1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam

88 658 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những thực tế trên, đề tài “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại V

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT

BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 36 ( 2010-2014)

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH

NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU

TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN

BỘ MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI MSSV: 5105935

LỚP: LUẬT THƯƠNG MẠI-K36

Cần Thơ, 11/2013

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i

LỜI NÓI ĐẦU ii

1 Tính cấp thiết của đề tài ii

2 Mục đích nghiên cứu ii

3 Phạm vi nghiên cứu iii

4 Phương pháp nghiên cứu iii

5 Kết cấu của luận văn iii

CHƯƠNG 1 THUẾ TNDN VÀ QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1

1.1 DOANH NGHIỆP FDI TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 1

1.1.1 Khái niệm và các hình thức FDI tại Việt Nam 1

1.1.2 Khái niệm, nguyên tắc hoạt động và đặc điểm của doanh nghiệp FDI 4

1.2 THUẾ TNDN VÀ QUẢN LÝ TNDN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP FDI 9

1.2.1 Thuế TNDN 9

1.2.2 Quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI 16

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 27

2.1 ĐÁNH GIÁ CHUNG 27

2.2 NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC 30

2.2.1 Thành tựu về kinh tế - xã hội 30

2.2.2 Thành tựu về số thu thuế TNDN từ doanh nghiệp FDI 33

2.2.3 Thành tựu về đăng ký và kê khai thuế 37

2.2.4 Thành tựu về thanh tra kiểm tra thuế 40

2.3 NHỮNG HẠN CHẾ 45

2.3.1 Sự thất thu thuế TNDN tại các doanh nghiệp FDI 45

2.3.2 Hạn chế trong chính sách thuế đối với doanh nghiệp FDI 51

Trang 5

2.4.1 Công tác xây dựng và ban hành Luật thuế, Luật đầu tư còn thiếu tính ổn định 53 2.4.2 Ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp còn thấp

3.1 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP FDI 57 3.1.1 Xu hướng phát triển của các doanh nghiệp FDI 57 3.1.2 Định hướng công tác quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI tại Việt Nam

59

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP FDI 60 3.2.1 Hoàn thiện Luật thuế TNDN 60 3.2.2 Giải pháp cho quy trình quản lý thuế 62 3.2.3 Giải pháp tăng cường quản lý hóa đơn, góp phần đấu tranh chống gian lận thuế

Trang 6

toán giao dịch thông qua ngân hàng 72

3.3.4 Cải cách đồng bộ hệ thống chính sách quản lý kinh tế xã hội nước ta 73

3.3.5 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật doanh nghiệp 74

KẾT LUẬN 75

Trang 7

LỜI CẢM ƠN



Để hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô Lê Thị Nguyệt Châu – cán bộ Bộ môn Luật kinh doanh – Thương mại, Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình hướng dẫn

em trong suốt quá trình viết luận văn tốt nghiệp Xin chân thành cảm ơn đến tất cả quý Thầy, Cô khoa luật – Trường Đại học Cần Thơ đã hết lòng dìu dắt, dạy bảo, nhiệt tình truyền đạt cho em những kiến thức vô cùng bổ ích Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học tập không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu luận văn mà còn là hành trang quý báo

để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu đề tài khoa học này nhưng do nhiều điều kiện khách quan nên chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Do vậy, rất mong được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô

Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe, thành công trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp cao quý trồng người

Cần Thơ, ngày 30 tháng 10 năm 2013

Người viết

Lê Hửu Phước

Trang 8

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

 TNDN: Thu nhập doanh nghiệp

 FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

 ĐTNN: Đầu tư nước ngoài

 GTGT: Giá trị gia tăng

 XHCN: Xã hội chủ nghĩa

 TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

Trang 9

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đối với bất kỳ một quốc gia nào, muốn phát triển cần phải có 3 yếu tố: lao động, vốn và công nghệ Nước ta là một nước đang phát triển với nguồn lao động dồi dào sẵn sàng đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhưng vốn đầu tư thì khan hiếm còn công nghệ lại lạc hậu Nhìn nhận được những yếu kém nội tại, Đảng ta đã đề ra chính sách mở cửa, trải thảm đỏ cho những nhà ĐTNN, các công

ty đa quốc gia mang vốn, công nghệ đầu tư vào Việt Nam Vì thế kể từ khi đổi mới các nhà ĐTNN rất quan tâm đến thị trường Việt Nam với những lợi thế so sánh với

Để thực sự thu hút nhà đầu tư, yêu cầu đặt ra đối với chúng ta là phải đổi mới

cơ chế, chính sách sao cho phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập, trong đó có cải cách chính sách thuế Thực hiện công cuộc cải cách thuế trong những năm gần đây, ngành thuế Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện

hệ thống các sắc thuế, cải cách thủ tục hành chính về thuế nhằm tạo thuận lợi cho người nộp thuế Song song đó, để đảm bảo hiệu quả công bằng của chính sách thuế thì

cơ quan quản lý thuế phải tăng cường công tác quản lý, phát hiện và xử lý nghiêm vi phạm, vừa chống thất thu vừa đảm bảo công bằng cho các doanh nghiệp nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật thuế

Chính vì vậy, nghiên cứu để nói lên thực trạng cũng như tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn ĐTTTNN là một vấn đề được quan tâm hàng đầu Xuất phát từ những thực tế

trên, đề tài “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập

doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” được người viết chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân luật

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp FDI Qua đó người viết đánh giá, phân tích thực trạng công tác quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI nhằm làm rõ hơn những thành tựu đạt được và những mặt còn hạn chế Đồng thời đề xuất

1

Theo báo cáo số liệu 6 tháng đầu năm 2011, 2012, 2013 của Cục đầu tư nước ngoài: tổng vốn đăng kí (tỷ USD) của các năm 2011, 2012, 2013 lần lượt là 5,666; 6,38; 10,473 và giải ngân (tỷ USD) là 5,3; 5,4; 5,7

Trang 10

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

một số giải pháp và điều kiện cần thiết nhằm phát huy những thế mạnh và giải quyết được những vướng mắc trong công tác quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích tổng hợp, đối chiếu so sánh, logic… đề tài sẽ hệ thống lại một số vấn đề lý luận về thuế TNDN và tổng kết những thành quả đã đạt được cũng như đánh giá thực trạng về công tác quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp FDI, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp FDI trong thời gian tới, góp phần động viên nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, đề tài được chia làm 3 chương:

Chương 1: Thuế TNDN và quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 11

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

CHƯƠNG 1 THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.1 DOANH NGHIỆP FDI TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

1.1.1 Khái niệm và các hình thức FDI tại Việt Nam

1.1.1.1 Khái niệm

Có thể nói trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường, thành phần kinh tế

có vốn ĐTNN chiếm vị trí vô cùng quan trọng và FDI hiện nay không còn là một thuật ngữ mới lạ đối với kinh tế Việt Nam Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau đề cập đến khái niệm FDI Tất cả các khái niệm này đều cố gắng khai thác một hoặc một vài khía cạnh của vấn đề nhằm khái quát hóa bản chất, nội dung, hình thức của hoạt động này, có thể kể đến một vài quan điểm như:

FDI, theo quan điểm vĩ mô là: chủ đầu tư trực tiếp đưa vốn và kỹ thuật vào

nước nhận đầu tư, thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở thuê mướn, khai thác các yếu tố cơ bản ở nước sở tại như tài nguyên, sức lao động, cơ sở vật chất 2

FDI, theo quan điểm vi mô là: chủ đầu tư đóng góp một số vốn lớn đủ để họ trực

tiếp tham gia vào việc quản lý, điều hành đối tượng bỏ vốn 3

Khái niệm do Qũy tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra năm 1997 đề cập đến khía cạnh

khác của FDI là: số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một

doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư Mục đích của nhà đầu tư là có được tiếng nói hiệu lực và đạt hiệu quả cao trong quản lý doanh nghiệp Khái niệm này cho thấy, sự khác nhau cơ bản giữa đầu tư trực tiếp với đầu tư

gián tiếp là mục đích của các nhà đầu tư

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic Cooperation and development - OECD) cũng đưa ra định nghĩa về FDI tương tự như IMF Tuy vậy, OECD có quan niệm rất rộng về nhà ĐTNN Theo quan điểm của OECD, nhà ĐTNN là cá nhân hay tổ chức có thể thuộc cơ quan Chính phủ hoặc không thuộc cơ quan Chính phủ đầu tư tại nước ngoài

Trang 12

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

Ủy ban Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD), trong Báo cáo

đầu tư thế giới năm 1996 đã đưa ra định nghĩa về FDI như sau: FDI là đầu tư có mối

liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân (nhà ĐTNN hoặc công ty mẹ) đối với doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệpFDI hoặc chi nhánh nước ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp)

Theo Luật đầu tư của Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam số

59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì: ĐTNN là việc nhà ĐTNN đưa vào Việt

Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư 4

Dù cách nhìn nhận khác nhau, nhưng có thể rút ra một khái niệm tổng quát như

sau: FDI là một hình thức xuất khẩu tư bản trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời

là người quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn Nhà ĐTNN có một lượng vốn lớn đầu tư vào nước sở tại và tuân thủ theo các hình thức đầu tư do pháp luật nước đó quy định nhằm thu lợi nhuận cao

1.1.1.2 Các hình thức FDI

Trong quá trình thu hút FDI, Chính phủ Việt Nam đã cấp giấy phép cho nhiều loại hình đầu tư Có các loại hình FDI thường gặp như:

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contact – BCC):

Là hình thức FDI trong đó hợp đồng hợp tác kinh doanh được kí kết giữa hai hay nhiều bên để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh tại nước nhận đầu tư trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà không thành lập một xí nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân mới

- Doanh nghiệp liên doanh (Join Venture Enterprise – JVE):

Đây là hình thức FDI qua đó pháp nhân mới được thành lập gọi là doanh nghiệp liên doanh – là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở liên kết của các doanh nghiệp trong và ngoài nước theo luật pháp của nước chủ nhà; các bên tham gia liên doanh sẽ chịu trách nhiệm lẫn nhau trong phạm vi phần vốn góp của mình vào liên doanh

- Doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN (Enterprise with one hundred percent foreign owned capital):

Là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà ĐTNN tại nước chủ nhà, được hình thành bằng toàn bộ vốn nước ngoài và do nhà ĐTNN tự quản lý, điều hành và tự

4 Khoản 12 Điều 3, Luật đầu tư 2005

Trang 13

+ Hình thức đầu tư BOT (Built – Operate – Transfer): hợp đồng xây dựng –

kinh doanh – chuyển giao: là hình thức hợp đồng giữa chủ đầu tư (nhà thầu) và các cơ quan Nhà nước (của nước sở tại) có thẩm quyền để xây dựng một công trình, trong đó nhà thầu bỏ vốn để kinh doanh và khai thác công trình trong một thời gian nhất định

để thu hồi vốn và có lợi nhuận thỏa đáng; sau đó chuyển giao công trình cho nước chủ nhà mà không đòi bồi hoàn

+ Hình thức đầu tư BTO (Built – Transfer – Operate): hợp đồng xây dựng –

chuyển giao – kinh doanh: là hình thức FDI để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho nước sở tại, Chính phủ của nước sở tại sẽ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn và lợi nhuận hợp lý

+ Hình thức đầu tư BT (Built – Transfer): hợp đồng xây dựng – chuyển giao: là

hình thức FDI để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà ĐTNN chuyển giao công trình đó cho Nhà nước của nước sở tại, Chính phủ nước sở tại tạo điều kiện cho nhà ĐTNN thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý

- Hợp đồng phân chia sản phẩm (Production Sharing Contract – PSC):

Hợp đồng này là quy định nhà ĐTNN bỏ 100% vốn để tìm kiếm, thăm dò và khai thác tài nguyên trên nước sở tại Nếu tìm và khai thác được sản phẩm thì thỏa thuận phân chia sản phẩm theo nguyên tắc:

+ Nước chủ nhà được hưởng tỷ lệ lớn hơn chủ đầu tư trong tổng số tiền bán sản phẩm đối với mỏ có trữ lượng lớn, thời gian khai thác dài, và hưởng tỷ lệ nhỏ hơn chủ đầu tư trong tổng số tiền bán sản phẩm đối với mỏ có sản lượng nhỏ, thời gian khai thác ngắn

+ Nếu không tìm thấy sản phẩm hoặc không đủ sản lượng công nghiệp để khai thác thì nhà đầu tư phải chịu 100% rủi ro

Trang 14

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

- Hình thức đầu tư thiết bị: bao gồm thuê vận hành và thuê tài chính

+ Thuê vận hành: là hình thức FDI trong đó nhà đầu tư cho nước sở tại thuê

thiết bị hiện đại Tiền thuê thiết bị được tính theo sản lượng sản phẩm làm ra trên thiết

bị đó Phía nước ngoài hướng dẫn kỹ thuật và sáng tạo mẫu mã, cùng lo tiêu thụ sản phẩm tại thị trường trong nước Hình thức này hiện đang được áp dụng phổ biến tại các nước chậm và đang phát triển

+ Thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung, dài hạn thông qua mua máy móc –

thiết bị và các động sản khác Bên cho thuê cam kết mua máy móc – thiết bị và động

sản theo yêu cầu của bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê

Bên thuê sử dụng tài sản thuê và không được hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn Khi kết thúc thời hạn thuê bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục mua lại tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê

 Ngoài ra còn có một số hình thức khác chưa thông dụng tại Việt Nam như:

- Hình thức đầu tư LDO (Lease – Develop – Operate): cho thuê – Nâng cấp –

Kinh doanh công trình: Nhà nước sở tại cho thuê công trình; nhà thầu nâng cấp và khai thác, kinh doanh công trình trong thời hạn nhất định, sau đó chuyển giao cho nước chủ nhà

- Hình thức đầu tư BLT (Built – Lease – Transfer): hợp đồng xây dựng –

Cho thuê – Chuyển giao: chủ thầu xây dựng và cho thuê công trình trong một thời hạn nhất định, sau đó chuyển giao cho nước chủ nhà

1.1.2 Khái niệm, nguyên tắc hoạt động, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp FDI

1.1.2.1 Khái niệm Doanh nghiệp FDI

Các nhà ĐTNN có thể bỏ vốn hoặc góp vốn thành lập doanh nghiệp và tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý chúng Tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về loại hình doanh nghiệp này

- Doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp ĐTNN, gọi là chủ đầu tư hay công ty mẹ

Cơ sở sản xuất kinh doanh ĐTNN trong nước sở tại – công ty con – nằm dưới quyền quản trị toàn bộ (tài sản, sản xuất, kỹ thuật, xuất nhập khẩu, sử dụng lao động…) của chủ đầu tư, nhưng phải tuân thủ những điều kiện đã thỏa thuận và kí kết với những cơ quan quyền lực của nước sở tại tiếp nhận đầu tư

Trang 15

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

- Doanh nghiệp FDI là những loại hình doanh nghiệp có vốn của bên nước ngoài

và có sự quản lý trực tiếp của bên nước ngoài Doanh nghiệp này hoạt động theo luật pháp của nước sở tại để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm thu được lợi ích cho tất cả các bên

- Theo các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp FDI có tư cách pháp nhân hoặc không

có tư cách pháp nhân, trong đó nhà ĐTNN sở hữu từ hơn 10% số cổ phần có quyền bỏ phiếu (đối với doanh nghiệp có tư cách pháp nhân) hoặc tương đương (đối với doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân)

Những quan niệm trên cho thấy sự không thống nhất trên bình diện quốc tế trong quan niệm về doanh nghiệp FDI, mỗi quốc gia có các quy định khác nhau về mô hình doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, từ đó đưa ra các chính sách, kế hoạch quản lý đối với doanh nghiệp

Qua phân tích như trên, có thể hiểu: Doanh nghiệp FDI là một loại hình tổ chức

kinh doanh, trong đó có một hay nhiều chủ đầu tư cùng góp vốn, cùng quản lý cơ sở kinh tế đó vì mục tiêu lợi nhuận, hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với các quy định luật pháp của nước sở tại và thông lệ quốc tế

1.1.2.2 Nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp FDI

Thứ nhất, doanh nghiệp FDI là những tổ chức kinh tế chủ yếu được thành lập

theo hình thức công ty TNHH, có một phần hoặc toàn bộ số vốn nước ngoài Mục tiêu chính của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, tự kiểm soát hoạt động và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình, hợp tác với địa phương sở tại trên nguyên tắc cùng có lợi

Thứ hai, quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp, chủ yếu là

người nước ngoài quản lý trực tiếp và nắm giữ vị trí chủ chốt, các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của bên nước ngoài nhiều hơn Tuy nhiên, các doanh nghiệp đều ra đời và hoạt động theo luật pháp của Nhà nước Việt Nam và luật pháp quốc tế

Thứ ba, quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp FDI phải có sự cân đối với lợi

ích của địa bàn sở tại với chủ đầu tư Mục tiêu cao nhất của các doanh nghiệp FDI là lợi nhuận kinh tế trong khi đó mục tiêu của nước sở tại là kinh tế - xã hội, nên đôi khi xảy ra mâu thuẫn, bất đồng Do đó, để điều hòa được mối quan hệ này cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa hai bên

Trang 16

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

Thứ tư, thời gian hoạt động của doanh nghiệp FDI do Chính phủ nước Cộng hòa

XHCN Việt Nam quyết định đối với từng dự án, thường không quá 50 năm, trường

Thứ năm, thông qua hợp tác đầu tư, doanh nghiệp FDI và địa bàn tiếp nhận có

sự gặp gỡ, trao đổi về văn hóa, triết lý kinh doanh, pháp luật, ngôn ngữ, lối sống, thói quen của hai bên Đặc biệt môi trường kinh doanh của doanh nghiệp FDI tương đối phức tạp, nhiều khi mang sắc thái chính trị, tôn giáo rõ rệt, có thể gây khó khăn cho nước nhận đầu tư

Thứ sáu, doanh nghiệp FDI hoạt động dưới sự điều hành của Hội đồng quản trị

Giám đốc chịu trách nhiệm trực tiếp trước Hội đồng quản trị Các cơ quan quản lý Nhà nước của Việt Nam chỉ thực hiện chức năng quản lý về mặt Nhà nước đối với hoạt động của loại hình doanh nghiệp này Vì vậy để phát huy vai trò của các doanh nghiệp và hạn chế những tác hại do chạy theo lợi nhuận kinh tế gây ra, các cơ quan Nhà nước cần nâng cao năng lực quản lý với loại doanh nghiệp này

1.1.2.3 Đặc điểm doanh nghiệp FDI

- Doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Việt Nam cấp giấy phép thành lập hoặc hoạt động kinh doanh theo các hợp đồng hợp tác kinh doanh

điểm này khiến cho mối liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và các bộ phận khác của công ty đa quốc gia tương đối chặt chẽ và phức tạp Vì vậy, khiến cho các cơ quan chức năng của ta khó tập trung quản lý, việc can thiệp và kiểm soát các giao dịch tương đối khó khăn

- Doanh nghiệp FDI được tổ chức quản lý chịu sự chi phối gián tiếp của luật pháp nước cư trú của công ty mẹ nhưng cũng phải chịu sự quản lý của nước sở tại (nước nhận đầu tư) nên việc kiểm soát và theo dõi sẽ gặp nhiều khó khăn Các công ty này đã có kinh nghiệm lâu năm kinh doanh trên thị trường quốc tế nên có rất nhiều những biện pháp tinh vi đối phó với cơ quan chức năng

Trang 17

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

- Các doanh nghiệp nước ngoài trong quá trình đầu tư, tiến hành sản xuất kinh doanh vào nước khác thường sử dụng nguồn nguyên liệu, dây chuyền công nghệ từ chính quốc nên rất phức tạp trong việc xác định được giá trị thị trường trong quá trình góp vốn liên doanh ảnh hưởng đến việc xác định chi phí

- Sản phẩm được sản xuất ra thường chịu sự chi phối, bao tiêu của công ty mẹ nên gây cản trở cho các cơ quan chức năng trong việc xác định doanh thu

Chính từ thực tế đặc thù của doanh nghiệp FDI, để có thể chủ động trong việc quản lý, kiểm soát một cách chặt chẽ và có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp thì các cơ quan chức năng cần có những biện pháp cụ thể, có

sự tính toán chặt chẽ và lâu dài

1.1.2.4 Vai trò của doanh nghiệp FDI trong nền kinh tế quốc dân

Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN, nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho nền kinh tế là chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta

Quá trình vận động tồn tại và phát triển cùng với sự đóng góp ngày càng to lớn

có hiệu quả của thành phần kinh tế có vốn ĐTNN cho sự ổn định, phát triển nền kinh

tế của nước ta hơn 20 năm qua đã khẳng định vị trí và vai trò tầm quan trọng của thành phần kinh tế này

Thực tế cho thấy thu hút mạnh mẽ FDI trở thành nhu cầu thiết yếu của mọi quốc gia Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới thì tổng FDI của Thế giới năm 1980 là 191.595 triệu USD; năm 1996 là 314,696 triệu USD và tăng lên rất nhanh qua các năm Theo công bố ngày 2/8/2001 của tổ chức Thương mại và Phát triển Liên hiệp quốc phòng ĐTNN tăng nhanh trong những năm qua, hầu hết các nước đều thực hiện chính sách đầu tư thông thoáng và cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn ĐTNN

Các nước đang phát triển muốn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của mình cần có lượng vốn lớn trong khi khả năng huy động nguồn lực trong nước có hạn do nhiều nguyên nhân khác nhau, cho nên hầu như họ đều tìm mọi cách thu hút nguồn vốn từ bên ngoài, mà nguồn FDI là rất quan trọng bởi tính ưu việt của nó so với các nguồn huy động khác Cạnh tranh thu hút nguồn vốn này giữa các quốc gia không kém phần quyết liệt, nhất là các nước trong khu vực Bằng nhiều hình thức ưu đãi thu hút đầu tư hấp dẫn mang tính lợi thế so sánh, trong đó thuế cũng là một công cụ mà hầu như quốc gia nào cũng sử dụng để khuyến khích đầu tư

Trang 18

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

Đối với Việt Nam: Một quốc gia đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế

tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN thì tăng trưởng kinh tế là mục tiêu số một để tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước bạn Tuy là một nước

có nguồn nhân lực dồi dào (90 triệu dân) nhưng trình độ chuyên môn chưa cao, công nghệ nước nhà còn lạc hậu, nguồn vốn trong nước hạn hẹp Bởi những lẽ đó chúng ta cần đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ, giải quyết việc làm, tăng trưởng kinh tế Muốn làm được những điều ấy yếu tố vốn đóng vai trò quyết định, cho nên việc đẩy mạnh khai thác nguồn vốn đầu tư trong nước đồng thời tăng cường thu hút nguồn vốn ĐTNN có ý nghĩa rất quan trọng cần phải được quan tâm đặc biệt

 Những vai trò nổi bật của doanh nghiệp FDI

- Doanh nghiệp FDI sẽ đáp ứng một lượng lớn cho nền kinh tế Đặc biệt như đối với nước ta lượng vốn còn hạn chế, nguồn vốn bổ sung từ FDI sẽ đáp ứng lượng vốn đầu tư mua sắm trang thiết bị, mở rộng sản xuất và phát triển mọi mặt cho các ngành kinh tế Hơn nữa sự có mặt của các doanh nghiệp FDI còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần hình thành và phát triển trong cả nước hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại, đem lại hiệu quả cao

- Doanh nghiệp FDI còn giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho hàng trăm nghìn lao động rỗi việc hàng năm đồng thời nó sẽ tạo điều kiện cho việc khai thác thêm, có hiệu quả hơn các nguồn nguyên vật liệu

- Sự có mặt của các doanh nghiệp FDI sẽ làm tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước Khi có các doanh nghiệp FDI, muốn tồn tại và phát triển các doanh nghiệp trong nước phải có những chiến lược phát triển của mình, cải thiện chất lượng

và mẫu mã sản phẩm, tăng sức cạnh tranh Các doanh nghiệp trong nước cần mở rộng thị phần, gia tăng cả về chất lượng và số lượng sản phẩm

- Các doanh nghiệp FDI trong quá trình đầu tư vào Việt Nam sẽ đem theo những kinh nghiệm, tiến bộ kỹ thuật, máy móc dây chuyền công nghệ mới, điều này sẽ cải thiện tình trạng công nghệ lạc hậu của các doanh nghiệp nước nhà Đây là bước đầu cải thiện và đổi mới hoàn toàn công nghệ trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Từ đây

có thể phát triển một số ngành kinh tế quan trọng có hàm lượng kỹ thuật cao mà Việt Nam còn nhiều tiềm năng như viễn thông, thăm dò khai thác, chế biến dầu khí, hóa chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy…

Trang 19

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

- Một vai trò không kém phần quan trọng là việc các doanh nghiệp FDI hoạt động tại Việt Nam sẽ góp phần nâng cao năng lực trình độ quản lý của các nhà quản lý Việt Nam Với những nước đang phát triển như nước ta doanh nghiệp FDI sẽ là trường đào tạo cán bộ quản lý tốt nhất bởi lẽ với yêu cầu ngày càng cao của công việc, của hội nhập kinh tế lực lượng cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ có môi trường để thực tập, cọ sát và học tập không ngừng nâng cao trình độ của mình

- Môi trường làm việc trong các doanh nghiệp FDI sẽ cũng tạo cho người lao động tác phong công nghiệp trong lao động, góp phần đào tạo và nâng cao trình độ tay nghề cho mỗi lao động Điều này sẽ gián tiếp làm tăng năng suất lao động, tạo việc làm và tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao

- Ở tầm vĩ mô, doanh nghiệp FDI còn góp phần tăng vốn cho xuất khẩu, củng cố năng lực xuất khẩu trên mối quan hệ khăng khít giữa các nhà đầu tư và thị trường truyền thống của họ, làm tăng thu ngoại tệ cho đất nước đồng thời tăng nguồn thu

cân bằng cán cân thanh toán quốc tế Tạo điều kiện để Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn vào đời sống kinh tế quốc tế

1.2 THUẾ TNDN VÀ QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP FDI 1.2.1 Thuế TNDN

1.2.1.1 Khái niệm, quá trình hình thành và phát triển của thuế TNDN

 Khái niệm về thuế

Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước Thuế xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Khi Nhà nước ra đời đòi hỏi phải có nguồn lực để trang trải chi phí hoạt động của bộ máy Nhà nước, thực hiện các chức năng của Nhà nước Bằng quyền lực của mình, Nhà nước quy định các khoản đóng góp bắt buộc đối với công dân và các chủ thể khác trong xã hội

Mặc dù thuế ra đời rất lâu nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế Nhiều quan điểm đưa ra nhìn nhận thuế từ những khía cạnh khác nhau nên chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này

Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản Mác đã chỉ rõ: thuế

là cơ sở kinh tế của nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền của

Trang 20

Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze, trong cuốn “Tài chính công” đã đưa ra một

định nghĩa tương đối cổ điển nhất: thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất

xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhắm bù đắp những chi tiêu của nhà nước 9

Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: thuế là hình thức phân

phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước 10

Trên góc độ người nộp thuế: thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi

tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.11

Trên góc độ kinh tế học, thuế được xem xét như là: một biện pháp đặc biệt, theo

đó Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực

tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước 12

Một cách chung nhất thuế là hình thức huy động tài chính cho Nhà nước Khi Nhà nước ra đời, thuế là công cụ để nhà nước có nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nước Nhà nước dùng quyền lực của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc dân cư và các đối tượng khác trong nền kinh tế đóng góp cho Nhà nước

Thuế là hình thức động viên mang tính chất bắt buộc trên nguyên tắc luật định Đặc điểm này được thể chế hóa trong hiến pháp của mỗi quốc gia Nhà nước dùng quyền lực và sức mạnh để ấn định các thứ thuế, bắt buộc các tổ chức kinh tế và công dân thực hiện các nghĩa vụ thuế để Nhà nước có nguồn thu ổn định, thường xuyên

Trang 21

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

đảm bảo trang trải các khoản chi trong hoạt động thường xuyên của Nhà nước mà vẫn

ổn định được Ngân sách Nhà nước Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế của mình tức là họ đã vi phạm pháp luật của quốc gia đó Đặc điểm này phân biệt sự khác nhau giữa các khoản thuế với các khoản đóng góp mang tính tự nguyện cho Ngân sách Nhà nước và thuế đối với các khoản vay mượn khác cho Chính phủ

Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp Thuế vận động một chiều, trên cơ sở các số thuế thu được Nhà nước sẽ sử dụng cho những chi tiêu công cộng, phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước và mọi cá nhân trong xã hội Số thuế mà các đối tượng phải nộp cho Nhà nước được tính toán không dựa trên khối lượng lợi ích công cộng họ nhận được mà dựa trên những hoạt động cụ thể và thu nhập của họ Đặc điểm này cũng phân biệt giữa thuế với phí13 và lệ phí.14

Như vậy:

Thuế là một khoản đóng góp có tính bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho

Nhà nước, được quy định bằng văn bản pháp luật và không có tính hoàn trả trực tiếp

 Khái niệm, quá trình hình thành và phát triển của thuế TNDN

Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp hay nói cách khác nó đánh trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh hàng hóa dịch vụ sau khi đã trừ đi các khoản chi phí liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh đó

 Sự xuất hiện thuế TNDN trên thế giới

Ở phương Tây, hình thức thuế xuất hiện sớm nhất là ở La Mã cổ đại dưới dạng

“thuế ruộng đất” Cùng với sự phát triển, những loại thuế và hình thức thuế phức tạp hơn dần hình thành Thuế thu nhập là tên gọi để chỉ những sắc thuế lấy thu nhập làm đối tượng tính thuế nó và xuất hiện rất sớm trong lịch sử thuế khóa Mức cao hay thấp, đánh vào tổng thu nhập hay đánh vào từng khoản thu nhập khác nhau của các chủ thể thường phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập của từng nước trong những thời kì nhất định Cách tính toán cụ thể, thu nhập chịu thuế, thuế suất hoàn toàn do pháp luật thuế thu nhập của từng nước quy định Song, hầu hết các nước đều áp dụng thống nhất hai loại thuế thu nhập là thuế TNDN và thuế thu nhập cá nhân

Trang 22

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

Mặc dù có sự định danh khác nhau nhưng hầu hết các quốc gia trên Thế giới trong hệ thống pháp luật thuế đều có quy định thứ thuế đánh vào thu nhập của các doanh nghiệp Hình thức thuế thu nhập công ty được áp dụng đầu tiên vào năm 1920 ở

nước có sự không đồng nhất về xác định phạm vi đối tượng nộp thuế, phạm vi thu nhập chịu thuế và cách đánh thuế trên mỗi loại thu nhập Chẳng hạn, Luật thuế thu nhập công ty của Thụy Điển quy định: “Các công ty, các chủ thể kinh doanh có số vốn

từ 50.000 Curon trở lên và có lao động làm thuê thì được coi là đối tượng nộp thuế thu nhập công ty” Bộ luật thuế thu nhập của Thái Lan quy định: “đối tượng nộp thuế thu nhập công ty chỉ bao gồm các công ty và các tổ chức hùn vốn có tư cách pháp nhân” Còn pháp luật Mỹ, Nhật quy định: “chủ thể kinh doanh là các tổ chức kinh tế thì phải nộp thuế thu nhập công ty” Từ năm 1973, nước Anh sử dụng hệ thống thuế công ty quy đổi, theo đó các công ty phải nộp thuế thu nhập công ty với mức thuế bằng 35%

Thuế thu nhập công ty ở các nước đều quy định tính thu nhập chịu thuế trong một khoảng thời gian xác định là năm tài chính Thu nhập chịu thuế được tính trên cơ sở là: doanh thu – chi phí hợp lý + các khoản thu nhập khác Đa số các nước đều áp dụng thuế suất thuế thu nhập công ty theo tỷ lệ phần trăm cố định để đảm bảo công bằng và thuận lợi trong công tác quản lý thu nộp thuế Đồng thời, thuế thu nhập công ty ở các nước đều có quy định về chế độ ưu đãi thuế, miễn giảm thuế Tuy nhiên, do chính sách; chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia là khác nhau mà các nước có sự quy định về ưu đãi thuế cho ngành nghề, lĩnh vực đầu tư khác nhau

Thuế thu nhập công ty tác động lớn đến sự phân phối thu nhập, tiền lương, tác động đến khả năng khai thác, thu hút vốn đầu tư, tác động tới việc di chuyển vốn và có thể làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế nên Nhà nước luôn quan tâm và hướng tới việc hoàn thiện loại thuế này

 Sự xuất hiện thuế TNDN ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trước năm 1990 có một loại thuế đánh vào thu nhập của các cơ sở sản xuất, kinh doanh gọi là “thuế lợi tức” Loại thuế này chỉ áp dụng cho kinh tế ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp quốc doanh thì áp dụng chế độ trích nộp lợi nhuận Kể

từ sau năm 1990, Việt Nam thực hiện công cuộc cải cách căn bản hệ thống chính sách

Trang 23

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

thuế và Luật thuế lợi tức mới được ban hành để áp dụng thống nhất đối với tất cả các

tổ chức, cá nhân kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế có thu nhập thu từ hoạt động kinh doanh trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Trải qua quá trình áp dụng trong thực tiễn, Luật thuế lợi tức đã thu được kết quả khả quan hơn so với chế độ thu cũ Tuy nhiên, do tình hình xã hội luôn có những bước phát triển mới nên nhiều quy định trong Luật thuế lợi tức cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định không phù hợp như quy định về chi phí hợp lý, hợp lệ, quy định về miễn, giảm thuế

Ngày 10/5/1997 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua Luật

để thực hiện các mục tiêu như: bao quát và điều tiết tất cả các khoản thu nhập của các

cơ sở kinh doanh, khuyến khích và thu hút đầu tư trong và ngoài nước thông qua chế

độ ưu đãi về thuế suất, miễn, giảm thuế…số thu về TNDN tăng trưởng hằng năm và chiếm tỷ trọng khoảng 25% trong tổng thu thuế và phí

Thông qua việc quy định doanh thu, các khoản chi phí hợp lý phải có hóa đơn, chứng từ hợp pháp, Luật thuế TNDN đã thúc đẩy các cơ sở kinh doanh tăng cường hạch toán kinh doanh, củng cố công tác kế toán, hóa đơn, chứng từ, tiết kiệm chi phí, từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Hệ thống hóa tất cả những quy định

ưu đãi thuế cho các nhà đầu tư được quy định trong các luật khác nhau như: Luật đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam, Bộ luật lao động, Luật thuế lợi tức…nhằm khắc phục tình trạng tản mạn, chồng chéo, tạo sự rõ ràng, thống nhất Với một mức thuế suất chung là 32%, Luật thuế TNDN 1997 đã tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở kinh doanh trong công tác hạch toán kế toán, trong việc xác định thu nhập chịu thuế, kê khai, nộp thuế Tuy vậy, Luật thuế TNDN 1997 vẫn không tránh khỏi việc có những hạn chế và thiếu sót, chẳng hạn: đối tượng chịu thuế chưa bao quát hết các khoản thu nhập cần điều tiết cho Ngân sách Nhà nước, một số khoản chi phí chưa được pháp luật quy định hoặc quy định chưa chính xác, chưa phù hợp với thực tiễn, thuế suất còn cao chưa tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tích tụ vốn để tái sản xuất mở rộng, mức thuế suất và ưu đãi thuế còn phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI Điều này dẫn đến tình trạng chi phí không được phản ánh đầy đủ, ảnh hưởng đến việc thu hồi vốn đầu tư và xác định không đúng nghĩa vụ thuế với Nhà nước

phục một số nhược điểm nêu trên của Luật thuế TNDN 1997, tạo điều kiện cho người

17

Luật thuế TNDN 1997 có hiệu lực từ ngày 01/10/1999

18 Luật thuế TNDN 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004 và thay thế cho Luật thuế TNDN 1997

Trang 24

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

nộp thuế và người thu thuế thực hiện đúng luật, giảm bớt nghĩa vụ đóng góp của các

cơ sở kinh doanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tích tụ vốn đầu tư phát triển, đồng thời bao quát điều tiết được hầu hết các khoản thu nhập trong các cơ sở kinh doanh nhằm bảo đảm tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và tiến đến việc áp dụng thống nhất thuế TNDN không phân biệt giữa các thành phần kinh tế, các hình thức đầu

tư khác nhau

Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam đã trở thành thành viên tổ chức thương mại thế giới WTO, việc sửa đổi bổ sung hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng là thực sự cần thiết và phù hợp với xu thế chung của các nước trên Thế giới Đồng thời, thực trạng pháp luật cũng cho thấy các quy định trong luật thuế TNDN 2003 đã bộc lộ những hạn chế như thuế suất còn khá cao, ưu đãi thuế quá phức tạp khó xác định, kiểm tra, thanh tra dẫn đến tiêu cực, gây ra cản trở mong muốn thực hiện kế hoạch đầu tư lớn của chủ thể kinh doanh Sự không đồng bộ, thống nhất với pháp luật liên quan như Luật doanh nghiệp 2005, Luật Quản lý thuế 2006…Xuất phát từ những nguyên nhân đó, ngày 03/6/2008 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt

để giúp doanh nghiệp tăng nguồn lực tài chính, tăng tích lũy, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị Chính sách ưu đãi thuế mới sẽ đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn giữa các doanh nghiệp, thu hút đầu tư

Cho đến thời điểm hiện nay, sau 4 năm đi vào áp dụng, trước những đòi hỏi mới thể hiện sự linh hoạt và thích ứng với môi trường kinh tế mới của nước ta Ngày 19/6/2013 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế

này không chỉ đáp ứng được yêu cầu thực tiễn mà còn thể hiện tinh thần cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh Việt Nam Luật Thuế TNDN mới có những thay đổi một cách toàn diện hơn so với Luật thuế TNDN 2008, chẳng hạn như:

 Về khái niệm cơ sở thường trú (sửa đổi, bổ sung khoản 3; Điều 2)

 Về thu nhập chịu thuế (sửa đổi, bổ sung khoản 2; Điều 3)

 Về thu nhập được miễn thuế (sửa đổi, bổ sung khoản 1,4; Điều 4 và bổ sung các khoản 8,9,10,11 vào Điều 4)

Trang 25

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

 Về xác định thu nhập tính thuế và chuyển lỗ đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản và một số khoản thu nhập mới phát sinh (sửa đổi, bổ sung khoản 3; Điều 7 và Điều 16)

 Về khoản chi được trừ và không được trừ (sửa đổi bổ sung Điều 9)

 Về ưu đãi thuế, ưu đãi thuế mở rộng (sửa đổi, bổ sung Điểu 13.14,17,18)

 Về thuế suất (sửa đổi bổ sung Điều 10)

 Bản chất của Thuế TNDN

Thuế TNDN là một loại thuế trực thu Tính chất trực thu biểu hiện sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế trên phương diện kinh tế Nếu thuế gián thu luôn được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng phải trả qua hành vi mua hàng hóa và dịch vụ được cung cấp, người nộp thuế là các nhà sản xuất và trung gian thương mại, thì thuế TNDN lại điều tiết trực tiếp vào thu nhập của các nhà sản xuất, các nhà đầu tư và người cung cấp dịch vụ Chính điều tiết trực tiếp vào thu nhập của các pháp nhân nên thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, lợi nhuận đạt được của các nhà đầu tư Nhà nước thường sử dụng thuế TNDN để thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội

đề ra Do vậy các yếu tố kỹ thuật của thuế TNDN như: các khoản thu nhập thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập (phạm vi điều chỉnh), các chi phí được khấu trừ, thuế suất, các hình thức miễn, giảm thuế TNDN đều phản ánh chính sách của Nhà nước trong từng thời kì nhất định

1.2.1.2 Thuế TNDN đối với các doanh nghiệp FDI

Luật ĐTNN và sau này là Luật đầu tư ra đời là một bước ngoặt trong quá trình cải cách hành chính, cải cách đầu tư ở nước ta Theo đó, thành phần kinh tế có vốn ĐTNN đã có chỗ đứng vững chắc trong nền kinh tế Điều này cũng đòi hỏi những chính sách thuế phải được xây dựng sao cho minh bạch và rõ ràng hơn cho phù hợp với những đặc thù riêng có của loại hình doanh nghiệp này Thuế TNDN đối với thành phần kinh tế này chính vì vậy cũng thay đổi, phát triển theo thời gian:

 Vào những năm 90, đứng trước yêu cầu về thu hút vốn ĐTNN đã đặt ra cho môi trường quản lý thuế có những quy định cởi mở hơn so với doanh nghiệp trong nước

Cụ thể là thuế suất 15%, 20%, 25% cho các doanh nghiệp FDI thì doanh nghiệp trong nước là 30%, 50% và sau này là 32%, 28%, 25% Hơn nữa chúng ta đã xây dựng

Trang 26

đã ký kết khoảng 48 hiệp định song phương và hiệp định đa phương về thuế cho đến năm 2013 đã có hơn 60 hiệp định được ký kết Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho ngành thuế Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế và cũng tạo hành lang pháp lý thuận lợi, minh bạch cho các nhà ĐTNN đến với Việt Nam

 Mặt khác do có sự đầu tư về vốn và công nghệ từ bên ngoài vào, nên chính sách thuế cũng có những điều chỉnh riêng cá biệt với các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam như quy định về hình thức kinh doanh không có pháp nhân tại Việt Nam thông qua chính sách về thuế nhà thầu, bản quyền

1.2.2 Quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI

1.2.2.1 Quản lý thuế TNDN và nội dung của quản lý thuế TNDN

 Khái niệm quản lý thuế

Quản lý thuế là hoạt động quản lý gắn liền với cơ quan thuế - một tổ chức nhà

nước có tư cách pháp nhân Do đó, quản lý thuế là một hình thức quản lý công Quản

lý thuế chủ yếu thực hiện khâu hành pháp về thuế

Quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy Nhà nước, chủ yếu thuộc lĩnh vực hành pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng nhiệm vụ quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua Nói cách khác quản lý thuế là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế của cơ quan thuế các cấp, là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề

ra, trong điều kiện môi trường quản lý luôn biến động

Quản lý thuế quan tâm trước hết tới việc thực thi chính sách thuế Để thực hiện tốt công tác quản lý thuế cần có một chính sách thuế hợp lý Sau khi chính sách thuế được hoạch định và được thông qua, chính sách đó được thực thi trong thực tế Quản

lý thuế có vai trò quyết định trong việc đưa chính sách thuế vào cuộc sống Hoạt động quản lý thuế là sự tác động có tổ chức, tuân theo những quy tắc nhất định và mang tính

Trang 27

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

quyền lực Nhà nước Đây cũng có thể coi là hoạt động quản lý hành chính – kinh tế trong lĩnh vực thuế.21

 Nội dung quản lý thuế

Hoạt động quản lý thuế bao hàm nhiều nội dung được quy định cụ thể trong Điều 3 Luật Quản lý thuế 2006 bao gồm:

 Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế

 Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế

 Xóa nợ tiền thuế, tiền phạt

 Quản lý thông tin về người nộp thuế

 Kiểm tra thuế, thanh tra thuế

 Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

 Xử lý vi phạm pháp luật về thuế

 Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế

Quản lý thuế được thực hiện bằng các quy chế, quy trình kỹ thuật nghiệp vụ nhất định với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật quy định

Do vậy, xét về khía cạnh hành chính thuế, nội dung chính của quản lý thuế sẽ là các trình tự và thủ tục thuế của các đối tượng có liên quan (đối tượng nộp thuế, cơ quan thuế và các đối tượng khác) Các trình tự và thủ tục thuế - hay là các “quy tắc ứng xử” này được xây dựng trong mỗi lĩnh vực của công tác quản lý thuế: kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế22… Với mục đích nhằm làm cho các đối tượng liên quan thực hiện đúng các nghĩa vụ luật định về thuế Thông qua công tác quản lý thuế, các

“quy tắc ứng xử” này sẽ được xây dựng, ban hành, hướng dẫn và kiểm tra của cơ quan thuế

tờ để báo cáo lên cơ quan thuế

Trang 28

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

1.2.2.2 Quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI

 Quản lý về đối tượng chịu thuế và nộp thuế

 Đối tượng chịu thuế

Tất cả các khoản thu nhập thu được từ bất kỳ hoạt động kinh tế nào của doanh nghiệp FDI đều là đối tượng chịu thuế TNDN

Các doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế TNDN (nếu là hợp đồng hợp tác kinh doanh thì thuế TNDN được tính cho từng hợp đồng hợp tác kinh doanh)

 Đối tượng nộp thuế

Tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia, người có nghĩa vụ nộp thuế TNDN (thuế thu nhập công ty) khác nhau Theo quy định của luật thuế Mỹ và Nhật thì chỉ có tổ chức kinh tế kinh doanh thì mới phải nộp thuế thu nhập công ty, Thái Lan quy định trong bộ luật thuế thu nhập là chỉ có công ty và các tổ chức hùn vốn có tư cách pháp

quy định đối tượng nộp thuế TNDN khá rộng Bất kể tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ (gọi chung là cơ sở kinh doanh) có thu nhập chịu thuế thì phải nộp thuế TNDN Tuy nhiên sau khi ban hành luật thuế thu nhập cá nhân thì luật thuế TNDN đã được sửa đổi và đối tượng chịu thuế TNDN chủ yếu là các tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (sau đây gọi là doanh nghiệp) bao gồm:

- Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật Tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật Chứng khoán, Luật dầu khí, Luật Thương mại và các văn bản quy phạm pháp luật khác dưới các hình thức: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp Nhà nước; Văn phòng Luật sư, Văn phòng công chứng tư; các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, Xí nghiệp liên doanh dầu khí, Công ty điều hành chung

- Đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập trong tất cả các lĩnh vực

- Tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã

23

Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật Tài chính 2 (Thuế), Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ, 2009

Trang 29

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây

gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam

Trong đó cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài được Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế TNDN xác định là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở này doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam, bao gồm:

+ Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải,

mỏ dầu, mỏ khí, mỏ hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam + Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt hoặc lắp ráp

+ Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hoặc tổ chức cá nhân khác

+ Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài

+ Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kêt hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ tại Việt Nam

 Quản lý về căn cứ tính thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI:

Thuế TNDN được xác định dựa trên 2 căn cứ: thu nhập chịu thuế và thuế suất

Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập chịu thuế trong kỳ x thuế suất (%)

 Thu nhập chịu thuế

Thu nhập chịu thuế trong kỳ tình thuế = Doanh thu tính thuế thu nhập trong kỳ - (Chi

phí hợp lý trong kỳ tính thuế + Thu nhập khác) - phần chuyển lỗ

động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ kể cả thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài và thu nhập chịu thuế khác

24

Kỳ tính thuế là khoảng thời gian để xác định số tiền thuế phải nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế

Trang 30

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

 Doanh thu tính thuế

- Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng

 Chi phí

 Theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thuế TNDN thì trừ những khoản chi không được trừ, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng các điều kiện như sau:

- Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; khoản chi thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật

- Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật Đối với hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, trừ các trường hợp không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật

 Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm: + Khoản chi không đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên, trừ phần giá trị tổn thất do thiên tai, dịch bệnh và trường hợp bất khả kháng khác không được bồi thường

+ Khoản tiền phạt do vi phạm hành chính

+ Khoản chi được bù đắp bằng nguồn kinh phí khác

+ Phần chi phí quản lý kinh doanh do doanh nghiệp nước ngoài phân bổ cho cơ

sở thường trú tại Việt Nam vượt mức tính theo phương pháp phân bổ do pháp luật Việt Nam quy định

+ Phần chi vượt mức theo quy định của pháp luật về trích lập dự phòng

+ Phần chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh của đối tượng không phải là

tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm vay

+ Khoản trích khấu hao tài sản cố định không đúng quy định của pháp luật + Khoản trích trước vào chi phí không đúng quy định của pháp luật

+ Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân; thù lao trả cho sáng lập viên doanh nghiệp không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh; tiền

Trang 31

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

lương, tiền công, các khoản hạch toán chi khác để chi trả cho người lao động nhưng thực tế không chi trả hoặc không có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật + Phần chi trả lãi tiền vay vốn tương ứng với phần vốn điều lệ còn thiếu

+ Phần thuế giá trị gia tăng đầu vào đã được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng nộp theo phương pháp khấu trừ, thuế thu nhập doanh nghiệp

+ Phần chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới, tiếp tân, khánh tiết, hội nghị, hỗ trợ tiếp thị, hỗ trợ chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh vượt quá 15% tổng số chi được trừ Tổng số chi được trừ không bao gồm các khoản chi quy định tại điểm này; đối với hoạt động thương mại, tổng số chi được trừ không bao gồm giá mua của hàng hoá bán ra

+ Khoản tài trợ, trừ khoản tài trợ cho giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, khắc phục hậu quả thiên tai, làm nhà đại đoàn kết, nhà tình nghĩa, nhà cho các đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật, khoản tài trợ theo chương trình của Nhà nước dành cho các địa phương thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn + Phần trích nộp quỹ hưu trí tự nguyện hoặc quỹ có tính chất an sinh xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động vượt mức quy định theo quy định của pháp luật

+ Các khoản chi của hoạt động kinh doanh: ngân hàng, bảo hiểm, xổ số, chứng khoán và một số hoạt động kinh doanh đặc thù khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính

 Thu nhập chịu thuế khác

Thu nhập khác bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu

tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; thu nhập từ quyền sử dụng tài sản, quyền sở hữu tài sản, kể

cả thu nhập từ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản, trong đó có các loại giấy tờ có giá; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; khoản thu từ nợ khó đòi đã xoá nay đòi được; khoản thu từ nợ phải trả không xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoản thu nhập khác, kể cả thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam

Trang 32

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

 Thuế suất

Luật thuế TNDN 2008 quy định mức thuế suất phổ thông là 25% Để thực hiện Chiến lược cải cách thuế đến năm 2020 là giảm dần mức động viên, Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thuế TNDN quy định từ 01/01/2014 áp dụng mức thuế suất phổ thông là 22%; doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng được áp dụng thuế suất phổ thông 20% kể từ 01/7/2013 Từ ngày 01/01/2016, mức thuế suất phổ thông là 20% và mức thuế suất ưu đãi 20% được điều chỉnh giảm xuống còn 17% Thuế suất thuế TNDN đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu, khí và tài nguyên quý hiếm khác tại Việt Nam từ 32% đến 50% phù hợp với từng dự án, từng cơ

quản lý thu thuế

Sau khi nhận được giấy phép đầu tư do cấp có thẩm quyền phê duyệt, doanh

Doanh nghiệp có trách nhiệm kê khai đầy đủ các chỉ tiêu trên tờ khai, sau đó gửi tờ khai cùng với bản sao giấy phép đầu tư (đã công chứng) cho cơ quan Thuế Cục thuế tiến hành kiểm tra đầy đủ chính xác các chỉ tiêu trên tờ khai, thực hiện việc cấp mã số

nghiệp); đây là bước khởi đầu nhưng có ý nghĩa rất quan trọng, các chứng từ mua bán, trao đổi hàng hóa – dịch vụ của doanh nghiệp phải được ghi đầy đủ mã số thuế này

 Xử lý tờ khai chứng từ nộp thuế

Theo quy trình này doanh nghiệp có thể lấy được mẫu tờ khai thông qua phần mềm hỗ trợ tự khai tự nộp trên trang Web của Tổng cục thuế Thông qua bộ phận một cửa, doanh nghiệp sẽ nộp tờ khai hàng tháng Phòng Kê khai – Kế toán sẽ tiến hành

25

Tờ khai thuế là văn bản theo mẫu do Bộ Tài chính quy định được người nộp thuế sử dụng để kê khai các thông tin nhằm xác định số thuế phải nộp Tờ khai hải quan được sử dụng làm tờ khai thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

26

Mã số thuế là một dãy các chữ số được mã hóa theo một nguyên tắc thống nhất để cấp cho từng người nộp thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của Luật, pháp lệnh thuế, phí và lệ phí (gọi chung là pháp luật về thuế), bao gồm cả người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Mã số thuế dùng để nhận biết và xác định từng người nộp thuế và được quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc

Trang 33

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

nhập tờ khai chuyển về các phòng Kiểm tra để tiến hành rà soát, đối chiếu và quản lý Trên cơ sở số liệu kê khai, các doanh nghiệp sẽ tự động trích chuyển phần thuế phát sinh phải nộp vào tài khoản của cơ quan quản lý thuế mở tại kho bạc Nhà nước

 Xử lý miễn thuế, giảm thuế

Người nộp thuế thuộc diện được miễn thuế, giảm thuế theo luật thuế tự xác định mức ưu đãi thuế và kê khai thuế theo quy định trừ những trường hợp pháp luật về Thuế có quy định phải lập hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế gửi cơ quan thuế Đối với các trường hợp phải ra quyết định miễn, giảm, các bộ phận chức năng trong cơ quan thuế cũng phải tiến hành các bước thẩm định nhằm xem xét một cách thận trọng việc miễn, giảm thuế có đúng đối tượng không, căn cứ miễn giảm, thời hạn miễn giảm, thuế suất áp dụng… đã đúng chưa? Cơ quan thuế phải kiểm tra kỹ lưỡng trước khi ban hành quyết định Quyết định miễn giảm thuế được lưu vào hồ sơ miễn giảm thuế của người nộp thuế tại bộ phận lưu trữ theo quy định Việc xử lý miễn, giảm còn căn cứ vào các hiệp định song, đa phương ký kết với các quốc gia khác Bên cạnh các doanh nghiệp FDI có pháp nhân tại Việt Nam còn phát sinh hoạt động kinh doanh không pháp nhân như nhà thầu, hợp đồng… để xét miễn giảm thuế cho những đối tượng này còn căn cứ vào một số luật bổ sung như Luật thuế nhà thầu, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

 Quyết toán thuế

Đối với thuế TNDN thì người nộp thuế kê khai tạm nộp theo quý, tự quyết toán theo năm Đây là công việc rất quan trọng và chiếm thời gian nhiều nhất trong công tác quản lý thu thuế, nếu doanh nghiệp và cơ quan Thuế làm tốt khâu này thì tác dụng rất lớn trong quản lý thu thuế Đồng thời góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp đang hoạt động trong thời hạn 90 ngày kể từ khi kết thúc năm dương lịch (trường hợp đặc biệt có thể là năm tài chính đã đăng ký với Bộ Tài chính) hoặc trước khi chia, tách sáp nhập, giải thể trong vòng 45 ngày người nộp thuế phải lập và gửi báo cáo quyết toán thuế, báo cáo tài chính đã được cơ quan kiểm toán lập

và xác nhận với cơ quan thuế

 Lập hồ sơ người nộp thuế

Phòng Kiểm tra thuế có trách nhiệm tập hợp và quản lý có hệ thống hồ sơ của người nộp thuế hằng năm nhằm phục vụ tốt cho công tác quản lý người nộp thuế, phòng Kê khai – Kế toán thuế, phòng Tổng hợp – Nghiệp vụ – Dự toán có trách nhiệm

Trang 34

 Thanh tra, kiểm tra thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI:

Thanh tra, kiểm tra thuế được thực hiện bằng bộ máy của thuế Nhà nước được

cụ thể hóa trong Luật thể hiện uy lực, tính nghiêm minh trong việc chấp hành pháp luật về thuế

Trước hết các phòng Kiểm tra thuế sẽ tiến hành kiểm tra việc chấp hành những quy định về kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp Nhiệm vụ của kiểm tra thuế là soát xét đánh giá tính đúng đắn, chính xác của tờ khai của doanh nghiệp với tình hình thực

tế kinh doanh tại cơ sở, phát hiện những sai sót và những điều bất thường trong tờ khai của các doanh nghiệp

Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ thống kê – kế toán, hóa đơn chứng từ Trong thực tế có rất nhiều doanh nghiệp FDI lợi dụng hóa đơn chứng từ và đặc thù kinh doanh đưa trở về công ty mẹ bao tiêu sản phẩm để trốn lậu thuế, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước Đồng thời thanh tra thuế sẽ giúp kiểm tra tính chính xác của các

số liệu kế toán làm căn cứ tính thuế

Thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước, quá trình thanh tra đối với những doanh nghiệp FDI sẽ giúp phát hiện những trường hợp nộp thiếu, nộp chậm

số thuế

Công tác thanh tra thuế với doanh nghiệp FDI còn có vai trò trong việc tuyên truyền phổ biến và mang tính răn đe đối với các đối tượng nộp thuế Soát xét và phát hiện những yếu kém và bất cập, hướng dẫn, sửa chữa kịp thời những sai sót còn tồn tại trong công tác kê khai và nộp thuế của từng doanh nghiệp

Một nhiệm vụ cũng rất quan trọng của thanh tra, kiểm tra thuế TNDN là giải quyết và xử lý kịp thời những khiếu kiện về thuế Làm tăng tính công bằng và nghiêm minh cho tất cả các đối tượng nộp thuế

Trang 35

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

Để công tác thanh tra, kiểm tra thuế được hiệu quả thì việc thường xuyên tiến hành kiểm tra, theo dõi mọi biến động của các doanh nghiệp kết hợp thanh tra đột xuất hoặc định kỳ là một việc làm cần thiết

Công tác thanh tra, kiểm tra chỉ có thể đạt được hiệu quả khi nó đảm bảo tính khách quan, trung thực, rõ ràng, sâu sát khi đưa ra kết luận và đặc biệt phải dựa trên

cơ sở các văn bản pháp quy của Nhà nước, tuyệt đối không được gây phiền hà, sách nhiễu cho các doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra

1.2.2.4 Sự cần thiết của quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp FDI

Quản lý thuế chính là việc thực hiện các công tác hành pháp về thuế Chính vì vậy, sự cần thiết của quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI cũng xuất phát từ chính vai trò của thuế TNDN trong nền kinh tế quốc dân Và ảnh hưởng của thuế TNDN tới sự phát triển của nền kinh tế mà trong đó khoản thuế từ doanh nghiệp FDI

là một thành phần quan trọng

 Thuế TNDN là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng tái phân

phối thu nhập, bảo đảm công bằng xã hội

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, tất cả các thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trên cơ sở pháp luật Để thực hiện tái phân phối thu nhập, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào Ngân sách Nhà nước được công bằng, hợp lý, Nhà nước sử dụng thuế TNDN làm công cụ điều tiết thu nhập

 Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước

Phạm vi áp dụng của thuế TNDN là các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có phát sinh lợi nhuận Nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng phát triển và ổn định, tăng trưởng kinh tế được giữ vững ngày càng cao, các chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho Ngân sách Nhà nước thông qua thuế TNDN ngày càng dồi dào

 Thuế TNDN là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất,

kinh doanh phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện của Nhà nước

Trang 36

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

Nhà nước ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh vào những ngành, lĩnh vực và những vùng, miền mà Nhà nước có chiến lược ưu tiên phát triển trong từng giai đoạn nhất định

 Thuế TNDN còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong

việc thực hiện chức năng điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định

Thuế TNDN là loại thuế có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam, song để phát huy một cách có hiệu quả vai trò của thuế TNDN, chúng ta cần phải xem xét nó dưới nhiều khía cạnh, kể cả những kinh nghiệm xử lý của nước ngoài Nếu chúng ta làm tốt các công tác quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI thì vai trò của thuế đối với loại hình doanh nghiệp này sẽ thực sự phát huy trong thực tế

 Thuế TNDN tạo điều kiện thực hiện mục tiêu công bằng và bình đẳng giữa các

doanh nghiệp trong và ngoài nước Đồng thời cũng khuyến khích và thu hút đầu tư Trong thời kỳ hội nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay, không thể tiếp tục thực hiện cơ chế bao cấp, bảo hộ cho các doanh nghiệp như trước đây Các doanh nghiệp trong và ngoài nước cần được cạnh tranh bình đẳng để vừa thu hút được đầu tư, mở rộng thị trường vừa thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước tự nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

Trang 37

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC

NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Chương 1 vừa rồi đã giúp chúng ta có cái nhìn khái quát hơn về doanh nghiệp FDI cũng như quy trình của công tác quản lý thuế đối với loại hình doanh nghiệp này Đến chương này người viết sẽ đi sâu phân tích đánh giá về những thành tựu cùng với những hạn chế của công tác quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có FDI tại Việt Nam

2.1 ĐÁNH GIÁ CHUNG

Với chính sách mở cửa thị trường để thu hút đầu tư, đặc biệt là nguồn ĐTNN, nước ta hiện đang là một trong những nước thu hút nguồn vốn ĐTNN hàng đầu khu vực Việc thu hút nguồn vốn này tăng nhanh chóng sau khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào năm 2006 Nguồn vốn này được coi là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước ta trong nhiều năm qua

Bằng những ưu đãi về thuế và hàng loạt chính sách khác, sự gia tăng của các doanh nghiệp FDI trong khoảng 15 năm qua đã đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế

và giải quyết việc làm cho lao động nước ta Tuy vậy, nhiều vấn đề tiêu cực khi quản

lý các doanh nghiệp này đang đặt ra bài toán khó cho các nhà quản lý Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp FDI là những tập đoàn đa quốc gia, có nguồn vốn lớn, chiếm thị phần cao trong nước, có doanh thu tăng trưởng mạnh qua các năm nhưng lại liên tục báo lỗ Quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI là một lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi phải đáp ứng nhiều điều kiện mới có thể thực hiện thành công nhưng lại được tiến hành trong hoàn cảnh nước ta đang hội nhập kinh tế toàn cầu cũng như chưa có kinh nghiệm thực tế Vì vậy có thể khẳng định, những kết quả bước đầu của công tác chống gian lận, trốn thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI tại Việt Nam rất đáng ghi nhận

Số thuế TNDN mà cơ quan thuế thu được đóng góp quan trọng cho tổng số thu vào Ngân sách Nhà nước Chúng ta cũng đã bước đầu tạo lập được một môi trường đầu tư thông thoáng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, cũng như tạo cơ sở để các doanh nghiệp tiến hành kinh doanh ở nước ta đóng góp vào phát triển kinh tế và tăng thu cho Ngân sách

Trang 38

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

Vừa qua Việt Nam đã có những quy định cụ thể để thực hiện chống gian lận thuế TNDN, đặc biệt là chống gian lận qua định giá chuyển nhượng Những quy định của pháp luật đã trao cho cơ quan thuế một số quyền hạn nhất định trong việc trong việc yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp thông tin, chứng minh, xác định lại doanh thu, chi phí cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp Đồng thời, các phương pháp xác định giá thị trường của phần tài sản góp vốn của phía nước ngoài cũng được đưa vào những văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNDN đã giúp cơ quan thuế địa phương và các doanh nghiệp bước đầu làm quen với việc xác định giá theo nguyên tắc thị trường

Trong thời gian qua, ngành thuế Việt Nam đã tranh thủ được nhiều sự giúp đỡ,

hỗ trợ của các tổ chức và cơ quan thuế các nước trong việc phổ biến kinh nghiệm xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật, đào tạo đội ngũ cán bộ chống gian lận thuế Những kinh nghiệm và những khóa đào tạo này đã giúp Việt Nam tránh được các sai lầm trong việc hoạch định chính sách ĐTNN, chính sách thuế cũng như có được một đội ngũ cán bộ có trình độ, kiến thức nhất định về chống gian lận thuế TNDN nhất là chống gian lận thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI Mặt khác, việc hợp tác tốt với các cơ quan thuế nước ngoài trong việc trao đổi thông tin thuế đã giúp cơ quan thuế Việt Nam có những tài liệu có giá trị, góp phần không nhỏ trong thành công của quá trình đấu tranh chống gian lận với các công ty đa quốc gia

Trong những năm qua chúng ta đã xây dựng một hệ thống tổ chức quản lý thuế thống nhất trong cả nước Hệ thống này ngày càng được củng cố và tăng cường về mọi mặt, chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành dọc và cấp ủy, chính quyền địa phương Đội ngủ cán bộ quản lý thuế được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản

lý và phẩm chất, áp dụng công nghệ tin học vào quản lý thuế Do có hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý thuế ngày càng được nâng cao, góp phần quyết định vào việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự toán thu Ngân sách Nhà nước hàng năm đã được Quốc hội thông qua

Hiện nay ngành Thuế áp dụng mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế đối với tất

cả các loại hình doanh nghiệp cũng như đối với doanh nghiệp FDI theo mô hình chức năng Theo mô hình này thì cơ sở kinh doanh tự tính thuế, tự kê khai và tự nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước Cơ chế này đã đề cao nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế trước pháp luật; cơ quan thuế tăng cường được chức năng tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn, đôn đốc thu nộp, kiểm tra thanh tra xử lý vi phạm về thuế

Trang 39

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

Trong bối cảnh kinh tế xã hội trong nước, quốc tế có nhiều yếu tố không thuận lợi nhưng công cuộc cải cách hệ thống thuế đã góp phần tích cực vào việc ổn định và phát triển kinh tế xã hội theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Thu Ngân sách ngày càng tăng lên; phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế theo cơ chế thị trường và thực hiện đúng lộ trình hội nhập quốc tế

Mặc dù đã thu được một số thành tựu đáng tự hào nhưng nếu đánh giá một cách khách quan và toàn diện thì hoạt động chống gian lận thuế TNDN đối với doanh nghiệp FDI tại Việt Nam còn nhiều hạn chế, bất cập cũng như nhiều khó khăn trong vấn đề triển khai đặc biệt là với vấn nạn chuyển giá vô cùng tinh vi của một số doanh nghiệp hiện nay “Hiện có hơn 11.000 doanh nghiệp FDI mà hơn một nửa là lỗ và nợ

nhà ĐTNN giống như chuyện mà ai cũng biết, cũng thấy, cũng rõ như ban ngày, nhưng với quân số, kỹ năng, kinh nghiệm của cán bộ rồi khung pháp lý Việt Nam hiện nay, xem ra lại là bài toán hóc búa, lực bất tòng tâm

Trước sự việc này, Tổng cục Thuế đã tham mưu Bộ Tài chính đề xuất với Quốc hội và Chính phủ bổ sung, sửa đổi Luật Quản lý thuế, Luật Doanh nghiệp để nâng cao hiệu lực pháp lý phục vụ cho công tác thanh tra chống gian lận thuế mà nổi bật là vấn

đề chuyển giá Cụ thể, bổ sung quy phạm pháp luật về quyền xác định giá, thương thảo giá trước, bổ sung quy phạm pháp luật về quyền ấn định thuế đối với các doanh nghiệp hoạt động giao dịch liên kết chuyển giá; bổ sung quy phạm pháp luật về điều chỉnh đối với các dự án đang hoạt động kinh doanh có số lỗ vượt vốn chủ sở hữu Bộ Tài chính cũng đã có kế hoạch chỉ đạo các sở chuyên ngành phối hợp với cơ quan thuế địa phương trong việc thực hiện đồng bộ các giải pháp Phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát, xem xét tư cách pháp nhân đối với các dự án đang hoạt động kinh doanh có số lỗ vượt vốn chủ sở hữu; xem xét không cấp quyền sử dụng đất hoặc cho thuê đất đối với các dự án mở rộng hoặc đầu tư mới của chủ doanh nghiệp đang kinh doanh tại Việt Nam có số lỗ vượt vốn chủ sở hữu

Công tác chống chuyển giá được coi là trọng tâm của ngành thuế trong giai đoạn hiện nay, khi mà bội chi Ngân sách đang gia tăng Mục tiêu cuối cùng là ngành thuế phải thực thi được quyền thu thuế của Nhà nước, đảm bảo thu Ngân sách và tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng giữa các doanh nghiệp

27

Đỗ Nhất Hoàng (Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài), Doanh nghiệp FDI – 1 bài toán khó, báo Người lao

động, http://nld.com.vn/

Trang 40

ÂU HOÀNG MẾN 5105973

2.2 NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC

2.2.1 Thành tựu về kinh tế - xã hội

Thứ nhất, FDI góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng

các nguồn lực đầu tư trong nước

Tính đến tháng 8/2012, cả nước có 14.095 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 206,8 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện đã giải ngân được 97,4 tỷ USD (chiếm 47% vốn đăng ký) FDI là khu vực phát triển năng động nhất với tốc độ tăng GDP cao hơn tốc độ tăng trưởng cả nước: năm 1995 GDP của khu vực FDI tăng 14,98% trong khi GDP cả nước tăng 9,54%; tốc độ này tương ứng là 11,44% và 6,79% (2000), 13,22% và 8,44% (2005), 8,12% và 6,78% (2010) Tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI trong GDP tăng dần, từ 2% GDP (1992), lên 12,7% (2000), 16,98% (2006) và 18,97% (2011) Tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế thể hiện rõ hơn thông qua:

Bổ sung cho tổng vốn đầu tư xã hội:

FDI tăng nhanh qua các thời kỳ, từ khoảng 20,67 tỷ USD, chiếm 24,32% tổng vốn đầu tư xã hội (1991 – 2000) lên 69,47 tỷ USD, chiếm 22,75% tổng vốn đầu tư xã hội (2001 – 2011) Tỷ trọng khu vực FDI trong cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 – 2011 tăng 5,4%

Góp phần quan trọng vào xuất khẩu:

Chủ trương khuyến khích FDI hướng về xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho Việt Nam trong việc nâng cao năng lực xuất khẩu, qua đó giúp chúng ta từng bước tham gia và cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu Trước năm 2001, xuất khẩu của khu vực FDI chỉ đạt 45,2% tổng kim ngạch, kể cả dầu thô Từ năm 2003, xuất khẩu của khu vực này bắt đầu vượt khu vực trong nước và dần trở thành nhân tố chính thúc đẩy xuất khẩu

Bên cạnh đó, FDI góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng chế tạo FDI tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường xuất khẩu nhất là sang Hoa

Kỳ, EU, làm thay đổi đáng kể cơ cấu xuất khẩu, đưa Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Ngoài ra, FDI còn góp phần ổn định thị trường trong nước, hạn chế nhập siêu thông qua việc cung cấp cho thị trường nội địa các sản phẩm

Ngày đăng: 05/10/2015, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w