Cổ phần là sự tượng trưng cho quyền sở hữu của cổ đông và được cụ thể hóa bằng cổ phiếu, người nắm giữ cổ phần là chủ sở hữu một phần công ty tương ứng với số cổ phần họ nắm giữ và quyền
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn:
Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Sinh viên thực hiện:
Thân Thị Trúc Quỳnh MSSV: 5105901
Lớp: Luật thương mại K36
Cần Thơ, 12/2013
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Trong suốt 4 năm đại học, ngoài việc nhận được sự dạy dỗ tận tình của thầy cô thì có lẽ điều làm cho sinh viên cảm thấy thích thú nhất, ấn tượng nhất và có ý nghĩa nhiều nhất là được thực hiện một đề tài nghiên cứu nào đó cho luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cám ơn Ban chủ nhiệm và quý thầy cô Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sinh viên chúng em có cơ hội để thực hiện và hoàn thành đề tài của mình
Trong quá trình thực hiện luận văn, ngoài sự nổ lực rất nhiều của bản thân, em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, sự đóng góp và động viên chân thành, kịp lúc của giáo viên hướng dẫn, đồng thời là cố vấn học tập, Cô Đoàn Nguyễn Minh Thuận, của gia đình, và bạn bè Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến tất cả quý thầy cô, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình Tuy nhiên, do trình độ, kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế không tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm trong bài viết Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý quý báu của quý Thầy Cô và các bạn sinh viên để bài viết có thể hoàn thiện hơn Xin chân thành cám ơn!
Cần Thơ, tháng 11 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Thân Thị Trúc Quỳnh
Trang 3………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013
Giảng viên hướng dẫn
Trang 4………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013
Giảng viên phản biện
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 1
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục của đề tài 2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ 3
1.1 Khái quát chung về công ty cổ phần 3
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần 3
1.1.2 Khái niệm công ty cổ phần 5
1.1.3 Đặc điểm công ty cổ phần 6
1.1.4 Vai trò của công ty cổ phần 8
1.1.5 Cơ cấu tổ chức quản lý trong công ty cổ phần 9
1.2 Khái quát chung về cổ phần 11
1.2.1 Khái niệm cổ phần 11
1.2.2 Phân loại cổ phần 11
1.2.2.1 Cổ phần phổ thông ……….11
1.2.2.2 Cổ phần ưu đãi……….……… 12
1.3 Khái quát chung về cổ đông 13
1.3.1 Khái niệm cổ đông 13
1.3.2 Phân loại cổ đông 14
1.3.3 Khái niệm cổ đông thiểu số 14
1.4 Khái quát bảo vệ cổ đông thiểu số 16
1.4.1 Bảo vệ cổ đông thiểu số 16
1.4.2 Mối quan hệ bất bình đẳng giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số 17
1.4.3 Ý thức và khả năng tự bảo vệ mình của cổ đông thiểu số 17
1.5 Mục tiêu bảo vệ cổ đông thiểu số 19
1.5.1 Khuyến khích nhà tư bản đầu tư kinh doanh, tăng nguồn vốn cho nền kinh tế 19
Trang 6chứng khoán 20
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 23
2.1 Bảo vệ cổ đông thiểu số thông qua quy định quyền liên quan đến tài sản của cổ đông 23
2.1.1 Quyền nhận cổ tức 23
2.1.2 Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần 25
2.1.3 Quyền ưu tiên mua đối với cổ mới phát hành 26
2.1.4 Quyền chuyển nhượng cổ phần 27
2.1.5 Quyền nhận lại một phần tài sản khi công ty phá sản, giải thể 29
2.1.6 Quyền kiểm soát các giao dịch tư lợi 29
2.2 Bảo vệ cổ đông thiểu số thông qua quy định về quyền quản trị công ty 31
2.2.1 Quyền tham dự, biểu quyết của cổ đông thiểu số tại cuộc họp Đại hội cổ đông 31
2.2.2 Quyền yêu cầu triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông 33
2.3 Bảo vệ cổ đông thiểu số thông qua quy định về quyền tiếp cận thông tin của cổ đông 35
2.3.1 Quyền xem xét và trích lục sổ sách, tài liệu của cổ đông thiểu số 35
2.3.2 Quyền tiếp cận, kiểm soát thông tin của công ty 35
2.4 Quyền yêu cầu Toà án hoặc Trọng tài huỷ quyết định của Đại hội đồng cổ đông 36
2.5 Bảo vệ cổ đông thiểu số thông qua quy định về Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc 37
2.6 Bảo vệ cổ đông thiểu số thông qua nghĩa vụ tuân thủ điều lệ công ty và quy chế nội bộ công ty 43
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ 46
3.1 Thực trạng về các quy định bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần 46
3.1.1 Đối với quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần 46
3.1.2 Đối với quyền tiếp cận, kiểm soát thông tin của công ty 48
3.1.3 Đối với quyền kiểm soát các giao dịch tư lợi 51
Trang 7hội đồng cổ đông 53
3.2 Một số bất cập của cơ chế giải quyết tranh chấp trong công ty cổ phần 55
3.2.1 Phạm vi thẩm quyền khởi kiện của cổ đông thiểu số còn bị hạn chế 55
3.2.2 Cơ chế xác định vụ việc tranh chấp để giải quyết còn nhiều bất cập 56
KẾT LUẬN CHUNG 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta trong xu thế hội nhập, hòa chung trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách kinh tế khuyến khích người dân tham gia kinh doanh để làm giàu chính đáng cho bản thân và cho đất nước
Ngày nay, Công ty cổ phần (CTCP) đã trở thành loại hình doanh nghiệp phát triển phổ biến nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam, Công ty cổ phần luôn đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển và ổn định của cả nền kinh tế Hầu hết các Công ty cổ phần ở Việt Nam đều có sự tham gia đa dạng của các nhà đầu tư là cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, đặc biệt là các công
ty niêm yết cổ phiếu trên Thị trường Chứng khoán
Việc xâm phạm quyền lợi và lợi ích của nhà đầu tư, cổ đông ở Việt Nam diễn ra một cách phổ biến cũng là điều đáng báo động trong công ty cổ phần Ngày nay mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, với một trong những nguyên tắc pháp lý quan trọng là hướng đến và duy trì việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số Trong
đó, sự công bằng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của cổ đông là vấn đề được các nhà làm luật đặc biệt quan tâm Vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số hiện nay cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn vẫn còn nhiều bất cập gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự lành mạnh của môi trường kinh doanh và hiệu quả của việc huy động nguồn vốn cho sự phát triển của nền kinh tế
Chính vì vậy, tác giả cho rằng việc nghiên cứu các vấn đề về luật để bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số là vấn đề rất cần thiết nhằm đảm bảo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư vốn Để thực hiện tốt yêu cầu này, trước tiên chúng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu, rà soát các quy định của pháp luật và đối chiếu với các yêu cầu từ thực tiễn để hoàn thiện hơn nữa hành lang pháp lý trong việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông
thiểu số Đó cũng là lý do mà tác giả đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ cổ
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Tác giả nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ những vấn đề lý luận chung về bảo vệ cổ đông thiểu số theo quy định của pháp luật hiện hành Qua đó thông
Trang 9qua đề tài này tác giả có thể đưa ra các kiến nghị và giải pháp giúp bảo vệ quyền và lợi ích của các cổ đông đặc biệt là các cổ đông thiểu số tốt hơn trong công ty cổ phần
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi nghiên cứu tác giả đưa ra các vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu
số trong công ty cổ phần dưới góc độ pháp lý, cụ thể là nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ cổ đông thiểu số và một số bất cập trong thực tiễn bảo vệ cổ đông thiểu số hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu khoa học này, tác giả đã sử dụng một số các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp phân tích luật viết thông qua các quy định của pháp luật, tài liệu sách, báo, giáo trình về cổ đông, công ty cổ phần
- Phương pháp tổng hợp, suy luận logic, so sánh đối chiếu, thống kê các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành
- Phương pháp tiếp cận thông tin thông qua sử dụng các trang wed tìm kiếm thông tin và các sách, báo, tạp chí chuyên ngành để bổ sung thêm kiến thức về
lý luận và thực tiễn để khái quát các vấn đề cần nghiên cứu
5 Bố cục của đề tài
Nhằm thể hiện nội dung đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống và khoa học, tác giả đã xây dựng cấu trúc của luận văn theo trình tự như sau:
Phần mở đầu
Chương 1: Lý luận về bảo vệ cổ đông thiểu số
Chương 2: Những chế định bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần Chương 3: Thực trạng và những giải pháp hoàn thiện chế định bảo vệ cổ đông thiểu số
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 10CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ
1.1 Khái quát chung về công ty cổ phần
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần
Trên thế giới
Công ty cổ phần ra đời từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII ở các nước tư bản phát triển như một nhu cầu khách khách quan của lịch sử Trong suốt mấy trăm năm qua các công ty cổ phần đã chiếm một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế thế giới Trong quá trình xã hội quá tư bản, tăng cường tích
tụ tập trung tư bản ngày cao, khi nền đại công nghiệp cơ khí tiến bộ khoa học
kỹ thuật phát triển, các nhà tư bản phân tán tránh rủi ro, tạo thế mạnh trong quản lý và khi tín dụng phát triển mạnh mẽ đó là những nguyên nhân hàng đầu thúc đẩy công ty cổ phần ra đời
Quá trình lịch sử hình thành và phát triển hình thức công ty cổ phần trên thế
giới theo bốn giai đoạn:
Giai đoạn 1: Là giai đoạn mầm mống công ty cổ phần đầu tiên xuất hiện mang tên công ty Đông Ấn do thương nhân người Anh thành lập năm 1773, tại Luân Đôn hình thù đầu tiên của sở giao dịch chứng khoán ra đời, vào năm 1801 thì chính thức được thành lập Thị trường chứng khoán Mĩ được thành lập năm
Giai đoạn 3: Là giai đoạn phát triển, sau những năm 70 các công ty cổ phần phát triển một cách nhanh chóng, phổ biến ở mọi nơi với quy mô rộng và số lượng tư bản tập trung lớn chưa từng có Các công ty nắm giữ cổ phần khống chế ra đời tạo thành kết cấu chuỗi, công ty mẹ - công ty con - công ty cháu hình thành một tập đoàn doanh nghiệp xuyên quốc gia
Giai đoạn 4: Là giai đoạn hình thành, sau chiến tranh thế giới thứ hai công
ty cổ phần có những đặc điểm mới, dùng hình thức cổ phần để lập ra các công
ty xuyên quốc gia và đa quốc gia để liên hợp kinh tế và quốc tế hoá cổ phần hình thành các tập đoàn doanh nghiệp quốc tế, thu hút công nhân viên chức
Trang 11mua cổ phần thực hiện “chủ nghĩa tư bản nhân dân” để làm dịu mâu thuẫn giữa
lao động và tư bản đồng thời thu hút vốn một cách thuận lợi, cơ cấu tổ chức của
công ty cổ phần tại các nước ngày càng hoàn thiện
Trên thế giới, nền đại công nghiệp của phương Tây đã phát triển và hưng thịnh được một phần vì họ đã phát minh ra mô hình công ty, đặc biệt là công ty
cổ phần với tính chịu trách nhiệm hữu hạn1 Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, phù hợp với nhu cầu huy động vốn, công ty cổ phần đã trở thành
mô hình kinh doanh phổ biến nhất cho các loại hình doanh nghiệp quy mô lớn
Ở Việt Nam
Ở nước ta, Công ty cổ phần ra đời muộn hơn so với các nước phát triển trên
thế giới, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường các công ty cổ phần
đã và đang phát triển nhanh chóng về số lượng và quy mô
Luật về công ty lần đầu tiên được quy định trong “ Bộ Dân luật thi hành tại các tòa án Nam Bắc Kỳ”, trong đó tiết thứ 5 (chương IX) nói về hội buôn được chia thành hai loại là hội người và hội vốn Trong đó hội vốn chia làm hai loại
là hội vô danh (công ty cổ phần) và hội họp cổ (công ty họp vốn đơn giản), quy định về công ty cổ phần thời kì này rất sơ khai
Dưới thời Pháp thuộc các quy định của Bộ luật Thương mại Pháp năm
1807, trong đó có quy định về hình thức Công ty cổ phần được áp dụng ở cả ba
kỳ tại Việt Nam Đến năm 1944, chính quyền Bảo Đại ban hành Bộ luật thương mại Trung phần có hiệu lực áp dụng tại Trung Kỳ, năm 1972 chính quyền Việt Nam Cộng hoà ban hành Bộ luật Thương mại
Đến khi Luật công ty được ban hành ngày 21/12/1990, và sau khi Luật Công ty ra đời nhiều văn bản pháp luật khác nhau đã được ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau nhưng được tổ chức dưới hình thức Công ty cổ phần Ngày 12/6/1999, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp để thay thế cho Luật Công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân, sau hơn 5 năm đi vào hoạt động Luật Doanh nghiệp
1999 đã được thay đổi bằng Luật Doanh nghiệp 2005 Trong các văn bản này, công ty cổ phần vẫn tiếp tục được ghi nhận và được quy định theo chuẩn quốc
tế về quản trị công ty cổ phần
Tuy nước ta công ty cổ phần phát triển khá muộn hơn so với các quốc gia khác nhưng do nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa đã
1
PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình luật kinh tế, Nhà xuất bản Đại học quốc gia, Hà Nội 2011
Trang 12thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, nhiều loại hình doanh nghiệp xuất hiện và sự ra đời của công ty cổ phần phát triển nhu cầu huy động vốn, phát triển nền kinh tế Qua trên ta đã tìm hiểu chung về vấn đề hình thành và phát triển của công ty cổ phần nên chúng ta muốn hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật về loại hình công ty
1.1.2 Khái niệm công ty cổ phần
Trên thế giới tồn tại rất nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, trong các công ty kinh doanh, phân loại đa dạng tuy theo tính chất liên kết, chế độ trách nhiệm của các thành viên và ý chí của nhà lập pháp, dưới góc độ pháp lý người
ta chia công ty thành hai loại cơ bản là: công ty đối nhân và công ty đối vốn Công ty cổ phần là loại hình công ty đối vốn Công ty được thành lập và phát triển gắn liền với sự hình thành của thị trường vốn và tiền tệ Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp thành lập dựa vào sự liên kết của các thành viên
về góp vốn, ta có thể khái quát đặc điểm pháp lý cơ bản về công ty cổ phần như sau:
- Công ty cổ phần là một tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập, loại hình công ty có có tính tổ chức cao, hoàn thiện về vốn, hoạt động mang tính xã hội cao
- Người góp vốn vào công ty chịu trách nhiệm hữu hạn, tài sản công ty hoàn toàn tách bạch với tài sản của cổ đông
- Phần vốn góp vào công ty về cơ bản có thể tự do chuyển nhượng
- Công ty được quản lý tập trung, có cấu trúc vốn linh hoạt
Theo như trên ta có thể được hiểu là công ty cổ phần là một tổ chức
có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là
cổ phần, có các thành viên cùng nhau góp vốn gọi là cổ đông Cổ đông có thể
là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.
1.1.3 Đặc điểm công ty cổ phần
Công ty cổ phần có cơ cấu vốn thực hiện theo phương thức chia nhỏ vốn thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, kinh doanh bằng cách mua cổ phần Người mua cổ phần gọi là cổ đông, cổ đông là người chủ công ty, được lợi ích thông qua lợi nhuận Cổ đông có quyền tham gia vào hoạt động giám sát công
Trang 13ty, bầu cử ứng cử vào các cơ quan quản trị, điều hành công ty đó là quyền cơ
bản của cổ đông
Theo điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005 và các văn bản khác của pháp luật
hiện hành, ta thấy công ty cổ phần có những đặc điểm là:
Về tư cách pháp lí: Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp Theo
quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 thì công ty cổ phần có đủ điều kiện của
một pháp nhân, có năng lực và tư cách chủ thể riêng, tồn tại độc lập, tự mình
tham gia vào các giao dịch, xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ cho công ty
Tài sản công ty tách bạch với tài sản của cổ đông, tài sản của công ty được sử
dụng phục vụ cho lợi ích chung của công ty
Về vốn điều lệ của công ty cổ phần: Theo điều 6 nghị định 102 hướng dẫn
Luật doanh nghiệp2: vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá số
cổ phần đã được phát hành
2
Điều 6 Vốn điều lệ của công ty và số cổ phần được quyền phát hành của công ty cổ phần
1 Vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là tổng giá trị các phần vốn
góp do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn cụ thể và đã được ghi vào Điều lệ
công ty
2 Vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổng giá trị số vốn do chủ sở hữu
đã góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn cụ thể và đã được ghi vào Điều lệ công ty
3 Thời hạn mà thành viên, chủ sở hữu công ty phải góp đủ số vốn đã cam kết vào vốn điều lệ quy
định tại các khoản 1 và 2 Điều này không quá 36 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký bổ sung, thay đổi thành viên
4 Vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành Số cổ phần đã
phát hành là số cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công ty Tại thời điểm đăng ký kinh
doanh thành lập doanh nghiệp, vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do
các cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty;
số cổ phần này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp
5 Số cổ phần được quyền phát hành của công ty cổ phần là số cổ phần mà Đại hội đồng cổ đông
quyết định sẽ phát hành để huy động thêm vốn Số cổ phần được quyền phát hành của công ty cổ phần
tại thời điểm đăng ký kinh doanh là tổng số cổ phần do cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ thông khác
đã đăng ký mua tại thời điểm đăng ký kinh doanh và số cổ phần sẽ phát hành thêm trong thời hạn 03
năm, kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và được ghi tại Điều lệ công ty
Trang 14Số cổ phần đã phát hành là số cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công ty Tại thời điểm đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp, vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty; số cổ phần này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Người sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông và mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần, giá trị của mỗi cổ phần được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu, việc góp vốn vào công
ty được thể hiện bằng hình thức mua cổ phần và khái niệm cổ phần chỉ có trong Công ty cổ phần mà không có tồn tại ở bất kì loại hình doanh nghiệp nào khác
Về chế độ chịu trách nhiệm: Công ty cổ phần chịu trách nhiệm đối với tất
cả khoản nợ bằng tài sản của công ty Tài sản của công ty tách bạch với tài sản của thành viên công ty, Công ty cổ phần chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty khác với các loại hình doanh nghiệp với cách chịu trách nhiệm vô hạn của thành viên hợp danh của công ty hợp danh hay chủ doanh nghiệp tư nhân trong doanh nghiệp tư nhân Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn góp công ty
Tính tự do chuyển nhượng cổ phần vốn góp: Cổ đông có quyền tự do
chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp đó là cổ phần
ưu đãi biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập công ty trong ba năm đầu kể
từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Khả năng tự do chuyển nhượng cổ phần cho phép các nhà đầu tư dễ dàng tham gia và rút khỏi công ty bằng cách mua hay chuyển nhượng cổ phần, giúp thu hút các nhà đầu
tư vào loại hình doanh nghiệp này
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp đó là cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập đăng ký kinh doanh Đặc điểm này của công ty cổ phần đã cho phép các nhà đầu tư có khả năng chuyển đổi hình thức và mục tiêu đầu tư một cách linh hoạt, công ty trong ba năm đầu kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận
Về phát hành cổ phần: Công ty cổ phần có thể phát hành nhiều loại cổ
phần, trong đó có cổ phần phổ thông Ngoài cổ phần phổ thông, công ty có thể phát hành cổ phần ưu đãi, bao gồm: Cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi
cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định
Trang 15Công ty được quyền phát hành chứng khoán các loại ra công chúng để huy động vốn Đặc điểm này cho thấy khả năng huy động vốn của công ty là rất lớn
và rộng rãi trong công chúng
Về số lượng cổ đông: Số lượng cổ đông của công ty cổ phần tối thiểu là ba
và không hạn chế số lượng tối đa Khác với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là số thành viên không được quá 50 Trong quá trình hoạt động, cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) Vì vậy, số lượng cổ đông của công ty cổ phần thường là rất đông
1.1.4 Vai trò của công ty cổ phần
Công ty cổ phần có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển Là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất hiện nay, góp phần nâng cao cuộc sống của nhân dân lao động về vật chất lẫn tinh thần với việc thu hút vốn nhàn rỗi của nhân dân giúp nước ta tiết kiệm nguồn vốn và tăng thêm thu nhập cho người dân công ty cổ phần còn thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, có cơ cấu tổ chức quản lư chặt chẽ, có khả năng huy động vốn cao cho nền kinh doanh tạo ra nhiều lợi nhuận cho công ty
Công ty cổ phần có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế tiền tệ đó là thị trường chứng khoán, làm tăng cung cầu về chứng khoán để huy động vốn và linh hoạt hơn trong mua bán trao đổi chứng khoán giữa các cổ đông với nhau Công ty cổ phần góp phần tạo nhiều hàng hóa hơn trên thị trường chứng khoán, việc có thêm nguồn vốn lớn để đầu tư giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dễ dàng hơn
Công ty cổ phần là nhịp cầu nối cho doanh nghiệp muốn thành lập tổ chức kinh doanh với người muốn sinh lợi từ vốn nhàn rỗi của mình, đồng tiền luôn được lưu thông và không ngừng sinh lợi, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, thu hút vốn nhàn rỗi từ nhiều nguồn khác nhau vào trong các lĩnh vực cần phát triển, phân bổ vốn và sử dụng nguồn vốn cho hiệu quả hơn trong nền kinh tế hiện nay
Công ty cổ phần là hình thức liên doanh tốt nhất để tranh thủ sự đầu tư nước ngoài Hình thức liên doanh này giúp cho các doanh nghiệp của nước ta
có đủ sức mạnh về vốn, tiềm lực về khoa học kỹ thuật, năng lực quản lý cao và đặc biệt là thu hút các nhà đầu tư có tiềm năng tài chính đầu tư vào các ngành nghề và lĩnh vực có nhiều rủi ro, thu hồi vốn chậm Vì các ngành nghề này có nhiều rủi ro và thu hồi vốn chậm nên thu được khoản lợi nhuận khổng lồ
Trang 161.1.5 Cơ cấu tổ chức quản lý trong công ty cổ phần
Theo điều 95 Luật Doanh nghiệp 2005, cơ cấu tổ chức quản lý công
ty cổ phần bao gồm: Đại hội đồng cổ đông; Hội đồng quản trị; Giám đốc (Tổng giám đốc) Đối với công ty cổ phần có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc tổ chức
là cổ đông sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát
Về cơ bản cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần bao gồm:
- Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần3 Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành hàng năm từ một đến hai lần, thường vào cuối năm tài chính hoặc họp bất thường theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc theo yêu cầu của Ban kiểm soát4; hoặc theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông liên tục trong sáu tháng hoặc tỉ lệ nhỏ hơn Điều lệ công ty quy định5 Đại hội cổ đông bầu ra hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, mọi cổ đông phổ thông điều có quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông và khi tham dự Đại hội đồng cổ đông các cổ đông có quyền quyết định các vấn đề liên quan đến quyền lợi của mình
- Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có số thành viên tối thiểu là
ba và không quá mười một thành viên nếu Điều lệ công ty có quy định khác Hội đồng quản trị có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty6
Hội đồng quản trị thông qua quyết định bằng biểu quyết tại cuộc họp, và lấy ý kiến bằng văn bản hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty quy định Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị theo quy định tại Điều lệ công ty Trường hợp Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị thì Chủ tịch được bầu trong số thành viên Hội đồng quản trị Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác
Trang 17Hội đồng quản trị có vai trò quan trọng trong việc đề ra chiến lược, kế hoạch phát triển, quản lý công việc của công ty và chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông về những sai phạm trong quản lý, vi phạm điều lệ, vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho công ty
- Giám đốc (Tổng giám đốc)
Theo điều 116 Luật Doanh nghiệp 2005, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty, theo đúng quy định của pháp luật, Điều lệ công ty, hợp đồng lao động ký với công ty và quyết định của Hội đồng quản trị, chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao
Hội đồng quản trị bổ nhiệm một người trong số họ hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp Điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty Nếu điều hành trái với quy định này mà gây thiệt hại cho công ty thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại cho công ty
- Ban kiểm soát
Không phải công ty cổ phần nào cũng có Ban kiểm soát, theo luật quy định đối với công ty cổ phần có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc tổ chức là cổ đông
sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát
Trong công ty cổ phần, Ban kiểm soát thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty; chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông trong thực hiện các nhiệm vụ được giao Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống
kê và lập báo cáo tài chính Ban kiểm soát có từ ba đến năm thành viên nếu Điều lệ công ty không có quy định khác; nhiệm kỳ của Ban kiểm soát không quá năm năm; thành viên Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế
Các thành viên Ban kiểm soát bầu một người trong số họ làm Trưởng ban kiểm soát Quyền và nhiệm vụ của Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam và phải có ít nhất một thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên
Trang 18Trong trường hợp vào thời điểm kết thúc nhiệm kỳ mà Ban kiểm soát nhiệm kỳ mới chưa được bầu thì Ban kiểm soát đã hết nhiệm kỳ vẫn tiếp tục thực hiện quyền và nhiệm vụ cho đến khi Ban kiểm soát nhiệm kỳ mới được bầu và nhận nhiệm vụ
1.2 Khái quát chung về cổ phần
1.2.1 Khái niệm cổ phần
Trong công ty cổ phần, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, trong công ty có thể phát hành nhiều loại cổ phần và mỗi loại cổ phần tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ, lợi ích khác nhau
Cổ phần là sự tượng trưng cho quyền sở hữu của cổ đông và được cụ thể hóa bằng cổ phiếu, người nắm giữ cổ phần là chủ sở hữu một phần công ty tương ứng với số cổ phần họ nắm giữ và quyền sở hữu này cho phép người sở hữu có một số quyền nhất định như: tham dự và phát biểu trong các Đại hội cổ đông, quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện ủy quyền, quyền nhận
cổ tức, quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán, quyền nhận lại một phần tài
sản khi công ty phá sản, giải thể, quyền xem xét và trích lục sổ sách, tài liệu,
quyền tiếp cận, kiểm soát thông tin của công ty7
1.2.2 Phân loại cổ phần
1.2.2.1 Cổ phần phổ thông
Công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phần phổ thông, đây là loại cổ phần chủ yếu của công ty cổ phần, cổ phần phổ thông tạo cho người sở hữu có được quyền rất quan trọng là tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông thông qua các vấn đề quan trọng của công ty
Bên cạnh đó cổ phần phổ thông cũng có hạn chế, theo khoản 6 Điều 78 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định “Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông” và theo Khoản 1 Điều 80 Luật Doanh nghiệp thì không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần Trường hợp có cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái với quy định tại khoản này thì thành viên Hội đồng quản trị và người đại diện theo pháp luật của công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các
7
Khoản 1 Điều 79 Luật Doanh nghiệp 2005
Trang 19khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã
bị rút Và theo điều 91 Luật Doanh nghiệp thì công ty cổ phần có quyền mua lại không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán
1.2.2.2 Cổ phần ưu đãi
Cổ phần ưu đãi là loại cổ phần không bắt buộc trong công ty cổ phần, là loại cổ phần trao cho cổ đông sở hữu thêm một số quyền và nghĩa vụ của cổ đông phổ thông Cổ phần ưu đãi bao gồm: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần
ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và các cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết
Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông, số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết
do Điều lệ công ty quy định 8 Luật Doanh nghiệp 2005 không hạn chế tối đa số phiếu biểu quyết của cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định, chỉ
có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ
cổ phần ưu đãi biểu quyết Cổ phần ưu đãi biểu quyết được Chính phủ ủy quyền không hạn chế thời gian, còn cổ phần ưu đãi biểu quyết cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau đó cổ phần ưu đãi biểu quyết sẽ chuyển thành cổ phần phổ thông
- Cổ phần ưu đãi cổ tức
Theo Khoản 1 Điều 82 Luật Doanh nghiệp 2005 thì cổ phần ưu đãi cổ tức
là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ
thông hoặc mức ổn định hằng năm Cổ tức của cổ đông ưu đãi được chia hằng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức
Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty, trong bất kì trường họp nào dù công ty có lợi nhuận hay không họ đều được chia cổ tức ở mức nhất định
- Cổ phần ưu đãi hoàn lại
8
Khoản 1 Điều 81 Luật Doanh nghiệp 2005
Trang 20Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần được công ty hoàn lại phần vốn góp bất
cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo điều kiện nghi lại tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại9 Cổ phần ưu đãi hoàn lại là một trong những công cụ huy động vốn có hiệu quả của công ty cổ phần và cổ đông sở hữu có thể rút vốn ra bất cứ lúc nào cần thiết đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho cổ đông khi tham gia vào loại hình doanh nghiệp này
Ngoài ra trong công ty cổ phần còn có các cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định Tùy vào trường hợp cụ thể từng công ty có thêm quy định về loại cổ phần khác
1.3 Khái quát chung về cổ đông
1.3.1 Khái niệm cổ đông
Theo Luật Doanh nghiệp 2005 cổ đông là người sở hữu ít nhất một cổ phần
đã được phát hành tại công ty cổ phần10, tất cả các cá nhân tổ chức không phân biệt quốc tịch nếu không thuộc các trường hợp luật cấm đều có thể trở thành cổ đông trong công ty cổ phần11 Như vậy, xuất phát từ địa vị pháp lý của thành viên trong công ty cổ phần thì người sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông, khác với các loại hình doanh nghiệp khác như công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ là thành viên góp vốn, và đây cũng là đặc trưng duy nhất chỉ có ở công ty cổ phần
Số lượng cổ đông trong công ty cổ phần tối thiểu là ba và không giới hạn tối đa
vì vậy số lượng cổ đông có thể lên hàng trăm, hàng ngàn cổ đông Sau khi thành lập và trong suốt quá trình công ty hoạt động cá nhân hay tổ chức sở hữu một cổ phần cũng là cổ đông Cổ đông sở hữu cổ phần thông qua việc mua cổ phần khi mới thành lập công ty hay là khi công ty phát hành cổ phần khi huy động vốn, khi được chuyển nhượng khi được thừa kế hay được ủy quyền Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, Công ty cổ phần có nhiều loại
cổ phần ưu đãi như: Cổ phần ưu đãi biểu quyết, Cổ phần ưu đãi cổ tức, Cổ phần
ưu đãi hoàn lại, Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định Nếu phân loại cổ đông theo cổ phần mà họ sở hữu thì cổ đông được phân chia làm 2 loại
cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi12 Tuy nhiên trong quản trị công ty và khoa học pháp lý người ta thường chia các cổ đông căn cứ tỷ lệ cổ phần mà cổ
Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005
12 Điều 78 Luật Doanh nghiệp 2005
Trang 21đông sở hữu, theo cách này cổ đông được phân loại thành cổ đông lớn và cổ đông thiểu số Tỷ lệ để có thể coi là cổ đông lớn thường do điều lệ công ty cổ phần quy định trên cơ sở tuân thủ luật pháp
Theo như trên phân tích thì ta có thể hiểu là: cổ đông là cá nhân hay tổ
chức sở hữu một hoặc nhiều cổ phần trong Công ty cổ phần, có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với phần vốn đã góp của mình
1.3.2 Phân loại cổ đông
Việc phân loại cổ đông trong công ty cổ phần được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005 phụ thuộc vào bản chất của cổ phần mà cổ đông sở hữu Việc phân loại cổ đông có thể căn cứ vào nhiều tiêu chí, trong phạm vi nghiên cứu đề tài này tác giả chỉ dựa trên hai tiêu chí:
Dựa vào tiêu chí cổ phần thì cổ đông được chia thành cổ đông phổ thông và
cổ đông ưu đãi Trong công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phần phổ thông, người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông, có quyền và nghĩa vụ cơ bản nhất Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi, người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi, được nhận một số quyền ưu tiên hơn nhưng cũng phải
từ bỏ một số quyền nhất định
Công ty cổ phần không bắt buộc phải có cổ phần ưu đãi, cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi, nhưng cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông13 Dựa vào tiêu chí số lượng cổ phần mà cổ đông sở hữu được chia thành cổ đông đa số và cổ đông thiểu số Căn cứ vào số lượng cổ phần cổ đông có thể nắm giữ nhiều cổ phần, cũng có cổ đông nắm giữ ít cổ phần
1.3.3 Khái niệm cổ đông thiểu số
Pháp luật thực định của Việt Nam chưa có một định nghĩa về cổ đông thiểu
số hay các đặc điểm của cổ đông thiểu số Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật cụ thể tồn tại nhiều thuật ngữ dùng để chỉ cổ đông thiểu số như cổ đông ít vốn, cổ đông nhỏ Về mặt lý luận, có quan điểm chia cổ đông thành cổ đông ít vốn và cổ đông đa số14,
có quan điểm thì cho rằng người sở hữu phần vốn đáng kể trong công ty được gọi là cổ đông đa số Ngược lại, các cổ đông nhỏ không có ảnh hưởng đáng kể trong quản lý và
13
Tiến sĩ Bùi Xuân Hải, Luật doanh nghiệp bảo vệ cổ đông – pháp luật và thực tiễn, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2011.
14
Nguyễn Ngọc Bích và Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty: Vốn, quản lý và tranh chấp theo luật
doanh nghiệp 2005, Nhà xuất bản tri thức, trang 349 và 352
Trang 22điều hành công ty được xem là cổ đông thiểu số15 Nếu như ta căn cứ vào tỉ lệ cổ phần mà
cổ đông sở hữu giữ thì được phân loại thành cổ đông lớn và cổ đông thiểu số, tỉ lệ để coi
là cổ đông lớn thì do điều lệ công ty cổ phần quy định Cặp phạm trù pháp lý “cổ đông lớn” và “cổ đông thiểu số” luôn song song tồn tại nhưng không có định nghĩa nào về nó,
dù được các nhà nghiên cứu, nhà làm luật quan tâm nhiều
Trong khi luật doanh nghiệp 2005 không định nghĩa cổ đông thiểu số và cổ đông lớn thì luật chứng khoán 200616 quy định: “Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành” Như vậy, ta có thể suy luận 5% là ranh giới để xác định cổ đông lớn cổ đông nhỏ theo Luật chứng khoán Tương tự tại khoản 4 Điều 86 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: “Cổ đông sở hữu 5% tổng số cổ phần trở lên phải được đăng ký với cơ quan kinh doanh có thẩm quyền…”17 Theo quy định này ta cũng có thể suy luận những cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần chính là các cổ đông lớn Nhóm cổ đông theo pháp luật hiện hành chưa có đưa ra một định nghĩa nào về nhóm cổ đông nhưng trên thực tế lại gắn liền với các quyền lợi của các thiểu số vì nó có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ các cổ đông thiểu số và cũng thông qua nó để bảo vệ quyền lợi của mình, bên cạnh đó cũng xuất hiện tỉ lệ nhỏ cổ đông thiểu số liên kết với nhau thành nhóm cổ đông Tuy nhiên, pháp luật thực định của Việt Nam chưa có một định nghĩa về “nhóm
cổ đông” nhưng dựa trên khoản 2 điều 79 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định thì
có thể hiểu rằng nhóm cổ đông là tập các thiểu số sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất trong sáu tháng hoặc một tỉ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty
Từ sự không thống nhất trong quy định của pháp luật chúng ta rất khó đưa ra một định nghĩa đầy đủ về cổ đông thiều số nhưng mọi người đều hiểu cổ đông thiểu số những
cổ đông sở hữu một tỷ lệ cổ phần nhỏ trong công ty cổ phần và không có khả năng chi phối, kiểm soát hoạt động của công ty một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
Vì vậy, không thể đưa ra định nghĩa về cổ đông thiểu số chỉ dựa trên một tỷ
lệ sở hữu cổ phần nhất định mà khi đề cập đến vấn đề này, bên cạnh việc xem xét ở góc độ tỷ lệ cổ phần mà cổ đông sở hữu, cần phải xem xét dưới cả góc độ
Tiến sĩ Bùi Xuân Hải, Luật doanh nghiệp bảo vệ cổ đông – pháp luật và thực tiễn, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2011
Trang 23khả năng chi phối công ty của cổ đông Cụ thể là phải xem xét đến vị trí, vai trò, khả năng của cổ đông trong việc quyết định hay ảnh hưởng đến các chính sách, kế hoạch kinh doanh, chiến lược phát triển của công ty và biểu quyết thông qua các vấn đề tại cơ quan quyền lực cao nhất của công ty là Đại hội đồng cổ đông, khả năng tham gia vào quá trình quản lý, kiểm soát công ty của
cổ đông là phụ thuộc vào tỷ lệ phần vốn góp mà cổ đông nắm giữ trong công ty Theo đó, cổ đông sở hữu tỷ lệ cổ phần càng cao trong công ty thì khả năng chi phối tới quá trình quản lý, kiểm soát công ty càng cao và ngược lại
Hiện nay có nhiều tác giả nêu lên định nghĩa về cổ đông thiểu số nhưng từ
những phân tích trên ta có thể hiểu: Cổ đông thiểu số là cổ đông trong công ty
cổ phần có vốn góp mua cổ phần, sở hữu tỉ lệ cổ phần nhỏ so với các cổ đông khác và không có khả năng quản lý hoạt động công ty một cách trực tiếp hay gián tiếp
1.4 Khái quát bảo vệ cổ đông thiểu số
1.4.1 Bảo vệ cổ đông thiểu số
Bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm hiện nay Còn ở Việt Nam cổ đông thiểu số tuy nhỏ bé nhưng luôn là trung tâm của quản trị công ty, cổ đông thiểu số luôn chiếm số đông trong nền kinh tế
và trong mỗi công ty, nhất là các công ty nêm yết trên thị trường chứng khoán Công ty cổ phần là hình thức công ty đối vốn, các cổ đông cùng góp vốn
và cũng là người sở hữu công ty, cùng chịu trách nhiệm và quyền lợi theo tỉ lệ vốn góp Vì vậy, khi pháp luật bảo vệ cổ đông có hiệu quả, các nhà đầu tư có nhiều động lực hơn góp vốn vào công ty cổ phần, đối với các công ty thu hút vốn cổ phần khả năng huy động vốn sẽ gia tăng một khi nhà đầu tư yên tâm rằng đồng vốn đầu tư của mình được bảo toàn và phát triển, các quyền và lợi ích được bảo đảm Bảo vệ cổ đông hiệu quả có tác động tích cực lên toàn bộ nền kinh tế, tiến trình xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ cổ đông thiểu số dường như đang diễn ra chậm chạp
Nếu xem mỗi cổ đông là chủ nhân một phần của doanh nghiệp thì những cổ đông thiểu số luôn bị chèn ép dưới các cổ đông lớn, khi họp Đại hội đồng cổ đông người ta không thấy vai trò của cổ đông thiểu số tại các cuộc họp mà chủ yếu chỉ tập trung nghe và tiếp thu các đề suất từ các cổ đông lớn Các cổ đông thiểu số ở đây chỉ là những nhà đầu tư, góp vốn cho công ty, còn việc kinh doanh thì được giao cho ban lãnh đạo và quản lý công ty
Trang 24Tóm lại, việc bảo vệ cổ đông thiểu số trước các cổ đông lớn là đòi hỏi tất yếu trong pháp luật công ty, là yếu tố không thể thiếu để phát triển thị trường
chứng khoán và phát triển nền kinh tế
1.4.2 Mối quan hệ bất bình đẳng giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số
Trong công ty cổ phần, quyền của các cổ đông tương ứng với số vốn đã góp vào công ty Do vậy, cổ đông góp nhiều vốn (tức có nhiều cổ phần, cụ thể là cổ phần có quyền biểu quyết) sẽ có nhiều ưu thế hơn đối với hoạt động quản lý công ty, và không phải tất cả các cổ đông, thành viên công ty đều có quyền lợi thống nhất với nhau, đều có khả năng chi phối, kiểm soát công ty giống nhau Khi các lợi ích của các cổ đông không thống nhất, có khi mâu thuẫn cổ đông lớn có khả năng lợi dụng sức mạnh bóc lột cổ đông thiểu số
Sự tác động của cổ đông lớn đến công ty có thể bằng nhiều cách khác nhau
vì các cổ đông lớn là những người góp vốn nhiều hơn nên tiếng nói trọng lượng hơn khi thông qua các quyết định của công ty trong khi đó so với các cổ đông thiểu số thì vốn góp ít nên khi thông qua sự biểu quyết vấn đề nào đó trong công ty thì tiếng nói sẽ có trọng lượng thấp hơn các cổ đông lớn Cổ đông nhỏ
là những cổ đông chiếm dưới 5% tổng số cổ phần của công ty và cổ đông chiếm
từ 5% tổng số cổ phần mới có quyền ứng cử thành viên Hội đồng quản trị, chỉ
có các cổ đông lớn mới có cơ hội trở thành người điều hành công ty Về quyền lợi của các cổ đông trong công ty cổ phần, theo quy định của Luật Doanh nghiệp là ngang nhau Theo điểm 5, điều 78 Luật Doanh nghiệp quy định: “mỗi
cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau”, quyền quản lý công ty lại rơi vào tay những cổ đông lớn và đặc biệt trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa (trong đó cổ đông nhà nước chiếm quá bán) thì tiếng nói của các cổ đông lớn luôn được khẳng định
1.4.3 Ý thức và khả năng tự bảo vệ mình của cổ đông thiểu số
Ngày nay đều quan trọng trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình là ý thức,
dù không có khả năng tự bảo vệ mình nhưng các cổ đông thiểu số có ý thức trong việc tự bảo vệ mình và không còn phụ thuộc vào cổ đông lớn là điều kiện cần thiết để thực hiện các quyền lợi của mình thông qua thành lập các nhóm cổ đông Trong đó việc cổ đông thiểu số ý thức được sự cần thiết phải biết bảo vệ mình sẽ là tiền đề quan trọng để họ chủ động bảo vệ mình khi các công cụ pháp
lý được xây dựng và hoàn thiện
Tuy nhiên pháp luật thực định Việt Nam về vấn đề này lại còn nhiều bất cập, thực trạng có nhiều vấn đề chưa giải quyết Tuy các cổ đông thiểu số là
Trang 25thành phần chiếm đa số trong các công ty cổ phần, mỗi nhà đầu tư có trình độ nhận thức khác nhau và đầu tư vốn chủ yếu với mục đích sinh lợi nên họ ít quan tâm đến quyền của mình và không biết đến hay không tham gia vào quản lý công ty Do đa phần các nhà đầu tư theo kiểu như vậy, họ không hề biết hay quan tâm đến những người quản lý của các doanh nghiệp mà họ mua cổ phần là
ai, có năng lực như thế nào Chủ yếu họ là doanh nhân, trí thức, cán bộ công chức, sinh viên, lao động phổ thông hay những ngành nghề, lĩnh vực khác, các nhà đầu tư nhỏ nên ý thức tự bảo vệ mình còn thấp Nhiều cổ đông nhỏ đã tự hạn chế những quyền lợi của chính họ, tại không ít doanh nghiệp cổ phần, phần lớn các cổ đông nhỏ không có điều kiện thực hiện đầy đủ quyền của cổ đông, thậm chí không bao giờ nghiên cứu điều lệ của doanh nghiệp mà mình nắm giữ
cổ phần…Họ không tham gia đại hội cổ đông vì cho rằng ý kiến của mình không giải quyết được điều gì; không nắm được thông tin cần thiết nên không
có khả năng tham gia quản lý, quyết định các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp
Các cổ đông thiểu số có thể thực hiện quyền cổ đông thông qua việc tham
dự hội nghị cổ đông, đề xuất chương trình hành động tại hội nghị cổ đông, bầu ban lãnh đạo, thực hiện các hành vi pháp lý như nộp hồ sơ kiện dân sự, nộp hồ
sơ điều tra hình sự Nhưng các cổ đông nhỏ thường có ít vốn nên đầu tư độc lập, thiếu liên kết với các cổ đông khác nên dù có ý thức được quyền lợi của mình bị xâm phạm nhưng cũng đành cam chịu, vì với số vốn góp ít ỏi trong công ty, cổ đông thiểu số không thể đưa ra những quyết định hoặc chi phối tới những quyết định của công ty để thay đổi số phận của chính mình
Cổ đông thiểu số thường chiếm đa số trong các công ty cổ phần, đặc biệt là các cổ đông liên kết lại với nhau tạo thành nhóm để thực hiện một số quyền mà pháp luật cho phép trên thực tế là gần như không thực hiện được, các cổ đông lớn mặc dù không chiếm số đông so với các cổ đông thiểu số nhưng họ lại quá hiểu về nhau và luôn liên kết, hợp tác với nhau để quyết định sự phát triển của công ty và quyết định luôn lợi ích cho chính mình Song song với đó là bỏ qua lợi ích, chèn ép, xâm phạm quyền lợi của các cổ đông thiểu số, chúng ta thực hiện cách nào đi nữa thì các cổ đông thiểu số cũng không có khả năng để tự bảo
vệ quyền lợi của mình Chính điều đó đã góp phần tạo nên việc mất lòng tin cho các nhà đầu tư và tạo nên việc mất ý thức bảo vệ mình của các cổ đông thiểu số đối với hoạt động của công ty Chẳng phải ngẫu nhiên mà năm nào cũng có không ít các công ty cổ phần phải hoãn cuộc họp Đại hội đồng cổ đông vì sự vắng mặt của các cổ đông thiểu số bởi vì những cổ đông này không đến dự họp
Trang 26là vì họ hiểu rằng, nếu có đến dự họp thì họ cũng không thể đóng góp ý kiến để bảo vệ được quyền lợi của mình, tiếng nói của họ cũng chẳng có ý nghĩa hoặc
bị làm ngơ trước các cổ đông lớn Đó là chưa kể có những trường hợp cổ đông
ở cách xa địa điểm tiến hành cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, họ lại càng không muốn bỏ thời gian, công sức, tiền bạc để đến tham dự một cuộc họp mà tiếng nói của mình không có sự thuyết phục
1.5 Mục tiêu bảo vệ cổ đông thiểu số
Khi mà ý thức tự bảo vệ quyền lợi của mình của các cổ đông thiểu số còn hạn chế và bản thân họ không có khả năng giải quyết thực trạng quyền lợi của mình đang bị xâm phạm, thì nhà nước cần phải bằng pháp luật đặt ra các nguyên tắc, xây dựng nên các công cụ pháp lý tạo điều kiện cho các cổ đông thiểu số thực hiện hiệu quả các quyền cổ đông, tạo cho họ vị trí và tiếng nói trong CTCP Bản thân điều này không chỉ có giá trị trong việc trực tiếp bảo vệ được quyền lợi của các cổ đông thiểu số mà hơn thế nữa, nhà nước còn đảm bảo được các lợi ích cao hơn cho xã hội và các mục tiêu quan trọng, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Các mục tiêu bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số, bao gồm:
1.5.1 Khuyến khích nhà tư bản đầu tư kinh doanh, tăng nguồn vốn cho nền kinh tế
Trong bất kỳ thời đại nào, một quốc gia muốn phát triển nền kinh tế thì cần phải thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi từ người dân và nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Tuy nhiên, để huy động được các nguồn vốn từ các nhà đầu tư, các cơ chế pháp lý để bảo vệ họ, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng
mà họ thu được từ hoạt động đầu tư Một khi quyền lợi của các cổ đông không được đảm bảo, thì họ sẽ không đầu tư hoặc lựa chọn các lĩnh vực đầu tư khác
an toàn và hiệu quả hơn như gửi tiết kiệm ở ngân hàng, hoặc cũng có thể mang tiền đi đầu tư ở những nơi có cơ chế bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn
Mặc dù cổ đông thiểu số luôn gắn liền với số vốn ít, số vốn mà dường như chẳng có ý nghĩa gì đối với nền kinh tế nếu như họ chỉ đầu tư một mình, nhưng
đi liền với đó, cổ đông thiểu số lại chiếm đại đa số trong các nhà đầu tư Chính
số đông đã tạo ra vai trò quan trọng của các cổ đông thiểu số trong việc tạo ra nguồn vốn cho nền kinh tế Như vậy, việc bảo vệ cổ đông thiểu số mang nhiều
ý nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng đầu tiên phải kể đến mục tiêu nhằm khuyến khích các cổ đông thiểu số đầu tư kinh doanh Việc cổ đông thiểu
số đầu tư kinh doanh trước tiên là đảm bảo nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận cho
Trang 27chính họ và cũng thông qua đó thu hút, tập trung nguồn vốn cho nền kinh tế Các cổ đông lớn, dù với số vốn lớn đủ để họ mang lại lợi nhuận cao cho chính
họ và đóng góp quan trọng trong nền kinh tế, nhưng thực tế đã chứng minh họ không phải là số đông đủ để giúp nền kinh tế vận hành và phát triển một cách tốt nhất nếu như không có sự đồng lòng, sát cánh của những cổ đông thiểu số
dù ít tiền nhưng luôn chiếm số đông
Rõ ràng cổ đông thiểu số có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo nguồn vốn cho nền kinh tế quốc gia Vì vậy, nhà nước với vai trò là người thực hiện các sách lược vĩ mô điều tiết nền kinh tế cần nhận thức rõ hơn ai hết về vấn đề này, để xây dựng các công cụ pháp lý hữu hiệu và hoàn thiện các chế định pháp
lý hiện hành nhằm bảo vệ hiệu quả quyền lợi của các nhà đầu tư nhỏ Đồng thời, thông qua đó, tạo niềm tin và khuyến khích cổ đông thiểu số bỏ tiền ra kinh doanh hoặc tin tưởng thực hiện các dự án đầu tư trong nước và trực tiếp tạo nguồn vốn cho sự vận hành của nền kinh tế Chính vì vậy, bảo vệ cổ đông thiểu số là tạo ra sự yên tâm cho các cổ đông thiểu số để khuyến khích họ bỏ tiền ra đầu tư kinh doanh và thông qua đó, thu hút được nguồn vốn phục vụ cho
sự phát triển của nền kinh tế
1.5.2 Đảm bảo sự tồn tại và phát triển của công ty cổ phần và thị trường chứng khoán
Hiện nay trong nền kinh tế quốc gia không thể phủ nhận vai trò quan trọng của công ty cổ phần và thị trường chứng khoán, đây là loại hình công ty phát triển phổ biến nhất trên thế giới với quy mô lớn, hiệu quả hoạt động của loại hình doanh nghiệp này tác động trực tiếp đến sự tăng trưởng, thậm chí là sự tồn tại của nền kinh tế Thị trường chứng khoán với sức mạnh của mình, có vai trò như biểu đồ của nền kinh tế ở mỗi quốc gia, chính vì tầm quan trọng và những đóng góp to lớn của công ty cổ phần và thị trường chứng khoán cho nền kinh tế, nên bất kỳ quốc gia nào cũng chú trọng xây dựng các công cụ pháp lý để bảo vệ
và thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này
Xuất phát từ bản chất của vấn đề thì cả công ty cổ phần và thị trường chứng khoán cũng đều được xây dựng nên từ những nhà đầu tư, cụ thể là từ cổ đông của các công ty cổ phần Nhà đầu tư bỏ tiền đầu từ nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và đó là nguồn gốc hình thành nên loại hình doanh nghiệp này Có thể nói không thể có công ty cổ phần cũng như thị trường chứng khoán nếu như không có nhà đầu tư nào chịu bỏ tiền ra kinh doanh Chính vì vậy nhà nước muốn duy trì sự tồn tại và đảm bảo sự phát triển cho công ty cổ phần và thị
Trang 28trường chứng khoán, thì trước tiên và quan trọng hơn cả là phải bảo vệ được quyền lợi của các cổ đông mà trọng tâm là các cổ đông thiểu số Như một triết
lý sinh tồn tự nhiên, phải bảo vệ được quyền lợi của cổ đông thiểu số thì những ông chủ nhỏ này mới chịu bỏ tiền ra thành lập hoặc tham gia vào công ty cổ phần và đây là điều kiện để duy trì sự tồn tại và đảm bảo sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này cũng như của thị trường chứng khoán Ngược lại, nếu như không có các công cụ pháp lý hữu hiệu để họ thực hiện các quyền của mình hay không tạo được niềm tin về việc họ đầu tư sẽ có lợi nhuận, thì có lẽ chẳng nhà đầu tư nào bỏ tiền ra để thành lập hay tham gia vào công ty cổ phần cũng như mua chứng khoán trên thị trường chứng khoán, bởi đầu tư là vì mục đích tìm kiếm quyền lợi và khi không có niềm tin mình sẽ được hưởng quyền lợi từ hoạt động đầu tư thì chắc chắn không ai lại bỏ tiền ra kinh doanh
Trong thời kì đổi mới, nước ta xây dựng nền kinh tế theo cơ chế thị trường, đẩy mạnh phát triển kinh tế Việc mở cửa, hợp tác song phương, đa phương thu hút các nhà đầu tư, tạo động lực cho nhà đầu tư thành lập công ty Mô hình công ty cổ phần ngày càng phát triển, xã hội phát sinh nhiều vấn đề cần tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của thành viên trong công ty, giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa các nhà đầu tư với doanh nghiệp…cần sự can thiệp của nhà nước Chính vì thế nước ta đã ra đời đạo luật công ty đầu tiên 1990, luật này có quy định về công ty cổ phần nhưng còn khá đơn giản và sơ sài Sau đó Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời đã có những bước tiến bộ, Luật Doanh nghiệp
1999 đã hoàn thiện hơn các vấn đề liên quan đến công ty, nguyên tắc bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư được thể hiện rõ ràng hơn Song văn bản này, việc bảo vệ
cổ đông vẫn chưa đáp ứng được sự đòi hỏi của nền kinh tế thị trường Luật doanh nghiệp 2003 ra đời tạo bước chuyển mới cho nền kinh tế nước ta, luật này chủ yếu quy định thành lập mới, tổ chức lại, giải thể, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty nhà nước, chủ yếu điều chỉnh quan hệ giữa nhà nước với người đại diện phần góp vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước Với việc nước ta chẩn bị cho quá trình tham gia vào tổ chức Thương mại thế giới (WTO), để đáp ứng cho nền kinh tế hiện nay nước ta đã cho ra đời Luật Doanh nghiệp 2005 Luật này quy định thành lập, tổ chức quản lý hoạt động của công
ty cổ phần một cách cụ thể và chi tiết, đặc biệt vấn đề bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong mô hình công ty cổ phần quyền lợi và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty đã được ghi nhận rõ ràng hơn
Tóm lại, không chỉ có Luật doanh nghiệp 2005 mà còn có rất nhiều văn bản, luật khác điều chỉnh các vấn đề liên quan tới bảo vệ cổ đông thiểu số trong
Trang 29công ty cổ phần Chứng tỏ được nhà nước ta đã có sự nhìn nhận rõ ràng hơn về vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế, của các thành viên cổ đông trong công ty cổ phần nhằm bảo vệ quyền lợi của họ Sự hoàn thiện pháp luật trong việc bảo vệ cổ đông sẽ là động lực cho các nhà đầu tư phát triển kinh tế
Trang 30CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ
Những quyền cơ bản của cổ đông, thành viên công ty giúp những nhà đầu
tư đảm bảo quyền lợi của mình khi tham gia vào công ty Tuy nhiên bên cạnh
đó còn nhiều vấn đề cần được quan tâm khi quyền lợi của họ bị xâm phạm:
2.1.1 Quyền nhận cổ tức
Quyền nhận cổ tức là quyền cơ bản của cổ đông, gắn liền với quyền sở hữu
cổ phần Cổ đông có quyền nhận lợi tức phát sinh từ cổ phần mà mình nắm giữ, khi công ty kinh doanh có lợi nhuận thì cổ đông có thể nhận được cổ tức, đây cũng là ưu điểm khi thu hút nhà đầu tư khi mua cổ phần này của công ty
Theo Luật Doanh nghiệp 2005, cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận c ̣òn lại của công ty sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài chính18 Đây có thể là khoản lợi nhuận ròng được thực hiện trong năm tài chính vừa kết thúc và có thể là khoản lợi nhuận giữ lại của công ty được thực hiện trong năm tài chính vừa kết thúc
và có thể là khoản lợi nhuận giữ lại của công ty từ những năm tài chính trước
đó Công ty cổ phần có nhiều loại cổ phần khác nhau, mỗi loại cổ phần mang lại quyền lợi khác nhau bao gồm mức cổ tức, theo Luật Doanh nghiệp quy định việc trả cổ tức theo từng loại cổ phần:
18
Khoản 9 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005
Trang 31 Cổ tức dành cho cổ phần ưu đãi
Theo Điều 82 Luật Doanh nghiệp 2005, cổ đông ưu đãi cổ tức có cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm Cổ tức được chia hằng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công
ty Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức
Cổ tức dành cho cổ phần phổ thông
Đối với việc chi trả cổ tức cho cổ phần phổ thông được xác định căn cứ vào
số lợi nhuận ròng đã thu được và khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại công ty Công ty có thể chi trả cổ tức bằng tiền mặt, bằng cổ phiếu, bằng tài sản khác tại Điều lệ công ty quy định và cụ thể:
Trả cổ tức bằng tiền mặt: Trong hoạt động kinh doanh thường trả cổ tức
bằng tiền mặt dựa trên cơ sở mỗi cổ phiếu, được tính bằng phần trăm mệnh giá Nếu trả bằng tiền mặt thì phải thực hiện bằng Việt Nam đồng và có thể thanh toán bằng séc, trả tiền gửi bằng bưu điện đến địa chỉ thường trú của cổ đông Cổ tức có thể được thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng khi công ty đã có
đủ chi tiết về ngân hàng của cổ đông để có thể chuyển trực tiếp được vào tài khoản ngân hàng của cổ đông Nếu công ty đã chuyển khoản theo đúng các thông tin chi tiết về ngân hàng như thông báo của cổ đông thì công ty không chịu trách nhiệm về các thiệt hại phát sinh từ việc chuyển khoản đó19
Việc chi trả bằng tiền mặt khẳng định khả năng thanh toán của công ty, và khả năng quản lý của doanh nghiệp
Trả cổ tức bằng cổ phiếu: Các công ty cổ phần ngày càng có xu hướng trả
cổ tức bằng cổ phiếu, để thu hút các nhà đầu tư được hưởng lãi trong tương lai Khi công ty có dự án mới cần lượng tiền mặt nhất định, hay công ty đẩy mạnh đầu tư mở rộng sản xuất, tạo ra nhiều cơ hội làm ăn hạn chế số lượng tiền mặt
ra khỏi doanh nghiệp, không cần chịu áp lực khi vay nợ Nhưng bên cạnh đó sẽ làm tăng đi số lượng cổ phiếu khi lưu hành tại công ty, phương thức này khó duy trì liên tục khi công ty tái đầu tư cổ phần
Trả cổ tức bằng tài sản: Ngoài hai phương thức trên thì công ty còn trả cổ
tức bằng tài sản của công ty, cổ phiếu hay chứng khoán Khi công ty cổ phần có
19
Khoản 3 Điều 93 Luật Doanh nghiệp 2005
Trang 32số chứng khoán muốn phân phát số chứng khoán này cho cổ đông của mình bằng hình thức trả cổ tức bằng tài sản chính, nhưng hình thức này rất hiếm gặp
2.1.2 Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần
Luật Doanh nghiệp 2005 quy định cổ đông biểu quyết phản đối quyết định
về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình.Yêu cầu phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại Yêu cầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định về các vấn đề nêu trên20
Đây là một trong các quyền quan trọng của cổ đông có thể sử dụng để bảo
vệ quyền lợi của mình Bản chất của việc yêu cầu công ty mua lại cổ phần là việc rút vốn ra khỏi công ty của cổ đông thiểu sống, khi họ không còn muốn đầu tư vào công ty Tuy nhiên, luật luôn hạn chế việc rút vốn của cổ đông vì việc rút vốn ảnh hưởng đến nguồn vốn ổn định của công ty và khi đó công ty sẽ gặp khó khăn khi lưu chuyển vốn lưu động, dẫn đến tình trạng thiếu vốn khi thực hiện các dự án mới, bỏ qua cơ hội đầu tư phát triển, đi vai nợ từ bên ngoài
và điều này gây tổn thất lớn cho công ty
Khi yêu cầu công ty mua lại cổ phần thì giá mua là vấn đề nhiều cổ đông quan tâm, nếu không có quy định cụ thể thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông Vì vậy, Luật Doanh nghiệp 2005 đã quy định cụ thể về vấn đề này
- Theo đó, công ty phải mua lại cổ phần với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Việc xác định giá như trên tạo sự công
bằng cho cổ đông và công ty
- Cổ đông gặp khó khăn khi không xác định giá cổ phần, nhất là ảnh hưởng quyền lợi của cổ đông thiểu số Theo Luật Doanh nghiệp 2005 quy định
“Trường hợp không thoả thuận được về giá thì cổ đông đó có thể bán cổ phần cho người khác hoặc các bên có thể yêu cầu một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá Công ty giới thiệu ít nhất ba tổ chức định giá chuyên nghiệp để
cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng”21 Việc này cho phép
cổ được quyền lựa chọn tổ chức chuyên nghiệp để định giá mua là quy định hợp
Trang 33lý, tạo cho cổ đông thiểu số có thể chủ động hơn trong việc tìm tổ chức có uy
tín, định giá chính xác nhằm bảo vệ quyền lợi cho mình
- Luật Doanh nghiệp 2005 không có quy định chi phí định gí thuộc về
cổ đông hay công ty Cho nên, cần phải có quy định xác định nguyên tắc chi phí
định giá thuộc về ai
Theo điều 89 Luật Doanh nhiệp 2005 thì Cổ phần của công ty cổ phần có thể được mua bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác quy định tại Điều lệ công ty và phải được thanh toán đủ một lần Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho cổ đông trong việc bán lại cổ phần cho công ty khi cần sử dụng nguồn vốn của mình trong việc luân chuyển vốn hay đầu tư vào công ty khác
2.1.3 Quyền ưu tiên mua đối với cổ mới phát hành
Công ty trong quá trình hoạt động, cần tăng vốn điều lệ hay huy động nguồn vốn phục vụ cho kinh doanh sản xuất thì phương thức tốt nhất là phát hành cổ phần mới thu hút vốn đầu tư cho công ty cổ phần
Cổ đông được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỉ lệ cổ phần của cổ đông trong công ty, với cách thực hiện quyền này cổ đông sẽ được
ưu tiên về giá, thứ tự được ưu tiên mua cổ phần và các quyền mua này sẽ thông qua các quy định công ty cụ thể là cổ đông lớn và hội đồng quản trị Để thực hiện được quyền này cần có những nguyên tắc quy định về quyền ưu tiên mua
cổ phần mới để bảo vệ các cổ đông đặc biệt là các cổ đông thiểu số
Theo Luật Doanh nghiệp 2005, cổ đông phổ thông có quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỉ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty22, theo quy định này khi công ty cổ phần phát hành thêm cổ phần mới cổ đông sẽ được ưu tiên mua cổ phần mới tương ứng với cổ phần phổ thông của mình mà không phân biệt cổ đông lớn hay cổ đông thiểu số Việc thực hiện quyền này tạo nên sự công bằng cho cổ đông, đảm bảo cho cổ đông
có thể duy trì cổ phần mình hiện có, tạo phần giảm bớt sự xáo trộn cơ cấu tổ chức quản lý công ty, cổ đông thiểu số có cơ hội tăng vốn và cổ đông lớn giảm bớt các tình trạng gom quyền lực chi phối công ty tạo nên sự bất bình đẳng giữa các cổ đông
22
Điểm c Khoản 1 Điều 79 Luật Doanh nghiệp 2005
Trang 34Theo pháp luật hiện hành, thì khi công ty tăng nguồn vốn hay phát hành cổ phiếu mới thì cổ đông có quyền ưu tiên mua trước nhưng trên thực tế thì các cổ đông lớn và Hội đồng cổ đông có toàn quyền quyết định việc bán cổ phiếu cho từng cổ đông với tỉ lệ khác nhau mà không nhất thiết phải tuân theo tỷ lệ sở hữu
cổ phần của họ tại công ty Và nếu như cuộc họp thông qua quyết định của Hội đồng cổ đông công ty về vấn đề chào bán cổ phiếu cho các cổ đông vi phạm pháp luật thì các cổ đông nhất là các cổ đông thiểu số thì có quyền kiến nghị về vấn đề này đó là sự cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho chính mình
Pháp luật hiện hành của Việt Nam không có một quy định nào hạn chế quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán của cổ đông hiện hữu trong một số trường hợp cụ thể nào Vì vậy, quyền ưu tiên này phải được hiểu là áp dụng trong mọi trường hợp và không bị hạn chế do bất cứ điều kiện nào, cổ đông có quyền ưu tiên mua cổ phần khi công ty phát hành thêm và Hội đồng cổ đông có quyền loại bỏ quyền ưu tiên này, với một tỷ lệ biểu quyết nhất định
Cổ đông phổ thông cũng có quyền bán quyền ưu tiên mua đó cho người khác23 Quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng tỉ lệ cổ phần họ đang sở hữu trong công ty thông qua quyết định hoặc thông báo gọi là chứng quyền cũng là một quyền tài sản Công ty cổ phần có trách nhiệm sau khi cổ phần được bán, công ty phải phát hành và trao cổ phiếu cho người mua
Trong một số trường hợp một số cổ đông lại không muốn hoặc không có khả năng thực hiện quyền ưu tiên mua cổ phần của mình vì một số lý do khách quan như không đủ nguồn tài chính để mua cổ phần mới chào bán, hay là các cổ đông muốn bán lại quyền ưu tiên để thu lợi nhuận Đối tượng mua quyền ưu tiên cổ phần có thể là cổ đông lcuar công ty hoặc bất cứ ai muốn mua quyền này
Lợi ích lớn nhất của cổ đông khi bán quyền ưu tiên mua là cổ đông sẽ thu lại khoản lợi nhuận từ việc bán quyền ưu tiên mua của mình mà không cần bỏ vốn, và người mua quyền ưu tiên mua cổ phần cũng sẽ tiết kiệm được chi phí khi được mua cổ phần giá thấp hơn thị trường
2.1.4 Quyền chuyển nhượng cổ phần
Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần là quyền cơ bản của cổ đông trong công ty cổ phần, cổ đông công ty có tư cách là chủ sở hữu tài sản, khi họ thực hiện quyền này thì được pháp luật bảo vệ Luật Doanh nghiệp 2005 quy định cổ
23
Điểm c Khoản 2 Điều 87 Luật Doanh nghiệp 2005