1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của ngân hàng thương mại

90 435 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 740,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy có khá nhiều khái niệm về hoạt động bao thanh toán nhưng để tạo cách hiểu thống nhất và để dễ dàng quản lý việc thực hiện hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam, tại khoản 17 Điều 4 Luậ

Trang 1

KHOA LUẬT

BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 36 (2010 – 2014)

Tên đề tài

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

NGỤY NGỌC ANH NGUYỄN THỊ KIM HẰNG

Lớp: Luật Thương mại 2

Cần Thơ, tháng 12 năm 2013

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN



………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3



………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

Trang LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục luận văn 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động bao thanh toán 4

1.1.1.Trên thế giới 4

1.1.2.Ở Việt Nam 6

1.2 Khái niệm về hoạt động bao thanh toán 7

1.3 Đặc điểm của hoạt động bao thanh toán 10

1.4 Phân loại bao thanh toán………… 11

1.4.1 Theo khả năng bảo đảm quyền lợi của tổ chức tín dụng 12

1.4.1.1 Bao thanh toán có quyền truy đòi 12

1.4.1.2 Bao thanh toán không có quyền truy đòi 12

1.4.2 Theo phương thức bao thanh toán 12

1.4.2.1 Bao thanh toán từng lần 12

1.4.2.2 Bao thanh toán theo hạn mức 13

1.4.2.3 Đồng thanh toán 13

1.4.3 Theo phạm vi thực hiện bao thanh toán 14

1.4.3.1 Bao thanh toán trong nước 14

1.4.3.2 Bao thanh toán xuất – nhập khẩu 14

1.5 Phân biệt hoạt động bao thanh toán với một số hoạt động tín dụng khác của ngân hàng 14

1.6.Lợi ích và rủi ro từ hoạt động bao thanh toán 18

1.6.1 Lợi ích 18

1.6.1.1 Đối với tổ chức tín dụng 18

1.6.1.2 Đối với bên bán hàng 18

1.6.1.3 Đối với bên mua hàng 19

Trang 5

1.6.2.1 Đối với tổ chức tín dụng 20

1.6.2.2 Đối với bên bán hàng 20

1.6.2.3 Đối với bên mua hàng 20

Chương 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 2.1 Chủ thể của quan hệ bao thanh toán 22

2.1.1 Bên bao thanh toán – Ngân hàng Thương mại 23

2.1.1.1 Điều kiện để Ngân hàng Thương mại tiến hành hoạt động bao thanh toán 23

2.1.1.2 Quyền của bên bao thanh toán 28

2.1.1.3 Nghĩa vụ của bên bao thanh toán 29

2.1.2 Bên bán hàng 30

2.1.2.1 Quyền của bên bán hàng 30

2.1.2.2 Nghĩa vụ của bên bán hàng 31

2.1.3 Bên mua hàng 32

2.1.3.1 Quyền của bên mua hàng 32

2.1.3.2 Nghĩa vụ của bên mua hàng 33

2.2 Hợp đồng bao thanh toán 34

2.2.1 Hình thức hợp đồng 34

2.2.2 Nội dung hợp đồng 35

2.3 Quy định của pháp luật về quy trình thực hiện hoạt động bao thanh toán 36

2.4 Một số quy định khác của pháp luật về hoạt động bao thanh toán 42

2.4.1 Đồng tiền sử dụng trong bao thanh toán 42

2.4.2 Lãi và phí trong bao thanh toán 43

2.4.3 Bảo đảm cho hoạt động bao thanh toán 44

2.4.4 Gia hạn thanh toán và chuyển nợ quá hạn trong hoạt động bao thanh toán 47

2.4.5 Quy định về các khoản phải thu không được bao thanh toán 48

2.4.6 Quy định về an toàn trong hoạt động bao thanh toán 50

Chương 3

Trang 6

HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

3.1 Thực trạng hoạt động bao thanh toán và những hạn chế 53

3.1.1 Thực trạng bao thanh toán của các ngân hàng thương mại ở nước ta 53

3.1.2 Những hạn chế còn tồn tại 55

3.1.2.1 Quy định về lãi suất chưa rõ ràng 55

3.1.2.2 Pháp luật về bảo đảm trong bao thanh toán còn chung chung 55

3.1.2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên chưa được bảo đảm 57

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bao thanh toán 59

3.2.1 Về lãi suất 59

3.2.2 Về bảo đảm trong bao thanh toán 59

3.2.3 Về quyền và nghĩa vụ các bên 61

KẾT LUẬN 63 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Trang 7

là một trong những ngành có hoạt động sôi nổi và mang lại nguồn thu khá lớn đối với các ngân hàng, cũng như đối với ngân sách Nhà nước Khi kinh tế phát triển, nhu cầu

về sử dụng các dịch vụ nhằm phục vụ cho đời sống hằng ngày, việc sản xuất, kinh doanh cũng ngày càng tăng Ngân hàng Thương mại trở thành trung gian tín dụng, là nơi xoay chuyển nguồn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu để đáp ứng những nhu cầu về vốn cho cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp Do đó, để thu hút được khách hàng, cũng như nhằm phục vụ tốt nhất những nhu cầu của khách hàng, các Ngân hàng Thương mại phải cạnh tranh khốc liệt với nhau từ phát triển mạng lưới ngân hàng, hiện đại hóa công nghệ, nâng cao chất lượng nhân viên,… và đặc biệt là phải phát triển và

đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ Bên cạnh những dịch vụ truyền thống như cho vay, nhận tiền gửi,… Ngày nay các Ngân hàng Thương mại còn cung cấp dịch vụ mới, đáp ứng được nhu cầu về vốn cho bên bán hàng trong quan hệ mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đó là bao thanh toán

Trên thế giới, hoạt động bao thanh toán được hình thành từ rất lâu và đến nay đã trở thành lựa chọn hữu hiệu đối với những hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ mà bên mua không thể thanh toán ngay cho bên bán Bao thanh toán đã mang lại lợi ích thiết thực cho khách hàng cũng như lợi ích mà ngân hàng thu được từ hoạt động này Trong khi đó ở Việt Nam, mặc dù bao thanh toán đã manh nha xuất hiện cách nay hơn 20 năm, nhưng hoạt động này vẫn còn khá mới mẻ, chưa được nhiều khách hàng biết đến và lựa chọn dịch vụ bao thanh toán cho những quan hệ mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Tuy rằng bao thanh toán mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng lẫn ngân hàng, nhưng hoạt động này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi và phát triển ở nước

ta

Trang 8

Từ thực tế đó, cần có một giải pháp hữu hiệu, lâu dài và triệt để nhằm giúp người dân hiểu biết sâu rộng hơn về hoạt động bao thanh toán của các Ngân hàng Thương mại ở nước ta Thực hiện được điều này sẽ giúp cho hoạt động bao thanh toán phát huy tối đa những lợi ích đối với khách hàng và ngân hàng, đồng thời cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động bao thanh toán lành mạnh, an toàn và theo đúng những quy định của pháp luật, đảm bảo lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động bao thanh toán Xuất phát từ những lý do trên, người viết đã chọn đề

tài “Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại” để

nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Dựa trên việc tìm hiểu những quy định của pháp luật hiện hành đối với hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng để thấy được những lợi ích của hoạt động này đối với tình hình kinh tế hiện nay Bên cạnh đó, nhận ra được những mặt còn hạn chế trong hoạt động bao thanh toán làm ảnh hưởng đến chất lượng của họat động này,

và ảnh hưởng đến lợi ích của khách hàng, cũng như ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng Thương mại hiện nay Để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục những mặt còn hạn chế trong hoạt động bao thanh toán để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các bên, cũng như giúp cho hoạt động bao thanh toán được tiến hành thực hiện một cách rõ ràng và chặt chẽ hơn

3 Phạm vi nghiên cứu

Người viết nghiên cứu những quy định của pháp luật về hoạt động bao thanh toán trong nước ở các Ngân hàng Thương mại như: Điều kiện chủ thể trong quan hệ bao thanh toán, hợp đồng bao thanh toán, quy trình thực hiện hoạt động bao thanh toán Bên cạnh đó có một số quy định khác đối với hoạt động bao thanh toán như: Đồng tiền được sử dụng trong bao thanh toán, lãi và phí, bảo đảm cho hoạt động bao thanh toán, gia hạn thanh toán và chuyển nợ quá hạn trong hoạt động bao thanh toán, cũng như quy định về những khoản thu không được bao thanh toán và quy định về an toàn trong hoạt động bao thanh toán

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng các phương pháp như: Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp thống kê, phương

Trang 9

5 Bố cục luận văn

Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục bố cục của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về hoạt động bao thanh toán

Trong chương này trình bày về lịch sử hình thành hoạt động bao thanh toán, khái niệm về hoạt động bao thanh toán, phân loại bao thanh toán, cũng như những lợi ích và rủi ro từ hoạt động bao thanh toán đối với các bên khi tham gia vào hoạt động này Đồng thời người viết so sánh hoạt động bao thanh toán với một số hoạt động khác của tổ chức tín dụng để phân biệt được những hoạt động này với nhau

Chương 2: Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán theo pháp luật Việt Nam

Chương này người viết trình bày những quy định của pháp luật điều chỉnh về hoạt động bao thanh toán như điều kiện về chủ thể, hợp đồng bao thanh toán, quy trình thực hiện hoạt động bao thanh toán, và một số quy định khác của pháp luật đối với hoạt động bao thanh toán

Chương 3: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại

Đây là chương người viết trình bày về thực trạng hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại, trong đó có những thành tựu đạt được, đồng thời cũng có tồn tại những bất cập trong những quy định của pháp luật điều chỉnh về hoạt động bao thanh toán, đã khiến cho hoạt động này chưa phát huy hết tác dụng đối với nền kinh tế hiện nay Đồng thời trong chương này người viết đã đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN

Chương này tập trung tìm hiểu khái quát chung về hoạt động bao thanh toán như: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của hoạt động bao thanh toán, khái niệm, đặc điểm, phân loại bao thanh toán và cuối cùng là vai trò của bao thanh toán đối với các bên tham gia vào hoạt động bao thanh toán Đồng thời trong chương này người viết so sánh hoạt động bao thanh toán với hoạt động tín dụng khác của Ngân hàng Thương mại

1.1.1 Trên thế giới

Hoạt động bao thanh toán còn được gọi là Factoring, ngoài ra còn được gọi là nhượng quyền yêu cầu thanh toán, chuyển nhượng khoản phải thu (assignment of receivables) có lịch sử hình thành và phát triển cách nay khá lâu Khoảng 2000 năm trước dưới thời đế chế La Mã, khi người ta bắt đầu hoạt động giao thương và phát sinh các khoản nợ thương mại, hoạt động bao thanh toán đã xuất phát từ hoạt động đại lý hưởng hoa hồng Bởi vì là đại lý nên họ nắm giữ quyền sở hữu của hàng hóa bên ủy nhiệm (bên cung ứng sản phẩm nước ngoài), rồi giao hàng hóa đó cho người mua trong nước, đại lý thực hiện việc ghi sổ và thu nợ khi nợ đến hạn, sau khi đã trừ phần hoa hồng được hưởng thì họ chuyển phần dư nợ còn lại cho bên ủy nhiệm

Vào khoảng thế kỷ XIV – XV ngành công nghiệp ở Anh phát triển đã nâng cao tầm quan trọng của các đại lý bao thanh toán Khi đó, các đại lý bao thanh toán đã dần tin cậy vào khả năng trả nợ của người mua trong nước, họ bắt đầu cấp tín dụng cho bên

ủy nhiệm để hưởng hoa hồng cao hơn Với khoản hoa hồng được hưởng cao hơn trước, các đại lý bắt đầu bảo đảm khả năng trả nợ của người mua bằng cách hứa trả nợ đúng hạn cho người ủy nhiệm, và kể cả trong trường hợp người mua không trả nợ đúng hạn

1 Nguyễn Thanh Tú, Thông tin pháp luật dân sự, Một số vấn đề pháp lý của hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng, http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/02/08/93525/ [10/8/2013]

Trang 11

Một số đại lý có đủ vốn họ bắt đầu cho người ủy nhiệm được ứng trước một phần tiền dựa trên khoản thanh toán của người mua trong tương lai sẽ trả cho đại lý Chính vì cho ứng trước một phần tiền như vậy mà đại lý bao thanh toán được tính thêm phí hoa hồng hoặc tính thêm lãi suất đối với khoản nợ mà bên mua phải thanh toán cho đại lý bao thanh toán Vì vậy mà vào thế kỷ thứ XIV – XV hoạt động bao thanh toán ở Anh

đã dần phát triển hơn trước

Đến thế kỷ thứ XIX, bao thanh toán thật sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở

Mỹ, đó là kết quả của sự phân công lao động hợp lý trong xã hội Theo đó, người sản xuất, phân phối hàng hóa hay cung ứng dịch vụ chỉ tập trung vào hoạt động sản xuất, bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ; việc quản lý và thu tiền từ việc bán hàng hay cung ứng dịch vụ sẽ được tổ chức tín dụng đảm trách2 Trong giai đoạn này hoạt động bao thanh toán ở Mỹ phát triển sang những ngành công nghiệp điện, hóa chất, dệt may,… Ngày nay, hoạt động bao thanh toán ở Mỹ đã mở rộng sang các ngành nghề như quảng cáo, thiết kế đồ họa,…

Tuy đã được hình thành từ khá lâu nhưng hoạt động bao thanh toán chỉ trở thành một loại hình dịch vụ tài chính phổ biến ở nhiều quốc gia kể từ năm 1960 và cũng trong khoảng thời gian này, Hiệp hội bao thanh toán quốc tế (Factors Chain International - gọi tắt là FCI) đã được thành lập Kể từ đó hoạt động bao thanh toán phát triển khá nhanh trên thế giới

Bao thanh toán đã không còn mới mẻ đối với nhiều quốc gia trên thế giới và chính hoạt động này cũng đã đóng góp một phần không nhỏ vào doanh thu của các ngân hàng Tính đến năm 2008 đã có hơn 1.768 đơn vị thực hiên hoạt động bao thanh toán, trong số đó có 232 tổ chức bao thanh toán từ 63 thành viên của Hiệp hội bao thanh toán quốc tế Theo số liệu thống kê từ FCI thì doanh thu từ hoạt động bao thanh toán tính trên toàn thế giới trong 03 năm gần đây nhất đang trên đà tăng trưởng Cụ thể

là doanh thu bao thanh toán của toàn thế giới vào năm 2010 là 1.648.389 triệu Euro, đến năm 2011 thì doanh thu từ hoạt động này tăng lên đến 2.015.037 triệu Euro, và tiếp tục tăng lên đến 2.132.230 triệu Euro vào năm 2012 Nhìn chung doanh thu từ hoạt động bao thanh toán trên toàn thế giới liên tục tăng trong 03 năm gần đây, nhưng do ảnh hưởng chung về sự phát triển kinh tế của thế giới nên từ năm 2011 đến năm 2012

2 Nguyễn Thanh Tú, Thông tin pháp luật dân sự, Một số vấn đề pháp lý về hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng, http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/02/08/93525/ [10/8/2013]

Trang 12

doanh thu từ hoạt động này tăng trưởng chậm hơn giai đoạn năm 2010 đến 2011 Tuy nhiên, nhìn vào số liệu doanh thu của hoạt động này tăng trưởng dần trong 03 năm gần đây đã thể hiện được vai trò của bao thanh toán đối với hoạt động mua, bán hàng hóa ngày càng phổ biến hơn Điều này cho thấy rằng hoạt động bao thanh toán ngày càng trở nên phổ biến, được các tổ chức tín dụng quan tâm phát triển và các bên tham gia giao dịch đã nhận ra được những lợi ích đáng kể từ hoạt động bao thanh toán

1.1.2 Ở Việt Nam

Mặc dù hoạt động bao thanh toán đã xuất hiện trên thế giới từ rất lâu và các quốc gia phát triển đã thu được lợi nhuận khá lớn từ hoạt động này, nhưng mãi đến năm 1990 hoạt động bao thanh toán mới bắt đầu manh nha tại Việt Nam, tuy nhiên hoạt động này vẫn chưa có điều kiện để phát triển Vì là một loại hình dịch vụ mới mẻ đối với ngành tài chính Việt Nam nên các ngân hàng còn rất bỡ ngỡ với hoạt động bao thanh toán Vì vậy, đến năm 2004, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quy chế hoạt động bao thanh toán kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004

để hướng dẫn các ngân hàng thực hiện hoạt động bao thanh toán Chính sự ra đời của Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN đã làm tiền đề cho hoạt động bao thanh toán được đưa vào hoạt động tại các ngân hàng và càng ngày hoạt động này càng được quan tâm phát triển hơn

Những tổ chức tín dụng đầu tiên thực hiện hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam

là các chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài Vào tháng 01/2005, Deutsche Bank

AG là tổ chức tín dụng đầu tiên đi vào triển khai thực hiện hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam Tiếp sau đó là hàng loạt các ngân hàng khác cũng bắt đầu đưa hoạt động bao thanh toán đi vào hoạt động Cụ thể là vào tháng 02/2005, Far East National Bank cũng đã triển khai thực hiện hoạt động bao thanh toán Đến tháng 03/2005, hoạt động bao thanh toán cũng đã chính thức được UFJ Bank đưa vào hoạt động Và cho đến tháng 10/2005 thì City Bank cũng đã triển khai thực hiện hoạt động bao thanh toán

Đến nay, số lượng các tổ chức tín dụng ở Việt Nam có hoạt động bao thanh toán

đã tăng lên đáng kể như: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu Khí Việt Nam

Trang 13

(PVFC),… Trong số các ngân hàng nêu trên, có 04 ngân hàng đã tham gia vào Tổ chức Bao thanh toán quốc tế (FCI – Factors Chain International) đó là: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần

Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB), và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) Do còn e dè trong bước đầu thực hiện nên các ngân hàng này chỉ thực hiện hoạt động bao thanh toán nội địa có quyền truy đòi Sau một thời gian triển khai thực hiện, các ngân hàng nhận ra được những ưu điểm của hoạt động bao thanh toán và đã bắt đầu cung cấp dịch vụ bao thanh toán tập trung vào các ngành xuất khẩu được xem là thế mạnh của Việt Nam như: Dệt may, da giày, gỗ, thủy, hải sản đông lạnh,…

Theo số liệu thống kê từ Tổ chức bao thanh toán quốc tế thì doanh thu từ hoạt động bao thanh toán của các ngân hàng ở Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2012 như sau: Năm 2010 là 65 triệu Euro, năm 2011 là 67 triệu Euro và đến năm 2012 là 61 triệu Euro Có thể thấy từ năm 2010 đến năm 2011, doanh thu từ hoạt động bao thanh toán

có sự tăng trưởng, tuy nhiên đến năm 2012 doanh thu từ hoạt động này có chiều hướng giảm, có thể sự suy giảm này là do chịu sự ảnh hưởng của nền kinh tế chung Mặc dù doanh thu từ hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam vẫn chưa thật sự phát triển mạnh, chưa thể hiện hết những ưu điểm nổi trội của hoạt động này nhưng trên thực tế hoạt động bao thanh toán ở nước ta đang có chuyển biến tích cực, điều này thể hiện qua số lượng ngân hàng triển khai thực hiện hoạt động bao thanh toán ngày càng tăng, chứng

tỏ các ngân hàng cũng đã có sự quan tâm đến việc cung cấp loại hình tín dụng này

1.2 Khái niệm về hoạt động bao thanh toán

Với lịch sử ra đời lâu dài nên khái niệm về hoạt động bao thanh toán cũng khá

đa dạng

Theo các từ điển luật học, thuật ngữ bao thanh toán (factoring) thường được mô

tả là việc chuyển nhượng các khoản phải thu thương mại của người bán cho tổ chức bao thanh toán (factor)3 Điều này đồng nghĩa với việc tổ chức tín dụng (tổ chức bao thanh toán) mua khoản tiền phải thu của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ (bên bán hàng) Sau khi nhận được các khoản phải thu từ người bán, tổ chức tín dụng sẽ trao cho

3 Võ Đình Toàn, Giáo trình luật ngân hàng Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2005, tr 225

Trang 14

Xét về mặt hình thức, hoạt động bao thanh toán chính là việc bên bán hàng chuyển giao cho tổ chức bao thanh toán các chứng từ thương mại liên quan đến giao dịch mua bán giữa bên bán và bên mua Các chứng từ này là căn cứ để xác định sự tồn tại về mặt pháp lý và giá trị kinh tế của các khoản phải thu Các loại chứng từ thương mại thông thường gồm những lại sau: Chứng từ hàng hóa (hóa đơn bán hàng, hóa đơn vận tải), chứng từ tài chính (hối phiếu, lệnh phiếu)

Ngày nay, với tầm quan trọng và sự phát triển của hoạt động bao thanh toán, pháp luật mỗi quốc gia cũng chú trọng xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động bao thanh toán Tuy nhiên, để tạo cách hiểu thống nhất về hoạt động bao thanh toán trên phạm vi toàn thế giới, Công ước của UNDROIT về bao thanh toán quốc tế năm 1988 (còn được gọi là Công ước Ottawa năm 1988) đã định nghĩa về hoạt động bao thanh toán như sau:

“Bao thanh toán (factoring) là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản

nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng, theo đó

tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: Tài trợ bên cung

4 Võ Đình Toàn, Giáo trình luật ngân hàng Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2005, tr 226

Trang 15

ứng gồm cho vay và ứng trước tiền, quản lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng”5

Hoạt động bao thanh toán đã được mô tả một cách cụ thể để minh họa cho khái niệm này, đồng thời giúp chúng ta hiểu hơn về hoạt động này:

Đầu tiên, bên bán hàng hóa sẽ chuyển giao cho bên bao thanh toán các khoản phải thu phát sinh từ các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bên bán và bên mua (con nợ)

Sau đó, bên bao thanh toán sẽ thực hiện ít nhất 02 trong số các nghiệp vụ sau: Tài trợ tài chính cho người bán hàng (cho vay, hoặc thanh toán trước các khoản phải thu); quản lý giấy tờ, sổ sách kế toán liên quan đến khoản phải thu; thực hiện việc thu

nợ từ người mua; tiến hành các biện pháp phù hợp để giải quyết các hành vi gian lận của người mua

Sau cùng, bên mua hàng phải được thông báo chính thức bằng văn bản về việc khoản phải thu đã được bao thanh toán6

Bên cạnh Công ước Ottawa 1988, Tổ chức bao thanh toán quốc tế (FCI) cũng có

định nghĩa về hoạt động bao thanh toán như sau: “Bao thanh toán là môt loại hình dịch

vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ”7 Theo định nghĩa này, ta có thể hiểu hoạt động bao thanh toán là một sự thỏa thuận giữa bên bao thanh toán (factor) với bên bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hóa Theo như thỏa thuận này thì bên bao thanh toán sẽ mua lại các khoản phải thu từ người bán dựa trên khả năng trả nợ của người mua

Ngoài ra, theo một số tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ bao thanh toán, nghiệp

vụ bao thanh toán được hiểu đơn giản là việc mua lại các khoản phải thu, hay việc cung cấp tài trợ tài chính ngắn hạn thông qua việc trả các khoản phải thu ngay lập tức bằng tiền mặt để cải thiện dòng ngân lưu của khách hàng, đồng thời nhận lấy rủi ro tín dụng

5 Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nxb Thống kê, Tp.Hồ Chí Minh, 2009, tr 461

6 Võ Đình Toàn, Giáo trình luật ngân hàng Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2005, tr 227

7 Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nxb Thống kê, Tp.Hồ Chí Minh, 2009, tr 461

Trang 16

Các dịch vụ đi kèm gồm có quản lý nợ, quản lý sổ cái bán hàng, xếp hạng hạn mức tín dụng và thu hộ8

Tuy có khá nhiều khái niệm về hoạt động bao thanh toán nhưng để tạo cách hiểu thống nhất và để dễ dàng quản lý việc thực hiện hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam, tại khoản 17 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã nêu định nghĩa về bao

thanh toán như sau: “Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc

bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ”

Tuy nhiên để mọi người dễ hiểu hơn và dễ dàng trong việc thực hiện hoạt đông bao thanh toán, Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Quy chế hoạt động bao thanh toán của Tổ chức tín dụng,

khái niệm bao thanh toán đã được giải thích rằng: “Bao thanh toán là một hình thức

cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng hóa”

Mặc dù hoạt động bao thanh toán được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, nhưng chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản về hoạt động bao thanh toán là hình thức tài trợ cho những khoản thanh toán chưa đến hạn, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ, tóm lại đó là việc mua bán nợ Tuy nhiên, nhờ có sự chuyên môn hóa trong việc thu hồi nợ nên sau khi mua lại các khoản nợ, phía tổ chức tín dụng có thể nâng cao khả năng thu hồi nợ và giảm đi chi phí thu hồi

nợ Đối với bên bán hàng, sau khi đã bán các khoản phải thu cho tổ chức tín dụng, họ không còn bận tâm đến việc thu nợ mà chỉ cần tập trung vào sản xuất kinh doanh Từ khái niệm nêu trên, hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam cũng có những đặc điểm riêng của nó

1.3 Đặc điểm của hoạt động bao thanh toán

Thứ nhất, hoạt động bao thanh toán chính là một hình thức cấp tín dụng ngắn

hạn của tổ chức tín dụng Khi thực hiện quan hệ bao thanh toán, tổ chức tín dụng ứng

8 Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nxb Thống kê, Tp.Hồ Chí Minh, 2009, tr 462

Trang 17

trước cho khách hàng của mình (bên bán hàng) một khoản tiền nhất định thấp hơn giá trị thực tế của các khoản phải thu Phần chênh lệch này chính là phần phí và lãi tín dụng Thông thường những khoản thu được chấp nhận bao thanh toán là những khoản thu có thời hạn không quá 180 ngày

Thứ hai, hoạt động bao thanh toán dựa trên quan hệ về mua bán quyền tài sản

đó là quyền đòi nợ Do quyền đòi nợ là một loại tài sản được xác định từ một giao dịch thương mại cụ thể nên khi thực hiện hoạt động bao thanh toán, tổ chức tín dụng phải tiến hành phân tích toàn diện và trực tiếp các giao dịch làm phát sinh các khoản phải thu, tình hình tài chính và hoạt động của bên bán hàng và bên mua hàng Khi thực hiện hoạt động bao thanh toán, bên bán hàng phải chuyển giao toàn bộ chứng từ và các giấy

tờ liên quan đến giao dịch mua, bán để xác lập và chuyển giao quyền đòi nợ cho tổ chức tín dụng

Thứ ba, hợp đồng bao thanh toán chỉ liên quan đến khoản phải thu Bên mua

không được đòi lại số tiền đã thanh toán cho đơn vị bao thanh toán trong trường hợp bên bán hàng không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ các điều khoản quy định tại hợp đồng mua, bán hàng (điểm c khoản 2 Điều 25 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN)

Thứ tư, hoạt động bao thanh toán liên quan đến hai bên: Tổ chức tín dụng thực

hiện hoạt động bao thanh toán và khách hàng được tổ chức tín dụng bao thanh toán Trong đó, tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động bao thanh toán là các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, bao gồm:

Ngân hàng thương mại Nhà nước;

Ngân hàng thương mại cổ phần;

Ngân hàng liên doanh;

Ngân hàng 100% vốn nước ngoài;

Ngân hàng nước ngoài được mở chi nhánh tại Việt Nam theo Luật các tổ chức tín dụng;

Công ty tài chính;

Công ty cho thuê tài chính

Trang 18

Khách hàng được tổ chức tín dụng bao thanh toán là các tổ chức kinh tế Việt Nam và nước ngoài cung ứng hàng hóa và được thụ hưởng các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận giữa bên bán và bên mua trong hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Đối với Công ty cho thuê tài chính, chỉ được thực hiện bao thanh toán đối với khách hàng là bên thuê của Công

ty cho thuê tài chính

1.4 Phân loại bao thanh toán

Hiện nay bao thanh toán có nhiều loại, nhưng theo ý kiến người viết có 03 căn

cứ để phân loại bao thanh toán đó là: Theo khả năng đảm bảo quyền lợi của tổ chức tín dụng, theo phương thức bao thanh toán, và theo phạm vi thực hiện bao thanh toán

1.4.1 Theo khả năng bảo đảm quyền lợi của tổ chức tín dụng

Phân loại theo khả năng bảo đảm quyền lợi của tổ chức tín dụng bao gồm 02 loại bao thanh toán đó là: Bao thanh toán có quyền truy đòi, và bao thanh toán không

có quyền truy đòi

1.4.1.1 Bao thanh toán có quyền truy đòi

Bao thanh toán có quyền truy đòi được hiểu là đơn vị bao thanh toán có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu (điểm a khoản 1 Điều 11 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN) Điều này cũng có nghĩa rằng nếu bên mua hàng không trả được nợ hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì người bán hàng có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền đã được ứng trước cho đơn vị bao thanh toán

1.4.1.2 Bao thanh toán không có (miễn) quyền truy đòi

Bao thanh toán không có quyền truy đòi là đơn vị bao thanh toán chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu Đơn vị bao thanh toán chỉ có quyền đòi lại số tiến đã ứng trước cho bên bán hàng trong trường hợp bên mua hàng từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán hàng hàng giao hàng không đúng như thỏa thuận tại hợp đồng mua, bán hoặc vì một lý do

Trang 19

khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng (điểm b khoản 1 Điều

11 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN) Ở loại hình bao thanh toán này, hiểu đơn giản

là tổ chức bao thanh toán phải gánh chịu mọi rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán

1.4.2 Theo phương thức bao thanh toán

Phân loại bao thanh toán theo phương thức bao thanh toán bao gồm 03 loại bao thanh toán, đó là: Bao thanh toán từng lần, bao thanh toán theo hạn mức và đồng bao thanh toán

1.4.2.1 Bao thanh toán từng lần

Bao thanh toán từng lần là đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thực hiện các thủ tục cần thiết và ký hợp đồng bao thanh toán đối với các khoản phải thu của bên bán hàng (khoản 1 Điều 12 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN) Tức là mỗi khi có khách hàng

có nhu cầu bao thanh toán tại một ngân hàng, thì phải làm đúng những thủ tục, quy trình ký kết hợp đồng bao thanh toán

Ví dụ: Khách hàng A muốn được ngân hàng B bao thanh toán cho những khoản

phải thu phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng hóa của mình thì khách hàng A phải làm đúng những thủ tục mà ngân hàng B yêu cầu để ký kết 01 hợp đồng bao thanh toán Nếu như, khi hợp đồng bao thanh toán giữa ngân hàng B và khách hàng A đã chấm dứt, khách hàng A lại muốn ngân hàng B bao thanh toán cho những khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng hóa khác thì khách hàng A phải bắt đầu những thủ tục mới để ký kết 01 hợp đồng bao thanh toán mới với ngân hàng B

1.4.2.2 Bao thanh toán theo hạn mức

Bao thanh toán theo hạn mức là đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thỏa thuận xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một khoảng thời gian nhất định (khoản 2 Điều 12 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN)

Ví dụ: Khách hàng làm hồ sơ xin cấp hạn mức bao thanh toán gửi đến ngân

hàng, ngân hàng xem xét và cấp hạn mức bao thanh toán là 1 tỷ cho khách hàng đó

Trang 20

Khi có nhu cầu bao thanh toán đối với khoản phải thu từ hợp đồng mua, bán có giá trị

là 300 triệu, thì khách hàng sẽ thông báo để ngân hàng thực hiện bao thanh toán đối với khoản phải thu đó Lúc này hạn mức bao thanh toán còn lại là 700 triệu, và khách hàng

có thể tiếp tục yêu cầu ngân hàng thực hiện bao thanh toán đối với các khoản phải thu hợp pháp khác có giá trị không quá 700 triệu, thì ngân hàng sẽ tiếp tục thực hiện bao thanh toán để đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà không đòi hỏi khách hàng phải làm thủ tục như bắt đầu một quan hệ bao thanh toán mới

1.4.2.3 Đồng bao thanh toán

Đồng bao thanh toán là hai hay nhiều đơn vị bao thanh toán cùng thực hiện hoạt động bao thanh toán cho một hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, trong đó một đơn vị bao thanh toán làm đầu mối thực hiện việc tổ chức đồng bao thanh toán (khoản 3 Điều 12 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN)

Ví dụ: Một khách hàng đề nghị bao thanh toán tại ngân hàng A, nhưng nhu cầu

của khách hàng vượt quá khả năng của ngân hàng A, nên ngân hàng A đã thông báo cho ngân hàng B, và ngân hàng C cùng thực hiện bao thanh toán đối với khách hàng này (sau khi khách hàng chấp nhận để ba ngân hàng cùng thực hiện bao thanh toán cho mình), trường hợp này được gọi là đồng bao thanh toán

1.4.3 Theo phạm vi thực hiện bao thanh toán

Ở cách phân loại theo phạm vi, bao thanh toán được phân thành 02 loại, đó là: Bao thanh toán trong nước và bao thanh toán xuất – nhập khẩu

1.4.3.1 Bao thanh toán trong nước

Bao thanh toán trong nước là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng mua, bán hàng, trong đó bên bán hàng và bên mua hàng đều cư trú trong cùng một quốc gia và việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua, bán hàng đó cũng trong cùng quốc gia đó

1.4.3.2 Bao thanh toán xuất – nhập khẩu

Bao thanh toán xuất – nhập khẩu là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng xuất – nhập khẩu

1.5 Phân biệt hoạt động bao thanh toán với một số hoạt động tín dụng khác của ngân hàng

Trang 21

Để hiểu rõ hơn về hoạt động bao thanh toán, người viết so sánh những điểm khác nhau giữa hoạt động bao thanh toán với các hoạt động khác ngân hàng dựa trên những quy định của pháp luật hiện hành Người viết so sánh hoạt động bao thanh toán, cho vay, bảo lãnh ngân hàng, và chiết khấu với nhau dựa trên các tiêu chí như: Khái niệm, đối tượng, chủ thể, hình thức cấp tín dụng, và đối tượng bị đòi nợ

 Khái niệm

Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng

thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (khoản 17 Điều

4 Luật các tổ chức tín dụng)

Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao

cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng)

Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết

với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.

(khoản 18 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010)

Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công

cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán (khoản 19 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010)

Từ các khái niệm về các hoạt động của tổ chức tín dụng vừa nêu đã bộc lộ phần nào những điểm khác biệt cơ bản về chủ thể, đối tượng, đối tượng bị thu nợ của hoạt động bao thanh toán, cho vay, bảo lãnh ngân hàng, và chiết khấu Trước hết người viết

so sánh đối tượng mà các hoạt động này hướng tới

 Đối tượng

Trang 22

Bao thanh toán: Đối tượng của hoạt động này chính là những khoản phải thu

phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

Cho vay: Đối tượng của hoạt động cho vay là một khoản tiền mà tổ chức tín

dụng sẽ cấp cho bên đi vay theo hợp đồng tín dụng

Bảo lãnh ngân hàng: Đối tượng của hoạt động bảo lãnh là nghĩa vụ tài chính mà

bên được bảo lãnh không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ như đã thỏa thuận với bên nhận bảo lãnh

(hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc,…) và các loại giấy tờ có giá10

(trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi)

 Về chủ thể

Bao thanh toán: Chủ thể của hoạt động này gồm có bên bao thanh toán và bên

được bao thanh toán Bên bao thanh toán là tổ chức tín dụng được cấp phép để tiến hành thực hiện hoạt động bao thanh toán bằng hình thức cấp tín dụng cho khách hàng thông qua việc mua lại các khoản thu thương mại

Cho vay: Chủ thể trong hoạt động cho vay gồm bên cho vay là tổ chức tín dụng,

chi nhánh ngân hàng nước ngoài và bên đi vay là cá nhân, tổ chức thỏa mãn các điều kiện vay vốn do pháp luật quy định11

Bảo lãnh ngân hàng: Gồm có bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo

lãnh Ở đây bên bảo lãnh thường là các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Bên được bảo lãnh là tổ chức (bao gồm tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài), cá nhân là người cư trú và tổ chức là người không cư trú được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bảo lãnh Bên nhận bảo lãnh là tổ chức, cá nhân

là người cư trú hoặc người không cư trú có quyền thụ hưởng bảo lãnh do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành (các khoản 2, 3, 4, Điều 3 Thông tư

số 28/2012/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng)

9 Khoản 1 Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005

10 Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 04/2013/TT-NHNN quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng

11 Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN

Trang 23

Chiết khấu: Chủ thể trong hoạt động chiết khấu gồm bên chiết khấu (tổ chức tín

dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) và bên nhận chiết khấu là cá nhân, tổ chức thỏa mãn những điều kiện theo quy định của pháp luật12

Từ những quy định về chủ thể vừa nêu, chủ thể trong hoạt động bao thanh toán chỉ có bên bao thanh toán (tổ chức tín dụng) và bên được bao thanh toán (bên bán hàng), nhưng khi tiến hành hoạt động này thì lại có sự xuất hiện của bên mua hàng, là bên sẽ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tổ chức tín dụng, nhưng bên mua lại không được nhắc đến trong hợp đồng bao thanh toán Bên mua chỉ biết về khoản phải thu được bao thanh toán thông qua thông báo được gửi từ bên bán Song, đối với hoạt động cho vay, bảo lãnh ngân hàng, và chiết khấu, thì những chủ thể được đề cập đến trong hợp đồng cũng chính là người sẽ được hưởng những quyền lợi hợp pháp và thực hiện những nghĩa vụ như đã thỏa thuận trong hợp đồng

 Hình thức cấp tín dụng

Bao thanh toán: Ngắn hạn

Cho vay: Ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn

Bảo lãnh ngân hàng: Ngắn hạn, trung hạn hoặc hoặc dài hạn

Chiết khấu: Ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn

Có thế thấy rằng trong 04 hoạt động trên, chỉ riêng hoạt động bao thanh toán có hình thức cấp tín dụng duy nhất là ngắn hạn Bởi vì những khoản phải thu được bao thanh toán là những khoản thu có thời hạn thanh toán không dài hơn 180 ngày Trong khi đó, hoạt động cho vay, bảo lãnh ngân hàng, và chiết khấu thì các bên tham gia có thể thỏa thuận chọn hình thức cấp tín dụng ngắn hạn hoặc trung hạn hoặc dài hạn, sao cho phù hợp với nhu cầu của mình

 Đối tượng bị thu nợ

Bao thanh toán: Bên mua hàng

Cho vay: Chính người ký hợp đồng vay với tổ chức tín dụng

12 Khoản 3 Điều 2 Thông tư số 04/2013/TT-NHNN quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng

Trang 24

Bảo lãnh ngân hàng: Bên được bảo lãnh Hoặc trong trường hợp bên được bảo

lãnh không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ như đã cam kết với bên nhận bảo lãnh thì đối tượng bị thu nợ là bên bảo lãnh

Chiết khấu: Chính khách hàng ký hợp đồng chiết khấu với tổ chức tín dụng

Tương tự như phần so sánh về chủ thể, trong cả 04 hoạt động này chỉ có hoạt động bao thanh toán có đối tượng bị thu nợ là chủ thể không trực tiếp ký vào hợp đồng với tổ chức tín dụng Đối với ba hoạt động còn lại, đối tượng bị thu nợ chính là một trong những người đã ký kết hợp đồng với tổ chức tín dụng Qua những so sánh trên,

có thể thấy cả 04 hoạt động đều là những hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng, nhưng nét đặc trưng của hoạt động bao thanh toán đó là một hình thức cấp tín dụng ngắn hạn Đối tượng của quan hệ bao thanh toán là những khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Trong hợp đồng bao thanh toán chỉ có khách hàng (bên bán hàng) và tổ chức tín dụng Theo như thỏa thuận đã ký kết trong hợp đồng bao thanh toán với tổ chức tín dụng, khách hàng sẽ được ứng trước một khoản tiền theo giá trị đã thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ, nhưng đối tượng bị đòi nợ chính là bên mua (không tham gia trong việc ký kết hợp đồng bao thanh toán) Chính vì vậy, mục đích của việc so sánh các hoạt động tín dụng trên là để phân biệt được những điểm khác biệt cơ bản giữa các hoạt động, tránh sự nhầm lẫn mỗi khi nhắc đến một trong các hoạt động trên

1.6 Lợi ích và rủi ro từ hoạt động bao thanh toán

1.6.1 Lợi ích

1.6.1.1 Đối với tổ chức tín dụng (Đơn vị bao thanh toán)

Khi các tổ chức tín dụng triển khai thực hiện hoạt động bao thanh toán thì chính

tổ chức tín dụng cũng được hưởng một số lợi ích từ hoạt động này

Thứ nhất, việc thực hiện bao thanh toán sẽ góp phần đa dạng hóa các sản phẩm

dịch vụ của tổ chức tín dụng Điều này đã mang lại tiện ích cho khách hàng, đồng thời cũng mang về nguồn thu không nhỏ cho tổ chức tín dụng Bên cạnh những hình thức

Trang 25

cấp tín dụng phổ biến như cho vay, chiết khấu,… nay khi có thêm hoạt động bao thanh toán, thì tổ chức tín dụng có thêm một loại tín dụng mới, điều này sẽ làm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ của mình, đồng thời sẽ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng hơn Cũng chính vì thế, mà lãi suất và phí khi giao dịch bao thanh toán cũng góp phần làm tăng doanh thu cho tổ chức tín dụng

Thứ hai, các tổ chức tín dụng có cơ hội tiếp xúc với bên mua hàng, vì vậy đã

giúp cho tổ chức tín dụng có thêm khách hàng mà không phải tốn nhiều cho chi phí giới thiệu, quảng cáo, tìm kiếm khách hàng,… Khi tham gia vào hoạt động bao thanh toán, ngoài việc tiếp xúc với bên bán thì trong quá trình tiến hành thu các khoản phải thu như trong hợp đồng mua, bán hàng hóa đã thỏa thuận, tổ chức tín dụng sẽ có cơ hội tiếp xúc với bên mua, từ việc tiếp xúc đó, tổ chức tín dụng có cơ hội giới thiệu đến bên mua những hoạt động của mình mà không phải tốn chi phí giới thiệu, quảng cáo về tổ chức tín dụng, cũng như những sản phẩm mà tổ chức tín dụng muốn được khách hàng biết đến

1.6.1.2 Đối với bên bán hàng

Thứ nhất, bao thanh toán giúp cải thiện dòng lưu thông tiền tệ được nhanh hơn

Lượng tiền mặt của doanh nghiệp sẽ tăng lên, giúp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thuận lợi hơn Bao thanh toán có thể được xem như là chuyển hóa các khoản phải thu thành tiền mặt Đối với bên bán hàng, tiền mặt rất cần thiết trong việc trữ hàng và cả việc trả lương cho nhân viên Vì vậy, khi ký kết hợp đồng bao thanh toán, tổ chức tín dụng đã giúp cho bên bán tránh được sự thiếu hụt tiền mặt tạm thời trong khoảng thời gian từ lúc giao hàng cho đến hạn thanh toán như đã thỏa thuận Do đó, hoạt động sản xuất, kinh doanh của bên bán không bị ngưng trệ vì phải chờ đợi bên mua thanh toán tiền mua hàng

Thứ hai, bên bán hàng sẽ giảm được chi phí, công sức quản lý trong việc theo

dõi sổ sách Những công việc như quản lý nợ, thu nợ,… thay vì bên bán hàng phải theo dõi, quản lý, thì khi tiến hành giao dịch bao thanh toán, những công việc này sẽ được chuyển giao cho đơn vị bao thanh toán, vì vậy mà bên bán hàng sẽ giảm được chi phí, công sức trong việc quản lý sổ sách

Thứ ba, bao thanh toán giúp cho bên bán hàng có nguồn tài chính mới mà

không phụ thuộc vào các khoản vay ngân hàng Bởi vì khi đi vay ở ngân hàng thì đến

Trang 26

hạn thanh toán thì chính bên bán phải trả nợ cho ngân hàng, khi đó tài chính bên bán sẽ hụt đi một phần, và có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Cho nên khi tiến hành giao dịch bao thanh toán với ngân hàng thì bên bán sẽ được ứng trước giá trị khoản phải thu, sau đó ngân hàng sẽ tiến hành đòi nợ bên mua Vì vậy mà khi tiến hành giao dịch bao thanh toán thì bên bán sẽ có nguồn tài chính mới mà không phụ thuộc vào các khoản vay từ ngân hàng

Thứ tư, khi tham gia hoạt động bao thanh toán bên bán hàng có thể mở rộng thị

trường bán hàng, tăng khả năng cạnh tranh khi có thể cung cấp cho bên mua hàng phương thức thanh toán mới và hấp dẫn hơn Không phải lúc nào bên mua cũng có thể thanh toán các khoản phải thu theo đúng yêu cầu của bên bán hàng, mà có trường hợp bên mua đề nghị được mua hàng trả chậm, nếu bên bán không chấp nhận thì bên mua

sẽ không đặt hàng của bên bán mà tìm đến đối tác khác, chính điều này sẽ thu hẹp phạm vi hoạt động của bên bán hàng Do đó, khi tham gia hoạt động bao thanh toán bên bán hàng sẽ cung cấp cho bên mua một hình thức thanh toán mới, hấp dẫn hơn và

vì thế thị trường bán hàng của bên bán sẽ được mở rộng hơn

1.6.1.3 Đối với bên mua hàng

Thứ nhất, bên mua hàng có thể mua hàng theo điều khoản thanh toán sau Đồng

thời bên mua hàng cũng có thể được sử dụng hàng hóa, dịch vụ trước khi thanh toán tiền Bởi vì khi bên bán và tổ chức tín dụng ký kết hợp đồng bao thanh toán thì tổ chức tín dụng sẽ tiến hành thu nợ khi đến hạn thanh toán, do đó, bên mua sẽ có thời gian để chuẩn bị nguồn tiền để trả cho tổ chức tín dụng khi hạn thanh toán đến

Thứ hai, bên mua hàng vẫn có thể duy trì và phát triển mối quan hệ với bên bán

hàng Bởi vì bên bán hàng khi tham gia hoạt động bao thanh toán thì đã có nguồn tài trợ từ đơn vị bao thanh toán, nên bên mua hàng có thể không bị đòi nợ sớm mà chỉ phải trả nợ khi đến hạn thanh toán, hoặc có thể thỏa thuận với tổ chức tín dụng kéo dài thời gian thanh toán trong trường hợp gặp khó khăn về tài chính

1.6.2 Rủi ro

1.6.2.1 Đối với tổ chức tín dụng

Bị ràng buộc về trách nhiệm đối với bên bán hàng và bên mua hàng với tư cách

là một thành viên tham gia vào phương thức bao thanh toán Bên bán bán lại cho tổ chức tín dụng các khoản phải thu, điều này đồng nghĩa với việc toàn bộ rủi ro về thanh

Trang 27

toán đã được chuyển sang cho tổ chức tín dụng, bởi thế trong trường hợp khi đến hạn thanh toán mà người mua không có khả năng thanh toán tiền cho tổ chức tín dụng thì tổ chức tín dụng cũng đã hoàn thành nghĩa vụ trả tiền cho người bán thay cho bên mua

1.6.2.2 Đối với bên bán hàng

Trong trường hợp bên mua hàng không thanh toán tiền cho tổ chức tín dụng, thì bên bán hàng vẫn phải chịu trách nhiệm hay rủi ro từ phía người mua gây ra, đồng thời bên bán hàng còn phải có trách nhiệm hoàn lại số tiền đã ứng trước từ tổ chức tín dụng khi tổ chức tín dụng không thu được nợ từ bên mua

1.6.2.3 Đối với bên mua hàng

Bên mua có thể phải chịu rủi ro từ phía người bán gây ra, chẳng hạn như hàng hóa không đúng chất lượng, không đúng số lượng,… Hoặc có trường hợp bên bán làm chứng từ giả, lừa gạt đơn vị bao thanh toán để đòi nợ từ phía bên mua hàng, khiến cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của bên mua hàng gặp rắc rối, khó khăn Bên cạnh đó,

vì bên bao thanh toán chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ, và tiến hành đòi nợ khi đến hạn thanh toán, ngoài ra, chất lượng, số lượng hàng hóa ra sao thì trách nhiệm kiểm tra

là của bên bán và bên mua, cho nên bên mua buộc phải thanh toán tiền bất kể hàng hóa tốt hay xấu

Tóm lại, trong chương 1 này người viết đã đưa ra cái nhìn tổng quan về hoạt động bao thanh toán Khái niệm về bao thanh toán tuy được phát biểu bằng nhiều cách khác nhau, nhưng tất cả đều mang một nội dung chính đó là một hình thức tài trợ cho những khoản nợ chưa đến hạn, phát sinh từ các hoạt động mua, bán hàng hóa Đồng thời đây còn là một trong những hoạt động mang lại nguồn thu cho ngân hàng và góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế của Việt Nam Mặc dù hoạt động bao thanh toán vẫn chưa thật sự phổ biến ở Việt Nam, nhưng phải công nhận những lợi ích từ bao thanh toán mang lại cho các bên tham gia, song qua quá trình thực hiện vẫn tồn tại những rủi

ro từ chính hoạt động này, vì vậy nó cần có một hệ thống pháp luật điều chỉnh cụ thể,

và những quy định đó sẽ được tìm hiểu ở chương 2

Trang 28

CHƯƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trong chương này, người viết tập trung vào tìm hiểu quy định của pháp luật đối với hoạt động bao thanh toán hiện nay ở nước ta Trong đó có quy định về chủ thể tham gia vào hoạt động bao thanh toán, hình thức và nội dung của hợp đồng bao thanh

Trang 29

toán, trình tự, thủ tục để tiến hành hoạt động bao thanh toán, và một số quy định khác của pháp luật đối với hoạt động này

2.1 Chủ thể của quan hệ bao thanh toán

Hoạt động bao thanh toán là việc Ngân hàng Thương mại mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, mà các khoản phải thu này xuất phát từ hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ Việc mua lại các khoản phải thu đó được thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng bao thanh toán Hợp đồng này được xác lập dựa trên sự thỏa thuận giữa Ngân hàng Thương mại và bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhằm giúp các bên nắm được quyền lợi, và nghĩa vụ của mình trong giao dịch bao thanh toán

Trong giao dịch bao thanh toán, chủ thể tham gia bao gồm bên bao thanh toán (Ngân hàng Thương mại) và bên được bao thanh toán (bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ) Tuy nhiên, các chủ thể khi tham gia vào giao dịch này vẫn phải thỏa mãn những điều kiện mà pháp luật có quy định Việc quy định về điều kiện chủ thể giúp cho hoạt động bao thanh toán được rõ ràng, và hiệu quả hơn

Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào giao dịch bao thanh toán để giúp các bên biết được những quyền lợi mà mình được hưởng, và những nghĩa vụ mà mình phải thực hiện trong quá trình thực hiện hoạt động bao thanh toán Các quyền, nghĩa vụ này sẽ được phát sinh khi hợp đồng bao thanh toán bắt đầu có hiệu lực và kết thúc khi hợp đồng đã được hoàn thành, là khi bên bao thanh toán hoàn thành việc thu nợ từ bên mua hàng, và tất toán tiền với bên bán hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán

2.1.1 Bên bao thanh toán – Ngân hàng Thương mại

2.1.1.1 Điều kiện để Ngân hàng Thương mại tiến hành hoạt động bao thanh toán

Trong hoạt động bao thanh toán, chủ thể đầu tiên được đề cập đến đó là bên bao thanh toán – là Ngân hàng Thương mại được cấp phép để tiến hành cấp tín dụng cho khách hàng của mình dưới hình thức mua lại các khoản phải thu thương mại Bên bao

Trang 30

thanh toán được nhắc đến ở đây là Ngân hàng Thương mại, về bản chất pháp lý thì hoạt động bao thanh toán là một hoạt động kinh doanh có điều kiện, do đó để tiến hành hoạt động này thì bên bao thanh toán phải thỏa mãn các điều kiện do luật định

Vì Ngân hàng Thương mại là một trong những loại hình của tổ chức tín dụng nên những điều kiện chung của một tổ chức tín dụng cũng chính là những điều kiện được áp dụng đối với Ngân hàng Thương mại Theo quy định của pháp luật, một tổ chức tín dụng muốn tiến hành hoạt động bao thanh toán phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp Giấy phép Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã có quy định các điều kiện để một tổ chức tín dụng được cấp Giấy phép, trong đó có một số điều kiện tiêu biểu như:

* Có vốn điều lệ, vốn được cấp tối thiểu bằng mức vốn pháp định Mức vốn pháp định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng do Chính phủ quy định Cụ thể mức vốn pháp định đối với Ngân hàng Thương mại là 3.000 tỷ đồng, Ngân hàng nước ngoài

mở chi nhánh tại Việt Nam là 15 triệu USD, Công ty cho thuê tài chính là 150 tỷ đồng

* Chủ sở hữu tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên,

cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là pháp nhân đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực để tham gia góp vốn; cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có khả năng tài chính để góp vốn

* Người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định tại Điều 50 của Luật các tổ chức tín dụng quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý, người điều hành và một số chức danh khác của tổ chức tín dụng

- Theo đó, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc),

Kế toán trưởng, Giám đốc chi nhánh, Giám đốc công ty con và các chức danh tương đương không phải là những người sau đây: Người chưa thành niên, người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; người đã bị kết án về tội từ tội phạm nghiêm trọng trở lên; người đã bị kết án về tội xâm phạm sở hữu mà chưa được xóa án tích; cán bộ, công chức, người quản lý từ cấp phòng trở lên trong doanh nghiệp

mà Nhà nước nắm từ 50% vốn điều lệ trở lên, trừ người được cử làm đại diện quản lý

Trang 31

phần vốn góp của Nhà nước tại tổ chức tín dụng; sỹ quan, hạ sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại tổ chức tín dụng và các trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng

- Bên cạnh đó, những người thuộc những đối tượng liệt kê sau đây không được

là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương của tổ chức tín dụng: Người thuộc đối tượng không được tham gia quản

lý, điều hành theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật về phòng chống tham nhũng; người đã từng là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, Tổng giám đốc (Giám đốc), thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên

bố phá sản vì lý do bất khả kháng; người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tại thời điểm doanh nghiệp bị đình chỉ hoạt động, bị buộc giải thể do vi phạm pháp luật nghiêm trọng, trừ trường hợp là đại diện theo đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấn chỉnh, củng cố doanh nghiệp đó; người đã từng bị đình chỉ chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Trưởng Ban kiểm soát, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng hoặc bị cơ quan

có thẩm quyền xác định là người đó có vi phạm dẫn đến việc tổ chức tín dụng bị thu hồi Giấy phép; người có liên quan của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) không được là thành viên Ban kiểm soát của cùng tổ chức tín dụng; người có liên quan của Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên không được là Tổng giám đốc (Giám đốc) của cùng tổ chức tín dụng

- Ngoài ra, đối với thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên còn phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây: Có đạo đức nghề nghiệp; là cá nhân sở hữu hoặc người được ủy quyền đại diện sở hữu ít nhất 5% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp là thành viên Hội đồng thành viên, thành viên độc lập của Hội đồng quản trị hoặc có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế,

Trang 32

quản trị kinh doanh, luật hoặc có ít nhất 03 năm là người quản lý của tổ chức tín dụng hoặc của doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành bảo hiểm, chứng khoán, kế toán, kiểm toán hoặc có ít nhất 05 năm làm trực tiếp tại các bộ phận nghiệp vụ trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, kiểm toán hoặc kế toán

- Ngoài những điều kiện, tiêu chuẩn giống những điều kiện, tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên độc lập của Hội đồng quản trị còn phải đáp ứng những yêu cầu như: Không phải là người đang làm việc cho chính tổ chức tín dụng đó hoặc đã làm việc cho chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng đó trong 03 năm liền kề trước đó; không phải là người hưởng lương, thù lao thường xuyên của tổ chức tín dụng ngoài những khoản phụ cấp của thành viên Hội đồng quản trị được hưởng theo quy định; không phải là người có

vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em và vợ, chồng của những người này là cổ đông lớn của tổ chức tín dụng, người quản lý hoặc thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng; không trực tiếp, gián tiếp sở hữu hoặc đại diện sở hữu từ 1% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng; không cùng người có liên quan sở hữu từ 5% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng; không phải là người quản lý, thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng tại bất kỳ thời điểm nào trong 05 năm liền kề trước đó

- Đối với thành viên Ban kiểm soát cũng phải đáp ứng được những tiêu chuẩn, điều kiện dành riêng đối với họ như: Có đạo đức nghề nghiệp; có bằng đại học trở lên

về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật, kế toán, kiểm toán; có ít nhất

03 năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, kế toán hoặc kiểm toán; không phải là người có liên quan của người quản lý tổ chức tín dụng; thành viên Ban kiểm soát chuyên trách phải cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm

- Tổng giám đốc (Giám đốc) cũng cần phải đáp ứng được các tiêu chuẩn, điều kiện pháp luật quy định như: Có đạo đức nghề nghiệp; có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật; có ít nhất 05 năm làm người điều hành tổ chức tín dụng hoặc có ít nhất 05 năm làm Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) doanh nghiệp có vốn sở hữu tối thiểu bằng mức vốn pháp định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng theo quy đinh của pháp luật hoặc có

Trang 33

* Có Điều lệ hợp pháp

* Có Đề án thành lập, phương án kinh doanh khả thi, không gây ảnh hưởng đến

sự an toàn, ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng; không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống tổ chức tín dụng

Bên cạnh đó, để được cấp Giấy phép thì tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài ngoài những quy định vừa nêu, còn phải đáp ứng thêm các điều kiện sau đây:

* Tổ chức tín dụng nước ngoài được phép thực hiện hoạt động ngân hàng theo quy định pháp luật của nước nơi tổ chức tín dụng nước ngoài đặt trụ sở chính

* Hoạt động dự kiến xin phép thực hiện tại Việt Nam phải là hoạt động mà tổ chức tín dụng nước ngoài đang được xin phép thực hiện tại nước nơi tổ chức tín dụng nước ngoài đặt trụ sở chính

* Tổ chức tín dụng nước ngoài phải có hoạt động lành mạnh, đáp ứng các điều kiện về tổng tài sản có, tình hình tài chính, các tỷ lệ đảm bảo an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

* Tổ chức tín dụng phải có văn bản cam kết hỗ trợ về tài chính, công nghệ, quản trị, điều hành, hoạt động của tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài; bảo đảm các tổ chức tín dụng này duy trì giá trị thực của vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định và thực hiện các quy định về đảm bảo an toàn của Luật các tổ chức tín dụng

Trang 34

* Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã ký kết thỏa thuận với Ngân hàng Nhà nước về thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng, trao đổi thông tin, giám sát an toàn ngân hàng và có văn bản cam kết giám sát hợp nhất theo thông lệ quốc tế đối với

tổ chức tín dụng nước ngoài

Song, để được tiến hành hoạt động bao thanh toán, Ngân hàng Thương mại phải thực hiện việc đăng ký kinh doanh, đăng ký hoạt động theo quy định tại Điều 24 Luật

các tổ chức tín dụng: “Sau khi được cấp giấy phép, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân

hàng nước ngoài phải đăng ký kinh doanh; văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức tín dụng nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng phải đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật” Đồng thời, Ngân hàng Thương mại còn phải

công bố thông tin hoạt động theo quy định tại Điều 25 Luật các tổ chức tín dụng Theo

quy định này: “Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện

của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức tín dụng ngân hàng nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng phải công bố trên các phương tiện thông tin của Ngân hàng Nhà nước

và trên một tờ báo viết hàng ngày trong 03 số liên tiếp hoặc báo điện tử Việt Nam ít nhất 30 ngày trước ngày dự kiến khai trương hoạt động”

Ngoài ra, để được khai trương hoạt động, tổ chức tín dụng được cấp Giấy phép phải có đủ các điều kiện theo khoản 2 Điều 26 Luật các tổ chức tín dụng như sau:

* Đã đăng ký điều lệ tại Ngân hàng Nhà nước

* Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có đủ vốn điều lệ, vốn được cấp, có kho tiền đủ điều kiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, có trụ sở đủ điều kiện bảo đảm an toàn tài sản và phù hợp với yêu cầu hoạt động ngân hàng

* Có cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị, điều hành, kiểm toán nội bộ, quản lý rủi

ro, hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp với loại hình hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010 và các quy định khác của pháp luật có liên quan

* Có hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý, quy mô hoạt động

* Có quy chế quản lý nội bộ về tổ chức, hoạt động, của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), các phòng, ban chuyên môn nghiệp vụ tại trụ sở chính; quy chế nội bộ về quản lý rủi ro; quy chế về quản lý mạng lưới

Trang 35

* Vốn điều lệ, vốn được cấp bằng đồng Việt Nam phải được gửi đầy đủ vào tài khoản phong tỏa không hưởng lãi mở tại Ngân hàng Nhà nước ít nhất 30 ngày trước ngày khai trương hoạt động Vốn điều lệ, vốn được cấp giải tỏa khi tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã khai trương hoạt động

* Đã công bố thông tin hoạt động theo Điều 25 Luật các tổ chức tín dụng 2010 Bên cạnh những quy định nêu trên, để được hoạt động bao thanh toán thì tổ chức tín dụng còn phải đáp ứng được những điều kiện sau đây13:

* Điều kiện về thị trường, được thể hiện bởi việc xác định nhu cầu về hoạt động bao thanh toán;

* Điều kiện về hiệu quả tín dụng, thể hiện bằng tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ tại thời điểm cuối tháng của 03 tháng gần nhất dưới 5%, không vi phạm các quy định

về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng;

* Điều kiện về tuân thủ pháp luật thể hiện ở việc không thuộc đối tượng đang bị xem xét xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng hoặc đã bị xử lý

vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng nhưng đã khắc phục được hành

vi vi phạm

Với những quy định về điều kiện đối với tổ chức tín dụng vừa nêu, đã góp phần hạn chế những tổ chức tín dụng không đạt tiêu chuẩn hoạt động trên thực tế, đồng thời còn bảo vệ khách hàng khi tham gia vào các quan hệ tín dụng, và chính những quy định này đã giúp cho việc quản lý tổ chức tín dụng đạt hiệu quả hơn

2.1.1.2 Quyền của bên bao thanh toán

Trong quan hệ bao thanh toán, bên bao thanh toán thực hiện việc tài trợ tín dụng ứng trước cho bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và thu nợ từ bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ Để thực hiện các công việc này, pháp luật đã quy định về quyền của Ngân hàng Thương mại như sau:

* Yêu cầu bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cung cấp các thông tin và tài

liệu liên quan đến khoản phải thu, khả năng tài chính và tình hình hoạt động của bên bán hàng Mục đích của những yêu cầu này là để Ngân hàng Thương mại đánh giá

13 Điều 7 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng, ban hành kèm theo Quyết định số

1096/2004/QĐ – NHNN ngày 06/9/2004, được sửa đổi bổ sung bởi Quyết định số 30/2008/QĐ – NHNN ngày 16/10/2008

Trang 36

xem khoản phải thu đó phát sinh từ hợp đồng mua bán đúng với quy định của pháp luật hay trái quy định của pháp luật, và từ những yêu cầu trên, sẽ giúp tổ chức tín dụng xác định được là có hay không sự tồn tại của bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, để tránh trường hợp bên bán hàng lừa dối Ngân hàng Thương mại để trục lợi Đồng thời, khi biết được khả năng tài chính của bên bán hàng giúp cho Ngân hàng Thương mại tránh được rủi ro, bởi vì trong trường hợp bên mua không có khả năng thanh toán khoản phải thu thì Ngân hàng Thương mại sẽ thu nợ đối với người bán, do đó, nếu không đánh giá được khả năng tài chính, và tình hình hoạt động của bên bán hàng thì Ngân hàng Thương mại sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ

* Được yêu cầu bên bán hàng chuyển giao toàn bộ bảng kê kèm bản gốc hoặc

bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền về hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; chứng từ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; quyền, lợi ích và các giấy tờ liên quan đến khoản phải thu được bao thanh toán Pháp luật quy định quyền

này đối với Ngân hàng Thương mại để giúp cho việc đòi nợ đối với bên mua hàng hóa, cung ứng dịch vụ như đúng với những thỏa thuận giữa bên bán và bên mua

* Có quyền đòi nợ đối với bên mua hàng theo giá trị khoản phải thu được bao

thanh toán và được hưởng các quyền và lợi ích khác mà người bán hàng được hưởng theo quy định tại hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

* Được chuyển quyền đòi nợ, trừ trường hợp các bên trong hợp đồng bao thanh

toán có thỏa thuận không được chuyển giao quyền đòi nợ

2.1.1.3 Nghĩa vụ của bên bao thanh toán

Quyền và nghĩa vụ luôn đối xứng nhau, vì vậy, để được hưởng các quyền của mình thì Ngân hàng Thương mại cần phải thực hiện đúng và đầy đủ những nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán như:

* Thanh toán cho bên bán hàng theo giá mua khoản phải thu đã được thỏa

thuận trong hợp đồng bao thanh toán

* Chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ

thanh toán khoản phải thu trong trường hợp thực hiện bao thanh toán không có quyền truy đòi

Trang 37

* Thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng bao

thanh toán

2.1.2 Bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

Bên bán hàng là bên được bao thanh toán, có các khoản phải thu phát sinh và đã được thỏa thuận theo hợp đồng mua, bán hàng hóa với bên mua Theo quy định hiện hành về tư cách pháp lý của bên được bao thanh toán tại điểm 2.2 khoản 2 Điều 1 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng, ban hành kèm theo Quyết định

số 1096/2004/QĐ-NHNN là: “Khách hàng được tổ chức tín dụng bao thanh toán là

các tổ chức kinh tế Việt Nam và nước ngoài cung ứng hàng hoá và được thụ hưởng các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá theo thoả thuận giữa bên bán hàng và bên mua hàng tại hợp đồng mua, bán hàng (sau đây được viết tắt là bên bán hàng)” Bên cạnh đó tại khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005 cũng quy định:

“Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động

thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Thêm nữa tại

khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có

tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Từ các định

nghĩa này, có thể nhận thấy rằng bên được bao thanh toán sẽ là tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp như: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh; và các tổ chức kinh

tế thành lập theo Luật đầu tư như: Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm,… có các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Tóm lại, theo quy định hiện hành thì đối tượng được bao thanh toán là rất rộng, tuy nhiên, để được ngân hàng tiến hành hoạt động bao thanh toán thì phải tồn tại khoản phải thu, và khoản phải thu này phải xuất phát từ hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Do đó ý nghĩa của quy định này nhằm xác định tính chất thương mại của các khoản phải thu là đối tượng của hoạt động bao thanh toán14

Trang 38

Sau khi ký hợp đồng bao thanh toán thì bên bán hàng có quyền duy nhất đó là nhận tiền thanh toán của đơn vị bao thanh toán theo giá mua, bán khoản phải thu đã thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán Tuy nhiên trên thực tế, bên được bao thanh toán sẽ không được nhận 100% giá trị của khoản phải thu ngay một lần, mà Ngân hàng Thương mại chỉ ứng trước cho bên được bao thanh toán một số tiền nhất định, cho đến khi nhận được tiền thanh toán từ bên mua thì Ngân hàng Thương mại sẽ thanh toán phần tiền còn lại cho bên bán sau khi đã trừ đi lãi, phí và khoản tiền mà bên bán hàng

đã được ứng trước

Ví dụ: Khi bên bán ký hợp đồng bao thanh toán với Ngân hàng Á Châu (đã

được bên mua chấp nhận) thì ngân hàng sẽ ứng trước cho bên bán hàng 80% giá trị khoản phải thu Sau đó, ngân hàng sẽ thu tiền từ bên mua khi các khoản thu đến hạn Khi nhận được tiền từ bên mua hàng, ngân hàng sẽ chuyển số tiền còn lại vào tài khoản của bên bán

2.1.2.2 Nghĩa vụ của bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

Bên cạnh quyền được nhận tiền từ Ngân hàng Thương mại thì bên bán hàng còn phải thực hiện đúng các quy định về nghĩa vụ của mình như:

* Cung cấp đầy đủ, chính xác và trung thực thông tin, tài liệu và báo cáo theo

yêu cầu của đơn vị bao thanh toán Để nhận được tiền từ Ngân hàng Thương mại thì

đầu tiên bên bán hàng phải thực hiện đúng nghĩa vụ này, bởi vì Ngân hàng Thương mại cần phải kiểm tra tính chính xác, và trung thực của đối tượng mà mình sắp phải chuyển giao tiền cho họ

* Thông báo cho bên mua hàng và các bên liên quan theo quy định Theo đó,

bên bán hàng gửi văn bản thông báo về hợp đồng bao thanh toán cho bên mua hàng và các bên liên quan, trong đó nêu rõ việc bên bán hàng chuyển giao quyền đòi nợ cho đơn vị bao thanh toán và hướng dẫn bên mua hàng thanh toán cho đơn vị bao thanh toán Bởi vì khi bên bán ký hợp đồng bao thanh toán với Ngân hàng Thương mại, thì Ngân hàng Thương mại sẽ tiến hành đòi nợ từ bên mua, chính vì vậy mà bên mua cần thiết được biết mình sẽ phải thanh toán tiền cho ai, và nếu bên mua đồng ý thì hợp đồng bao thanh toán mới được thực hiện

* Chịu rủi ro khi bên mua không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán

các khoản phải thu trong trường hợp bao thanh toán có quyền truy đòi Tức là trong

Trang 39

trường hợp bên mua không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu cho Ngân hàng Thương mại thì bên bán phải có nghĩa vụ trả lại số tiền mà Ngân hàng Thương mại đã cho bên bán ứng trước

* Chuyển giao đầy đủ và đúng hạn cho đơn vị bao thanh toán toàn bộ bảng kê

kèm bản gốc (hoặc bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền) hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; chứng từ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; quyền, lợi ích và các giấy tờ khác có liên quan đến khoản phải thu được bao thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán

* Thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng bao

thanh toán và hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

Dựa vào quy định về khái niệm bao thanh toán, quyền, nghĩa vụ của bên được bao thanh toán ta có thể rút ra được vài nhận xét về bên được bao thanh toán phải là bên bán hàng trong hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; bên được bao thanh toán phải là chủ sở hữu hợp pháp của các khoản phải thu và được quyền chuyển nhượng các khoản phải thu này; bên được bao thanh toán phải chưa chuyển nhượng các khoản phải thu này cho bất kỳ ai trước đó

2.1.3 Bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ

Mặc dù hợp đồng bao thanh toán chỉ được ký kết giữa bên bán và Ngân hàng Thương mại, nhưng bên mua chính là bên sẽ thanh toán khoản phải thu cho Ngân hàng Thương mại sau khi đã chấp nhận thông báo về việc chuyển giao quyền đòi nợ cho Ngân hàng Thương mại của bên bán Vì vậy mà pháp luật cũng có những quy định về quyền, nghĩa vụ đối với chủ thể này

2.1.3.1 Quyền của bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ

* Được thông báo về việc bao thanh toán Hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung

ứng dịch vụ được bên bán và bên mua ký kết với nhau, và trong hợp đồng này hai bên

có thỏa thuận về việc thanh toán các khoản phải thu Tuy nhiên, khi bên bán ký kết hợp đồng bao thanh toán với Ngân hàng Thương mại thì Ngân hàng Thương mại sẽ tiến hành thu khoản phải thu từ bên mua, do đó bên mua cần được biết về việc bên bán đã chuyển giao quyền đòi nợ cho Ngân hàng Thương mại

Trang 40

* Không thay đổi về quyền lợi và nghĩa vụ quy định tại hợp đồng mua, bán hàng

hóa, cung ứng dịch vụ, ngoại trừ bên nhận tiền thanh toán khoản phải thu Việc điều chỉnh các điều khoản quy định tại hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ phải được bên mua hàng chấp thuận bằng văn bản Quy định này cho thấy rằng mặc dù bên

bán ký hợp đồng bao thanh toán với Ngân hàng Thương mại, thì quyền lợi và nghĩa vụ của bên mua trong hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà bên bán và bên mua đã ký trước đó vẫn không thay đổi Tuy nhiên, thay vì theo hợp đồng mua, bán hàng hóa đã ký ban đầu giữa bên bán và bên mua thì bên bán sẽ nhận tiền thanh toán khoản phải thu, nhưng khi bên bán đã ký hợp đồng bao thanh toán với Ngân hàng Thương mại thì Ngân hàng Thương mại sẽ nhận tiền thanh toán khoản phải thu từ bên mua, và sự thay đổi này không làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của bên mua trong việc mua, bán hàng hóa Vì vậy, việc điều chỉnh các điều khoản trong hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa bên bán và bên mua cần phải được bên mua đồng

ý bằng văn bản thì việc điều chỉnh đó mới hợp lệ

2.1.3.1 Nghĩa vụ của bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ

* Xác nhận bằng văn bản về việc đã nhận được thông báo và cam kết thanh

toán theo quy định Theo đó, bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ gửi văn bản cho bên

bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và Ngân hàng Thương mại toán xác nhận về việc đã nhận được thông báo và cam kết về việc thực hiện thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Trường hợp bên mua hàng không có văn bản cam kết thực hiện thanh toán cho Ngân hàng Thương mại thì việc tiếp tục thực hiện bao thanh toán giữa bên bán và Ngân hàng Thương mại sẽ do hai bên quyết định và tự chịu trách nhiệm khi có rủi ro phát sinh Khi nhận được thông báo về hợp đồng bao thanh toán từ bên bán thì bên mua phải gửi văn bản xác nhận về việc đã nhận được thông báo về hợp đồng bao thanh toán cho bên bán và Ngân hàng Thương mại Hành động này của bên mua giúp cho bên bán và Ngân hàng Thương mại biết về sự chấp thuận hợp đồng bao thanh toán và

có hay không cam kết sẽ thực hiện việc thanh toán khoản phải thu cho Ngân hàng Thương mại Nếu trong trường hợp bên mua từ chối thanh toán phải có lý do xác đáng

và phải thông báo bằng văn bản ngay cho bên bán hàng và đơn vị bao thanh toán

* Thanh toán cho đơn vị bao thanh toán theo đúng các điều khoản quy định tại

hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Như đã nói ở trên, việc ký kết hợp

đồng bao thanh toán giữa bên bán và Ngân hàng Thương mại không làm ảnh hưởng

Ngày đăng: 05/10/2015, 09:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w