1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xây dựng nhà “siêu mỏng” thực trạng và giải pháp trên địa bàn quận ninh kiều, thành phố cần thơ

63 791 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, do pháp luật chưa quy định khái niệm nhà “siêu mỏng” và các biện pháp ngăn chặn và xử lý vẫn chỉ được xem như là một công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị mà chưa được qu

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NIÊN KHÓA 2010 - 2014

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ts Phan Trung Hiền Trần Thị Cẩm Xuyên

MSSV: 5106210 Lớp: LK1063A1

Cần Thơ, tháng 11 năm 2013

Trang 2

Cần Thơ, ngày tháng 11 năm 2013

Trang 3

viên hướng dẫn Ts Phan Trung Hiền trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn đã hướng dẫn em hoàn thành tốt đề tài luận văn tốt nghiệp của mình Bên cạnh đó, em chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giảng dạy bộ môn Luật Hành chính, Pháp luật Xây dựng, Hành chính đô thị - Khoa Luật - Đại Học Cần Thơ đã giảng dạy và chuẩn bị cho em những kiến thức cần thiết trong học tập, nghiên cứu cũng như trong công việc sau này

Những lời động viên khích lệ từ gia đình, những chia sẻ, giúp đỡ từ bạn bè trong quá trình tiếp cận thông tin, tài liệu đã góp phần rất lớn cho luận văn của em đạt kết quả tốt hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

bản thân Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Trần Thị Cẩm Xuyên

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Cấu trúc luận văn 2

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÀ Ở VÀ NHÀ “SIÊU MỎNG” 4

1.1 Quan niệm nhà ở và nhà “siêu mỏng” 4

1.2 Đặc điểm của nhà “siêu mỏng” 6

1.2.1 Diện tích nhỏ hẹp, được xây lên nhiều tầng 6

1.2.2 Thường được xây dựng trên những thửa đất không đủ điều kiện về mặt bằng xây dựng 6

1.2.3 Nhà “siêu mỏng” thường là những nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân được xây dựng vì lợi ích kinh tế 7

1.3 Nguyên nhân xuất hiện nhà “siêu mỏng” 8

1.4 Lược sử về quá trình xuất hiện và tồn tại của nhà “siêu mỏng” cho đến nay 9 1.5 Ảnh hưởng của nhà “siêu mỏng” đến nền kinh tế, trật tự quản lý Nhà nước, xã hội 11

1.5.1 Ảnh hưởng của nhà “siêu mỏng” đến nền kinh tế 11

1.5.2 Ảnh hưởng của nhà “siêu mỏng” đến trật tự quản lý Nhà nước 12

1.5.3 Ảnh hưởng của nhà “siêu mỏng” đến xã hội 14

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT NHÀ “SIÊU MỎNG” THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 16

2.1 Xác định yếu tố cấu thành vi phạm trật tự xây dựng đô thị 17

2.1.1 Yếu tố khách quan của vi phạm trật tự xây dựng đô thị 17

2.1.2 Yếu tố chủ quan của vi phạm trật tự xây dựng đô thị 18

2.1.3 Yếu tố khách thể của vi phạm trật tự xây dựng đô thị 18

2.1.4 Yếu tố chủ thể của vi phạm trật tự xây dựng đô thị 19

2.2 Xác định các loại hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị (Điều 5 Nghị định 180/2007/NĐ-CP) 20

2.2.1 Công trình xây dựng theo quy định của pháp luật phải có Giấy phép xây dựng mà không có Giấy phép xây dựng 20

Trang 6

thẩm quyền cấp 20

2.2.3 Công trình xây dựng sai thiết kế được cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt; sai quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (đối với công trình xây dựng được miễn Giấy phép xây dựng) 20

2.2.4 Công trình xây dựng có tác động đến chất lượng công trình lân cận; ảnh hưởng đến môi trường, cộng đồng dân cư 20

2.3 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng 21

2.3.1 Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính 21

2.3.2 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng của cơ quan có thẩm quyền 22

2.4 Trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm trật tự xây dựng đô thị 28

2.4.1 Lập biên bản ngừng thi công xây dựng 29

2.4.2 Đình chỉ thi công xây dựng 29

2.4.3 Cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm 30

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG VIỆC PHÒNG NGỪA VÀ XỬ LÝ ĐỐI VỚI NHÀ “SIÊU MỎNG” 32

3.1 Tình hình xử lý đối với nhà “siêu mỏng” ở nước ta hiện nay 32

3.2 Tình hình xử lý nhà “siêu mỏng” trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 34

3.2.1 Đôi nét giới thiệu về quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 34

3.2.2 Những phương án của Uỷ ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhằm tránh việc xuất hiên nhà “siêu mỏng” cũng như tránh việc phải xử phạt vi phạm hành chính đối với nhà siêu mỏng 35

3.2.3 Những kết quả đạt được trong công tác xử lý nhà “siêu mỏng” trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 38

3.2.4 Những khó khăn trong công tác xử lý nhà “siêu mỏng” trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 39

3.3 Giải pháp và đề xuất nhằm khắc phục những khó khăn trong công tác xử lý nhà “siêu mỏng” 41

3.3.1 Về công tác ban hành văn bản pháp quy địa phương 42

3.3.2 Về công tác thi hành pháp luật 43

3.3.3 Về hoạt động kiểm tra, giám sát 43

Trang 7

KẾT LUẬN 46 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 PHỤ LỤC 52

Một số căn nhà “siêu mỏng” điển hình trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 52

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Các dự án xây dựng và mở rộng các con đường tại thành phố Cần thơ đều nhằm mục tiêu sau khi hoàn thành sẽ tạo điều kiện kết nối trung tâm thành phố với các khu đô thị vệ tinh xung quanh và các tỉnh lân cận góp phần làm thay đổi bộ mặt đô thị tạo động lực xây dựng một đô thị văn minh, hiện đại, giao thông phát triển Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, khi các tuyến đường hoàn thành hai bên đường cũng đồng thời mọc lên nhiều ngôi nhà với các kiểu kiến trúc kỳ quái: nhìn từ xa, những nhà này trông như hộp quẹt hoặc chuồng chim, hình tam giác,… mà trong dân gian thường được gọi là nhà “siêu mỏng” Đó là những căn nhà mỏng và méo mó đang được hoàn thiện đưa vào sử dụng kinh doanh theo tư duy mặt tiền là có tiền bất chấp quy định về kiến trúc xây dựng của thành phố, một điều dễ nhận thấy đối với các tuyến đường này là hầu hết người dân đều xây dựng theo kiểu “Tấc đất tấc vàng”, tận dụng tối đa khoảng đất ít ỏi còn lại không tuân theo một quy chuẩn kiến trúc nào Hiện tượng nhà “siêu mỏng” không phải là chuyện quá mới trong quá trình phát triển đô thị ở thành phố Cần Thơ cũng như nhiều tỉnh thành khác trong cả nước, tuy vậy sự tồn tại của nó vẫn gây ra nhiều bức xúc trong

dư luận Thực tế, nhà “siêu mỏng” khiến bộ mặt đô thị trở nên xấu xí, phá vỡ quy hoạch

và ảnh hưởng đến trật tự kỷ cương trong lĩnh vực xây dựng

Có nhiều công trình nghiên cứu về vi phạm trật tự xây dựng đô thị và xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị ở Đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, do pháp luật chưa quy định khái niệm nhà “siêu mỏng” và các biện pháp ngăn chặn và xử lý vẫn chỉ được xem như là một công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị mà chưa được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật nên vấn đề xử lý nhà “siêu mỏng” chưa được quan tâm nhiều hoặc được đề cập qua nhưng chưa đi sâu nghiên cứu Đặc biệt trên địa bàn thành phố Cần Thơ (nhà “siêu mỏng” xuất hiện chủ yếu ở quận Ninh Kiều), người viết

chưa tìm thấy công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về “ Xử phạt vi phạm hành chính

với hành vi xây dựng nhà “siêu mỏng” - Thực trạng và giải pháp trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ” Chính vì lẽ đó, người viết chọn đề tài này làm luận văn tốt

nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Hệ thống lại chế độ pháp lý về xử phạt nhà “siêu mỏng” theo quy định hiện hành

và của Uỷ ban nhan dân thành phố Cần Thơ Để làm rõ trên thực tế các chế độ pháp lý

Trang 9

trên được áp dụng như thế nào người viết đi sâu vào thực tiễn áp dụng Qua đó tìm ra những quy định chưa hợp lý, những khó khăn trong công công tác xử lý, nguyên nhân dẫn đến khó khăn và nêu lên một số giải pháp khắc phục khó khăn trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính đối với nhà “siêu mỏng”

3 Phạm vi nghiên cứu

Người viết tập trung nghiên cứu về chế độ pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính đối với nhà “siêu mỏng” được quy định trong luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật Xây dựng năm 2003 và các văn bản dưới luật như: Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ban hành ngày ngày 10 tháng 10 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở (có hiệu lực từ ngày 30/11/2013), Nghị định số 23/2009/NĐ-CP ban hành ngày 27 tháng 02 năm

2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở, Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ban hành ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị,…cùng các tài liệu có liên quan khác Thông qua đó tìm hiểu cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính đối với nhà “siêu mỏng” và thực tiễn áp dụng các quy định này trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ những nguyên nhân dẫn đến bất cập và tìm kiếm những giải pháp khắc phục những bất cập đó trong công tác xử phạt vi phạm hành chính đối với nhà “siêu mỏng”

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

 Phương pháp phân tích luật viết các quy định của pháp luật

 Phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu: sách báo, giáo trình, các trang thông tin điện tử

 Phương pháp thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài

 Phương pháp so sánh đối chiếu những quy định của pháp luật và thực tiễn phát sinh trên thực tế việc xử phạt vi phạm hành chính đối với nhà “siêu mỏng”

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

Trang 10

được trình bày gồm 3 chương:

 Chương 1: Khái quát chung về nhà ở và nhà “siêu mỏng”

Ở chương này người viết trình bày khái quát chung về nhà ở và nhà “siêu mỏng”, đặc điểm của nhà “siêu mỏng”, nguyên nhân xuất hiện nhà “siêu mỏng”, lược sử về quá trình xuất hiện và tồn tại của nhà “siêu mỏng” cho đến nay, và ảnh hưởng của nhà “siêu mỏng” đến nền kinh tế, trật tự quản lý nhà nước, xã hội

 Chương 2: Pháp luật về xử phạt nhà “siêu mỏng” theo quy định của pháp luật

hiện hành

Trong chương này người viết trình bày những quy định của pháp luật về xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng Tập trung tìm hiểu về chế độ pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý trật tự xây dựng đô thị nhưng người viết sẽ phân tích theo hướng nhà “siêu mỏng” theo quy định hiện hành

 Chương 3: Thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật trong việc

phòng ngừa và xử lý đối với nhà “siêu mỏng”

Chương này người viết nêu những thực trạng cũng như một số thuận lợi, khó khăn trong công tác xử phạt vi phạm hành chính đối với nhà “siêu mỏng” trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ và một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với nhà “siêu mỏng” hiện nay

Là sinh viên lần đầu tiên tiếp xúc với công tác nghiên cứu khoa học, hạn chế trong việc tiếp cận với các thông tin, tài liệu trong thực tiễn nghiên cứu Nên chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế rất mong nhận được những ý kiến góp ý tận tình của quý Thầy, Cô, các bạn sinh viên và những ai quan tâm đến đề tài này để người viết có thêm kiến thức và góp phần làm cho bài luận văn được hoàn thiện hơn

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÀ Ở VÀ NHÀ “SIÊU MỎNG”

1.1 Quan niệm nhà ở và nhà “siêu mỏng”

Đảng và Nhà nước ta thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến quyền lợi về nhà ở cho người dân thông qua Điều 62, Hiến pháp năm 1992 có ghi nhận: “Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật Quyền lợi của người thuê nhà và người có nhà cho thuê được bảo hộ theo pháp luật” Nhà ở còn được xem là một hàng hóa mà các thành phần kinh tế có thể tham gia cung cấp Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhà ở trở thành một nhu cầu thiết yếu trong xã hội Vấn đề nhà ở luôn là một vấn đề quan trọng, đặc biệt hơn nữa đối với người Việt Nam khi đã “An cư” rồi mới

“lạc nghiệp”, giải quyết được chỗ ở ổn định cho người dân thì mới đảm bảo được khả năng tái tạo sức lao động của họ cũng như sự phát triển của thế hệ trẻ, sự phát triển của nền kinh tế, văn hóa xã hội mới phát triển được Tuy nhiên, thời điểm Hiến pháp năm

1992 ra đời khái niêm nhà ở chưa được đề cập trong bất cứ văn bản pháp luật nào Thời điểm này người ta thường dùng đến khái niệm nhà dựa theo từ điển tiếng Việt để hình dung, ở đây nhà được định nghĩa là: “Công trình xây dựng có mái, tường bao quanh, cửa

ra vào để ở, sinh hoạt văn hoá, xã hội hoặc cất giữ vật chất,…”

Đến Ngày 29 tháng 11 năm 2005, khi Luật Nhà ở ra đời, khái niệm nhà ở được quy định là: “Công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”1 Không như thời kỳ nguyên thủy nhà ở không đơn giản chỉ là nơi che mưa, che nắng, ngày nay nhà ở là thước đo của một nền kinh tế, xã hội của một quốc gia Điều 3 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở đã chia nhà ở thành 5 loại dựa vào chủ thể xây dựng nhà ở phục vụ cho hộ gia đình, các nhân như sau:

- Nhà ở thương mại là nhà ở do tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu

tư xây dựng để bán, cho thuê theo nhu cầu và cơ chế thị trường

- Nhà ở xã hội là nhà ở do Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cho các đối tượng quy định tại Điều 53, Điều 54 của Luật Nhà ở

và quy định tại Nghị định này mua, thuê hoặc thuê mua theo cơ chế do Nhà nước quy định

- Nhà ở công vụ là nhà ở do Nhà nước đầu tư xây dựng cho các đối tượng quy

1 Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005

Trang 12

định tại Điều 60 của Luật Nhà ở và quy định tại Nghị định này thuê trong thời gian đảm nhiệm chức vụ theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định này

- Nhà biệt thự tại đô thị là nhà ở riêng biệt (hoặc có nguồn gốc là nhà ở đang được dùng vào mục đích khác) có sân, vườn, hàng rào và lối ra vào riêng biệt, có số tầng chính không quá ba tầng (không kể tầng mái che cầu thang, tầng mái và tầng hầm), có ít nhất ba mặt nhà trông ra sân hoặc vườn, có diện tích xây dựng không vượt quá 50 diện tích khuôn viên đất, được xác định là khu chức năng trong quy hoạch đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Nhà chung cư là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá nhân Nhà chung cư có phần diện tích thuộc sở hữu riêng của từng hộ gia đình, cá nhân, của chủ đầu tư và phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư

Từ năm 1985 đến năm 2013, hai mươi tám năm đã trôi qua, từ khi Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, đã đưa nền kinh tế Việt Nam vốn nghèo nàn, lạc hậu trở thành một trong những nước có nền kinh tế đang phát triển như hiện nay Tuy nhiên, khi tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh thì việc di dân tự do vào các khu đô thị lớn của người dân đã làm bộc lộ nhiều vấn đề về kinh tế, xã hội Trong đó, vấn đề về vi phạm trật tự xây dựng đô thị ngày càng gia tăng điển hình có tình trạng nhà “siêu mỏng” Từ nhu cầu nhà ở tăng cao, đặc biệt là nhu cầu

về nhà ở riêng lẻ2 Nhưng quỹ đất ở các đô thị ngày càng hiếm hoi, trong khi khả năng quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng còn nhiều yếu kém, nhà “siêu mỏng” xuất hiện như một hiện tượng không thể ngăn cản Tuy nhiên, khi khái niệm nhà ở đã được quy định cụ thể thì nhà “siêu mỏng” chỉ là một cách gọi trong dân gian, luật không có định nghĩa về nhà “siêu mỏng” Theo quan điểm của người viết cách hiểu “nôm na”, không rõ nghĩa hay đánh đồng nhà “siêu mỏng” với đất không đủ điều kiện về mặt bằng xây dựng là hoàn toàn sai lệch Điều này gây khó khăn cho việc phát hiện, cũng như việc

xử lý đối với nhà “siêu mỏng” Ngoài việc phát hiện của cơ quan chức năng, cá nhân có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra thì lực lượng nhân dân là lực lượng giám sát đông đảo hiệu quả nhất Tuy nhiên, người dân hiện nay lại hoàn toàn không nắm được như thế nào thì được gọi là một căn nhà “siêu mỏng”, do đó rất khó để Nhà nước có thể yêu cầu sự giúp đỡ từ họ

2 Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 39/2009/TT-BXD, ngày 9 tháng 12 năm 2009 Hướng dẫn quản lý chất lượng xây dựng nhà ở riêng lẻ

Trang 13

1.2 Đặc điểm của nhà “siêu mỏng”

Luật không có định nghĩa khái niệm nhà “siêu mỏng”, nhưng trên thực tế có những căn nhà với đủ loại hình thù kỳ dị, vi phạm nghiêm trọng về hình khối công trình

mà trong dân gian, báo chí thường được gọi là nhà “siêu mỏng” Qua quá trình tìm hiểu dựa theo quan niệm dân gian, báo chí cũng như từ các quy định của pháp luật có liên quan người viết đã đúc kết được nhà “siêu mỏng” có các đặc điểm chính sau:

1.2.1 Diện tích nhỏ hẹp, được xây lên nhiều tầng

Đặc điểm chung dễ nhận thấy ở những căn nhà “siêu mỏng” đó là: Diện tích nhỏ hẹp, hoặc rất “mỏng” nhưng được xây lên nhiều tầng Tuy nhiên, đây chỉ là cách hiểu chung chung, không có một cách hiểu thống nhất nào về khái niệm nhà “siêu mỏng” trong giới báo chí hay trong dân gian Nên dựa theo những gì tìm hiểu được người viết cho rằng thực tế có 3 dạng nhà được xem là nhà “siêu mỏng”:

 Dạng thứ nhất, đó là những căn nhà có diện tích thửa đất xây dựng của căn nhà nhỏ hơn diện tích tách thửa tối thiểu Tuân thủ Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, hiện nay tại mỗi địa phương đều ban hành quy định riêng về diện tích tối thiểu được tách thửa cho phù hợp với điều kiện tại địa phương mình

 Dạng thứ hai, đó là những căn nhà có diện tích thửa đất xây dựng chuẩn dưới 40m2 Trừ trường hợp diện tích thửa đất từ 15m2 đến nhỏ hơn 40m2, mà xây dựng căn nhà không quá 2 tầng

 Dạng thứ ba, đó là những căn nhà có một cạnh nhỏ hơn 3m, không phụ thuộc vào diện tích ngôi nhà Trong trường hợp này dù có những căn nhà có tổng diện tích lớn nhưng chỉ một cạnh nhỏ hơn 3m thì vẫn bị xem là nhà “siêu mỏng”

Lưu ý: Đối với những đặc điểm của nhà “siêu mỏng” ở dạng thứ hai và dạng

thứ ba được dựa trên Quyết định số 39/2005/QĐ-TTG ngày 28 tháng 02 năm 2005 về việc hướng dẫn thi hành Điều 121 của Luật Xây dựng hiện hành

1.2.2 Thường được xây dựng trên những thửa đất không đủ điều kiện về mặt bằng xây dựng

Ở Việt Nam, nhà “siêu mỏng” chỉ xuất hiện ở các khu đô thị lớn có mật độ dân số cao, nhu cầu nhà ở lớn, tập trung “dày đặc” ở các quận nội thành Do đó, những căn nhà

Trang 14

“siêu mỏng” thường nằm ở “mặt tiền” phố hoặc ngõ; những nơi trước đó vốn là khu dân

cư đã giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án làm tuyến đường mới, hoặc mở rộng tuyến đường cũ Thực chất, nhà “siêu mỏng” chỉ là một cách gọi của một căn nhà xây dựng trên những thửa đất không đủ điều kiện về mặt bằng xây dựng theo quy định cụ thể của từng địa phương dựa trên những hướng dẫn của Chính phủ Tuy nhiên, không thể phủ định nhà “siêu mỏng” không bị lệ thuộc hoàn toàn vào diện tích thửa đất có không đủ điều kiện về mặt bằng xây dựng hay không Bởi lẽ, có thể một căn nhà “siêu mỏng” lại được xây dựng trên một thửa đất có đủ điều kiện về mặt bằng xây dựng Theo quan điểm của người viết, cách nhìn nhận này không mang tính thực tế và thật hiếm có hộ gia đình,

cá nhân nào lại quyết định xây dựng căn nhà của mình thành một căn nhà “siêu mỏng” khi còn thừa diện tích nhiều như thế chỉ để “bị” xử phạt Ở một đất nước dân số tại các đô thị ngày tăng trong khi quỹ đất để xây dựng nhà ở ngày càng ít như Việt Nam thì trường hợp trên là hoàn toàn không thực tế Do đó, người viết loại trừ trường hợp này

Như vậy, tuy không thể đánh đồng nhà “siêu mỏng” và đất không đủ điều kiện về mặt bằng xây dựng nhưng cũng có thể khẳng định Ở Việt Nam nhà “siêu mỏng” là một trong những hệ lụy của đất không đủ điều kiện xây dựng Chỉ khi xuất hiện đất không đủ điều kiện về mặt bằng xây dựng thì mới xuất hiện nhà “siêu mỏng” ở các khu đô thị lớn như hiện nay Đây là một đặc điểm dễ nhận thấy của những căn nhà “siêu mỏng” đang tồn tại ở các đô thị lớn hiện nay

1.2.3 Nhà “siêu mỏng” thường là những nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân được xây dựng vì lợi ích kinh tế

Có hai trường hợp hộ gia đình, cá nhân xây dựng nhà “siêu mỏng” vì lợi ích kinh

tế đặc trưng:

Những người cần nhà ở nhất chính là những người nghèo thành thị nhưng thị trường nhà ở trong khu vực tư nhân chỉ đáp ứng nhu cầu cần nhà ở khi cá nhân, hộ gia đình có khả năng thanh toán Vì giá nhà ở phụ thuộc vào giá đất nên khi nhu cầu về nhà ở tăng cao, đặc biệt là nhà ở riêng lẻ thì giá đất cũng tăng cao Một hộ gia đình, cá nhân có điều kiện kinh tế bình thường đã là khó khăn nếu muốn xây dựng một căn nhà khang trang ở các khu đô thị chưa kể đến những hộ gia đình cá nhân có điều kiện kinh tế còn thấp Để có một cuộc sống ổn định họ chấp nhận sống dưới một căn nhà “siêu mỏng”, chấp nhận làm trái quy định của pháp luật về diện tích xây dựng

Một trường hợp khác đối tượng xây nhà siêu mỏng không khó khăn về nhà ở mà

họ cố tình xây nhà “siêu mỏng” rồi cho thuê lại, làm địa điểm kinh doanh nhỏ lẻ hoặc bán

Trang 15

lại với giá rất cao vì lợi nhuận lâu dài của nhà ở mặt tiền mang lại

1.3 Nguyên nhân xuất hiện nhà “siêu mỏng”

 Có nhiều nguyên dân dẫn đến sự xuất hiện nhà “siêu mỏng”, nhưng có một nguyên nhân chủ yếu nhất là do thực hiện các dự án làm tuyến đường mới, hoặc mở rộng tuyến đường cũ Khi nhu cầu về các tuyến đường tăng cao nhưng diện tích đất của thành phố lại không thể tăng thêm thì việc tuyến đường cắt ngang nhiều căn nhà, thửa đất là không thể tránh khỏi Diện tích đất còn lại sau khi giải phóng mặt bằng nhỏ hơn diện tích đất tối thiểu được cho phép xây dựng cũng là một hệ quả tất yếu Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế quy định tại Điều 36, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ

về thi hành Luật Đất đai và được quy định cụ thể trong Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ngày 03 tháng 12 năm 2004 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 197/2004/NĐ-CP)

Cái gốc của quản lý trật tự xây dựng là quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt,

mà bản vẽ thiết kế đô thị là linh hồn của quy hoạch xây dựng Nhưng khi vi phạm xảy ra không xử lý được, bởi cơ quan chức năng thiếu cơ sở pháp luật để quản lý…Nói như vậy

để chúng ta thấy rõ bản chất của quản lý vi phạm trật tự xây dựng trước đây, hiện nay và sắp tới không phải chỉ là chính quyền cơ sở, không chỉ là lực lượng thanh tra mà cái chính là phải có quy hoạch xây dựng theo quy định pháp luật; đó là cái gốc để quản lý trật tự xây dựng.3

Bên cạnh đó, hiện nay việc giải phóng mặt bằng hầu hết không đi đôi với việc chỉnh trang đô thị Khi giải phóng mặt bằng cho các dự án làm đường thì phần diện tích đất còn lại của người dân đều nằm ngay mặt tiền Thế nên, người dân không chịu nhận tiền đền bù cho phần diện tích đất còn lại Từ đó, nảy sinh ra những lô đất rất nhỏ, nếu xây dựng thì sẽ trở thành những căn nhà “siêu mỏng”

 Nguyên nhân thứ hai làm xuất hiện nhà “siêu mỏng” là do nhu cầu nhà ở ngày

càng tăng cao ở các đô thị lớn Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước các đô thị các trung tâm đô thị chủ yếu của mỗi vùng kinh tế-xã hội đóng vai trò như động lực phát triển trong vùng, tạo nên sự phát triển cân đối về địa lý cho toàn quốc Tuy nhiên, nhu cầu nhà ở tại các đô thị lớn đang ngày càng tăng cao, đặc biệt là nhà ở cho thuê, do một lượng lớn lao động nhập cư vào đô thị để tìm việc làm và sinh sống

3 Lê Xuân Thủy, Sắp xếp lại lực lượng thanh tra xây dựng,

http://www.nhandan.com.vn/kinhte/tin-%20tuc/item/20517702.html (truy cập ngày 27/08/2013)

Trang 16

Bên cạnh đó, với tình hình kinh tế hiện đang còn nhiều khó khăn, thu nhập của đa số người lao động chưa thể đủ để đáp ứng với giá của các sản phẩm bất động sản mua để ở

 Nguyên nhân thứ ba làm xuất hiện nhà “siêu mỏng” là do công tác thanh tra, kiểm tra còn yếu kém Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”4 Nhà “siêu mỏng” là một điển hình của một công trình kiến trúc vi phạm nghiêm trọng trât tự xây dựng đô thị Tuy nhiên, nếu phát hiện sớm thì cơ quan chức năng hoàn toàn có thể ngăn chặn kịp thời

sự xuất hiện của nó Nhìn nhận về mặt khách quan thanh tra xây dựng còn nhiều yếu kém

về chuyên môn, nghiệp vụ không tạo được sự gắn kết với quần chúng nhân dân trong thanh tra, kiểm tra Nhìn nhận từ chủ quan công tác thanh tra yếu kém còn bắt nguồn từ việc đùn đẩy trách nhiệm hay nghiêm trọng hơn là những tiêu cực liên quan đến vấn đề tham nhũng trong quản lý xây dựng

 Nguyên nhân thứ tư làm xuất hiện nhà “siêu mỏng” là do ý thức của người dân còn kém Ngoại trừ những hộ gia đình, cá nhân có điều kiện kinh tế khó khăn không có nơi ở tốt hơn họ bắt buộc phải bám trụ tại thửa đất cũ, chấp nhận xây nhà ở trái phép thì

có một phận không nhỏ cố ý xây dựng nhà “siêu mỏng” bất chấp pháp luật chỉ vì lợi ích kinh tế của nhà mặt tiền, họ sẵn sàng chống đối khi cán bộ thanh tra đến làm nhiệm vụ Vấn đề đất đai, nhà ở là một vấn đề rất nhạy cảm nếu không có những chỉ đạo đúng đắn của cơ quan quản lý hay sự khéo léo trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nhà “siêu mỏng” thì rất dễ dẫn đến những vấn đề liên quan đến an ninh đô thị Nếu người dân chống đối do không có những nhận thức đúng đắn về hành động của mình thì việc xử lý

sẽ vô cùng khó khăn nên việc ngăn chặn nhà “siêu mỏng” xuất hiện hay xử lý nhà “siêu mỏng” trở nên rất khó khăn

1.4 Lƣợc sử về quá trình xuất hiện và tồn tại của nhà “siêu mỏng” cho đến nay

Trong thời kỳ bao cấp trước năm 1986, tính bao cấp tuyệt đối trong lĩnh vực nhà ở

đô thị được thể hiện trong việc cấp nhà cho thuê với khoản tiền thuê rất thấp Nhà nước tập trung xây dựng nhà ở cho cán bộ công chức bằng cách sử dụng nguồn vốn tập trung của nhà nước Hay khuyến khích xây dựng nhà ở cho người lao động trong lĩnh vực kinh

tế nhà nước bằng nhiều chính sách nhà ở, góp phần giải quyết được nhu cầu về nhà ở Do

đó, trong giai đoạn này hoàn toàn không xuất hiện nhà “siêu mỏng”

4 Nguyễn Thắng Lợi, Thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực THADS,

http://www.moj.gov.vn/TongCucThiHanhAn/News/Lists/TuThucTien/View_Detail.aspx?ItemID=166 , (truy cập ngày 27/08/2013)

Trang 17

Từ năm 1986 đến trước khi khi luật Đất đai năm 1993 ra đời, chế độ bao cấp về nhà ở không còn tồn tại, người dân có quyền tự xây dựng nhà ở hoặc Nhà nước và nhân dân cùng làm Bộ mặt đô thị có nhiều thay đổi theo hướng tích cực Nhà nước khuyến khích người dân tự xây nhà ở, mở rộng các chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng nhà

ở Giai đoạn này, công tác giải phóng mặt bằng còn đơn giản, ảnh hưởng thời kỳ bao cấp, đặt lợi ích xã hội, cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân một cách mạnh mẽ Hơn nữa, người

sử dụng đất trước năm 1993 chỉ có những quyền năng rất hạn chế, đất đai lại không được xem là một loại tài sản lưu thông trên thị trường nên có “giải phóng mặt bằng” cho những

dự án công cộng thì tài sản trên đất được bồi hoàn cho chủ sở hữu tài sản, nhưng đất thì chủ yếu là hoán đổi Do đất đai không được xem là tài sản “có giá” nên sự “hoán đổi” để người sử dụng đất có thể “sống được” Điều này dựa trên cơ sở lý luận: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý; người sử dụng đất được Nhà nước giao, nên khi cần thì nhà nước có thể “lấy lại” và “giao lại” một thửa đất khác.5

Do đó, người dân không

cố tình xây dựng những căn nhà “siêu mỏng”

Luật Đất đai năm 1993 bắt đầu ghi nhận quyền năng của người sử dụng đất trong một nền kinh tế thị trường Đất đai có giá và vì vậy phải được bồi thường tương xứng khi Nhà nước thu hồi đất vào mục đích công cộng, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia…Đây cũng là thời kỳ mà thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trở thành một vấn đề nóng trong xã hội Sự không bắt kịp về giá đất trong quy định so với thực tế, nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận cán bộ thực thi công tác này, sự chuyển biến giá cả nhanh chóng trong các cơn “sốt” đất đã dẫn thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trở thành vấn đề khiếu nại, khiếu kiện với số lượng nhiều nhất, với nhiều mức độ gay gắt nhất.6 Do đó, giai đoạn từ Luật Đất đai năm 1993 thì tình trạng nhà “siêu mỏng” đột ngột

Trang 18

quy hoạch của Việt Nam lúc này đòi hỏi phải học tập kinh nghiệm rất nhiều từ các nước trên thế giới Việc ra đời của Luật Xây dựng năm 2003 thể hiện sự quan tâm của Nhà nước về vấn đề xây dựng nói chung và vấn đề nhà ở tại đô thị nói riêng trong bối cảnh Việt Nam còn nhiều yếu kém trong quản lý ở lĩnh vực xây dựng Ở giai đoạn này, tình trạng tham nhũng trong quản lý xây dựng diễn ra vô cùng phức tạp, các hiện tượng tiêu cực còn khá phổ biến trong đầu tư xây dựng làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình, gây thất thoát, lãng phí lớn đang là vấn đề quan tâm sâu sắc trong xã hội Công tác

xử lý đối với những công trình xây dựng trái phép không ngừng được Nhà nước hoàn thiện hơn Từ quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 34 Luật Xây dựng có quy định về việc

xử lý đối với những công trình xây dựng trái phép, xây dựng sai giấy phép, xây dựng không tuân theo quy hoạch xây dựng bằng hình thức đình chỉ xây dựng, xử phạt hành chính, cưỡng chế phá dỡ công trình Sau đó, Quyết định số 39/2005/QĐ-TTG ngày 28 tháng 02 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về việc hướng dẫn thi hành Điều

121 của Luật Xây dựng; Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, hiện nay tại mỗi địa phương đều ban hành quy định riêng về diện tích tối thiểu được tách thửa cho phù hợp với điều kiện tại địa phương mình Những văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn cho việc xử lý nhà “siêu mỏng” Tuy nhiên, sự xuất hiện của nhà “siêu mỏng” trước sự chuyển biến quá lớn về vấn đề quyền năng của người sử dụng đất khi đất đai có giá và sự quản lý còn lỏng lẻo

của cơ quan chức năng là không thể tránh khỏi

Thực tế, khi những căn nhà siêu mỏng đầu tiên xuất hiện từ Luật Đất đai năm

1993 thì trong hơn 10 năm trở về đây, nhà siêu mỏng xuất hiện ngày càng nhiều song song đó công tác xử lý cũng ngày càng khó khăn khi nhu cầu về nhà ở đột ngột tăng cao Các thửa đất nằm ở mặt tiền của những tuyến đường có giá ngày càng cao, điều này thúc đẩy người dân xây dựng “ồ ạt” những căn nhà “siêu mỏng”

1.5 Ảnh hưởng của nhà “siêu mỏng” đến nền kinh tế, trật tự quản lý Nhà nước, xã hội

1.5.1 Ảnh hưởng của nhà “siêu mỏng” đến nền kinh tế

Đất đai được xác định là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, nguồn nội lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế, là địa bàn để phân

bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, an ninh quốc

Trang 19

phòng, là bộ phận cơ bản của lãnh thổ quốc gia, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là thành quả đấu tranh cách mạng của nhiều thế hệ.7 Do đó, sử dụng nguồn tài nguyên quý giá này một cách hợp lý và hiệu quả là việc làm hết sức quan trọng để tránh lãng phí nguồn tài nguyên quý giá này Tuy nhiên, khi hệ thống quy phạm pháp luật cũng như bộ máy quản lý về đất đai và trong lĩnh vực xây dựng còn nhiều yếu kém làm xuất hiện nhà “siêu mỏng” đã gây nên những tổn thất rất lớn về kinh tế Nhà “siêu mỏng” xuất hiện trực tiếp gây nên sự lãng phí trong sử dụng đất đai - nguồn tài nguyên quý giá của nhân loại Tục ngữ có câu: “Tất đất, tất vàng” nhưng có những thửa đất xuất hiện sau giải phóng mặt bằng có diện tích được xem là quá nhỏ nên không được quan tâm ngay từ đầu Đến khi tình trạng xuất hiện nhà “siêu mỏng” trở thành thách thức lớn cho cơ quan chức năng trong công tác xử lý, ngân sách Nhà nước phải chịu áp lực ngặn nề cho việc xử lý nhà “siêu mỏng” Với một Việt Nam còn nhiều khó khăn về kinh tế, thì nguồn ngân sách nhà nước liệu có khả năng đáp ứng cho việc xử lý nhà “siêu mỏng” và những hậu quả mà

nó gây ra?

Nhà lí luận chính trị, triết gia và nhà khoa học người Đức thế kỷ 19 Phridrich Ăngghen8 đã từng nói: “Con người trước hết phải ăn uống, chỗ ở và mặc đã rồi mới đến làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo,…” Lao động làm nên của cải, vật chất, sức khỏe là điều kiện tiên quyết để lao động có hiệu quả Tuy nhiên, để đảm bảo cho sức khỏe thì nhà ở là một trong những yếu tố quan trọng không thể xem nhẹ Đúc kết “An cư, lạc nghiệp” trong dân gian, phần nào nói lên tầm quan trọng của ngôi nhà nơi mình sinh sống Nghĩa là, có ổn định chỗ ăn, chỗ ở thì người lao động mới an lòng mà lo công việc sinh kế hoặc phát triển thương mại Như vậy, sự ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế của những căn nhà “siêu mỏng” là không thể phủ nhận Nhà “siêu mỏng” làm mất đi giá trị vốn có của một căn nhà, khi nhu cầu về nhà ở ổn định, rộng rãi, an toàn, thoáng mát,…không được đảm bảo thì sức lao động của con người cũng giảm sút Từ đó, khả năng kinh tế của cá nhân, hộ gia đình đó cũng không ổn định

1.5.2 Ảnh hưởng của nhà “siêu mỏng” đến trật tự quản lý Nhà nước

Nhà “siêu mỏng” là điển hình của mâu thuẫn lợi ích của cá nhân - cá nhân xây dựng nhà siêu mỏng và lợi ích của cộng đồng, tập thể mà đại diện để bảo vệ quyền và lợi

7 Xem Nguyễn Cảnh Quý, Một số nội dung của Luật Đất đai cần được tiếp tục sửa đổi bổ sung và hoàn thiện, Tạp

chí Nghiên cứu lập pháp, số 15 (223) T8/2012

8 Trần Trọng Tân, Ph Angwghen sống mãi trong sự nghiệp cách mạng của chúng ta,

http://www.sggp.org.vn/chinhtri/nam2005/thang11/78333/ (truy cập ngày 28/08/2013)

Trang 20

ích đó là cơ quan quản lý Nhà nước

Trong khi những quyền lợi cá nhân có thể tính được bằng tiền, bằng các lợi ích cho cuộc sống của nhiều gia đình, trong nhiều năm Các đòi hỏi nhân danh quyền lợi tập thể, cho đến giờ, chỉ tập trung xoay quanh vấn đề thẩm mỹ: Vốn không chỉ khó đong đếm

mà chủ yếu được xây dựng trên các quan niệm lý tưởng về hình ảnh đô thị tương lai Nhà

“siêu mỏng” cũng vẫn là nhà, là nơi sinh sống kinh doanh rất có giá trị của các gia đình

đã cắt phần lớn nhà đất phục vụ nhu cầu phát triển của xã hội,…Vốn thể hiện một phần trật tự xã hội, kỷ cương và sức mạnh thể chế, nhà “siêu mỏng”, bị xoáy vào thời tiết chính trị, bởi chúng là một phần dễ nhận thấy trong đô thị9

Nhà “siêu mỏng” liên quan mật thiết đến mâu thuẫn lợi ích Khi vấn đề nhà “siêu mỏng” không được ngăn chặn hay xử lý kịp thời thì hai mâu thuẫn lợi ích mới lại xuất hiện

 Mâu thuẫn thứ nhất, là mâu thuẫn xuất phát từ thiếu sót trong cơ chế quản lý của nhà nước, thể hiện sự thiếu công bằng giữa các hộ trong khu vực giải phóng mặt bằng Cụ thể, đối tượng bị mất đất, giá đất bồi thường lại thấp còn hộ phía sau lại hưởng lợi khi giá đất sau quy hoạch tăng cao, căn nhà này lại hưởng lợi khi có mặt tiền do con đường nó mang lại Điều này dẫn đến mâu thuẫn giữa hộ mất đất phía trước và hộ được hưởng lợi phía sau, từ đó lại dẫn đến hệ quả nhà “siêu mỏng” xuất hiện ngày càng nhiều

 Mâu thuẫn thứ hai, mâu thuẫn này lại đến từ chính những căn nhà “siêu mỏng” đang tồn tại không được kịp thời xử lý gây bức xúc trong dư luận Người dân mang tâm

lý phải chăng đã có sự bất bình đẳng trong công tác quản lý của cơ quan chức năng trong việc xử lý nhà “siêu mỏng”? Tất cả những thắc mắc đó tạo nên sự mâu thuẫn giữa cơ

quan quản lý và người dân tuân thủ pháp luật xây dựng khi phải chứng kiến tình trạng nhà “siêu mỏng” vẫn đang được xây dựng công khai

Mâu thuẫn lợi ích làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, gây bức xúc trong dư luận xã hội, bất bình trong nhân dân Vì vậy, các thế lực thù địch rất dễ lợi dụng xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu, kích động nhân dân chống lại Đảng, Nhà nước Nếu Đảng, Nhà nước không kiên quyết xử lý nghiêm minh, tiếp tục để mâu thuẫn lợi ích trên xảy ra, gây bức xúc trong nhân dân và xã hội sẽ tạo thuận lợi thêm cho các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện những âm mưu gây bạo loạn đe dọa sự tồn vong của

9 TS KTS Nguyễn Thanh Bình, Nhà siêu mỏng, siêu méo: Những vấn đề bên trong,

http://hanoi.org.vn/publiccity/vi/2011/01/nha-sieu-m%E1%BB%8Fng-sieu-meo-nh%E1%BB%AFng-v%E1%BA%A5n-d%E1%BB%81-ben-trong/ (truy cập ngày 11/8/2013)

Trang 21

Đảng, Nhà nước và chế độ Nhà “siêu mỏng” là hệ quả cũng là nguyên nhân làm xuất hiện hai mâu thuẫn về lợi ích không nên có của một nền chính trị ổn định

1.5.3 Ảnh hưởng của nhà “siêu mỏng” đến xã hội

Cả nước có 755 đô thị Con số trên được Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) thống kê, tính đến ngày 31-12-2010 Trong số đó, có hai đô thị được xếp vào loại đặc biệt

là thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Mười đô thị loại 1 gồm thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế (tỉnh Thừa Thiên – Huế), Vinh (tỉnh Nghệ An), Đà Lạt (Lâm Đồng), Nha Trang (Khánh Hòa), Quy Nhơn (Bình Định), Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên).10 Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự tồn tại của các đô thị có ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình xã hội của Việt

Nam

Như đã nói, nhà ở không chỉ là tài sản có giá trị, có tầm quan trọng đặc biệt đối với mỗi gia đình mà còn phản ánh trình độ phát triển xã hội của một quốc gia Khi nhìn vào một ngôi nhà có thể đánh giá về phong cách xây dựng, quan điểm tôn giáo, nhân sinh, thẩm mỹ của cá nhân, hộ gia đình đó Nên khi nhìn vào một căn nhà “siêu mỏng” người ta dễ dàng đưa ra những đánh giá không tốt về trình độ thiết kế cũng như quan niệm thẩm mỹ không cao Chỉ từ một căn nhà “siêu mỏng” tồn tại ngay các vị trí mặt tiền cũng có thể làm xấu đi bộ mặt đô thị Việt Nam qua cái nhìn của bạn bè quốc tế

Mục đích của quy hoạch đô thị là tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị bằng việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở Như vậy, kiến trúc, cảnh quan đô thị là một trong những yếu tố quan trọng để góp phần tạo nên một quy hoạch đô thị thành công, một môi trường sống thích hợp cho người dân trong đô thị Trong khi đó, nhà “siêu mỏng” đã vi phạm hoàn toàn về yêu cầu kiến trúc đô thị

Không đáp ứng được yêu cầu về kiến trúc đã làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng công trình đô thị gây ra sự mất an toàn xã hội Nhà ở riêng lẻ có diện tích quá nhỏ tác động xấu đến môi trường và an toàn của các công trình lân cận Những căn nhà “siêu mỏng” hoàn toàn không thể đáp ứng là một công trình đạt chuẩn khi có kích thước quá nhỏ so với quy định cho phép Những căn nhà này đều có kích thước hình khối không hợp lý, gây nguy hiểm cho chính những người ở trong căn nhà này còn có an toàn cho những ngôi nhà xung quanh khi sụt lún, đổ ngã xảy ra Vấn đề an toàn trong xây dựng

10 P.P.H, Mỗi tháng mọc lên một đô thị, http://diaoc.tuoitre.vn/Index.aspx?ArticleID=419539&ChannelID=204 (truy

cập ngày 28/08/2013)

Trang 22

một công trình xây dựng luôn luôn được đặt lên hàng đầu bởi mục đích nhằm xây dựng một công trình xây dựng đặc biệt là nhà ở riêng lẻ đều vì nhu cầu sinh sống, làm việc, vui chơi giải trí của mỗi cá nhân Thế nhưng việc xây dựng những căn nhà “siêu mỏng” đã phá vỡ yêu cầu đầu tiên nhất và quan trọng nhất của một căn nhà

Cũng từ nguyên nhân từ kích thước quá nhỏ của những căn nhà “siêu mỏng” gián tiếp gây nên nhiều tệ nạn xã hội Những căn nhà này do không có giấy phép xây dựng nên gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý, nhà “siêu mỏng” trở thành nơi “lý tưởng”

cho việc mua bán, sử dụng chất kích thích, gây nghiện tạo gánh nặng lớn cho xã hội

Trang 23

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT NHÀ “SIÊU MỎNG” THEO QUY

ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

Trong quản lý trật tự xây dựng đô thị có nhiều dạng hành vi vi phạm, nhưng một trong những dạng vi phạm phổ biến đó là tình trạng nhà “siêu mỏng” Xử phạt vi phạm hành chính là một trong những công cụ hữu hiệu nhằm góp phần giảm bớt vi phạm trong quản lý trật tự xây dựng đô thị nói chung và nhà “siêu mỏng” nói riêng Do đó, trong phạm vi chương 2 người viết sẽ tập trung tìm hiểu về chế độ pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý trật tự xây dựng đô thị Tuy nhiên, người viết sẽ phân tích theo hướng nhà “siêu mỏng” theo quy định của pháp luật hiện hành

Như đã đề cập nhà “siêu mỏng” là một điển hình của công trình vi phạm nghiêm trọng trật tự xây dựng đô thị nên nó cũng được xử lý dựa trên những văn bản pháp luật dưới đây Cho đến hết ngày 29/11/2013, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi

vi phạm trong hoạt động xây dựng được áp dụng theo:

 Nghị định số 23/2009/NĐ-CP ban hành ngày 27 tháng 02 năm 2009 quy định

về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở (sau đây gọi tắt là Nghị định số 23/2009/NĐ-CP) Nghị định này áp dụng chung cho cho các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng

 Nghị định số Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về xử

lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị (sau đây gọi tắt là Nghị định số 180/2007/NĐ-CP) Nghị định này áp dụng riêng trong lĩnh vực trật tự xây dựng đô thị

 Thông tư số 24/2009/TT-BXD ngày 22 tháng 7 năm 2009 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết thi hành một số nội dung của Nghị định số 23/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản

lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở (sau đây gọi tắt là Nghị định số 24/2009/TT-BXD)

Lưu ý, từ ngày 1/7/2013 nội dung áp dụng của văn bản trên không trái với Luật khung là Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Tuy nhiên, từ ngày 30/11/2013 Nghị định số 23/2009/NĐ-CP sẽ bị thay thế bởi Nghị định số 121/2013/NĐ-CP quy định xử

Trang 24

phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở (sau đây gọi tắt là Nghị định số121/2013/NĐ-CP) Tuy thời điểm người viết hoàn thành luận văn này Nghị định số 121/2013/NĐ-CP vẫn chưa có hiệu lực nhưng để đảm bảo tính thời sự, cập nhật cho luận văn cũng như tạo thuận lợi cho người đọc trong nghiên cứu văn bản quy phạm pháp luật, trong chương 2 người viết sẽ phân tích, so sánh đối chiếu giữa Nghị định số 121/2013/NĐ-CP, Nghị định số 23/2009/NĐ-

CP và Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012

2.1 Xác định yếu tố cấu thành vi phạm trật tự xây dựng đô thị

Hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị là một hiện tượng tác động tiêu cực đến

bộ mặt đô thị, cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế, công tác quản lý nhà nước và

xã hội Hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị được nhận diện, đánh giá và là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý là nhờ có cấu thành cơ bản xác định Nó bao gồm các yếu tố: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị Thiếu một trong những yếu tố này thì sẽ không tồn tại một hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị trong thực tế Việc xác định từng bộ phận này là cơ sở quan trọng

để truy cứu trách nhiệm pháp lý, nhờ đó mà tìm ra được mối quan hệ giữa chúng với nhau, xác định được các biện pháp trách nhiệm pháp lý tương ứng, tìm ra nguyên nhân của hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị, và còn đánh giá được mức độ ảnh hưởng của hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị

Vi phạm trật tự xây dựng đô thị là một loại vi phạm hành chính nên yếu tố cấu thành của nó được xây dựng dựa trên cấu thành của vi phạm hành chính nhưng mang những đặc điểm riêng của lĩnh vực xây dựng

2.1.1 Yếu tố khách quan của vi phạm trật tự xây dựng đô thị

Yếu tố khách quan của vi phạm trật tự xây dựng đô thị là những dấu hiệu được biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm hành vi vi phạm trật tự xây dựng

đô thị

* Hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị là hành vi trái pháp luật được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động bởi ý thức và ý chí của chủ thể vi phạm Tính chất trái pháp luật của hành vi xét vè mặt hình thức nó thể hiện ở các dạng sau:

+ Làm một viêc (hành động) mà pháp luật cấm không được làm; điển hình là

hành vi xây dựng xây dựng nhà “siêu mỏng”, một dạng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị

Trang 25

+ Không làm một việc (hành động) mà pháp luật đồi hỏi phải làm; điển hình là

hành vi xây dựng nhà ở đô thị nhưng không xin Giấy phép xây dựng - Nhà “siêu mỏng”

là một điển hình

+ Sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép; điển hình là hành vi xây dựng

nhà ở đô thị vượt số tầng cho phép Ví dụ: Những căn nhà có diện tích chuẩn dưới 40m2

có diện tích thửa đất từ 15m2 đến nhỏ hơn 40m2, có các cạnh lớn hơn hoặc bằng 3m mà xây dựng căn nhà quá 2 tầng (một dạng nhà “siêu mỏng”) thì được coi là vượt quá giới hạn cho phép

* Hậu quả của hành vi trái pháp luật: Là trật tự quản lý của nhà nước bị hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị tác động tới, gây xâm hại Tuy nhiên, do hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị là hành vi có cấu thành hình thức nên hậu quả phải được xem là trật tự đã vi phạm, chứ không cần có hậu quả nhất định nào đó trên thực tế Nếu như có hậu quả xảy ra trên thực tế thì hậu quả đó phải chính là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả

2.1.2 Yếu tố chủ quan của vi phạm trật tự xây dựng đô thị

Mặt chủ quan của vi phạm trật tự xây dựng đô thị là quan hệ tâm lý bên trong bao gồm các yếu tố: Lỗi, mục đích, động cơ của vi phạm trật tự xây dựng đô thị

* Yếu tố chủ quan thể hiện ở tính chất có lỗi: đó là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi vi phạm pháp luật và hậu quả do hành vi đó gây ra

+ Lỗi cố ý trong vi phạm trật tự xây dựng đô thị: Người vi pham nhận thức rõ nghĩa vụ pháp lý bắt buộc nhưng lại có ý thức xem thường dù họ có khả năng xử sự đúng theo nghĩa vụ đó Trong vi phạm trật tự xây dựng đô thị hành vi có lỗi cố ý chiếm đa số Người dân cố tình xây dựng nhà “siêu mỏng” vào ban đêm để tránh cơ quan chức năng cũng là một hành vi có yếu tố lỗi cố ý

+ Lỗi vô ý trong vi phạm trật tự xây dựng đô thị: Người vi phạm đã vô tình hoặc thiếu thận trọng mà không nhận thức được những nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, dù họ có khả năng và điều kiện xử sự theo đúng nghĩa vụ này Trong trường hợp nhà “siêu mỏng” lỗi vô ý rất hiếm khi xảy ra Tuy nhiên, đặc trưng trong xử phạt vi phạm hành chính nói chung yếu tố lỗi không quyết định hành vi có bị xử phạt hay không, nếu đối tượng vi phạm có hành vi thì sẽ bị xử phạt

* Mục đích, động cơ của vi phạm trật tự xây dựng đô thị là dấu hiệu không bắt buộc phải có trong mọi cấu thành của hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị

2.1.3 Yếu tố khách thể của vi phạm trật tự xây dựng đô thị

Trang 26

Khách thể của vi phạm trật tự xây dựng đô thị ở đây là quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý trật tự xây dựng đô thị được pháp luật quy định, bảo vệ và bị xâm phạm Tức là xâm phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng Khách thể của vi phạm trât tự xây dựng đô thị là một dạng khách thể loại - là những quan hệ xã hội có cùng hoặc gần tính chất với nhau trong từng lĩnh vực nhất định của quản lý nhà nước.11

Đây chính là trật tự quản lý chuyên ngành xây dựng cụ thể là Nghị định 121/2013/NĐ-CP và Nghị định 180/2007/NĐ-CP

2.1.4 Yếu tố chủ thể của vi phạm trật tự xây dựng đô thị

Điều 2 Nghị định 180/2007/NĐ-CP quy định chủ thể của vi phạm trật tự xây dựng

đô thị bao gồm: tổ chức, cá nhân hoạt động xây dựng có hành vi vi phạm trật tự xây dựng

đô thị; cán bộ, công chức, viên chức được phân công quản lý trật tự xây dựng đô thị và những tổ chức, cá nhân khác liên quan Gọi chung là cá nhân, tổ chức

Chủ thể là cá nhân, tổ chức phải có đủ năng lực chủ thể, tức là phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi Khoản 1 Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 năng lực chủ thể và cá nhân được thể hiện như sau:

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính

- Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý Đây là một điểm mới trong Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012

- Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây

ra

- Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy

11 Ts Phan Trung Hiền: Giáo trình Luật hành chính Việt Nam - Phần II Phương pháp quản lý nhà nước, Nxb Đại

học Cần Thơ, Cần Thơ, 2011, Tr 34

Trang 27

định khác

2.2 Xác định các loại hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị (Điều 5 Nghị định 180/2007/NĐ-CP)

2.2.1 Công trình xây dựng theo quy định của pháp luật phải có Giấy phép xây dựng 12

mà không có Giấy phép xây dựng

Là những công trình đi vào khởi công mà vẫn chưa được phép của cơ quan quản

lý nhà nước về xây dựng trên địa bàn Việc xin phép với những công trình này là bắt buộc nhưng chủ đầu tư không xin phé Hậu quả dẫn đến những loại công trình này thường là xây dựng những căn nhà “siêu mỏng”; xây dựng không đúng quy hoạch chi tiết của huyện, xã, thị trấn, thi công không được kiểm soát tác động xấu đến môi trường xung quanh, an toàn xây dựng cũng như cảnh quan đô thị

2.2.2 Công trình xây dựng sai nội dung Giấy phép xây dựng được cơ quan có thẩm quyền cấp

Những loại công trình này đều đã xin giấy phép xây dựng xong sau khi có giấy phép lại xây dựng không như trong giấy phép đã duyệt Những công trình này rất nhiều

vì chủ đầu tư trong quá trình xây dựng thường lấy cớ là đã có giấy phép xây dựng che mắt sau đó là thực hiện hành vi xây dựng sai phép Hậu quả gây ra cũng không kém phần nghiêm trọng

2.2.3 Công trình xây dựng sai thiết kế được cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt; sai quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 13

đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (đối với công trình xây dựng được miễn Giấy phép xây dựng)

Những công trình này là những công trình xây dựng được miễn Giấy phép xây dựng xây dựng sai thiết kế được cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt

2.2.4 Công trình xây dựng có tác động đến chất lượng công trình lân cận; ảnh hưởng đến môi trường, cộng đồng dân cư

Những công trình này thường là những công trình dân dụng, công trình công

12

Khái niệm Giấy phép xây dựng quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 64/2012/NĐ-CP ngày 04 tháng 9 năm

2012 của Chính phủ quy định về cấp giấy phép xây dựng

13

Quy hoạch chi tiết 1/500: Quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 24 của Luật Xây dựng - giai đoạn này công trình kiến trúc đưa vào quy hoạch chi tiết 1/500 là những công trình có thiết kế cơ sở (có đầy đủ các yếu tố cần thiết cho một thiết kế công trình như hình dáng, mặt bẳng công trình với đầy đủ kích thước công trình, nội dung các phòng, các bộ phận của công trình, vị trí ra vào lối của công trình), từ đó xác định được mối quan hệ giữa công trình với các yếu tố bên ngoài như sân vườn, đường đi

Trang 28

nghiệp và nhà ở riêng lẻ trong đô thị tác động đến chất lượng công trình lân cận; ảnh hưởng đến môi trường, cộng đồng dân cư Ngoài nguyên nhân là do xây dựng sai nội dung Giấy phép xây dựng còn thuộc một trong những trường hợp sau: Hầu hết là do xây sai diện tích xây dựng (tầng một); chiều cao công trình vượt quá chiều cao được quy định trong giấy phép xây dựng; xây dựng vượt quá số tầng quy định trong giấy phép xây dựng; vi phạm những quy định về quản lý kiến trúc đô thị (đối với những khu vực đã có thiết kế đô thị được duyệt) Có thể nói nhà “siêu mỏng” là một dạng công trình ảnh hưởng rất lớn đến công trình, nhà ở lân cận; ảnh hưởng gián tiếp đến môi trường, cộng đồng dân cư – như người viết đã phân tích ở chương 1 của luận văn này

2.3 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng

2.3.1 Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Điều 60 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP đã quy định chi tiết nguyên tắc xác định thẩm quyền trong xử phạt vi phạm vi phạm hành chính ở nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực xây dựng Cụ thể:

 Người có thẩm quyền xử phạt quy định tại Nghị định này chỉ được phép xử phạt vi phạm hành chính trong phạm vi thẩm quyền; trường hợp hành vi vi phạm vượt quá thẩm quyền thì phải lập biên bản vi phạm hành chính chuyển cấp có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt

 Khi áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng, giấy chứng nhận, chứng chỉ hành nghề, người có thẩm quyền xử phạt phải thông báo bằng văn bản hoặc gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính về Thanh tra Sở Xây dựng

 Trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của nhiều người thì việc xử phạt vi phạm hành chính do người thụ lý đầu tiên thực hiện

 Thẩm quyền phạt tiền quy định tại Điều 61, Điều 62, Điều 63, Điều 64, Điều

66, Điều 67, Điều 68 và Điều 69 của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP là thẩm quyền phạt tiền đối với tổ chức; thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 thẩm quyền phạt tiền đối với tổ chức

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã bổ sung một số nguyên tắc mới sau: Công bằng, công khai; người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính; cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính; đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân Việc bổ sung một số nguyên tắc như nêu trên là cần thiết, để khắc phục tình trạng cơ

Trang 29

quan hành chính ban hành quyết định xử phạt mang tính đơn phương, áp đặt ý chí chủ quan của người có thẩm quyền xử phạt Mặt khác, việc xử lý vi phạm hành chính liên quan trực tiếp đến danh dự, quyền tự do cơ bản của công dân, cần được tiến hành dân chủ, khách quan, chính xác, trên cơ sở xác minh rõ vụ việc, bảo đảm nguyên tắc “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” theo quy định tại Điều 52 Hiến pháp năm 1992”14

2.3.2 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng của cơ quan

đa đối với vi phạm trật tự xây dựng vẫn giữ ở mức là 500.000.000 đồng đối với cá nhân tuy nhiên tăng lên tối đa 1.000.000.000 đồng đối với tổ chức Theo đó Nghị định số 121/2013/NĐ-CP mức phạt tiền tối đa được quy định trong lĩnh vực hoạt động xây dựng

là 1.000.000.000 đồng15 Bên cạnh đó, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 không quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo một mức phạt tiền cố định đối với mỗi chức danh xử phạt, mà quy định theo tỷ lệ phần trăm so với các mức phạt tối đa được quy định tại Điều 24 Luật này

Theo Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngoài áp dụng hình thức xử phạt chính đối với hành vi vi phạm trật tự trong hoạt động xây dựng là phạt tiền thì đối tượng vi phạm trong lĩnh vực xây dựng còn có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung16 hay các biện pháp khắc phục hậu quả17

như: buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi

do hành vi vi phạm hành chính; buộc phá dỡ công trình xây dựng, bộ phận công trình xây dựng vi phạm theo quy định tại Nghị định số 180/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây

14

Đội pháp chế TKLS (PV11), Những điểm mới của luật xử lý vi phạm hành chính so với pháp lệnh xử lý vi phạm

hành chính, http://conganhatinh.gov.vn/web/guest/9/-/vcmsview/qvgy/1506/1506/6170 (truy cập ngày 28/8/2013)

15 Điểm a Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP

16 Điểm a Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP

17 Điểm đ Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP

Trang 30

dựng đô thị Điểm mới đáng chú ý được quy định tại Nghị định 121 là công trình xây dựng không phép, sai phép nhưng bảo đảm một số điều kiện thì được nộp tiền từ 40-50% giá trị phần vi phạm để được tồn tại và điều chỉnh giấy phép xây dựng18

* Lưu ý: Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã bổ sung thêm 3 hình thức

xử phạt chính trong đó có hình thức: tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề

có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn Bên cạnh đó Luật đã tách biện pháp buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép từ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm

2002 thành 2 biện pháp là: buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu và buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép

2.3.2.1 Thẩm quyền xử phạt của thanh tra viên xây dựng

Nghị định số 23/2009/NĐ-CP quy định thanh tra viên xây dựng có thẩm quyền phạt tiền đến 500.000 đồng (Khoản 1 Điều 56) Theo quy định mới của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định thanh tra viên có quyền: Phạt tiền đến 1 mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 500.000 đồng (điểm b Khoản 1 điều 46) Như vậy, theo quy định mới thì mức tiền phạt đối với hành vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng thuộc thẩm quyền của thanh tra viên xây dựng vẫn duy trì ở mức 500.000 đồng đối với cá nhân Theo đó, Điều 61 Nghị định 121/2013/NĐ-CP hướng dẫn Thanh tra viên xây dựng có thẩm quyền phạt tiền đến 1.000.000 đồng

Ngoài ra, cũng theo Nghị định số 121/2013/NĐ-CP Thanh tra viên xây dựng còn

có quyền phạt cảnh cáo, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 3 Điều 5 Nghị định này

2.3.2.2 Thẩm quyền xử phạt của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành

* Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Sở Xây dựng:

Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở, trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của cơ quan quản lý nhà nước được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền phạt tiền đến 50 mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng (đối với cá nhân) Theo đó, điểm b Khoản 1 Điều 62 Nghị định 121/2013/NĐ-CP hướng dẫn Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Sở

18 khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP

Trang 31

Xây dựng có thẩm quyền phạt tiền đến 100.000.000 đồng

Ngoài ra, cũng theo Nghị định số 121/2013/NĐ-CP Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Sở Xây dựng còn có quyền phạt cảnh cáo; tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng, giấy chứng nhận, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d và Điểm e Khoản 3 Điều 5 Nghị định này

* Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ Xây dựng:

Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp bộ có thẩm quyền xử có thẩm quyền phạt tiền đến 70 mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 250.000.000 đồng (đối với cá nhân) Theo đó, điểm b Khoản 2 Điều 62 Nghị định 121/2013/NĐ-CP hướng dẫn Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ Xây

dựng có thẩm quyền phạt tiền đến 500.000.000 đồng đối với lĩnh vực xây dựng

Ngoài ra, cũng theo Nghị định số 121/2013/NĐ-CP Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ Xây dựng còn có quyền phạt cảnh cáo; tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng, giấy chứng nhận, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điểm a, Điểm b,

Điểm c, Điểm d và Điểm e Khoản 3 Điều 5 Nghị định này

2.3.2.3 Thẩm quyền xử phạt của Chánh thanh tra Sở Xây dựng

Nghị định số 23/2009/NĐ-CP quy định Chánh thanh tra Sở Xây dựng có thẩm quyền phạt tiền đến 30.000.000 đồng (Khoản 1 điều 57) Theo quy định mới của Luật Xử

lý vi phạm hành chính 2012 quy định Chánh thanh tra Sở có quyền: Phạt tiền đến 50 mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng (đối với cá nhân), (điểm b Khoản 2 điều 46) Như vậy, theo quy định mới thì mức tiền phạt đối với hành vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng thuộc thẩm quyền của Chánh thanh tra Sở Xây dựng đã tăng từ 30.000.000 đồng lên 50.000.000 đồng Theo đó, Điều 63 Nghị định 121/2013/NĐ-CP hướng dẫn Chánh thanh tra Sở Xây dựng có thẩm quyền phạt tiền đến 100.000.000 đồng

Ngoài ra, cũng theo Nghị định số 121/2013/NĐ-CP Chánh thanh tra Sở Xây dựng còn có quyền phạt cảnh cáo; tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng, giấy chứng nhận, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng các biện

pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Khoản 3 Điều 5 Nghị định này

*Buộc phá dỡ công trình xây dựng, bộ phận công trình xây dựng - Thẩm quyền xử

Ngày đăng: 05/10/2015, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w