, cha mẹ và con, ông bà và cháu, những mối liên hệ khác: cô, dì, chú, bác với cháu, cha mẹ chồng và con dâu, cha mẹ vợ và con rể Mối quan hệ gia đình được thể hiện ở các khía cạnh như: có đời sống tình dục, sinh con và nuôi dạy con cái, lao động tạo ra của cải vật chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp cho xã hội Mối

1 Sách giáo khoa môn Giáo dục công dân lớp 10 của Việt Nam, nhà xuất bản Giáo dục, năm 1995

2 Trung tâm Thông tin (tổng hợp) (21/08/2006) “MẸ KỂ CON NGHE” (bằng tiếng Việt) Hội Liên hiệp phụ

nữ Việt Nam Bản gốc lưu trữ 21/08/2006

Trang 12

liên hệ này có thể dựa trên những căn cứ pháp lý hoặc có thể dựa trên những căn cứ thực tế một cách tự nhiên, tự phát

Dưới góc độ pháp lý, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau hôn

nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật này (Điều 8, Luật Hôn nhân và gia

đình năm 2000)

Tuy nhiên, trong thực tế đời sống cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm gia đình: gia đình là tập hợp những người cùng có tên trong một sổ hộ khẩu; gia đình là tập hợp những người cùng chung sống với nhau dưới một mái nhà…

Xuất phát từ những quan niệm khác nhau về gia đình dẫn tới những quan niệm khác nhau về thành viên gia đình

Thành viên gia đình có thể được hiểu là những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng; hoặc cũng có quan điểm cho rằng thành viên gia đình là những người cùng được ghi tên trong một sổ hộ khẩu; hoặc là những người cùng sống trong một gia đình…

Thành viên gia đình hiểu theo nghĩa truyền thống là tất cả những người trong cùng dòng họ, trong một đại gia đình từ cụ, kỵ, ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, cháu chắt (bao gồm cả con dâu, con rể, cháu dâu, cháu rể )

Thành viên gia đình hiểu theo nghĩa hiện đại là những người sống trong cùng một gia đình, có đời sống chung về mặt vật chất và tinh thần như cha mẹ và con cái,

vợ và chồng, những người khác sống cùng như người giúp việc, giữa những người đã từng là con dâu với cha mẹ chồng, đã từng là con rể với cha mẹ vợ, giữa những người sống chung với nhau như vợ chồng Những người này có một khoảng thời gian sống chung với nhau ổn định, có sự quan tâm chia sẻ với nhau những công việc của gia đình và xã hội, từ đó hình thành nên mối liên hệ đặc biệt về tâm lý, tình cảm, tạo nên cách ứng xử giữa họ với nhau Theo chúng tôi, đây là quan niệm đúng đắn về thành viên gia đình, có thể áp dụng trong các quan hệ pháp lý bởi vì sự điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cần xuất phát từ mối quan hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau giữa những cá nhân là thành viên gia đình chứ không đơn thuần

xuất phát từ những quan hệ như hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng

Trang 13

1.1.1.2 Khái niệm bạo lực gia đình

Theo điều 1, khoản 2, Luật Phòng, chống Bạo Lực Gia Đình “Bạo lực gia

đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại

về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình ” hoặc bạo lực

đối với phụ nữ và trẻ em là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội một cách cố ý của một hoặc một số người, dùng sức mạnh gây tổn hại về vậc chất, tinh thần, tình dục, kinh tế đối với phụ nữ và trẻ em

Như vậy, dấu hiệu đầu tiên của bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em đó là dùng sức mạnh gây tổn hại cho người khác một cách trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, bị

xã hội lên án, bị pháp luật cấm, luôn được phòng ngừa và thường xuyên bị xử lý theo quy định của pháp luật những hành vi dùng sức mạnh hợp pháp có thể có dấu hiệu trấn áp, cưỡng chế, buộc cấm thực hiện những hành vi nhất định…thậm chí là cách li khỏi đời sống xã hội nhằm trấn áp và cưỡng chế tội phạm (trong đó có phụ nữ và trẻ

em ) vi phạm pháp luật thì không được xem là bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em

1.2 Chủ thể của bạo lực gia đình

Nếu như, đối tượng thường phải chịu hậu quả của bạo lực rất dể nhận thấy đó

là những người yếu thế mà phần lớn là phụ nữ và trẻ em thì đối tượng gây bạo lực rất

đa dạng, tuy chưa đủ căn cứ cần thiết để khẳng định (vì chưa có cơ quan quản lý và chưa có số liệu thống kê về vấn đề này) nhưng trong phạm vi quan sát thì bạo lực đối với phụ nữ phần lớn là do nam giới thực hiện, và bạo lực đối với trẻ em là do người lớn thực hiện

Điểm chung duy nhất có thể nhận thấy chủ thể thực hiện hành vi bạo lực phần lớn là những người mà phụ nữ và trẻ em lệ thuộc vào họ như: chồng, con trai, người sử dụng lao động, cha, mẹ hoặc người nuôi dưỡng, người cho ở nhờ, thầy cô giáo, bảo mẫu, người quản lý… Như vậy một trong những biện pháp phòng ngừa cần thiết là hổ trợ để tăng tính độc lập của phụ nữ và tăng cường kiểm tra, giám sát tại các trường học, các cơ sở nuôi dạy trẻ em, sử dụng lao động trẻ em, xử lý nghiêm minh đối với các cơ sở vi phạm

1.3 Biểu hiện của bạo lực gia đình

Hành vi bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em bao giờ cũng được thực hiện với lổi

cố ý, chủ yếu bằng hành động nhưng cũng không loại trừ việc thực hiện bằng việc không hành động như: Cha, mẹ bỏ mặt con cái, không cho ăn, không chăm sóc, không quan tâm, không tiếp xúc…vì vậy, việc xác định có hay không có tình trạng

Trang 14

bạo lực là không phải dễ dàng, phải đặc vào những hoàn cảnh và mối quan hệ cụ thể mới xác định được

1.4 Các hành vi đƣợc xem là bạo lực gia đình

Mỗi hình thức bạo lực có thể được biểu hiện dưới nhiều hành vi khác nhau Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã quy định các hành vi bạo lực bao gồm:

- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm

- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà

và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở

Tổng hợp tất cả những hành vi trên, ta có thể thấy được rằng các hành vi bạo lực gia đình hiện diện lên bốn nhóm hành vi cơ bản: Hành vi bạo lực về thể chất, hành vi bạo lực về tinh thần, hành vi bạo lực về kinh tế, và hành vi bạo lực về tình

dục Đối với hành vi bạo lực về thể chất là hành vi như “Hành hạ, ngược đãi, đánh

đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng”, đây là một trong

những hành vi rất phổ biến ở nước hiện nay, nạn nhân chủ yếu là những người yếu thế, họ không có sức chống cự hoặc bị phụ thuộc vào người gây ra hành vi…chẳng hạn như hành vi chồng đánh vợ, con cái ngược đãi ông bà…và hậu quả để lại là những nổi đau về thể xác, hoặc mất năng lực hành vi dân sự hành vi bạo lực về tinh

thần hiện nay cũng diễn ra rất phổ biến như hành vi “Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác

Trang 15

xúc phạm danh dự, nhân phẩm, Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ” những hành vi này thường ít nhận thấy và rất

khó xác định, và thường để lại những nổi đau dai dẳn và rất khó để hàn gắn, điển hình như trường hợp: Chồng xỉ nhục vợ trước đám đông, cha, mẹ ép ghả con theo quan niệm cha mẹ đặc đâu con ngồi đó…những hành vi đó ít nhiều gì cũng gây ãnh hưỡng đến tâm lí đối với nạn nhân

Bên cạnh đó hành vi bạo lực về tình dục hiện nay cũng rất phổ biến và không

thể chấp nhận được như hành vi “Cưỡng ép quan hệ tinh dục”, hành vi này để lại hậu

quả vô cùng nghiêm trọng, có thể khiến cho nạn nhân rối loạn tâm lí, trầm cảm hoặc

có thể là tâm thần, đôi khi hậu quả của hành vi này hiện diện lên những nét hành vi bạo lực tinh thần, do vậy hai hành vi này thường có tính tác động lẫn nhau Còn đối

với hành vi bạo lực về kinh tế bao gồm những hành vi như “Ngăn cản việc thực hiện

quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau, Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc

có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính” những hành vi này

thường gắn liền với vấn đề vật chất, người gây ra hành vi lợi dụng sức mạnh, quyền lực để trấn áp những thành viên yếu thế hơn nhằm phục vụ cho nhu cầu hằng ngày gắn liền vật chất, hoặc vì quyền lợi riêng mà ngăn cản nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông,

bà, cha mẹ…do vậy, khi phân tích bốn nhóm hành vi trên, ta có thể thấy được rằng đôi khi các hành vi thường có thể tác động qua lại lẫn nhau, hành vi này đôi khi là

tiền đề dẫn đến hành vi kia, hoặc có thể dẫn đến hậu quả của hành vi khác Ví dụ như

hành vi cha, mẹ bắt con đi xin ăn, nếu không tuân theo thì sẽ bị đánh…trường hợp

này ta thấy hành vi trên tồn tại ba dạng hành vi bạo lực: bạo lực về kinh tế, bạo lực về tinh thần, và bạo lực về thể chất…

1.5 Phân loại hành vi bạo lực gia đình

1.5.1 Bạo lực về thể chất

Bạo lực về thể chất là hành vi xâm hại trực tiếp đến tính mạng sức khỏe phụ

nữ và trẻ em như: Đánh đập, ngược đãi, hành hạ về mặt thể xác, làm tổn hại đến sức

Trang 16

khỏe, thậm chí tước đoạt tính mạng của họ…những hành vi này thường khiến cho nạn nhân đau đớn, gây thương tích ở mức độ khác nhau, thậm chí dẫn đến tử vong Theo kết quả khảo sát tại 8 tỉnh ở 8 vùng trên cả nước do ủy ban về các vấn

đề xã hội của quốc hội tiến hành trong 6 tháng đầu năm 2006 cho thấy hàng năm có tới 2/3 gia đình có bạo lực về thể chất, cũng theo báo cáo của bộ công an, trên toàn quốc, cứ khoảng 2-3 ngày thì có một người bị giết có liên quan đến bạo lực gia đình

Có những năm ngành tòa án thống kê lên tới 14% số vụ giết người liên quan đến bạo lực gia đình

Ví dụ điển hình về trường hợp của Bác sĩ Phạm Kha Ly vì nghi vợ ngoại tình

mà đánh đập vợ dã man trong khi vợ đang mang thai… Theo chị Loan, sau khi nghe tin chị có thai, Kha Ly bồng chị vào phòng rồi khóa cửa, lột hết quần áo của chị, và dùng dây xích khóa hai tay chị vào thanh giường Sau đó Kha Ly vừa mắng chửi vừa

đánh chị rất dã man, Ngày 18.8, chị Trần Cẩm Loan (SN 1981, công tác tại Chi Cục

Thú Y TP Cần Thơ), đã gửi đơn đến cơ quan chức năng tố cáo chồng là bác sĩ Phạm Kha Ly (SN 1982, bác sỹ Khoa Tiêu hóa - Huyết học thuộc Bệnh viện Đa khoa trung ương Cần Thơ) về hành vi hành hung vợ dã man dẫn đến sẩy thai và bỏ vợ Theo đơn, chị Loan và Kha Ly kết hôn ngày 29.12.2012 sau hai năm tìm hiểu và yêu nhau Vào khoảng 9h ngày 22.3.2013 sau khi nghe chị Loan cho hay chị có thai, Kha Ly tỏ

vẻ rất vui mừng và đã bồng chị vào phòng Nhưng sau khi khóa cửa phòng, Kha Ly lột hết quần áo trên người chị Loan và dùng dây xích khóa hai tay chị vào thanh giường Tiếp đó, Kha Ly vừa mắng chửi thậm tệ, vừa đánh chị rất dã man Không hiểu chuyện gì chị Loan đã khóc lóc van xin chồng đừng đánh Nhưng chị càng khóc Kha Ly càng đánh chị nhiều hơn Sau đó, Kha Ly đã dùng dao dọa chặt ngón tay, rạch mặt, cắt cổ chị để ép chị Loan phải kí vào đơn ly hôn mà anh ta đã soạn sẵn với

lý do: lấy người khác mang thai Đáng nói hơn, Kha Ly còn dùng dao cắt hết mái tóc dài của chị… đây là một trong những trường hợp điển hình gần đây về tình trạng bạo lực gia đình về thể chất, và đặc biệt hơn chủ thể gây ra bạo hành lại là tầng lớp trí thức, hành vi thật đáng lên án trong xã hội

1.5.2 Bạo lực về tình dục

Bạo lực về tình dục là vấn đề nổi cộm gây nhức nhối dư luận trong thời gian gần đây, việc thừa nhận đó là hình thức độc lập hay không cũng còn nhiều ý kiến trái chiều nhau Tuy nhiên, do mức độ nghiêm trọng cũng như tính nhân văn, tính đột phá của vấn đề, pháp luật vẫn đề cập hành vi này

Trang 17

Bạo lực về tình dục thường được thể hiện dưới dạng: Cưỡng ép quan hệ tình dục, hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu với trẻ em, quấy rối tình dục, ép buộc sử dụng văn hóa phẩm đồi trụy để thỏa mãn nhu cầu tình dục…

Thực tế thì dạng bạo lực này không còn quá mới mẻ, ngay cả ở Việt Nam, nơi hiện nay vẩn còn có sự né tránh vấn đề tế nhị và nhạy cảm này cũng tồn tại một con số làm giật mình các nhà nghiên cứu: Có tới 30% các cặp vợ chồng có hiện tượng

ép buộc quan hệ tình dục, đối với trẻ em, những vụ việc, những con số về nạn hiếp dâm, lạm dụng tình dục trẻ em có chiều hướng gia tăng trong những năm gần đây Hậu quả của lối sống đồi trụy, buông thả, không chỉ khiến các em gái là nạn nhân của xâm phạm tình dục mà còn cả các em trai Tại hội nghị phòng chống xâm hại trẻ em, bộ công an cho biết: Từ năm 2005-2007, số vụ xâm phạm trẻ em lên tới 5.070 vụ, trong đó số vụ xâm hại tình dục trẻ em chiếm tơi 56,3%

Hậu quả để lại hành vi này ở mức độ nhẹ là gây bức xúc tâm lý cho các nạn nhân phụ nữ và trẻ em, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình và tương lai của họ, trường hợp nặng hơn như: trầm cảm, thậm chí tử vong hoặc tự tử…

Ví dụ điển hình là trường hợp ở bình dương, vì men rượu mà người cha nhẫn

tâm hảm hiếp chính con gái ruột của mình, khoảng 15 giờ, ngày 13/3/2013, sau khi đi nhậu về, ông Trần Văn Thực (sinh năm 1980, ngụ tại bình dương) thấy cháu H (con gái ruột của ông thực, sinh năm 2001), đang nằm ngủ nên ông Thực tiến đến thực hiện hành vi đồi bại mặc dù cháu H khóc lóc, kêu la…đến chiều cùng ngày, cháu H

kể toàn bộ sự việc cho mẹ nghe và cùng mẹ đến cơ quan tố cáo hành vi của Thực, và tòa án tối cao Thành Phố Hồ Chí Minh đã bác đơn kháng cáo và tuyên bố đối với bị cáo Trần Văn Thực 18 năm tù về tội hiếp dâm trẻ em

1.5.3 Bạo lực về tinh thần

Bạo lực tinh thần là hành vi lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, làm nhục, buộc làm những việc trái đạo đức, thường xuyên tạo áp lực về tâm lí, gây tổn thương tinh thần dưới những hình thức như: Đe dọa bằng lời nói, thư, tin nhắn khủng bố…

Hình thức bạo lực tinh thần cũng tương đối phổ biến nhưng thường không biểu hiện rỏ nét và dễ nhận biết như bạo lực về thể chất, bên cạnh đó bạo lực về tình dục cũng gây những tổn thương tinh thần vô cùng mạnh mẽ, đôi khi bạo lực tình dục cũng là nguyên nhân dẫn đến bạo lực tinh thần, chẵng hạn như bạo lực tình dục sẽ khiến cho nạn nhân bị trầm cảm…

Trang 18

Những hành vi của bạo lực tinh thần thường tác động đến tâm lí của nạn nhân, khiến họ cảm thấy xấu hổ, tủi nhục, và bị cô lập…nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng trẻ em sống trong gia đình có tình trạng bạo lực tinh thần thường bị ảnh đến hưởng tâm lí, thụ động, học kém…và có nguy cơ lặp lại những hành vi mà mình

chứng kiến…điển hình là trường hợp: chồng lột quần áo và nhốt vợ vào chuồng chó

rồi gọi mẹ vợ sang chứng kiến tại Yên Dũng, Bắc Giang…hay trường hợp mẹ xích con trai vào cột điện ven đường tại Đà Nẵng…những việc làm đó sẽ ảnh hưởng đến

tâm lí trực tiếp của nạn nhân và nặng hơn nữa sẽ dẫn đến trường hợp trầm cảm cho nạn nhân

1.5.4 Bạo lực về kinh tế

Bạo lực kinh tế là việc dùng sức mạnh để cưỡng bức, bóc lột sức lao động, buộc làm việc trong những môi trường độc hại, gán người làm trả nợ, kiểm soát thu nhập, chiếm đoạt, hủy hoại tài sản…điển hình về việc bạo lực kinh tế đối với phụ nữ

và trẻ em là việc chồng bắt vợ, con đi làm kiếm tiền vượt quá sức khỏe, khả năng để dùng tiền đó vào việc rượu chè, cờ bạc; phong tỏa kinh tế, kiểm soát thu nhập để bắt

vợ, con phải ở thế phụ thuộc vào tài chính; bắt trẻ em đi xin ăn, kiếm tiền bằng mọi cách để nộp đủ định mức; hành hạ và bóc lột lao động trẻ em, buộc phụ nữ và trẻ em làm thêm giờ…

Vấn đề bạo lực về kinh tế thường rất phổ biến ở vùng nông thôn, nơi tư tưởng gia trưởng và lạc hậu còn ngự trị trong các gia đình hoặc ở thành thị, nơi các

em nhỏ lang thang kiếm sống, hoặc trong những hoàn cảnh đặc biệt như các em nhỏ

bị mồ côi, bị bỏ rơi, người lao động khó kiếm việc làm…rất dể trở thành nạn nhân của bạo lực kinh tế

Ví dụ điển hình về trường hợp ông Nguyễn Văn Đậm (Ngụ tại Huyện Long

Mỹ, Tỉnh Hậu Giang) cũng vì ham mê cờ bạc mà bắt vợ con của mình đi làm thuê để lấy tiền, chị Nguyễn Thị Loan (Vợ của ông Nguyễn Văn Đậm) hằng ngày phải đi làm thuê, công việc của chị là cắt lúa mướn hoặt làm cỏ vườn, thu nhập của chị rất bấp bênh, tuy nhiên, tiền chị Loan kiếm được đều phục vụ cho việc cờ bạc của chồng, có những lần thua cờ bạc hoặc chị Loan không làm ra tiền thì hành vi đánh đập, chửi bới tiếp tục diễn ra, vì con mà chị loan cố gắng nhịn nhục sống cho qua ngày…đây là một trong những hành vi rất điển hình về vấn đề bạo gia đình nói chung và bạo lực kinh tế nói riêng ở nước ta hiện nay

Trang 19

1.6 Một số yếu tố tác động đến bạo lực gia đình

1.6.1 Phong tục, tập quán

Việt Nam là một nước Á Đông với tư tưởng gia trưởng còn nặng nề, điều này

có ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay Tính gia trưởng được chấp nhận trong gia đình và ngoài xã hội đã tạo ra một vị trí đặc biệt cho những người đàn ông trong gia đình: họ có "quyền" quyết định những vấn đề quan trọng, quyết định thái độ ứng xử với các thành viên khác, họ có quyền “dạy dỗ” vợ con theo

ý mình Thậm chí, có người coi việc sử dụng bạo lực là ứng xử cần thiết để đảm bảo hạnh phúc gia đình Đi cùng với đó là tư tưởng “đèn nhà ai nhà nấy rạng”, "vợ chồng đóng cửa bảo nhau" nên những việc trong gia đình thì những người khác thường không muốn can thiệp vào Đây là những yếu tố gây ra khó khăn rất lớn trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình hiện nay

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận những truyền thống tốt đẹp như: kính già yêu trẻ, con cái phải hiếu thảo với cha mẹ hay những triết lý Nho giáo tiến bộ

“Phu thê cung kính như khách” đã và đang có những tác động tích cực tới việc bảo vệ

những thành viên yếu thế trong các gia đình: người già được kính trọng, trẻ con được yêu thương, vợ chồng tôn trọng lẫn nhau… Những tư tưởng này nếu được phát huy

và áp dụng phù hợp với xã hội hiện nay thì sẽ góp phần quan trọng, tích cực trong phòng, chống bạo lực trong các gia đình Việt Nam

1.6.2 Tâm lý

Khái niệm tâm lý được đề cập ở đây không phải là tâm lý xã hội nói chung mà

là tâm lý của từng thành viên trong gia đình với tư cách là cha, mẹ, con, anh, chị,

em…với nhau và với vấn đề bạo lực gia đình

Tâm lý của mỗi cặp vợ chồng nói chung vẫn là: “Phu xướng phụ tùy”, đề cao vai trò tự chủ của đàn ông trong gia đình Điều này có lúc đã làm mất đi quyền tự vệ của người vợ trước những hành vi bạo lực của chồng mình Điều này đã ăn sâu vào suy nghĩ của rất nhiều thế hệ người Việt Nam: vợ đánh chồng luôn bị coi là hành vi xấu, bị cả xã hội lên án; còn người chồng đánh vợ thì mặc nhiên được gọi là “biết dạy vợ”; hành vi “đòi hỏi” của người chồng luôn được coi là chính đáng và người vợ có nghĩa vụ phải phục tùng theo… Hơn thế nữa, với người đàn ông, việc sử dụng sức mạnh thể chất để khẳng định mình dường như đã là một thói quen, một điều không thể thiếu; và thực sự khả năng kiềm chế của họ cũng không bằng phụ nữ nên rất dễ

“động chân động tay” khi phải giải quyết các mâu thuẫn trong gia đình Tuy nhiên,

Trang 20

cũng cần phải nhìn nhận rằng: trong suy nghĩ của một số phụ nữ, việc đay nghiến, chì chiết chồng là hoàn toàn bình thường, mà không hề nghĩ đó là hành vi bạo lực, gây ra những tổn thương về tinh thần cho người chồng

Cha mẹ luôn dành những tình cảm yêu thương, trân trọng cho con cái mình

Song quan niệm về giáo dục của phần đông người Việt vẫn là “yêu cho roi cho vọt”

Chính vì vậy, việc cha mẹ đánh đập, mắng mỏ con cái được coi là bình thường, thậm chí là cần thiết và không thể thiếu để dạy con thành người Những đứa con trong gia đình phải chấp nhận sự giáo dục này, và cuối cùng cũng cảm thấy đó là bình thường

để chịu đựng Bên cạnh đó, nhiều bậc cha mẹ vẫn có suy nghĩ con cái là “của mình”, nên mình có quyền đối xử tùy ý, người khác không được can thiệp vào

Với các thành viên khác trong gia đình, tâm lý “kính già yêu trẻ”, “kính trên

nhường dưới” vẫn được đề cao Tuy nhiên, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố văn hóa,

sự áp đặt của những thành viên lớn tuổi với các thành viên nhỏ hơn trong gia đình là

khá phổ biến và thường xuyên vì quan niệm “khôn không đến trẻ, khỏe không đến

già” Trong xã hội hiện nay, điều này thường làm phát sinh tư tưởng chống đối ở giới

trẻ khiến các mối quan hệ trong gia đình trở nên căng thẳng, dễ làm phát sinh bạo lực gia đình

1.6.3 Điều kiện kinh tế xã hội

Điều kiện kinh tế xã hội luôn là yếu tố tác động mạnh tới các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội Kinh tế khó khăn thường gây nên sự căng thẳng, tranh chấp trong gia đình, là nhân tố dẫn tới các hành vi bạo lực về thể chất, tinh thần không đáng có Việc thiếu thốn về vật chất cũng làm cho các thành viên trong gia đình không có điều kiện giao lưu, học tập, tiếp cận những tri thức tiến bộ cũng như không được định hướng về cách ứng xử trong gia đình, khiến tình trạng bạo lực càng

dễ có nguy cơ xảy ra Tuy nhiên, ở rất nhiều gia đình, dù điều kiện vật chất đầy đủ nhưng vẫn có hiện tượng bạo lực gia đình Điều này có thể được lý giải như sau: khi kinh tế phát triển, các thành viên trong gia đình có xu hướng thỏa mãn các lợi ích cá nhân mà thiếu đi sự quan tâm chăm sóc tới nhau; hoặc vì quá ham mê các lợi ích kinh

tế mà phát sinh tranh chấp giữa những người thân trong gia đình Ở những gia đình này, bạo lực về tinh thần có xu hướng phát triển hơn bạo lực về thể chất, kinh tế hay tình dục bởi vì những nhu cầu này đều có thể được đáp ứng phần nào bằng tiền bạc

Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố văn hóa bên ngoài, xu hướng bạo lực có chiều hướng gia tăng trong xã hội Việt Nam: Mọi người đều dễ dàng tìm

Trang 21

đến việc sử dụng bạo lực để giải quyết các mâu thuẫn phát sinh Ngoài ra, sự suy giảm các giá trị truyền thống cũng làm gia tăng những hành vi bạo lực gia đình vốn hiếm gặp trước đây: Vợ đánh chồng, con cái đánh đập, mắng chửi bố mẹ, bạo lực tình dục trong gia đình, đặc biệt là với trẻ em…

1.6.4 Định kiến giới

Quan niệm trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt Nam

từ hàng ngàn năm nay và thực sự đã và đang cướp đi nhiều quyền lợi chính đáng của người phụ nữ Người vợ, người mẹ thường không có được sự tôn trọng xứng đáng trong gia đình, không được hưởng những quyền lợi về vật chất, về tinh thần và thường xuyên phải chịu những tổn thương: bị đánh đập, bị xúc phạm danh dự, bị

cưỡng ép tình dục… Ngay cả với trẻ em, quan niệm “con gái là con người ta” cũng

khiến nhiều bé gái bị thiệt thòi hơn so với bé trai Sự bất bình đẳng về giới này được

cả xã hội chấp nhận, thậm chí cả chính những người phụ nữ cũng coi đó là bình thường Điều này cũng là nguyên nhân trực tiếp nhất dẫn tới nạn bạo hành với người phụ nữ trong gia đình

1.6.5 Trình độ dân trí

Những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng tới việc phòng, chống bạo lực gia đình nêu trên đều có thể được giải quyết phần nào bằng việc nâng cao trình độ dân trí Khi được tiếp xúc với những tri thức tiến bộ, được hiểu biết về vai trò của gia đình, quyền

và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình cũng như những quy định của pháp luật

về phòng, chống bạo lực gia đình thì hành vi vi phạm trong lĩnh vực này sẽ giảm xuống Như đã phân tích ở trên, những yếu tố như tâm lý, phong tục tập quán, quan điểm giới… đã làm cho những người có hành vi bạo lực gia đình, nạn nhân và những người xung quanh, thậm chí cả những cơ quan có thẩm quyền cho rằng hành vi đó là đúng, là được phép và không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào Chính vì vậy mà tình trạng bạo lực gia đình vẫn phổ biến và không được ngăn chặn một cách hiệu quả Nhưng nếu trình độ dân trí được nâng cao, vị trí của gia đình và mỗi thành viên gia đình được khẳng định, kiến thức pháp luật được cung cấp đầy đủ thì những hành vi bạo lực sẽ khó có cơ hội phát triển: Nạn nhân hiểu rõ quyền của mình và có thể áp dụng những biện pháp tự bảo vệ cần thiết; người có hành vi bạo lực biết tính chất sai trái của hành vi và những hậu quả có thể phải gánh chịu, do đó sẽ phải cân nhắc kỹ càng; những người xung quanh, những cơ quan có thẩm quyền khi biết được nghĩa vụ

Trang 22

và quyền lợi của mình sẽ tham gia phòng, chống bạo lực gia đình một cách tích cực, chủ động hơn

1.7 Sơ lƣợc về quy định của pháp luật việt nam về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ em

1.7.1 Các quyền của phụ nữ theo pháp luật Việt Nam

Theo Hiến Pháp, các đạo Luật, và các văn bản pháp luật khác, quyền của phụ

nữ bao gồm:

- Quyền bình đẳng:

Bình đẳng nam nữ là quyền quan trọng nhất được quy định trong hệ thống các quyền của phụ nữ, hàng ngàn năm, quyền bình đẳng là giá trị to lớn bị chôn vùi Thân phận người phụ nữ trong xã hội trước đây, trừ những bộ tộc giữ gìn truyền thống mẫu hệ, đều bị xem nhẹ và còn bị chà đạp thô bạo đối với những quốc gia phương đông và những quốc gia kém phát triển khác trên thế giới, vị trí của người phụ nữ không được thừa nhận cả trong gia đình ngoài xã hội Quyền của phụ nữ trong gia đình lệ thuộc vào người chồng, người phụ nữ không được tham gia các khâu quản

lý xã hội

Cách mạng tháng tám đã mang lại quyền bình đẳng như quà tặng vô giá cho

phụ nữ việt nam, quy định “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”

tại điều thứ 9 hiến pháp 1946 là minh chứng đầy đủ và có ý nghĩa lớn về mặt pháp lý đối với quyền của phụ nữ ở Việt Nam

Điều 5 Bộ luật dân sự 2005 quy định nguyên tắc bình đẳng như sau:“Trong

quan hệ dân sự các bên đều bình đẳng, không được lấy lí do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau”

Điều 109.1 bộ luật lao động quy định: “Nhà nước đảm bảo quyền làm việc

của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới…”

Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới của luật bình đẳng giới quy định:

“Nam nữ bình đẳng trong các lỉnh vực của đời sống xã hội và gia đình” (Điều 6.1)

Như vậy, từ các quy định của pháp luật việt nam ta thấy được quyền bình đẳng là quyền quan trọng nhất, là gốc của các vấn đề về giới trong tương quan xã hội giữa nữ giới và nam giới Sở dĩ như vậy là gì bình đẳng với tư cách là giá trị nhân văn đồng thời là giá trị xã hội căn bản chính là cơ sở để có thể thực hiện các quyền khác

Trang 23

- Quyền tự do ngôn luận:

Người phụ nữ trong chế độ cũ thường bị khinh rẻ, không được tham gia bàn bạc về các hoạt động sự kiện của đất nước, xã hội, gia đình Dưới thời phong kiến,

nữ nhi chỉ có quyền lo lắng việc hậu cung và không được bàn luận chính sự…ngày nay, phụ nữ có quyền tự do ngôn luận, tức là có quyền cất tiếng nói của mình, được luận đàm các việc liên quan đến bản thân, gia đình, và xã hội, bởi vì, tự do ngôn luận

là một trong những phương thức bày tỏ ý chí của phụ nữ Quyền tự do ngôn luận được quy định với tư cách là quyền căn bản của công dân được quy định tại điều 69 hiến pháp 1992

+ Lao động nữ không được đối xữ trong lao động;

+ Nghiêm cấm việc sử dụng lao động nữ làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do bộ lao động thương binh và xã hội quy định;

+ Lao động nữ được chăm sóc sức khỏe định kỳ trong thời gian lao động, công tác;

+ Lao động nữ được dành thời gian trong thời gian lao động để cho con bú… + Cấm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc sa thải lao động nữ đang có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi…

- Quyền tự do tín ngưỡng: Phụ nữ có đức tin và niềm tin mãnh liệt, nếu biết sử dụng thì có thể mang lại những lợi ích to lớn, phụ nữ cũng như đàn ông có quyền theo đạo giáo nào, giữ đạo, chuyễn đạo, mà không bị pháp luật hạn chế hoặc tham gia các khóa lễ miễn là không quy phạm pháp luật, pháp luật không quy định nhưng quyền nào dành riêng cho phụ nữ vì nó được coi là một trong nhưng quyền chung cơ bản của công dân

- Quyền được hưỡng các chế độ an sinh xã hội và phúc lợi xã hội: Quyền này của phụ nữ được thể hiện rỏ nét nhất trong luật bảo hiểm xã hội 2006, phụ nữ cũng như nam giới đều có thể được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội như: chế độ đau ốm, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp, mất sức lao động…

Trang 24

- Quyền được tôn trọng về danh dự, nhân phẩm: Trong thực tiễn, nhiều phụ

nữ, kể cả người già và trẻ em bị đối xử với một thái độ thiếu tôn trọng, trọng nam khinh nữ đã hình thành từ lâu Do đó, không chỉ tồn tại tình trạng người phụ nữ bị hành hạ về thể xác mà còn bị hành hạ cả về danh dự, nhân phẩm, tinh thần Chính vì vậy, các quy định của pháp luật cũng đề cập loại loại quyền này ở nhiều đạo luật khác nhau

+ Điều 111.1 bộ luật lao động quy định: “Nghiêm cấm người sử dụng lao động

có hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ”

+ Điều 18.4 luật cán bộ công chức 2008 quy định: Những việc cán bộ công

chức không được làm liên quan đến đạo đức công vụ: “…phân biệt đối xử dân tộc,

nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức”

+ Điều 2.1b luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 coi hành vi “Lăng mạ

hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm” là một dạng bạo lực gia đình

Bên cạnh đó pháp luật còn quy định về quyền bất khả xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe…được quy định trong bộ luật hình sự và hiến pháp về quyền con người

1.7.2 Pháp luật bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong lĩnh vực chính trị, xã hội và học tập

- Bảo vệ các quyền chính trị xã hội và học tập của phụ nữ được ghi nhận trong hầu hết các văn bản Hiến pháp của Việt Nam, như Hiến pháp 1946, Hiến pháp

1959, Hiến pháp 1980 và đặc biệt Hiến pháp 1992 có nhiều quy định để bảo vệ các

quyền chính trị của phụ nữ Tại điều 63 đã khẳng định: “Công dân nữ và nam có

quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm của phụ nữ" Quy

định này vừa đưa người phụ nữ lên ngang hàng với nam giới, vừa có tính bảo vệ đối với phụ nữ trong lĩnh vực chính trị không cho phép phân biệt đối với phụ nữ về chính trị - xã hội Đây là quy định có tính hiệu lực pháp lý cao nhất và nó trở thành nguyên tắc Hiến Định, mọi quy phạm pháp luật của các đạo luật khác phải phù hợp với nguyên tắc này

Việc bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ còn được quy định tại điều 54 của Hiến Pháp 1992, trong Luật Bầu Cử Đại Biểu Quốc Hội, Luật Bầu Cử Đại Biểu Hội

Trang 25

Đồng Nhân Dân Trong đó khẳng định rõ phụ nữ từ 18 tuổi có quyền bầu cử, đủ 21 tuổi có quyền ứng cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước để tham gia quản lý Nhà

nước, quản lý xã hội "Công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội,

tín ngưỡng tôn giáo… đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử, đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng Nhân dân theo quy định của pháp luật" (Điều 54)

Đặc biệt Điều 130 Bộ luật Hình sự 1999 đã quy định tội xâm phạm quyền

bình đẳng của phụ nữ "Người nào dùng vũ lực hoặc có hành vi nghiêm trọng cản trở

phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội thì bị phạt cảnh cáo đến 1 năm hoặc bị phạt từ 3 tháng đến 1 năm"

Pháp luật quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước, xã hội gia đình trong việc

bảo đảm sự bình đẳng cũng như việc chăm lo giáo dục trẻ em: "Cha mẹ có trách

nhiệm nuôi dạy con cái thành những công dân tốt; nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con" (Điều 64 Hiến pháp 1992) Đặc biệt Hiến

pháp 1992 đã dành hẳn 1 điều để bảo vệ trẻ em: "Trẻ em được gia đình, Nhà nước và

xã hội bảo vệ, chăm sóc giáo dục"

Để bảo vệ trẻ em vừa qua Nhà nước đã ban hành Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Luật có 5 chương, 60 điều trong đó ghi nhận các quyền chính trị xã hội của trẻ em, như không được phân biệt đối xử giữa nam và nữ, thành phần xuất thân, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con riêng, con chung, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội… đều được bảo vệ vệ chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật

Có thể nói các quyền chính trị - xã hội và học tập của phụ nữ và trẻ em ở nước ta được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật Các quy định pháp lý về bảo vệ các quyền chính trị - xã hội của phụ nữ và trẻ em đã nâng cao vị thế phụ nữ và trẻ em

ở nước ta hiện nay với vị thế được pháp luật quy định như vậy rõ ràng nó có tác dụng

to lớn đối với việc phòng chống và ngăn chặn bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay Bởi hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ em là hành vi vi phạm pháp luật

1.7.3 Các quy định của pháp luật về bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm của phụ nữ, trẻ em

Pháp luật ở nước ta đã có rất nhiều quy định để bảo vệ tính mạng sức khoẻ danh dự, nhân phẩm của phụ nữ và trẻ em nhằm ngăn chặn và xử lý những hành vi bạo lực gia đình Các quy định đó đã được đề cập trong nhiều văn bản quy phạm pháp

luật nhưng đầu tiên phải nói là Hiến pháp: "Công dân có quyền bất khả xâm phạm về

Trang 26

thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng sức khoẻ, danh phẩm" Với quy định

này, các hành vi đánh đập xúc phạm danh dự nhân phẩm mang tính bạo lực gia đình của chồng đối với vợ đều vi phạm pháp luật Bởi vì dưới góc độ pháp lý trong quan

hệ hôn nhân là vợ chồng, còn trong quan hệ xã hội dân sự là quan hệ giữa một công dân đối với một công dân, mà công dân với công dân không có quyền xúc phạm danh

dự nhân phẩm hay xâm phạm tính mạng sức khoẻ của nhau

Vấn đề tôn trọng danh dự nhân phẩm uy tín của người phụ nữ còn được Luật

Hôn nhân gia đình năm 2000 khẳng định tại điều 21: "Vợ chồng tôn trọng và giữ gìn

danh dự, nhân phẩm uy tín cho nhau Cấm các hành vi ngược đãi, hành vi xúc phạm danh dự uy tín của nhau"

Luật Hình sự cũng đã có nhiều quy định với những hình phạt thích đáng đối với những hành vi xâm phạm tới tính mạng sức khoẻ, danh dự nhân phẩm của phụ nữ

và trẻ em như tội hành hạ người khác (Điều 110) Nếu như hành vi đối xử tàn ác hành

hạ người khác lệ thuộc mình, nhưng người đó là phụ nữ và trẻ em thì đây là tình tiết tăng nặng và phải chuyển khung hình phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm lên 1 năm đến 3 năm Hoặc tội hiếp dâm ở điều 111: Nếu hành vi hiếp dâm có tính chất loạn luân, làm cho phụ nữ có thai thì phải chuyển khung hình phạt từ 2 năm đến 7 năm (khung 1) lên

7 năm đến 15 năm tù (khung 2) Đối với tội hiếp dâm trẻ em ở điều 112: nếu có tính chất loạn luân hoặc làm cho nạn nhân có thai thì đây là những tình tiết tăng nặng và đều phải chuyển khung hình phạt từ khung 1 lên khung 2, với thời gian bị phạt từ 12

năm lên đến 20 năm

Luật hôn nhân gia đình năm 2000 cũng có nhiều quy định xác định quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, chăm lo việc học tập của con Luật đã khẳng

định: "Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi hành hạ, xúc

phạm con, không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên" (Điều 34)

Để bảo vệ quyền lợi của trẻ em phong ngừa ngăn chặn sự bạo hành trọng gia đình

Luật Hôn nhân gia đình "Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao

động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em, hoặc vì mục đích trục lợi khác" (Khoản 4

Trang 27

em còn có thể đứng lên đấu tranh với những hành vi bạo lực gia đình Chính vì vậy pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định nhằm bảo vệ các tài sản, các lợi ích kinh tế cho phụ nữ và trẻ em

Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định tài sản sở hữu hợp pháp của công dân

đều được Nhà nước bảo vệ: Công dân nam, nữ có quyền ngang nhau về mặt kinh tế (Điều 63) Luật Hôn nhân gia đình cũng khẳng định :vợ chồng bình đẳng với nhau về

mọi mặt trong gia đình (Điều 19)

Như vậy, trong lĩnh vực kinh tế vợ chồng đều bình đẳng với nhau - Điều 27

Luật Hôn nhân gia đình tiếp tục khẳng định: Tài sản chung của vợ chồng là những tài

sản có được trong thời kỳ hôn nhân kể cả quyền sử dụng đất Nếu tài sản chung phải đăng ký quyền sở hữu thì giấy chứng nhận phải ghi tên của cả vợ và chồng Để bảo

vệ quyền lợi của người phụ nữ Luật hôn nhân gia đình quy định: "Vợ chồng có quyền

và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung"

Vấn đề này còn được nhắc lại ở điều 219 của Bộ luật Dân sự 2005

Quyền được sở hữu về tài sản còn được Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ

em ghi rõ: "Trẻ em có quyền có tài sản, quyền thừa kế theo quy định của pháp luật"

(Điều 19) Cha mẹ, người giám hộ hoặc cơ quan tổ chức hữu quan phải giữ gìn quản

lý tài sản của trẻ em và giao lại cho trẻ em theo quy định của pháp luật

Như vậy, các quyền của phụ nữ và trẻ em được xây dựng trên nhiều lĩnh vực

và đưa vào các văn bản pháp luật mà đầu tiên là hiến pháp 1946, sau đó được cụ thể hóa và bổ sung vào hiến pháp 1959, 1980,1992 và các văn bản pháp luật khác trong suốt quá trình hình thành và phát triển của nhà nước việt nam Về hình thức pháp lí, các quyền của phụ nữ và trẻ em được ghi nhận trong nhiều đạo luật, thêm vào đó chính phủ cũng có những chính sách lớn và lâu dài về sự tiến bộ của phụ nữ đồng thời đã tiến hành thành lập các cơ quan triển khai các chính sách đó, đã tạo ra tính phong phú, đồng bộ trong chiến lược vì sự phát triển của phụ nữ và trẻ em trong xã hội hiện nay

Trang 28

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Hiện nay, quy định của pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình ở nước ta

chủ yếu được quy định trong Luật Phòng Chống Bạo Lực Gia Đình 2007, và những chế định quy phạm pháp luật khác có liên quan…ở nước ta hiện nay, vấn đề công tác phòng chống bạo lực gia đình nhìn chung được pháp luật quy định khá chi tiết, cụ thể, tuy nhiên, với mức độ thực tiển về bạo lực gia đình diễn ra khá phổ biến như hiện nay thì công tác phòng chống còn gặp nhiều khó khăn, bên cạnh đó, quy định của pháp luật về vấn đề này còn khá mới mẻ đối với một số người dân, do đó, vấn đề tìm hiểu những quy định của pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình hiện nay ở nước

ta rất cần thiết

2.1 Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình

Theo quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, nguyên tắc của phòng, chống bạo lực gia đình bao gồm:

2.1.1 Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải phù hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

Đây là nguyên tắc chủ đạo trong phòng, chống bạo lực gia đình bởi nhiều lý

do Xuất phát từ thực tế quan hệ trong gia đình thường mang tính khép kín, với các thành viên gia đình cũng như những người xung quanh, việc trong gia đình thì người ngoài ít có cơ hội xen vào Vì thế, những vụ việc bạo hành gia đình thường khó phát hiện, khi bị phát hiện cũng khó xử lý bởi tâm lý e ngại của nạn nhân và cả những người biết chuyện, và thậm chí nếu xử lý rồi thì khả năng tái diễn cũng rất cao vì để tìm ra biện pháp ngăn chặn phù hợp là không dễ Các quy định pháp luật khó vươn tới từng gia đình, bởi nhận thức của người dân về vấn đề này còn hạn chế, sự can thiệp thô bạo của pháp luật có thể dẫn tới phá hủy các mối quan hệ giữa các thành viên gia đình Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải trong vấn đề này là rất quan trọng, góp phần định hướng hành vi của mỗi người: Nạn nhân được trang bị kiến thức để tự bảo vệ; người có thể có hành vi bạo lực thì nhận thức được tính chất, hậu quả của hành vi để tự kiềm chế tốt hơn; những người

Trang 29

xung quanh biết được trách nhiệm tham gia phòng chống bạo lực gia đình và có ứng

xử phù hợp

Việc tuyên truyền giáo dục nếu kết hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc thì sẽ càng được phát huy tốt hơn nữa, bởi vì người Việt Nam nói chung chịu tác động khá lớn từ những tư tưởng này Đặc biệt, ở những nơi

mà quan niệm "phép vua thua lệ làng", trình độ dân trí thấp thì việc giáo dục người dân thông qua các phong tục, tập quán mới có thể phát huy hiệu quả tốt nhất

Pháp luật luôn hướng tới việc ngăn chặn các hành vi phạm tội trước khi xảy ra

để giữ gìn trật tự, tránh những tổn thất cho cộng đồng và xã hội Riêng trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình thì việc phòng ngừa càng có ý nghĩa quan trọng Bởi vì hành vi bạo lực nếu xảy ra thì ít nhiều đã gây ra những tổn thương nhất định cho các thành viên trong gia đình, làm xấu đi mối liên kết và tình cảm gia đình, và việc hàn gắn là không dễ; nếu hành vi bị phát hiện và xử ký theo pháp luật thì quan hệ gia đình

có thể sẽ chuyển biến xấu hơn nữa Vì vậy, cần phải lấy phòng ngừa là chính trong hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình

2.1.2 Hành vi bạo lực gia đình được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật

Đây là một trong những nguyên tắc chung của pháp luật Riêng trong lĩnh vực bạo lực gia đình, việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi càng có ý nghĩa quan trọng, nếu không thì có thể trở thành "thói quen", được chấp nhận với cả nạn nhân, người vi phạm và những người xung quanh Thực tế cho thấy: nếp sống, nếp nghĩ của người Việt Nam nói chung vẫn cho rằng những hành vi bạo lực trong gia đình là bình thường, thậm chí đôi khi là cần thiết Vì thế, những hành vi bạo lực

mà luật quy định thường không được nhìn nhận, từ đó khó phát hiện, và càng khó ngăn chặn, xử lý Do đó, quy định về nguyên tắc này là cần thiết nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của mọi công dân trong lĩnh vực này

Bên cạnh đó, hành vi bạo lực càng kéo dài thì càng gây ra nhiều tổn thương cho nạn nhân, tổn hại tới mối quan hệ gia đình Điều này sẽ được hạn chế rất nhiều nếu hành vi bị phát hiện và xử lý kịp thời

Trang 30

2.1.3 Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; ưu tiên bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ

Giúp đỡ các nạn nhân, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ là điều cần thiết

và đã được pháp luật ghi nhận như một nguyên tắc quan trọng, mọi người đều phải tuân theo Như đã phân tích ở trên, những vấn đề về gia đình, trong đó có bạo lực gia đình thường không nhận được sự quan tâm sâu sắc và đúng đắn của những người xung quanh, bởi vì họ coi đấy là chuyện riêng, chuyện nội bộ của mỗi nhà Từ đó, việc giúp đỡ nạn nhân trở nên hạn chế, nhất là khi họ còn phải lo sợ sự trả thù của người có hành vi bạo lực Ngoài ra, việc giúp nạn nhân như thế nào, bằng những phương tiện gì cũng gây cho họ những lúng túng nhất định, do đó pháp luật cho phép

họ tùy khả năng, tình hình mà đưa ra những xử sự hợp lý nhất, ưu tiên những đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ, người già…

2.1.4 Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình

Bạo lực gia đình từ lâu đã không còn là vấn đề của mỗi gia đình mà còn tiềm

ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định xã hội, do đó việc phòng, chống bạo lực gia đình là trách nhiệm chung của cộng đồng chứ không chỉ là của nhà nước và những người có liên quan Bên cạnh đó, công tác phòng, chống bạo lực gia đình vốn gặp nhiều khó khăn khi triển khai trên thực tế, nên rất cần sự quan tâm phối hợp của tất cả các thành viên trong xã hội Tuy nhiên, hiện nay không có nhiều chủ thể tích cực tham gia công tác này do nhận thức không đúng tầm quan trọng, ý nghĩa của nó Việc quy định nguyên tắc này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình

2.2 Nghĩa vụ của các chủ thể của bạo lực gia đình

2.2.1 Quyền, nghĩa vụ của nạn nhân

Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình được quy định cụ thể tại Điều 5, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, bao gồm:

“1 Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;

Trang 31

b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo

vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;

c) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;

d) Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;

đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật

2 Nạn nhân bạo lực gia đình có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu.”

Nạn nhân bạo lực gia đình, những người đã bị chính người thân của mình gây

ra những thương tổn nhất định, rất cần nhận được sự giúp đỡ của cộng đồng và xã hội Khi hành vi bạo lực đã xảy ra trong gia đình thì những thành viên gia đình vì những mối liên hệ với người thực hiện hành vi bạo lực sẽ rất khó có sự can thiệp mạnh mẽ, dứt khoát cần thiết để bảo vệ nạn nhân Do đó, nạn nhân cần sự giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền để bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của minh Việc quy định đây là quyền của nạn nhân, tức là nghĩa vụ của các chủ thể khác phải thực hiện là hoàn toàn đúng đắn Bởi vì thực tế cho thấy ở rất nhiều nơi, việc can thiệp bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình còn rất e dè vì quan niệm đấy là “chuyện riêng”, là vấn đề tế nhị của các gia đình

Bên cạnh đó, trong rất nhiều trường hợp, nạn nhân bạo lực gia đình cần được giúp đỡ về y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật Những tổn thương về thể chất có thể được chữa lành bằng sự chăm sóc y tế; nhưng với tổn thương về tâm lý, nạn nhân không dễ dàng vượt qua được Những sợ hãi, hoang mang, khủng hoảng, tự ti… có thể theo họ một thời gian dài, khiến họ không thể lấy lại sự cân bằng trong cuộc sống Họ rất cần được tư vấn tâm lý để vượt qua những nỗi ám ảnh này, họ cần được biết rằng họ không có lỗi trong việc để hành vi bạo lực gia đình xảy ra, được hướng dẫn phải xử

sự như thế nào khi những hành vi này tiếp diễn Đặc biệt, họ cần được biết những quy định của pháp luật về vấn đề này để nâng cao khả năng tự bảo vệ trong những trường hợp tương tự

Ngoài ra, nạn nhân cũng cần có một nơi để tạm lánh để có thời gian cách ly nhất định với người thực hiện hành vi bạo lực Điều này có tác dụng làm cho cả hai bên có thời gian, cơ hội để nhìn nhận sự việc một cách rõ ràng hơn, bình tĩnh hơn Với những kẻ thực hiện hành vi bạo lực một cách côn đồ, hung hãn, không có điểm dừng thì nơi tạm lánh này còn là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo về nạn nhân Thực tế

Trang 32

đã có rất nhiều trường hợp khi hành vi bạo lực bị phát hiện, nạn nhân đã được áp dụng một số biện pháp chăm sóc, bảo vệ, người thực hiện hành vi đã được thông tin

về những sai phạm của mình, nhưng vẫn tiếp tục có những hành vi bạo lực, thậm chí còn nặng nề và nguy hiểm hơn Trong khi đó, những người xung quanh, thậm chí là những người có trách nhiệm do lo sợ bị trả thù, bị vạ lây, bị phiền phức nên đã không dám can thiệp bảo vệ nạn nhân

Tuy nhiên, bên cạnh những quyền lợi như vây, nạn nhân bạo lực gia đình cũng phải thực hiện nghĩa vụ nhất định, đó là: Cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu Do tính chất rất nhạy cảm của tội phạm cũng như mối quan hệ đặc biệt của các chủ thể, pháp luật không đặt ra nghĩa vụ của nạn nhân trong việc phòng chống bạo lực gia đình hay tố giác người có hành vi bạo lực – điều này hoàn toàn hợp lý Vậy tại sao lại quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin của nạn nhân? Bởi vì hành vi bạo lực dù diễn ra trong gia đình nhưng lại ảnh hưởng tới sự phát triển chung của toàn xã hội, do đó cần phải được xử lý kịp thời; nạn nhân của bạo lực cần được bảo vệ, nhưng họ cũng cần tự bảo

vệ mình trong giới hạn nhất định, và đó có thể coi là trách nhiệm của họ với cộng đồng, xã hội Trong khi đó, rất nhiều nạn nhân không nhận thức được điều này, nên khi hành vi bạo lực xảy ra họ chọn cách im lặng, lãng tránh vì lo sợ sự can thiệp từ bên ngoài có thể phá vỡ gia đình họ, lo sợ bị trả thù hay đơn giản chính họ cũng không muốn “người ngoài” xen vào chuyện nội bộ của nhà mình và coi đó là quyền của mình Từ đó, chính họ lại gây khó khăn cho việc giải quyết hành vi vi phạm, từ

đó tạo điều kiện cho bạo lực gia đình tái diễn và thậm chí là phát triển hơn, gây ảnh hưởng tới nạn nhân, gia đình, những người xung quanh cũng như tác động xấu tới trật

tự an toàn xã hội

2.2.2 Nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình

Người có hành vi bạo lực gia đình là người đã gây ra những tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại cho thành viên khác trong gia đình Trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, nghĩa vụ của họ được ghi nhận ở Điều 4, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình:

“1 Tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành vi bạo lực

2 Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Trang 33

3 Kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối

4 Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật.”

Trước hết, khi thực hiện hành vi bạo lực và bị phát hiện, người có hành vi bạo lực gia đình phải tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành

vi bạo lực Cộng đồng ở đây là chỉ chung những người biết được về hành vi, có thể là

thành viên khác trong gia đình, hành xóm, tổ dân phố, người chứng kiến… Sự can thiệp ở đây phải là can thiệp hợp pháp, tức là chỉ được thực hiện những điều pháp luật cho phép (buộc chấm dứt hành vi, cấp cứu nạn nhân…) Mọi sự can thiệp trái pháp luật (sử dụng vũ lực với người có hành vi bạo lực gia đình, tiếp tay cho hành vi bạo lực…) đều sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Tôn trọng sự can thiệp nghĩa là người có hành vi bạo lực gia đình phải lắng nghe, thực hiện theo những yêu cầu chính đáng của cộng đồng, không được có thái độ hung hãn, thù địch, chống đối hay có ý định trả thù sự can thiệp đó Tất nhiên, hành vi bạo lực cũng cần phải được chấm dứt ngay Quy định này tưởng chừng như là chung chung nhưng lại rất cụ thể và sâu sắc Người có hành vi bạo lực gia đình không chỉ là thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của đồng mà còn phải tôn trọng sự can thiệp đó, nghĩa là bản thân họ phải phần nào nhận biết được tính đúng đắn của việc can thiệp, cũng như phải có thái độ đúng mực với những người can thiệp Điều này rất quan trọng vì trong nhiều trường hợp, người có hành vi vi phạm không nhận thấy sai lầm của mình mà thậm chí còn trút giận sang những người can thiệp (chửi bới, xúc phạm và có khi là đánh đập, hành hung…), do

đó đã làm hạn chế sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình Ngược lại, những sự can thiệp bất hợp pháp, điển hình là việc dùng vũ lực

để ngăn chặn hành vi bạo lực một cách không cần thiết cũng sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng: vừa không ngăn chặn có hiệu quả hành vi bạo lực gia đình, vừa tăng nguy cơ phát sinh tội phạm khác

Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cũng là nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình Trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, những chủ thể có thẩm quyền có thể đưa ra những chế tài như: Góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư; cấm tiếp xúc; áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn… Việc bị xử lý hành vi bạo lực gia đình vốn không quen thuộc với người Việt Nam, vì rất nhiều người vẫn nghĩ đó là quyền của họ Do đó, quy định người có hành

Trang 34

vi bạo lực có nghĩa vụ chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là cần thiết để tạo ra cơ sở pháp lý mạnh mẽ, buộc chủ thể phải thực hiện, đảm bảo hiệu quả của công tác phòng, chống bạo lực gia đình

Với những trường hợp nạn nhân bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cần tới sự can thiệp của y tế thì người thực hiện hành bạo lực phải kịp thời đưa nạn nhân

đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối Đây tưởng chừng là điều hiển nhiên, là ứng xử bắt buộc của các thành viên gia đình đối với nhau, nhưng lại là điều rất khó thực hiện khi một bên là chủ thể, một bên

là nạn nhân của hành vi bạo lực Người thực hiện hành vi khi đã nhẫn tâm ra tay thì rất khó có chuyện thương xót, lo lắng cho nạn nhân mà đưa họ đi chữa trị, chăm sóc; hoặc có khi hành vi là bột phát, họ nhận thấy sai lầm của mình nhưng do sợ bị phát hiện, sợ phải gánh trách nhiệm nên không dám đưa nạn nhân tới cơ sở chữa trị Chính vì vậy, pháp luật cần quy định đây là nghĩa vụ, bắt buộc họ phải thực hiện để đảm bảo quyền lợi về sức khỏe cho nạn nhân Trong trường hợp nạn nhân từ chối sự chăm sóc của người đã gây tổn thương cho mình – điều này là hoàn toàn phù hợp về

tâm lý - thì người có hành vi bạo lực cũng phải tôn trọng và thực hiện điều đó

Phù hợp với những quy định của pháp luật dân sự, người thực hiện hành vi bạo lực cũng phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu

và theo quy định của pháp luật

2.3 Trách nhiệm của cá nhân, gia đình và các cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình

2.3.1 Trách nhiệm của cá nhân, gia đình

Điều 32, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định về trách nhiệm gia đình và các thành viên gia đình trong phòng, chống bạo lực gia đình:

1 Giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống

ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác

2 Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình

3 Phối hợp với cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình

Trang 35

4 Thực hiện các biện pháp khác về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật này

Phải khẳng đình rằng gia đình và các thành viên gia đình đóng một vai trò rất quan trọng trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình Bất cứ thành viên nào trong gia đình cũng có thể có hành vi của bạo lực: Con mắng cha, vợ chì chiết chồng, mẹ chồng ruồng rẫy nàng dâu, bố vợ khinh thường con rể, chị dâu em chồng xích mích với nhau, anh em tranh chấp tài sản dẫn đến đánh chửi nhau…; đồng thời chính họ cũng dễ dàng trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình Tuy nhiên, ở đây chúng chỉ đề cập tới họ dưới khía cạnh là người chứng kiến bạo lực gia đình Cùng chung sống dưới một mái nhà, họ là người chịu tác động trực tiếp của hành vi, có khả năng phát hiện nhanh chóng cũng như tìm hiểu nguyên nhân, diễn biến, mức độ của hành vi bạo lực; họ cũng là người có khả năng thành công trong việc giáo dục, thuyết phục người

có hành vi bạo lực thay đổi hành vi bởi vì hai bên có sự hiểu biết về nhau, có mối quan hệ thân thiết với nhau…

Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy nhiều trường hợp các thành viên khác trong gia đình đã cổ vũ, khuyến khích cho hành vi bạo lực xảy ra như: Mẹ xui con trai “giáo dục” vợ bằng nắm đấm; các em cổ vũ anh hành hạ chị dâu; ông bà yêu cầu phải nghiêm khắc khi dạy dỗ cháu… Những hành động này phần nhiều không xuất phát từ

ý xấu mà chỉ là do quan niệm khác nhau của mỗi người, nhưng lại tác động rất lớn tới người thực hiện hành vi bạo lực: họ chịu áp lực “phải” thực hiện hành vi nếu không muốn bị người nhà chê bai, khiển trách; đồng thời khi được ủng hộ, họ càng thấy tự tin, càng cho rằng hành vi đó là đúng đắn và cần thiết

Chính vì vậy, pháp luật đã quy định gia đình và các thành viên gia đình phải

có những trách nhiệm, phải có sự chủ động nhất định trong phòng, chống bạo lực gia đình: giáo dục, nhắc nhở, hòa giải mâu thuẫn giữa các thành viên, can ngăn người có

hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân Đây là những việc họ hoàn toàn có khả năng

thực hiện, nhưng việc có thực hiện không, thực hiện như thế nào thì lại phụ thuộc vào mỗi người, mỗi gia đình, mỗi hoàn cảnh, Nhà nước không quy định đây là nghĩa vụ

mà chỉ là trách nhiệm của gia đình và các thành viên Tuy nhiên, nếu có những hành

vi bị cấm trong phòng, chống bạo lực gia đình thì họ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật Cụ thể: một số hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, được quy định tại Điều 8, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình:

1 Các hành vi bạo lực gia đình quy định tại Điều 2 của Luật này

Trang 36

2 Cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình

3 Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình

4 Trả thù, đe doạ trả thù người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình

5 Cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình

6 Lợi dụng hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để trục lợi hoặc thực hiện hoạt động trái pháp luật

7 Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình

Với tâm lý hiếu thắng, coi trọng sỹ diện vốn rất phổ biến ở Việt Nam, rất nhiều hành vi bạo lực nói chung, bạo lực gia đình nói riêng xuất phát từ sự xúi giục, kích động, khích bác… của những người xung quanh Những hành vi đó có thể chỉ là lời nói đùa vô ý, sự trêu chọc lẫn nhau, thậm chí là những lời khuyên bảo sai lầm; nhưng đó cũng có thể là ác tâm muốn phá hủy hạnh phúc gia đình người khác, muốn trục lợi hoặc thực hiện ý đồ xấu khác Khi hành vi bạo lực xảy ra, người thực hiện hành vi và những người có liên quan đương nhiên muốn trốn tránh, cản trở việc phát hiện và xử lý; nếu không được thì sẽ có tâm lý muốn trả thù người đã phát hiện, khai báo, giúp đỡ nạn nhân… Trong một số trường hợp, những hành vi này đã nhận được

sự dung túng, bao che của những người có thẩm quyền Kết quả là bạo lực gia đình không ngừng gia tăng và tiếp tục để lại những hậu quả nặng nề cho gia đình và xã hội Chính vì vậy, những hành vi này cần phải bị nghiêm cấm và phải chịu những chế tài phù hợp

Những hành vi bị cấm này không chỉ áp dụng với thành viên gia đình mà còn

áp dụng cả những các nhân không phải là thành viên gia đình Bên cạnh đó, Luật

Phòng, chống bạo lực gia đình còn quy định rõ trách nhiệm của các cá nhân là: “1

Thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; 2 Kịp thời ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền” (Điều 31) Những quy định này nhằm nâng cao tính chủ động, tích cực

của các những cá nhân trong xã hội trong việc tham gia phòng, chống bạo lực gia đình cũng như giúp đỡ nạn nhân Đây đều là những việc không quá khó khăn, chỉ đòi

Trang 37

hỏi trách nhiệm với cộng đồng của mỗi công dân nên việc thực hiện như thế nào là hoàn toàn dựa trên ý chí của từng cá nhân Những nghĩa vụ cụ thể của công dân được quy định trong những điều luật khác của Luật này

2.3.2 Các hoạt động phòng chống bạo lực gia đình

2.3.2.1 Hoạt động phòng ngừa bạo lực gia đình

Phòng ngừa bạo lực gia đình là những biện pháp, cách thức được các cơ quan

nhà nước, các tổ chức, gia đình và cá nhân thực hiện nhằm loại trừ nguyên nhân và

điều kiện phát sinh hành vi bạo lực gia đình Theo luật phòng chống bạo lực gia đình,

phòng ngừa bạo lực gia đình có thể dưới các hình thức và hoạt động như: Thông tin, tuyên truyền phòng chống bạo lực gia đình; hòa giải mâu thuẩn tranh chấp giữa các

thành viên trong gia đình; tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng

ngừa bạo lực gia đình

Thông tin, tuyên truyền cung cấp thông tin, kiến thức nhằm thay đổi nhận

thức, hành vi về bạo lực gia đình, đối với mổi thành viên trong gia đình, thông tin, tuyên truyền giúp họ hiểu rỏ hơn về trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của mình qua đó kiềm chế, ngăn chặn hoặc đấu tranh chống lại những hành vi bạo lực thông tin tuyên truyền cũng giúp xóa bỏ thái độ thờ ơ hoặc né tránh, thúc đẩy, cổ vũ toàn xã hội đấu tranh phòng chống bạo lực gia đình, công tác thông tin tuyên truyền có thể do các cơ quan nhà nước thực hiện, cũng có thể do nhiều tổ chức cá nhân khác thực hiện với những hình thức khá phong phú

Các cơ quan nhà nước mà cụ thể là bộ thông tin và truyền thông, ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan hành chính nhà nước khác…trong phạm vi quản lí nhà nước của mình, thực hiện việc cung cấp thông tin một cách chính thức, đầy đủ và kịp thời về những vụ bạo hành gia đình và công tác phòng chống bạo lực gia đình, ngoài

ra, các cơ quan hành chính nhà nước phải thực hiện việc quản lí nhà nước với các

hoạt động thông tin, tuyên truyền liên quan đến bạo lực gia đình để vừa đảm bảo

quyền tự do thông tin vừa kiểm soát không cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng các hoạt động thông tin tuyên truyền, xúi giục kích động bạo lực gia đình hoặc lợi dụng các vấn đề về bạo lực gia đình để nói xấu nhà nước

Hòa giải mâu thuẫn và tranh chấp chính là hạn chế nguyên nhân phát sinh bạo lực gia đình, để đảm bảo được tính chất của hoạt động hòa giải là tự giải quyết các mâu thuẫn tranh chấp tránh sự can thiệp trực tiếp của các cơ quan nhà nước luật quy định công tác hòa giải hiện nay được thực hiện trước hết và chủ yếu tại gia đình, dòng

Trang 38

họ hay các tổ chức khác hoặc hòa giải tại cơ sở, luật cũng không quy định trực tiếp trách nhiệm hòa giải tranh chấp mâu thuẫn cho cơ quan hành chính, tuy nhiên, để đãm bão có giải quyết triệt để những mâu thuẫn tranh chấp bằng nhiều cách thức khác

nhau, luật phòng chống bạo lực gia đình quy định “cơ quan, tổ chức có trách nhiệm

hòa giải, tranh chấp giữa người thuộc cơ quan, tổ chức mình với thành viên gia đình

họ khi có yêu cầu của thành viên gia đình” Như vậy, trách nhiệm hòa giả

mâu thuẫn, tranh chấp của các cơ quan nhà nước chỉ tham gia hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp khi mâu thuẫn, tranh chấp có liên quan cán bộ, công chức hoặc những người đang làm việc cho cơ quan và chỉ tham gia hòa giải khi thành viên gia đình họ

có yêu cầu Nhưng khi đã có yêu cầu của thành viên gia đình về việc cơ quan tham gia hòa giải thì các cơ quan nhà nước phải xác định đây là trách nhiệm pháp lí của mình

Trong công tác hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp, phòng, chống bạo lực gia đình, ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các tổ chức hòa giải cơ sở thực hiện hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình

Ủy ban nhân cấp xã cũng có trách nhiệm hòa giải khi được yêu cầu cơ quan,

tổ chức để hòa giải tranh chấp, mâu thuẫn giữa các bộ, công chức với gia đình họ Góp ý phê bình là hoạt động có tính xã hội có thể được tiến hành hết sức linh hoạt, cơ sỡ để góp ý, phê bình đó là những chuẩn mực đạo đức, các phong tục tập quán, nếp sống tốt đẹp ở địa phương hay là các tín điều tôn giáo tiến bộ trong cộng đồng tín đồ, ngược lại, việc phê bình, góp ý sẽ không có kết quả nếu như nó thực hiện một cách trái pháp luật, vì vậy, ủy ban nhân cấp xã có trách nhiệm giúp đỡ, tạo điều kiện cho hoạt động góp ý, phê bình đối với người có hành vi bạo lực gia đình

Các hoạt động tư vấn, phòng ngừa bạo lực gia đình là hoạt động có yêu cầu nhất định về chuyên môn được tiến hành bởi những người có kỹ năng và kinh nghiệm hay các chuyên gia tư vấn Các cơ quan nhà nước không trực tiếp thực hiện hoạt động

tư vấn nhưng luật quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với hoạt động tư vấn, cụ thể, bộ văn hóa thể thao và du lịch có trách nhiệm hướng dẫn việc thực hiện hoạt động tư vấn về gia đình ở cơ sở, việc thành lập, giải thể cơ sở tư vấn về phòng chống bạo lực gia đình

Ngày đăng: 05/10/2015, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w