1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quy chế pháp lý về hợp đồng cho thuê tài chính

78 538 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 9/10/1995, với việc Chính phủ đã ra Nghị định 64/CP về ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính và một số văn bản khác do Thống đốc ngân hàng

Trang 1

ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT

Bộ môn: Luật thương mại Lớp: Luật thương mại 2 – Khóa 36

MSSV: 5106069

Cần Thơ, tháng 12 năm 2013

Trang 2

Cần Thơ, ngày…tháng năm 2013

Trang 3

Cần Thơ, ngày…tháng năm 2013

Trang 4

Cần Thơ, ngày…tháng năm 2013

Trang 5

Cần Thơ, ngày…tháng năm 2013

Trang 6

1 Tính cấp thiết của vấn đề 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục của luận văn 2

CHƯƠNG 1: KHÁT QUÁT CHUNG VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ HỢP ĐỒNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1.1 Khái quát chung về cho thuê tài chính 3

1.1.1 Lịch sử hình thành cho thuê tài chính trên thế giới 3

1.1.2 Khái niệm cho thuê tài chính 5

1.1.3 Đặc điểm của cho thuê tài chính 8

1.1.4 Phân loại cho thuê tài chính 10

1.1.5 Vai trò của cho thuê tài chính 12

1.2 Khái quát chung về hợp đồng cho thuê tài chính 15

1.2.1 Khái niệm hợp đồng cho thuê tài chính 15

1.2.2 Đặc điểm hợp đồng cho thuê tài chính 17

1.2.3 Phân biệt hợp đồng cho thuê tài chính với hợp đồng cho thuê tài sản thông thường 18

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 2.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng cho thuê tài chính 21

2.2 Chủ thể của hợp đồng cho thuê tài chính 22

2.2.1 Bên cho thuê 22

2.2.2 Bên thuê 28

2.2.3 Bên cung ứng sản phẩm 31

2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cho thuê tài chính 32

2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của bên cho thuê 32

2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của bên thuê 35

2.3.3 Quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng 37

Trang 7

2.4 Hình thức của hợp đồng 39

2.5 Đối tượng của hợp đồng 41

2.6 Phương thức thanh toán hợp đồng 42

2.7 Hiệu lực của hợp đồng cho thuê tài chính 42

2.8 Thực hiện, chấm dứt và giải quyết tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính 44 2.8.1 Thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính 44

2.8.2 Chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính 46

2.8.3 Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cho thuê tài chính 53

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 3.1 Thực trạng các quy định pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính 55

3.1.1 Về chủ thể giao kết hợp đồng cho thuê tài chính 55

3.1.2 Quy định về đối tượng của hợp đồng cho thuê tài chính 58

3.1.3 Quy định về thu hồi và xử lý tài sản khi hợp đồng cho thuê tài chính chấm dứt trước hạn 60

3.1.4 Quy định về giới hạn cho thuê tài chính 62

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính 63

3.2.1 Về chủ thể của hợp đồng cho thuê tài chính 63

3.2.2 Về đối tượng của hợp đồng cho thuê tài chính 65

3.3.3 Về thu hồi và xử lý tài sản khi hợp đồng cho thuê tài chính chấm dứt trước hạn 65

3.3.4 Về giới hạn cho thuê tài chính 66

KẾT LUẬN

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ngày càng phát triển, kèm theo đó là sự mở rộng, nâng cao quy mô sản xuất kinh doanh của hàng loạt các doanh nghiệp Một trong những điều kiện để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động này là vốn, nhưng không phải ở trong mọi trường hợp doanh nghiệp đều có thể tự huy động nguồn vốn Những lúc này Ngân hàng chính là giải pháp hàng đầu cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, các Ngân hàng thường chỉ đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp lớn, uy tín, có khả năng đảm bảo thu hồi được nguồn vốn Chính vì vậy, các chủ thể kinh doanh có quy mô vừa và nhỏ sẽ rất khó để tiếp cận được nguồn vốn hỗ trợ kinh doanh sản xuất từ kênh tín dụng này Vậy đâu là giải pháp cho họ?

Cho thuê tài chính đã hình thành từ rất lâu trong lịch sử thế giới và ngày càng chứng minh được vị thế của mình để trở thành một trong những nghiệp vụ thường xuyên và quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của các doanh nghiệp Cũng với vai trò của nó, hoạt động cho thuê tài chính trong nước đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế trong nước nói chung và các doanh nghiệp nói riêng, góp phần giải quyết vấn đề về vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy nhiên, cho thuê tài chính vẫn còn là một hoạt động khá mới mẻ, Việt Nam chưa khai thác hết các tiềm năng, ưu điểm mà kênh tín dụng này mang lại và hầu như các doanh nghiệp còn tỏ ra

xa lạ, chưa mặn mà với hoạt động này Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này phải kể đến hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động cho thuê tài chính nói chung và hợp đồng cho thuê tài chính nói riêng tồn tại một số điểm bất cập, các văn bản điều chỉnh còn nhiều quy định chồng chéo, mâu thuẫn khiến cho các doanh nghiệp cho thuê lẫn doanh nghiệp thuê gặp khá nhiều khó khăn, lúng túng, gây trở ngại cho hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp Xuất phát từ nguyên nhân này, người

viết đã mạnh dạn chọn đề tài “Quy chế pháp lí về hợp đồng cho thuê tài chính” để làm

đề tài luận văn tốt nghiệp đaị học của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính, chủ thể, đối tượng, quyền và nghĩa vụ cuả các bên trong hợp đồng cho thuê tài chính Qua đó, mong muốn có thể chỉ ra những điểm còn vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn về vấn đề này giúp cho các doanh nghiệp ý thức được những vấn đề cơ bản

Trang 9

xung quanh hợp đồng cho thuê tài chính, tận dụng được triệt để những lợi ích mà hoạt động này mang lại

3 Phạm vi nghiên cứu

Để có thể hiểu được một cách đầy đủ, khách quan và rõ ràng nội dung chính của

đề tài nên người viết chỉ tập trung vào các quy định hiện hành của pháp luật về hoạt động cho thuê tài chính nói chung và hợp đồng cho thuê tài chính nói riêng, đồng thời nêu ra thực trạng xung quanh các quy định của pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính, từ đó rút ra các đề xuất, kiến nghị

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đề tài được hoàn thành một cách khoa học, chính xác, làm cho người đọc tiếp nhận được vấn đề một cách hoàn chỉnh, đầy đủ thì người viết đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học kết hợp với những cơ sở pháp lý khoa học và những nội dung về luật học Cụ thể, người viết đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng,

và duy vật lịch sử song song với các phương pháp như: so sánh, phân tích, tổng hợp và các phương pháp phân tích luật viết

5 Bố cục của luận văn

Tuân theo những quy định về việc trình bày một luận văn, đồng thời để có được một luận văn khoa học, dễ hiểu và để cho người đọc dễ dàng tiếp cận, người viết đã trình bày luận văn theo bố cục sau:

- Mục lục;

- Lời nói đầu;

- Chương 1: Khái quát chung về cho thuê tài chính và hợp đồng cho thuê tài chính;

- Chương 2: Quy định của pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính;

- Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính ở Việt Nam;

- Kết luận;

- Danh mục tài liệu tham khảo;

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ

HỢP ĐỒNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1.1 Khái quát chung về cho thuê tài chính

1.1.1 Lịch sử hình thành cho thuê tài chính trên thế giới

Hoạt động cho thuê tài chính đã ra đời từ rất lâu trong lịch sử nhưng những hình thức sơ khai ban đầu của nó chỉ là những hoạt động cho thuê bình thường Người ta tìm thấy trong các sách cổ, thuật ngữ “cho thuê” (leasing) ra đời rất sớm, cách đây khoảng

2000 năm trước công nguyên ở vùng đất Sumericans, nhưng hoạt động cho thuê chủ yếu chỉ là các dụng cụ nông nghiệp và công cụ cầm tay đơn giản, súc vật kéo…

Hoạt động cho thuê đất nông nghiệp đã xuất hiện trong nền văn minh Babylon khoảng 1800 năm trước công nguyên và khoảng 370 năm trước công nguyên, dần dần theo sự phát triển của nền sản xuất nhân loại mà đối tượng cho thuê được mở rộng ra cho nhiều loại khác nhau như các thiết bị phục vụ sản xuất, tàu thuyền

Sang đến thế kỉ XIX, do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa và sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kĩ thuật mà số lượng, chủng loại hàng hóa cho thuê được gia tăng đáng kể Có thể kể đến các loại hàng hóa có giá trị tài sản lớn như: toa xe, đầu máy tàu hỏa, đường ray ở Anh vào năm 1984, và ở Hoa Kì vào cuối thế kỉ XIX

Những hoạt động cho thuê như trên cứ tồn tại và phát triển mãi cho đến giữa thế

kỉ XX mới trở thành một nghành kinh doanh thật sự

Công ty chuyên về hoạt động cho thuê đầu tiên được thành lập tại Hoa Kì vào năm 1952 bởi Henry Shofeld để phục vụ ngành vận tải đường sắt, là công ty cho thuê Hoa Kì, tên tiếng Anh là United States Leasing Corporation Năm 1960 lần đầu tiên trong lịch sử, một hợp đồng cho thuê tài chính được kí kết tại Anh với giá trị 18.000 bảng, cũng trong năm này phương thức cho thuê tài chính đã được ghi vào luật thương mại Pháp dưới tên gọi “Credit Bail” Những sự tiến bộ và đổi mới của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã khiến cho các doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới tài sản thường xuyên hơn, việc thuê lại tài sản từ các công ty cho thuê giúp các doanh nghiệp

có được nhiều lợi ích hơn Nhờ đó, hoạt động cho thuê phát triển rộng rãi ở Mĩ, Châu

Âu

Nhật Bản là quốc gia Châu Á có nghành kinh doanh cho thuê ra đời sớm nhất ở châu lục này Công ty cho thuê đầu tiên được thành lập vào năm 1963, là công ty cho thuê Orient (Orient Leasing Corporation) Ở quốc gia này, hoạt động của các công ty

Trang 11

cho thuê nhận được sự hỗ trợ tích cực từ phía các Ngân hàng thương mại, các công ty thương mại tổng hợp và các hảng sản xuất Vì vậy, ngành cho thuê ở Nhật phát triển rất nhanh Năm 1970, tổng giá trị hoạt động cho thuê của 31 công ty cho thuê lớn nhất

là 726 triệu USD, năm 1981 là 7500 triệu USD tăng hơn 10 lần so với năm 1970

Đầu những năm 70, hoạt động cho thuê tài chính cũng bắt đầu xuất hiện ở Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia Cuối những năm 70, đầu những năm 80, hoạt động cho thuê tài chính đã phát triển ở hầu hết các nước Châu Á1

Ở Việt Nam, cho thuê tài chính xuất hiện muộn hơn nhiều so với các nước khác trên thế giới Cho thuê tài chính là một hình thức cấp tín dụng được pháp luật ghi nhận lần đầu tiên tại Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm

1990 với tên gọi hoạt động thuê mua tài chính Ngân hàng đi đầu trong lĩnh vực này là Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, năm 1994 Ngân hàng này đã thành lập công ty Cho thuê tài chính Tuy nhiên, hoạt động này chưa thực sự phổ biến và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật tại giai đoạn này Cho đến năm 1995, Việt Nam mới bắt đầu thực hiện nghiệp vụ cho thuê tài chính sau khi Quyết định 149/QĐ-NH5 ngày 27/5/1995 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc ban hành thể lệ tín dụng thuê mua được ban hành, công ty cho thuê tài chính Vinaleasing đã ra đời

Ngày 9/10/1995, với việc Chính phủ đã ra Nghị định 64/CP về ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính và một số văn bản khác do Thống đốc ngân hàng Nhà nước ban hành mà tiêu biểu là Thông tư 03/TT-NH5 ngày 9/2/1996 về việc hướng dẫn thực hiện “Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam” ban hành kèm theo Nghị định 64/CP ngày 9/10/1995 thì nghiệp vụ thuê mua tài chính hay còn gọi là tín dụng thuê mua mới chính thức được điều chỉnh bởi pháp luật, đánh dấu một bước phát triển của hoạt động này tại Việt Nam

Đó là những văn bản đầu tiên của Chính phủ ghi nhận về hoạt động thuê mua tài chính, theo sự phát triển của nền kinh tế, văn bản này dần bộc lộ những mặt hạn chế, thiếu xót nên Chính phủ đã ban hành hàng loạt văn bản thay thế, kịp thời sửa chữa, bổ sung để có thể bắt nhịp với sự phát triển của hoạt động cho thuê tài chính trên cả nước Điển hình cho các văn bản pháp luật ra đời trong giai đoạn này có thể kể đến Luật các

tổ chức tín dụng năm 1997, được sửa đổi bổ sung vào năm 2004, Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài

1 Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, NXB Thống kê, Năm 2007, Tr.367 – 368

Trang 12

chính và gần đây nhất là Luật các Tổ chức tín dụng ngày 17/6/2010 Các văn bản này

đã tạo điều kiện cho các công ty cho thuê tài chính ra đời cũng như sự phát triển mạnh

mẽ của hoạt động cho thuê tài chính

Ở Việt Nam hiện nay, luật tổ chức tín dụng điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính đang có hiệu lực là Luật các Tổ chức tín dụng 2010 có hiệu lực ngày 1/1/2010 nhưng hệ thống các văn bản hướng dẫn vẫn chưa được ban hành mới nên trong phạm

vi bài nghiên cứu này người viết sẽ sử dụng các văn bản được ban hành trước khi Luật

tổ chức tín dụng 2010 ra đời và có hiệu lực Do vẫn chưa có văn bản hướng dẫn mới thay thế nên đa phần các văn bản này vẫn còn hiệu lực thi hành

1.1.2 Khái niệm cho thuê tài chính

Theo định nghĩa của Uỷ Ban về chuẩn mực kế toán quốc tế trong “Chuẩn mực

kế toán quốc tế số 17”, được sửa đổi năm 1997 (IAS 17), cho thuê tài chính (financial leasing) là loại cho thuê có khả năng chuyển dịch về căn bản tất cả rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản” (điểm 3, Chuẩn mực kế toán quốc tế số 17, sửa đổi năm

1997, có hiệu lực từ ngày 1/1/1999)2 Rủi ro được đề cập đến trong định nghĩa này có nghĩa là những hao mòn vô hình do sự ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, do sự lạc hậu về kĩ thuật và cả những hệ quả của các biến động kinh tế Lợi ích trong trường hợp này là khả năng sinh lợi nhuận trong suốt thời gian hoạt động của tài sản kể cả khoảng chênh lệch từ việc bán tài sản khi kết thúc thời hạn thuê

Như vậy, từ định nghĩa trên của Ủy ban về chuẩn mực kế toán quốc tế, có thể hiểu rằng cho thuê tài chính là loại cho thuê có sự chuyển giao từ bên cho thuê sang bên thuê quyền sở hữu, lợi ích và tất cả các rủi ro liên quan đến tài sản

Trên cơ sở kế thừa tinh thần của Ủy ban về chuẩn mực kế toán quốc tế, Chính phủ đã ra Nghị định 64/CP ngày 9/10/1995 ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam Tại Điều 1 của Nghị định này

đã quy định “Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung – dài hạn thông qua

việc cho thuê máy móc - thiết bị và các động sản khác Bên cho thuê cam kết mua máy móc - thiết bị và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận và không được hủy bỏ hợp đồng trước hạn Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê”

2 Trích Giáo trình luật Ngân hàng, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2004, Tr 217

Trang 13

Từ khi Nghị định 64/CP ngày 9/10/1995 ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức

và hoạt động của công ty cho thuê tài chính ra đời cho đến nay, nước ta chỉ có khoảng

12 công ty cho thuê tài chính được thành lập và đi vào hoạt động Con số này đem so với các nước khác trên thế giới còn rất hạn chế nhưng nhìn lại điều kiện của nước ta, ở Việt Nam nó còn khá mới mẻ, không có nhiều công ty có thể hiểu một cách rõ ràng và đầy đủ nhất về lợi ích từ việc cho thuê tài chính nên những văn bản pháp luật quy định

về các vấn đề này sẽ không tránh khỏi sự sơ sài, thiếu xót nên con số trên cũng rất dễ lí giải được Ngày 2/5/2001, Chính phủ đã cho ra đời Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thay thế Nghị định 64/CP ngày 9/10/1995 ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính để sửa chữa, bổ sung những vấn đề về công ty cho thuê tài chính nói chung, hoạt động cho thuê tài chính nói riêng Cụ thể, tại khoản 1, Điều 1 của Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê

tài chính đã quy định lại khái niệm cho thuê tài chính như sau: “Cho thuê tài chính là

hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận” Nghị định này ra đời đã giải quyết được một số vấn

đề còn vướng mắc mà Nghị định 64/CP ngày 9/10/1995 ban hành Quy chế tạm thời về

tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam chưa giải quyết được, thêm vào đó là việc mở rộng ra các đối tượng cho thuê tài chính, cụ thể là các phương tiện vận chuyển Điều này đã giúp ích rất nhiều cho các bên trong giao dịch cho thuê tài chính

Mặc dù có một số thay đổi xung quanh khái niệm cho thuê tài chính theo thời gian nhưng nhìn chung giữa hai giữa hai khái niệm đều thể hiện được một cách đầy đủ nội dung của một giao dịch cho thuê tài chính về mặt pháp lí và kinh tế

Về mặt kinh tế, cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn, thực chất của hoạt động này như một hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, là mối quan hệ giữa bên cho thuê là nhà cung ứng vốn (nhà cho vay) và bên thuê là bên vay vốn Bên cho thuê tài trợ vốn cho bên thuê bằng cách bỏ tiền mua tài sản mà bên thuê yêu cầu Bên cho thuê là chủ sở hữu hợp pháp về mặt pháp lí của tài sản, bên thuê

Trang 14

là chủ sở hữu về mặt kinh tế của tài sản Do chỉ là chủ sở hữu về mặt pháp lí nên bên cho thuê sẽ không trực tiếp sử dụng, khai thác lợi ích từ tài sản mà chuyển giao quyền này lại cho bên thuê Bên thuê hưởng quyền sử dụng tài sản cũng giống như bên vay nhận được một khoản tín dụng tương đương với giá trị của tài sản và cũng phải hoàn trả nợ gốc (tiền mua tài sản) và lãi đối với khoản tín dụng đó, nhưng thay vì nhận tiền (khoản vay) thì bên thuê lại nhận tài sản Để có được quyền này, bên thuê phải thanh toán một khoản tiền cho việc thuê tài sản, kể cả các chi phí, thuế liên quan đến việc thực hiện hợp đồng, chi phí cho việc vận chuyển tài sản Bên thuê sẽ là chủ sở hữu về mặt kinh tế của tài sản, sẽ là người hưởng các lợi ích kinh tế trực tiếp do việc khai thác tài sản đem lại và cũng là bên gánh chịu những rủi ro, tổn thất, đền bù thiệt hại về tài sản cho chủ sở hữu tài sản là bên cho thuê Đồng thời, trong quá trình thuê và sử dụng tài sản, bên thuê có trách nhiệm giữ gìn, bảo quản tài sản ở trạng thái tốt nhất và có khả năng hoạt động liên tục, tuân thủ hướng dẫn sử dụng, bảo hành của nhà sản xuất Mặc

dù về hình thức bên cho thuê đã cho thuê bằng tài sản nhưng thực chất là đã cung cấp cho bên thuê nguồn tài chính, nói cách khác là vốn vay Vì vậy, việc cho thuê tài chính

là một hoạt động tín dụng nhưng thời gian là trung và dài hạn

Về mặt pháp lí, khái niệm trên đã nêu rõ các quan hệ chính yếu trong giao dịch cho thuê tài chính, từ đó, làm cơ sở để bảo vệ quyền và các lợi ích hợp pháp cho các bên Trong giao dịch này, quyền sở hữu tài sản trong mọi trường hợp đều thuộc về bên cho thuê cho đến trước khi hợp đồng cho thuê tài chính hết hạn Khi bên thuê chưa quyết định mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản, bên cho thuê chưa chuyển quyền sở hữu cho bên thuê thì bên thuê chỉ được quyền sử dụng tài sản mà không được phép tiến hành bất kì một giao dịch nào khác khi chưa được phép của bên cho thuê Nếu vi phạm một trong các hành vi trên, bên cho thuê có thể thu hồi lại tài sản, hủy bỏ hoặc chấm dứt hợp đồng trước hạn

Trong một số văn bản pháp lí trước đây còn sử dụng một thuật ngữ khác ngoài thuật ngữ “cho thuê tài chính”, đó là “thuê mua tín dụng” Điển hình là Quyết định 149/QĐ-NH5 ngày 27/5/1995 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc ban hành thể lệ tín dụng thuê mua Mặc dù khác nhau về mặt ngôn từ, nhưng hai thuật ngữ này

có cùng một bản chất, theo đó “tín dụng thuê mua là hoạt động cho thuê máy móc thiết

bị và các động sản khác phục vụ cho sản xuất kinh doanh được các tổ chức tín dụng mua theo yêu cầu của bên thuê Bên thuê thanh toán tiền thuê cho tổ chức tín dụng trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận và không được hủy bỏ Khi kết

Trang 15

thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền sở hữu tài sản thuê, hoặc được mua lại tài sản thuê, hay tiếp tục thuê tài sản theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng thuê mua”3

1.1.3 Đặc điểm của cho thuê tài chính

Dựa trên khái niệm cho thuê tài chính, có thể rút ra các đặc điểm của hoạt động này như sau:

Thứ nhất: cho thuê tài chính mang tính chất của một hoạt động tín dụng, vừa mang tính chất của một hoạt động cho thuê tài sản thông thường Tính chất tín dụng của cho thuê tài chính thể hiện ở chỗ bên cho thuê đã tài trợ một khoản vốn cần thiết cho bên thuê thông qua việc cho thuê tài sản Tuy nhiên trong suốt quá trình cho thuê này, quyền sở hữu tài sản không được chuyển giao mà do bên cho thuê nắm giữ, chỉ có chuyển giao quyền sử dụng Vì vậy, bên thuê được quyền sử dụng, khai thác tài sản phù hợp với yêu cầu của mình Quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản không đi liền với nhau nên có điểm giống với hoạt động cho thuê tài sản thông thường được quy định trong Bộ luật Dân sự

Thứ hai: tuy có nhiều điểm giống với các phương thức cho thuê tài sản thông thường được quy định trong Bộ luật Dân sự hay hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, nhưng cũng có thể dễ dàng nhận ra một điểm khác của phương thức cho thuê tài chính ở chỗ thời hạn thuê của cho thuê tài chính là trung và dài hạn, thường chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản Bên cho thuê là chủ sở hữu của tài sản nhưng mục đích chính của bên này không phải là trực tiếp sử dụng hay hưởng thụ các lợi ích

từ tài sản mà mục đích chính là thu lãi từ hoạt động cho thuê nên thời gian thuê sẽ dài hơn so với các phương thức thông thường nhằm phù hợp với đặc điểm của đối tượng cho thuê là những động sản có giá trị lớn, thời gian cần thiết để khấu hao thường từ một năm trở lên Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản4

Thứ ba: cho thuê tài chính là hình thức cho thuê mà hầu hết các quyền năng của chủ sở hữu (bên cho thuê) được chuyển giao từ bên cho thuê sang bên thuê5 Khác với các hình thức thuê tài sản thông thường theo quy định của pháp luật dân sự, trong hoạt

3 Điều 1 Quyết định số 149/QĐ-NH5 ngày 27/5/1995 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc ban hành thể

lệ tín dụng thuê mua

4 Khoản 3 Điều 113 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010

5 Trần Vũ Hải, Pháp luật về cho thuê tài chính - một số vấn đề cần hoàn thiện, khoa pháp luật kinh tế Đại học

luật Hà Nội, http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/09/04/2143-2/ [Ngày truy cập 18/9/2013]

Trang 16

động cho thuê tài chính, bên cho thuê thường chỉ giữ quyền sở hữu “danh nghĩa” đối

với tài sản cho thuê Bên thuê có quyền sử dụng, khai thác các tính năng kinh tế, hưởng lợi từ tài sản, tuy nhiên cho thuê tài chính cũng có quyền thu hồi tài sản cho thuê nếu bên thuê vi phạm hợp đồng, còn những quyền năng cụ thể đối với tài sản cho thuê được chuyển giao hầu như hoàn toàn cho bên thuê

Thứ tư: khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê phải thanh toán tiền thuê theo quy định và có thể lựa chọn mua lại tài sản thuê Như đã phân tích ở trên, hoạt động cho thuê tài chính của các công ty cho thuê tài chính có bản chất giống như một hoạt động vay vốn Bên cho thuê đã bỏ ra một khoản đầu tư để mua được tài sản để cho bên thuê thuê lại Như vậy, thực chất của việc đi thuê này chính là thuê phần vốn mà bên cho thuê đã bỏ ra nên việc thanh toán tiền thuê phải đảm bảo bù đắp được giá trị tài sản ở thời điểm kí hợp đồng và chứa đựng cả lãi từ tiền thuê mà bên thuê phải trả Và khi kết thúc thời hạn của hợp đồng, bên thuê có quyền lựa chọn giữa việc thuê tiếp hoặc mua lại tài sản theo giá trị còn lại của tài sản Đây là một trong những lợi thế của cho thuê tài chính

Để cụ thể hóa các đặc điểm trên của hoạt động cho thuê tài chính, tại Điều 113

Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đã quy định: “Hoạt động cho thuê tài chính là

việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính và phải có một trong các điều kiện sau:

a) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo thoả thuận của hai bên;

b) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại;

c) Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết

để khấu hao tài sản cho thuê đó;

d) Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.”

Theo “Chuẩn mực kế toán quốc tế” do Ủy ban về chuẩn mực kế toán quốc tế ban hành đã đưa ra những dấu hiệu nhận biết về một giao dịch cho thuê tài chính như sau:

+ Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao cho người thuê khi kết thúc hợp đồng cho thuê tài chính;

Trang 17

+ Hợp đồng quy định quyền chọn mua tài sản thuê với giá tượng trưng tại thời điểm chấm dứt hợp đồng;

+ Thời hạn hợp đồng thuê chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản;

+ Hiện giá của toàn bộ các khoản tiền thuê do người thuê trả tương đương hoặc lớn hơn giá thị trường của tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng

Nhìn chung, với những dấu hiệu nhận biết một giao dịch là cho thuê tài chính như trên là tương đồng với các dấu hiệu mà Uỷ Ban về chuẩn mực kế toán quốc tế đã đưa ra trong “Chuẩn mực kế toán quốc tế” Tuy nhiên, ở dấu hiệu về thời gian cho thuê theo quy định của pháp luật Việt Nam (thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê) là cụ thể hơn so với quy định của Chuẩn mực kế toán quốc tế

Với những đặc điểm trên của hoạt động cho thuê tài chính, có thể thấy được hoạt động này là loại hình tín dụng có nhiều ưu điểm, rất phù hợp với các doanh nghiệp vừa nhỏ trong việc đầu tư máy móc, thiết bị để mở rộng sản xuất

1.1.4 Phân loại cho thuê tài chính

 Các loại cho thuê tài chính cơ bản

+ Cho thuê tài chính ba bên: là phương thức cho thuê trong đó có sự tham gia của ba bên chủ thể: bên thuê, nhà cung cấp và bên cho thuê Đây là loại hình cho thuê phổ biến nhất, thể hiện đầy đủ các đặc trưng của hoạt động cho thuê tài chính Theo phương thức cho thuê này, bên cho thuê sẽ thực hiện việc mua tài sản từ nhà cung ứng, sản xuất tài sản theo những yêu cầu của bên thuê và được hai bên thỏa thuận theo hợp đồng thuê

+ Cho thuê tài chính hai bên: là phương thức cho thuê có sự tham gia của hai bên chủ thể: bên cho thuê và bên thuê, trong đó bên cho thuê sử dụng các thiết bị có sẵn và trực tiếp tài trợ cho bên thuê nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm, đồng thời tăng khả năng thu lời và giảm bớt sự hao mòn vô hình của máy móc

 Các loại cho thuê tài chính đặc biệt

+ Tái cho thuê (bán và cho thuê lại - sale and lease back): là phương thức cho thuê mà công ty cho thuê tài chính sẽ dùng vốn của mình để mua tài sản, thiết bị của khách hàng theo một mức giá được xác định trên cơ sở giá trị còn lại của tài sản, thiết

bị đó (tài sản, thiết bị này đang được sử dụng trong sản xuất của doanh nghiệp) Sau

đó, công ty cho thuê tài chính sẽ dùng tài sản, thiết bị này để cho chính doanh nghiệp này thuê lại và trả tiền thuê định kỳ Phương thức này sẽ giúp cho bên thuê vừa tăng

Trang 18

được vốn lưu động mà vẫn có tài sản để sử dụng, nhất là khi công ty đang ở trong tình trạng khó khăn về tài chính không thể vay vốn ngân hàng và hoạt động kinh doanh không bị xáo trộn Tái cho thuê là dạng đặc biệt của phương thức cho thuê tài chính có

sự tham gia của hai bên chủ thể, thực chất của phương thức này chính là bên cho thuê

là công ty cho thuê tài chính dùng chính tài sản, thiết bị của mình để tài trợ cho bên thuê

+ Cho thuê tài chính bắc cầu: là hình thức cho thuê thường được sử dụng để tài trợ vốn cho các dự án đòi hỏi nguồn vốn lớn như dự án khai thác khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên,… Trong cho thuê bắc cầu có ba chủ thể tham gia: bên cho thuê, bên thuê và bên tài trợ vốn dài hạn Công ty cho thuê tài chính sẽ hợp tác với một hoặc nhiều bên cho vay để cùng tài trợ Vốn tài trợ gồm một phần bên cho thuê, một phần bên cho vay Đối với hợp đồng cho thuê có giá trị lớn, bên cho thuê và bên cho vay cùng ủy thác cho một tổ chức tài chính đứng ra đảm nhiệm toàn bộ công việc Vốn vay thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số tiền tài trợ, khoảng 60 – 80%, khoản cho vay được đảm bảo bằng chính tài sản cho thuê và các khảon tièn thuê Số tiền vay thường

do bên thuê trực tiếp chuyển trả cho người cho vay theo yêu cầu của bên cho thuê, khoản còn lại của tổng số tiền thuê sẽ chuyển trả cho bên cho thuê

+ Cho thuê giáp lưng: là hình thức cho thuê tài chính mà thông qua sự đồng ý của bên cho thuê, bên thuê có thể cho bên thứ ba thuê lại tài sản đã thuê Trong hình thức này, khoản tiền thuê mà bên thứ ba thuê lại phải trả cho bên thuê lúc đầu cao hơn

so với tiền thuê mà bên thuê đầu tiên đã trả cho bên cho thuê, khoản chênh lệch đó gọi

là hoa hồng trách nhiệm Ngoài ra, nếu trong quá trình sử dụng tài sản mà bên thuê không có nhu cầu sử dụng tài sản tiếp thì có thể cho một bên thuê khác thuê lại thì các bên có thể áp dụng hình thức cho thuê này

+ Cho thuê hợp vốn: là hình thức cho thuê tài chính vừa có điểm giống vừa có điểm khác hình thức cho thuê bắc cầu Hai hình thức này giống nhau ở chỗ bên cho thuê phải có ít nhất hai định chế tài chính hợp thành, cùng hợp tác để cung cấp dịch vụ cho thuê tài chính Tuy nhiên, hai hình thức này khác nhau ở điểm trong cho thuê hợp vốn không có thành viên cho vay (không có nhà tài trợ vốn) nên chi phí bỏ ra để mua tài sản hoàn toàn do bên cho thuê bỏ ra Hình thức cho thuê này thường được sử dụng khi nhu cầu về vốn đầu tư cho tài sản thuê lớn, một định chế tài chính không đủ khả

Trang 19

năng tài trợ nên phải liên kết với một hoặc nhiều định chế tài chính khác, tuy nhiên, nhu cầu về vốn chưa lớn đến mức phải sử dụng hình thức cho thuê bắc cầu6

1.1.5 Vai trò của cho thuê tài chính

 Vai trò của cho thuê tài chính đối với nền kinh tế

Cho thuê tài chính có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, điều này được thể hiện:

Cho thuê tài chính góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế Vốn đầu tư quốc gia được hình thành từ hai nguồn: tích luỹ nội bộ và vốn huy động từ nước ngoài Huy động có hiệu quả vốn đầu tư đòi hỏi rất nhiều kênh huy động khác nhau phối hợp đồng thời; bao gồm hệ thống tín dụng; ngân sách Nhà nước và thị trường chứng khoán Trong đó, nguồn vốn được hình thành từ hệ thống tài chính đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước Thông qua phương thức cho thuê tài chính, loại hình tín dụng trung hạn và dài hạn mang nhiều ưu điểm, lợi ích cho các bên khi tham gia vào giao dịch này, góp phần huy động nguôn vốn nhàn rỗi trong nước và nguồn đầu tư nước ngoài thông qua hoạt động cho thuê tài chính ra nước ngoài Trong cho thuê tài chính, công ty cho thuê sẽ tiến hành tài trợ cho bên thuê khi bên thuê đã thỏa thuận xong với bên cung ứng về các đặc điểm kỹ thuật và tính năng của tài sản Do vậy, nguồn vốn của công ty cho thuê tài chính sẽ không bị tồn động mà có thể lưu chuyển vào nền kinh tế

Cho thuê tài chính đóng vai trò cứu cánh, hỗ trợ phát triển cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Nền kinh tế Việt Nam hiện nay phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh nhỏ lẽ, rời rạc Phát triển đất nước với số lượng lớn các chủ thể kinh doanh nhỏ lẽ nên trong quá trình hoạt động, Nhà nước không thể

hỗ trợ hết cho tất các chủ thể này được, doanh nghiệp phải tự lực vận động để phát triển Nhưng cũng bởi là doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ nên gặp không ít khó khăn trong việc đổi mới khoa học công nghệ do thiếu vốn đầu tư Vì vậy, với phương thức cho thuê tài chính đã giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ vượt qua được khó khăn, trở thành cứu cánh cho các doanh nghiệp này, giúp Nhà nước tháo gỡ được một phần vướng mắc trong việc hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp

Cho thuê tài chính góp phần nâng cao năng lực công nghệ đất nước Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc chạy theo khoa học công nghệ hiện đại của thế giới trong điều kiện nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn là việc không dễ

6 Trích Giáo trình Luật ngân hàng, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, Năm 2004, Trang 237

Trang 20

dàng Tuy nhiên, thông qua cho thuê tài chính quốc tế sẽ tạo ra cơ hội lớn cho việc nâng cao năng lực công nghệ quốc gia ngay cả trong điều kiện kinh tế quốc gia đó gặp khó khăn Cho thuê tài chính cho phép các doanh nghiệp tăng năng lực kinh doanh bằng việc thay đổi, nâng cấp dây chuyền sản xuất, cải tiến kĩ thuật, mở rộng quy mô sản xuất Điều này đem lại cho quốc gia đó khả năng bắt kịp với trình độ công nghệ thế giới

 Vai trò của cho thuê tài chính đối với bên cho thuê

Như đã phân tích ở trên, hoạt động cho thuê tài chính có bản chất gần giống với hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng Như vậy, tại sao các tổ chức tín dụng lại không trực tiếp cho khách hàng vay mà phải để cho các ngân hàng thành lập ra các công ty cho thuê tài chính để thực hiện nghiệp vụ cho thuê tài chính Phải chăng hoạt động này so với các kênh tín dụng khác, điển hình là cho vay có nhiều lợi ích

Vai trò đầu tiên mà hoạt động này mang lại cho công ty cho thuê tài chính là nguồn lợi nhuận thu được Bất kỳ một công ty nào khi tiến hành kinh doanh thì đều mong muốn đầu tiên là làm cách nào để thu được nguồn lợi nhuận nhiều và nhanh, nếu không có lợi nhuận sẽ không kinh doanh nữa Vì vậy, kinh doanh hoạt động cho thuê tài chính của công ty tài chính cũng không ngoại lệ Như đã phân tích ở các phần trên, phương thức cho thuê tài chính mang bản chất của một hoạt động tín dụng trung và dài hạn, và khi ở thời điểm kết thúc thời hạn thuê, bên thuê phải thanh toán cho công ty cho thuê tài chính một khoản tiền ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng Điều này có nghĩa là số tiền mà bên thuê phải thanh toán sao cho bằng hoặc lớn hơn giá trị của tài sản Như vậy, khoản chênh lệch giữa số tiền mà bên thuê thanh toán so với chi phí mà công ty đã bỏ ra lúc đầu chính là lợi nhuận thu được của công ty cho thuê tài chính

Đối với hoạt động cho vay, khi tiến hành hoạt động này, tổ chức tín dụng phải xem xét, suy tính thật cẩn thận vấn đề khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi, và nhiều yếu tố khác Vì thế hoạt động cho thuê tài chính của công ty cho thuê tài chính mang lại độ an toàn, đảm bảo hơn so với hoạt động cho vay Bởi lẽ, tài sản cho thuê trong mối quan hệ cho thuê tài chính vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê, trong suốt quá trình thuê, bên cho thuê vẫn có thể tiến hành kiểm tra, giám sát, đảm bảo cho việc sử dụng tài sản đúng mục đích, tránh được thiệt hại, rủi ro đối với tài sản Ngoài ra, công ty cho thuê tài chính cũng có thể thu hồi tài sản thuê nếu bên thuê không có khả năng trả nợ theo từng phần của hợp đồng Thêm vào đó, trong trường hợp bên thuê bị phá sản, giải thể

Trang 21

hoặc mất khả năng thanh toán, tài sản cho thuê vẫn không được coi là tài sản của bên thuê khi xử lý tài sản để trả nợ cho các chủ thể khác, tài sản hay nói cách khác là nguồn vốn của công ty cho thuê tài chính vẫn được đảm bảo

 Vai trò của cho thuê tài chính đối với bên thuê

Cho thuê tài chính không chỉ mang lại nhiều lợi ích cho công ty cho thuê tài chính mà còn đối với cả bên thuê Đối với một doanh nghiệp, để duy trì hoạt động kinh doanh thì nguồn vốn là yếu tố đóng vai trò khá quan trọng Vì vậy, trong những trường hợp cần thiết, doanh nghiệp sẽ nghĩ ngay đến việc đi vay ở các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc các doanh nghiệp mới được thành lập, việc đi vay sẽ vấp phải khá nhiều khó khăn do thiếu độ tin cậy về uy tín, khả năng kinh doanh và tài sản bảo đảm Với việc cho thuê tài chính, các doanh nghiệp đi thuê sẽ giải quyết được vấn đề về nguồn vốn Triết gia Aristole đã từng nói “Sự giàu có thực sự không phải nằm trong quyền sở hữu tài sản mà nằm trong quyền sử dụng nó” Câu nói này của nhà triết gia đã thể hiện được lợi ích mà hoạt động này mang lại Trong kinh doanh, việc sở hữu những tài sản hiện đại chưa chắc đã mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi nhuận Thay vì doanh nghiệp phải bỏ ra một khoản tiền khá lớn để mua sắm, đổi mới thiết bị thì việc chi một khoản vốn, tìm thuê các máy móc, thiết bị từ các công ty cho thuê tài chính, sử dụng một cách có hiệu quả thì sẽ có lợi nhiều hơn Đối với các tài sản này, doanh nghiệp đi thuê tuy không có quyền sở hữu chúng nhưng lại có quyền sử dụng Doanh nghiệp có quyền sử dụng, khai thác các tính năng, kinh tế của tài sản sao cho phù hợp với yêu cầu của mình và hoàn toàn được hưởng thụ các lợi ích từ tài sản

Cho thuê tài chính còn giúp doanh nghiệp đi thuê bắt kịp được sự phát triển, đổi mới của khoa học công nghệ hiện đại Trong tình hình phát triển của nền kinh tế hiện nay, khoa học công nghệ ngày càng tiến bộ vượt bậc và nhanh chóng, vì vậy để bắt kịp được tốc độ thay đổi của khoa học công nghệ, nhất là những doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp không thể bỏ tiền ra mua sắm một tài sản mà theo nhịp độ phát triển của khoa học công nghệ, nó có thể rơi vào tình trạng lạc hậu bất cứ lúc nào, điều này sẽ làm cho doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy, với một hợp đồng cho thuê tài chính với việc thanh toán tiền thuê dần dần sẽ giúp các doanh nghiệp rất nhiều trong trường hợp này Ngoài ra, phương thức này còn cho phép doanh nghiệp chủ động trong việc lựa chọn tài sản, nhà cung cấp, chủng loại, mẫu mã phù hợp với nhu cầu của mình

Trang 22

Ngoài ra, một lợi ích khác của cho thuê tài chính là tấm chắn thuế thu nhập doanh nghiệp Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, trong suốt quá trình thuê, bên thuê phải trích khấu hao tài sản cố định đi thuê như tài sản của doanh nghiệp,

và khoản trích khấu hao này sẽ được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp

So với các phương thức tín dụng khác, cho thuê tài chính có thủ tục, điều kiện thuê mua đơn giản, tiết kiệm được chi phí, thời gian và tiền bạc Doanh nghiệp đi thuê

có thể chủ động tìm nhà cung ứng, sản xuất, lựa chọn tài sản phù hợp, có thể thỏa thuận trước về những vấn đề có liên quan đến tài sản, sau đó mới tiến hành kí kết hợp dồng với bên công ty cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính còn giúp doanh nghiệp đi thuê trong nước thu hút vốn của các nhà đầu tư Doanh nghiệp không bị hạn chế về việc lựa chọn công ty cho thuê tài chính trong hay ngoài nước nên doanh nghiệp cũng có thể lựa chọn công ty cho thuê tài chính quốc tế, hoặc các công ty liên doanh hoạt động tại Việt Nam

Như vậy, ta có thể thấy cho thuê tài chính là phương thức phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ bởi những lợi ích mà nó đã mang lại

 Vai trò của cho thuê tài chính đối với nhà sản xuất hoặc bên cung ứng

Trong giao dịch cho thuê tài chính, ngoài hai chủ thể là bên cho thuê là công ty cho thuê tài chính và bên thuê là khách hàng, còn xuất hiện một chủ thể thứ ba, đó là nhà cung ứng, sản xuất tài sản, máy móc và thiết bị Bên thứ ba này không trực tiếp cho thuê tài sản đối với khách hàng mà phải thông qua công ty cho cho thuê tài chính, bởi vì việc cho thuê này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nhà sản xuất Ở công ty cho thuê tài chính, việc cho thuê này là là hoạt động kinh doanh chính nên sẽ chuyên nghiệp hơn trong việc đánh giá tài sản thuê cũng như các yếu tố khác liên quan tới hợp đồng cho thuê tài chính, khả năng chi trả tiền thuê của khách hàng Với phương thức cho thuê tài chính sẽ giúp nhà sản xuất bán được tài sản và thu hồi vốn nhanh hơn bởi bên cho thuê

sẽ là bên trực tiếp thanh toán tiền mua tài sản mà không phải là bên thuê

1.2 Khái quát chung về hợp đồng cho thuê tài chính

1.2.1 Khái niệm hợp đồng cho thuê tài chính

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong những giao dịch cụ thể Như vậy, quan hệ cho thuê tài chính cũng là một quan hệ hợp đồng bởi để hình thành được mối quan hệ này, bên cho thuê và bên thuê phải có sự gặp gỡ và thống nhất ý chí để có thể đi đến một

Trang 23

thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của hai bên, trên cơ sở đó sẽ xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của hai bên

Điều 13 Quyết định 149/QĐ-NH5 ngày 27/5/1995 của Thống đốc ngân hàng

Nhà nước về việc ban hành thể lệ tín dụng thuê mua quy định: “Hợp đồng tín dụng

thuê mua (sau đây gọi tắt là Hợp đồng) là một hợp đồng được ký kết giữa tổ chức tín dụng và bên thuê và là cơ sở pháp lý xác định quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức tín dụng và bên thuê trong một giao dịch tín dụng thuê mua” Tuy nhiên, quy định này

còn khá chung chung, chưa thể hiện hết bản chất của hợp đồng cho thuê tài chính Do

đó, Điều 3 Nghị định 64/CP ngày 9/10/1995 ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và

hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam quy định: “Hợp đồng cho thuê

tài chính là sự thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê về việc cho thuê một số máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và động sản khác theo những quy định tại Điều 1 của Nghị định 16/CP ngày 9/10/1995 ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam” Đến khoản 1 Điều 17 Nghị định

16/2001/NĐ -CP ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thì khái niệm về hợp đồng cho thuê tài chính đã có sự thay đổi rõ ràng, theo đó:

“Hợp đồng cho thuê tài chính là sự thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê về việc

cho thuê một số máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và động sản khác theo những quy định tại Điều 1 của Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 về tổ chức

và hoạt động của công ty cho thuê tài chính, phù hợp với quyền và nghĩa vụ của các bên”

Qua các quy định trên, có thể thấy rằng, ở từng giai đoạn phát triển khác nhau của hoạt động cho thuê tài chính, pháp luật Việt Nam sẽ có các quy định thích hợp về hợp đồng cho thuê tài chính Ở giai đoạn đầu, hoạt động cho thuê tài chính vẫn còn là một hoạt động mới nên những nhận thức về hoạt động này vẫn còn mơ hồ, do vậy, việc xây dựng các khái niệm liên quan như khái niệm hợp đồng cho thuê tài chính rất chung chung và nhập nhằng Tuy nhiên, theo sự phát triển của nền kinh tế thị trường, Đảng và Nhà nước cũng như các thành phần kinh tế đã có cách nhìn khái quát, tổng thể hơn về hoạt động cho thuê tài chính cũng như những lợi ích mà hoạt động này mang lại Do

đó, các quy định sau này như Nghị định 16/2001/CP ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính đã xây dựng các khái niệm có liên quan đến hoạt động này một cách rõ ràng, cụ thể hơn, phù hợp hơn với thực tế và các quy định khác của pháp luật

Trang 24

Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa hợp đồng cho thuê tài chính như sau: hợp đồng cho thuê tài chính là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên cho thuê là công ty cho thuê tài chính với bên thuê là tổ chức và cá nhân hoạt động tại Việt Nam, theo đó bên cho thuê cung cấp tài sản thuê cho bên thuê sử dụng trong một thời gian nhất định theo yêu cầu của bên thuê, với điều kiện là phải trả tiền thuê và thỏa thuận thuê tiếp hoặc mua lại tài sản thuê khi hết hạn hợp đồng

1.2.2 Đặc điểm hợp đồng cho thuê tài chính

Hợp đồng cho thuê tài chính có những đặc điểm sau:

Chủ thể của hợp đồng: trong một số phương thức cho thuê tài chính đặc biệt như cho thuê tài chính có sự tham gia của ba bên, cho thuê tài chính bắc cầu,…thì chủ thể tham gia cho thuê tài chính sẽ gồm ba bên: bên cho thuê, bên thuê, bên cung ứng sản phẩm hoặc bên tài trợ vốn Tuy nhiên, đó chỉ là những phương thức cho thuê đặc biệt, còn phổ biến thì chỉ có hai chủ thể tham gia, là bên cho thuê và bên thuê Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, bên cho thuê tài chính chỉ có thể là các công ty cho thuê tài chính, Điều 2 Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công

ty cho thuê tài chính, ban hành kèm Nghị định 64/CP ngày 9/10/1995 ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam:

“Bên cho thuê là là công ty cho thuê tài chính có tư cách pháp nhân, được cấp giấy phép hoat động theo Quy chế này” Tuy nhiên, hiện nay Nghị định này đã hết hiệu lực

và được thay thế bởi Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt

động của công ty cho thuê tài chính với quy định “hoạt động cho thuê tài chính tại Việt

Nam phải được thực hiện qua các công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt Nam”7 Như vậy, chỉ có các công ty cho thuê tài chính mới được thực hiện các hoạt động cho thuê tài chính, và bên cho thuê trong hợp đồng cho thuê tài chính chỉ có thể là các công ty cho thuê tài chính Còn bên thuê theo quy định cũ là các doanh nghiệp trực tiếp sử dụng tài sản thuê trong thời hạn thuê theo mục đích kinh doanh hợp pháp của mình, nhưng quy định hiện nay là các tổ chức và cá nhân hoạt động tại Việt Nam, trực tiếp sử dụng tài sản thuê phục vụ nhu cầu của mình Tóm lại, chủ thể trong hợp đồng cho thuê tài chính là công ty cho thuê tài chính và tổ chức, cá nhân có nhu cầu thuê tài sản phục vụ mục đích hoạt động củamình

7 Khoản 2, Điều 1 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính

Trang 25

Cũng xuất phát từ đặc điểm về chủ thể của hợp đồng cho thuê tài chính nên hợp đồng này được xem là hợp đồng song vụ Như đã nói ở trên, trong một số phương thức cho thuê tài chính đặc biệt sẽ có ba bên tham gia, nhưng pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận quyền và nghĩa vụ của hai bên cho thuê và bên thuê Do vậy, theo người viết, hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng song vụ, theo đó mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau8 Trong hợp đồng này, bên thuê có quyền nhận tài sản thuê từ bên cho thuê và có nghĩa vụ thanh toán tiền thuê theo đúng quy định của hợp đồng, ngược lại bên cho thuê

có nghĩa vụ mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê và có quyền hưởng thu nhập từ việc cho thuê này

Trong quá trình thực hiện giao dịch cho thuê tài chính, hợp đồng cho thuê tài chính luôn gắn liền với hợp đồng mua bán tài sản giữa bên cung ứng và bên cho thuê Bên thuê có quyền lựa chọn, thỏa thuận với bên cung ứng về tài sản như đặc tính kỹ thuật, chủng loại, giá cả, cách thức, thời hạn giao nhận, lắp đặt và bảo hành tài sản thuê Sau đó, bên cho thuê sẽ tiến hành ký kết hợp đồng mua bán tài sản theo những tiêu chuẩn mà hai bên đã thỏa thuận Tuy nhiên, bên cho thuê sẽ không chịu trách nhiệm về chất lượng tài sản thuê mà do bên cung ứng tài sản chịu trách nhiệm, bên thuê sẽ chịu trách nhiệm về sự lựa chọn tài sản của mình

Đối tượng của hợp đồng cho thuê tài chính thường là những tài sản có giá trị lớn

và có thời hạn sử dụng lâu dài Các tài sản này có thể là máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác

Thời hạn hợp đồng: trong pháp luật của một số quốc gia sẽ quy định cụ thể thời gian thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính, từ ba đến bảy năm và không thể hủy ngang, một vài trường hợp, các hợp đồng thuê máy móc phục vụ nông nghiệp có thể lên tới 10 năm Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về thời gian này mà chỉ quy định một cách chung chung là hợp đồng cho thuê tài chính phải là hợp đồng trung hạn hoặc dài hạn và không thể hủy ngang Ngoài ra, pháp luật cũng có quy định kèm theo thời hạn tối đa của một hợp đồng cho thuê tài chính là không quá thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê và dĩ nhiên, thời hạn hạn hợp đồng không thể dưới một năm bởi vì thời hạn này quá ngắn

8 Khoản 1 Điều 406 Bộ luật Dân sự 2005

Trang 26

1.3.3 Phân biệt hợp đồng cho thuê tài chính với hợp đồng cho thuê tài sản thông thường

Nhìn hình thức bên ngoài, hoạt động cho thuê tài chính có nhiều nét giống với hoạt động cho thuê tài sản thông thường được quy định trong Bộ luật dân sư Tuy nhiên, về bản chất hai hoạt động này là hai hoạt động khác nhau Để hiểu rõ hơn về sự khác nhau của hai hoạt động này, người viết tiến hành so sánh sự khác nhau giữa hai hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng cho thuê tài sản – hình thức pháp lý của hai hoạt động này

So sánh hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng cho thuê tài sản dựa trên những tiêu chí sau:

+ Bản chất hợp đồng:

Hợp đồng cho thuê tài chính là sự thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê về việc cho thuê một số máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo quy định của pháp luật, phù hợp với quyền và nghĩa vụ của các bên Mặc dù về hình thức thì hợp đồng cho thuê tài chính cũng giống như hợp đồng cho thuê tài sản thông thường, cho thuê bằng tài sản, nhưng về bản chất thì hợp đồng cho thuê tài chính

là hợp đồng tín dụng trung dài hạn, tài trợ cho bên thuê một nguồn tài chính thông qua cho thuê tài sản Như người viết đã phân tích ở các phần trên, bên cho thuê đã bỏ ra một khoản vốn để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của bên thuê, vì vậy việc đi thuê tài sản của bên thuê thực chất là đi vay một khoản tín dụng của bên cho thuê Hợp đồng cho thuê tài sản theo quy định của pháp luật dân sự đơn thuần chỉ là sự trao đổi giữa hai bên theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê sử dụng trong một thời gian nhất định Bên thuê có nghĩa vụ trả tiền thuê cho bên cho thuê

+ Chủ thể của hợp đồng:

Chủ thể của hợp đồng cho thuê tài chính thường sẽ gồm hai bên: bên cho thuê

và bên thuê, trong một vài hợp đồng cho thuê đặc biệt sẽ có chủ thể thứ ba là nhà cung ứng, sản xuất tài sản Bên cho thuê phải là là công ty cho thuê tài chính, còn bên thuê

là các tổ chức hoạt động tại Việt Nam, cá nhân sinh sống, làm việc tại Việt Nam, trực tiếp sử dụng tài sản thuê cho mục đích hoạt động của mình, bao gồm: cá nhân, hộ gia đình; doanh nghiệp; các tổ chức khác thuộc đối tượng được vay vốn của các tổ chức tín dụng

Chủ thể của hợp đồng cho thuê tài sản gồm hai bên: bên cho thuê và bên thuê Pháp luật không có quy định cụ thể cá nhân hoặc tổ chức nào có thể trở thành chủ thể

Trang 27

của hợp đồng cho thuê tài sản Như vậy, bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào chỉ cần có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự theo luật định thì đều có tư cách trở thành chủ thể của hợp đồng cho thuê tài sản

+ Việc chuyển quyền sở hữu và các rủi ro liên quan tới tài sản:

Trong hợp đồng cho thuê tài chính, việc chuyển quyền sở hữu giữa bên cho thuê

và bên thuê cũng tương tự như trong hợp đồng cho thuê tài sản thông thường Suốt quá trình cho thuê, bên thuê chỉ có quyền khai thác giá trị sử dụng tài sản chứ không có quyền sở hữu tài sản

Tuy nhiên, khi hết hạn của hợp đồng cho thuê tài chính, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được thuê tiếp theo sự thỏa thuận của hai bên9, trong khi đó, khi hết hạn của hợp đồng cho thuê tài sản thông thường, bên thuê phải trả lại tài sản thuê và thường không có quyền ưu tiên mua tài sản bởi vì mục đích của bên cho thuê tài sản là tìm lợi nhuận từ việc cho thuê, khi hết hạn hợp đồng cho thuê đối với chủ thể này, bên cho thuê sẽ tiến hành cho thuê với các chủ thể khác, hợp đồng cho thuê lần lượt với các chủ thể cứ lần lượt diễn ra

+ Thời hạn hợp đồng:

Hợp đồng cho thuê tài chính là một hợp đồng trung hoặc dài hạn, theo quy định

là ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê10 và các bên trong hợp đồng cho thuê không thể bị hủy ngang Còn thời hạn của một hợp đồng cho thuê tài sản thông thường do các bên thỏa thuận dựa trên mục đích sử dụng của bên thuê, thông thường thời hạn này sẽ ngắn

9 Khoản 1 Điều 113 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010

10 Khoản 3 Điều 113 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010

Trang 28

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 2.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng CTTC

Nguyên tắc giao kết hợp đồng được hiểu đó là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể khi tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng11 Việc tuân thủ các nguyên tắc khi giao kết hợp đồng là điều cần thiết và có ý nghĩa quan trọng để hợp đồng được hình thành và có hiệu lực pháp luật Mặc dù các văn bản luật cũng như Nghị định, Thông tư hướng dẫn không có quy định về nguyên tắc giao kết nhưng dựa trên các nguyên tắc chung của pháp luật về giao kết hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại nên có thể suy ra một số nguyên tắc giao kết hợp đồng cho thuê tài chính như sau:

+ Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật đạo đức, xã hội Theo nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ tư cách chủ thể theo quy định của pháp luật đều có quyền tham gia giao kết hợp đồng cho thuê tài chính Bằng ý chí tự

do của mình, các bên chủ thể có quyền lựa chọn đối tác để giao kết hợp đồng, tự do thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng về lãi suất, tiền thuê, phương thức thanh toán hợp đồng,…Nhà nước sẽ không trực tiếp tham gia vào từng điều khoản của hợp đồng như trong giai đoạn bao cấp kinh tế trước đây Tuy nhiên, quyền tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể phải trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước, không gây phương hại đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, không trái với chuẩn mực đạo đức chung của xã hội Luật cho phép các bên tự do giao kết hợp đồng nhưng điều này cũng không đồng nghĩa với việc các bên có thể thỏa thuận bất kỳ điều khoản nào mà chỉ có thể thỏa thuận trong phạm vi pháp luật và đạo đức xã hội cho phép Chẳng hạn, trong hợp đồng cho thuê tài chính, các bên không thể thỏa thuận thuê tài chính là tài sản bị cấm lưu thông, sản xuất,

+ Tự nguyện, cùng có lợi, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Hợp đồng là sự thỏa thuận trên cơ sở tự do ý chí của các bên Các bên có quyền quyết định việc giao kết hợp đồng, không bên nào được ép buộc, đe dọa bên kia trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng Tự nguyện là yếu tố quan trọng để đảm bảo điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, nếu giao kết hợp đồng mà vi phạm nguyên tắc tự nguyện thì có thể bị xem là

vô hiệu Tham gia vào hợp đồng cho thuê tài chính, mục đích hướng tới của bên cho

11 Trần Huỳnh Thanh Nghị, Luật kinh tế , trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP HCM, NXB Lao động – Xã

hội, Năm 2009, trang 232

Trang 29

thuê là nguồn lợi nhuận thu được từ việc cho thuê này, còn mục đích của bên thuê là nguồn vốn tài trợ thông qua tài sản thuê phục vụ cho mục đích hoạt động của mình Vì vậy, việc giao kết hợp đồng phải đảm bảo nguyên tắc cả hai bên đều có lợi, đảm bảo được mục đích của việc giao kết hợp đồng của cả hai bên Ngoài ra, bên cho thuê và bên thuê trong mối quan hệ này phải được bình đẳng về địa vị pháp lý, quyền và nghĩa

vụ Quyền và nghĩa vụ của các bên phải được đối xứng, không được một bên có quyền lợi nhiều, một bên có quyền lợi ít một bên nghĩa vụ nhiều, một bên nghĩa vụ ít,…

2.2 Chủ thể của hợp đồng cho thuê tài chính

Không giống với các hợp đồng tín dụng khác, cũng không giống với hợp đồng cho thuê tài sản thông thường, hợp đồng cho thuê tài chính có số chủ thể tham gia vào hợp đồng tùy thuộc vào từng loại hợp đồng Với một số loại hợp đồng sẽ có hai chủ thể tham gia như hợp đồng cho thuê tài chính trực tiếp, hợp đồng bán và cho thuê lại, một

số hợp đồng có ba chủ thể tham gia như hợp đồng cho thuê tài chính gián tiếp hoặc có hợp đồng sẽ có nhiều hơn ba chủ thể tham gia như hợp đồng cho thuê bắc cầu,…

Tuy nhiên, về thực chất thì khi tham gia vào quan hệ hợp đồng cho thuê tài chính chỉ có hai chủ thể chính, đó là bên cho thuê là công ty cho thuê tài chính hay bên thuê là khách hàng Khi hai chủ thể này thỏa thuận xong về nội dung của hợp đồng, khi

đó các chủ thể khác mới xuất hiện Chẳng hạn, nếu đối tượng của hợp đồng là tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty cho thuê tài chính thì chủ thể của hợp đồng chỉ gồm hai bên và ngược lại Nếu tài sản không thuộc quyền sở hữu của công ty cho thuê tài chính, lúc này mới xuất hiện chủ thể thứ ba là bên cung ứng tài sản

2.2.1 Bên cho thuê

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì bên cho thuê là công ty cho thuê tài chính có tư cách pháp nhân, được cấp giấy phép hoạt động theo quy định của pháp luật12 Đó là quy định trước đây, hiện tại Nghị định 16/2001/NĐ - CP ngày 02/05/2001

về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính quy định “hoạt động cho thuê

tài chính trên lãnh thổ Việt Nam phải được thực hiện thông qua các công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam và tuân theo các quy định của Nghị định này” Mặc dù có sự khác nhau về câu chữ và cách diễn đạt, nhưng

nhìn chung thì theo quy định của pháp luật Việt Nam thì chủ thể được tiến hành hoạt động cho thuê tài chính chỉ có thể là công ty cho thuê tài chính đươc cấp giấy phép

12 Khoản 1 Điều 2 Nghị định 64/CP ngày 9/10/1995 ban hành quy chế tạm thời về cơ câu tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính

Trang 30

hoạt động, điều này đồng nghĩa với quy định các ngân hàng thương mại không được kinh doanh hoạt động này Thực tế cho thấy, các ngân hàng muốn được kinh doanh hoạt động này chỉ có thể thành lập các công ty trực thuộc hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết Ví dụ như công ty cho thuê tài chính ngân hàng Sài Gòn trực thuộc Ngân hàng Saccombank, công ty cho thuê tài chính II Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam,…

Theo quy định, bên cho thuê là công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, theo đó, công ty cho thuê tài chính chỉ có thể được thành lập dưới các hình thức sau:

+ Công ty cho thuê tài chính Nhà nước

+ Công ty cho thuê tài chính cổ phần

+ Công ty cho thuê tài chính trực thuộc của tổ chức tín dụng

+ Công ty cho thuê tài chính liên doanh

+ Công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài13

Nhưng Luật doanh nghiệp 2005 ra đời đã tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước dưới hình thức công ty TNHH một hoặc hai thành viên hoặc công ty

cổ phần Chính vì vậy, Nghị định 95/2008 ngày 25/8/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 16/2001 ngày 2/5/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính được ban hành đã kịp thời sửa đổi cho phù hợp với quy định trên của luật

Doanh nghiệp

Như vậy theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt Nam dưới các hình thức sau:

+ Công ty cho thuê tài chính TNHH hai thành viên trở lên

+ Công ty cho thuê tài chính TNHH một thành viên

+ Công ty cho thuê tài chính cổ phần

Ngoài ra, còn có:

+ Công ty cho thuê tài chính liên doanh được thành lập bằng vốn góp giữa bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp Việt Nam và bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài, trên cơ sở hợp đồng liên doanh

13 Điều 2 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính

Trang 31

+ Công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài được thành lập bằng vốn góp của một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

Theo quy định, một công ty cho thuê tài chính muốn được thành lập và hoạt động tại Việt Nam thì chỉ có thể hoạt động dưới một trong các hình thức trên, và muốn

đi vào hoạt động thì công ty cho thuê tài chính phải được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép với điều kiện phải đủ các tiêu chuẩn sau:

Một là, có nhu cầu hoạt động cho thuê tài chính trên địa bàn xin hoạt động; Hai là, có đủ vốn theo quy định của Chính phủ tại thời điểm xin thành lập công

ty cho thuê tài chính;

Theo quy định hiện nay, mức vốn pháp định của công ty cho thuê tài chính đã được nâng lên, cụ thể như sau: mức vốn pháp định cho đến năm 2011 là 150 tỷ đồng

Ngoài ra, “Tổ chức tín dụng được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải có biện

pháp bảo đảm có số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp định quy định tại Danh mục ban hành kèm theo, chậm nhất vào ngày 31 tháng 12 năm 2011”14

Ba là, thành viên sáng lập là các tổ chức, cá nhân có uy tín và năng lực tài

chính; là các tổ chức, cá nhân tham gia thông qua điều lệ đầu tiên của công ty cho thuê tài chính Theo quy định này thì pháp luật không yêu cầu các thành viên sáng lập phải

có trình độ chuyên môn hay có năng lực quản lý điều hành công ty hay không bởi những thành viên này có vai trò là người góp vốn, tham gia thông qua điều lệ đầu tiên, thành lập công ty cho thuê tài chính và các thành viên này cũng rất ít khi tham gia vào công tác quản lý, thường sẽ thuê Giám đốc hoặc Tổng giám đốc điều hành công ty

Bốn là, người quản trị, điều hành có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và trình độ

chuyên môn phù hợp với hoạt động của công ty cho thuê tài chính và quy định của Ngân hàng Nhà nước;

Yêu cầu đầu tiên đặt ra đối với những người đứng đầu một công ty cho thuê tài chính là phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không bị hạn chế năng lực hành vi, sau đó mới là chuyên môn Theo quy định, Hội đồng quản trị (đối với công ty cho thuê tài chính cổ phần), Hội đồng thành viên (đối với công ty cho thuê tài chính TNHH hai

14 Khoản 1 Điều 1 Nghị định 10/2011/NĐ – CP ngày 26/1/2011 Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị

định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 về ban hành Danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng

Trang 32

thành viên trở lên hoặc công ty TNHH một thành viên là tổ chức), hoặc Chủ tịch công

ty (đối với công ty cho thuê tài chính TNHH một thành viên là cá nhân) có chức năng quản trị công ty cho thuê tài chính, có toàn quyền nhân danh công ty cho thuê tài chính

để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty cho thuê tài chính, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông (đối với công ty cho thuê tài chính cổ phần) hoặc chủ sở hữu (đối với công ty cho thuê tài chính TNHH một thành viên) hoặc thành viên góp vốn (đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên) Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên phải là những người không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật các Tổ chức tín dụng 2010, có đạo đức nghề nghiệp, là cá nhân sở hữu hoặc người được ủy quyền đại diện sở hữu ít nhất 5% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng (trừ trường hợp là thành viên Hội đồng thành viên, thành viên độc lập của Hội đồng quản trị) hoặc có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp15 Là những người quản trị công ty cho thuê tài chính nên phải là những người hiểu và biết rõ hoạt động này, không thể giống như các thành viên sáng lập, chỉ cần có uy tín và năng lực tài chính là được Tổng giám đốc (Giám đốc) của công ty cho thuê tài chính chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, hội đồng thành viên hoặc chủ

sở hữu, trước pháp luật về việc điều hành hoạt động hàng ngày theo nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật Tổng Giám đốc (Giám đốc) là đại diện theo pháp luật của công ty cho thuê tài chính, trừ

trường hợp Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính quy định khác

nên sẽ phải đáp ứng một số tiêu chuẩn nhất định Họ phải là những người có đạo đức nghề nghiệp, có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật, và phải có kinh nghiệm,…16

Năm là, có dự thảo điều lệ về tổ chức, hoạt động phù hợp với quy định của Luật

các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật;

Theo quy định, điều lệ của công ty cho thuê tài chính phải có các nội dung chủ yếu sau:

+ Tên, địa điểm đặt trụ sở chính của Công ty cho thuê tài chính;

+ Nội dung và phạm vi hoạt động;

+ Thời hạn hoạt động Theo quy định của pháp luật, thời hạn hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam tối đa là 50 năm Trường hợp cần gia hạn thời

15 Khoản 1 Điều 50 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010

16 Khoản 4 Điều 50 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010

Trang 33

hạn hoạt động phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận Mỗi lần gia hạn không quá

50 năm Thời hạn này cũng tương đương với thời hạn hoạt động của công ty tài chính

là không quá 50 năm

+ Vốn điều lệ và phương thức góp vốn, tăng, giảm vốn điều lệ, trong đó vốn điều lệ là số vốn do Nhà nước, tổ chức tín dụng có Công ty cho thuê tài chính trực thuộc, tổ chức tín dụng nước ngoài cấp hoặc do các tổ chức, cá nhân góp hoặc mua cổ phần và được ghi vào điều lệ của Công ty cho thuê tài chính17

+ Nhiệm vụ, quyền hạn của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) và Ban kiểm soát;

+ Thể thức bầu, bổ nhiệm và miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) và Ban kiểm soát;

+ Họ, tên, địa chỉ, quốc tịch và các đặc điểm cơ bản khác của chủ sở hữu, thành viên góp vốn đối với công ty cho thuê tài chính TNHH; của cổ đông sáng lập đối với công ty cho thuê tài chính cổ phần

+ Quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, thành viên góp vốn đối với công ty cho thuê tài chính TNHH; quyền, nghĩa vụ của cổ đông đối với công ty cho thuê tài chính cổ phần

+ Người đại diện theo pháp luật;

+ Quyền và nghĩa vụ của các cổ đông (trường hợp đối với Công ty cho thuê tài chính cổ phần);

+ Các nguyên tắc tài chính, kế toán, kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ; + Thể thức thông qua quyết định của công ty cho thuê tài chính, nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ;

+ Căn cứ, phương pháp xác định thù lao, tiền lương và thưởng cho người quản

lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát;

+ Các trường hợp giải thể;

+ Thủ tục sửa đổi, bổ sung điều lệ18

Sáu là, có phương án kinh doanh khả thi;

17 Điểm 1.4 khoản 1 Mục 1 Thông tư 06/2005/TT – NHNN ngày 12/10/2005 Hướng dẫn thực hiện một số nội

dung tại Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ "Về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính" và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19/05/2005 của Chính phủ "Quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của

Công ty cho thuê tài chính"

18 Khoản 1 Điều 31 Luật các tổ chức tín dụng 2010

Trang 34

Đối với Công ty cho thuê tài chính liên doanh và Công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài, ngoài các quy định nêu trên, bên nước ngoài còn phải đáp ứng các điều kiện sau:

+ Được tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nước nguyên xứ cho phép hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam ;

+ Có tổng tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn, trừ trường hợp Hiệp định đầu tư song phương giữa Việt Nam và nước nguyên xứ có quy định khác19

Tuy nhiên, công ty cho thuê tài chính chỉ được tiến hành hoạt động kể từ ngày khai trương hoạt động khi đủ các điều kiện sau đây:

+ Đã đăng ký Điều lệ tại Ngân hàng Nhà nước;

+ Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có đủ vốn điều lệ, vốn được cấp, có kho tiền đủ điều kiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, có trụ sở đủ điều kiện đảm bảo an toàn tài sản phù hợp với hoạt động của công ty cho thuê tài chính;

+ Có cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị, điều hành, kiểm toán nội bộ, quản lý rủi

ro, hệ thống kiểm soát nội bộ;

+ Có hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý, quy mô hoạt động; + Có quy chế quản lý nội bộ về tổ chức, hoạt động của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc), các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ tại trụ sở chính; quy chế nội bộ về quản lý rủi ro; quy chế về quản lý mạng lưới;

+ Vốn điều lệ, vốn được cấp bằng đồng Việt Nam phải được gửi đầy đủ vào tài khoản phong tỏa không hưởng lãi mở tại Ngân hàng Nhà nước ít nhất 30 ngày trước ngày khai trương hoạt động Vốn điều lệ, vốn được cấp được giải tỏa khi công ty cho thuê tài chính đã khai trương hoạt động;

+ Đã công bố thông tin hoạt động theo quy đinh tại Điều 25 Luật các Tổ chức tín dụng 2010

Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, công ty cho thuê tài chính phải khai trương hoạt động; quá thời hạn này mà không khai trương hoạt động thì Ngân hàng Nhà nước thu hồi Giấy phép20

2.2.2 Bên thuê

19 Nghị định 95/2008/NĐ – CP ngày 25/8/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ – CP

ngày 2/5/2001 vè tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính

20 Điều 26 Luật các Tổ chức tín dụng 2010.

Trang 35

Trong hợp đồng cho thuê tài chính, bên cho thuê chính là bên tài trợ vốn thông qua việc cung cấp tài sản cho bên thuê, do đó, bên thuê chính là khách hàng thuê thiết

bị, tài sản của người cho thuê (nhận tài trợ tín dụng của công ty cho thuê tài chính) Bên thuê cũng là bên có quyền sử dụng tài sản và có trách nhiệm trả những khoản tiền thuê theo thỏa thuận

Theo Nghị định 64/CP ngày 9/10/1995 ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam thì bên thuê là doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam, trực tiếp sử dụng tài sản thuê trong thời hạn thuê theo mục đích kinh doanh hợp pháp của mình21 Với quy định này thì chủ thể duy nhất có thể thuê tài chính là tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở Việt Nam, nếu có nhu cầu tham gia hợp đồng cho thuê tài chính phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Các chủ thể khác như hộ gia đình, cá nhân nếu có nhu cầu tham gia hợp đồng cho thuê tài chính thì cũng không được tham gia hợp đồng này

Đến Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính đã quy định mở rộng hơn về chủ thể được thuê tài chính Cụ thể, tại khoản 2 Điều 7 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt

động của công ty cho thuê tài chính: “bên thuê là tổ chức cá nhân hoạt động tại Việt

Nam, trực tiếp sử dụng tài sản thuê cho mục đích hoạt động của mình”. Điều này cho thấy, không chỉ có các doanh nghiệp mới được quyền tham gia hoạt động cho thuê tài chính mà bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào cũng có quyền tham gia vào quan hệ này nếu

họ có nhu cầu thuê tài sản là máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác cho mục đích hoạt động của mình Tuy nhiên, pháp luật về hoạt động cho thuê tài chính chỉ mới dừng lại ở quy định như trên chứ chưa có bất kỳ hướng dẫn cụ thể nào về mục đích hoạt động của bên thuê ở đây là mục đích kinh doanh hay sinh hoạt Do vậy, quy định này có thể hiểu rằng tài sản cho thuê tài chính không chỉ được dùng để phục vụ cho hoạt động kinh doanh sản xuất mà cũng có thể được thuê dùng để phục vụ các nhu cầu sinh hoạt

Tại mục 2.2 khoản 2 Thông tư 05/2006/TT-NHNN ngày 25/7/2006 hướng dẫn

một số nội dung về hoat động cho thuê tài chính và dịch vụ ủy thác cho thuê tài chính theo quy định taị Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 và Nghị định

21 Khoản 3 Điều 2 Nghị định 64/CP ngày 9/10/1995 ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam

Trang 36

65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2001 của Chính phủ đã quy định các điều kiện thuê tài chính của bên thuê, cụ thể như sau:

+ Bên thuê phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Nếu bên thuê là tổ chức và cá nhân Việt Nam: tổ chức phải có năng lực pháp luật dân sự; cá nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân, đại diện của hộ gia đình, đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Đối với bên thuê là tổ chức và cá nhân nước ngoài: tổ chức phải có năng lực pháp luật dân

sự theo quy định của pháp luật Việt Nam; cá nhân phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác Căn cứ áp dụng pháp luật đối với tổ chức và cá nhân này được thực hiện theo quy định của pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

+ Có dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư phục vụ đời sống khả thi, hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật và sử dụng tài sản thuê để thực hiện dự án đó

+ Có khả năng tài chính đảm bảo thanh toán tiền thuê trong thời hạn thuê đã cam kết

Mặc dù các văn bản trên của Chính phủ đã có quy định về chủ thể thuê tài chính, nhưng quy định này vẫn còn chung chung, nên trên thực tế, hoạt động cho thuê tài chính của các công ty cho thuê tài chính chủ yếu hướng đến các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, hoạt động cho thuê đối với các cá nhân hay hộ gia đình vẫn còn khá hạn chế

 Những trường hợp không được cho thuê tài chính

+ Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) và các chức danh tương đương của công ty cho thuê tài chính;

+ Người thẩm định, xét duyệt cho thuê;

+ Cha, mẹ, vợ chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng Giám đốc, (Phó Giám đốc) và các chức danh tương đương22

22 Điểm 24.1 khoản 24 Mục IV Thông tư 06/2005/TT – NHNN ngày 12/10/2005 Thông tư 06/2005/TT – NHNN ngày 12/10/2005 Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tại Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ "Về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính" và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19/05/2005 của Chính phủ "Quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính"

Trang 37

 Những trường hợp hạn chế cho thuê tài chính

Công ty cho thuê tài chính không được cho thuê với những điều kiện ưu đãi cho các đối tượng sau:

+ Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên hiện đang kiểm toán tại Công ty cho thuê tài chính; Kế toán trưởng; Thanh tra viên đang thanh tra tại công ty cho thuê tài chính;

+ Các cổ đông lớn, cổ đông sáng lập của Công ty cho thuê tài chính;

+ Doanh nghiệp có một trong những đối tượng trên mà họ sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó23

Tổng dư nợ cho thuê đối với các đối tượng trên không được vượt quá 5% vốn tự

có của Công ty cho thuê tài chính24

Với quy định trên của Chính phủ không nhằm mục đích phân biệt đối xử giữa các chủ thể với nhau mà chỉ nhằm hạn chế tình trạng lạm quyền của những người quản trị điều hành công ty cho thuê tài chính, qua đó đảm bảo thu hồi được khoản tín dụng,

và sự an toàn của hệ thống tín dụng Việc quy định như vậy là phù hợp bởi hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động cho thuê tài chính nói riêng có tầm ảnh hưởng, tác động không nhỏ đối với nền kinh tế Một biến cố nhỏ của hệ thống tín dụng sẽ tác động trực tiếp lên nền kinh tế, do vậy, các tổ chức tín dụng nói chung và công ty cho thuê tài chính nói riêng cần tuân thủ chặt chẽ quy định này

Khoản 4 Điều 1 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt

động của công ty cho thuê tài chính quy định: “Các hoạt động cho thuê tài chính của

các công ty cho thuê tài chính ra nước ngoài được thực hiện theo quy định của Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam hoặc các bên tham gia có thể thoả thuận áp dụng tập quán quốc tế, nếu tập quán đó không trái với pháp luật của Việt Nam” Điều này cũng có thể hiểu là, chủ thể thuê tài chính cũng có thể là

các chủ thể nước ngoài Chính quy định này đã giúp các công ty cho thuê tài chính mở

23 Điểm 25.1 Khoản 25 Mục IV Thông tư 06/2005/TT – NHNN ngày 12/10/2005 Thông tư 06/2005/TT – NHNN ngày 12/10/2005 Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tại Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ "Về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính" và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19/05/2005 của Chính phủ "Quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính"

24 Điểm 25.2 Khoản 25 Mục IV Thông tư 06/2005/TT – NHNN ngày 12/10/2005 Thông tư 06/2005/TT – NHNN ngày 12/10/2005 Hướng dẫn thực hiện một số nội dung tại Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ "Về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính" và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19/05/2005 của Chính phủ "Quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính"

Trang 38

rộng đối tượng cho thuê ra nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty cho thuê tài chính nói riêng và các tổ chức tín dụng Việt Nam cơ hội phát triển, hội nhập với thế giới Tuy nhiên, Chính phủ chỉ mới dừng lại ở quy định như trên chứ có bất kỳ một hướng dẫn cụ thể nào đối với hoạt động này của công ty cho thuê tài chính

Trong thực tế, ngoài những quy định về điều kiện để thuê tài chính của bên thuê như trên, các công ty cho thuê tài chính còn có thể có những tiêu chuẩn khác tùy vào Điều lệ công ty Ví dụ, công ty Cho thuê tài chính quốc tế Chailease (CILC) là tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài thuộc Chailease Finance Group quy định một số điều kiện cho thuê tài chính đối với doanh nghiệp như: doanh nghiệp đi thuê được thành lập trên hai năm, báo cáo tài chính có lãi, mô hình kinh doanh là thuộc các lĩnh vực sản xuất, xây dựng, vận tải,… Đối với các quy định này của công ty cho thuê tài chính CILC thì có vẻ như chỉ có các doanh nghiệp được thành lập trên hai năm mới được thuê tài chính, tuy nhiên, thực tế không phải vậy, các công ty vừa thành lập vẫn có thể

sử dụng các dịch vụ cho thuê tài chính nếu thỏa các điều kiện thẩm định của công ty nhưng với các công ty này thì khả năng được duyệt cho thuê tài chính là không cao bởi việc thẩm định này sẽ được dựa trên thời gian thành lập và hoạt động của công ty25

2.2.3 Bên cung ứng sản phẩm

Trong hợp đồng cho thuê tài chính, bên cung ứng sản phẩm không trực tiếp tham gia ký kết hợp đồng cho thuê tài chính mà chỉ là bên đóng vai trò là nhà sản xuất, cung ứng tài sản theo sự thỏa thuận với bên thuê và theo những điều khoản trong hợp đồng mua bán đã ký kết với người cho thuê Trong mối quan hệ này, bên cho thuê là công ty cho thuê tài chính sẽ ký hợp đồng mua bán tài sản với nhà sản xuất, cung ứng tài sản và trả tiền cho bên này, sau đó được chuyển giao quyền giao quyền sở hữu tài sản Và bên cung ứng này cũng là bên có trách nhiệm bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản nếu có hư hỏng Đây cũng là một trong những điểm tạo nên sự khác biệt giữa hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng cho thuê tài sản thông thường Do đó, trong hoạt động cho thuê tài chính cần phải chú ý: nhà cung ứng tài sản do bên thuê lựa chọn, nhưng người này lại đóng vai trò là người tài trợ nên bên cho thuê phải thẩm định năng lực của nhà cung ứng tài sản, nếu thấy không đủ năng lực bên cho thuê có quyền yêu cầu thay đổi nhà cung cấp Trong trường hợp tài sản là thiết bị hoặc công nghệ phức tạp, bên cho thuê phải thẩm định kỹ trách nhiệm lắp đặt, bàn giao tài sản, đào tạo công nhân và chuyên giao công nghệ, bảo hành, bảo dưỡng tài sản

25 http://www.chailease.com.vn/default.aspx?mod=product&id=544 [Truy cập ngày 13/9/2013]

Trang 39

Luật các Tổ chức tín dụng 2010 và các văn bản hướng dẫn không có quy định

về các chủ thể nhưng nhìn từ vai trò của chủ thể này trong hoạt động cho thuê tài chính người viết rút ra một số đặc điểm đối với chủ thể này Tài sản cho thuê tài chính có thể

là máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất, các thiết bị vận tải nên việc cung ứng các tài sản này đòi hỏi nhà cung ứng phải có công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, có cơ cấu tổ chức

và bộ máy hoạt động chặt chẽ, hiện đại, đáp ứng được nhu cầu thuê của bên thuê

2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cho thuê tài chính

Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng là những hành vi cụ thể do pháp luật quy định hoặc do các bên tự thỏa thuận và được ghi vào hợp đồng Đây cũng chính là cơ sở để xác định các bên có thực hiện đúng nội dung hợp đồng hay không Một bên không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì bị xem là vi phạm hợp đồng

Hợp đồng cho thuê tài chính là một hợp đồng song vụ, theo đó mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau, quyền lợi của bên này sẽ là nghĩa vụ đối với bên kia và ngược lại

2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của bên cho thuê

Quyền của bên cho thuê:

+ Yêu cầu bên thuê cung cấp các báo cáo quý, quyết toán tài chính năm, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và các vấn đề có liên quan đến tài sản cho thuê

+ Kiểm tra việc quản lý và sử dụng tài sản cho thuê Trong suốt quá trình cho thuê tài chính, bên cho thuê vẫn nắm giữ quyền sở hữu tài sản cho đến khi bên này chuyển giao quyền sang cho bên thuê Do vậy, bên này đương nhiên sẽ có quyền yêu cầu bên thuê cung cấp các báo cáo quý, quyết toán tài chính Đây chính là cơ sở để công ty cho thuê tài chính đánh giá tình hình hoạt động, kiểm soát được hiệu quả sử dụng tài sản của mình, kiểm tra xem bên thuê có thực hiện đúng các nguyên tắc bảo quản và sử dụng tài sản đúng mục đích như đã thỏa thuận không Bên cho thuê có thể thực hịên việc kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất, mỗi lần kiểm tra đều phải lập biên bản

và đề xuất biện pháp xử lý nếu có

+ Mua, nhập khẩu tài sản cho thuê theo yêu cầu của bên thuê Theo quy định của pháp luật về cho thuê tài chính, tài sản cho thuê tài chính có thể là tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty cho thuê tài chính hoặc tài sản có được từ việc đi mua lại từ các nhà sản xuất, hoặc nhập khẩu Tuy nhiên, dù công ty cho thuê tài chính có tài trợ cho bên thuê bằng cách nào đi chăng nữa thì tài sản cho thuê tài chính vẫn phải đáp ứng theo những yêu cầu mà bên thuê đã chọn Những yêu cầu của bên thuê về tài sản

Ngày đăng: 05/10/2015, 10:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w