1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

pháp luật về hoạt động của thanh tra ngân hàng nhà nước việt nam

90 431 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo chế định này, Chính phủ có thể can thiệp vào việc tổ chức, điều hành, hoạt động, kể cả việc thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia.1 Về định nghĩa cụ thể thế nào là NHTW - NHNN, phầ

Trang 1

MSSV: 5105900 Lớp: Luật Thương mại 1- K36

Cần Thơ, 2013

Trang 2

Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu, các trích dẫn và phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào

Cần Thơ, ngày 28 tháng 11 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Lê Trang Yến Quyên

Trang 3

Trải qua gần 4 năm học tập tại trường Đại Học Cần Thơ, được sự chỉ bảo tận tình của các Thầy Cô, nhất là Thầy Cô Khoa Luật đã tạo cho em một nền tảng kiến thức khá vững chắc trước khi bước vào cuộc sống thực tế Đặc biệt trong quá trình nghiên cứu đề tài này em đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ tận tình của Giáo viên hướng dẫn nhờ đó mà em đã hoàn thành khá tốt luận văn của mình Với kiến thức

và điều kiện nghiên cứu có hạn nên nội dung luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ dạy và góp ý của quý Thầy Cô để luận văn của em được hoàn chỉnh hơn

Em xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại Học Cần Thơ, quý Thầy Cô Khoa Luật đã trang bị kiến thức cho em trong suốt thời gian học tập tại trường

Em xin cảm ơn Cô Lê Huỳnh Phương Chinh đã tận tình hướng dẫn, chỉnh sửa để em hoàn thành tốt Luận văn của mình

Sau cùng, em xin chúc quý Thầy Cô, Ban lãnh đạo nhà trường dồi dào sức khỏe và luôn thành công trong cuộc sống

Chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày 28 tháng 11 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Lê Trang Yến Quyên

Trang 4

Cần Thơ, ngày…tháng 12 năm 2013

Giáo viên hướng dẫn

Trang 5

Cần Thơ, ngày…tháng 12 năm 2013

Giáo viên phản biện

Trang 6

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Cơ cấu của đề tài 3

CHƯƠNG 1: 5

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 5

1.1 Tổng quan về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 5

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 5

1.1.2 Vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 7

1.1.2.1 Vai trò quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 7

1.1.2.2 Vai trò là Ngân hàng Trung ương 10

1.1.3 Giới thiệu hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 14

1.2 Tổng quan về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 16

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 16

1.2.1.1 Khái niệm Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 16

1.2.1.2 Mục đích, nguyên tắc, đặc điểm của hoạt động thanh tra do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện: 17

1.2.2 Vai trò của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 20

1.3 Sơ lược quá trình phát triển hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 23

1.4 Mối liên hệ giữa hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và hoạt động giám sát do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện: 25

CHƯƠNG 2: 29

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 29

2.1 Quy định pháp luật về đối tượng của hoạt động thanh tra do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện: 29

2.1.1 Tổ chức tín dụng: 29

2.1.1.1 Các loại hình tổ chức tín dụng là đối tượng của hoạt động Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 29

2.1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng khi là đối tượng của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 34

2.1.2 Tổ chức được thực hiện hoạt động ngân hàng 38

2.1.3 Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội và cá nhân 40

Trang 7

2.2.1 Thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng 42

2.2.2 Xem xét, đánh giá mức độ rủi ro, năng lực quản trị rủi ro và tình hình tài chính của đối tượng Thanh tra Ngân hàng 46

2.3 Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi tiến hành hoạt động thanh tra 51

2.4 Quy định của pháp luật về các phương pháp thanh tra của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi tiến hành hoạt động thanh tra 54

2.4.1 Phương pháp Thanh tra tuân thủ 54

2.4.2 Phương pháp Thanh tra trên cơ sở rủi ro 56

CHƯƠNG 3: 60

THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG THANH TRA DO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THỰC HIỆN - VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 60

3.1 Thực trạng về hoạt động thanh tra do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện 60

3.1.1 Thực tiễn của hoạt động thanh trado Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện 60

3.1.2 Một số tồn tại trong hoạt động thanh tra do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện 63

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 66

3.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Thanh tra ngân hàng nhà nước Việt Nam 66

3.2.1.1 Môi trường hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng hiện nay tìm ẩn nhiều rủi ro 66

3.2.1.2 Sự phát triển của thị trường tài chính và mở cửa thị trường tài chính ở nước ta 68

3.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước: 70

KẾT LUẬN 78

Trang 8

NHNN : Ngân hàng Nhà nước

TCTD : Tổ chức tín dụng

NHTW : Ngân hàng Trung ương

Trang 9

ta hiện nay

Tuy nhiên, những yêu cầu trên đối với pháp luật hoạt động thanh tra nói chung

và pháp luật về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nói riêng hiện nay vẫn còn được thực hiện một cách hạn chế Một bộ phận cơ chế chính sách pháp luật liên quan đến hoạt động của Thanh tra Ngân hàng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, thậm chí còn bộc lộ không ít những điểm không phù hợp và còn nhiều sơ hở Các văn bản pháp quy ban hành còn thiếu sự đồng bộ, đôi khi chồng chéo Bên cạnh đó, các cơ quan có trách nhiệm hướng dẫn lại chậm khiến cho các tổ chức chấp hành còn nhiều khó khăn và lúng túng Những bất cập nêu trên làm hạn chế kết quả hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời gian qua

Mặt khác, để nhìn nhận rõ hơn về tính hiệu quả của việc áp dụng pháp luật, đồng thời là cơ sở để đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm góp phần tạo khung pháp lý cho hoạt động thanh tra do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiến hành

Do vậy, nghiên cứu pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã trở thành yêu cầu cấp thiết Đây là nguyên nhân của việc người

viết lựa chọn đề tài “PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM”nhằm nêu lên thực trạng pháp luật về

hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, đồng thời kiến nghị những giải pháp hoàn thiện những quy định pháp luật có liên quan

2 Mục tiêu của đề tài

Đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn đối với pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tạo cơ sở cho việc xác lập

và thực hiện những quyền và nghĩa vụ cơ bản của Thanh tra Ngân hàng Nhà

Trang 10

nướcViệt Nam trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm soát theo chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng tại Việt Nam Ngoài ra,

đề tài còn hướng tới việc đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài đề cập đến những nét chính về chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

và những quy định của pháp luật về hoạt động thanh tra do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiến hành Thực trạng của hoạt động thanh tra do Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam tiến hành và đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật về Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Bên cạnh đó, đề tài còn nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động Thanh tra Ngân hàng với hoạt động Giám sát Ngân hàng doNgân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện Những vấn đề này làm cơ sở để đánh giá đúng hơn về thực trạng pháp luật thanh tra nói chung, pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước nói riêng và làm rõ yêu cầu về sự phù hợp của pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước trong từng giai đoạn

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài có mục đích tìm hiểu vềNgân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc thực hiệnchức năngthanh tra chuyên ngành về ngân hàng;hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với vai trò là công cụ quan trọng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước

về tiền tệ và hoạt động ngân hàng Nghiên cứu pháp luật về hoạt động thanh travà tìm hiểu thực trạng hoạt động thanh tra do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiến hành

Đề tài luận văn chủ yếu nghiên cứu về: Khái niệm, đặc điểm, vai trò, hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; khái niệm, vị trí, vai trò, nguyên tắc hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; quy định của pháp luật về đối tượng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương pháp thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước trong quá trình Thanh tra Ngân hàng Phân tích, đánh giá pháp luật về Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, thực trạng hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, qua đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiến hành

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài luận văn này, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp sưu tầm tài liệu: Trong quá trình nghiên cứu người viết cần tham

khảo nhiều tài liệu liên quan đến đề tài để có cái nhìn tổng quát hơn về Thanh tra

Trang 11

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Từ đó có thể tránh được những sai lầm, thiếu sót trong đề tài nghiên cứu

Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Phương pháp này giúp cho việc xác định và đánh giá vấn đề cần nghiên cứu được chính xác hơn Người viết đã tiến hành việc thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như sách, báo, tạp chí, truy cập vào các trang web để việc nghiên cứu hoàn chỉnh hơn

Phương pháp phân tích câu chữ: Việc người viết sử dụng phương pháp này nhằm mục đích hiểu rõ ý chí của người làm luật Từ đó có thể đưa ra những đánh giá không trái với quy định của pháp luật, những giải pháp để hoàn thiện các quy định đó Đồng thời hoàn thiện hơn về nội dung của đề tài

Ngoài ra, người viết còn sử dụng một số phương pháp phân tích khác như diễn dịch, liệt kê…, để hoàn thành tốt đề tài luận văn này

5 Cơ cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Giới thiệu chung về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam

Nêu những lý luận cơ bản về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hoạt động của Thanh traNgân hàng Nhà nước,đồng thời nêu tác động của chúng tới quá trình quản

lý Nhà nước về lĩnhvực tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Chương 2 Quy định pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trình bày và phân tích các quy định pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Chương 3 Thực trạng của hoạt động thanh tra do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện - và một số giải pháp hoàn thiện

Trong chương 3 nêu lên tình hình thực trạng về hoạt động thanh tra do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện đang diễn ra, bên cạnh đó phản ánh kết quả đạt được, cũng như những hạn chế trong hoạt động thanh tra do Ngân hàng Nhà nước tiến hành, đồng thời đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Đề tài nghiên cứu “Pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam”đây là một vấn đề liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau trong xã

hội, cũng như tính phức tạp về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, đòi hỏi người nghiên cứu đề tài nàycần có kiến thức về lĩnh vực thanh tra, tiền tệ và hoạt động ngân hàng, ngoài ra cũng cần có kiến thức về các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội, cả kiến thức về lý luận lẫn thực tiễn Là một sinh viên, lần đầu tiên làm quen

Trang 12

với việc nghiên cứu một đề tài khoa học luật và với thời gian nghiên cứu còn hạn chế cũng như vốn kiến thức, hiểu biết có giới hạn, vì vậy việc nghiên cứu có những khiếm khuyết, thiếu sót hay sai lầm trong đề tài nghiên cứu này là điều khó tránh khỏi

Từ đó, người viết rất mong nhận được sự thông cảm và những ý kiến đóng góp, đánh giá, phê bình của quý Thầy, Cô, các nhà nghiên cứu pháp luật và các bạn sinh viên để Luận văn được hoàn thiện hơn và là cơ sở để người viết tiếp tục nghiên cứu sau này

Trang 13

CHƯƠNG 1:

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA NGÂN HÀNG

NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

Một cách chung nhất, Ngân hàng Trung ương (NHTW), Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Ngân hàng Quốc gia, được hiểu là chế định tài chính công quyền, tiến hành các hoạt động ngân hàng nhằm đảm bảo chính sách tiền tệ Quốc gia Hiện nay, trên thế giới phổ biến có hai kiểu tổ chức mô hình NHTW bao gồm: NHTW-NHNN độc lập với Chính phủ và trực thuộc Chính phủ

Đối với mô hình NHTW - NHNN độc lập với Chính phủ, NHTW - NHNN sẽ không nằm trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ Thông thường, nó sẽ chịu chi phối từ cơ quan quyền lực mà không chịu sự lãnh đạo, điều hành từ Chính phủ Theo chế định này, thì hoạt động củaNHTW - NHNN hoàn toàn độc lập với Chính phủ

Đối với mô hình NHTW - NHNN trực thuộc Chính phủ, NHTW - NHNN là một bộ phận trong cơ cấu tổ chức của Chính phủ, chịu sự lãnh đạo, điều hành của Chính phủ Theo chế định này, Chính phủ có thể can thiệp vào việc tổ chức, điều hành, hoạt động, kể cả việc thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia.1

Về định nghĩa cụ thể thế nào là NHTW - NHNN, phần lớn pháp luật về ngân hàng của các quốc gia đều đưa ra khái niệm về Ngân hàng Nhà nước hoặc thông qua những quy phạm pháp luật xác định đặc điểm, chức năng để thể hiện khái niệm

về NHTW - NHNN Có thể nói, vị trí pháp lý của NHTW - NHNN ở một số quốc gia sẽ được quyết định bởi mục đích, tính chất, yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với hoạt động tiền tệ, tín dụng, hoạt động ngân hàng Tổng hợp các quy phạm pháp luật ghi nhận đặc điểm, vị trí pháp lý của NHTW - NHNN, thuật ngữ này thông thường được hình dung như sau:

NHNN - NHTW là một cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng

NHTW - NHNN là một chế định tài chính thực hiện chức năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho Chính phủ và cho hệ thống các tổ chức tín dụng, không vì mục đích lợi nhuận làm hàng đầu, và còn là cầu nối giữa Chính phủ với nền kinh tế, giữa thị trường tài chính, tiền tệ trong nước với thị trường tài chính, tiền tệ ngoài nước và các tổ chức tài chính quốc tế

1 Giáo trình luật Ngân hàng, Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006, tr 55-56

Trang 14

Đối với Việt Nam, Luật NHNN Việt Nam 2010 không đưa ra điều luật cụ thể

về khái niệm NHNN - NHTW Việt Nam Điều 2 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, xác định vị trí pháp lý và chức năng của NHNN-NHTW Việt Nam như sau:

NHNN - NHTW Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là NHTW của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

NHTW - NHNN Việt Nam là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu Nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội

NHNN - NHTW Việt Nam thực hiện chức năng quản lý Nhà nước quản lý tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của NHTWvề phát hành tiền, ngân hàng của các TCTD và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ

Từ quy định trên có thể nhận thấy:

NHNN-NHTW Việt Nam được tổ chức theo mô hình trực thuộc Chính phủ NHNN-NHTW Việt Nam giữ vai trò là cơ quan quản lý nhà nước tương đương cấp

bộ NHNN Việt Nam đảm bảo chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối Với chức năng này, NHNN Việt Nam có thẩm quyền sử dụng các phương thức và công cụ quản lý khi thực thi nhiệm vụ của mình NHNN Việt Nam là NHTWcủa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây là điểm khác biệt giữa NHNN - NHTW Việt Nam với các Bộ khác trong Chính phủ NHNN - NHTW Việt Nam còn là một ngân hàng Ngân hàng này thực hiện một số hoạt động ngân hàng đặc biệt, bao gồm: Hoạt động độc quyền phát hành tiền; cung ứng các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho Chính phủ và cho các tổ chức tín dụng (TCTD)

Về mặt dân sự, NHNN-NHTW Việt Nam là một pháp nhân NHNN-NHTW Việt Nam có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước Thủ tướng Chính phủ quy định mức vốn pháp định của NHNN - NHTW Việt Nam phù hợp trong từng thời kỳ NHNN - NHTW Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc chênh lệnh thu, chi hàng năm của NHNN được xác định từ nguồn thu hoạt động nghiệp vụ về ngân hàng, hoạt động khác và các nguồn khác, sau khi trừ chi phí hoạt động và khoản dự phòng rủi

ro NHNN trích từ trên lệnh thu, chi để lập quỹ thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia theo quy định của Chính phủ; số còn lại nộp vào Ngân sách Nhà nước Tư cách pháp nhân của NHNN - NHTW Việt Nam cho phép nó có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của một chủ thể pháp luật Do vậy, NHNN - NHTW Việt Nam có quyền tham gia ký kết các giao dịch với các TCTD và những tổ chức khác có hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, mục đích chính của những hoạt động này luôn gắn với việc

Trang 15

thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia, đảm bảo an toàn, hiệu quả của hệ thống ngân hàng

NHTW - NHNN ở bất cứ quốc gia nào đều là một trong những cơ quan có vị thế quan trọng, là ngân hàng đứng đầu trong hệ thống ngân hàng Đặc điểm nổi bật của NHTW-NHNN là nó không giao dịch, làm nghiệp vụ trực tiếp với các nhà kinh doanh và công chúng, khách hàng của nó là tất cả các ngân hàng khác NHTW-NHNN giữ vai trò là ngân hàng của các ngân hàng; bảo quản quỹ dự trữ tiền tệ của các ngân hàng; cho các ngân hàng vay vốn khi cần thiết, thực hiện chính sách tiền tệ tín dụng của Nhà nước; cơ quan phát hành tiền tệ trong nước; thanh toán và tín dụng quốc tế với NHTW-NHNN các nước khác; là cơ quan cung cấp tiền cho ngân sách Nhà nước khi cần và làm một số nghiệp vụ của Kho bạc Nhà nước

1.1.2 Vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Vai trò của NHNN thể thiện qua việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu như: độc quyền phát hành tiền, ngân hàng của Chính phủ và các TCTD, chỉ đạo, điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng, giám sát, điều hòa hoạt động ngân hàng

và thị trường tài chính thông qua các chính sách và biện pháp đặc thù

NHNN Việt Nam có hai vai trò cơ bản như sau2 :

- Vai trò quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

- Vai trò là một NHTW về phát hành tiền, ngân hàng của các TCTD và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ

Các vai trò cơ bản của NHNN Việt Nam được cụ thể hóa thành những chức năng, nhiệm vụ của NHNN trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng, nhiệm vụ của NHTW về phát hành tiền, ngân hàng của các TCTD và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ, cụ thể như sau:

1.1.2.1 Vai trò quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Vai trò quản lý nhà nước của NHNN Việt Nam thể hiện trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Ngân hàng Nhà nước tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội của Nhà nước; chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng chính sách, kế hoạch và tổ chức thực hiện phòng chống rửa tiền

Các chiến lược mang tính định hướng kinh tế - xã hội của đất nước, các kế hoạch dài hạn, cũng như ngắn hạn đều có sự tham gia soạn thảo, hoạch định của NHNN Việt Nam, đặc biệt là phần các chính sách liên quan đến chính sách tiền tệ Quốc gia

2 Khoản 3 Điều 3 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010

Trang 16

Ngân hàng Nhà nướcxây dựng chỉ tiêu lạm pháp hằng năm để Chính phủ trình Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện

Nhiệm vụ này của NHNN Việt Nam xuất phát từ hoạt động của NHNN nhằm

ổn định giá trị đồng tiền đảm bảo chính sách tiền tệ Quốc gia Theo đó chính sách tiền tệ Quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra Theo quy định của pháp luật về ngân hàng, Chính phủ trình Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm Căn cứ vào cơ sở này, Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm được thể hiện thông qua việc quyết định chỉ

số giá tiêu dùng và giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia Theo đánh giá đưa ra báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ tại phiên họp ngày

26 tháng 10 năm 2013, với mức tăng 5,92% so cùng kỳ của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 năm 2013, lạm phát đã xuống mức rất thấp trong vòng một thập kỷ3 Sau khi Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm, Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc NHNN quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ Quốc gia theo quy định của Chính phủ

Trong nền kinh tế thị trường, để kiểm soát và điều tiết tiền tệ, NHNN các nước thường sử dụng hệ thống các công cụ như dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở Đối với Việt Nam, hệ thống các công cụ kiểm soát và điều tiết tiền tệ

đã được hình thành và phát triển cùng với quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, NHNN đã thực hiện việc kiểm soát, điều tiết tiền

tệ thông qua việc sử dụng các công cụ trực tiếp như: hạn mức tín dụng, lãi suất, tỷ giá, đồng thời thiết lập và bước đầu sử dụng các công cụ gián tiếp như dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở

Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền cấp và sửa đổi bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các TCTD, giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài, giấy phép thành lập văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cho các tổ chức không phải là ngân hàng; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ thông tin tín dụng cho các tổ chức; chấp hành việc mua bán, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập và giải thể các TCTD theo quy định của pháp luật

Dưới góc độ pháp luật, giấy phép là hình thức pháp lý thể hiện việc Nhà nước cho phép tổ chức hoặc các nhân hoạt động trong một số lĩnh vựa khi thỏa mãn một

3 Theo Bích Diệp - "Lạm phát đã ở mức rất thấp trong 10 năm"

http://dantri.com.vn/kinh-doanh/lam-phat-da-o-muc-rat-thap-trong-10-nam-794273.htm , truycập ngày 30 tháng 10 năm 20013, truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013

Trang 17

số điều kiện nhất định Giấy phép thể hiện mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và tổ chức hoặc cá nhân xin phép kinh doanh NHNN Việt Nam là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng Do vậy, đây là cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động của các TCTD Đồng thời, đối với các tổ chức không phải là TCTD muốn hoạt động ngân hàng cũng phải được NHNN cấp giấy phép hoạt động ngân hàng khi thỏa mãn những điều kiện nhất định như: Hoạt động ngân hàng là cần thiết và có liên quan chặt chẽ với hoạt động chính; có đủ vốn, điều kiện vật chất phù hợp với yêu cầu của hoạt động ngân hàng…Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, nếu muốn thay đổi về tên của tổ chức, mức vốn điều lệ, địa điểm đặt trụ sở chính, thành viên Hội đồng quản trị, tỉ lệ cổ phần của các cổ đông , thì TCTD đó cần phải xin phép Việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, mua lại, giải thể TCTD cũng phải được NHNN chấp thuận bằng văn bản

Từ thẩm quyền này, pháp luật ngân hàng cũng trao cho NHNN Việt Nam khả năng được quyết định áp dụng biện pháp xử lý đặc biệt đối với TCTD vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng gặp khó khăn về tài chính, có nguy cơ mất an toàn cho hệ thống ngân hàng, gồm mua cổ phần của TCTD; đình chỉ, tạm đình chỉ, miễn nhiệm chức vụ người quản lý, người điều hành của TCTD; quyết định sáp nhập, hợp nhất, giải thể TCTD; đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật về phá sản đối với TCTD

Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, giám sát ngân hàng; xử lý

vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng theo quy định của pháp luật

Sự hoạt động thiếu ổn định của mỗi TCTD cũng điều gây tác động tiêu cực đến hệ thống TCTD và nền kinh tế Điều này làm giảm lòng tin của công chúng, từ

đó hoạt động của hệ thống TCTD sẽ bị ảnh hưởng Do vậy, với NHNN việc quản lý

và kiểm soát hoạt động của các TCTD là cần thiết để đảm bảo sự hoạt động của chúng luôn được duy trì trong khuôn khổ luật pháp góp phần thực hiện tốt chính sách tiền tệ Quốc gia đã hoạch định Với mục đích của Thanh tra NHNN là góp phần đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, phục vụ việc thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia NHNN thông qua hoạt động của thanh tra, giám sát ngân hàng, bảo đảm sự ổn định của hệ thống ngân hàng

Ngoài ra, việc thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng của NHNN còn mục đích nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong quan hệ của các TCTD với khách hàng điều này thể hiện qua việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của khách hàng với

tư cách là người đi vay thông qua các quy định chuẩn mực về vay vốn; thúc đẩy

Trang 18

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 10 SVTH: Lê Trang Yến

cạnh tranh lành mạnh và có hiệu quả thông qua quy định về chất lượng và sự cập nhật thông tin mà các TCTD có nghĩa vụ phải cung cấp cho những người tham gia thị trường tài chính

NHNN Việt Nam có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng như áp dụng biện pháp thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 95/2011/NĐ-

CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 202/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước Việt nam chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng

NHNN tham gia vào hoạt động mua bán ngoại hối với tư cách là người can thiệp, giám sát, điều tiết nhưng cũng là người mua bán cuối cùng Thông qua việc mua bán ngoại hối NHNN thực hiện chức năng giám sát và điều tiết thị trường ngoại hối theo mục tiêu của chính sách tiền tệ Quốc gia đã đề ra đồng thời theo dõi diễn biến tỷ giá đồng bản tệ để chủ động quyết định hoặc phối hợp với NHTW các nước khác củng cố sức mua đồng tiền này hay đồng tiền khác đảm bảo trật tự trong quan hệ quốc tế có lợi cho nước ta

Ngoài ra, NHNN còn thực hiện các hoạt động quản lý về ngoại hối và hoạt động ngoại hối thông qua việc quản lý, điều hành thị trường ngoại hối, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng bằng cách đưa ra quy chế nhập thành viên, quy chế hoạt động, quy định giới hạn tỷ giá mua bán ngoại tệ trên thị trường…Tham gia xây dựng các dự luật và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành về quản lý ngoại hối

và hoạt động ngoại hối Cấp giấy phép, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối Dựa vào pháp luật và các điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ mà NHNN đưa ra các quy định cần thiết để cấp giấy phép cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh ngoại hối Kiểm tra, giám sát việc xuất, nhập khẩu ngoại hối, kiểm soát các hoạt động ngoại hối của các TCTD Biên lập cán cân thanh toán quốc tế để thường xuyên nắm được dự trữ ngoại hối để xử lý trong điều kiện cần thiết

Bên cạnh đó, NHNN còn là cơ quan quản lý nhà nước, ban hành các quy định

về quản lý vàng, đồng thời lại là cơ quan độc quyền nhập khẩu vàng, kinh doanh vàng miếng SJC, đấu thầu vàng, mua - bán vàng để bình ổn thị trường vàng

1.1.2.2 Vai trò là Ngân hàng Trung ương

NHNN Việt Nam thực hiện chức năng NHTW thông qua chức năng phát hành tiền và thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng Do vậy, tính độc lập tương đối của

Trang 19

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 11 SVTH: Lê Trang Yến

NHNN Việt Nam được thể hiện rõ nét khi thực hiện chức năng NHTW Những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của NHNN Việt Nam với vai trò là NHTW bao gồm4:

Ngân hàng Trung ương tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền; thực hiện nghiệp vụ phát hành, thu hồi, thay thế và tiêu hủy tiền

NHTW là cơ quan duy nhất được phép phát hành tiền theo quy định của pháp luật hoặc được Chính phủ phê duyệt nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ Quốc gia Cụ thể, Chính phủ phát hành quy chế phát hành tiền, bao gồm các quy định về việc in, đúc, bảo quản, vận chuyển, phát hành, thu hồi, thay thế, tiêu hủy tiền

Với việc độc quyền phát hành tiền, NHTW có thể điều chỉnh được lượng tiền lưu thông để có thể kiểm soát lạm phát và từ đó có thể tăng, giảm lãi suất để tăng lượng cầu hay giảm lượng cầu ứng với mỗi thời điểm của nền kinh tế Do vậy, NHTWphải có tránh nhiệm xác định số lượng tiền cần phát hành, thời điểm, phương thức, nguyên tắc phát hành tiền để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế

Từ khi NHTW ra đời và hoạt động thì nó đã trở thành trung tâm phát hành tiền duy nhất của mỗi quốc gia Toàn bộ tiền mặt pháp định đều do NHTW phát hành theo chế độ độc quyền phát hành tiền Thông qua chức năng phát hành tiền, NHTW

sẽ tác động một cách trực tiếp đến mức tăng, giảm của tổng cung tiền tệ trong nền kinh tế, qua đó ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu dùng

Ngân hàng Trung ương thực hiện tái cấp vốn nhằm cung ứng tín dụng ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho nền kinh tế

Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có đảm bảo của NHNN nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho TCTD Đây là một công cụ thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia của NHNN để điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông nhằm giúp các TCTD giải quyết khó khăn trong trường hợp các TCTD thiếu vốn để hoạt động và không huy động được vốn từ các nguồn khác

Đối với công cụ tái cấp vốn Có thể thấy rằng cùng với việc đổi mới, điều hành chính sách tiền tệ Quốc gia, công cụ tái cấp vốn đã được từng bước đổi mới theo hướng thực hiện vai trò là công cụ tín dụng ngắn hạn của NHNN và NHNN thực hiện vai trò “người cho vay cuối cùng” Cho đến nay, việc vay tái cấp vốn theo chỉ định đã ngày càng hạn chế Thay vào đó, tái cấp vốn thường thông qua các hình thức khác nhau như cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ

có giá ngắn hạn, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn…,

4 Điều 4 Luật NHNN Việt Nam 2010

Trang 20

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 12 SVTH: Lê Trang Yến

đã ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức tái cấp vốn từ NHNN cho các TCTD

Ngân hàng Trung ương điều hành thị trường tiền tệ, thực hiện nghiệp vụ thị trường

mở

Thị trường tiền tệ là thị trường có vốn ngắn hạn, nơi mua, bán ngắn hạn các giấy tờ có giá, bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, chứng chỉ gửi tiền và các giấy tờ có giá khác NHNN thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua, bán ngắn hạn (kỳ hạn dưới một năm) các giấy tờ có giá trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia

Bên cạnh việc cung ứng vốn ngắn hạn cho các ngân hàng qua các hình thức tái cấp vốn, từ tháng 7 năm 2000, nghiệp vụ thị trường mở chính thức hoạt động đã mở

ra một kênh cung ứng, điều tiết vốn khả dụng mới cho các TCTD NHNN bước đầu

có thêm một công cụ mới để thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ Tuy đến nay mặc dù quy mô hoạt động nghiệp vụ thị trường mở còn hạn chế, nhưng việc đưa nó

đi vào hoạt động đã tạo điều kiện cho các TCTD thành viên sử dụng linh hoạt các giấy tờ có giá ngắn hạn, góp phần nhất định đối với việc điều chỉnh vốn khả dụng cho các TCTD thành viên, đặc biệt khi thiếu hụt khả năng thanh toán

Gần đây, việc NHNN đưa ra thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ đã góp phần quan trọng trong việc giúp các ngân hàng thương mại khắc phục tình trạng khan hiếm tiền đồng Sự ra đời của công cụ này đã mở đường cho các TCTD thường sở hữu ít các giấy tờ có giá ngắn hạn trong việc tiếp nhận kênh hỗ trợ vốn từ NHNN khi cần thiết

Ngân hàng Trung ương kiểm soát dự trữ quốc tế; quản lý dữ trữ ngoại hối nhà nước 5

Dự trữ ngoại hối nhà nước là tài sản bằng ngoại hối thể hiện trong bản cân đối tiền tệ của NHNN Việt Nam6

Đối với việc quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước, NHNN Việt Nam chịu sự kiểm tra của Bộ Tài chính và phải báo cáo Chính phủ về tình hình biến động của dự trữ ngoại hối để Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội Dự trữ ngoại hối

là các tài sản chiến lược dùng để chi cho các việc ngoài dự kiến, khẩn cấp như: thảm họa chiến tranh, thiên tai, khủng hoảng tài chính, kinh tế Tài sản dự trữ vàng, ngoại tệ, quyền rút tiền tại quỹ tiền tệ quốc tế, kim cương, kim loại quý NHNN quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước nhằm thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối nhà nước

5 Điều 4 Luật NHNN 2010 và chương IV Pháp lệnh ngoại hối 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2013

6 Khoản 17 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2013

Trang 21

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 13 SVTH: Lê Trang Yến

Ngân hàng Trung ương tổ chức, quản lý,giám sát hệ thống thanh toán quốc gia, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các ngân hàng; tham gia tổ chức và giám sát sự vận hành của hệ thống thanh toán trong nền kinh tế

NHNN Việt Nam có thể tham gia vào hoạt động thanh toán với hai tư cách:

Cơ quan quản lý tài khoản và chủ tài khoản Với tư cách là cơ quản lý tài khoản, NHNN Việt Nam được mở tài khoản thanh toán, được thực hiện toàn bộ các dịch vụ thanh toán cho các TCTD trong và ngoài nước, các tổ chức khác được làm dịch vụ thanh toán và các ngân hàng nước ngoài, tổ chức tiền tệ, Ngân hàng Quốc tế Các dịch vụ thanh toán đó là: cung ứng các phương tiện thanh toán, dịch vụ thanh toán trong nước; dịch vụ thanh toán quốc tế; dịch vụ thu hộ và các dịch vụ thanh toán khác do NHNN Việt Nam quy định trong từng thời kỳ nhất định

NHNN Việt Nam là cơ quan quản lý việc cung ứng các dịch vụ thanh toán của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán như: Tiền mặt, séc, lệnh chi hoặc ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng Bên cạnh đó, NHNN tổ chức hệ thống thanh toán liên ngân hàng để thực hiện dịch vụ thanh toán giữa các thành viên là NHNN, các TCTD và các tổ chức khác được làm dịch vụ thanh toán

NHTW Việt Nam chịu trách nhiệm làm đại lý và thực hiện các nhiệm vụ ngân hàng cho Kho bạc Nhà nước, tham gia với Bộ Tài chính về việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh

Ngân hàng Trung ương tổ chức hệ thống thông tin tín dụng và cung ứng dịch vụ thông tin tín dụng; thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các tổ chức hoạt động thông tin tín dụng cũng sẽ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiến hành

NHNN Việt Nam thực hiện hoạt động thông tin tín dụng nhằm phục vụ việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ Quốc gia, hỗ trợ các tổ chức cấp tín dụng ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh, góp phần đảm bảo hoạt động ngân hàng

Ngoài những nhiệm vụ và quyền hạn nêu trên, NHNN Việt Nam còn có thẩm quyền: Đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của NHNN, TCTD có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật; được sử dụng vốn pháp định để góp vốn thành lập doanh nghiệp đặc thù nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của NHNN theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Theo luật NHNN Việt Nam 2010, việc thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi cũng thuộc thẩm quyền của NHNN Việt Nam

Tóm lại, thông qua việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên, NHNN Việt Nam đã thực hiện được vai trò của mình trong quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt

Trang 22

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 14 SVTH: Lê Trang Yến

động ngân hàng và ngoại hối cũng như là một NHTW Có thể nói, nhiệm vụ, quyền hạn của NHNN Việt Nam luôn gắn liền với những điều kiện đảm bảo cho nền kinh

tế tăng trưởng ổn định

1.1.3 Giới thiệu hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

Theo Luật NHNN Việt Nam 2010, hoạt động của NHNN Việt Nam bao gồm các nội dung sau:

Một là, thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia7: Sự chỉ đạo chính sách tiền tệ Quốc gia của NHNN tác động đến việc tăng, giảm lượng tiền cung ứng tiền cho nền kinh tế, và do đó ảnh hưởng đến đời sống của mọi người dân Chính sách tiền tệ mở rộng sẽ cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế, điều này kích thích tiêu dùng cho nền kinh tế, đầu tư được khuyến khích, sản xuất mở rộng từ đó giảm thất nghiệp tăng thu nhập Quốc dân Ngược lại chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế, dẫn đến sản xuất bị thiếu vốn, người mua thiếu tiền buộc phải cắt giảm chi tiêu, đầu tư bị hạn chế, sản xuất thu hẹp, thu nhập quốc dân giảm, dẫn đến sự kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế

Hai là, hoạt động phát hành tiền8: Việc độc quyền phát hành tiền đảm bảo an toàn và thống nhất cho hệ thống lưu thông tiền tệ Quốc gia Trách nhiệm của NHNN là đảm bảo cung ứng đủ, không để thiếu phương tiện thanh toán, làm sao cho tổng cung phù hợp với tổng cầu tiền tệ

Hoạt động phát hành tiền là hành động khởi đầu cho quá trình cung ứng tiền tệ của nền kinh tế, lượng tiền phát hành làm thay đổi các điều kiện của thị trường như: Cung cầu vốn, lãi suất, tỷ giá…

Ba là, hoạt động tín dụng9: NHNN việt Nam là cơ quan quản lý Nhà nước về tiền và hoạt động ngân hàng, song còn là một NHTW, vì vậy NHNN còn thực hiện các hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, NHNN không cho vay đối với cá nhân, tổ chức không phải là TCTD Với tính chất là một NHTW, ngân hàng của các ngân hàng, NHNN Việt Nam thực hiện hoạt động cấp tín dụng dưới các hình thức: Cho vay, bảo lãnh, tạm ứng

Bốn là, hoạt động thanh toán và ngân quỹ10: Hoạt động thanh toán là việc mở tài khoản, thực hiện dịch vụ thanh toán, tổ chức và tham gia các hệ thống thanh toán của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và việc mở tài khoản, sử dụng dịch vụ thanh toán của chủ thể sử dụng dịch vụ thanh toán NHNN được mở tài khoản và thực hiện giao dịch trên tài khoản đó tại ngân hàng nước ngoài, tổ chức tiền tệ,

7 Mục 1 từ Điều 10 đến Điều 15 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010

8 Mục 2 từ điều 16 đến Điều 23 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010

9 Mục 3 điều 24 đến Điều 26 Luật Ngân hàng Nhà nước việt Nam 2010

10 Mục 4 điều 27 đến Điều 30 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010

Trang 23

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 15 SVTH: Lê Trang Yến

Ngân hàng Quốc tế NHNN mở tài khoản và thực hiện giao dịch cho các TCTD, Kho bạc Nhà nước và thực hiện các giao dịch cho Kho bạc Nhà nước; làm đại lý cho Kho bạc Nhà nước đấu thầu, phát hành và thanh toán tín phiếu, trái phiếu kho bạc Ngoài ra, NHNN cung ứng dịch vụ ngân quỹ thông qua việc thu, chi tiền cho chủ tài khoản, vận chuyển, kiểm đếm, phân loại và xử lý tiền trong lưu thông Như vậy NHNN không trực tiếp mở tài khoản và cung ứng dịch vụ cho các cá nhân và tổ chức ngoài TCTD Nói chung, hoạt động này của NHNN Việt Nam nhằm mục đích thực hiện chức năng là NHTW

Liên quan đến hoạt động này, NHNN Việt Nam còn thực hiện việc tổ chức, quản lý, vận hàng, giám sát hệ thống thanh toán quốc tế và tiến hành quản lý các phương tiện thanh toán trong nền kinh tế

Năm là, hoạt động quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối11: Hoạt động ngoại hối là các hoạt động đầu tư, vay, cho vay, bảo lãnh, mua, bán và các giao dịch khác về ngoại hối Hoạt động ngoại hối bao gồm các hình thức hoạt động như: Giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối

Mặt khác NHNN can thiệp vào thị trường ngoại hối trong nước thông qua các dịch vụ mua bán, kinh doanh ngoại hối nhằm đảm bảo tỷ giá hối đối của đồng Việt Nam NHNN thực hiện việc mua, bán trong thị trường trong nước vì mục tiêu chính sách tiền tệ Quốc gia; mua bán ngoại hối trên thị trường quốc tế và các giao dịch khác theo quy định của Chính phủ12

Ngoài ra, theo Luật NHNN Việt Nam 2010, NHNN còn thực hiện hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối nhằm thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia, đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế và bảo toàn dự trữ ngoại hối quốc tế NHNN báo cáo cho Thủ tướng Chính phủ định kỳ hoặc đột xuất về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước

Bộ Tài chính kiểm tra việc quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước do NHNN Việt Nam thực hiện theo quy định của Chính phủ

Sáu là, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng13: Thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN Việt Nam nhằm góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của các TCTD và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD, duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với các hệ thống TCTD; đảm bảo sự chấp hành chính sách pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng Thanh tra, giám sát ngân hàng phải tuân theo pháp luật, đảm bảo chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời;

11 Mục 5 điều 31 đến điều 34 Luật Ngân hàng Nhà nước 2010

12 Điều 33 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010

13 Chương V Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010

Trang 24

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 16 SVTH: Lê Trang Yến

không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan tổ chức cá nhân là đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng Việc thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng phải tiến hành kết hợp với thanh tra giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng được thanh tra, giám sát ngân hàng Đồng thời, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc thanh tra, giám sát toàn bộ hoạt động của hệ thống TCTD Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định thủ tục, trình tự thanh tra, giám sát ngân hàng

1.2 Tổng quan về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

1.2.1.1 Khái niệm Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

Theo “Từ điển tiếng Việt” xuất bản năm 1992 thì thanh tra là “kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” Theo đó, thanh tra là một thực tế đứng ngoài để kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các cơ quan, tổ chức; khác với sự kiểm tra, kiểm soát nội bộ của cơ quan, tổ chức đó

Luật Thanh tra 2010 nhận định:

“Thanh tra là một khâu trong chu trình quản lý nhà nước, là yếu tố cấu thành hoạt động quản lý nhà nước, là phương thức và nội dung quan trọng để nâng cao hiệu quản lý nhà nước, là phương tiện phòng ngừa vi phạm pháp luật Thanh tra còn là phương thức phát huy dân chủ bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”

Luật Thanh tra năm 2010 nêu:

“Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó” 14

NHNN là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng Theo đó, NHNN thực hiện thanh tra chuyên ngành

về ngân hàng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật, những quy định về chuyên môn, quy tắc quản lý của ngành ngân hàng Hoạt động thanh tra do NHNN tiến hành là một nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng của NHNN Việt Nam

Luật NHNN Việt Nam 2010, quy định:

14 Khoản 3, Điều 3 Luật Thanh tra 2010

Trang 25

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 17 SVTH: Lê Trang Yến

“Thanh tra Ngân hàng là hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các đối tượng Thanh tra Ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng” 15

Thanh tra Ngân hàng là hoạt động thanh tra của NHNN Việt Nam đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân về việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong phạm vi quản lý của NHNN Theo đó, Thanh tra Ngân hàng là Thanh tra Nhà nước chuyên ngành về ngân hàng

“Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giám sát ngân hàng, phòng, chống rửa tiền”16

Thanh tra NHNN được tổ chức thành cơ quan trực thuộc NHNN Việt Nam thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về ngân hàng trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của NHNN; tham mưu, giúp Thống đốc NHNN quản lý nhà nước đối với các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; thực hiện phòng, chống rửa tiền theo quy định của pháp luật Theo quy định của Luật NHNN 2010 và Luật Thanh tra 2010, thì Thanh tra Ngân hàng là Thanh tra Nhà nước chuyên ngành về ngân hàng, được tổ chức thành

hệ thống thuộc bộ máy của NHNN Việt Nam Thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về ngân hàng và giúp Thống đốc Ngân hàng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của NHNN Việt Nam theo quy định của pháp luật

1.2.1.2 Mục đích, nguyên tắc, đặc điểm của hoạt động thanh tra do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện:

Luật NHNN Việt Nam 2010 quy định mục đích của Thanh tra Ngân hàngnhư sau:

“Thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng; duy trì

và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng” 17

Để bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống TCTD và bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền hợp pháp, NHNN phải thường xuyên tiến hành thanh tra các TCTD và hoạt động ngân hàng của tổ chức khác theo những nội dung: Vốn;

15 Khoản 11 Điều 6 Luật NHNN Việt Nam 2010

16 Khoản 1 Điều 49 Luật NHNN Việt Nam 2010

17 Điều 50 Luật NHNN Việt Nam 2010

Trang 26

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 18 SVTH: Lê Trang Yến

chất lượng tài sản có; thu nhập; chi phí; khả năng điều hành, quản trị; khả năng sinh lời; khả năng điều hành; khả năng thanh toán và quản lý rủi ro Qua thanh tra những

vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng sẽ được phát hiện, kịp thời đưa ra các kiến nghị, khuyến nghị khắc phục, phòng ngừa và xử lý theo thẩm quyền phù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ

và hoạt động ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Và để đạt được mục đích đề ra, Thanh tra NHNN phải tuân thủ một số nguyên tắc hoạt động cụ thể, được quy định tại Điều 51 Luật NHNN Việt Nam 2010, đây là quy định hoàn toàn mới so với Luật NHNN Việt Nam 1997

“Thanh tra, giám sát ngân hàng phải tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng” 18

Hoạt động thanh tra, giám sát và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Thanh tra NHNN luôn phải đảm bảo tuân thủ theo quy định pháp luật về Luật Thanh tra, Luật NHNN Việt Nam, Luật các TCTD hiện hành và các văn bản pháp luật khác có liên quan; không bị chi phối bởi một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào đối với các khuyến nghị, kiến nghị và kết luận thanh tra Đảo đảm chính xác, khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời, không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng

“Thanh tra, giám sát ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc thanh tra, giám sát toàn bộ hoạt động của tổ chức tín dụng” 19

Khi tiến hành hoạt động thanh tra, Thanh tra NHNN tiến hành thanh tra toàn diện hoạt động kinh doanh về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối của TCTD, thanh tra việc thực hiện pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng Theo đó, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng phải giám sát tập trung thống nhất đối với toàn

bộ hoạt động của một TCTD gồm hoạt động ở hội sở chính, các chi nhánh, các công

ty con, công ty liên kết của TCTD có hoạt động ngân hàng

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 60 Luật NHNN Việt Nam 2010:

“Ngân hàng Nhà nước phải phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan trao đổi thông tin về hoạt động thanh tra, giám sát trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng thuộc thẩm quyền quản lý” 20

18 Khoản 1 Điều 51 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010

19 Khoản 3 Điều 51 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010

20 Khoản 1 Điều 60 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010

Trang 27

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 19 SVTH: Lê Trang Yến

Bên cạnh đó, NHNN chủ trì, phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra, giám sát TCTD; phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giám sát các công ty con, công ty liên kết của TCTD hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng Qua đó, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng đối với đối tượng thanh tra được thực hiện một cách toàn diện, hiệu quả; đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống TCTD, ổn định thị trường tài chính quốc gia

Thực hiện việc “kết hợp thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp

luật về tiền tệ và ngân hàng với thanh tra, giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng” 21

Đây là nguyên tắc chi phối cả nội dung, phương pháp cách thức tổ chức hoạt động Thanh tra NHNN Khác với quy định trước đây chủ yếu tập trung vào thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng Theo đó, NHNN thực hiện hoạt động giám sát từ xa, hoạt động thanh tra tại chỗ theo nguyên tắc kết hợp thanh tra tuân thủ với thanh tra trên cơ sở rủi ro trên nguyên tắc thanh tra, giám sát toàn bộ, đối với các TCTD, tổ chức có hoạt động ngân hàng, cơ quan,

tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách tiền tệ Quốc gia, chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền như lãi suất chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc , thực hiện các quy định, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, ấn định các lãi suất, lệ phí, hoa hồng áp dụng cho các ngân hàng trung gian…, quy định những thể lệ điều hành các nghiệp vụ Kịp thời phát hiện và xử lý các rủi ro về tín dụng, lãi suất, nguồn vốn, hối đối, trong hoạt động thanh toán và rủi ro thuần túy

Thông qua việc đảm bảo các nguyên tắc đã phân tích trên đây, hoạt động thanh tra do NHNNViệt Nam tiến hành có những đặc điểm khác với các hoạt động thanh tra chuyên ngành khác22:

Thứ nhất, hoạt động Thanh tra Ngân hàng có phần giám sát từ xa Giám sát từ

xa là phương thức thanh tra sử dụng thông tin trên các báo cáo, nhằm phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của các TCTD để đề ra các biện pháp xử lý khi cần thiết Giám sát từ xa còn được hiểu là phương thức mà cán bộ thanh tra ngồi tại trụ

sở của cơ quan thanh tra tiếp nhận các thông tin báo cáo để phân tích đánh giá tình hình đơn vị được thanh tra một cách thường xuyên và có hệ thống Giám sát từ xa là phương thức hoạt động riêngcó của Thanh tra Ngân hàng Phương thức giám sát từ

21 Khoản 2 Điều 51 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010

22 Hoàng Đình Thắng, TTV cao cấp, Phó Chánh Thanh tra NHNN VN/News/diendanthanhtra/2011/04/12119.aspx , ngày 29 tháng 11 năm 2010

Trang 28

http://www.thanhtravietnam.vn/vi-GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 20 SVTH: Lê Trang Yến

xa được dùng để bổ sung cho thanh tra tại chỗ nhằm kiểm soát thường xuyên ở tầm

vĩ mô hoạt động của TCTD Để chuẩn bị cho một cuộc thanh tra, cơ quan giám sát ngân hàng sẽ tiến hành khảo sát đối tượng thanh tra để xây dựng kế hoạch thanh tra Với NHNN hoạt động giám sát là công việc thường xuyên, nhằm cập nhật thông tin liên tục, từng ngày đối với từng TCTD để tiến hành phân tích, đánh giá rủi ro và xếp hạng TCTD theo phương pháp CAMELS23 Hoạt động giám sát từ xa sẽ chỉ rõ đơn vị nào cần thanh tra tại chỗ, trọng tâm thanh tra vào nội dung gì,thời gian nào cần thanh tra Trong khi đó hoạt động thanh tra chuyên ngành khác không có phần giám sát từ xa

Thứ hai, NHNN cùng với việc thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, còn thực hiện thanh tra rủi ro trong hoạt động của các đối tượng Thanh tra Ngân hàng Khi mà các hoạt động thanh tra chuyên ngành khác chỉ

thanh tra “việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn kỹ -

thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó” 24

Thứ ba, NHNN để thực hiện được thanh tra rủi ro phải tiến hành thanh tra toàn

bộ đối với một TCTD (gồm hoạt động của TCTD, các đơn vị trực thuộc TCTD, các công ty con, công ty liên kết của TCTD có hoạt động ngân hàng)25 Còn các hoạt động thanh tra chuyên ngành khác thực hiện thanh tra đối với từng tổ chức, hoạt động riêng rẻ của đối tượng thanh tra chuyên ngành đó

1.2.2 Vai trò của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi theo cơ chế thị trường, các hoạt động ngân hàng, dịch vụ tài chính có vị trí ngày càng quan trọng Hơn thế nữa, Ngân hàng Nhà nước ngày càng giảm sự can thiệp sâu vào các hoạt động kinh doanh dịch vụ tiền tệ và hoạt động ngân hàng, thay vào đó là NHNN tiến hành quản lý bằng pháp luật nên hoạt động của Thanh tra NHNN ngày càng quan trọng trong việcthực thi có hiệu quả chức năng quản lý của NHNN

Bên cạnh đó, hoạt động của hệ thống TCTD có đặc thù riêng, hoạt động không

ổn định của từng TCTD đều ảnh hưởng đến hoạt động của toàn bộ hệ thống các TCTD Hoạt động của các TCTD góp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ của quốc gia và góp phần phát triển kinh tế - xã hội Đối với các hoạt động kinh tế của TCTD Việt Nam hiện nay: Theo số liệu thống kê mới

23 Hệ thống đánh giá CAMELS là hệ thống đánh giá tình trạng vững mạnh của các tổ chức tài chính Việc đánh giá dựa trên 5 tiêu chí: Vốn, chất lượng tài sản, quản lý, doanh thu, mức thanh khoản của tổ chức tài chính,và mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường CAMELS chính là viết tắt từ chữ cái đầu của các chữ tiếng Anh Capital, Asset quality, Management, Earnings,Liquidity,và Sensitivity to market risk của 6 tiêu chí trên

24 Khoản 3 Điều 3 Luật Thanh tra 2010

25 Khoản 3 Điều 51 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010

Trang 29

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 21 SVTH: Lê Trang Yến

nhất của NHNN, tổng tài sản của các TCTD tại thời điểm ngày 31 tháng 7năm 2013

là 5.248.573 tỷ đồng, tăng 3,2% so với cuối năm 2012 Trong đó tổng tài sản của nhóm các Ngân hàng Thương mại Nhà nước tăng 3,89% đạt 2.287.236 tỷ đồng còn của nhóm các Ngân hàng Thương mại Cổ phần tăng 0,86% đạt 2.177.892 tỷđồng26 Hoạt động của hệ thống các TCTD đã góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy các hoạt động kinh tế ở nước ta, tạo động lực cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước

Tuy nhiên, nếu không có sự kiểm soát của NHNN đối với hoạt động của hệ thống TCTD thì việc kinh doanh của TCTD sẽ vì mục tiêu lợi nhuận mà xem nhẹ mục tiêu phát triển cân đối nền kinh tế Trong đó, công cụ đắc lực của NHNN trong việc kiểm soát và quản lý hoạt động ngân hàng là bộ phận thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong hệ thống TCTD hiện nay, tồn tại song song hoạt động của TCTDViệt Nam và TCTD nước ngoài Hệ thống các TCTD Việt Nam có vị thế quan trọng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia nhưng lại tìm ẩn nhiều rủi ro Trong khi, các TCTD nước ngoài thường có nhiều lợi thế hơn do có sức mạnh về vốn công nghệ và điều kiện cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, về nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh và hiệu quả thực hiện các nghiệp vụ…Do đó, nếu không có sự quản lý của NHNN sẽ tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh, các TCTD nước ngoài

sẽ chèn ép các TCTD trong nước, làm cho hệ thống các TCTD trong nước suy giảm không đủ sức cạnh tranh, chính sách tiền tệ Quốc gia sẽ không được thực thi triệt

để Do đó, Thanh tra NHNN trong trường hợp này có vai trò trong việc bảo đảm sự phát triển ổn định, vững chắc của toàn hệ thống TCTD, hội nhập hoạt động ngân hàng trong nước với khu vực và quốc tế, phát triển thị trường vốn, tăng cường uy tín quốc tế và mở rộng hợp tác quốc tế về hoạt động ngân hàng

Ngoài ra, việc thường xuyên theo dõi, báo động để giúp cho TCTD đảm bảo khả năng thanh toán cũng là trách nhiệm của NHNN trong quản lý vĩ mô Thực hiện trách nhiệm này NHNN Việt Nam thông qua hoạt động Giám sát từ xa và Thanh tra tại chỗ của thanh tra NHNN, đặc biệt là việc giám sát thường xuyên và định kỳ đối với hoạt động của TCTD Đó là việc phân tích các loại báo cáo định kỳ do TCTD gửi định kỳ đến NHNN theo quy định của Thống đốc NHNN Mục đích của việc này là nhằm xem xét chất lượng tài sản, việc chấp hành các quy chế nhằm phát hiện

sự biến động của các khoản tiền gửi của khách hàng và các khoản dự trữ của bản thân TCTD để dự báo, chỉ điểm, và ứng cứu khi cần thiết

Trang 30

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 22 SVTH: Lê Trang Yến

Nhìn chung các TCTD là các chủ thể kinh tế, do đó không thể tách rời sự quản lý của Nhà nước Điều đó có nghĩa là mọi hoạt động của các TCTD đều phải chịu sự kiểm tra, kiểm soát của các thiết chế thanh tra Thanh tra đối với các TCTD mục đích chủ yếu là giúp đỡ các tổ chức này hoạt động đúng pháp luật, phát hiện những sai lệch so với yêu cầu quản lý để sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản

lý Chính vì thế, vai trò của Thanh tra NHNN một lần nữa được khẳng định nhằm đảm bảo tính thanh khoản và kịp thời báo cáo với NHNN về TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán Qua đây, NHNN xem xét, có đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt không, cũng như có những biện pháp thiết thực giúp TCTD ổn định tình hình tài chính, từ đó, duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với TCTD đó, thực hiện được mục tiêu quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng của NHNN Việt Nam

Hơn nữa, trong nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường, tồn tại song song nhiều loại hình TCTD, cũng như sự đa dạng trong hoạt động ngân hàng Do vậy, vai trò của hoạt động Thanh tra NHNN không chỉ bảo đảm cho TCTD hoạt động lành mạnh, kinh doanh có hiệu quả mà còn bảo đảm an toàn TCTD, phục vụ lợi ích của

cả cộng đồng và toàn xã hội Hoạt động thanh tra của NHNN đối với TCTD là hoạt động thực hiện chức năng quản lý nhà nước của NHNN đối với các TCTD

Hoạt động của Thanh tra NHNN giúp cho NHNN nắm bắt được kịp thời, chính xác, diễn biến, tình hình hoạt động của từng TCTD, phát hiện sớm những vi phạm, những lệnh lạc, giúp cho người quản lý, điều hành đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời; chỉnh sửa các quy chế cho phù hợp với sự phát triển chung của nền kinh tế; đảm bảo sự phát triển bền vững, ổn định, kinh doanh có hiệu quả của TCTD; hoạt động Thanh tra NHNN giúp NHNN giám sát việc thực thi các chính sách tiền tệ Quốc gia và chính sách kinh tế vĩ mô được kịp thời, bảo đảm an toàn của hệ thống TCTD, ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế

Thông qua, việc quản lý từng TCTD nói riêng và hệ thống các TCTD nói chung của NHNN thông qua hoạt động của Thanh tra NHNN là rất cần thiết Nó không chỉ làm cho hệ thống các TCTD luôn vững mạnh, ổn định, phát triển, tạo niềm tin trong kinh doanh; đồng thời giám sát TCTD có tuân thủ đầy đủ, nghiêm túc các quy định của pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng Mà quan trọng hơn là làm cho hệ thống các TCTD hoạt động theo định hướng phát triển kinh tế ở tầm vĩ mô của Nhà nước, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các TCTD hoạt động tại Việt Nam, ổn định và phát triển thị trường tài chính nước ta

Mặt khác, NHNN thông qua việc bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD như tỷ lệ an toàn về vốn tối thiểu, hạn mức tín dụng, tỷ lệ khả năng chi trả…, góp

Trang 31

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 23 SVTH: Lê Trang Yến

phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, phục vụ việc thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia

Vai trò của Thanh tra NHNN một lần nữa được khẳng định, trong việc tạo điều kiện để NHNN kiểm soát việc thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia và chính sách kinh tế vĩ mô Trong quá trình thanh tra các TCTD, NHNN thực hiện việc phân tích đánh giá các khoản mục tài sản nợ và tài sản có của TCTD và toàn hệ thống TCTD Thông qua đó, NHNN phát hiện được những điểm chưa phù hợp trong điều hành chính sách tiền tệ Quốc gia (như tỷ lệ dự trữ bắt buộc không hợp lý gây ra tình trạng căng thẳng cung - cầu vốn của TCTD, chính sách lãi quá cao khiến TCTD gặp khó khăn để mở rộng cho vay…); từ đó, có cơ sở để đưa ra các giải pháp điều chỉnh thích hợp trong việc điều hành chính sách tiền tệ, đảm bảo với thực tế Cũng thông qua hoạt động thanh tra, NHNN có thể phát hiện những bất hợp lý trong cơ chế, chính sách của Nhà nước liên quan đến hoạt động ngân hàng, từ đó kiến nghị với các cấp thẩm quyền hoặc bản thân NHNN tự bổ sung, sửa đổi, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động của các TCTD Có như thế, việc thực hiện chính sách tiền

tệ Quốc gia và chính sách kinh tế vĩ mô được các TCTD, các tổ chức được hoạt động ngân hàng thực thi triệt để, kịp thời, chính xác, để đạt được mục tiêu cuối cùng là đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD, ổn định thị trường tiền tệ trong nước…Sự ổn định và vững mạnh của hệ thống tài chính, tiền tệ Quốc gia phụ thuộc rất lớn vào vai trò quản lý nhà nước của NHNN Việt Nam, trong đó có sự đóng góp hết sức quan trọng của hoạt động Thanh tra NHNN

1.3 Sơ lược quá trình phát triển hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công của chủ tịch Hồ Chí minh đã ký sắc lệnh số 64/SL thành lập ban thanh tra đặc biệt nay là Thanh tra NHNNViệt Nam

Năm 1956 (sau 5 năm thành lập ngành Thanh tra Ngân hàng) theo Nghị định

số 169/NĐ-VP ngày 12 tháng 5 năm1956 của Tổng giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, quyết định thành lập ban Thanh tra Ngân hàng

Từ năm 1963 đến năm 1967, do yêu cầu phát triển của tổ chức, mạng lưới hoạt động ngân hàng cũng như yêu cầu của các cuộc vận động lớn của Đảng và Chính phủ, các ban thanh tra chi nhánh NHNN các tỉnh, thành phố được thành lập ỞNHTW, ban thanh tra được bổ sung thêm nhiều cán bộ được điều động từ các vụ cục, các chi nhánh NHNN địa phương, điều là những cán bộ có trình độ, năng lực, thực hiện nhiệm vụ của ban Thanh tra NHNN Việt Nam

Trang 32

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 24 SVTH: Lê Trang Yến

Đầu những năm 1990 trở lại đây, căn cứ vào công bố Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, hệ thống ngân hàng đã được thay đổi từ hệ thống ngân hàng 1 cấp sang hệ thống ngân hàng 2 cấp bao gồm NHTW, các chi nhánh tại 61 tỉnh thành và hệ thống các TCTD gồm các Ngân hàng Thương mại Quốc doanh, Ngân hàng Cổ phần, Ngân hàng liên doanh, công ty tài chính…Cùng với các Pháp lệnh nói trên, Hội đồng Nhà nước cũng ban hành Pháp lệnh thanh tra, Pháp lệnh khiếu nại của nông dân, từng bước đổi mới công tác thanh tra ở nước ta nói chung và công tác Thanh tra Ngân hàng nói riêng về nội dung hoạt động cũng như xử lý vi phạm

Thời kỳ triển khai mô hình tổ chức Ngân hàng theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26 tháng 12 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng, do nhận thức không đúng về quản lý nhà nước về kinh doanh tiền tệ, do chưa tiếp cận với cơ chế thị trường nên cho rằng tự chủ kinh doanh là tự lo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm là chính, nên công tác thanh tra bị buôn lỏng Trong cơ cấu của NHNN, các cấp bố trí rất ít cán bộ làm công tác thanh tra

Ngày 02 tháng 12 năm 1997, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các

tổ chức tín dụng được Quốc hội khóa X, chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 1998 Trên cơ sở quy định của Luật NHNN Việt Nam 1997, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/1999/NĐ-CP ngày 04 tháng 9 năm 1999 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Ngân hàng

Về cơ cấu tổ chức, theo Nghị định số 91/1999/NĐ-CP, Hệ thống tổ chức Thanh tra Ngân hàng bao gồm: Thanh tra NHNN; Thanh tra chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Thanh tra chi nhánhNHNN); hoạt động của Thanh tra Ngân hàng là nhằm góp phần bảo đảm an toàn hệ thống các TCTD, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, phục vụ việc thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia

Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1997 (sửa đổi, bổ sung 2003), tiếp tục khẳng định vị thế của Thanh tra Ngân hàng với 6 Điều quy định về Thanh tra Ngân hàng, được đề cập tại chương V

Quyết định số 83/QĐ-TTg ngày 27 tháng 05 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng trực thuộc NHNN Việt Nam Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng được thành lập dựa trên cơ sở tổ chức lại 4 đơn vị trực thuộc NHNN bao gồm: Thanh tra Ngân hàng, Vụ các ngân hàng, Vụ các TCTD hợp tác

và Trung tâm phòng chống rửa tiền Thành lập Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng được coi là một công cuộc cải tổ đáng kể của NHNN nhằm tăng cường khả

Trang 33

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 25 SVTH: Lê Trang Yến

năng thanh tra, giám sát của hệ thống tài chính ngân hàng Theo quyết định này, các đơn vị thuộc Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng gồm27:

• Vụ Thanh tra các TCTD trong nước (gọi tắt là Vụ I)

• Vụ Thanh tra các TCTD nước ngoài (gọi tắt là Vụ II)

• Vụ Thanh tra hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng (gọi tắt là Vụ III)

• Vụ Giám sát Ngân hàng (gọi tắt là Vụ IV)

• Vụ Chính sách an toàn hoạt động ngân hàng (gọi tắt là Vụ V)

• Vụ Quản lý cấp phép các TCTD và hoạt động ngân hàng (gọi tắt là Vụ VI)

• Văn phòng

• Cục Phòng, chống rửa tiền

Ngày 16 tháng 6 năm 2010, Quốc hội đã thông qua Luật NHNN 2010, thay thế Luật NHNN 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung 2003 Tiếp tục khẳng định vị trí vai trò của Cơ quan Thanh tra, giám sát NHNN trên tinh thần Quyết định 83/2009 của Thủ tướng Chính phủ Trong đó đã dành trọn chương V, với 13 điều quy định về thanh tra, giám sát ngân hàng Theo đó:

“Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giám sát ngân hàng, phòng, chốngrửa tiền 28 ”

1.4 Mối liên hệ giữa hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

và hoạt động giám sát do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện:

Hoạt động giám sát do NHNN Việt Nam thực hiện được gọi là giám sát từ xa (hay còn gọi là thanh tra trên các báo cáo) là việc gián tiếp kiểm tra, thông qua tổng hợp và phân tích báo cáo để đánh giá các nội dung hoạt động của TCTD Về cơ bản, giám sát từ xa là một hệ thống phân tích, đánh giá thông tin; thông qua việc sử dụng các bảng cân đối kế toán và các chỉ tiêu thống kê định kỳ của các TCTD để giúp các nhà quản lý TCTD thường xuyên nắm chắc tình hình, từ đó có thể cảnh báo sớm cho các TCTD biết hoặc kiến nghị biện pháp khắc phục, đồng thời chỉ điểm kịp thời những vấn đề trọng điểm cần tập trung thanh tra tại chỗ

Do vậy, giám sát từ xa luôn được coi là một nghiệp vụ thiết yếu không thể thiếu trong quản lý hệ thống các TCTD Tại Việt Nam, giám sát từ xa được áp dụng

từ năm 1999, nhưng đến tháng 9 năm 1999, việc ứng dụng tin học vào phân tích tình hình tài chính của TCTD hàng tháng mới được triển khai thực hiện Tại Thanh

27 Điều 3 Quyết định số 83/QĐ-TTg ngày 27/05/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng trực thuộc Ngân hàng nhà nước Việt Nam

28 Khoản 1 Điều 49 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010

Trang 34

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 26 SVTH: Lê Trang Yến

tra NHNN, có một bộ phận chuyên trách đảm nhiệm công tác giám sát từ xa đối với tất cả các TCTD Hàng tháng, bộ phận giám sát từ xa của Thanh tra NHNN cung cấp cho ban lãnh đạo NHNN, lãnh đạo Thanh tra NHNN, và bộ phận phân tích tài chính, tình hình hoạt động, chấp hành quy chế và những vấn đề cần được xem xét, tháo gỡ và chấn chỉnh của từng TCTD để các cấp có thẩm quyền xem xét, có biện pháp xử lí

Qua các báo cáo tài chính, thông tin tín dụng, kết quả chỉnh sửa sau thanh tra, kết quả giám sát trên máy tính của từng TCTD và các thông tin khác có liên quan để phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của mỗi TCTD Trong quá trình giám sát, những vấn đề biến động bất thường hoặc những sai sót của TCTD mà có thể chỉnh sửa được ngay thì trao đổi để TCTD chỉnh sửa, khắc phục; những vấn đề chưa rõ, yêu cầu TCTD báo cáo, giải trình từng vấn đề cụ thể Kết quả phân tích giám sát được thông báo bằng văn bản đến các TCTD Việc thường xuyên giám sát đã làm cho mỗi cán bộ thanh tra nắm bắt được tình hình hoạt động của TCTD được phân công theo dõi, đồng thời để các TCTD kịp thời phát huy những mặt tích cực, khắc phục, chỉnh sửa những khuyết điểm

Để hoạt động Thanh tra Ngân hàng có hiệu quả, vấn đề phối hợp giám sát từ

xa và thanh tra tại chỗ để nâng cao hiệu quả thanh tra.Thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các TCTD

và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các TCTD; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền

tệ và hoạt động ngân hàng của NHNN

Qua giám sát chỉ ra cho thanh tra tại chỗ cần tập trung vào những điểm thường sai sót trong nội dung hoạt động của TCTD để phát hiện đúng bản chất của sự việc, những vấn đề chưa rõ hay nghi ngờ trong giám sát từ xa được minh bạch qua thanh tra tại chỗ, từ đó đánh giá được mức độ chấn chỉnh khắc phục sai phạm, xử lý hoặc kiến nghị xử lý đúng và hợp lý với thực tiễn, kể cả vi phạm hành chính

Hoạt động Giám sát từ xa và Thanh tra tại chỗ có mối quan hệ với nhau nhằm giúp cho công tác thanh tra, giám sát của hệ thống thanh tra, giám sát của NHNN hoàn thiện hơn Giám sát từ xa cung cấp một bộ phận thông tin cho Thanh tra tại chỗ trong việc đánh giá khái quát tình hình hoạt động của TCTD Giúp cho công tác thanh tra tại chỗ phát hiện, cảnh báo và có thể phòng ngừa một cách kịp thời các rủi

ro Công tác giám sát từ xa kết hợp với thanh tra tại chỗ nhằm kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý sai phạm của đối tượng Thanh tra Ngân hàng

Trang 35

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 27 SVTH: Lê Trang Yến

Việc phối hợp giữa Giám sát từ xa và Thanh tra tại chỗ góp phần thanh tra, giám sát TCTD được tốt hơn Giám sát từ xa phát hiện và chỉ ra TCTD nào cần thanh tra, giám sát Giúp thanh tra tại chỗ thanh tra, giám sát đúng đối tượng, tiết kiệm chi phí thanh tra Đảm bảo hiệu quả của hoạt động thanh tra do NHNN tiến hành, tránh tình trạng thanh tra dàn trải, không có kết quả

Qua đó, ta thấy Giám sát từ xa và Thanh tra tại chỗ luôn bổ sung cho nhau Dù

đó là Giám sát từ xa hay Thanh tra tại chỗ, mục đích đều giống nhau đó là giám sát các đối tượng Thanh tra Ngân hàng và phòng ngừa các rủi ro thông qua việc phát hiện kịp thời các rủi ro không được quản lý tốt Mỗi phương thức thanh tra (Giám sát từ xa, Thanh tra tại chỗ) đều có những hạn chế riêng Sự kết hợp giữa chúng là

để bổ trợ cho nhau giúp hoạt động thanh tra do NHNN tiến hành đạt kết quả tốt hơn Khi Thanh tra NHNN thực hiện phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro, sự kết hợp giữa Giám sát từ xa và Thanh tra tại chỗ thể hiện rõ nét trong việc lập báo giám sát CAMELS (Giám sát từ xa đảm nhiệm các nội dung định lượng; Thanh tra tại chỗ đảm nhiệm nội dung đánh giá định tính)

Như vậy, với những phân tích trên cho thấy, cần phải xây dựng một quy trình làm sao gắn kết được hai phương thức trên để phát huy mặt mạnh của từng phương thức và tối thiểu những hạn chế của mỗi phương thức

Trong chương 1, Đề tài đã đề cập đến một số vấn đề lý luận sơ lược về NHNN Việt Nam và hoạt động của Thanh tra NHNN Việt Nam Từ đó, mà ta biết được NHNN Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là NHTW của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; hoạt động thanh tra của NHNN Việt Nam là hoạt động thanh tra nhà nước chuyên ngành về ngân hàng, một trong những công cụ đắc lực của NHNN Việt Nam trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng Đặc biệt,chương 1 đã đi sâu phân tích vai trò của Thanh tra NHNN để thấy sự cần thiết phải có hoạt động của Thanh tra NHNN trong việc quản

lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng của NHNN Việt Nam Qua đó, phần nào ta thấy được tầm quan trọng của hoạt động Thanh tra NHNN Việt Nam trong việc phát hiện,phòng ngừa các rủi ro, ổn định và phát triển

hệ thống tài chính quốc gia Để hoạt động của Thanh tra NHNN được tiến hành hiệu quả và thiết thực, Nhà nước ta đã có những quy định pháp luật về hoạt động của Thanh tra NHNN, giúp cho hoạt động của Thanh tra NHNN có hiệu quả, đảm bảo choNHNN Việt Nam thực hiện tốt vai trò quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng Pháp luật có những quy định như thế nào trong việc điều chỉnh hoạt động của Thanh tra NHNN, theo yêu cầu quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt

Trang 36

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 28 SVTH: Lê Trang Yến

động ngân hàng của NHNN Việt Nam, vấn đề này sẽ được tìm hiểu kỹ hơn qua

chương 2 của đề tài: “QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA

THANH TRA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM”

Trang 37

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 29 SVTH: Lê Trang Yến

CHƯƠNG 2:

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA NGÂN

HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Pháp luật về hoạt động của Thanh tra NHNN Việt Nam là tổng thể những quy định về hoạt động của Thanh tra NHNN do Nhà nước ban hành, theo đó xác định mối quan hệ giữa hoạt động của Thanh tra NHNN với các đối tượng thanh tra và các bên có liên quan Thanh tra NHNN là hoạt động thanh tra mang tính chuyên ngành Do đó, pháp luật về hoạt động của Thanh tra NHNN mang những đặc điểm

cơ bản, đặc trưng khác so với hoạt động thanh tra thông thường

2.1 Quy định pháp luật về đối tượng của hoạt động thanh tra do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện:

Theo thông lệ quốc tế, đối tượng của thanh tra NHNN là tất cả các ngân hàng

và tổ chức tài chính phi ngân hàng Tuy nhiên, theo các văn bản luật áp dụng tại nước ta, đối tượng của Thanh tra NHNN Việt Nam rộng hơn

Theo Luật NHNN Việt Nam 2010, NHNN Việt Nam tiến hành thanh tra những đối tượng sau đây:

- TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng

- Tổ chức có hoạt động ngoại hối, hoạt động kinh doanh vàng; tổ chức hoạt động thông tin tín dụng; tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không phải

là ngân hàng;

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của NHNN Việt Nam

Theo Luật các TCTD 2010, TCTD được hiểu là:

Trang 38

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 30 SVTH: Lê Trang Yến

“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng,

tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân 29 ”

 Ngân hàng là: “loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các

hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” 30

 TCTD phi ngân hàng “là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc

một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác” 31

 Tổ chức tài chính vi mô là “loại hình TCTD chủ yếu thực hiện một số hoạt

động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ”32

 Quỹ tín dụng nhân dân là TCTD do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật Hợp tác xã33 nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống34

Từ những phân tích ở trên ta có thể thấy các loại hình của TCTD rất đa dạng, mỗi loại hình có có những hoạt động ngân hàng đặt thù riêng, nhưng nhìn chung chúng đều là doanh nghiệp, hoạt động một, một số hay tất cả các hoạt động ngân hàng Mặt khác lĩnh vực kinh doanh của các TCTD mang tính đặc trưng riêng như là: Hoạt động ngân hàng hàm chứa nhiều rủi ro, đối tượng kinh doanh chính là tiền

tệ, nguồn vốn chủ yếu để hoạt động kinh doanh chính là nguồn vốn huy động, lĩnh vực kinh doanh mang tính hệ thống cao và phải chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Nhà nước Từ những lý do trên, NHNN Việt Nam tiến hành các hoạt động quản lý Nhà nước về hoạt động ngân hàng để đảm bảo hệ thống các TCTD hoạt động trong quỹ đạo, tính thanh khoản cao và hạn chế rủi ro, ổn định thị trường tài chính tiền tệ rất nhiều biến động

Quy định tại khoản 1, Điều 52 Luật NHNN Việt Nam, ngoài các TCTD, NHNN còn thanh tra các đối tượng sau:

29 Khoản 1 Điều 4 Luật các TCTD 2010

30 Khoản 2 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010

31 Khoản 4 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010

32 Khoản 5 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010

33 Luật Hợp tác xã 2012

34 Khoản 6 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010

Trang 39

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 31 SVTH: Lê Trang Yến

“Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng.”

 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh tại Việt Nam35

 Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng Văn phòng đại diện không được thực hiện các hoạt động kinh doanh tại Việt Nam36

 Tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng là tổ chức được thành lập

ở nước ngoài theo quy định của pháp luật nước ngoài và được kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây37:

 Nhận tiền gửi;

 Cấp tín dụng;

 Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản

Cũng theo khoản 1 Điều 52 Luật NHNN Việt Nam 2010, quy định:

“Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thanh tra hoặc phối hợp thanh tra công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng;”

Công ty con, công ty liên kết của TCTD được định nghĩa như thế nào và tại sao trong những trường hợp cần thiết NHNNyêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thanh tra hoặc phối hợp thanh tra đối với các đối tượng trên

Khái niệm công ty con, công ty liên kết của TCTD quy định tại khoản 29, 30 Điều 4 Luật các TCTD 2010, như sau:

Công ty con của TCTD là công ty mà ở đó:“Tổ chức tín dụng hoặc tổ chức tín

dụng và người có liên quan của tổ chức tín dụng sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn cổ phần có quyền biểu quyết” 38

“Công ty liên kết của tổ chức tín dụng là công ty trong đó tổ chức tín dụng hoặc tổ chức tín dụng và người có liên quan của tổ chức tín dụng sở hữu trên 11% vốn điều lệ hoặc trên 11% vốn cổ phần có quyền biểu quyết, nhưng không phải là công ty con của tổ chức tín dụng đó”39

35 Khoản 9 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010

36 Khoản 7 Điều 2 Thông tư 40/2011/TT-NHNN, quy định về việc cấp giấy phép và tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại việt nam

37 Khoản 9 Điều 2 Thông tư 40/2011/TT-NHNN, quy định về việc cấp giấy phép và tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại việt nam

38 Điểm a Khoản 30 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010

39 Khoản 29 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010

Trang 40

GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 32 SVTH: Lê Trang Yến

Khi tiến hành thanh tra trong trường hợp cần thiết NHNN yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thanh tra hoặc phối hợp thanh tra công ty con, công ty liên kết của TCTD Bởi trước hết theo quy định của pháp luật hiện hành thì có những hoạt động TCTD có thể trực tiếp kinh doanh nhưng cũng có những hoạt động mà TCTD muốn tiến hành kinh doanh thì bắt buộc phải thông qua các công ty con, công ty liên kết của TCTD Như vậy bên cạnh hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp của TCTD, các TCTD còn có thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác thông qua các công ty con, công ty liên kết như kinh doanh vàng, chứng khoán, bất động sản, bảo hiểm, tư vấn tài chính, môi giới tiền tệ… Thông qua đây giúp các TCTD sử dụng nguồn vốn huy động được có hiệu quả, giải ngân nguồn vốn, đầu tư trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhằm tăng lợi nhuận trong kinh doanh (đặc biệt trong điều kiện các TCTD bị NHNN khống chế mức tăng trưởng tín dụng)

Mặt khác, thông qua việc thành lập các công ty con, công ty liên kết góp phần giúp các TCTD tăng khả năng huy động vốn, có thể đảm bảo thanh khoản hoặc cho vay khi việc huy động vốn của TCTD gặp khó khăn Hơn nữa, các công ty con, công ty liên kết cũng giúp các TCTD sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vốn có (như là vốn, cơ sở vật chất - kỹ thuật, nguồn nhân lực…), để phát triển, mở rộng kinh doanh, tăng khả năng tài chính cho các hoạt động kinh doanh về tiền tệ và hoạt động ngân hàng của TCTD

Bên cạnh các mặt tích cực của hệ thống công ty con, công ty liên kết của TCTD, vẫn cồn tồn tại khá nhiều bất cập như sau:

Trước hết việc đua nhau thành lập các công ty con, công ty liên kết, đầu tư dàn trải ra quá nhiều ngành đôi khi vượt quá trình độ quản lý của TCTD, dẫn đến các công ty hoạt động không hiệu quả, ảnh hưởng đến hoạt động chính của TCTD Ngoài ra trong bối cảnh mà thị trường chứng khoán, bất động sản đang gặp nhiều khó khăn, thị trường vàng bất ổn định thì việc các ngân hàng đẩy mạnh đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh nói trên, nguy cơ gặp rủi ro là rất cao Tình trạng sở hữu chéo, đầu tư chéo với sự "bắt tay" của ngân hàng - chứng khoán - bảo hiểm đang khiến dòng chảy đồng tiền trong hệ thống tài chính méo mó

Ngoài ra, những hạn chế về tính minh bạch, cung cấp thông tin và chuẩn mực

kế toán ,đang tạo điều kiện để sở hữu chéo, đầu tư chéo phát huy mặt tiêu cực Sở hữu chéo, đầu tư chéo tiềm ẩn rủi ro và bóp méo cạnh tranh Khi các TCTD liên kết thành một “mạng nhện” sẽ nảy sinh độc quyền nhóm Liên minh TCTD này có thể

đủ sức mạnh để chi phối lãi suất, tỷ giá và kể cả chính sách về tài chính, dẫn đến

Ngày đăng: 05/10/2015, 10:16

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w