1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật việt nam

65 897 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.2 Khái niệm về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ và chồng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên trong nền kinh tế hội nhập như hiệ

Trang 1

KHOA LUẬT   

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 36 (2010 – 2014)

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths Bùi Thị Mỹ Hương Lê Hoàng Phú Sang

Lớp: Luật Thương mại 1

Khóa 36

Cần Thơ, 11/2013

Trang 2



Cần Thơ, ngày tháng 11 năm 2013

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 4

1.1 Khái niệm về quan hệ ly hôn và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 4

1.1.1 Khái niệm về quan hệ ly hôn 4

1.1.2 Khái niệm về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 5

1.2 Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 5

1.2.1 Đối tượng điều chỉnh 5

1.2.1.1 Chủ thể 5

1.2.1.2 Khách thể 7

1.2.1.3 Sự kiện pháp lý 7

1.2.2 Phương pháp điều chỉnh 7

1.3 Các nguyên tắc cơ bản để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 8

1.3.1 Các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 9

1.3.1.1 Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam 9

1.3.1.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài 9

1.3.1.3 Nguyên tắc bảo vệ và tôn trọng người nước ngoài khi ly hôn ở Việt Nam 10

1.3.1.4 Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật trong nước đối với quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 10

1.3.2 Các nguyên tắc chọn luật để giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 11

1.3.2.1 Nguyên tắc Luật nơi cư trú của đương sự 11

1.3.2.2 Nguyên tắc Luật nơi có tài sản 11

1.3.2.3 Nguyên tắc Luật tòa án 12

1.4 Các nguồn luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 12

1.4.1 Pháp luật quốc gia 12

1.4.2 Điều ước quốc tế 13

1.4.3 Tập quán quốc tế 14

1.4.4 Mối quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 14

1.5 Hậu quả pháp lý của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 15

1.5.1 Quan hệ về nhân thân 16

1.5.1.1 Quan hệ giữa vợ chồng sau ly hôn 16

1.5.1.2 Quan hệ giữa cha mẹ và con cái sau ly hôn 16

Trang 4

1.6 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về ly hôn có yếu tố

nước ngoài ở Việt Nam 17

1.6.1 Giai đoạn từ trước năm 1945 17

1.6.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực 18

1.6.3 Giai đoạn từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực đến trước khi Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 có hiệu lực 20

1.6.4 Giai đoạn từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực cho đến nay 21

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 23

2.1 Điều kiện ly hôn và trường hợp hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn có yếu tố nước ngoài 23

2.1.1 Điều kiện ly hôn có yếu tố nước ngoài 23

2.1.1.1 Hôn nhân tồn tại không trái với quy định của pháp luật hiện hành 23

2.1.1.2 Năng lực hành vi của vợ, chồng trong việc xin ly hôn có yếu tố nước ngoài 24 2.1.1.3 Sự tự nguyện của người xin ly hôn có yếu tố nước ngoài 24

2.1.2 Trường hợp hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn có yếu tố nước ngoài 24

2.2 Căn cứ giải quyết ly hôn và các hình thức ly hôn có yếu tố nước ngoài 24

2.2.1 Căn cứ cho ly hôn và quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài 24

2.2.2 Các hình thức ly hôn có yếu tố nước ngoài 25

2.2.2.1 Đơn phương xin ly hôn có yếu tố nước ngoài 25

2.2.2.2 Thuận tình trong việc ly hôn có yếu tố nước ngoài 26

2.3 Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 27

2.3.1 Thẩm quyền theo cấp 27

2.3.2 Thẩm quyền theo lãnh thổ 27

2.3.3 Thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam 28

2.4 Trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 28

2.4.1 Hồ sơ xin ly hôn có yếu tố nước ngoài 28

2.4.2 Nộp và nhận hồ sơ xin ly hôn có yếu tố nước ngoài 29

2.4.3 Trình tự giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 29

2.4.3.1 Đối với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với công dân Việt Nam đã đi ra nước ngoài 29

2.4.3.2 Đối với trường hợp các bên đều là công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài, nay họ về Việt Nam xin ly hôn 30

2.4.3.3 Đối với trường hợp người Việt Nam ở nước ngoài kết hôn với người nước ngoài và việc kết hôn đó được công nhận ở Việt Nam, nhưng người Việt Nam về nước và người nước ngoài xin ly hôn 31

2.4.3.4 Đối với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài 32

2.5 Giải quyết các vấn đề về hậu quả pháp lý sau khi ly hôn có yếu tố nước ngoài 33

Trang 5

nước ngoài 33

2.5.2 Về chia tài sản sau khi ly hôn có yếu tố nước ngoài 34

2.6 Công nhận bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài và thời điểm có hiệu lực của bản án ly hôn có yếu tố nước ngoài được Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết 34

2.6.1 Công nhận bản án, quyết định ly hôn của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài 34

2.6.2 Thời điểm có hiệu lực của bản án ly hôn có yếu tố nước ngoài được Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết 35

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN VỀ QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 37

3.1 Thực trạng về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam 37

3.1.1 Một số nét về tình hình ly hôn có yếu nước ngoài 37

3.1.2 Những bất cập trong thực tiễn giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 39

3.1.3 Nguyên nhân của việc ly hôn có yếu tố nước ngoài và nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 45

3.1.3.1 Nguyên nhân của việc ly hôn có yếu tố nước ngoài 45

3.1.3.2 Nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 47

3.2 Một số đề xuất hoàn thiện về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 49

3.2.1 Nâng cao vai trò của nhà nước và pháp luật 49

3.2.1.1 Xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 49

3.2.1.2 Đảm bảo hoạt động có hiệu quả của các cơ quan có liên quan trong việc thi hành pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài 52

3.2.2 Nâng cao nhận thức của gia đình và người trong cuộc 53

3.2.3 Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể, tổ chức ngoài xã hội 54

KẾT LUẬN 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, với việc thực hiện đường lối đổi mới, tích cực hội nhập kinh tế, mở rộng giao lưu trên phạm vi quốc tế, Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn và quan trọng trong mọi mặt đời sống và xã hội Đặc biệt nhiều công dân Việt Nam đã

có điều kiện ra nước ngoài giao lưu, học tập, trao đổi kinh nghiệm cũng như người nước ngoài thường xuyên vào Việt Nam hợp tác nghiên cứu hoặc giao lưu phát triển tại Việt Nam Chính vì thế, kéo theo nhiều quan hệ dân sự phát sinh mà đầu tiên phải kể đến là quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó thì việc giải quyết các vấn đề về ly hôn cũng ngày càng trở nên phức tạp với sự xuất hiện của những yếu tố nước ngoài

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách của mỗi cá nhân, là nơi chuẩn bị hành trang để con người hòa nhập vào cộng đồng xã hội Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Hôn nhân là cơ sở để hình thành gia đình – tế bào của xã hội Gia đình

ra đời, tồn tại và phát triển trước hết là nhờ nhà nước thừa nhận hôn nhân của nam nữ, đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nhà nước ta từ lâu đã quan tâm tới việc bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình Ở Việt Nam trước đây hôn nhân có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ không phổ biến Tuy nhiên, trong gần hai thập kỷ qua, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hôn nhân

có yếu tố nước ngoài không còn là hiện tượng hiếm hoi trong đời sống xã hội Thậm chí có nơi, có lúc các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã trở thành một hiện tượng không còn xa lạ Đặc biệt là tình trạng ly hôn có yếu tố nước ngoài xảy ra khá phổ biến, với những nguyên nhân, lý do đa dạng, phức tạp cả về chủ thể lẫn nội dung Trong đó chủ yếu là vấn đề

xử lý ly hôn có yếu tố nước ngoài theo đúng pháp luật cũng còn rất khó khăn với nhiều hạn chế, vướng mắc Giải quyết tốt và triệt để vấn đề này không những đem lại nhiều lợi ích trong công cuộc quản lý mà còn góp phần hoàn thiện những quyền cơ bản và thiết yếu của người dân

Có thể thấy quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng tăng và biến đổi ngày càng phức tạp cả về bề rộng lẫn chiều sâu, do bên cạnh những cuộc hôn nhân xuất phát từ tình yêu chân chính thì cũng không ít những cuộc hôn nhân chỉ vì mục đích vụ lợi hoặc có những gia đình kinh tế gặp khó khăn nên họ muốn kết hôn với người nước ngoài để có một cuộc sống sung túc hơn, thoát khỏi cảnh nghèo khổ Tuy nhiên, một khi hôn nhân không còn đảm bảo hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung của vợ chồng

đã hoàn toàn tan vỡ, không thể kéo dài thì tiến tới ly hôn là một hệ quả tất yếu Xuất phát từ thực tiễn, việc áp dụng các quy định phát luật để giải quyết quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài đã phát sinh nhiều bất cập, vướng mắc, không những từ phía công dân mà còn ở cả các

cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết các vụ việc cụ thể Ly hôn có yếu tố nước ngoài không những chịu sự điều chỉnh của pháp luật trong nước mà còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài và điều ước quốc tế Vì thế mà quyền và lợi ích các bên cũng được giải quyết theo chiều hướng khác nhau tùy thuộc vào pháp luật từng nước khác nhau và điều ước quốc tế Ở Việt Nam thì quyền và lợi ích đó được bảo vệ trên cơ sở Hiến pháp, Luật, Nghị định, Thông tư và Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết với các nước thành viên Nhằm tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan có thẩm quyền có thể dễ dàng giải quyết các

Trang 7

vấn đề thì việc điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài là một thách thức không nhỏ của pháp luật của nước ta hiện nay Yêu cầu đặt ra là cần có khung pháp lý chặt chẽ, hoàn thiện không chỉ pháp luật trong nước mà còn kể đến pháp luật của các quốc gia cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết

Vậy để hoàn thiện pháp luật hiện tại, đơn giản hóa quá trình giải quyết ly hôn có yếu

tố nước ngoài và xác định thẩm quyền giải quyết một cách rõ ràng, chính xác về vấn đề này, đồng thời người viết muốn tìm hiểu về ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam là như thế nào? Mong muốn thể hiện phần nào được tính cấp thiết của việc tuyên truyền phổ biến rộng rãi pháp luật trong cộng đồng xã hội để người dân có thể dễ dàng tiếp cận được pháp luật, hướng dẫn cho họ làm đúng, hiểu đúng pháp luật, bảo

hộ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân các nước đặc biệt là người phụ nữ Việt

Nam Đó là những mục đích, những lý do khiến người viết chọn đề tài “Ly hôn có yếu tố

nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam” Từ đó, nhằm trang bị kiến thức cho bản

thân và tìm hiểu thêm về mối quan hệ giữa pháp luật và thực tiễn

Trong thực tế, việc nghiên cứu về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể đã có nhiều người nghiên cứu, nhưng với người viết đề tài này vẫn là một mảng kiến thức mới mẻ, người viết tập trung nghiên cứu những vấn đề có liên quan trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài vào thực tiễn và cuộc sống Việc nghiên cứu này là nền tảng của quá trình tìm hiểu khoa học luật của người viết, cũng như tạo tiền đề cho những tiếp cận, những nghiên cứu khác trong cuộc sống sau này

2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết chủ yếu đi sâu nghiên cứu các vấn

đề lý luận chung liên quan đến quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Sau đó, tìm hiểu và phân tích những quy định về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện hành Trong quá trình phân tích các quy định của pháp luật hiện hành thì người viết cũng có đề cập đến Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và nêu lên ý kiến cá nhân về các vấn đề có liên quan Đồng thời, người viết cũng nêu lên một số nét về thực trạng ly hôn có yếu tố nước ngoài trong xã hội thời gian gần đây cùng với những bất cập, vướng mắc từ thực tiễn trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật để giải quyết quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài kèm theo một số nguyên nhân dẫn đến những bất cập, vướng mắc đó để đưa ra những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện

về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

và trong tương lai không xa đó vẫn còn là vấn đề không đơn giản Chính vì lẽ đó mà người viết nhận thấy rằng phải đi sâu vào nghiên cứu những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam để làm sáng tỏ khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng như các thủ tục để giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài Nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý

Trang 8

luận cũng như các quy định pháp lý về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo trật tự xã hội Trên cơ sở đó có thể vạch ra một hướng đi cụ thể, tìm ra các giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật của Nhà nước về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài và khắc phục hậu quả của ly hôn có yếu tố nước ngoài Mặt khác, giúp cho người viết có thể hiểu sâu hơn, hoàn thiện hơn, nâng cao khả năng tích lũy, củng cố vốn kiến thức pháp luật cho bản thân

4 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, người viết chú trọng tìm hiểu về các quy định của pháp luật trong phạm vi nghiên cứu Từ những quy định của pháp luật, người viết phân tích từng quy định cụ thể và đối chiếu với thực tiễn cuộc sống để từ đó đánh giá mức độ ứng dụng của pháp luật vào cuộc sống xã hội Trong phạm vi hẹp của đề tài, người viết chọn phương pháp tổng hợp các phương pháp để nghiên cứu như: phương pháp phân tích câu chữ, phương pháp thu thập, thống kê, trích lọc các bài bình luận, phân tích liên quan đến vấn đề

ly hôn có yếu tố nước ngoài, phương pháp so sánh, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn, lấy thực tiễn để làm cơ sở kiến nghị những giải pháp nhằm giải quyết những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Ngoài ra, người viết còn sưu tầm, thống kê số liệu, tổng hợp thêm các tài liệu liên quan từ những thông tin trên sách báo, tạp chí, internet… kèm theo một số phương pháp khác mà người viết vận dụng để hoàn thành bài luận văn này

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của

đề tài được trình bày trong ba chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Chương 2 Pháp luật Việt Nam về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Chương 3 Thực trạng và một số đề xuất hoàn thiện về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế hiện nay thì hôn nhân xuyên quốc

gia ngày càng mang tính phổ biến, nó được pháp luật thừa nhận và dư luận cũng chấp nhận

như những vấn đề bình thường khác Tuy nhiên, khi cuộc sống hôn nhân không được như

mong muốn, đời sống vợ chồng lâm vào tình trạng khủng hoảng mà khó có thể được khắc

phục bằng bất kỳ biện pháp nào khác thì ly hôn chính là cách để chấm dứt quan hệ vợ chồng

mà pháp luật cho phép thực hiện Xét về mặt xã hội, ly hôn chính là giải pháp giải quyết sự

khủng hoảng trong mối quan hệ vợ chồng Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt

không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ còn là hình thức, vì thực chất mối

quan hệ vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, cuộc sống gia đình giữa vợ và chồng đã mất hết ý

nghĩa Trong quan hệ tự do hôn nhân, pháp luật không bắt buộc nam nữ kết hôn khi họ

không yêu nhau thì cũng không bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau khi tình yêu

giữa họ không còn nữa Việc ly hôn nhằm giải phóng cho vợ, chồng khỏi cuộc sống chung

đầy đau khổ hiện tại, giúp vợ chồng thoát khỏi những mâu thuẫn sâu sắc mà không thể giải

quyết được Mặt khác, so với quan hệ ly hôn trong nước, quan hệ ly hôn có yếu tố nước

ngoài thì rất đa dạng và phức tạp vì nó chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác

nhau và các hệ thống pháp luật đó cũng không đồng nhất với nhau Chính vì vậy, mà việc

tìm hiểu các cơ sở lý luận để giải quyết các vấn đề về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

này là rất khó khăn

1.1 Khái niệm về quan hệ ly hôn và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.1.1 Khái niệm về quan hệ ly hôn

Trong quan hệ hôn nhân, nếu kết hôn là bước khởi đầu để xác lập quan hệ vợ chồng thì

ngược lại ly hôn là con đường cuối cùng để có thể chấm dứt quan hệ vợ chồng Hôn nhân

được công nhận khi nam nữ kết hôn thỏa mãn đầy đủ các quy định của pháp luật Đây là sự

gắn kết giữa người nam và người nữ trên nguyên tắc tự nguyện và tình yêu nhằm xây dựng

một gia đình bền vững hạnh phúc suốt đời Tuy nhiên trên thực tế không phải mọi cuộc hôn

nhân đều diễn ra như mong muốn của các chủ thể Bởi sau một thời gian chung sống, tình

yêu không những không được vun đắp mà còn bị mài mòn, mục đích của hôn nhân cũng

không thể đạt được, phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, và nếu đời sống chung của vợ

chồng khó có thể kéo dài thêm nữa thì cuộc hôn nhân đó coi như thất bại Sự thất bại của

hôn nhân sẽ dễ dàng dẫn đến sự tan rã của gia đình, tiếp sau đó sẽ là việc vợ, chồng quyết

định chấm dứt cuộc sống chung bằng con đường ly hôn Ly hôn là sự kiện pháp lý làm chấm

dứt quan hệ hôn nhân mà chỉ có vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu ly

hôn Tuy nhiên, quyền ly hôn của vợ, chồng phải đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà

nước và pháp luật nhằm hạn chế, ngăn chặn những hiện tượng vợ chồng lạm dụng quyền tự

do ly hôn gây hậu quả xấu cho gia đình và xã hội Theo khoản 8 Điều 8 của Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000 quy định: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công

nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng” Như vậy,

ly hôn là kết quả của hành vi có ý chí của hai vợ chồng và được công nhận bằng bản án,

Trang 10

quyết định của Tòa án Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân, là mặt trái của đời sống xã hội nhưng là mặt không thể thiếu được của quan hệ hôn nhân Ly hôn không đơn thuần là mặt tiêu cực của hôn nhân bởi khi xét ở góc độ nào đó có thể ly hôn là giải pháp mở ra lối thoát cuối cùng, khắc phục được những mâu thuẫn không thể giải quyết được giữa những người trong gia đình, nhằm giải phóng cho vợ, chồng hay các thành viên khác trong gia đình thoát khỏi những xung đột, mâu thuẫn, bế tắc trong cuộc sống chung

1.1.2 Khái niệm về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ và chồng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay thì việc ly hôn không còn đơn giản,

bó hẹp trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia, mà còn có sự tham gia của công dân nước ngoài, người không quốc tịch thường trú ở nước đó ly hôn với công dân của nước khác, nên

có hiện tượng ly hôn có yếu tố nước ngoài Chính vì lẻ đó mà việc xây dựng pháp luật để điều chỉnh mối quan hệ này là một nhu cầu cấp bách nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam cũng như của công dân nước ngoài khi tham gia vào quan hệ này, đồng thời đảm bảo cho sự ổn định và phát triển giao lưu dân sự quốc tế Việc điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài không chỉ phụ thuộc vào pháp luật trong nước mà còn phụ thuộc vào pháp luật nước ngoài và điều ước quốc tế

Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành cũng như các văn bản hướng dẫn chưa có quy định cụ thể về khái niệm như thế nào là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Căn cứ vào khoản 14 Điều 8 và khoản 4 Điều 100 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 giải thích về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, từ những quy định đó ta có thể hiểu

quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt

Nam và người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau

mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài Trong đó thì khái niệm người nước ngoài

được quy định tại khoản 5 Điều 3 của Luật quốc tịch năm 2008: “Người nước ngoài cư trú ở

Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam” Theo quy định trên thì người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có thể là công dân nước

ngoài hoặc có thể là người không có quốc tịch

1.2 Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.2.1 Đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì phức tạp hơn so với quan hệ ly hôn trong nước nhưng nó vẫn được thể hiện chủ yếu ở ba yếu tố đặc trưng sau: yếu tố chủ thể, yếu tố khách thể và yếu tố sự kiện pháp lý

1.2.1.1 Chủ thể

Tại khoản 14 Điều 8 và khoản 4 Điều 100 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

có thể thấy rằng, để xác định được yếu tố nước ngoài của quan hệ hôn nhân và gia đình phụ thuộc vào một trong hai trường hợp sau: có yếu tố chủ thể quốc tịch khác nhau hoặc có yếu

tố cư trú ở nước ngoài Nói cách khác thì quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung, quan hệ

ly hôn nói riêng phát sinh yếu tố nước ngoài khi chủ thể tham gia quan hệ đó có quốc tịch

Trang 11

khác nhau hoặc khi đương sự cư trú ở nước ngoài Vậy một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để xác định tư cách chủ thể trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài là vấn đề quốc tịch của các bên chủ thể Quốc tịch thể hiện sự lệ thuộc của một cá nhân vào một Nhà nước nhất định, đây là tiền đề pháp lý bắt buộc để cá nhân có thể được hưởng những quyền cũng như thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước mà họ được hưởng quốc tịch Theo Điều 4 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 thì để xác định chủ thể có phải là công dân Việt Nam hay không dựa vào quốc tịch mà người đó được hưởng và Việt Nam chỉ thừa nhận công dân Việt Nam khi chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam Và Điều 49 Hiến pháp năm 1992

quy định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt

Nam”.1 Như vậy, có thể khẳng định công dân Việt Nam là chủ thể cơ bản của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài và được chia làm hai trường hợp: một là công dân Việt Nam ở trong nước, còn lại cũng là người Việt Nam nhưng định cư ở nước ngoài

Theo Luật Quốc tịch Việt Nam thì người được xác định có quốc tịch Việt Nam, nếu

có một trong những căn cứ sau đây2: là trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam

mà khi sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam; là trẻ em sinh

ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ

là ai thì có quốc tịch Việt Nam; là trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con, trường hợp trẻ em được sinh

ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam; là trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam; là trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam; cùng với những trường hợp được nhập quốc tịch Việt Nam, được trở lại quốc tịch Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

và các quy định tại Điều 18, Điều 35 và Điều 37 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008

Mặt khác, công dân Việt Nam khi tham gia vào quan hệ hôn nhân và gia đình với người nước ngoài phải có quyền năng chủ thể, tức là phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự theo pháp luật Việt Nam Năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự là những thuộc tính pháp lý của chủ thể pháp luật, là đặc trưng không thể thiếu của chủ thể pháp luật Một công dân Việt Nam có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi hay không được xác định dựa trên cơ sở các quy định của Bộ luật dân sự năm 20053 Trường hợp còn lại là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì được xác định theo khoản 3 và khoản 4

Điều 3 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là

công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”, “Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”

Trang 12

Ngoài công dân Việt Nam là chủ thể cơ bản của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

ra thì người nước ngoài cũng là chủ thể quan trọng của quan hệ này Theo khoản 1 Điều 3

của Luật Quốc tịch Việt Nam quy định: “Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước

khác không phải là quốc tịch Việt Nam” Như vậy, người nước ngoài là người không có

quốc tịch Việt Nam, bao gồm công dân nước ngoài và người không quốc tịch Cần phân biệt công dân nước ngoài và người không quốc tịch, công dân nước ngoài là người có quốc tịch nước ngoài còn người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không

có quốc tịch nước ngoài Để tham gia vào quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì người nước ngoài phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trước tiên là phải theo pháp luật của nước mà người đó là công dân hoặc phải theo pháp luật của nước mà người đó thường trú nếu người đó không có quốc tịch

Tóm lại, chủ thể của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài gồm công dân Việt Nam cư trú trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài Về năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự của họ dựa vào pháp luật của nước mà họ là công dân hoặc pháp luật của nước mà người không quốc tịch thường trú tại nước đó, từ đó có thể xem xét họ có đủ tư cách là chủ thể của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài hay không

1.2.1.2 Khách thể

Nói đến khách thể của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì cần chú ý đến hai yếu

tố, đó là vật chất và tinh thần Bởi khách thể có nghĩa là những lợi ích vật chất, tinh thần và những lợi ích xã hội khác có thể thỏa mãn những nhu cầu và những đòi hỏi của chủ thể Vậy khách thể là những gì mà chủ thể mong muốn khi tham gia vào quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài kể cả quyền nhân thân của chủ thể Trong quan hệ này, quyền nhân thân là sự mong muốn của vợ hoặc chồng, hoặc của cả hai vợ chồng về việc kết thúc quan hệ hôn nhân đang tồn tại Tại Điều 42 Bộ luật Dân sự 20054 khẳng định quyền nhân thân của cá nhân khi tham gia vào quan hệ ly hôn, nếu họ hội đủ các điều kiện về ly hôn theo quy định của pháp luật thì họ có quyền yêu cầu xin ly hôn Đó là sự tiến bộ thể hiện quyền tự do ly hôn của hai

vợ chồng được pháp luật thừa nhận và đảm bảo thực hiện

1.2.1.3 Sự kiện pháp lý

Sự kiện pháp lý trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể hiểu là một sự kiện, một hành vi nhưng phải phù hợp với pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài Trường hợp giữa hai vợ, chồng mang quốc tịch Việt Nam ly hôn với nhau ở nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì pháp luật áp dụng để điều chỉnh sẽ là luật của nước

mà các bên chủ thể mang quốc tịch và pháp luật nơi giải quyết ly hôn, chính vì vậy vấn đề chọn pháp luật để áp dụng sẽ được đặt ra

Có thể thấy rằng, sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

đã đòi hỏi chọn luật để giải quyết Cho nên, việc xác định đúng thời điểm xảy ra sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho cơ quan có thẩm quyền xác định đúng pháp luật áp dụng từng trường hợp cụ thể và giải quyết một cách đúng đắn vấn đề xung đột pháp luật phát sinh giữa các bên

Trang 13

Hiện nay ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, Tư pháp quốc tế nói chung hay quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng thường thì có hai phương pháp điều chỉnh đó

là phương pháp xung đột và phương pháp thực chất, hai phương pháp này luôn luôn đi đôi với nhau và luôn hỗ trợ lẫn nhau để bổ sung những khuyết điểm cho nhau, nhằm đảm bảo một trật tự pháp lý dân sự quốc tế ổn định và tăng cường hợp tác với nhau giữa các nước trong điều kiện hội nhập hiện nay Tuy nhiên, đặc biệt trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì phương pháp điều chỉnh chủ yếu là phương pháp xung đột

Phương pháp xung đột (còn gọi là phương pháp điều chỉnh gián tiếp) là phương pháp điều chỉnh dựa vào các quy tắc đã được ấn định để áp dụng pháp luật của một nước đã được chỉ định để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Phương pháp xung đột được hình thành và phát triển trên nền tảng hệ thống các quy phạm xung đột của quốc gia và các quy phạm xung đột trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên Quy phạm xung đột là loại quy phạm không trực tiếp giải quyết cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong một mối quan hệ pháp luật nhất định mà nó chỉ làm động tác dẫn chiếu (chọn luật) đến một hệ thống pháp luật của một nước nào đó để giải quyết vấn đề về quyền và nghĩa vụ của các bên Các quy phạm xung đột bao gồm hai bộ phận cấu thành: phần phạm vi (chỉ ra những quan hệ mà quy phạm điều chỉnh) và phần hệ thuộc (chỉ ra hệ thống pháp luật được

áp dụng đối với những quan hệ đó) Nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước nào thì pháp luật nước đó được áp dụng Việc dẫn chiếu của quy phạm xung đột để chọn pháp luật áp dụng bao gồm cả trường hợp dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu pháp luật nước thứ

ba Khoản 1 Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “việc ly hôn giữa

công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy định của luật này” Trong trường hợp này, trên cơ sở dẫn

chiếu của quy phạm xung đột, pháp luật Việt Nam đã được áp dụng Khoản 3 Điều 104 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Việc giải quyết tài sản là bất động sản là bất

động sản ở nước ngoài khi ly hôn phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó” Như vậy, nội dung quy định này dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài, đó là luật của

nước nơi có tài sản để giải quyết Hoặc tại Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

quy định: “trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì

áp dụng pháp luật về hôn nhân gia đình Việt Nam”, đây là quy định dẫn chiếu ngược trở lại

áp dụng pháp luật Việt Nam

Tóm lại, phương pháp xung đột được áp dụng khá phổ biến để điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng, phương pháp này áp dụng thông qua các quy phạm xung đột – đây là loại quy phạm đặc thù của Tư pháp quốc tế, nó không trực tiếp giải quyết dứt khoát, cụ thể vấn đề quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài, mà nó chỉ xác định rằng cần phải áp dụng luật nước nào để điều chỉnh quan hệ pháp luật đó Có thể thấy quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài đa dạng và phức tạp hơn so với quan hệ ly hôn trong nước nên phương pháp điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng đa dạng và phức tạp hơn Quan hệ ly hôn trong nước chỉ áp dụng các quy phạm do chính quốc gia ban hành, còn quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì được điều chỉnh bởi các quy phạm xung đột

1.3 Các nguyên tắc cơ bản để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Trang 14

Các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình ở nước ta, nó thể hiện những quan điểm cơ bản, chủ đạo xuyên suốt trong các quy định của pháp luật, các nguyên tắc này điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu nước ngoài được quy định trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác, đặc biệt là được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000 và các nguyên tắc này đều áp dụng để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.3.1 Các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài là một trong các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nên quan hệ này cũng chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1.3.1.1 Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ ly hôn có yếu nước ngoài ở Việt Nam phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 100 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 20005 nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia vào quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thực hiện theo quy định pháp luật sẽ được tôn trọng và bảo vệ bằng nhiều biện pháp khác nhau phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết Trong trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác với pháp luật Việt Nam thì ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế

1.3.1.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài

Ở nước ta, trong những năm gần đây, do việc mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu mọi mặt về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội với các nước trong khu vực và trên thế giới đã làm cho nhiều người nước ngoài vào Việt Nam giao lưu, hợp tác, phát triển cũng như ngày càng nhiều công dân Việt Nam thường xuyên ra nước ngoài học tập, nghiên cứu hay làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài Chính vì vậy mà Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến những người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cả những người gốc Việt Nam ở nước ngoài Khi người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia vào quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì quyền

và lợi ích hợp pháp của họ luôn được pháp luật Việt Nam bảo vệ và được quy định cụ thể tại

khoản 3 Điều 100 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Nhà nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở

tại, pháp luật và tập quán quốc tế” Việc bảo hộ quyền và lợi ích của công dân Việt Nam ở

nước ngoài được thực hiện thông qua các cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam

ở nước ngoài Vấn đề bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung, quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng tại cơ quan đại diện ở nước ngoài đã được quy định tại khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2000: “Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước

5

Khoản 1 Điều 100 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia”

Trang 15

ngoài…có trách nhiệm thực hiện việc bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài”

1.3.1.3 Nguyên tắc bảo vệ và tôn trọng người nước ngoài khi ly hôn ở Việt Nam

Nguyên tắc này được thể hiện cụ thể tại khoản 2 Điều 100 của Luật Hôn nhân và gia

đình năm 2000: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước

ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác” Như vậy, chủ thể là người nước ngoài

khi tham gia vào quan hệ ly hôn tại Việt Nam thì được hưởng những quyền cũng như thực hiện các nghĩa vụ ngang với những quyền và nghĩa vụ mà công dân Việt Nam đang được hưởng Qua đó, bất kỳ người nước ngoài nào khi ly hôn ở Việt Nam thì luôn luôn được tôn trọng và bảo vệ bởi pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, việc ly hôn có yếu tố nước ngoài đó phải được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, ngược lại nếu việc ly hôn có yếu tố nước ngoài đó không thực hiện đúng theo những gì pháp luật quy định thì một trong các chủ thể tham gia, kể cả người nước ngoài đều có thể yêu cầu pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân mình Căn cứ vào tình hình hiện nay cùng với sự phát triển của quá trình hội nhập kinh tế nhằm mở rộng hợp tác trong nhiều lĩnh vực với nhiều nước khác nhau trên thế giới làm cho càng ngày càng nhiều người nước ngoài vào Việt Nam giao lưu, hợp tác hoặc nghiên cứu Chính vì thế, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài tại Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là trong quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung, ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng là rất cần thiết và quan trọng

1.3.1.4 Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật trong nước đối với quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ ly hôn có yếu nước ngoài không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam về hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 101 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 20006 Theo đó, pháp luật nước ngoài được áp dụng trong các trường hợp: khi Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm

2000 hoặc các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định; khi điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện dẫn Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài nêu trên thì pháp luật nước ngoài chỉ được áp dụng nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

Nguyên tắc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật trong nước đối với quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 7 của Luật Hôn nhân và gia đình năm

20007 Theo đó, các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam sẽ được

áp dụng đối với quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nếu như trong phần hôn nhân và gia đình có yếu nước ngoài (tức là Chương XI) của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không

có quy định cụ thể để điều chỉnh quan hệ này Ngoài ra, trong trường hợp pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài không có quy định đối với quan hệ hôn nhân và gia

Trang 16

đình có yếu tố nước ngoài nào đó thì cũng có thể áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự liên quan đến quan hệ này.8

1.3.2 Các nguyên tắc chọn luật để giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Hiện tượng xung đột pháp luật trong khi điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài là hiện tượng có ít nhất hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng lúc có thể áp dụng để giải quyết một vấn đề nào đó trong quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ ly hôn có yếu nước ngoài nói riêng, một quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài liên quan đến bao nhiêu nước thì về nguyên tắc pháp luật của tất cả các nước có liên quan đều có thể được áp dụng Tại khoản 2 và khoản 3 Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2000 quy định: “Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt

Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng”; “Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó” Từ những quy định trên có

thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đã áp dụng nguyên tắc Luật nơi cư trú và nguyên tắc Luật nơi có tài sản để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Ngoài ra, về mặt luật tố tụng thì còn áp dụng nguyên tắc Luật tòa án

1.3.2.1 Nguyên tắc Luật nơi cư trú của đương sự

Nguyên tắc Luật nơi cư trú của đương sự (theo pháp luật của nơi đương sự cư trú): là nguyên tắc được áp dụng phổ biến ở các nước có hệ thống pháp luật áp dụng án lệ, theo nguyên tắc này thì việc điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài dựa theo pháp luật nước mà nơi đương sự cư trú Khi xét về nội dung khái niệm nơi cư trú trong luật của các nước hoàn toàn không giống nhau, tùy điều kiện từng nước và từng trường hợp cụ thể có thể Luật nơi cư trú là luật nơi cư trú cuối cùng hoặc nơi thường trú cuối cùng của đương sự Ở Việt Nam, nguyên tắc Luật nơi cư trú của đương sự được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và nó được ghi nhận không chỉ ở pháp luật trong nước mà còn được ghi nhận trong điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết với các nước như Nga, Lào để điều chỉnh những phát sinh xung đột trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Theo khoản 2 Điều 104 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định: “Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam

không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng” Việc mở rộng áp dụng nguyên

tắc Luật nơi cư trú của đương sự giúp cho các quốc gia dễ dàng giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài, làm đơn giản hóa quá trình dẫn chiếu quy phạm xung đột để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhanh chóng việc ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.3.2.2 Nguyên tắc Luật nơi có tài sản

Nguyên tắc Luật nơi có tài sản: Nguyên tắc Luật nơi có tài sản là nguyên tắc mà hầu hết tất cả các nước đều áp dụng để giải quyết các vấn đề tranh chấp về quyền sở hữu tài sản Nguyên tắc này có nghĩa là tài sản ở nước nào thì áp dụng luật của nước đó để giải quyết Như vậy theo nguyên tắc này thì việc giải quyết tranh chấp về tài sản là bất động sản thì phải căn cứ vào luật của nước nơi có tài sản đó Theo khoản 3 Điều 104 Luật Hôn nhân và gia

8

Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Áp dụng quy định của Bộ luật dân sự”

Trang 17

đình năm 2000 quy định: “Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn

tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó” Có thể thấy, mặc dù việc giải quyết

ly hôn có yếu tố nước ngoài có do pháp luật nước nào điều chỉnh đi chăng nữa thì tài sản là bất động sản sau khi ly hôn phải được tuân theo những quy định của pháp luật nơi có bất động sản đó (chỉ trừ một số trường hợp ngoại lệ như là tài sản liên quan đến sở hữu của nhà nước hay tài sản đang nằm trên đường vận chuyển…)

1.3.2.3 Nguyên tắc Luật tòa án

Nguyên tắc Luật tòa án: được hiểu là áp dụng pháp luật của nước nơi có tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài Trong pháp luật của hầu hết các nước đều ghi nhận nguyên tắc này Đây là nguyên tắc được áp dụng phổ biến nhất trong việc giải quyết những vấn đề về tố tụng Khoản 3 Điều 2 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 quy

định: “Bộ luật tố tụng dân sự được áp dụng đối với việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố

nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó” Như vậy khi

giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung hay ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng thì về mặt nguyên tắc, tòa án Việt Nam chỉ áp dụng luật tố tụng dân sự Việt Nam Tuy nhiên trong quan hệ với các nước đã ký Hiệp định tương trợ tư pháp thì tòa án Việt Nam khi thực hiện ủy thác tư pháp theo đề nghị của bên yêu cầu, có thể áp dụng pháp luật của nước kí kết với cơ quan yêu cầu đó, với điều kiện chúng không mâu thuẫn với pháp luật của Việt Nam

1.4 Các nguồn luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Nguồn của luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài về mặt pháp lý là những hình thức biểu hiện hoặc chứa đựng các nguyên tắc, các quy phạm điều chỉnh quan hệ ly hôn

có yếu tố nước ngoài Căn cứ vào đó ta có thể chia nguồn luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài làm ba loại: pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

1.4.1 Pháp luật quốc gia

Pháp luật trong nước là loại nguồn khá phổ biến để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài bởi nó chứa đựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật trong nước nhằm điều chỉnh quan hệ này Tuy nhiên, ở Việt Nam thì các quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ

ly hôn có yếu tố nước ngoài không nằm ở một văn bản mà nằm rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Trong đó, Hiến pháp 1992 là nguồn quan trọng nhất vì nó là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, quy định các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam nói chung và của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng Tại

Điều 64 và Điều 81 của Hiến pháp 1992 có quy định: “Gia đình là tế bào của xã hội; Nhà

nước bảo hộ hôn nhân và gia đình; hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng bình đẳng…”; “Người nước ngoài ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và những quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam” Qua đó cho thấy công dân Việt Nam cũng như người nước ngoài ở

Việt Nam đều được nhà nước quan tâm, bảo hộ về quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong quan hệ hôn nhân và gia đình, mọi người được tự do kết hôn và cũng có quyền ly hôn theo quy định của pháp luật Dựa trên cơ sở của Hiến pháp 1992, Bộ luật dân sự 2005 cũng dành riêng một phần (cụ thể là tại phần thứ bảy: Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài) để quy

Trang 18

định các vấn đề có liên quan đến các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà quan hệ ly hôn

có yếu tố nước ngoài là một trong các loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nên quan hệ này cũng được điều chỉnh của Bộ luật dân sự Còn những quy định về thẩm quyền xét xử hay những thủ tục công nhận và cho thi hành bản án tại Việt Nam đối với quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài được thì ghi nhận trong Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Bên cạnh đó còn có Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là luật chuyên điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình trong đó gồm có cả quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Ngoài những văn bản chính nêu trên còn có các văn bản pháp luật khác cùng điều chỉnh quan hệ pháp luật này như là: Luật quốc tịch năm 2008; Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 69/2006/NĐ-

CP ngày 21/7/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP; gần đây nhất là Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, có hiệu lực thi hành ngày 15/5/2013 và Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000…

1.4.2 Điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế thể hiện sự thỏa thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm quy định về việc xác lập quyền, nghĩa

vụ của các bên ký kết trong quan hệ quốc tế và phải phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế Điều ước quốc tế về hôn nhân và gia đình là điều ước quốc tế chứa đựng các quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Nội dung của các điều ước quốc tế về ly hôn có yếu tố nước ngoài thường không quy định cụ thể việc điều chỉnh quan hệ này mà chủ yếu quy định nguyên tắc chọn pháp luật áp dụng Hay nói cách khác, các quy phạm được quy định trong các điều ước quốc tế về ly hôn thường là các quy phạm xung đột Hiện nay, điều ước quốc tế áp dụng giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài chủ yếu dựa vào các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã tham gia ký kết với các nước đã thỏa thuận các nguyên tắc chọn pháp luật áp dụng trong trường hợp có xung đột pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Các nguyên tắc và quy định trong các Hiệp định tư trợ tư pháp về vấn đề hôn nhân mà Việt Nam đã tham gia ký kết với các nước là cơ sở pháp lý cho Việt Nam và các nước ký kết thực hiện việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng

Bên cạnh các văn bản pháp luật trong nước, quan hệ ly hôn có yếu nước ngoài còn được điều chỉnh bởi các hiệp định song phương mà nhà nước ta ký kết với các nước Trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992, Việt Nam đã ký được 06 Hiệp định và kể từ khi ban hành Hiến pháp 1992 đến trước khi ban hành Luật Tương trợ tư pháp 2007, Việt Nam ký thêm được 09 Hiệp định Tương trợ tư pháp với các nước, cụ thể: với Ba Lan ngày 23/3/1993, với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 19/10/1998, với Cộng hòa Pháp ngày 24/2/1999, với Bêlarút, Ucraina, Lào, Mông Cổ, Hàn Quốc và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên Các hiệp định này đã đánh dấu bước phát triển mới trong mối quan hệ quốc tế giữa Việt Nam với các nước có liên quan trong nhiều lĩnh vực, góp phần mở rộng các quan

Trang 19

hệ pháp lý quốc tế, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước ta, tạo môi trường thuận lợi trong việc hợp tác giải quyết nhiều vấn đề pháp lý phức tạp và đa dạng, trong đó có quan hệ ly hôn

có yếu tố nước ngoài

1.4.3 Tập quán quốc tế

Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự được hình thành lâu đời, trong một thời gian dài, được áp dụng khá liên tục và một cách có hệ thống, đồng thời được sự thừa nhận của đông đảo các quốc gia Về mặt pháp lý, một tập quán chỉ có thể được áp dụng điều chỉnh một quan hệ pháp lý khi nội dung của tập quán này được thể hiện cụ thể và rõ ràng Tuy nhiên, tập quán quốc tế chỉ có thể là nguồn của pháp luật khi được pháp luật trong nước quy định áp dụng hoặc được các quốc gia liên quan quy định trong điều ước quốc tế hoặc do thỏa thuận của các bên chủ thể tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế

Theo pháp luật Việt Nam, nguyên tắc áp dụng tập quán quốc tế không được quy định

cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nhưng được quy định tại khoản 4 Điều

759 Bộ luật dân sự năm 2005: “Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

không được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên…điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Như vậy,

có thể thấy rằng, với tính chất là một loại nguồn của Tư pháp quốc tế, tập quán quốc tế cũng

có thể được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung, quan

hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng Tuy nhiên, theo quy định trên thì chỉ có thể áp dụng tập quán quốc tế khi quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài đó không được pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên điều chỉnh và việc áp dụng cũng như hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Suy cho cùng thì tập quán quốc tế chỉ được coi là giải pháp cuối cùng để điều chỉnh quan hệ

ly hôn có yếu tố nước ngoài

Ở Việt Nam, văn bản pháp luật đầu tiên quy định tập quán quốc tế như một nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung, quan hệ

ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng là Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt

Nam với người nước ngoài năm 1993 Đoạn 2 khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh quy định: “Nhà

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình với người nước ngoài, phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và tập quán quốc tế” Nội dung này đã được kế thừa và ghi

nhận tại khoản 3 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 như sau: “Nhà nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài…phù hợp với…pháp luật và tập quán quốc tế”

Từ những nội dung trên và với tính chất là một loại nguồn của tư pháp quốc tế, tập quán quốc tế cũng có thể áp dụng để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung, quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng Tuy nhiên, tập quán quốc tế chỉ được coi là giải pháp cuối cùng để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.4.4 Mối quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Trang 20

Các loại nguồn pháp luật có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ cho nhau để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Nguồn pháp luật trong nước do tính đặc thù là yếu tố nước ngoài nên quy phạm pháp luật trong nước cũng có thể được áp dụng ở nước khác tùy theo từng trường hợp cụ thể Do

đó, nguồn pháp luật trong nước điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài được coi là nguồn cơ bản và phổ biến dựa trên những cơ sở: chủ thể trong quan hệ ly hôn nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng là những con người cụ thể, vì vậy pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ trong quan hệ ly hôn được dựa trên dấu hiệu quốc tịch hoặc dấu hiệu nơi cư trú Mà dù dựa trên dấu hiệu quốc tịch hay nơi cư trú thì hệ thống pháp luật được chọn áp dụng vẫn được coi là hệ thống pháp luật của một quốc gia nhất định Cho nên,

có thể nhận định, pháp luật trong nước được coi là nguồn luật cơ bản, phổ biến và có vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Nguồn điều ước quốc tế: pháp luật Việt Nam hiện nay chưa quy định rõ ràng về việc điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có vị trí như thế nào trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong nước Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 6 của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế Như vậy, nguồn điều ước quốc tế cũng là một loại nguồn cơ bản, các quốc gia phải tuân thủ nguyên tắc thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế

Nguồn tập quán quốc tế là loại nguồn bổ trợ trong việc điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài, vì thế nó cũng không được coi là nguồn pháp luật bắt buộc áp dụng đương nhiên trong việc điều chỉnh quan hệ này Do đó, giá trị của tập quán quốc tế điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được đánh giá sau cùng Thông thường, tập quán quốc tế chỉ được áp dụng trong trường hợp không có quy phạm ghi nhận trong pháp luật trong nước hoặc trong điều ước quốc tế có liên quan không có quy định hoặc các bên chủ thể không có thỏa thuận

Nói tóm lại, vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài được giải quyết bằng nhiều nguyên tắc khác nhau nên được điều chỉnh bằng nhiều loại nguồn pháp luật khác nhau

1.5 Hậu quả pháp lý của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Như ta đã biết kết hôn là cơ sở pháp lý để hình thành các quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng vì vậy ly hôn chính là cơ sở pháp lý để làm thay đổi hay chấm dứt các quan hệ đó Ở nước ta hiện nay, việc điều chỉnh quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản trong

ly hôn có yếu tố nước ngoài thường được giải quyết theo pháp luật của nước nơi vợ chồng mang quốc tịch hoặc cư trú, riêng trường hợp quan hệ ly hôn có liên quan đến tài sản là bất động sản ở nước ngoài thì việc giải quyết vấn đề tài sản tuân theo pháp luật nơi có tài sản Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không có những điều khoản cụ thể, riêng biệt quy định

về quan hệ nhân thân, tài sản đối với trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài, vì vậy thông thường khi giải quyết vấn đề này, Tòa án sẽ áp dụng pháp luật chung về điều kiện, căn cứ ly hôn Vì vậy nếu thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc Tòa án Việt Nam thì Thẩm phán sẽ áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Bộ luật dân sự Việt Nam và các văn bản pháp luật liên quan để giải quyết các vấn đề hậu quả pháp lý của

Trang 21

việc ly hôn nói chung hay ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng, bao gồm cả quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng

1.5.1 Quan hệ về nhân thân

1.5.1.1 Quan hệ giữa vợ chồng sau ly hôn

Cũng như trường hợp ly hôn thông thường, việc ly hôn có yếu tố nước ngoài đương nhiên được coi là căn cứ làm chấm dứt quan hệ vợ chồng Việc chấm dứt này thường là do một bên yêu cầu hoặc do cả hai bên thuận tình và phải được Tòa án công nhận bằng văn bản cho phép ly hôn hoặc quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn của các đương sự Khi phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực tức là quan hệ hôn nhân chấm dứt trước pháp luật Kể từ thời điểm này, người vợ, người chồng đã ly hôn có quyền kết hôn với người khác mà không chịu bất kỳ sự ràng buộc nào từ phía bên kia Sau khi ly hôn, các quyền và nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ và chồng sẽ đương nhiên chấm dứt Nghĩa là các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng phát sinh từ khi kết hôn và gắn bó trong suốt thời kỳ hôn nhân như: nghĩa vụ yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, nghĩa vụ chung thủy giữa vợ chồng…sẽ đương nhiên mất đi

1.5.1.2 Quan hệ giữa cha mẹ và con cái sau ly hôn

Ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng tuy nhiên nó không hề làm chấm dứt quan hệ giữa cha mẹ và con cái Khi cha mẹ ly hôn, con cái là người chịu nhiều ảnh hưởng và thiệt thòi về mặt tâm lý, tình cảm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của đứa trẻ Con sinh

ra là con chung, do đó việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái là quyền đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ cả trước và sau khi ly hôn Chưa dừng lại ở đó, sau khi ly hôn còn làm phát sinh một vài vấn đề trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái như là việc con cái đương nhiên không thể chung sống được với cả cha lẫn mẹ Do vậy, việc giao con chưa thành niên cho một trong hai người nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là điều cần thiết nhưng điều này cũng không phải

là tước đi quyền làm cha, làm mẹ của phía bên kia Khi quyết định giao con chưa thành niên cho ai (một trong hai vợ chồng) nuôi dưỡng, Tòa án phải xem xét đến hoàn cảnh thực tế của mỗi bên nhằm đảm bảo lợi ích về mọi mặt cho đứa trẻ Bên cạnh vấn đề giao con cho ai nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn, thay đổi quyền nuôi con…cũng là những vấn đề phát sinh trong quan hệ cha mẹ, con cái sau ly hôn nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng Nói tóm lại, khi ly hôn trong nước cũng như ly hôn có yếu tố nước ngoài thì việc xác định người trực tiếp nuôi con và quyền thăm nom, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đều phải trên cơ sở đảm bảo quyền lợi cho con, đảm bảo điều kiện tốt nhất cho trẻ Trường hợp cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho trẻ, Tòa án có thể ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng trên cơ sở yêu cầu của một hoặc cả hai bên

1.5.2 Quan hệ về tài sản

Trong cuộc sống gia đình, ngoài quan hệ nhân thân thì quan hệ tài sản có vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo đời sống vật chất của gia đình Khi các bên vợ chồng có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật thì vấn đề được đặt ra là giải quyết tài sản của vợ chồng Cũng giống như quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của vợ và chồng cũng

sẽ chấm dứt kể từ sau khi bản án hay quyết định của Tòa án về việc ly hôn có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, việc chia tài sản sau ly hôn là vấn đề hết sức phức tạp từ việc chia tài sản chung của vợ chồng đến việc xác định tài sản riêng của các bên trong thời kỳ hôn nhân…

Trang 22

Đặc biệt, việc giải quyết quan hệ tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài còn gặp khó khăn hơn nữa bởi việc xác định khối tài sản khi tài sản đó ở nước ngoài, việc lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài trong trường hợp tài sản là bất động sản ở nước ngoài Do đó, khi giải quyết vấn đề tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam phải kết hợp việc vận dụng các văn bản pháp luật trong nước, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, đôi khi

cả pháp luật nước ngoài Về nguyên tắc chia tài sản vợ chồng khi ly hôn: pháp luật quy định, việc chia tài sản vợ chồng khi ly hôn trước hết do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết Nguyên tắc chung đó là, tài sản riêng của bên nào vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đó, tài sản chung sẽ được chia đôi nhưng có xem xét công sức đóng góp và hoàn cảnh của mỗi bên cũng như việc đảm bảo quyền lợi của người vợ và các con Việc xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng trên thực tế gặp không ít khó khăn nhất là khi có yếu tố nước ngoài trong đó Bởi một khi yêu cầu ly hôn đã phát sinh có thể mâu thuẫn vợ chồng cũng trở nên gay gắt nên về mặt tài sản họ cũng không chịu thiệt thòi, vợ hoặc chồng luôn muốn mình là người phải được hưởng nhiều hơn trong khối tài sản chung của vợ chồng dẫn đến vấn đề cần đặt ra là làm cách nào chứng minh được đó có phải

là tài sản riêng của vợ hoặc chồng hay không? Vì thế cần phải xác định rõ nguồn gốc, giá trị,

số lượng tài sản, tình hình tài sản khi ly hôn, công sức đóng góp của mỗi bên trong quá trình

vợ chồng sống chung…có như vậy mới có thể giải quyết vấn đề tài sản một cách thấu tình đạt lý, bảo vệ được quyền lợi của các bên Khi chia tài sản chung còn cần phải chú ý đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự không còn khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Trong thời kỳ hôn nhân không chỉ có tài sản chung mà đôi khi cũng phát sinh những khoảng nợ vay mượn của người khác để phục vụ cuộc sống gia đình đây là nợ chung của vợ chồng, do đó khi ly hôn khoảng nợ chung của vợ chồng cũng phải được xem xét giải quyết, thường là do vợ chồng cùng thỏa thuận nếu không thỏa thuận được thì sẽ chia đôi số nợ cho

Có nghĩa là, bằng hệ thống pháp luật, nhà nước đưa ra những điều kiện, căn cứ nhất định cho phép xóa bỏ hôn nhân hay còn gọi là ly hôn

1.6.1 Giai đoạn từ trước năm 1945

Trước năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, quan hệ hôn nhân

và gia đình trong đó có quan hệ ly hôn được điều chỉnh bởi các quy phạm được quy định trong một số Bộ luật dân sự, điển hình là Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ

Quốc triều hình luật còn gọi là Bộ luật Hồng Đức, được ban hành dưới triều Lê, là một công trình nghiên cứu vĩ đại, đã kế thừa các di sản luật pháp của các đời vua trước, đồng thời tiếp

Trang 23

thu có chọn lọc Bộ luật nhà Đường (Trung Quốc) mà vẫn giữ được nét độc đáo của nền cổ luật Việt Nam, thể hiện phong tục, tập quán lâu đời và truyền thống văn hóa dân tộc Hoàng Việt luật lệ còn gọi là Bộ luật Gia Long, được ban hành vào đầu thời Nguyễn Cả hai bộ luật này đều có những quy định khá cụ thể về việc điều chỉnh quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng, quan hệ tài sản giữa vợ, chồng và con trong gia đình, vấn đề nuôi con nuôi Tuy nhiên, các quy định này hầu hết chỉ thể hiện phong tục, tập quán của chế độ phong kiến thời xưa, không

có sự bình đẳng của nam và nữ Vì thế, các bộ luật đó cũng không thể tránh khỏi những hạn chế của chế độ phong kiến đang suy tàn, xu hướng duy trì chế độ phụ hệ cứng nhắc, triệt tiêu

sự bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái, con nuôi và con đẻ

Vào thời Pháp thuộc, đất nước bị chia làm ba kỳ Thực dân Pháp sau khi xâm lược Việt Nam và đặt ách đô hộ ở Nam kỳ đã ban hành Bộ luật giản yếu Nam kỳ để áp dụng ở Nam kỳ Bộ luật Bắc kỳ được ban hành vào ngày 30/3/1931 theo Nghị định của Thống sứ Bắc kỳ để thi hành trên toàn Bắc kỳ từ ngày 1/7/1931 thay cho Bộ luật Gia Long Còn Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật được ban hành năm 1936 thi hành trên toàn Trung kỳ Các bộ luật này có những quy phạm điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình trong đó có quan hệ ly hôn nhưng không có bộ luật nào quy định một cách cụ thể về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài, phần lớn những quy định này còn mang nặng tư tưởng phong kiến, đề cao nho giáo trọng nam khinh nữ và đề cao quyền gia trưởng Thực tế thể hiện khi Pháp vào đô hộ Việt Nam thì có rất nhiều người nước ngoài vào Việt Nam sinh sống, đặc biệt là người Pháp Do

đó, có rất nhiều cuộc kết hôn và không ít trong số đó phải ly hôn giữa người Việt Nam và người nước ngoài, đặc biệt là người Pháp nhưng lại không có quy phạm nào điều chỉnh quan

hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài mà chỉ dừng lại điều chỉnh vấn đề quốc tịch Nhưng dù sao

đó cũng là tiến bộ đáng kể của pháp luật trong thời gian này, các nhà làm luật đã thật sự quan tâm đến việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình trong đó có quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.6.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực

Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954

Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh về quy định tạm giữ các luật lệ hiện hành ở Việt Nam để thi hành cho đến khi ban hành những bộ luật mới cho toàn cõi Việt Nam, trừ những quy định đi ngược lại độc lập dân tộc và quyền lợi của nhân dân

Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/4/1946 đã có một bước phát triển mới trong việc quy định về vấn đề liên quan đến yếu tố nước ngoài

Trong giai đoạn này có một văn bản pháp lý có giá trị cao nhất đầu tiên đề cập gián tiếp đến quan hệ hôn nhân đó là Hiến pháp 1946, được Quốc hội thông qua ngày 9/11/1946 Tại

Điều 9 Hiến pháp 1946 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”

Nội dung này là cơ sở pháp lý về quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong quan hệ hôn nhân,

là nguyên tắc để giải quyết các quan hệ hôn nhân trong chế độ mới mà ngay sau đó nguyên tắc này đã được thể hiện rõ trong một số sắc lệnh liên quan tới hôn nhân được ban hành trong thời kì này

Ngày 22/5/1950, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh số 85-SL về cải cách tư pháp và luật tố tụng đã có những quy định mới về việc hòa giải các vụ kiện dân sự,

Trang 24

kể cả việc ly hôn Cùng ngày, Sắc lệnh số 97-SL cũng được ra đời, quy định sửa đổi một số quy lệ, chế định dân luật và tuyên bố bãi bỏ việc thi hành ba bộ luật dân sự (bộ dân luật Bắc

kỳ 1931, Bộ dân luật Trung kỳ 1936 và Bộ dân luật giản yếu Nam kỳ 1983) trên toàn cõi Việt Nam Sắc lệnh đã đưa ra nhiều quy định khá chi tiết về quan hệ hôn nhân So với quy định được ghi nhận trong ba Bộ dân luật trước đó thì các quy định trong Sắc lệnh có nội

dung rất tiến bộ Từ Điều 2 đến Điều 5 Sắc lệnh quy định: “…người đàn bà ly dị có thể lấy

chồng khác ngay sau khi có tuyên án ly dị, nếu dẫn chứng được rằng mình không có thai hoặc đang có thai; chồng và vợ có quyền bình đẳng trong gia đình…” Có thể thấy nội dung

các quy định trên là các nội dung pháp lý rất tiến bộ trong quan hệ hôn nhân mà chưa bao giờ được quy định trong pháp luật của Việt Nam trước đó

Đến ngày 17/11/1950, văn bản pháp lý riêng biệt đầu tiên đề cập về lĩnh vực hôn nhân là Sắc lệnh số 159-SL, quy định về vấn đề ly hôn Sự ra đời của Sắc lệnh quy định riêng biệt vấn đề ly hôn đã thể hiện phần nào quan điểm cho rằng hôn nhân là quan hệ dân sự đặc biệt,

nó có thể được tách ra khỏi quan hệ dân sự thông thường

Nhìn chung, pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung, quan hệ ly hôn nói riêng trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954, đã có những bước tiến bộ trong quan niệm về ly hôn, tuy nhiên chưa có quy định cụ thể nào điều chỉnh trực tiếp về vấn đề ly hôn

có yếu tố nước ngoài Chính vì vậy đã làm nảy sinh khả năng tiềm tàng cho sự phát triển tiếp tục của các xu hướng điều chỉnh pháp luật quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong các giai đoạn sau

Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975

Đây là thời kỳ nước ta bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc bởi vĩ tuyến 17 (được coi là ranh giới tạm thời giữa hai miền) Miền Bắc làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam mặc dù sống trong sự kìm kẹp của chính quyền bù nhìn, nhân dân vẫn tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ để thống nhất nước nhà Do đó, trong thời kỳ này, pháp luật điều chỉnh quan hệ dân

sự nói chung, quan hệ hôn nhân nói riêng, trong đó có quan hệ ly hôn ở mỗi miền khác nhau Trong giai đoạn này, bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày 31/12/1959 đã tiếp tục ghi nhận và khẳng định quyền

bình đẳng giữa nam và nữ được quy định tại đoạn 1 Điều 24 Hiến pháp 1959: “Phụ nữ nước

Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt…”, đoạn 4 Điều 24

Hiến pháp 1959 có nói: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” Xuất phát từ tình hình

thực tế của quan hệ hôn nhân và gia đình trong thời kỳ mới, Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày 29/12/1959 Điểm đáng lưu ý là việc ra đời của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 được xem như mốc đánh dấu cho việc tách quan hệ hôn nhân và gia đình ra khỏi ngành luật dân sự thành ngành luật độc lập.9 Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 không có quy phạm nào quy định về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm đã công bố Luật gia đình ngày 2/1/1959, trong

đó quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được quy định tại các điều 24, 25, 70 Nội dung chủ yếu của các điều khoản này chỉ quy định các điều kiện và thủ tục về tính hợp pháp của

9

Xem: Nguyễn Ngọc Điệp, “Tìm hiểu luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”, Nxb Mũi Cà Mau, 1999, tr.12

Trang 25

hôn thú được lập ở nước ngoài giữa người Việt Nam với nhau hoặc giữa người Việt Nam với người nước ngoài Tháng 11/1963, chính quyền họ Ngô bị phế truất và Luật gia đình năm 1959 của chế độ đó bị hủy bỏ và được thay thế bởi Sắc lệnh số 15/64 Nội dung của Sắc lệnh nhìn chung giống nội dung của Luật gia đình năm 1959 Ngày 20/12/1972, Bộ dân luật được ban hành thay thế cho Sắc lệnh số 15/64 cùng các văn bản sửa đổi và bổ sung Sắc luật này trước đó Như vậy, từ tháng 12/1972 cho đến ngày 30/4/1975 các quan hệ hôn nhân dưới chính quyền Ngụy Sài Gòn chịu sự điều chỉnh bởi các quy phạm quy định trong Bộ dân luật này Về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, Bộ dân luật năm 1972 quy định tại Điều

125 như sau: “Trong trường hợp hôn thú lập ở ngoại quốc, trong vòng 3 tháng sau khi trở về

lãnh thổ Việt Nam, người có quốc tịch Việt Nam phải xuất trình một bản sao chứng thư hôn thú cũ ít nhất là ba tháng gửi cho biện lý Tòa án nơi trú ngụ…” Cũng như nội dung của các

điều 24,25,70 của Luật gia đình 1959 dưới thời họ Ngô, Điều 125 của Bộ dân luật chỉ quy định các điều kiện và thủ tục để hôn thú được lập ở nước ngoài có giá trị tại miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ

Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, quan hệ hôn nhân và gia đình trên cả nước được điều chỉnh bởi Luật Hôn nhân và gia đình đang được áp dụng ở miền Bắc, đó là Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 Sau đó, Hiến pháp năm 1980 của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua trong kỳ họp thứ 7 quy định nhiều nguyên tắc cho việc ban hành các văn bản pháp luật đối với tất cả lĩnh vực trong

đó có lĩnh vực hôn nhân và gia đình Như vậy, có thể nói rằng trong giai đoạn này chưa có các quy phạm pháp luật được quy định riêng để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam Trong giai đoạn này, vấn đề liên quan tới việc giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ hôn nhân chưa được đặt ra, các quy phạm điều chỉnh quan hệ hôn nhân nói chung được áp dụng chỉ để giải quyết các vấn đề liên quan tới phía chủ thể là công dân Việt Nam

1.6.3 Giai đoạn từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực đến trước khi Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 có hiệu lực

Trong giai đoạn này, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã được ban hành, có hiệu lực thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 Việc dành một chương riêng (chương IX) trong Luật Hôn nhân gia đình năm 1986 để quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là một bước phát triển, tiến bộ mới trong công tác lập pháp ở nước ta về lĩnh vực này Nó không những thể hiện sự quan tâm của nhà nước đến vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài, mà còn phản ánh một xu thế thời đại là các quy định của pháp luật Việt Nam đã bước đầu có những nội dung phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế trong quan hệ hôn nhân

Giai đoạn 1986 đến 1992, Quốc hội đã thông qua một số văn bản pháp lý có liên quan như Thông tư số 06/TTLN ngày 30/12/1986 hướng dẫn về thủ tục và thẩm quyền giải quyết những việc ly hôn giữa công dân Việt Nam mà một bên ở nước chưa ký Hiệp định tương trợ

tư pháp với Việt Nam; Luật Quốc tịch năm 1988 tại Điều 14; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra đời ngày 29/11/1989… Ngày 2/12/1993, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài Đây là văn bản pháp luật đầu tiên tương đối hoàn chỉnh bởi nó không chỉ là cơ sở pháp lý

Trang 26

quan trọng mà còn tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan chức năng của Việt Nam thực hiện nhiệm vụ của mình trong việc bảo vệ quan hệ hôn nhân giữa công dân với người nước ngoài Bên cạnh Pháp lệnh năm 1993, các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước còn ban hành nhiều văn bản pháp luật khác nhằm điều chỉnh các quan hệ về hôn nhân có yếu tố nước ngoài như Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài được thông qua ngày 17/4/1993 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/1993; Pháp lệnh thi hành

án dân sự, được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 21/4/1993, quy định về vấn đề thi hành án các bản án, quyết định dân sự, trong đó có vấn đề ly hôn của Tòa án nước ngoài tuyên; Bộ luật dân sự Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 (Điều 36 về quyền bình đẳng vợ chồng, Điều 38 về ly hôn…); Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 (Điều

9 và Điều 10 quy định về vấn đề liên quan đến hôn nhân có yếu tố nước ngoài)…

Có thể nói trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000, cùng với các văn bản khác, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài đã đánh dấu sự phát triển đáng kể của pháp luật về ly hôn có yếu

tố nước ngoài Cho dù, hiện nay các văn bản này không còn hiệu lực nhưng những nội dung

cơ bản của các văn đề nêu trên đã được kế thừa và ghi nhận trong các văn bản pháp luật hiện hành

1.6.4 Giai đoạn từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực cho đến nay

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã đóng góp một phần to lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình Việt Nam trong suốt hơn 13 năm đổi mới Tuy nhiên, trong giai đoạn mới của đất nước, một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã bộc lộ nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Để đáp ứng những yêu cầu trong nước và quốc tế trong giai đoạn mới, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 được Quốc hội thông qua ngày 9/6/2000 tại kỳ họp thứ 7 khóa X và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2001 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã dành một chương riêng (Chương XI) gồm 7 điều quy định chế độ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, riêng ly hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại hai điều, Điều 102 và Điều 104 đã chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh về Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài năm

1993 và các văn bản có liên quan được ban hành trước đó

Nhằm cụ thể hóa một số quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về quan

hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Bên cạnh đó, ngày 16/4/2003 Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, trong đó có việc ly hôn có yếu tố nước ngoài Đến Thông

tư số 16/2010/TT-BTP ngày 8/10/2010 của Bộ Tư pháp ban hành để hướng dẫn chi tiết việc ghi vào sổ hộ tịch khi ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam Ngày 15/6/2004, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây là lần đầu tiên các vấn đề của luật tố tụng được ban hành dưới hình thức một bộ luật, đánh dấu bước phát triển mới của hệ thống pháp luật Việt Nam Và hiện tại

là Nghị định số 24/2013/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 28/3/2013 quy định chi tiết

Trang 27

thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài, có hiệu lực thi hành ngày 15/5/2013 và Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Tóm lại, cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, pháp luật điều chỉnh quan

hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài đã được hình thành và phát triển qua các giai đoạn lịch sử Việc hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

đã phần nào phản ánh xu thế khách quan trong quan hệ đối ngoại của nhà nước ta trong lĩnh vực này Khẳng định được vai trò quan trọng của nhà nước trong việc xây dựng pháp luật để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói chung, ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng bởi sự ra đời của các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng của nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong tình hình mới

Trang 28

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Theo quy định tại khoản 1 Điều 104 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì việc

ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau

thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy định của Luật này Xét dưới khía cạnh lý

luận của tư pháp quốc tế thì đây là loại quy phạm xung đột một bên, khẳng định pháp luật

của nước sở tại (Việt Nam) để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên,

quy định tại khoản 1 Điều 104 này thì chỉ thích hợp khi các bên đương sự (hoặc ít nhất một

bên đương sự là công dân Việt Nam) thường trú tại Việt Nam vào thời điểm xin ly hôn Cho

nên trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời

điểm yêu cầu ly hôn thì theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000, việc ly hôn đó được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ

chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì theo pháp luật Việt Nam Ngoài ra, theo

quy định tại khoản 3 Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì việc giải quyết vấn

đề tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn phải tuân theo pháp luật của nước nơi có

bất động sản đó Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam được áp dụng cả về mặt nội

dung lẫn tố tụng nhằm điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài trong trường hợp có

quy phạm xung đột dẫn chiếu đến Theo nội dung của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000,

quan hệ ly hôn được ghi nhận tại Chương X với 15 điều (từ Điều 85 đến Điều 99), quy định

chi tiết về quyền của các bên đối với việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, các căn cứ để

Tòa án xem xét khi ly hôn, quyền thăm nom con cái sau ly hôn… Và theo khoản 1 Điều 7

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Các quy định của pháp luật về hôn nhân và

gia đình của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân

và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp luật này có quy định khác”, vì vậy về

nguyên tắc, các quy định về ly hôn được ghi nhận tại Chương X cũng được áp dụng để điều

chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam khi có quy phạm xung đột dẫn

chiếu đến Nói tóm lại, quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 104 của

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, theo quy định đó thì quan hệ ly hôn này sẽ được điều

chỉnh bởi pháp luật nước ngoài hoặc bởi pháp luật Việt Nam, trong trường hợp dẫn chiếu

đến pháp luật Việt Nam thì về phần luật nội dung được giải quyết theo các quy định tại

Chương X của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, còn về phần luật tố tụng thì tuân theo

các quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan

2.1 Điều kiện ly hôn và trường hợp hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn có yếu tố nước

ngoài

2.1.1 Điều kiện ly hôn có yếu tố nước ngoài

2.1.1.1 Hôn nhân tồn tại không trái với quy định của pháp luật hiện hành

Hôn nhân chấm dứt bằng con đường ly hôn phải là hôn nhân có giá trị pháp lý, nghĩa

là được xác lập phù hợp với các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết

hôn Tuy nhiên, những người chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn khi xin

Trang 29

ly hôn Tòa án sẽ ra quyết định không thừa nhận quan hệ vợ chồng Như vậy việc ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam cũng cần những điều kiện nêu trên Mặt khác, nếu ly hôn giữa vợ chồng mà khi một bên yêu cầu ly hôn, bên còn lại chết vào thời điểm bên kia yêu cầu ly hôn thì việc yêu cầu ly hôn sẽ không cần đến Còn nếu trong trường hợp vụ án

ly hôn đang diễn tiến mà một trong hai bên chết thì Tòa án xếp hồ sơ và người còn sống được trả về tình trạng độc thân với tư cách vợ (chồng) góa chứ không phải là vợ (chồng) ly hôn Nếu hôn nhân bị hủy theo một bản án có hiệu lực pháp luật thì việc ly hôn cũng không thể được xem xét, vì không có đối tượng.10

2.1.1.2 Năng lực hành vi của vợ, chồng trong việc xin ly hôn có yếu tố nước ngoài

Nếu vợ hoặc chồng muốn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài thì cần phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Người mất năng lực hành vi không thể yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và cả người giám hộ của người mất năng lực hành vi cũng không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thay cho người được giám hộ: có thể nói rằng người mất năng lực hành vi không có năng lực pháp luật ly hôn.11

2.1.1.3 Sự tự nguyện của người xin ly hôn có yếu tố nước ngoài

Quyền xin ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng là quyền thuộc về nhân thân của vợ chồng nên khi vợ hoặc chồng xin ly hôn phải xuất phát từ ý chí tự nguyện, không bị ép buộc hoặc bị đe dọa… Việc kiểm tra sự tự nguyện trong ly hôn thuộc trách nhiệm của thẩm phán Nếu người viết đơn xin ly hôn hoặc ký vào đơn xin ly hôn trong điều kiện không có sự ưng thuận hoặc sự ưng thuận không được hoàn hảo, thì Tòa án có thể bác đơn mà không cần xét nội dung đơn Không chỉ tự nguyện trong việc xin ly hôn, người xin ly hôn còn phải thực hiện mong muốn ly hôn và sự mong muốn phải được duy trì trong suốt thời gian diễn ra vụ

án ly hôn

2.1.2 Trường hợp hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn có yếu tố nước ngoài

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 85 khoản 2, trong trường hợp vợ có

thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn Cho nên điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp xin ly hôn có yếu tố nước

ngoài Tuy nhiên, điều luật không được áp dụng trong trường hợp người xin ly hôn lại là

người vợ, cho dù người vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì vẫn có

quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn Mặt khác, điều luật được áp dụng, ngay cả trong trường hợp người vợ đang mang thai với người khác hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi mà đứa trẻ không phải là con của người chồng thì người chồng cũng không có quyền xin ly hôn.12

2.2 Căn cứ giải quyết ly hôn và các hình thức ly hôn có yếu tố nước ngoài

2.2.1 Căn cứ cho ly hôn và quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài

Trang 30

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật (Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Đương nhiên, nếu các đương sự kiên quyết xin ly hôn và không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết các vấn đề sau ly hôn, bất chấp những nỗ lực hòa giải của thẩm phán, thì thẩm phán lập biên bản hòa giải không thành

và đưa vụ án ra xét xử Sau đó, Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm

trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn (khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Ngoài ra,

theo quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “trong trường

hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn” Để cụ thể hóa các quy định của Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000,

Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã giải thích tại mục số 8.13 Như vậy, có thể từ đó nhận thấy rằng, khi tiến hành giải quyết việc ly hôn nói chung, ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng, Tòa án chỉ căn cứ vào bản chất của cuộc hôn nhân mà xem xét đến yếu tố lỗi của vợ chồng, nếu thấy thực tế quan hệ vợ chồng không còn tồn tại, tình trạng mâu thuẫn đã căng thẳng đến mức không thể hàn gắn được, sự tan vỡ của cuộc hôn nhân là không tránh khỏi… thì Tòa án quyết định cho

ly hôn Tuy nhiên đến dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã bãi bỏ Điều 88 và Điều 89 này

Còn về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài: pháp luật Việt Nam công nhận quyền tự do kết hôn, đồng thời cũng công nhận quyền ly hôn của vợ chồng Cho nên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định vợ, chồng đều có quyền ngang nhau trong việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn14 nhưng phải tuân theo một số điều kiện nhất định như: người khởi kiện phải có năng lực hành vi dân sự (người bị mất năng lực hành vi dân sự không thể tự mình thực hiện được quyền khởi kiện vụ án ly hôn, người giám hộ cho họ cũng không được đại diện để làm đơn yêu cầu ly hôn thay cho người

bị mất năng lực hành vi dân sự), người đứng đơn khởi kiện phải là người có quyền khởi kiện

vụ án ly hôn Mà người có quyền khởi kiện chỉ có thể là vợ hoặc chồng trong quan hệ hôn nhân hợp pháp, tức việc xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn mới có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và họ phải tự mình thực hiện quyền đó Và mặc nhiên, không loại bỏ trường hợp khi người vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn15, nếu rơi vào hoàn cảnh đó thì người chồng được coi là không có quyền khởi kiện vụ án ly hôn

2.2.2 Các hình thức ly hôn có yếu tố nước ngoài

Ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng như ly hôn trong nước, do quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thuộc về người vợ hoặc người chồng hoặc cả hai vợ chồng nên thường thì

có hai hình thức ly hôn có yếu tố nước ngoài, đó là đơn phương xin ly hôn (ly hôn theo yêu cầu của một bên) và thuận tình ly hôn

2.2.2.1 Đơn phương xin ly hôn có yếu tố nước ngoài

Trang 31

Đơn phương ly hôn có yếu tố nước ngoài là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của một bên (vợ hoặc chồng) Tất nhiên, đơn phương xin ly hôn chỉ thể hiện ý chí ly hôn của một bên mà không có sự đồng thuận của cả

vợ chồng Các trường hợp đơn phương ly hôn có yếu tố nước ngoài thường là những trường hợp xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn hay là không liên lạc được với bị đơn (người không muốn ly hôn) đang ở nước ngoài Thủ tục pháp lý ly hôn đơn phương sẽ phức tạp trong quá trình giải quyết tại Tòa án Những nội dung quan hệ vợ chồng được giải quyết tại Tòa án không được sự hợp tác của vợ hoặc chồng sẽ tốn nhiều thời gian giải quyết Hai bên không thống nhất được nội dung ly hôn do đó các bên có trách nhiệm đưa ra các căn cứ chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích của mình Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để xem xét giải quyết các vấn đề phát sinh trong vụ án ly hôn có

yếu tố nước ngoài Theo Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Khi một

bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án xem xét, giải quyết việc ly hôn” Tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2000 đã quy định rất cụ thể các căn cứ để vợ hoặc chồng đơn phương xin ly

hôn: “Tòa án có thẩm quyền giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ, chồng Trong

trường hợp vợ, chồng yêu cầu ly hôn, nếu hòa giải không thành hoặc không hòa giải được thì Tòa án quyết định cho ly hôn và giải quyết về tài sản, con của họ, nếu có một trong những căn cứ sau: Vợ, chồng vi phạm thường xuyên, nghiêm trọng các nghĩa vụ của vợ, chồng; Vợ, chồng không sống chung từ 2 năm trở lên mà không có lý do chính đáng; Hôn nhân ở tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; Vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích….”

2.2.2.2 Thuận tình trong việc ly hôn có yếu tố nước ngoài

Thuận tình ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc vợ chồng cùng yêu cầu Tòa án cho

phép được ly hôn Theo Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định: “Trong

trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thỏa thuận được hoặc tuy có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án quyết định” Có thể thấy trong việc thuận tình ly hôn, sự tự nguyện ly hôn của

vợ chồng có ý nghĩa quan trọng để Tòa án công nhận hay không công nhận sự thuận tình ly hôn của họ Tòa án chỉ công nhận thuận tình ly hôn khi cả hai vợ chồng cùng thật sự mong muốn được chấm dứt hôn nhân do cuộc sống chung không thể nào kéo dài vì tình cảm giữa

họ không còn, mâu thuẫn giữa vợ chồng trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành Do tính chất của việc hai bên đã thỏa thuận được về vấn đề ly hôn nên thường đã có thỏa thuận trước về chia tài sản và người chăm sóc con cái Khi đã có thỏa thuận hai bên, Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận về chia tài sản, con cái Nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án chia tài sản và giải quyết người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng… Tuy nhiên, về vấn

đề cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc thuận tình ly hôn thì tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã đưa ra hai phương án Phương

án thứ nhất cho rằng, trong trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn và giữa họ không có yêu cầu giải quyết về tài sản, không có con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng

Trang 32

lực hành vi dân sự, con không có khả năng lao động, thì việc giải quyết ly hôn thuộc thẩm quyền của cơ quan đăng ký hộ tịch Trong trường hợp này, cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ xác nhận việc thuận tình ly hôn của vợ chồng Phương án thứ hai cho rằng, việc giải quyết ly hôn trong mọi trường hợp đều thuộc thẩm quyền của Tòa án như hiện hành Trong trường hợp này thì người viết đồng tình với phương án thứ nhất, bởi đơn giản khi ly hôn mà không

có tranh chấp thì không nhất thiết phải thuộc thẩm quyền của Tòa án như vậy sẽ giảm bớt được gánh nặng cho Tòa án, cũng như góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết

ly hôn có hiệu quả hơn

2.3 Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài

2.3.1 Thẩm quyền theo cấp

Căn cứ Điều 33, Điều 34 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định về thẩm quyền của Tòa án theo cấp và khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về thẩm quyền giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài16 thì thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc về Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, trừ trường hợp ly hôn mà người Việt Nam định cư ở nước ngoài có mặt ở Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, hoặc những việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới thì thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam giải quyết

Trường hợp bị đơn ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức gì về họ từ hai năm trở lên, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao17, coi đây là trường hợp mất tích thông thường, do

đó nguyên đơn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án cấp huyện nơi họ thường trú hoặc Tòa án cấp huyện nơi cư trú cuối cùng của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật

2.3.2 Thẩm quyền theo lãnh thổ

Thẩm quyền theo lãnh thổ để giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài được xác định theo khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011):

“Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: Tòa

án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25,27,29 và

31 của Bộ luật này; Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn… ” Như vậy, thẩm quyền giải quyết thuộc về

Tòa án nơi cư trú hoặc nơi làm việc của bị đơn, các đương sự cũng có thể thỏa thuận Tòa án

16

Khoản 3 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

“Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng… có yếu tố nước ngoài, xem xét việc công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài…

Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng… giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam…”

17

Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, phần II, mục 2.1, điểm b

Ngày đăng: 05/10/2015, 09:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w