1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

pháp luật về quy chế kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng

74 887 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 4 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUY CHẾ KIỂM SOÁT ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm Quy Chế Kiểm Soát Đặc Biệt

Trang 1

KHOA LUẬT

BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 2010 – 2014

ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Giảng viên hướng dẫn : Sinh viên thực hiện :

Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Thái Ngọc Ái Vi – 5106024

Bộ môn Luật Thương Mại Lớp : Luật thương mại 1- K36

Cần Thơ, Tháng 12/2013

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam : NHNNVN

4 Quỹ tín dụng nhân dân : QTDND

5 Ngân hàng thương mại cổ phần : NHTMCP

6 Công ty : Cty

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của đề tài 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUY CHẾ KIỂM SOÁT ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG 4

1.1 Khái niệm về quy chế kiểm soát đặc biệt 4

1.1.1 Định nghĩa về quy chế kiểm soát đặc biệt 4

1.1.2 Đặc điểm của quy chế kiểm soát đặc biệt 8

1.1.2.1 Quy chế kiểm soát đặc biệt là biện pháp quản lý nhà nước đặc biệt của NHNNVN 8

1.1.2.2 Quy chế kiểm soát đặc có cơ chế thực hiện đặc thù 8

1.2 Ý nghĩa của quy chế kiểm soát đặc biệt 10

1.2.1 Đối với hệ thống Tài Chính 10

1.2.2 Đối với TCTD bị áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt 10

1.3 Giới thiệu pháp luật điều chỉnh về quy chế kiểm soát đặc biệt 11

1.3.1 Giai đoạn trước khi ban hành Luật NHNNVN 1997 và Luật các TCTD 1997 11

1.3.2 Giai đoạn Luật NHNNVN 1997 và Luật các TCTD 1997 13

1.3.3 Giai đoạn Luật các TCTD 1997 sửa đổi bổ sung năm 2004 15

1.3.4 Giai đoạn Luật NHNNVN 2010 và Luật các TCTD 2010 16

Trang 6

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUY CHẾ KIỂM SOÁT ĐẶC BIỆT

ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG 18

2.1 Quy định pháp luật về trường hợp TCTC bị áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt 18

2.1.1 TCTD rơi vào những trường hợp rủi ro trong hoạt động tín dụng 18 2.1.1.1 TCTD mất khả năng chi trả 19

2.1.1.2 TCTD mất khả năng thanh toán 22

2.1.2 TCTD lỗ lũy kế 23

2.1.3 TCTD bị xếp loại yếu kém 24

2.1.4 TCTD không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 27

2.2 Quy định pháp luật về chủ thể liên quan đến quy chế kiểm soát đặc biệt 30

2.2.1 Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam 30

2.2.2 TCTD 31

2.3 Quy định pháp luật về thủ tục áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt 33

2.3.1 Quyết định tình trạng kiểm soát đặc biệt 33

2.3.2 Thành lập ban kiểm soát đặc biệt 34

2.3.2.1 Thành viên ban kiểm soát đặc biệt 35

2.3.2.2 Quyền và nghĩa vụ của ban kiểm soát đặc biệt 37

2.3.3 Áp dụng khoản vay đặc biệt cho TCTD 39

2.3.3.1 Điều kiện được áp dụng khoản vay 39

2.3.3.2 Xử lý khoản vay đặc biệt 40

2.3.4 Quy định pháp luật về trường hợp chấm dứt kiểm soát đặc biệt 41

2.3.4.1 Hoạt động của TCTD trở lại bình thường 41

2.3.4.2 TCTD được hợp nhất, sáp nhập vào TCTD khác 42

2.3.4.3 TCTD không khôi phục được khả năng thanh toán 44

Trang 7

CHƯƠNG 3 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUY CHẾ KIỂM SOÁT ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI TCTD 46 3.1 Những trường hợp TCTD được kiểm soát đặc biệt trên thực tế 46 3.2 Tác động tích cực của quy chế kiểm soát đặc biệt đối với TCTD 51 3.3 Một số hạn chế trong pháp luật điều chỉnh quy chế kiểm soát đặc

biệt và định hướng hoàn thiện 53

3.3.1 Một số hạn chế xuất phát từ quy định pháp luật về kiểm soát đặc biệt TCTD và định hướng hoàn thiện 53 3.3.2 Hạn chế trong công tác thanh tra, giám sát TCTD tuân thủ pháp luật về hoạt động của các TCTD và định hướng hoàn thiện 59

KẾT LUẬN 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 1

LỜI NÓI ĐẦU

Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt còn một số tồn tại Đơn cử như, các chủ thể có liên quan chưa nhận thức rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mình hay chưa nắm bắt được quy định của pháp luật về kiểm soát đặc biệt Việc này, phần nào đã tạo nên khó khăn cho công tác quản lý của Ngân hàng nhà nước Từ việc chưa hiểu rõ những quy định của pháp luật dẫn đến không ít những Tổ chức tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm của mình vô tình ảnh hưởng xấu đến hệ thống tài chính quốc gia Chính từ đó người viết nhận thấy việc nghiên cứu tìm hiểu về những quy định hiện hành của pháp luật về quy chế kiểm soát đặc biệt đối với Tổ chức tín dụng là cần thiết Thông qua quá trình tìm hiểu những quy định của pháp luật về quy chế kiểm soát đặc biệt từ đó xem xét những khó khăn và vướng mắc trên thực tế, đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật Với những lý do nêu trên, người viết đã chọn nội dung “ PHÁP LUẬT VỀ QUY CHẾ KIỂM SOÁT ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG ” làm đề tài nghiên cứu

Trang 9

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 2

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thực tế áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt được biết đến với vai trò là công cụ quản

lý nhà nước đặc biệt của của Ngân hàng nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng Để phát huy tốt vai trò quản lý của mình, pháp luật đã quy định cụ thể trình tự áp dụng, điều kiện

áp dụng quy chế và các vấn đề liên quan tại Luật các TCTD 2010 và các Thông tư hướng dẫn thi hành, Thông tư 07/2013/TT-NHNN về quy chế kiểm soát đặc biệt đối với TCTD Với quy trình áp dụng đặc thù của quy chế kết hợp với việc thanh tra giám sát ngân hàng đã kịp thời phát hiện các TCTD yếu kém từ đó có phương án thích hợp nhằm củng cố hoạt động và đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống Chính bởi tầm quan trọng và thiết yếu của quy chế vừa nêu, thì nội dung trọng tâm người viết nghiên cứu là pháp luật

về quy chế kiểm soát đặc biệt được nhà nước quy định, cụ thể là NHNN ban hành có đảm bảo khả thi trên thực tế Nội dung quy định là gì ? có đảm bảo quyền tự do kinh doanh và làm chủ của chủ thể, có đảm bảo các nguyên tắc chung của pháp luật hay không Cụ thể hơn nữa là ở các quy định hiện hành có tồn tại những hạn chế bất cập nào cần bổ sung thay thế Vì vậy, nội dung người viết trình bày dưới đây sẽ xuyên suốt và xoay quanh các mục tiêu vừa trình bày

3 Phạm vi nghiên cứu

Với đặc thù là lĩnh vực nắm giữ vị thế quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia Vì vậy công cụ quản lý nhà nước đối với TCTD là quy chế kiểm soát đặc biệt luôn được sự quan tâm từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu đề tài

có giới hạn cộng với nguồn tài liệu về quy chế xoay quanh 2 văn bản Luật các TCTD

2010 và Thông tư 07/2013/TT-NHNN về kiểm soát đặc biệt TCTD nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu về khái niệm quy chế kiểm soát đặc biệt, lịch sử phát triển của quy chế qua các giai đoạn, ý nghĩa và đặc điểm của quy chế kiểm soát đặc biệt đối với các chủ thể có liên quan, các điều kiện mà pháp luật quy định để áp dụng quy chế, quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan cũng như trình tự áp dụng quy chế Từ đó chỉ ra những thành tựu và hạn chế của pháp luật hiện hành về áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt, cụ thể hóa một số kiến nghị nhằm từng bước hoàn thiện các điểm hạn chế đang tồn tại

Trang 10

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 3

4 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu đề tài này, người viết kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Cụ thể là: phương pháp tổng hợp từ hệ thống văn bản pháp luật kết hợp với các sách báo, tạp chí chuyên nghành Phương pháp phân tích nhằm làm rõ nội dung, khía cạnh đang đề cập Phương pháp quy nạp để xâu chuỗi các vấn đề lại với nhau So sánh đối chiếu các quy định của pháp luật qua các giai đoạn Tất cả các phương pháp nghiên cứu trên lại với nhau đã hỗ trợ người viết hoàn thiện nội dung nghiên cứu này

Chương 2: Quy định của pháp luật về quy chế kiểm soát đặc biệt

Với chương này người viết đi sâu phân tích để tìm hiểu về quy định của pháp luật hiện hành như các điều kiện để áp dụng quy chế, quy trình áp dụng và trình tự thủ cũng như các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của chủ thể có thẩm quyền, chủ thể được áp dụng Với trình tự trình bày nội dung chi tiết và cụ thể từng vấn đề tất yếu sẽ thể hiện rõ được những nội dung mà pháp luật hiện hành quy định về quy chế kiểm soát đặc biệt

Chương 3: Nhận xét và một số định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quy chế

kiểm soát đặc biệt đối với Tổ chức tín dụng

Nội dung chương 3 người viết trình bài về thực tế áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt Kết quả đạt được và đưa ra các điểm hạn chế phát sinh trong quá trình áp dụng từ đó đề xuất 1 số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật góp phần vào việc duy trì hoạt động an toàn hiệu quả của hệ thống tài chính quốc gia

Trang 11

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUY CHẾ KIỂM SOÁT ĐẶC BIỆT

ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm Quy Chế Kiểm Soát Đặc Biệt

1.1.1 Định nghĩa Quy Chế Kiểm Soát Đặc Biệt

Kiểm soát đặc biệt là biện pháp quản lý nhà nước đặc biệt do Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam ( gọi tắt là Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) thực hiện đối với các tổ chức tín dụng (TCTD) có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán

Như chúng ta đã biết, từng TCTD là một mắc xích quan trọng trong hệ thống tài chính của Việt Nam, vai trò của từng TCTD càng quan trọng hơn khi hiện tại nền kinh tế của ta chưa thật sự vững mạnh bền vững Vì vậy khi một TCTD gặp phải rủi ro tài chính sẽ ảnh hưởng đến cả hệ thống tín dụng trong nước Hơn nữa, rủi ro tài chính thường xuất hiện ở lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, hoạt động tín dụng chủ yếu của các TCTD ,lĩnh vực vốn mang lại lợi nhuận rất cao cho chủ thể kinh doanh nhưng song song

đó là mối liên hệ gắn kết trực tiếp với nền kinh tế Vì vậy việc đặt ra một cơ chế kiểm soát đặc biệt các TCTD là cần thiết, mục đích của việc kiểm soát đặc biệt nhằm giám sát

và có cơ sở hỗ trợ kịp thời cho các TCTD đang gặp khó khăn về vấn đề thanh toán, chi trả vượt qua khó khăn tài chính, qua đó đảm bảo an toàn cho cả hệ thống TCTD cũng như sự phát triển bền vững của nền kinh tế

Thông qua việc kiểm soát đặc biệt TCTD, NHNN thực hiện vai trò quản lý nhà nước của mình NHNN có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện kịp thời những trường hợp có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán, xem xét và đặc TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.1 Xác định được tầm quan trọng của việc kiểm soát đặc biệt TCTD nên hoạt động này pháp luật đã quy định cụ thể tại Luật các Tổ Chức Tín Dụng

Trang 12

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 5

Kiểm soát đặc biệt là việc một tổ chức tín dụng bị đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân Hàng Nhà Nước do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán 2

Để đảm bảo cho nhiệm vụ quản lý các TCTD đáp ứng đúng theo tình hình tài chính ngày càng phức tạp NHNN đã ban hành thông tư 07/2013/TT-NNHN ngày 14 tháng 3 năm 2013 quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với TCTD, trong đó khái niệm kiểm soát đặc biệt được diễn giải cụ thể :

Kiểm soát đặc biệt là việc một tổ chức tín dụng bị đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam( sau đây gọi là Ngân Hàng Nhà Nước ) do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán hoặc vi phạm nghiêm trọng pháp luật dẫn đến nguy cơ mất an toàn hoạt động 3

Điểm chung của 2 quy định trên là một khi TCTD rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán thì NHNN sẽ đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, đáng chú ý ở Thông tư 07/2013/TT-NNHN dự trù thêm 1 trường hợp là khi TCTD vi phạm nghiêm trọng pháp luật dẫn đến nguy cơ mất an toàn hoạt động thì vẫn

bị áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt này Việc xác định tình trạng mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán của 1 TCTD thì thông tư 07/2013/TT-NHNN đang có hiệu lực không quy định cụ thể như thế nào để xác định việc TCTD rơi vào trường hợp mất khả năng chi trả hay mất khả năng thanh toán Tuy nhiên trước đây theo Thông tư 08/2010/TT-NHNN quy định về quy chế kiểm soát đặc biệt TCTD được quy định cụ thể như sau : TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả, được biểu hiện 03 ( ba ) lần liên tiếp không đảm bảo tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “ Có ” có thể thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày tiếp theo và tổng tài sản “ Nợ ” phải thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày tiếp theo đối với từng loại đồng tiền, vàng 4 Tuy nhiên theo quy định hiện hành thì TCTD không được thực hiện các nghiệp vụ tín dụng liên quan đến vàng, nên chỉ xây dựng khả năng chi trả của TCTD dựa trên loại tiền trong

2 Khoản 1 điều 146 Luật các Tổ Chức Tín Dụng 2010

3 Khoản 1 điều 3 Thông tư 07/2013/TT-NHNN quy định về kiểm soát đặc biệt đối với TCTD

4

Khoản 1 điều 6 Thông tư 08/2010/TT-NHNN quy định về kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng

Trang 13

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 6

hoạt động kinh doanh của TCTD Như vậy tình trạng kiểm soát đặc biệt do TCTD mất khả năng chi trả là việc một TCTD không đáp ứng được nhu cầu giao dịch cần thanh toán bằng tiền mặt cho khách hàng tại một thời điểm nhất định Có thể đó là nhu cầu rút tiền đã gửi tiết kiệm một cách ồ ạt, thường thì bất cứ TCTD nàokhông giữ nhiều tiền mặt và không thể lập tức thu hồi các khoản cho vay của mình, nên khi người gửi tiền đổ

xô đến rút tiền thì TCTD này trở nên mất khả năng chi trả cho khách hàng Ví dụ: Ngày 14-10-2013 lượng người đến rút tiền tại ngân hàng ACB tăng vọt, tập trung chủ yếu ở hội sở trên đường Nguyễn Thị Minh Khai và chi nhánh tại 30 Mạc Đĩnh Chi (quận 1) do tin đồn tổng giám đốc ACB bỏ trốn, lượng người đến rút tiền quá đông mà NHNN TP.HCM không giúp để đáp ứng đủ lượng tiền mặt cho ACB chi trả cho người gửi tiền thì ACB nhất định sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả

Về việc TCTD bị đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt do mất khả năng thanh toán khái quát là tình trạng một TCTD dù đã chuyển đổi tất cả các tài sản như : giấy tờ

có giá cùng với lượng tiền mặt đang có nhưng không thể giải quyết được các khoản nợ đến hạn bất cứ lúc nào, không có khả năng đáp ứng các chỉ tiêu cố định trong dài hạn và lượng tiền cần thiết để mở rộng và phát triển Khả năng thanh toán là kết quả của sự cân bằng giữa các luồng thu và chi hay giữa nguồn vốn kinh tế và nguồn lực sẵn có Sự khác nhau cơ bản của “ mất khả năng chi trả” và “ mất khả năng thanh toán” là yếu tố hệ quả, nếu một TCTD rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả đây là một rủi ro mang tính chất tạm thời chưa dẫn đến nguy cơ phá sản, nhưng một khi TCTD rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán đồng nghĩa với việc TCTD đó đang có nguy cơ phá sản, việc mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn là một trong những dấu hiệu cần mà Luật Phá Sản 2004 quy định

Qua phân tích cho thấy tầm quan trọng của việc xác định tình trạng mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán của 1 TCTD tuy nhiên thông tư 07/2013/TT-NHNN đang có hiệu lực về kiểm soát đặc biệt TCTD lại không đưa ra bất cứ 1 quy định nào về 2 khái niệm trên, tất nhiên sẽ gây ra sự lúng túng trong công tác áp dụng, vấn đề này người viết sẽ phân tích rõ ràng hơn trong các mục sau của luận văn

Trang 14

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 7

Đặc biệt chú ý 1 quy định mới trong thông tư 07/2013/TT-NHNN là TCTD có thể bị kiểm soát đặc biệt nếu vi phạm nghiêm trọng pháp luật dẫn đến nguy cơ mất an toàn hoạt động Hoạt động ở đây hiểu là những hoạt động kinh doanh của TCTD được phép thực hiện Tuy nhiên, Thông tư 07/2013/TT-NHNN cũng không đề cập đây là những hành vi vi phạm về lĩnh vực cụ thể nào của hoạt động, mức độ ra sao được xem là nghiêm trọng dẫn đến mất an toàn hoạt động

Vậy những hành vi của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong và nước ngoài cố ý hay

vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng như thực hiện hoạt động ngân hàng khi không có giấy phép, hành

vi chuyển ngoại hối hoặc vàng ra nước ngoài có là điều kiện để áp dụng quy định trên hay không ? Trên cơ sở xác định những dấu hiệu để áp dụng tình trạng kiểm soát đặc biệt tại khoản 1 điều 4 của thông tư chỉ quy định một cách chung chung: Căn cứ vào thực trạng tài chính, mức độ rủi ro và vi phạm pháp luật của TCTD, NHNN xem xét, quyết định đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt dưới hình thức giám sát đặc biệt hoặc kiểm soát toàn diện5 Cả 2 hình thức điều là hình thức kiểm soát đặc biệt nhưng khác nhau về phạm vi áp dụng và hình thức áp dụng Về giám sát đặc biệt : Giám sát đặc biêt là hình thức kiểm soát đặc biệt được thực hiện thông qua việc NHNN áp dụng các biện pháp giám sát hoạt động hàng ngày của tổ chức tín dụng6 Kiểm soát toàn diện là hình thức kiểm soát đặc biệt được thực hiện thông qua việc NHNN áp dụng các biện pháp kiểm soát trực tiếp, toàn diện hoạt động hàng ngày của tổ chức tín dụng7 Cả hai hình thức điều thể hiện việc áp dụng kiểm soát đặc biệt TCTD của NHNN được áp dụng trực tiếp, không thông qua bất kỳ một cơ quan hay phương thức gián tiếp nào khác, việc triển khai việc quản lý mang tính nhà nước này sẽ được thực hiện thông qua Ban Kiểm Soát được hình thành theo quyết định của Thống đốc NHNN, vấn đề này sẽ được người viết làm rõ hơn tại Chương 2 mục 2.3.2

5

Khoản 1 điều 4 Thông tư 07/2013/TT-NHNN quy định về kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng

6

Khoản 2 điều 4 Thông tư 07/2013/TT-NHNN quy định về kiểm soát đặc biệt đối với TCTD.

7 Khoản 3 điều 4 Thông tư 07/2013/TT-NHNN quy định về kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng

Trang 15

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 8

1.1.2 Đặc điểm của Quy Chế Kiểm Soát Đặc Biệt

1.1.2.1 Quy chế kiểm soát đặc biệt là biện pháp quản lý nhà nước đặc biệt của

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

Chức năng quản lý nhà nước của NHNN đã được quy định rõ tại khoản 3 điều 2 Luật Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam 2010 theo đó : NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối Chỉ có duy nhất NHNN mới có chức năng quản lý hoạt động ngân hàng, chính vì tầm quan trọng của hệ thống tài chính đối với nền kinh tế, nên việc quản lý kiểm tra phải thực hiện một cách triệt để

và thống nhất Bằng quy chế kiểm soát đặc biệt NHNN sẽ thực hiện tốt chức năng quản

lý của mình trong thực trạng hoạt động tín dụng diễn ra ngày một phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro Bởi, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ,

là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nên là cơ quan duy nhất thực hiện được chức năng quản lý nhà nước này Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì hệ thống các TCTD đã có sự phát triển trên cả hai phương diện số lượng

và chất lượng, chính vì vậy việc cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng từng bước được hình thành và ngày càng gia tăng Ví dụ điển hình cho việc cạnh tranh giữa các TCTD với nhau: vào đầu những năm 1990 thị trường tín dụng Việt Nam có 4 ngân hàng thương mại nhà nước chiếm gần như toàn bộ thị trường tiền gửi và cho vay, tuy nhiên hiện nay

có khoảng 100 ngân hàng hoạt động, vì vậy tính chất và mức độ cạnh tranh sẽ gay gắt và khiến cho môi trường tín dụng bị bất ổn Trong môi trường cạnh tranh thì tất yếu sẽ tồn tại sự cạnh tranh thiếu lành mạnh, việc các TCTD hoạt động thiếu linh hoạt chắc chắn sẽ

có nguy cơ bị đào thải,việc này sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế Nhận thức được điều này, công tác quản lý hoạt động tín dụng của các TCTD là cần thiết, với chức năng quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng, NHNN bằng quy chế kiểm soát đặc biệt quản lý các TCTD sẽ giúp hệ thống tài chính hoạt động một cách lành mạnh và vững chắc

1.1.2.2 Quy chế kiểm soát đặc biệt có cơ chế thực hiện đặc thù

Hoạt động kinh doanh chủ yếu của một TCTD đều có liên quan đến tiền tệ loại hình tiềm ẩn nhiều rủi ro, gian lận do là một lĩnh vực nhạy cảm có liên quan mật thiết đến hầu hết các tổ chức cá nhân trong xã hội nên nếu không có những biện pháp

Trang 16

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 9

kiểm soát kịp thời sẽ gây ra tình trạng mất ổn định xuất hiện và phản ứng dây chuyền là đều khó tránh khỏi Đáp ứng được yêu cầu cấp thiết đó, quy chế kiểm soát đặc biệt ra đời đã trở thành 1 công cụ quản lý đặc biệt và đem lại hiệu quả rất cao trong công tác quản lý nhà nước của NHNN

Cơ chế thực hiện việc kiểm soát đặc biệt được quy định một cách rõ ràng trong Luật các Tổ Chức Tín Dụng 2010, tính chất đặc thù được thể hiện rõ, khi một TCTD rơi vào một trong các nguy cơ bị dẫn đến tình trạng kiểm soát đặc biệt thì thống đốc NHNN ra quyết định đặt TCTD đó vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, ban kiểm soát đặc biệt sẽ được hình thành Thành viên ban kiểm soát đặc biệt là cán bộ của NHNN, bảo hiểm tiền gửi VN, các chuyên gia ngân hàng , các bộ của TCTD do NHNN trưng tập8 Chỉ khi quyết định đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt thì ban kiểm soát mới được hình thành, chính ban kiểm soát là chủ thể được NHNN trao quyền thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn nhằm giúp TCTD vượt qua tình trạng khó khăn, quyền hạn và nghĩa vụ cụ thể sẽ được người viết phân tích tại Chương 2 mục 2.3.2.2 Ban kiểm soát đặc biệt có địa vị pháp lý và cơ chế thành lập khác hoàn toàn khác ban kiểm soát ( cty cổ phần ) , kiểm soát viên ( cty TNHH 1 thành viên ) được thành lập theo quy định tại Điều 121 Luật Doanh Nghiệp 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009

Điểm khác cơ bản giữa Ban kiểm soát đặc biệt và Ban kiểm soát là ban kiểm soát đặc biệt không mặc nhiên xuất hiện khi TCTD thành lập như ban kiểm soát, ban kiểm soát đặc biệt được thành lập sau khi có quyết định đặt TCTD vào kiểm soát đặc biệt còn ban kiểm soát của công ty cổ phần được thành lập thông qua quyết định bầu thành viên ban kiểm soát của đại hội đồng cổ đông Sau khi được thành lập thì ban kiểm soát đặc biệt chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trong quá quá trình kiểm soát đặc biệt, quyền và nghĩa vụ tương đối toàn diện và bao quát toàn bộ cơ cấu tổ chức, hoạt động của TCTD9

Trang 17

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 10

1.2 Ý nghĩa của Quy Chế Kiểm Soát Đặc Biệt

1.2.1 Đối với hệ thống Tài Chính

Hệ thống tài chính được ví von là mạch máu của nền kinh tế quốc gia, các TCTD là chủ thể tạo nên hệ thống tài chính và là trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh tế, công cụ để truyền tải các thông điệp của NHNN đến nền kinh tế Vì là một chuỗi thống nhất hoạt động trên nguyên tắc tương trợ giúp đỡ lần nhau nên việc một ngân hàng nào gặp phải rủi ro sẽ dễ dàng tạo nên hiệu ứng xấu cho cả hệ thống tài chính Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy mối quan hệ của các ngân hàng thông qua việc một ngân hàng có thể vừa là chủ nợ vừa là con nợ, ví dụ như : Eximbank vay tiền của Sacombank, Hdbank lại vay tiền của Eximbank; hay Eximbank vay tiền của Sacombank, Sacombank lại cho Eximbank vay tiền Ngoài ra mối quan hệ của các ngân hàng có thể

là việc sở hữu cổ phần của nhau, thí dụ như Eximbank mua lại 9,7% cổ phần của Sacombank sau khi thoái toàn bộ hơn 8% cổ phần tại VietAbank vào cuối năm 2011 hay HDbank cũng dự định mua lại cổ phần của EVNbank10

Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động kinh doanh, một sự thay đổi nhỏ về khả năng thanh toán, khả năng chi trả của một ngân hàng sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng có liên quan

là điều tất yếu, vì thế việc xác định và đặt một ngân hàng vào kiểm soát đặc biệt giúp ngân hàng đó vượt qua nguy cơ khó khăn là cần thiết, tránh tình trạng lan tỏa rủi ro cho các ngân hàng khác

Do sự cộng hưởng giữa mối quan hệ mật thiết cùng tầm quan trọng đối với nền kinh tế nên việc các TCTD hoạt động linh hoạt và trôi trãi là đều mà các cơ quan quản lý nhà nước mong muốn, điển hình là NHNN cơ quan trực tiếp quản lý hoạt động của các TCTD thực hiện chức năng quản lý của mình thông qua quy chế kiểm soát đặc biệt sẽ giúp hệ thống tài chính quốc gia tránh khỏi những rủi ro hay khủng hoảng, hệ thống tài chính hoạt động một cách an toàn và hiệu quả

1.2.2 Đối với TCTD bị áp dụng Quy Chế Kiểm Soát Đặc Biệt

Đối với bất kỳ một doanh nghiệp hay một chủ thể kinh doanh nào khi tham gia vào hoạt động kinh doanh điều mong muốn đạt được thuận lợi và đem về lợi nhuận, tuy

10

Lữ Thành Long, Các ngân hàng đang nắm giữ nhau ra sao ?,

http://www.misa.com.vn/tin-tuc/tabid/91/newsid/9752/Cac-ngan-hang-dang-nam-giu-nhau-ra-sao.aspx [ truy cập ngày 29/9/2013 ]

Trang 18

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 11

nhiên trong môi trường kinh doanh luôn tồn tại kẻ yếu và kẻ mạnh việc kinh doanh yếu kém là không thể tránh khỏi Các TCTD cũng không là ngoại lệ đặc biệt khi hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, lĩnh vực kinh doanh được đánh giá là đem lại lợi nhuận cao cho chủ thể kinh doanh và không thể trách khỏi những rủi ro dây chuyền Thị trường tài chính Việt Nam hiện nay tồn tại khá nhiều TCTD bao gồm Ngân Hàng và nhiều công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính cùng nhau hoạt động Do số lượng các TCTD tăng lên quá nhanh, tính chất và mức độ cạnh tranh vì thế cũng ngày càng gay gắt Việc một số ngân hàng nhỏ chật vật tồn tại với lợi nhuận ngày càng ít ỏi hoặc liêu xiêu vì nợ xấu là hệ quả tất yếu Vì vậy, việc phát hiện kịp thời TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán để áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt của NHNN là cấp thiết, đưa ra một cơ hội giúp các ngân hàng có thể vượt qua được rủi ro Ban kiểm soát đặc biệt sau khi được thành lập với nhiệm vụ của mình chỉ đạo, giám sát việc triển khai các phương án củng cố tổ chức, hoạt động của TCTD nhằm khôi phục lại hoạt động kinh doanh Quy chế kiểm soát đặc biệt được thực hiện nhằm hạn chế tối đa những trường hợp TCTD phá sản hay buộc phải sáp nhập, hợp nhất vào một TCTD khác, nhằm tránh ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống tài chính quốc gia

1.3 Giới thiệu pháp luật điều chỉnh về Quy Chế Kiểm Soát Đặc Biệt đối với TCTD

1.3.1 Giai đoạn trước khi ban hành Luật Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam 1997 và

Luật các Tổ Chức Tín Dụng 1997

Sau thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, tuy đây là giai đoạn đầu tiên thực hiện với sự giới hạn kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước nhưng thời kỳ 1993 -1997 kinh tế Việt Nam giai đoạn này tăng trưởng nhanh chóng, kiềm chế được lạm phát Chính yếu tố tích cực từ nền kinh tế việc xuất hiện các TCTD là tất yếu để đáp ứng nhu cầu luân chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, thực hiện chức năng trung gian tài chính huy động vốn nhàn rỗi đưa vào thị trường tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh tế Tuy nhiên do nền kinh tế vừa mới phát triển nên hoạt động kinh doanh của các TCTD còn đơn giản chủ yếu là hoạt động vay và cho vay, phần lớn tập trung vào 4 Ngân Hàng thương mại nhà nước, chiếm gần như toàn

bộ thị trường tiền gửi và cho vay Mức độ cạnh tranh và hoạt động đơn giản, nên việc quản lý TCTD chưa đặt ra yêu cầu cấp thiết Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông

Trang 19

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 12

qua 2 Pháp lệnh Ngân hàng, Pháp lệnh 37 – LCT/HĐNN 8 ngày 23/5/1990 về ngân hàng nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh 38 – LCT/HĐNN 8 ngày 23/5/1990 về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính Hệ thống ngân hàng bắt đầu quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, căn bản và toàn diện phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Đảng, Nhà nước.Trong giai đoạn này việc quản lý các TCTD được áp dụng theo quy định tại Pháp lệnh 37 – LCT/HĐNN 8 của hội đồng nhà nước về ngân hàng nhà nước Việt Nam, xác định trách nhiệm quản lý Nhà nước của NHNNVN trong việc xây dựng và thực hiên chính sách tiền tệ của Nhà Nước, tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, phù hợp với đường lối đổi mới cơ cấu kinh tế và

cơ chế quản lý sản xuất kinh doanh, đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức

và cá nhân Trong đó Pháp lệnh quy định NHNN thực hiện vai trò Ngân Hàng đối với các TCTD, áp dụng các biện pháp quản lý nhằm bảo đảm sự tôn trọng các nguyên tắc hoạt động nghiệp vụ của các TCTD11; thanh tra các TCTD trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng12 Qua quy định của Pháp lệnh thì vai trò quản lý của NHNN đối với các TCTD đã được đề ra tại khoản 11 điều 3 của pháp lệnh, tuy nhiên nó chỉ dừng lại tại việc quy định chung chung rằng NHNN có vai trò thanh tra các TCTD về việc có tôn trọng các nguyên tắc hoạt động nghiệp vụ không, có chấp hành pháp luật về tiền tệ tín dụng, thanh toán không chứ chưa đề cập đến một quy chế kiểm soát đặc biệt nào đối với TCTD có nguy cơ gặp rủi ro Một quy định khác nữa của Pháp lệnh là NHNN có quyền bắt buộc các TCTD duy trì : các quỹ dự trữ pháp định; các nguồn tiền khác sẵn sàng thanh toán các khoản tiền gửi và nợ, theo quy định của NHNN; tỷ lệ dự trữ tối thiểu bắt buộc và các tỷ lệ an toàn khác 13

quy định này tiếp tục thể hiện vai trò quản lý của NHNN đối với TCTD nhằm giúp hoạt động kinh doanh của TCTD được an toàn

Nhìn chung tất cả quy định của pháp luật hiện hành về chức năng quản lý TCTD của NHNN chỉ dừng lại ở mức quản lý chung, chưa đưa ra một quy chế kiểm soát cho từng đối tượng cụ thể, khi một chủ thể hoạt động không hiệu quả Nguyên nhân có thể lý giải cho việc này, chính ở hệ thống TCTD của nước ta lúc này không phức tạp,số lượng

Trang 20

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 13

các TCTD còn hạn chế, nên vệc quản lý đơn giản, sức cạnh tranh giữa các ngân hàng chưa gay gắt Tuy nhiên với công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường việc mở cửa đất nước để hội nhập, là cơ hội cho các TCTD nước ngoài mở rộng tại Việt Nam, các TCTD trong nước sẽ hình thành để đáp ứng nhu cầu luân chuyển vốn, thì thử thách đặt ra cho NHNN trong giai đoạn sắp tới là phải có một quy chế quản lý hiệu quả hơn, nhằm đảm bảo an toàn hệ thống tín dụng quốc gia, khi sự cạnh tranh trở nên khốc liệt.Vì vậy những quy định quản lý sơ khai này là tiền đề cho một công cụ quản lý TCTD đặc biệt là quy chế kiểm soát đặc ra đời

1.3.2 Giai đoạn Luật Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam và Luật các Tổ Chức Tín

Dụng 1997

Trong giai đoạn này kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển theo cơ chế thị trường,

mở cửa hội nhập thì vấp phải khó khăn khi khu vực Đông Nam Á rơi vào khủng hoảng tài chính tiền tệ bắt đầu lan sang nhiều nước trong khu vực như Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia…nền kinh tế phát triển chậm lại vì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh, lạm phát tăng lên Với những quy định mang tính tiền đề trước đó cộng với yêu cầu cấp thiết đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính đang lan rộng, việc giúp hệ thống tài chính quốc gia được ổn định tránh bị cuốn hút vào cuộc khủng hoảng thì Luật các TCTD 1997, Luật Ngân Hàng NNVN 1997 được Quốc Hội thông qua tạo nền tảng pháp lý căn bản và mạnh mẽ hơn cho hệ thống ngân hàng tiếp tục đổi mới hoạt động phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế Luật Ngân Hàng NNVN 1997 đã tiếp tục

kế thừa và củng cố khẳng định tầm quan trọng của NHNN trong việc quản lý nhà nước

về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, hoạt động của NHNN nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các TCTD, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa14, ngoài ra NHNN còn kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng, kiểm soát tín dụng; xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm quyền Chức năng quản lý nhà nước của NHNN thể hiện rõ rệt đối với các TCTD trong quy định tại Khoản 2 điều 30 trong trường hợp đặc biệt, khi được thủ tướng chính phủ chấp nhận, NHNN cho vay đối với

14

Khoản 2, 3 điều 1 Luật Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam 1997

Trang 21

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 14

TCTD tạm thời mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống các TCTD Đây có thể xem là một bước tiến trong công tác quản lý các TCTD của NHNN, như phân tích ở phần trên vai trò quản lý của NHNN trong giai đoạn trước chỉ giới hạn trong việc thanh tra giám sát TCTD xem có thực hiện đúng quy định hay không nếu không thực hiện đúng những quy định về thanh toán, tín dụng nhưng đến đây thì mở rộng thêm việc cho một TCTD vay trong trường hợp xuất hiện rủi ro nhằm ổn định thị trường tài chính quốc gia Với một công cụ hoàn toàn mới là quy chế kiểm soát đặc biệt, thì việc quản lý các TCTD của NHNN sẽ hiệu quả hơn hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra, đáp ứng tình hình thực tế, khi hệ thống tín dụng trở nên sôi động

Đối với Luật các TCTD1997 đã có quy định về kiểm soát đặc biệt từ Điều 91 đến Điều 97 luật quy định kiểm soát đặc biệt là việc một TCTD được đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của NHNN do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán15 Như vậy, đến đây một công cụ quản lý đặc biệt đã được đề ra Luật còn quy định rõ ràng trách nhiệm của NHNN tại Khoản 2 điều 92 : NHNN có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện kịp thời những trường hợp có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán

Cụ thể đưa ra 3 trường hợp TCTD có thể được đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt là có nguy cơ mất khả năng chi trả; nợ không có khả năng thu hồi có nguy cơ mất khả năng thanh toán; lỗ lũy kế hơn 50% tổng số vốn điều lệ thực có và các quỹ Cùng với đó là những quy định về cơ chế áp dụng quy chế, quyền hạn và nhiệm vụ của Ban Kiểm Soát đặc biệt… tạo nên một hành lang pháp lý rõ ràng giúp NHNN thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước của mình

Giai đoạn này NHNN đã thực hiện công tác quản lý linh hoạt, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành chính sách tiền tệ Hệ thống các tổ chức tín dụng được chấn chỉnh, củng cố, từng bước xử lý nợ tồn đọng và nâng cao năng lực tài chính khi xuất hiện quy chế kiểm soát đặc biệt, đây là bước đệm để trong tương lai chúng ta hoàn thiện quy chế góp phần đảm bảo hệ thống tài chính hoạt động trôi trải thúc đẩy sự phát triển kinh tế quốc gia

15

Khoản 1 điều 92 Luật các TCTD 1997

Trang 22

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 15

1.3.3 Giai đoạn Luật các Tổ Chức Tín Dụng 1997 sửa đổi bổ sung năm 2004

Kinh tế Việt Nam tiếp tục xây dựng và phát triển theo định hướng nền kinh tế thị trường, nguồn vốn từ ngân sách và tín dụng lên tới 70% , tín dụng ngân hàng bơm ra đáng kể để đáp ứng với chính sách kích cầu qua việc phát triển doanh nghiệp quốc doanh Mức tăng tín dụng cao, yêu cầu hoạt động của các TCTD phải đa đạng hơn để đáp ứng tình hình chung, vì vậy việc sửa đổi bổ sung Luật các TCTD 1997 vào năm

2004 đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu này Luật các TCTD 1997 sửa đổi bổ sung 2004

đã mở rộng thêm cơ hội cho các TCTD nước ngoài được mở chi nhánh và văn phòng đại diện tại Việt Nam 16 đồng thời được phép góp vốn, mua cổ phần của TCTD Việt Nam theo quy định Mở rộng thêm các loại hình TCTD được phép thành lập theo pháp luật Việt Nam bao gồm thêm TCTD liên doanh, TCTD 100% vốn nước ngoài Chính những quy định này làm tăng cường thêm nguồn vốn, tăng nội lực tài chính đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế Tuy nhiên những quy định về quy chế kiểm soát đặc biệt vẫn không được điều chỉnh trong bối cảnh xuất hiện những loại hình TCTD mới gia nhập thị trường tài chính Việt Nam như đã nói ở trên Những quy định về quy chế kiểm soát đặc biệt trong Luật các TCTD 1997 vẫn tiếp tục được áp dụng, cho đến năm 2010, thì NHNNVN ban thành Thông tư 08/2010/TT-NHNN quy định cụ thể về quy chế kiểm soát đặc biệt

Lý giải cho việc này là vào năm 2007 thì Việt Nam chính thức là thành viên của WTO việc hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, chính vì vậy hoạt động của các TCTD trong nước

và nước ngoài trở nên sôi động, số lượng TCTD nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ngày càng nhiều Năm 2008 cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu lại tác động rất tiêu cực đến kinh tế nước ta chính vì vậy,Thông tư 08/2010/TT-NHNN quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với TCTD ra đời đã quy định một cách cụ thể, lý giải rành mạch biểu hiện của việc mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán, đưa ra các phương án củng cố tổ chức và hoạt động kinh doanh, cụ thể hóa thời hạn áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt đối với TCTD Pháp luật về quy chế kiểm soát đặc biệt đã từng bước được hoàn thiện, căn cứ đã đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi cho các TCTD trong nước cũng như đủ tạo niềm tin để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tuy nhiên với công

16

Điểm 2, khoản 2 điều 1 Luật các TCTD 1997 sửa đổi bổ sung 2004

Trang 23

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 16

cuộc hội nhập phát triển kinh tế từng ngày thì đòi hỏi công tác quản lý phải chặt chẽ hơn đáp ứng đúng tình hình thực tế Vì vậy yêu cầu đặt ra là phải hoàn thiện hơn, quy định chặc chẽ hơn về thủ tục áp dụng, điều kiện áp dụng quy chế khi một TCTD đang có nguy cơ rủi ro tiềm ẩn, để chính các cơ quan áp dụng thuận lơi tiến hành quản lý mặt khác các TCTD hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật

1.3.4 Giai đoạn Luật Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam 2010 và Luật các Tổ Chức

Tín Dụng 2010

Năm 2010 đánh dấu sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế, kéo theo như một xu hướng khách quan thì nhu cầu lưu thông vốn càng vươn cao, chính vì thế ngày càng nhiều TCTD ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu về tài chính song song đó việc quản lý những hoạt động tín dụng sẽ phức tạp hơn, đa dạng về hoạt động tín dụng, phong phú về loại hình kinh doanh và sức ép về cạnh tranh để tồn tại thì việc rủi ro diễn ra là không thể tránh khỏi, để đáp ứng tình hình quản lý trong thời kỳ mới, thời kỳ mở cửa toàn diện hòa nhập vào cuộc chơi cùng bè bạn quốc tế, một cơ chế quản lý chặt chẽ, một hành lang pháp lý vững chắc là rất cần thiết, vừa tạo niềm tin cho TCTD có thể mạnh dạng thực hiện việc đầu tư phát triển quy mô, tạo tâm ý an tâm cho người gửi tiết kiệm, đồng thời thu hút đầu tư nước ngoài đem lại nguồn thu và nâng cao sức mạnh kinh tế cho quốc gia

là cần thiết Tuy nhiên những quy định tại Luật các TCTD 1997 sửa đổi bổ sung 2004 đã không còn đáp ứng tốt việc quản lý TCTD trong thời kỳ mới, chính vì lẽ đó Luật Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam năm 2010, Luật các Tổ Chức Tín Dụng 2010 đã ra đời Luật NHNNVN năm 2010 tiếp tục kế thừa Luật NHNNVN 1997 ghi nhận NHNN là chủ thể

có chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối, tiếp tục khẳng định một lần nữa chức năng quản lý nhà nước tại Khoản 12 điều 4 quy định NHNN có quyền quyết định đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt Luật mới cũng

mở rộng thẩm quyền của NHNN khi TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, đe dọa sự ổn định của hệ thống các TCTD hay TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả do

sự cố nghiêm trọng khác thì NHNN có quyền xem xét quyết định cho vay đặc biệt đối với TCTD trong trường hợp nêu trên, trong Luật các TCTD 1997 cần phải có sự chấp thuận của Thủ Tướng Chính Phủ NHNN Đối với Luật các TCTD 2010 thì những quy

Trang 24

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 17

định về quy chế kiểm soát đặc biệt tiếp tục được quy định rõ ràng Như đã đề cập ở phần định nghĩa, Luật các TCTD 2010 đã quy định thêm 2 trường hợp TCTD sẽ bị áp dụng quy chế kiểm soát đặt biệt : 2 năm xếp loại yếu kém và không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu Nguyên nhân chính bắt nguồn từ số lượng TCTD hoạt động ngày một nhiều, hoạt động kinh doanh được mở rộng thêm những lĩnh vực có rủi ro cao như cho vay đầu tư bất động sản, chứng khoán…vì vậy quy định 2 biểu hiện trên là hợp lý trong bối cảnh hiện nay Tiếp tục vào năm 2013 để củng cố thêm tính vững chắc của cơ sở pháp lý Thông tư 07/2013/TT-NHNN về quy chế kiểm soát đặc biệt tiếp tục được ban hành, thông tư đã bổ sung hoàn chỉnh quy định về thời gian áp quy chế kiểm soát đặc biệt, điểm mà Luật các TCTD 2010 chưa quy định Về những quy định cụ thể của 2 văn bản đang có hiệu lực điều chỉnh về quy chế kiểm soát đặc biệt là Luật các TCTD 2010

và Thông tư 07/2013/TT-NHNN sẽ được người viết tiếp tục đề cập trong những phần sau của luận văn

Song hành cùng từng bước phát triển của nền kinh tế, quy chế kiểm soát đặc biệt đã từng bước được hoàn thiện, mang lại nhiều thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước của NHNN đối với các TCTD trong từng giai đoạn, đảm bảo cho hệ thống tín dụng quốc gia hoạt động an toàn và hiệu quả Tuy nhiên trước tình hình đất nước bước vào hội nhập quốc tế sâu và rộng hoạt động tín dụng trở nên đa dạng chi phối nền kinh tế ngày một mạnh mẽ Thiết yếu cần xây dựng một 1 hành lang pháp lý thật sự vững chắc 1

cơ chế quản lý phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ, thỏa lấp những điểm chưa rõ ràng của quy chế kiểm soát đặc biệt TCTD, qua đó tạo nên 1 cách hiểu thống nhất từ NHNN đến các TCTD Điều này không những nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu rủi ro cho hệ thống TCTD và cả rủi ro cho người gửi tiền mà còn tạo nên môi trường tài chính lành mạnh thu hút đầu tư góp phần to lớn vào công cuộc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng của Việt Nam hiện nay

Trang 25

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 18

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUY CHẾ KIỂM SOÁT ĐẶC BIỆT

ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Chương 1 vừa rồi đã giúp chúng ta có cái nhìn khái quát về quy chế kiểm soát đặc biệt, ở chương này người viết sẽ đi sâu phân tích quy định hiện hành của pháp luật về từng điều kiện cụ thể để áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt đối với một TCTD : trình tự thủ tục áp dụng, chấm dứt áp dụng quy chế và cụ thể hóa quyền, nghĩa vụ của chủ thể liên quan

2.1 Quy định pháp luật về trường hợp TCTD bị áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt

Theo quy định của Luật các TCTD 2010 NHNN sẽ xem xét, đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt khi TCTD lâm vào một trong các trường hợp :

- Có nguy cơ mất khả năng chi trả;

- Nợ không có khả năng thu hồi có nguy cơ dẫn đến mất khả năng thanh toán ;

- Khi lỗ lũy kế của TCTD lớn hơn 50% giá trị thực của vốn điều lệ và các quỹ dự

trữ ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất;

- Hai năm liên tục bị xếp loại yếu kém theo quy định của NHNN;

- Không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định.17

Việc quy định tất cả 5 trường hợp trên đã bao quát các trường hợp rủi ro có nguy cơ xảy ra ảnh hưởng đến hệ thống tài chính, đáp ứng cho công tác quản lý nhà nước theo từng thời kỳ So với trước đây luật hiện hành quy định mở rộng thêm 2 trường hợp TCTD bị xếp loại yếu kém hai năm liền và không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn thiểu là cần thiết đáp ứng được nhu cầu quản lý nhà nước trong thời kỳ đổi mới nền kinh tế như hiện nay khi lần lượt nhiều TCTD ra đời

2.1.1 TCTD rơi vào trường hợp rủi ro trong hoạt động tín dụng

Kinh doanh tiền tệ là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, một khi thị trường tài chính

có thêm nhiều chủ thể tham gia hoạt động, tính cạnh tranh sẽ trở nên khóc liệt Vậy nên vấn đề làm thế nào để tối thiểu hóa rủi ro tín dụng đồng thời đạt được mục tiêu lợi nhuận cao, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và an toàn luôn được quan tâm Do đó việc

17

Khoản 3 điều 146 Luật các TCTD 2010

Trang 26

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 19

pháp luật quy định chi tiết về những biểu hiện của một TCTD có nguy cơ vấp phải rủi ro tín dụng là cần thiết, thuận lợi cho công tác quản lý ngăn chặn rủi ro lây lan ra phạm vi rộng ảnh hưởng đến cả hệ thống tài chính Khi rơi vào những trường hợp bị coi là rủi ro tín dụng thì pháp luật đặc ra yếu cầu kiểm soát đặc biệt TCTD đó

2.1.1.1 TCTD mất khả năng chi trả

TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả là trường hợp đầu tiên để NHNN đặt TCTD vào kiểm soát đặc biệt, được quy định tại Điểm a khoản 3 điều 146 Luật các TCTD 2010 Như đã phân tích ở phần trước, Thông tư đang có hiệu lực số 07/2013/TT-NHNN ngày 14/3/2013 của NHNN hướng dẫn chi tiết về quy chế kiểm soát đặc biệt đối với TCTD không quy định cụ thể biểu hiện của việc mất khả năng chi trả của TCTD18

Trước đây, theo Thông tư 08/2010/TT-NHNN quy định về kiểm soát đặc biệt TCTD không đặt ra yêu cầu theo tiêu chí 1 : Tỷ lệ tối thiểu bằng 15% giữa tổng tài sản

“Có” thanh toán ngay và tổng Nợ phải trả, mà chỉ xác lập khả năng chi trả của TCTD trên cơ sở có đảm bảo được việc duy trì tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” có thể thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày tiếp theo và tổng tài sản Nợ phải thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày tiếp theo đối với từng loại đồng tiền Việc xác định 3 lần liên tiếp không duy trì được tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản

“ Có ” có thể thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày tiếp theo và tổng tài sản

“ Nợ ” phải thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày tiếp theo đối với từng loại đồng tiền được xem là mất khả năng chi trả mang tính chất định lượng, tính chất định lượng được thể hiện ở việc đưa ra số lần cụ thể là 3 lần Trong khi đó hiện tại Thông tư 07/2013/TT-NHNN lại không xác định theo số lần (3 lần) mà chỉ cần TCTD xuất hiện tình trạng mất cân đối trong tỷ lệ tối thiểu giữa tổng tài sản có và tổng tài sản nợ Như vậy với quy định hiện hành, khả năng chi trả của TCTD là một trong các tỷ lệ đảm bảo

an toàn mà TCTD cần duy trì khi hoạt động kinh doanh gắn liền với quy định tỷ lệ về khả năng chi trả tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD

18

So với Thông tư 08/2010/TT-NHNN trước đó của NHNN quy định về quy chế kiểm soát đặc biệt TCTD thì lại nêu rõ các căn cứ để xác định biểu hiện việc mất khả năng chi trả của TCTD: TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả, được biểu hiện 03 ( ba ) lần liên tiếp không đảm bảo tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “ Có ” có thể thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày tiếp theo và tổng tài sản “ Nợ ” phải thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày tiếp theo đối với từng loại đồng tiền

Trang 27

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 20

Cụ thể vấn đề trên, Thông tư 13/2010/TT-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD quy định : Cuối mỗi ngày, TCTD phải xác định và có các biện pháp để đảm bảo “các” tỷ lệ về khả năng chi trả cho ngày hôm sau như sau

Tiêu chí thứ nhất : Tỷ lệ tối thiểu bằng 15% giữa tổng tài sản “ Có ” thanh toán

ngay và tổng Nợ phải trả19

Tổng tài sản “ Có ” thanh toán ngay bao gồm: Số dư tiền mặt tại quỹ; số dư tiền gửi tại NHNN ( trừ tiền gửi dự trữ bắt buộc ), TCTD khác; giá trị các loại trái phiếu, công phiếu của Chính phủ hay của Ngân Hàng Trung Ương các nước thuộc OECD ( tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển ), tín phiếu kho bạc, tín phiếu do NHNN phát hành, trái phiếu do chính quyền địa phương, công ty đầu tư tài chính địa phương, Ngân Hàng Phát Triển Việt Nam phát hành; giá trị các chứng khoán.Tổng nợ phải trả được xác định bằng số dư trên khoản mục Tổng nợ phải trả20

Tiêu chí thứ 2: Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “ Có ” đến hạn thanh toán

trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau và tổng tài sản “ Nợ ” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau đối với đồng Việt Nam, đồng Euro, đồng Bảng Anh và đồng đô la Mỹ ( bao gồm đồng đô la Mỹ và các ngoại tệ khác còn lại được quy đổi sang đô la Mỹ theo tỷ giá liên ngân hàng cuối mỗi ngày )21 Trong đó tài sản

“ Có ” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau bao gồm : số dư tiền mặt tại quỹ cuối ngày hôm trước; số dư tiền gửi tại NHNN; số dư tiền gửi tại TCTD khác; giá trị các loại chứng khoán; số dư các khoản cho vay có bảo đảm, không bảo đảm22

Tài sản “ Nợ ” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau bao gồm : số dư tiền gửi không kỳ hạn của TCTD khác cuối ngày hôm trước; số dư tiền gửi

có kỳ hạn của TCTD khác, tổ chức, cá nhân đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể

từ ngày hôm sau; 15% số dư bình quân tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức, cá nhân; số

dư tiền vay từ Chính Phủ, NHNN, TCTD khác; số dư giấy tờ có giá do TCTD phát hành

Trang 28

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 21

đến hạn thanh toán; giá trị cam kết cho vay không hủy ngang, cam kết bảo lãnh vốn, bảo lãnh thanh toán; các khoản tiền lãi, phí đến hạn23

Cả hai tiêu chí người viết vừa trình bày là cơ sở để xác định khả năng chi trả của TCTD Trên cơ sở kết quả bảng theo dõi, trường hợp cuối mỗi ngày TCTD không đảm bảo các tỷ lệ trên thì TCTD phải có các biện pháp xử lý để hỗ trợ khả năng chi trả, đáp ứng các tỷ lệ về khả năng chi trả cho ngày hôm sau theo quy định; đồng thời báo cáo ngay cho NHNN cụ thể là cơ quan Thanh tra, Giám sát ngân hàng về các biện pháp xử

lý Nếu như sau khi thực hiện các biện pháp xử lý mà TCTD tiếp tục gặp khó khăn hoặc

có rủi ro về khả năng chi trả, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản, TCTD phải báo ngay cho NHNN khi đó NHNN được áp dụng các biện pháp cần thiết để xử lý đối với TCTD gặp khó khăn và có rủi ro về khả năng chi trả

Như thế, để kết luận được TCTD mất khả năng chi trả thì phải xét đồng thời cả

2 tiêu chí nêu trên, khi TCTD không đảm bảo khả năng chi trả dẫn đến yêu cầu phải được đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt và tăng cường khả năng về tỷ lệ đảm bảo an toàn cho TCTD đó Như vậy, cách quy định của Thông tư 07/2013/TT-NHNN đã chặt chẽ hơn, đặt ra cả 2 tiêu chí mà TCTD phải đảm bảo, chỉ cần xuất hiện tình trạng TCTD không đảm bảo tỷ lệ tối thiếu bằng 15% giữa tổng tài sản Có thanh toán ngay và tổng

Nợ phải trả cùng lúc với việc tỷ lệ giữa tổng tài sản Có đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau và tổng tài sản “ Nợ ” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau đối với từng loại đồng tiền thấp hơn 1 thì sẽ rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt Khi đó NHNN có thể can thiệp sớm hơn vào TCTD để kiểm soát khả năng chi trả của TCTD thay vì phải đợi đến 3 lần liên tiếp không đảm bảo tiêu chí thứ 2 như quy định của Thông tư 08/2010/TT-NHNN Quy định này không những làm nâng cao tính quản lý nhà nước của NHNN mà còn gia tăng tính an toàn khi hoạt động kinh doanh của các TCTD mở rộng sang các lĩnh vực có tính rủi ro cao đồng thời chi phối khá lớn đến sự phát triển của nền kinh tế như chứng khoán hay bất động sản

Lưu ý rằng, các quy định trong Thông tư 13/2010/TT-NHNN có đề cập đến giá trị sổ sách của vàng ở TCTD tuy nhiên theo quy định hiện hành thì của NHNN thì

23

Điểm 2.2 Khoản 2 điều 12 Thông tư 13/2010/TT-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD

Trang 29

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 22

TCTD không được thực hiện các nghiệp vụ tín dụng liên quan đến vàng nên người viết lược bỏ quy định này trong bài viết

2.1.1.2 TCTD mất khả năng thanh toán

Ở tiểu mục 1.1.1 Chương 1 người viết đã từng đề cập, khả năng thanh toán của TCTD đóng vai trò rất quan trọng trong việc tồn tại hoạt động của TCTD, mất khả năng thanh toán thì doanh nghiệp có thể lâm vào tình trạng phá sản quy định tại Điều 3 Luật Phá Sản 2004, ngoài ra rủi ro thanh toán có thể lan truyền từ một ngân hàng ra các ngân hàng khác thông qua mối liên hệ giữa các TCTD trên thị trường liên ngân hàng Vậy nên theo quy định khi TCTD rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán cũng là một trong các trường hợp để NHNN áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt24 Trong đó, pháp luật quy định nợ không có khả năng thu hồi có nguy cơ dẫn đến mất khả năng thanh toán của TCTD Tuy nhiên, tương tự ở trường hợp TCTD mất khả năng chi trả, Thông tư 07/2013/TT-NHNN quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với TCTD không quy định nợ không có khả năng thu hồi biểu hiện ở mức độ ra sao, tình trạng như thế nào

Trước đó trong Thông tư 08/2010/TT-NHNN quy định về quy chế kiểm soát đặc biệt TCTD, tình trạng mất khả năng thanh toán đã được quy định với biểu hiện của TCTD là: Nợ xấu chiếm từ 10% trở lên so với tổng dư nợ cho vay hoặc từ 100% tổng vốn tự có trở lên trong vòng 03 tháng liên tục25 Theo đó, nợ xấu hay nợ không có khả năng thu hồi bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn26

Nợ dưới tiêu chuẩn là các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi; Nợ nghi ngờ là khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao Và nợ có khả năng mất vốn là khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn27 Khả năng thanh toán là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng và sự an toàn trong hoạt động của TCTD, để đảm bảo khả năng thanh toán, TCTD phải duy trì được một tỷ lệ tài sản có nhất định dưới dạng tài sản

24 Điểm b khoản 3 điều 146 Luật các TCTD 2010

25

Khoản 2 điều 6 Thông tư 08/2010/TT-NHNN quy định về việc kiểm soát đặc biệt TCTD

26

Khoản 6 điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thống đốc NHNN về phân loại nợ, trích lập và

sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD

27

Khoản 6 điều 7 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thống đốc NHNN về phân loại nợ, trích lập

và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD.

Trang 30

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 23

( khả năng chuyển đổi thành tiền mặt dễ dàng) : chứng khoán, khoản phải thu, khoản nợ…, đặc biệt là các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt, tiền gửi ở NHNN và các công cụ dự trữ thanh khoản khác

2.1.2 TCTD lỗ lũy kế

Một khi các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh điều mong muốn đạt được nhiều lợi nhuận Tuy nhiên việc kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ của các TCTD luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, tất yếu các TCTD hoạt động không hiệu quả kinh doanh yếu kém phát sinh lỗ là điều không tránh khỏi vì vậy theo quy định của pháp luật: Khi số lỗ lũy kế của TCTD lớn hơn 50% giá trị thực của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất thì TCTD sẽ bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt28

Trong đó các khoản lỗ phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của TCTD, khoản lỗ này nếu phát sinh liên tục qua các năm được cộng dồn của các khoản lỗ trước đây lại với nhau mà lợi nhuận kinh doanh không đảm bảo bù trừ gọi là lỗ lũy kế

Tuy nhiên cần lưu ý rằng các số liệu để làm căn cứ xác định số lỗ lũy kế của TCTD phải dựa trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất Quy định về việc này thì Luật các TCTD 2010 có nêu rõ việc kiểm toán báo cáo tài chính của TCTD được thực hiện thông qua 2 giai đoạn : Đầu tiên báo cáo tài chính sẽ được kiểm toán nội bộ, kiểm toán nội bộ chuyên trách thuộc Ban Kiểm Soát sẽ thực hiện rà soát và đánh giá một cách độc lập và khái quát nhất Sau đó trước khi kết thúc năm tài chính, TCTD phải tiếp tục lựa chọn một tổ chức kiểm toán độc lập đủ điều kiện theo quy định của NHNN để kiểm toán các hoạt động của mình trong năm tài chính tiếp theo29 Kết quả của bảng báo cáo tài chính đã thực hiện kiểm toán theo đúng quy định trên là căn cứ để tính toán số lỗ lũy kế của TCTD, thông qua quy định kiểm toán này đảm bảo hạn chế tối thiểu tiêu cực xảy ra khi các TCTD báo cáo thiếu trung thực, đảm bảo việc áp dụng quy chế kịp thời và đúng thời điểm

Tuy nhiên vấn đề người viết quan tâm trong quy định này là báo cáo tài chính như thế nào được xem là gần nhất, theo quy định tại khoản 1 điều 141 Luật các TCTD

Trang 31

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 24

2010 thì TCTD phải thực hiện chế độ báo cáo theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và báo cáo hoạt động nghiệp vụ định kỳ theo quy định của NHNN, ở khoản 4 lại quy định thêm trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính, TCTD phải gửi NHNN báo cáo hằng năm theo quy định của pháp luật Vậy chúng ta hiểu báo cáo tài chính gần nhất mà điều 146 Luật các TCTD đang hướng đến là báo cáo tài chính cuối năm, vì đây là bảng báo cáo được kiểm toán

Pháp luật quy định áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt đối với TCTD bị lỗ lũy

kế trên thực tế rất hữu ích bởi vì xuất hiện lỗ lũy kế vượt 50% giá trị thực vốn điều lệ và quỹ dự trữ chứng tỏ hoạt động kinh doanh của TCTD là yếu kém, dưới sự chỉ đạo và giúp sức của Ban kiểm soát đặc biệt, TCTD bị áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt phải

có phương án củng cố tổ chức và hoạt động kinh doanh của mình Có thể nói, áp dụng quy chế trong trường hợp này là chiếc phao cứu sinh cần thiết, mở ra một cơ hội để cải thiện hoạt động kinh doanh yếu kém của TCTD nhằm giúp TCTD vượt qua khó khăn, nâng cao hiệu quả kinh doanh Vì vậy, TCTD nên trung thực thể hiện rõ tình hình hoạt động kinh doanh của mình trong báo cáo tài chính tạo điều kiện cho công tác quản lý của NHNN, mặc khác NHNN với cơ chế thanh tra giám sát cần theo dõi sát sao tình hình hoạt động của các TCTD để có biện pháp can thiệp kịp thời ổn định hệ thống tài chính quốc gia

2.1.3 TCTD bị xếp loại yếu kém

TCTD bị xếp loại yếu kém là 1 trong những quy định mới trong Luật các TCTD 2010 khi xác định áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt đối với TCTD Do tính chất đặc biệt và nhạy cảm của ngành, thông tin xếp loại TCTD, tiêu biểu là của hệ thống ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của rất nhiều bên, liên quan đến hoạt động tín dụng như nhà đầu tư, các cơ quan quản lý và chính ngân hàng được đánh giá Bản thân các ngân hàng nếu được xếp hạng cao cũng sẽ thu hút được thêm các nhà đầu tư, giá trị của ngân hàng cũng vì thế mà tăng lên Ngoài ra kết quả báo cáo xếp hạng cũng giúp hoạt động đầu tư, cấp tín dụng, bảo lãnh, hoạt động trong ngân hàng tránh được những rủi ro

và tổn thất đáng tiếc Xuất phát từ những vấn đề trên, pháp luật đã quy định TCTD 2 năm liên tục bị xếp loại yếu kém theo quy định của NHNN là điều kiện để NHNN áp

Trang 32

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 25

dụng quy chế kiểm soát đặc biệt30 Luật các TCTD 2010 đã quy định rõ TCTD bị xếp loại yếu kém theo quy định của NHNN, suy ra việc xếp loại này sẽ dựa trên 1 bộ quy tắc đánh giá chung cho các TCTD theo quy định của NHNN chứ không xếp loại TCTD dựa trên bộ quy tắc do chính NHNN ban hành

Lịch sử ban hành bộ quy tắc đánh giá chung cho các TCTD người viết tìm thấy Quyết định số 292/1998/QĐ-NHNN5 quy định về quy chế xếp loại các TCTD cổ phần Việt Nam và Thông tư 49/2004/TT-BTC của bộ Tài Chính ngày 03/6/2004 hướng dẫn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các TCTD Nhà Nước

Đối với quy định tại Thông tư 49/2004/TT – BTC hướng dẫn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các TCTD nhà nước thì TCTD nhà nước sẽ được đánh giá trên 6 chỉ tiêu và chia thành 3 nhóm :

Nhóm chỉ tiêu hoạt động chung bao gồm : Chỉ tiêu 1 tốc độ tăng huy động vốn;

chỉ tiêu 2 tốc độ tăng đầu tư vốn; chỉ tiêu 3 tỷ lệ khả năng sinh lời; chỉ tiêu 4 chấp hành

và thực hiện chính sách chế độ

Nhóm chỉ tiêu an toàn sử dụng vốn gồm chỉ tiêu 5 tỷ lệ nợ quá hạn

Nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận gồm chỉ tiêu 6 lợi nhuận thực hiện và tỷ suất lợi

nhuận trên vốn31

Với 6 chỉ tiêu đề ra và từng chỉ tiêu có cách xếp loại riêng, thông tư quy định TCTD nhà nước có 5 xếp loại như sau : TCTD xếp loại AAA nếu có đủ 6 tiêu chí xếp loại A; TCTD xếp loại AA phải có 5 chỉ tiêu xếp loại A và 1 chỉ tiêu xếp loại B, nhưng trong đó 3 chỉ tiêu 4,5,6 xếp loại A; TCTD xếp loại BBB nếu có đủ 6 chỉ tiêu xếp loại B trở lên nhưng không đủ điều kiện xếp loại AAA và AA; TCTD xếp loại BB phải có 5 chỉ tiêu xếp loại B trở lên và chỉ 1 chỉ tiêu xếp loại C, nhưng trong đó 3 chỉ tiêu 4,5,6 xếp loại B trở lên, TCTD xếp loại C nếu không đạt các loại xếp hạng trên32

Đối với TCTD là quỹ tín dụng nhân dân ( QTDND ) việc đánh giá xếp loại sẽ căn

cứ vào Quy chế xếp loại QTDND ban hành kèm theo Quyết định 14/2007/QĐ – NHNN ngày 9/4/2007 của thống đốc NHNN QTDND sẽ được xếp loại dựa trên 5 chỉ tiêu bao

Trang 33

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 26

gồm Vốn tự có; Chất lượng tài sản “ có ”; Quản lý; Kết quả kinh doanh; Khả năng chi trả33 với phương pháp đánh giá dựa trên số điểm mà QTDND đạt được của từng chỉ tiêu

và tổng điểm không quá 100 điểm Từng chỉ tiêu sẽ có một điểm số tối đa và tối thiểu sau khi cộng dồn điểm tất cả 5 chi tiêu lại với nhau, QTDND sẽ được xếp vào 1 trong 5 loại: Loại 1,2,3,4 hay 5 kết quả là xếp loại chung của QTDND Đối với xếp loại từng chỉ tiêu của QTDND sau khi được chuyển đổi sang thang điểm 100 nếu 1 trong ,5 chỉ tiêu dưới 50 điểm thì xếp loại chung của QTDND sẽ bị hạ 1 bậc Sauk hi xếp loại QTDND

Vụ các TCTD hợp tác có trách nhiệm phối hợp với Thanh tra NHNN đề xuất và trình Thống đốc NHNN biện pháp xử lý đối với QTDND xếp loại 4 và loại 534

Tương tự, tiêu chí đánh giá xếp loại NHTMCP ban hành kèm theo Quyết định 06/2008/QĐ – NHNN ngày 12/03/2008 của thống đốc NHNN cũng có 5 chỉ tiêu đánh giá xếp loại TCTD gồm: 1 Vốn tự có 2 Chất lượng tài sản 3 Năng lực quản trị 4 Kết quả hoạt động kinh doanh 5 Khả năng thanh khoản35 Việc đánh giá NHTMCP căn cứ vào số điểm từng chỉ tiêu, mỗi chỉ tiêu sẽ có mức điểm tối đa và tối thiểu riêng Nguyên tắc tính điểm là lấy điểm tối đa trừ đi số điểm bị trừ ở từng chỉ tiêu, những hoạt động nghiệp vụ nào không hoạt động thì không cho điểm đối với chỉ tiêu đó 36 quy định cũng nêu rõ tổng điểm đánh giá xếp loại tối đa cho NHTMCP là 100 điểm Theo đó sẽ có 4 xếp loại NHTMCP gồm loại A, B, C và D Đối với những NHTMCP xếp loại C, D Thanh tra NHNN sẽ đề xuất biện pháp xử lý37

Những NHTMCP xếp loại D theo quy định xếp loại NHTMCP được xem là TCTD

bị xếp loại yếu kém, bởi vì tất cả các chỉ tiêu dùng để đánh giá xếp loại TCTD ở cả 2 văn bản bao quát toàn bộ hoạt động kinh doanh cũng như năng lực thật của TCTD vì thế một khi TCTD bị xếp vào những loại trên phản ánh hoạt động của TCTD đó yếu kém Nếu tình trạng này tiếp diễn ở 2 năm liên tiếp NHNN sẽ đặt TCTD yếu kém đó vào kiểm

Trang 34

06/2008/QĐ-GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 27

soát đặc biệt, nhằm có biện pháp quản lý và xử lý phù hợp chấn chỉnh kịp thời, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh; đồng thời góp phần hoàn thiện hệ thống TCTD

2.1.4 TCTD không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

Bất kỳ 1 hoạt động kinh doanh nào cũng cần được duy trì và thúc đẩy nhờ vốn

vì vậy tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu trong hoạt động kinh doanh của TCTD đóng vai trò rất quan trọng Nhằm đảm bảo an toàn hoạt động cho toàn hệ thống tín dụng, Luật các TCTD 2010 quy định

TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải duy trì các tỷ lệ bảo đảm an toàn, một trong số đó là tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% hoặc tỷ lệ cao hơn theo quy định của NHNN trong từng thời kỳ38 Chính vì thế TCTD không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, cụ thể Luật các TCTD 2010 quy định rõ : TCTD không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu quy định trong thời hạn 1 năm liên tục hoặc tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp hơn 4% trong thời hạn 06 tháng liên tục39

là điều kiện để NHNN áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt đối với TCTD đó

Theo quy định hiện hành của NHNN tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu mà TCTD ( trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài ) phải duy trì là 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản

“ Có ” rủi ro của TCTD40

Như vậy tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được quy định trong Thông tư 13/2010/TT-NHNN cao hơn 1% so với Điểm b khoản 1 điều 130 Luật các TCTD 2010.Trong đó vốn tự có được thông tư quy định :

Vốn tự có = ( Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2 ) – Các khoản phải trừ

Vốn cấp 1 bao gồm tổng các khoản Vốn điều lệ ( vốn đã được cấp, vốn đã

góp ); Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ; Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ; Lợi nhuận không chia; Thặng dư cổ phần được tính vào vốn theo quy định của pháp luật, trừ đi phần dùng để mua cổ phiếu quỹ ( nếu có ) Vốn cấp 1 không bao gồm Lợi thế thương

Trang 35

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 28

mại41,Khoản lổ kinh doanh ( bao gồm các khoản lổ lũy kế ); Các khoản góp vốn, mua cổ

phần của TCTD khác; Các khoản góp vốn, mua cổ phần của công ty con của TCTD

Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong

một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty42

Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ là quỹ dùng để bổ sung vốn điều lệ43

Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ là quỹ dùng để đầu tư mở rộng quy mô hoạt

động kinh doanh và đổi mới công nghệ trang thiết bị, điều kiện làm việc của TCTD44

Lợi nhuận không chia là phần lợi nhuận được xác định qua kiểm toán của tổ

chức kiểm toán độc lập sau khi đã nộp thuế và trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật, được giữ lại để bổ sung vốn cho TCTD theo quy định của pháp luật45

Thặng dư cổ phần là khoảng chênh lệch tăng, giảm giữa giá phát hành cổ

phiếu so với mệnh giá cổ phiếu và chênh lệch tăng giảm giữa giá mua lại so với giá tái phái hành cổ phiếu quỹ46 Trong đó cổ phiếu quỹ là cổ phiếu đã được công ty cổ phần đại chúng phát hành và được chính công ty phát hàng đó mua lại bằng nguồn vốn hợp pháp

Vốn cấp 2 gồm tổng các khoản sau đây : 50% số dư có tài khoản đánh giá lại

tài sản cố định ( trụ sở, máy móc, thiết bị ); 40% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản chính ( cổ phiếu, trái phiếu, tiền gửi ngân hàng…); quỹ dự phòng tài chính [ tối đa bằng 1,25% tổng tài sản có rủi ro ]; đặc biệt đối với trái phiếu chuyển đổi do TCTD phát hành

và các công cụ nợ ( tín phiếu, kỳ phiếuphải đáp ứng các điều kiện quy định riêng cho từng loại ngoài ra còn phải đảm bảo tổng giá trị tối đa bằng 50% giá trị vốn cấp 147 Tổng giá trị vốn cấp 2 tối đa bằng 100% giá trị vốn cấp 1

41

Lợi thế thương mại là phần chênh lệch lớn hơn giữa số tiền mua 1 tài sản tài chính ( cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ

có giá khác) và giá trị sổ sách kế toán của tài sản tài chính đó mà TCTD phải trả phát sinh từ việc sáp nhập doanh nghiệp có tính chất mua lại do TCTD thực hiện theo Khoản 14 điều 2 Thông tư 13/2010/TT-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD

Trang 36

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 29

Các khoản phải trừ trong công thức Theo thông tư 13/2010/TT-NHNN về các

tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, tính vốn tự có bao gồm : 100% số dư

nợ tài khoản đánh giá lại tài sản cố định; 100% số dư nợ tài khoản đánh giá lại tài sản chính48

Qua phân tích người viết nhận thấy, các quy định của NHNN về xác định tỷ lệ

an toàn vốn tối thiểu cũng như những căn cứ để tính toán rủi ro điều dựa trên những yếu

tố : vốn điều lệ, các quỹ được phép trích lập hay giá trị tài sản của TCTD tất cả là cấu thành chính, quyết định đến hoạt động kinh doanh của TCTD Vì vậy, một TCTD không duy trì được quy định này việc áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt là hợp lý Và việc tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu như quy định hiện nay không những phản ánh sự quan tâm của NHNN trong việc nâng cao hơn nữa khả năng bảo đảm an toàn cho hệ thống tín dụng mà còn phù hợp với thông lệ quốc tế khuyến khích các ngân hàng tái cơ cấu và nâng cao tiềm lực

Bên cạnh những trường hợp đã nêu và phân tích quy định tại Thông tư 07/2013 về việc kiểm soát đặc biệt đối với TCTD của NHNN, khái niệm kiểm soát đặc biệt có đề cập TCTD vi phạm nghiêm trọng pháp luật dẫn đến nguy cơ mất an toàn hoạt động là điều kiện để NHNN áp dụng quy chế Tuy nhiên nội dung thông tư lại không đề cập đến TCTD vi phạm đến mức độ nào được gọi là nghiêm trọng, vi phạm trong những lịch vực cụ thể nào Trước đó Thông tư 08/2010 quy định về kiểm soát đặc biệt đối với TCTD quy định: TCTD vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng hoặc các trường hợp khác dẫn đến tình trạng TCTD hoạt động không an toàn, mất ổn đinh , Thống đốc NHNN có thể áp dụng các biện pháp giám sát đặc biệt TCTD49

Vì thế, chúng ta không thể xác định chính xác tinh thần của quy định này đang hướng đến TCTD vi phạm các quy định về lĩnh vực nào, mức độ ra sao Hơn nữa, nếu xét TCTD vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về tỷ lệ đảm bảo an toàn hay dự trữ bắt buộc đây lại là điều kiện để NHNN thu hồi giấy phép hoạt động của TCTD50 Vì thế cần cụ thể rõ ràng trong quy định này định mức vi phạm như thế nào là nghiêm trọng, cụ

Trang 37

GVHD: Ths LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH SVTH: THÁI NGỌC ÁI VI TRANG 30

thể lĩnh vực vi phạm đang được đề cập, việc xác định một cách rõ ràng nội hàm của quy định sẽ giúp việc áp dụng quy chế thêm thuận lợi và kịp thời

2.2 Quy định pháp luật về chủ thể liên quan đến quy chế kiểm soát đặc biệt

NHNN là chủ thể thực hiện vai trò quản lý Nhà Nước của mình đối với các TCTD, như người viết đã đề cập quy chế kiểm soát đặc biệt có cơ chế thực hiện đặc thù bởi hoạt động áp dụng quy chế chỉ duy nhất NHNN được thực hiện đối với các TCTD

và hoạt động này được thực hiện trực tiếp không thông qua bất cứ một cơ quan nào Vì vậy trong phần này, người viết trình xoay quanh 2 chủ thể là NHNN và TCTD

2.2.1 Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

NHNNVN là cơ quan ngang bộ của chính phủ, cơ quan duy nhất thực hiện chức năng quản lý Nhà Nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối với công cụ quản lý đặc biệt là quy chế kiểm soát đặc biệt NHNN có quyền quyết định đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt 51 Theo quy định của Luật các TCTD 2010 khi TCTD rơi những tình trạng mà Luật quy định là điều kiện để áp dụng quy chế kiểm soát đặc biệt thì NHNN quyết định đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt và thành lập Ban kiểm soát đặc biệt52 Tuy nhiên đến Thông tư 07/2013/TT-NHNN của NHNN về quy chế kiểm soát đặc biệt thì thẩm quyền đó cụ thể cho thống đốc NHNN, cụ thể: Thống đốc NHNN có thẩm quyền

 Quyết định việc đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt

 Quyết định thời hạn, gia hạn thời hạn, chấm dứt kiểm soát đặc biệt và nội dung giám sát đặc biệt, nội dung kiểm soát đặc biệt, nội dung kiểm soát toàn diện

 Quyết định thành lập Ban kiểm soát đặc biệt; cử, trưng tập cán bộ tham gia Ban kiểm soát đặc biệt; đề nghị cơ quan, tổ chức có liên quan cử cán bộ tham gia Ban kiểm soát

 Quyết định công bố thông tin kiểm soát đặc biệt

 Chỉ định người đại diện TCTD và xử lý những vấn đề do Ban kiểm soát đặc biệt đề nghị theo quy định

Ngày đăng: 05/10/2015, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w