1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số vấn đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử

91 702 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những thuận lợi, thương mại điện tử cũng phát sinh một số vấn đề đáng quan ngại đặc biệt là vấn đề về thuế, có nhiều câu hỏi được đặt ra, trong khi môi trường pháp lý giành cho

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

MỘT SỐ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THUẾ LIÊN QUAN

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Bộ môn: Luật Thương mại MSSV: 5105908

Lớp: Luật Thương mại 1 Khóa: 36

Cần Thơ, 12/2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Dù bản thân đã cố gắng rất nhiều nhưng không có sự thành công nào mà không gắn liền với sự hỗ trợ và sự giúp đỡ từ phía thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi đến quý thầy cô khoa Luật – trường Đại học Cần Thơ lời cảm

ơn đã tận tình truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian học tập tại trường

Đặc biệt hơn, xin chân thành cám ơn cô Lê Thị Nguyệt Châu đã tạo điều kiện và hết lòng hướng dẫn tận tình cho tôi, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu, đưa ra những ý kiến đánh giá hết sức chân thành và quý báu để tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này Cuối lời, tôi xin chúc thầy cô, gia đình cùng tất cả các bạn luôn luôn dồi dào sức khỏe và thành công trong cuộc sống

Trân trong kính chào!

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Thu Thảo

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………… , ngày….tháng….năm……

Giảng viên hướng dẫn

(ký tên)

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………… , ngày….tháng….năm……

Giảng viên phản biện

(ký tên)

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………… , ngày….tháng….năm……

Hội đồng chấm luận văn

(ký tên)

Trang 6

STT Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt Tên tiếng anh

1 CNTT Công nghệ thông tin

3 EDI Trao đổi dữ liệu điện tử Electronic Data Interchange

4 EFT Chuyển tiền điện tử Electronic Fund Transfer

5 EFTPOS Chuyển tiền điện tử tại

11 TMĐT Thương mại điện tử

12 TNDN Thu nhập doanh nghiệp

World Trade Organization

17 VECOM Hiệp hội Thương mại điện

tử Việt Nam

18 EBI Chỉ số Thương mại điện

tử

Trang 7

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu đề tài 4

CHƯƠNG 1 5

TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ THUẾ LIÊN QUAN ĐẾN 5

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 5

1.1 Đôi nét lịch sử về sự hình thành và phát triển hoạt động thương mại điện tử 5

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của Internet 5

1.1.2 Sự hình thành và phát triển của thương mại điện tử 8

1.2 Sơ lược quá trình phát triển về quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam 9

1.3 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nguyên tắc quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử 12

1.3.1 Khái niệm về quản lý thuế và quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử 12

1.3.2 Các khái niệm có liên quan 16

1.3.3 Nguyên tắc quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử 19

1.3.4 Ý nghĩa trong hoạt động quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử 22

1.3.4.1 Ý nghĩa đối với nhà nước 22

1.3.4.2 Ý nghĩa đối với xã hội 23

CHƯƠNG 2 24

MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUẢN LÝ THUẾ LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 24

2.1 Quy định chung về quản lý thuế liên quan đến hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam 24

2.2 Xác định đối tượng nộp thuế và chịu thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam 24

2.2.1 Phân tích ví dụ 25

2.2.2 Phân tích đối tượng nộp thuế và đối tương chịu thuế theo quy định 31

2.3 Khai thuế điện tử 36

2.5 Xử lý vi phạm liên quan đến hoạt động thương mại điện tử 45

2.6 Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật về thuế 49

CHƯƠNG 3 54

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ THUẾ LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 54

3.1 Thực trạng quản lý thuế đối với thương mại điện tử ở Việt Nam 54

3.1.1 Các kết quả báo cáo và thống kê trên thực tế về tiềm năng phát triển đối với thương mại điện tử 54

3.1.1.1 Theo báo cáo chỉ số thương mại điện tử Việt Nam năm 2012 54

3.1.1.2 Theo báo cáo thương mại điện tử năm 2012 58

3.1.2 Tình hình cải cách thủ tục hành chính về thuế liên quan đến hoạt động thương mại điện tử 64

3.1.3 Thực trạng và những vấn đề phát sinh từ thực trạng đối với quản lý thuế liên quan đến thương mại điện tử 68

3.2 Những định hướng và giải pháp quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử 73

3.2.1 Những định hướng quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử 73

3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với thương mại điện tử 74

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với tốc độ phát triển như vũ bão và đang thâm nhập sâu rộng vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, công nghệ thông tin có tác dụng thay đổi cơ bản quy trình sản xuất, phân phối hàng hóa và dịch vụ, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội và thay đổi thói quen mua sắm của dân cư Cùng với sự hình thành và phát triển của Internet, thương mại điện tử ngày càng được phát triển và ứng dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới, trở thành cầu nối quan trọng giữa sản xuất và tiêu dùng, làm thu hẹp khoảng cách giữa người bán và người mua, giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trong hoạt động xuất nhập khẩu, đang chứng tỏ lợi thế của một phương thức giao dịch mới đầy năng động và có hiệu quả Trong xu thế tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều quốc gia coi việc phát triển và ứng dụng thương mại điện tử là một hướng ưu tiên quan trọng trong hoạt động của Chính phủ và các doanh nghiệp

Tại Việt Nam, thuật ngữ “thương mại điện tử” bắt đầu manh nha vào đầu năm

2000 song chưa thật sự phát triển bởi nền kinh tế của Việt Nam vẫn chủ yếu là nền kinh tế hàng hóa, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu phát triển kinh tế của Nhà nước Vậy nên, Việt Nam chưa có chính sách thuế riêng và quy trình quản

lý thuế riêng cho thương mại điện tử (TMĐT) và tác động của thương mại điện tử chưa sâu, yêu cầu về một cơ chế quản lý riêng cho TMĐT chưa thật sự cần thiết vào thời điểm lúc bấy giờ Ngày 11 tháng 01 năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO (World Trade Organization – Tổ chức thương mại thế giới), đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của đất nước và đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi nội tại Việt Nam phải thay đổi để thích ứng với một môi trường thương mại quốc tế Một trong những vấn đề hàng đầu cần hoàn thiện đó là quản lý thuế liên quan đến TMĐT Thương mại điện tử được hiểu theo nghĩa thông thường là hoạt động thương mại sử dụng phương tiện điện tử trong quá trình giao dịch Đây là một phương thức kinh doanh mới và tiến bộ, phù hợp với xu thế hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Những lợi ích đáng kể so với hoạt động thương mại theo kiểu truyền thống có thể kể đến như tốc độ xử lý giao dịch diễn ra nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm thời gian, không gian giao dịch đôi khi vượt qua biên giới của một quốc gia,…chính vì lẽ đó mà thương mại điện tử đang ngày càng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và sự

Trang 9

phát triển kinh tế của Quốc gia nói chung Quả thật, đây là hoạt động thương mại đầy tiềm năng trong thời buổi hội nhập và công nghệ thông tin phát triển

Bên cạnh những thuận lợi, thương mại điện tử cũng phát sinh một số vấn đề đáng quan ngại đặc biệt là vấn đề về thuế, có nhiều câu hỏi được đặt ra, trong khi môi trường pháp lý giành cho TMĐT còn chưa hoàn thiện thì cách thức quản lý thuế hiện tại của cơ quan quản lý thuế đối với hoạt động thương mại truyền thống có thích hợp với phương thức mới này nữa hay không, những vấn đề phát sinh gây khó khăn cho quá trình thu thuế so với hoạt động thương mại truyền thống, thực trạng cho đến thời điểm hiện tại, những phát sinh thực tế của hoạt động thương mại này diễn biến như thế nào và thái độ của Nhà nước hiện tại và tương lai ra ra sao Thuế liên quan đến thương mại điện tử là một trong những nguồn thu rất quan trọng trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu, nếu không có cơ chế quản lý thích hợp sẽ gây thất thoát cho Ngân sách Nhà nước Đây là những vấn đề mà Nhà nước đang cố gắng giải quyết và đang được các nhà đầu tư, nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước quan tâm

Đúc kết từ những vấn đề nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu đề tài “Một số vấn

đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử” là cấp thiết và mang tính thời sự Đó

cũng chính là lý do thúc đẩy người viết lựa chọn và nghiên cứu đề tài luận văn này

2 Phạm vi nghiên cứu

Thuế là một nguồn thu chính trong Ngân sách Nhà nước Nhưng để quản lý thuế

có hiệu quả lại là vấn đề phức tạp bởi quản lý thuế liên quan đến nhiều ngành nhiều lĩnh vực mà mỗi ngành mỗi lĩnh vực lại có những đặc thù riêng và cần phải có phương thức quản lý thích hợp, không thể áp dụng một khuôn duy nhất cho tất cả các lĩnh vực Quản lý thuế trải qua nhiều khâu: từ đăng ký thuế, khai thuế, xác định

số thuế phải nộp, nộp thuế đến các hình thức xử phạt khi vi phạm Thương mại điện

tử là một hoạt động thuộc lĩnh vực thương mại, nhưng do hoạt động này sử dụng điện tử để tiến hành hoạt động kinh doanh nên trong quá trình quản lý thuế gặp rất nhiều khó khăn ngay từ khi xác định đối tượng nộp và chịu thuế, đến đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế đến các hình thức xử phạt dành riêng cho hoạt động này Trong

đề tài luận văn của người viết, người viết chỉ đề cập và phân tích đến cách thức tiến hành nộp thuế nếu liên quan đến TMĐT, những vấn đề phát sinh gây khó khăn cho quá trình thực hiện nộp thuế và thu thuế, nêu lên những thực trạng và giải pháp, người viết không đề cập đến cách tính thuế ở mỗi loại thuế liên quan đến TMĐT Về bản chất, thương mại điện tử với thương mại truyền thống là giống nhau, chỉ khác

Trang 10

nhau duy nhất ở phương tiện thực hiện Vậy nên, cách tính thuế và thuế suất ở hoạt động thương mại truyền thống như thế nào thì thương mại điện tử cũng có cách tính thuế với thuế suất tương tự

3 Mục đích nghiên cứu

“Một số vấn đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử” nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề phát sinh, pháp lý, thực tiễn và giải pháp về quản lý thuế liên quan đến thương mại điện tử Về những vấn đề phát sinh đáng quan ngại, trước sự phát triển nhanh chóng và phức tạp của thương mại điện tử, ngày đóng vai trò quan trọng trong nguồn thu Ngân sách Nhà nước, tìm kiếm và phân tích những khó khăn gặp phải, từ đó đưa ra những hướng quản lý thích hợp Về mặt pháp lý, thuật ngữ

“thương mại điện tử” vẫn chưa được định nghĩa chính thức trong văn bản pháp luật Việt Nam, chưa có cách hiểu thống nhất khái niệm “thương mại điện tử” mà thay

vào đó chỉ tồn tại khái niệm “giao dịch điện tử”, lợi nhuận mà TMĐT mang lại là rất

lớn, nhưng cơ chế riêng để quản lý thuế chưa có cũng như những quy định pháp luật

để kiểm soát quản lý thuế liên quan đến thương mại điện tử còn nhiều lỗ hổng và cần phải được hoàn thiện nhanh chóng trong thời gian sắp tới Về thực tiễn và giải pháp, từ những phát sinh trên thực tế, những số liệu khảo sát về sự phát triển của hoạt động TMĐT, người viết đã đưa ra những quan điểm của Nhà nước, của các nhà nghiên cứu luật học và ngay cả ở bản thân người viết Những quan điểm, ý kiến được đề cập trong luận văn, khi hoàn thành xong đề tài luận văn này, có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo và góp phần gợi mở hướng hoàn thiện về vấn đề

về quản lý thuế liên quan đến thương mại điện tử

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài luận văn này, người viết đã sử dụng một số phương pháp như sau:

- Phương pháp nghiên cứu trên tài liệu, sách vở;

- Phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết;

- Phương pháp so sánh;

- Phương pháp sưu tầm số liệu khảo sát và cả ở trên thực tế;

- Phương pháp tổng hợp các thông tin thông qua các bài viết, các văn bản pháp luật

có liên quan, một số sách, các công trình nghiên cứu có giá trị tạp chí chuyên ngành

Trang 11

5 Kết cấu đề tài

Luận văn có kết cấu gồm ba chương:

- Chương 1: Tổng quan về quản lý thuế liên quan đến thương mại điện tử

- Chương 2: Quy định pháp luật Việt Nam về quản lý thuế liên quan đến

thương mại điện tử

- Chương 3: Thực trạng và giải pháp quản lý thuế liên quan đến thương mại điện tử

Đề tài nghiên cứu “Một số vấn đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử” là

một vấn đề phức tạp, nó đòi hỏi người nghiên cứu đề tài cần có kiến thức sâu rộng

cả về lý luận thực tiễn quản lý thuế liên quan đến thương mại điện tử Ngoài ra, nó còn đòi hỏi người viết phải nắm bắt được những vấn đề cốt lõi, những tồn tại và vướng mắc còn gặp phải, để từ đó đề xuất giải pháp giải quyết Là một sinh viên năm cuối, lần đầu tiên làm quen với một đề tài nghiên cứu khoa học mà thời gian nghiên cứu còn hạn chế cũng như vốn kiến thức hiểu biết có giới hạn Vì vậy, có những thiếu sót, khiếm khuyết hay sai lầm trong đề tài nghiên cứu này là điều không thể tránh khỏi Người viết rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến đánh giá, phê bình của thầy cô, các nhà nghiên cứu pháp luật và các bạn sinh viên

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ THUẾ LIÊN QUAN ĐẾN

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1 Đôi nét lịch sử về sự hình thành và phát triển hoạt động thương mại điện tử

Không thể chối cãi được rằng: “Sự hình thành và phát triển thương mại

điện tử gắn liền với sự ra đời và phát triển của Internet” Internet đã tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động của nền kinh tế, ngành và doanh nghiệp; tạo môi trường kinh doanh mới, hình thành kênh thông tin, cung cấp, phân phối mới trên các thị trường điện tử Các hoạt động thương mại điện tử như mua bán hàng hóa, dịch vụ, thông tin…đang tăng trưởng với tốc độ cao hằng năm và thực sự đã làm thay đổi thế giới, các doanh nghiệp, các ngành nghề và từng cá nhân cũng chính bởi sự phát triển song hành của Internet

Internet là nguồn gốc của sự hình thành loại hình giao dịch thương mại tiên tiến và được biết đến với tên gọi là thương mại điện tử (E-Commerce) Thương mại điện tử (TMĐT) là quá trình mua bán hàng hóa hay dịch vụ thông qua mạng điện tử mà phương tiện phổ biến dùng trong hoạt động này là Internet Chính vì sự quan trọng của Internet trong sự phát triển của TMĐT mà người viết sẽ đề cập đến sự hình thành Internet trước khi đi đến sự hình thành và phát triển hoạt động thương mại điện tử - một hoạt động được xem là khá mới mẻ nhưng chứa đựng nhiều tiềm năng phát triển ở hiện tại và tương lai cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của Internet

Internet bắt nguồn từ những năm 60 của thế kỷ XX khi các nhà nghiên cứu Mỹ tìm kiếm các cách thức mới để liên lạc với nhau Bắt nguồn từ một dự

án do Cơ quan quản lý các dự án cao cấp (ARPA-Advanced Research Projects Agency) – Bộ Quốc phòng Mỹ khởi xướng năm 1969, với mục tiêu tạo ra một mạng máy tính tin cậy kết nối giữa Bộ Quốc phòng Mỹ với các nhà thầu nghiên cứu khoa học và quân sự (bao gồm một số lớn các trường đại học, nơi tiến hành các hoạt động các nghiên cứu quân sự Mục tiêu hình thành mạng máy tính tin cậy này bao gồm việc thiết lập hệ thống đường dẫn năng động, đảm bảo rằng

Trang 13

trong trường hợp nếu một liên kết mạng nào đó bị phá hủy do các cuộc tấn công thì lưu thông trên mạng có thể tự động chuyển sang những liên kết khác Đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, dự án trên thành công và mạng ARPANET- tiền thân của mạng Internet ra đời Mạng ARPANET (Advanced Research Projects Agency Network) được thiết lập giữa bốn trường đại học của

Mỹ và với sự giúp đỡ của Bộ Quốc Phòng Mạng ARPANET cho phép người

sử dụng liên lạc với nhau thông qua “Giao thức chuẩn điều khiển mạng” (Network Control Protocol) Theo giao thức chuẩn này thì một thông tin được chia thành những “gói”(packets) dữ liệu nhỏ tại nơi gởi đi, hòa vào dòng luân chuyển dữ liệu kết nối giữa các máy tính và được nhập lại như cũ tại nơi đến.1

Trong những năm đầu, mạng ARPANET được sử dụng để gửi e-mail (lần đầu tiên vào năm 1971), tổ chức thảo luận trực tuyến, khai thác dữ liệu từ xa và giúp truyền tệp dữ liệu giữa các cơ quan thuộc Chính phủ, các công ty và các trường đại học Bộ Quốc Phòng Mỹ lúc đầu cũng có ý định sử dụng mạng này như một công cụ thông tin trong chiến tranh nhưng cuối cùng đã từ bỏ Trong thời gian này, một số mạng khác sử dụng cho việc nghiên cứu và giáo dục như BITNET và NSFNET cũng ra đời

Trong những năm 80, giao thức chuẩn quốc tế TCP/IP (Transition Control Protocol/ Internet Protocol) được đưa ra, thiết lập những tiêu chuẩn lưu chuyển thông tin giữa các mạng và cho phép xác định người sử dụng thông qua các địa chỉ Internet (Internet Addresses) hoặc tên miền (domain names) Điều này có thể làm cho các mạng độc lập liên kết với nhau Từ đó, mạng Internet được hình thành và ngày càng phát triển Chỉ tính đến năm 1997 thì đã có 110 nước

đã kết nối Internet.2

Ngày nay, Internet đã có mặt hầu hết trên các nước trên thế giới Dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của hoạt động thương mại điện tử, chính là việc Tim Berners phát minh ra hệ thống mạng toàn cầu hay viết tắt là WWW (World Wide Web)

Từ đây, thương mại điện tử đã thực sự bùng nổ và được thế giới biết đến là một trong những phương thức giao dịch thương mại tiên tiến nhất

1 TS Nguyễn Văn Minh và Trần Hoài Nam: “Giao dịch điện tử một số vấn đề cơ bản”, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2002, Tr 36-38

2 Bộ Thương mại điện tử: Thương mại điện tử, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1999

Trang 14

Năm 1990, mạng WWW (World Wide Web) ra đời, lần đầu tiên mở ra khả năng truyền tải trên mạng các trang web kết hợp giữa đồ họa và văn bản.3

Hình 1: Biểu đồ tăng trưởng số người sử dụng Internet

Nguồn: Website của Trung tâm Internet Việt Nam www.vnmic.com Với khả năng chứa đựng và chuyển tải một lượng thông tin khổng lồ và đa dạng, Web ngày càng được cả thế giới chấp nhận làm tiêu chuẩn giao tiếp thông tin và được ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực dịch vụ

và thương mại

Hình 2: Biểu đồ tỷ lệ số người sử dụng Internet/100 dân

Nguồn: Website của Trung tâm Internet Việt Nam www.vnmic.com4

3 http://info.iso.org/guest/zankan/internet/history/hit.htm , [Truy cập ngày 13/9/2013]

Trang 15

1.1.2 Sự hình thành và phát triển của thương mại điện tử

Cùng với sự phát triển của Internet, vào những năm 60 của thế kỷ XX, việc trao đổi dữ liệu và thư điện tử (e-mail) đã được nhiều doanh nghiệp trên thế giới thực hiện trên các mạng nội bộ (Intranet) của mình Cũng trong khoảng thời gian này, việc tự động hóa trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính bắt

đầu hình thành và phát triển

Chẳng hạn, quá trình xử lý séc ra đời vào những năm 60 của thế kỷ thứ

XX, tiếp theo là quá trình xử lý thẻ tín dụng và chuyển tiền điện tử Tiếp đó là

sự ra đời của các trạm giao dịch tự động cho phép khách hàng có thể thực hiện các giao dịch và truy cập trực tiếp tới các thông tin về tài khoản của mình Vào những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều hệ thống giao dịch tự động được đưa vào hoạt động tới việc sử dụng các thiết bị giao dịch tự động (ATMs – Automatic Teller Machines) và các thiết bị bán hàng tự động (Font-of-sale machines) Trong những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi máy tính cá nhân được sử dụng rộng rãi không những ở công sở mà ở cả gia đình, nhiều tổ chức tài chính đã mở rộng các công nghệ và mang đến cho khách hàng ngày càng nhiều dịch vụ trên cơ sở máy tính cá nhân cả ở công sở và cả ở gia đình

Để tăng nguồn thu nhập, các tổ chức tài chính luôn nghiên cứu và áp dụng nhiều phương tiện giao dịch thuận lợi, đồng thời hạ thấp chi phí dịch vụ, rút ngắn thời gian giao dịch của khách hàng Chính sự cạnh tranh trong phát triển công nghệ thương mại điện tử và các công nghệ trong dịch vụ đối với khách hàng là động lực thúc đẩy hoạt động thương mại điện tử ngày càng phát triển

Cuối năm 1997, Việt Nam hòa nhập Internet Sau một thời gian ngắn thuật ngữ “thương mại điện tử” cũng bắt đầu xuất hiện song chưa phát triển Đến năm 2000 thì đã có nhiều cửa hàng Internet và hầu như ai cũng có thể dùng với chi phí của nó không cao

Trước năm 2000, hầu như rất ít doanh nghiệp có Website Đến năm 2004 thì Bộ Thương mại thành lập thêm Vụ Thương mại điện tử (nay là Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin) để hỗ trợ và thúc đẩy thương mại điện tử phát triển Thương mại điện tử thật sự đã bước sang một bước ngoặc mới vào cuối năm 2005, khi Luật Giao dịch điện tử được ban hành ngày 29/11/2005 và

4 Bộ Công thương và Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin: Báo cáo thương mại điện tử

năm 2012, Hà Nội, Tr.26

Trang 16

chính thức có hiệu lực ngày 01/3/2006 (sau đây gọi tắt là Luật Giao dịch điện

tử năm 2006)

Kể từ đây, đặt ra những vấn đề về thuế liên quan đến thương mại điện tử rằng cũng phải thay đổi sao cho phù hợp để nhằm đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước (NSNN)

1.2 Sơ lược quá trình phát triển về quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam

Hoạt động thương mại điện tử là hoạt động được biết đến còn khá mới ở Việt Nam, sử dụng phương thức giao dịch bằng điện tử, xu thế này đang được

áp dụng rất phổ biến ở nhiều nước trên thế giới hiện nay, và đây là hoạt động giữ vai trò then chốt ở các nước phát triển như Anh, Pháp, Australia, Mỹ…Cùng với sự phát triển, doanh thu kiếm được từ hoạt động này là rất lớn

so với kiểu kinh doanh truyền thống bởi chi phí đầu vào tiết kiệm một cách đáng kể Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đã kiếm được một lợi nhuận không nhỏ từ hoạt động TMĐT Dĩ nhiên, sự phát triển của các nhà kinh doanh trong hoạt động này thật sự có ý nghĩa khi có sự đóng góp vào sự phát triển của đất nước vào Ngân sách Nhà nước Vậy hệ thống quản lý thuế ở Việt Nam đã thay đổi khi hoạt động thương mại điện tử phát triển nhanh chóng và ngày càng cần thiết trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu

Xuất hiện vào năm 2001 nhưng mãi đến ngày 29/11/2005, Luật Giao dịch điện tử năm 2006 mới được ban hành Tiếp sau đó không lâu, ngày 09/6/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ về thương mại điện tử (gọi tắt là Nghị định số 57/2006/NĐ-CP) với việc thừa nhận chứng từ điện tử có giá trị pháp lý tương đương chứng từ truyền thống trong mọi hoạt động thương mại từ chào hàng, chấp nhận chào hàng, giao kết hợp đồng cho đến thực hiện hợp đồng

Kể từ thời điểm này, hoạt động thương mại bằng điện tử đã được pháp luật Việt Nam điều chỉnh, đã có cơ sở giải quyết khi có những tranh chấp phát sinh trong hoạt động này Tuy nhiên, trong hoạt động quản lý thuế thì chưa có văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh cho hoạt động TMĐT Điều này đã tạo ra sự bất lợi về lợi thế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong khi các cơ quan chức năng kiểm soát chặt chẽ quá trình hoạt động thương mại của các doanh nghiệp trong nước theo kiểu truyền thống - hầu hết các hoạt động thương mại điện tử vẫn chưa được các doanh nghiệp ứng dụng nhiều,

Trang 17

trong khi đó các doanh nghiệp nước ngoài không đăng ký hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng lại thực hiện hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, doanh thu phát sinh tại Việt Nam thông qua phương thức giao dịch điện tử Đòi hỏi các cơ quan quản lý thuế phải có cách thức riêng trong hoạt động quản lý thuế liên quan đến TMĐT so với hoạt động kinh doanh theo kiểu truyền thống

để chống thất thu Ngân sách Nhà nước

Ngày 15/02/2007, Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết về chữ

ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số được ban hành.5 Nghị định này, quy định về chữ ký số và các nội dung cần thiết liên quan đến sử dụng chữ ký số, bao gồm chứng thư số và việc quản lý, cung cấp và sử dụng chứng thực chữ ký

số Đây là những quy định nền tảng để thiết lập cơ chế đảm bảo an toàn cũng như độ tin cậy của các giao dịch điện tử, là điều kiện tiên quyết về mặt kỹ thuật

để thúc đẩy ứng dụng giao dịch điện tử trong xã hội

Ngày 23/02/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 27/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính Nghị định này ra đời nhằm bảo vệ và phát triển một môi trường giao dịch điện tử an toàn, hiệu quả, giúp Chính phủ quản lý được giao dịch điện tử trong nghiệp vụ tài chính, giảm thiểu hậu quả xấu phát sinh trong giao dịch điện tử như trốn thuế, gian lận khi lập hóa đơn chứng từ

Ngày 08/3/2007, Nghị định số 35/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng được thành lập tập trung vào việc hướng dẫn áp dụng Luật Giao dịch điện tử cho các hoạt động ngân hàng cụ thể, đảm bảo những điều kiện cần thiết về môi trường pháp lý để củng cố, phát triển các giao dịch điện tử an toàn và hiệu quả đối với hệ thống ngân hàng

Đến cuối 2007, bốn (04) trong số năm (05) Nghị định hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử ra đời, về cơ bản hoàn thành khung pháp lý cho việc triển khai ứng dụng giao dịch điện tử cho các lĩnh vực lớn trong đời sống xã hội Thông tư số 134/2008/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Thông tư 134/2008/TT-BTC) và qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 197/2009/TT-BTC ngày 09/10/2009 của Bộ Tài chính bổ sung

5 Nghị định số 106/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch

vụ chứng thực chữ ký số

Trang 18

Thông Tư số 134/2008/TT-BTC, Thông tư số 64/2010/TT-BTC ngày 22 tháng

4 năm 2010 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 134/2008/TT-BTC Hiện tại, các Thông tư trên được thay thế bởi Thông tư số 60/2012/TT-BTC ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam (gọi tắt là Thông tư số 60/2012/TT-BTC)

Đến Thông tư số 180/2010/TT-BTC ngày 10 tháng 11 năm 2010 của Bộ Tài chính về hướng dẫn giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế (sau đây gọi là

Thông tư 180/2010/TT-BTC) Đây là Thông tư đầu tiên quy định riêng cho

trình tự, thủ tục nộp thuế bằng giao dịch điện tử, tạo một cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động thu thuế của Cơ quan quản lý thuế Tuy nhiên, VBPL không áp dụng đối với giao dịch điện tử trong hoạt động xuất nhập khẩu

Để đảm bảo nguồn thu từ hoạt động TMĐT, các cơ quan quản lý thuế phải siết chặt giao dịch trong TMĐT, các chứng từ thanh toán cũng phát sinh ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết triệt để Đa phần hóa đơn sử dụng trong hoạt động này được thể hiện dưới hình thức điện tử, trong khi đó hóa đơn điện tử vào thời điểm hiện tại6 chưa được công nhận là hóa đơn điện tử có giá trị pháp

lý, là chứng từ thanh toán trong hoạt động thương mại Chính vì điều này, đôi khi gây khó khăn cho người nộp thuế và cơ quan thuế trong việc dựa vào căn

cứ chứng từ hóa đơn để thực hiện việc xác định số thuế phải nộp Lần đầu tiên, hóa đơn điện tử được ghi nhận và công nhận là một trong các hình thức của hóa đơn tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ

về Quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (sau đây được gọi là Nghị định số 51/2010/NĐ-CP) và được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 64/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 5 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Tuy nhiên, hóa đơn điện

tử lại được quy định cụ thể và đầy đủ tại một văn bản hướng dẫn riêng tại Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14 tháng 3 năm 2011 về hướng dẫn khởi tạo, phát hành và sử dụng hóa đơn điện tử, cung ứng dịch vụ

Có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2013, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ về Thương mại điện tử ra đời thay thế cho Nghị định số 57/2006/NĐ-CP góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý liên

6 Nghị định số 89/2002/NĐ-CP về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn

Trang 19

quan đến hoạt động TMĐT Từ đây, tạo nền tảng thuận lợi trong việc quản lý thuế liên quan đến hoạt động TMĐT

Cho đến bây giờ, văn bản pháp luật liên quan quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử thì vẫn chưa có văn bản dành riêng nào mà chỉ nằm rải rác

ở các văn bản có liên quan như Luật Giao dịch điện tử năm 2006 và được sửa đổi bổ sung năm 2010 hay Luật thương mại năm 2005, Thông tư số 134/2008/TT-BTC…các văn bản này chỉ dùng chung cho các giao dịch điện tử

và đều này đã gây ra không ít khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc quản lý thuế

Tóm lại, quá trình phát triển quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện

tử trong những năm qua tại Việt Nam còn quá lỏng lẽo, chưa đồng bộ, nhất quán giữa các văn bản Đặc biệt, nhiều vấn đề phát sinh nghĩa vụ nộp thuế vẫn

chưa được giải quyết triệt để mà người viết sẽ đề cập ở chương 2

1.3 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nguyên tắc quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử

1.3.1 Khái niệm về quản lý thuế và quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử

Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, là một trong những yếu tố quan trọng nhất để duy trì và phát triển nhà nước cũng như đảm bảo sự phát triển lâu dài của xã hội Nguồn thu của thuế rất đa dạng, đó có thể là trong lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp, công nghiệp, hoạt động xuất nhập khẩu, minh

chứng dễ nhận thấy nhất là trong hoạt động TMĐT Đây là một hoạt động có

nguồn thu dồi dào và phát triển nhanh hiện nay Tuy nhiên, để quản lý được nguồn thu này là vô cùng khó khăn, bởi đây là hoạt động mà hoạt động kinh doanh được thể hiện rất đa dạng về hình thức hoạt động và đòi hỏi người làm

luật quản lý thuế phải bao quát mọi vấn đề nhằm tránh thất thu cho NSNN

Vậy quản lý thuế là gì? Tầm quan trọng của việc quản lý này có tác dụng

ra sao trong hoạt động TMĐT? Đây là vấn đề đầu tiên mà người viết muốn làm

rõ để có cái nhìn rõ hơn về đề tài luận văn của người viết

Hiện nay còn tồn tại nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý Thuật ngữ quản lý có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu các ngành khoa học khác nhau như: kinh tế học, hành chính học,

Trang 20

luật học, xã hội học… đều sử dụng thuật ngữ quản lý với nội dung phù hợp đối tượng nghiên cứu của từng chuyên ngành

Dưới góc độ chung của các chuyên ngành khảo học: “Quản lý là điều

khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho một hệ thống hay quá trình ấy vận động theo

ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được những mục đích đã định trước”.7

Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu nước ngoài: “Quản lý là

tổ chức và lãnh đạo các nguồn lực nhằm đạt được kết quả mong muốn”.8

Định nghĩa này đề cập và nhấn mạnh vào mục tiêu của hoạt động quản lý

là kết quả mà hoạt động quản lý cần đạt tới Đối tượng cụ thể của quản lý ở đây

là các nguồn lực có trong một tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp, hay một quốc gia

Trong cuốn giải thích thuật ngữ pháp lý Việt Nam có giải thích: “Quản lý

là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra của tổ chức Nó nhằm chỉ một tập hợp các hoạt động cần thiết phải được thực hiện nhằm đạt những mục tiêu chung”.9

Có một số định nghĩa về quản lý được ghi nhận ở các tài liệu khác:

“Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích đúng ý chí và phù hợp với quy luật khách quan”.10

Hoặc “Quản lý là thuật ngữ chỉ hoạt động của con người nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra… các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý và chi phí thấp nhất”.11

Qua các giải thích trên cho thấy, thuật ngữ quản lý được sử dụng khi nói tới các hoạt động và một loạt các nhiệm vụ mà người quản lý phải liên tục đảm nhận và giải quyết Đó là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra Ngoài ra, khi sử dụng thuật ngữ này còn có hàm ý bao gồm cả mục tiêu, kết quả và hiệu quả hoạt động của một tổ chức, nghĩa là nói tới quản lý là nói tới

7 “1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam”, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1999, Tr.258

8 Pierre G.Bergeron, Gestion moderne-Une vision globale et inesgrese, 1997, Tr 467

9 “1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam”, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1999, Tr.258

10 Học viện Hành chính Quốc gia, «Giáo trình quản lý hành chính nhà nước», Hà Nội, 1998, Tr.61

11 Viện nghiên cứu hành chính, «Thuật ngữ hành chính», Hà Nội, 2002, Tr.136

Trang 21

kết quả đạt được với chất lượng tốt nhất và chi phí thấp nhất chứ không phải là những quy trình thực hiện các thao tác kỹ thuật đơn thuần

Quản lý thuế là một dạng của quản lý xã hội kể từ khi có nhà nước và gắn liền với quyền lực nhà nước Quản lý thuế trước hết và quan trọng nhất thuộc trách nhiệm của nhà nước cho nên người ta thường quan niệm quản lý thuế là quản lý nhà nước Tuy nhiên, hiện nay để quản lý thuế có hiệu quả ở những mức độ nhất định cần có sự tham gia các tổ chức, cá nhân trong xã hội để hỗ trợ cho công tác quản lý thuế của nhà nước Quản lý thuế được một số tác giả khái niệm hóa như sau:

“Quản lý thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thực thi các chính sách thuế hay là việc thực hiện quyền hành pháp và tư pháp của nhà nước trong lĩnh vực thuế”.12

“Quản lý thuế là quá trình tổ chức thực thi các luật thuế là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ hữu hiệu trong việc thực thi Luật Thuế nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện môi trường luôn biến động”.13

“Quản lý thuế liên quan đến cách thức mà các luật thuế được thực thi, liên quan đến sự tác động qua lại giữa cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế,

là cách thức mà ở đó sự tuân thủ được thúc đẩy và cưỡng chế bởi cơ quan thuế”.14

“Quản lý thuế là một quá trình tổ chức thực thi chính sách thuế, thông qua quá trình tác động của các cơ quan thuế lên các tổ chức và công dân nhằm đảm bảo và tăng cường sự tuân thủ nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ, tự nguyện

và đúng thời hạn trong điều kiện môi trường quản lý thuế luôn biến động”.15

Từ những khái niệm về quản lý thuế mà người viết dẫn chứng trên đây, cần tiếp cận khái niệm này theo hai phạm vi:

Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là tất cả các hoạt động của nhà nước liên quan đến thuế Quản lý thuế không chỉ bao gồm hoạt động tổ chức, điều hành

12 Đặng Tiến Dũng, «Tìm hiểu khái niệm quản lý và quản lý thuế», Tạp chí Thuế Nhà nước, số 12,

2003, Tr.18

13 Vương Hoàng Long, Hoàn thiện tổ chức bộ máy ngành thuế trong điều kiện nên kinh tế hàng hóa

nhiều thành phần, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2000, Tr.11

14 www.businesscompliance.govt.nz/reports/final/final-11html, [Truy cập ngày 26/7/2013]

15 Nguyễn Thị Lệ Thúy, “Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế

của doanh nghiệp”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2009

Trang 22

quá trình thu nộp thuế vào NSNN mà còn bao gồm hoạt động xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành pháp luật thuế và cả hoạt động kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền thuế của các tổ chức thụ hưởng NSNN

Theo nghĩa hẹp, quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về thuế, bao gồm việc tổ chức, quản lý, điều hành, quá trình thu nộp thuế, hay nói một cách khác đó là hoạt động chấp hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà cụ thể

là hệ thống cơ quan quản lý thuế từ Trung ương đến địa phương trong quản lý thu, nộp thuế cho nhà nước từ các tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế đã được xác định trong các luật thuế Tại điều 3 của Luật Quản lý thuế năm 2006 ngày 29 tháng 11 năm 2006 (Luật Quản lý thuế năm 2006) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế ngày 20 tháng 11 năm 2012 đã liệt kê các nội dung quản lý thuế gồm:

“Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế” Như vậy, điều luật này cho thấy nhà lập pháp Việt Nam xác định quản lý thuế theo nghĩa hẹp Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu về quản lý thuế sẽ được tiếp cận ở những phạm vi khác nhau Để phù hợp với luận văn này, người viết sử dụng khái niệm quản lý thuế theo nghĩa hẹp để phù hợp với Luật quản

lý thuế Trên cơ sở khái niệm quản lý thuế theo nghĩa hẹp, theo người viết quản

lý thuế có các đặc trưng sau:

Thứ nhất, về bản chất “Quản lý thuế” là một bộ phận của quản lý tài

chính công Như đã biết, thuế là nguồn thu bắt buộc, là nguồn thu chính của NSNN để phục phục các hoạt động công cộng như xây dựng trường học, bệnh viện, nâng cấp đường xá, đầu tư cho các dự án nghiên cứu khoa học,…Vậy nên, quản lý thuế được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý tài chính công nói chung và quản lý nguồn thu NSNN nói riêng Quản lý thuế trong xã hội hiện đại đang phát triển theo xu hướng thu hẹp biện pháp quản lý hành chính cưỡng bức, mở rộng biện pháp mang tính phục vụ, dịch vụ

Thứ hai, chủ thể trong quản lý thuế: thuế là nguồn thu chủ yếu của

NSNN, là tài sản quốc gia để phục vụ lợi ích cho toàn xã hội Vì thế, tham gia quản lý thuế là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong

xã hội Nghĩa vụ nộp thuế là nghĩa vụ bắt buộc của công dân được quy định tại

Trang 23

Hiến pháp 1992.16 Tuy nhiên, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước là trước hết

Thứ ba, mục tiêu của quản lý thuế là cái đích mà quản lý thuế hướng tới

và nhằm đạt tới Nhìn chung, quản lý thuế cũng nhằm hướng đến các mục tiêu

cơ bản sau:

- Huy động các nguồn thu một cách đầy đủ và kịp thời các khoản thu cho NSNN dựa vào khai thác ở thuế hiện tại và tìm kiếm, khuyến khích cơ sở thuế tiềm năng

- Góp phần đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể thuế khác nhau trong thực hiện nghĩa vụ đối với thuế nhà nước, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực kinh tế tăng trưởng và phát triển nhanh

- Đảm bảo quyền lợi cho cả nhà nước và người nộp thuế

- Tăng cường sự tuân thủ của người nộp thuế một cách đầy đủ, kịp thời

và tự nguyện theo các quy định của Luật Thuế

1.3.2 Các khái niệm có liên quan

Theo quy định pháp luật Việt Nam, khái niệm “Thương mại điện tử” chưa được quy định một cách chính thức trên câu chữ của luật mà thay vào đó

là thuật ngữ “giao dịch điện tử” (giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương thức điện tử (khoản 6 điều 4 của Luật Giao dịch điện tử Việt Nam năm 2005) Thuật ngữ “giao dịch điện tử” là thuật ngữ được pháp luật Việt Nam đề cập cho đến thời điểm hiện tại

Tuy nhiên, trên thực tế và nhìn ở nhiều góc độ khác nhau thì khái niệm thương mại điện tử được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh khác nhau:

Theo tổ chức WTO: thương mại điện tử là việc sản xuất, phân phối, bán hoặc chuyển giao hàng hóa và dịch vụ bằng phương tiện điện tử (Báo thương mại điện tử việt nam 2008, trang 142)

Theo tổ chức EC: thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc xử lý và truyền file dữ liệu điện tử dưới dạng text, ký hiệu, âm thanh và hình ảnh

16 điều 80, Hiến pháp năm 1992, Tr.43

Trang 24

Theo Luật mẫu của UNCITRAL về TMĐT: thương mại điện tử là việc sử dụng thông tin dưới một dạng thông điệp dữ liệu trong khuôn khổ các hoạt động thương mại

Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gởi đi, tiếp nhận hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử (thư điện tử, điện tín, fax…)

Tóm lại, thương mại điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để thực hiện các hoạt động thương mại, trong đó thông điệp dữ liệu là những thông tin được tạo ra, gởi đi, nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử

“Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm đích sinh lợi khác”.17

“Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”.18

Giao dịch thương mại truyền thống và giao dịch thương mại điện tử có nhiều điểm khác biệt cơ bản Để hiểu rõ sự khác biệt này, xem xét chu trình qua bản một sản phẩm cụ thể bên dưới đây:

Các bước trong

chu trình bán bán hang

Thương mại truyền thống Thương mại điện tử

Tìm kiếm thông tin sản phẩm Tạp chí, tờ rơi, catalog

Trang Web Yêu cầu mua sản phẩm,

chuyển yêu cầu đã chấp nhận

Dạng ấn phẩm Thư tín điện tử

Kiểm tra catalog, giá cả Catalog Catalog trực tuyến Kiểm tra tồn kho và

khẳng định giá cả

Fax, điện thoại Catalog trực tuyến

Lập đơn đặt hàng Dạng ấn phẩm Thư tín điện tử trang

17 khoản 1 điều 3 ”Giải thích từ ngữ”, Luật Thương mại năm 2005.

18 khoản 1 điều 3 của Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử

Trang 25

(người mua) Web

Theo dõi đơn đặt hàng Dạng ấn phẩm, fax, điện

thoại thoại

Cơ sở dữ liệu trực tuyến

Kiểm tra tồn kho Dạng ấn phẩm, fax, điện

thoại thoại

Cơ sở dữ liệu trực tuyến, trang Web Lịch trình phân phối Dạng ấn phẩm Thư điện tử, catalog

trực tuyến tuyến

tuyến Phân phối sản phẩm Nhà vận chuyển Nhà vận chuyển, các

mạng mạng thông tin

Gửi hóa đơn

(người cung ứng)

Thư tín truyền thống Thư tín điện tử

Nhân hóa đơn

(người mua)

Thư tín truyền thống EDI

Lịch trình thanh toán Dạng ấn phẩm EDI, cơ sở dữ liệu

trực tuyến tuyến Gửi thanh toán

(người mua)

Thư tín truyền thống EDI

Nhận thanh toán

(người mua cung ứng)

Thư tín truyền thống EDI

Trang 26

Qua bảng so sánh trên, có thể thấy rất nhiều bước thực hiện giống nhau, tuy nhiên cách thức mà thông tin được vận chuyển lại khác nhau Người viết có thể kết luận rằng hoạt động thương mại và hoạt động thương mại điện tử về bản chất là giống nhau để nhằm phát sinh lợi nhuận, việc quản lý hai đối tượng này

có thể xem là giống nhau về bản chất, đối tượng nộp thuế là cùng chung một chủ thể, hai hoạt động này chỉ khác nhau ở chỗ phương thức thực hiện giao dịch

Quản lý thuế trong hoạt động TMĐT là hoạt động quản lý hành chính nhà nước về thuế liên quan đến các hoạt động thương mại được thực hiện bằng phương thức điện tử

Hiện tại pháp luật Việt Nam chưa có văn bản pháp luật nào nhắc đến chính thức “khái niệm về quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử” Vì vậy, khái niệm trên chỉ là ý kiến của riêng người viết thông qua việc nghiên cứu và muốn cho người đọc thấy được phạm vi nghiên cứu của đề tài được hiểu như thế nào?

Người viết nhận thấy, hoạt động thương mại điện tử về bản chất cũng giống như một hoạt động thương mại truyền thống và chỉ khác nhau duy nhất ở phương tiện thực hiện mà thôi Quản lý hoạt động này còn nhiều vấn đề đặt ra như là cách xác định đối tượng nộp thuế, cách xác định chi phí phát sinh của các doanh nghiệp cho quá trình hoạt động, cách thức và thủ tục nộp có khác gì

so với kinh doanh theo kiểu truyền thồng hay không?

Nhận thấy, bản chất quản lý thuế không có gì thay đổi, cũng là hoạt động giám sát, tổ chức những nội dung được quy định tại điều 3 Luật quản lý thuế năm 2006

“Hợp đồng nhà thầu” là hợp đồng, thỏa thuận hoặc cam kết giữa Nhà thầu nước ngoài và Bên Việt Nam

“Hợp đồng nhà thầu phụ” là hợp đồng, thỏa thuận hoặc cam kết giữa Nhà thầu phụ và Nhà thầu nước ngoài

Nhà thầu phụ gồm Nhà thầu phụ nước ngoài và Nhà thầu phụ Việt Nam

1.3.3 Nguyên tắc quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử

Bất kỳ một ngành nghề nào hay lĩnh vực nào cũng điều có một cơ chế kiểm soát riêng và nguyên tắc thực hiện riêng nhằm đảm bảo sự thống nhất, bình đẳng và đảm bảo lợi ích của các bên tham gia Quản lý thuế trong TMĐT

Trang 27

là vấn đề vô cùng quan trọng, nguồn thu cho NSNN từ hoạt động thương mại điện tử là rất lớn Bởi các thương nhân, tổ chức, cá nhân ngày càng sử dụng phương thức giao dịch điện tử này là chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của mình Số lượng các Website tăng nhanh chóng trong từng ngày, sự cạnh tranh giữa các nhà đầu tư, kinh doanh bây giờ đã được thể hiện ngay trên chính lợi nhuận mà các Web của họ đem lại Nhưng để tạo một sân chơi lành mạnh đặc biệt là sự công bằng trong việc nộp thuế thì cơ quan nhà nước phải có một nguyên tắc chung khi thực hiện việc quản lý thuế trong lĩnh vực TMĐT

Theo quan điểm của người viết, cho dù quản lý thuế ở bất cứ lĩnh vực nào thì cũng phải hướng theo nguyên tắc chủ đạo mà luật quản lý thuế năm 2006 quy định Bởi đây là luật quy định chung, là cái cốt lõi mà các quy định khác phải tìm về để có hướng đi thích hợp trong lĩnh vực mà mình đang quản lý

Nguyên tắc: “Rõ ràng, công bằng, trung thực, an toàn và hiệu quả”

Thứ nhất, nguyên tắc rõ ràng là mọi hoạt động về quản lý thuế như đăng

ký, cách xác định tính thuế, thời hạn nộp thuế…phải được quy định và thông báo cho mọi người được biết một cách dễ hiểu tránh mập mờ, gây khó hiểu, chồng lấn giữa các quy định Điều này tạo thuận lợi cho cả người nộp thuế và

cơ quan chức năng Cơ quan chức năng không mất nhiều thời gian để giải thích các quy định nộp thuế như thế nào, đối tượng nộp ra sao, nộp ở đâu… Vì toàn

bộ thông tin đã được đăng tải trên Website chính của cơ quan cũng như đã thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng Người nộp thuế thì ý thức được nghĩa vụ nộp thuế và những biện pháp xử phạt khi vi phạm nghĩa vụ thuế,

tự động tìm đến các cơ quan chức năng để thực hiện nghĩa vụ của mình Nguyên tắc này cũng tạo sự an tâm cho người nộp thuế về nghĩa vụ mà họ nên

và không nên thực hiện

Thứ hai, nguyên tắc công bằng là đây là nguyên tắc được xem là rất quan

trọng trong việc thúc đẩy các DN, các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia hoạt động đầy tiềm năng này trong xu thế hội nhập toàn cầu Mọi vấn đề liên quan hoạt động quản lý thuế trong hoạt động TMĐT dựa vào nền tảng công bằng và bình đẳng để giải quyết các tranh chấp phát sinh cũng như là nghĩa vụ của người nộp thuế Công bằng nghĩa là ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ của người nộp thuế Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, công bằng còn dựa vào tính hợp

lý của sự việc

Trang 28

Chẳng hạn, Việt Nam tham gia vào Hiệp định tránh đánh thuế hai lần,

các doanh nghiệp nước ngoài khi thực hiện hoạt động thương mại bất kể theo kiểu truyền thống hay giao dịch điện tử thì sẽ được miễn thuế ở Việt Nam khi các DN chứng minh rằng họ có quốc tịch của một trong những nước đã tham gia ký kết hiệp định Tuy nhiên, nhà nước ta vẫn phải buộc họ tham gia đăng

ký với cơ quan thuế về quá trình hoạt động của mình Đây tạo nên một môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh cho các doanh nhiệp và cũng đồng thời tránh thất thu cho NSNN Ngăn chặn việc nhiều nhà DN ở nước ngoài thực hiện hoạt động thương mại tại Việt Nam nhưng không thực hiện nghĩa vụ thuế hay vịn vào Hiệp định tránh đánh thuế để trốn thuế mặc dù họ không thuộc đối tượng được miễn thuế

Thứ ba, nguyên tắc trung thực là một nguyên tắc rất quan trọng, đòi hỏi

sự tự động, ý thức của người nộp thuế Người nộp thuế phải đăng ký và kê khai thành thật đôi khi là vấn đề rất khó với nhà DN Bất kỳ ai tham gia hoạt động TMĐT mà được trốn tránh được nghĩa vụ nộp thuế thì họ cũng thực hiện nhằm hạn chế thất thu lợi nhuận Cơ quan thuế luôn có những chính sách để người nộp thuế phải tuân thủ đúng theo quy định về thuế, tránh thực hiện các hành vi gian lận thuế, trốn thuế

Thực tế, môi trường thương mại điện tử là môi trường rất phức tạp quản

lý đối với cơ quan quản lý trong khi đó người có nghĩa vụ nộp thuế cố gắng lợi dụng sự phức tạp đó để thực hiện các hành vi trốn tránh nghĩa vụ thuế nên nguyên tắc này rất khó vận dụng và đòi hỏi nhà nước có các biện pháp xử lý mạnh các trường hợp vi phạm nghĩa vụ nộp thuế để đảm bảo nguồn thu cho NSNN

Thứ tư, nguyên tắc an toàn và hiệu quả Như đã biết, kinh doanh theo

kiểu truyền thống thì cần có sự ký kết, giao dịch trực tiếp, chi phí cho các cuộc giao dịch thường là lớn so với giao dịch bằng phương tiện thông tin điện tử Người kinh doanh phải thuê mướn mặt bằng, nhân viên, nơi ký kết hợp đồng, chi phí đi lại, nơi họp phải tốn chi phí quảng cáo cho sản phẩm,…trong khi kinh doanh với sự hỗ trợ của phương tiện điện tử sẽ giảm chi phí rất nhiều trong hoạt động thương mại

Trong thực tế, các cơ quan quản lý thuế đã yêu cầu bất kỳ thương nhân nào muốn kinh doanh trong lĩnh vực này đều phải đăng ký Wesite để ban quản

Trang 29

lý dễ dàng kiểm soát việc kinh doanh, cách tính thuế cũng tương tự như hoạt động thương mại truyền thống

Quyền lợi và lợi ích của các đối tượng hoạt động TM là như nhau, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, hiệu quả dưới sự quản lý về thuế của nhà nước Đảm bảo quản lý thuế an toàn và hiệu quả tạo nên sự yên tâm cho cả

cơ quan nhà thuế và người nộp thuế

1.3.4 Ý nghĩa trong hoạt động quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử

1.3.4.1 Ý nghĩa đối với nhà nước

Thứ nhất, làm tăng vào nguồn thu chính vào NSNN Như đã biết, thuế là

nguồn thu chính của nhà nước, là nguồn để nhà nước duy trì và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Lợi nhuận mà các doanh nghiệp thu được vào hằng năm là rất lớn nhờ vào hoạt động TMĐT, các hình thức kinh doanh bằng phương tiện điện tử rất đa dạng, nó tồn tại dưới nhiều hình thức đó có thể là mua bán trực tiếp hàng trên các trang Website, kinh doanh tải nhạc chờ, nhạc chuông, bài hát,…đây là các hoạt động có khả năng sinh lợi rất nhanh và cực lớn Vậy nên, việc đánh thuế và thu vào ngân sách một phần lợi nhuận của họ

là rất thích đáng

Thứ hai, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà kinh doanh

trong và ngoài nước, mặc dù kinh doanh theo kiểu truyền thống hay kinh doanh bằng phương tiện điện tử Quản lý chặt chẽ khâu quản lý thuế thì sẽ thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, tạo những điều kiện và những chính sách ưu đãi

về thuế theo quy định của pháp luật

Hiện tại các văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa quy định đầy đủ và hoàn thiện trong hoạt động TMĐT, nhưng không vì lẽ đó mà các doanh nghiệp kinh doanh trong hoạt động này được tự do, tránh được nghĩa vụ thuế mà nhà nước bắt buộc đối với mọi công dân Nhà nước đã và đang hoàn thiện hệ thống quản lý thuế trong hoạt động TMĐT, đảm bảo các đối tượng nộp thuế hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định đúng theo bản chất của hoạt động thương mại Từ đây khuyến khích các doanh nghiệp an tâm khi cơ hội cạnh tranh và nghĩa vụ của họ là ngang nhau

Thứ ba, tạo ra một cơ chế quản lý thống nhất trong quá trình thu thuế Từ

đây, tạo ra sự nhất quán, đồng bộ, đảm bảo quyền lợi của các bên khi tham gia hoạt động TMĐT đầy tiềm năng Tạo thuận lợi cho các cơ quan chức năng truy

Trang 30

thu thuế nhanh chóng, kịp thời và đủ số thuế đã được ấn định từ các doanh nghiệp

Thứ tư, đất nước ngày càng tiến xa hơn trong quá trình hội nhập vào nền

kinh tế toàn cầu Chính sự ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là Internet

mà nhiều loại hình kinh doanh được phát triển, giao lưu hàng hóa thuận tiện và nhanh chóng, mối quan hệ hợp tác giữa các nước ngày càng mở rộng thông qua phương tiện điện tử

1.3.4.2 Ý nghĩa đối với xã hội

Thứ nhất, quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử phát huy việc

kiểm soát và điều tiết các hoạt kinh tế xã hội Hoạt động thương mại điện tử là một hoạt động thương mại, là hoạt động phát sinh nhiều lỗ hỗng pháp lý so với hoạt động thương mại thông thường, vì vậy việc tăng cường thêm những quy định pháp luật để quá trình kinh doanh phát triển trong sự kiểm soát của nhà nước

Thứ hai, khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động TMĐT, vì

hoạt động này chi phí quản lý thấp mà thu nhập thì cao hơn so với hoạt động kinh doanh bình thường Tạo sự an tâm cho chính các nhà đầu tư

Thứ ba, nâng cao mức sống và góp phần cải thiện bộ mặt kinh tế của xã

hội, làm đa dạng hóa các loại hình giao dịch Thương mại điện tử mang lại một giá trị vật chất rất lớn nên phát triển lĩnh vực hoạt động, phát triển khâu quản lý thuế thì cũng đồng nghĩa với việc đóng góp vào nguồn đầu tư, phục vụ vào các chính sách công

Trang 31

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ

QUẢN LÝ THUẾ LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

2.1 Quy định chung về quản lý thuế liên quan đến hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam

Thực hiện chiến lược cải cách hiện đại hóa ngành thuế đến năm 2020, ứng dụng công nghệ thông tin và áp dụng thuế điện tử để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thuế, phấn đấu đưa Việt Nam thuộc nhóm các nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á xếp hạng mức độ thuận lợi về thuế cao năm 2020, ngày 20/11/2012 Quốc hội đã ban hành Luật số 21/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11.19

Trường hợp người nộp thuế là tổ chức kinh doanh tại địa bàn có cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin phải thực hiện kê khai, nộp thuế, giao dịch với cơ quan quản lý thuế thông qua phương tiện điện tử theo quy định của pháp luật

http://www.webketoan.vn/tu-ngay-0172013-doanh-nghiep-phai-thuc-hien-ke-khai-thue-qua-mang.html , [Truy cập ngày 26/7/2013]

20 khoản 10 điều 7 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Quản lý thuế năm 2012 và Luật Quản lý

thuế năm 2006

21 điều 24 “chủ thể của hoạt động thương mại điện tử” tại Chương III Hoạt động thương mại điện tử , Nghị định 52/2013/NĐ-CPvề thương mại điện tử thì có sáu chủ thể:

- Người sở hữu Website thương mại điện tử;

- Thương nhân, tổ chức, cung cấp dịch vụ thương mại điện tử;

- Người bán;

- Khách hàng;

- Thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng;

- Các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng thiết bị điện tử có nối mạng khác để tiến hành hoạt động thương mại điện tử

Trang 32

Việt Nam có thể đến từ nhiều nước khác nhau trên thế giới Tuy nhiên, một điều đáng chú ý là các DN nước ngoài đôi khi lại không có sự hiện diện chính thức tại Việt Nam, không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng bằng kỹ thuật số, bằng phương tiện công nghệ thông tin mà họ hoàn toàn có thể thực hiện hoạt động kinh doanh của mình một cách dễ dàng và phát sinh doanh thu tại Việt Nam Một vấn đề được đặt ra là các DN nước ngoài có thể không đăng

ký thuế với cơ quan quản lý thuế tại Việt Nam nhưng lợi nhuận thực tế vẫn phát sinh tại Việt Nam Từ đó, tạo nên khó khăn cho kiểm tra, giám sát về số lượng đối tượng nộp thuế trong hoạt động thương mại điện tử của cơ quan thuế Điều này tạo nên sự bất bình đẳng trong môi trường kinh doanh giữa các chủ thể Không vì viện dẫn khó khăn trong việc thu thập thông tin để xác định đối tượng cụ thể đối tượng nộp thuế mà tạo cơ hội cho các đối tượng này có điều kiện để trốn tránh nghĩa vụ thuế Đây là vấn đề mà các cơ quan chức năng đang hướng đến để hoàn thiện pháp luật về TMĐT, tạo một môi trường pháp lý hoàn thiện để các chủ thể hoàn toàn yên tâm thực hiện việc đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam Việc xác định thông tin và có cách thức quản lý thuế đối với chủ thể tham gia hoạt động TMĐT là rất quan trọng Đặc biệt việc quản lý thuế đối với các DN nước ngoài hoạt động thương mại bằng phương thức giao dịch điện tử tại Việt Nam

Luật quản lý thuế của Việt Nam ban hành ngày 29/11/2006 có dành Chương IX từ điều 69 đến điều 74 để quy định nội dung mới quan trọng, đó là

thông tin về người nộp thuế Trong đó Luật đã khẳng định rõ: “Thông tin về

người nộp thuế là cơ sở để thực hiện quản lý thuế, đánh giá mức độ chấp hành pháp luật của người nộp thuế, ngăn ngừa, phát hiện vi phạm pháp luật về thuế”

2.2.1 Phân tích ví dụ

Xem xét một giả định giao dịch TMĐT đơn giản nhất và khá phổ biến hiện nay để người đọc thấy được những vấn đề phát sinh trong hoạt động quản

lý thuế TMĐT trong việc xác định đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế

Đó là việc cung cấp các chương trình phần mềm, phim ảnh, tài liệu qua Internet.22

Theo đó, công ty cho phép khách hàng có thể truy cập vào trang Web của mình để mua các chương trình phần mềm, sản phẩm văn hóa như phim, âm

22 Richard L.Doernberg & Luc Hinnekens, Electronic commerce and International taxation, Kluwer

law international, 1999, Tr.107

Trang 33

nhạc Sau khi khách hàng thực hiện các thủ tục khai báo mặc định có tương tự như việc chấp nhận những điều kiện hợp đồng thông thường, khách hàng khai báo việc thanh toán và lệnh thanh toán của khách hàng bằng thẻ tín dụng được

hệ thống chấp nhận thì khách hàng được tải chương trình về máy tính của mình

và được phép sử dụng Khi áp dụng các nguyên tắc hiện nay của hệ thống pháp luật thuế vào trường hợp này, người viết nhận thấy có một số vấn đề phát sinh

mà các quy tắc chung hiện nay của các luật thuế chưa cho phép giải quyết triệt

để

- Xác định đối tượng nộp thuế

Nếu với những giả định trên rất dễ dàng để xác định đối tượng nộp thuế (ví dụ thuế GTGT, thuế TNDN) là công ty cung cấp các sản phẩm nói trên Nhưng nếu như công ty cung cấp các sản phẩm đó là một công ty nước ngoài thì vấn đề trở nên phức tạp hơn nhiều Một số vấn đề có thể đặt ra là:

Thứ nhất, liệu theo các Luật thuế hiện hành ở Việt Nam áp dụng cho doanh nghiệp thì công ty nói trên có thể trở thành đối tượng nộp thuế hay không Bởi vì hiện nay đối tượng nộp thuế (thuế GTGT hoặc thuế TNDN) chủ yếu được xác định dựa vào tiêu chí quốc tịch hoặc thường trú Nhưng trong trường hợp này, công ty cung cấp sản phẩm có thể không có bất kỳ sự hiện diện thương mại nào ở Việt Nam như:

- Chi nhánh

- Văn phòng đại diện

- Kho giao nhận hàng hóa

- Tồn tại các phương tiện kinh doanh như máy móc thiết bị

- Cơ sở làm đại lý

- Cá nhân làm công tại Việt Nam

Như vậy, trong các giao dịch TMĐT việc áp dụng khái niệm cơ sở thường trú23 không phải lúc nào cũng được thực hiện được một cách trực tiếp

Hệ quả là không có đủ cơ sở pháp lý để xác định đối tượng nộp thuế trong trường hợp này Nhưng việc không thu thuế đối với công ty cung cấp phần mềm trên đây sẽ làm thất thu một phần NSNN và không công bằng Bởi lẽ, một mặt, doanh thu và thu nhập của công ty có được là có nguồn gốc từ khách hàng

23 Thông tư 123/2003/TT-BTC có quy định một định nghĩa liệt kê các dạng khác nhau của khái niệm

cơ sở thường trú

Trang 34

Việt Nam, được tiêu dùng ở Việt Nam; thêm vào đó, khi thực hiện các hoạt động cung cấp các sản phẩm nêu trên, công ty đã được sử dụng mà không phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ thuế nào cho việc sử dụng mạng lưới cơ sở hạ tầng thông tin và thể chế mà nhà nước Việt Nam đã đầu tư để phát triển nền kinh tế nói chung và TMĐT nói riêng

Thứ hai, liệu có thể xác định chính xác chủ thể nào là người cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ không Không giống như trong thương mại truyền thống, có thể dễ dàng xác định được đối tượng nộp thuế bằng việc xem xét đến việc ai là người tiến hành hành vi kinh doanh Trong thương mại điện tử, việc

sử dụng phương thức như vậy đôi khi rất khó khăn Quay lại với trường hợp giả định trên, việc khách hàng có thể mua một sản phẩm qua Internet trong nhiều trường hợp không phải là một sản phẩm độc lập mà là cả một gói dịch vụ mà trong đó có thể sử dụng các tính năng của sản phẩm bắt buộc phải có sự tham gia của nhiều nhà cung cấp trên mạng Internet

- Xác định đối tượng chịu thuế

Thứ nhất, xác định đúng bản chất của đối tượng chịu thuế giao dịch trong

thương mại điện tử Với giả định trên, nhận thấy rằng, có ít nhất ba quan niệm

về bản chất của một hành vi cung cấp sản phẩm của công ty theo phương thức giao dịch của Thương mại điện tử, cụ thể như sau:

+ Cung cấp một loại hàng hóa Khi khách hàng tải được một sản phẩm về

sử dụng thì sản phẩm đó có đầy đủ tính năng như một hàng hóa thông thường

Ví dụ, khách hàng mua một ấn phẩm như đĩa ca nhạc, một quyển sách Như vậy, hành vi của công ty về bản chất là bán một sản phẩm hàng hóa

+ Cung cấp một quyền sử dụng Nhưng việc truy cập vào hệ thống cơ sở dữ liệu, sách báo trực tuyến….thực chất là việc khách hàng mua một quyền sử dụng với những điều kiện nhất định chứ không phải là mua một quyển sách hay một đĩa nhạc cụ thể Bản chất của giao dịch này cũng có thể có được định nghĩa như việc mua một quyền sử dụng cơ sở dữ liệu mà công ty cung cấp Bản chất này càng thể hiện rõ hơn nếu thay đổi đối tượng mà công ty cung cấp là quyền truy cập và sử dụng một hệ thống cơ sở dữ liệu thay vì một quyển sách, một bản nhạc, một bộ phim cụ thể Trong trường hợp này, giá cả mà công ty ấn

Trang 35

định sẽ không dựa trên khối lượng của từng sản phẩm nhất định mà thông thường sẽ dựa trên một khoản phí ấn định cho một thời gian cụ thể.24

+ Cung cấp một dịch vụ Bây giờ, người viết lại giả định rằng, khách hàng

sẽ có một yêu cầu đến công ty, theo đó họ yêu cầu công ty cung cấp một hệ cơ

sở dữ liệu về các bộ phim được trao giải Oscar từ trước đến nay bao gồm việc trình chiếu toàn bộ nội dung bộ phim, lễ trao giải, các phân tích và bình luận của ban giám khảo và các nhà phê bình, thông tin về sự nghiệp và cuộc đời của những người tham gia làm phim Trong trường hợp này, bản chất hành vi của công ty là cung cấp một dịch vụ theo yêu cầu cụ thể của khách hàng

Tóm lại, việc xác định đúng hoặc ít ra chấp nhận một cách thức chính thức bản chất của hành vi cung cấp sản phẩm trong giao dịch thương mại điện

tử là rất quan trọng trong việc xác định đúng và áp dụng đúng đối tượng chịu thuế Trong điều kiện của hệ thống pháp luật thuế hiện nay, điều này có tầm quan trọng đặc biệt, vì trong rất nhiều trường hợp, việc xác định đối tượng chịu thuế và theo đó là giá tính thuế, thuế suất còn dựa vào tiêu chí phân loại tính chất của sản phẩm là hàng hóa hay dịch vụ Chẳng hạn, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có quy định đối tượng chịu thuế là hàng hóa.25 Hệ quả là nếu chúng ta xác định việc một khách hàng Việt Nam mua một sản phẩm qua giao dịch TMĐT từ một nhà cung cấp ở nước ngoài có bản chất là dịch vụ (trường hợp thứ ba nêu trên) thì chúng ta không có cơ sở pháp lý để có quyền thu thuế nhập khẩu trong trường hợp này

Thứ hai, đối tượng chịu thuế là dịch vụ sẽ được xác định dựa trên căn cứ

nào Ngay cả đối với những đối tượng là sản phẩm dịch vụ phổ biến như cung cấp tư vấn pháp luật, quản lý, tài chính thì việc xác định xem liệu dịch vụ đó có phải là đối tượng chịu thuế hay không cũng không phải là dễ dàng theo pháp luật thuế ở Việt Nam Bởi vì, các Luật thuế áp dụng cho các hoạt động dịch vụ thường chỉ xem xét hoạt động này được các chủ thể Việt Nam cung cấp và tiêu dùng ở Việt Nam Tuy nhiên, sự phát triển của TMĐT đã dẫn đến việc thu thuế đối với các hoạt động này được xem xét trên nhiều phương diện hơn Thông thường, để xác định một dịch vụ có trở thành đối tượng chịu thuế trong hoạt động TMĐT không theo luật thuế cả một quốc gia thì quốc gia này phải lựa chọn xem liệu sẽ căn cứ vào việc:

24 Ví dụ như việc trang web vietlaw.com.vn quy định một biểu phí cho phép người đăng ký có quyền truy cập, lưu trữ các văn bản pháp luật từ hệ thống cơ sở dữ liệu của nó trong một khoảng thời gian nhất định, chứ không căn cứ vào lưu lượng hoặc số lần người mua sử dụng

25 điều 1 Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu năm 2005

Trang 36

1 Dịch vụ đó được thực hiện ở đâu? (tức là quá trình thực hiện dịch vụ ở Việt Nam hay tại nước ngoài)

2 Hoặc dịch vụ đó được cung cấp ở đâu? (tức là dịch vụ được cung cấp bởi ai và ở đâu – tại Việt Nam hay một nước nào khác)

3 Hoặc dịch vụ đó được tiêu dùng ở đâu? (được hiểu là nơi có được lợi ích từ dịch vụ đem lại – tại Việt Nam hay một nước nào khác)

Theo quy định tại khoản 3,4 của điều 4 “Đối tượng không áp dụng” tại

Nghị định số 60/2012/NĐ-CP đưa ra các đối tượng không thuộc đối tượng chịu thuế tại Việt Nam bao gồm:

Thứ nhất, tổ chức, cá nhân nước ngoài có thu nhập từ dịch vụ được cung

cấp và tiêu dùng ngoài Việt Nam

Ví dụ 1: Công ty H của Hongkong cung cấp dịch vụ thu xếp hàng hóa tại

cảng ở Hongkong cho đội tàu vận tải quốc tế của Công ty A ở Việt Nam Công

ty A phải trả cho Công ty H phí dịch vụ thu xếp hàng hóa tại cảng ở Hong kong.Trong trường hợp này, dịch vụ thu xếp hàng hóa tại cảng Hongkong là dịch vụ được cung cấp và tiêu dùng tại Hongkong nên không thuộc đối tượng

chịu thuế tại Việt Nam

Ví dụ 2: Tổ chức nước ngoài cung cấp các dịch vụ chuyên môn, quản lý

và phát hành trái phiếu, tư vấn pháp lý, đại lý lưu ký, tổ chức roadshow (một hoạt động thuộc mảng kích hoạt thương hiệu) cho Công ty A ở Việt Nam tại các nước mà Công ty A phát hành chứng chỉ GDR (Global Depositary Receipt – chứng chỉ lưu ký toàn cầu) và trái phiếu quốc tế thì các dịch vụ này do tổ chức nước ngoài thực hiện không thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư

60/2012/TT-BTC

Thứ hai, tổ chức nước ngoài thực hiện cung cấp dịch vụ dưới đây cho tổ

chức, cá nhân Việt Nam mà các dịch vụ được thực hiện ở nước ngoài:

- Sửa chữa phương tiện vận tải (tàu bay, động cơ tàu bay, phụ tùng tàu bay, tàu biển), máy móc, thiết bị (kể cả đường cáp biển, thiết bị truyền dẫn), có bao gồm hoặc không bao gồm vật tư, thiết bị thay thế kèm theo;

- Quảng cáo, tiếp thị (trừ quảng cáo, tiếp thị trên Internet);

Ví dụ 3: Doanh nghiệp Việt Nam ký hợp đồng với tổ chức ở Singapore

để thực hiện dịch vụ quảng cáo sản phẩm tại thị trường Singapore thì dịch vụ quảng cáo này của tổ chức Singapore không thuộc đối tượng áp dụng của

Trang 37

Thông tư số 60/2012/TT-BTC (Thông tư số 60) Trường hợp tổ chức ở Singapore thực hiện quảng cáo sản phẩm để tiêu thụ tại thị trường Việt Nam trên Internet thì thu nhập từ dịch vụ quảng cáo này thuộc đối tượng áp dụng của

Thông tư số 60

- Xúc tiến đầu tư và thương mại;

- Môi giới: bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ ở nước ngoài ;

Ví dụ 4: Doanh nghiệp Việt Nam ký hợp đồng thuê doanh nghiệp ở Thái

Lan thực hiện dịch vụ môi giới để bán sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Thái Lan hoặc thị trường thế giới thì dịch vụ môi giới này của

DN Thái Lan không thuộc đối tượng áp dụng thuế; trường hợp doanh nghiệp Việt Nam ký hợp đồng thuê doanh nghiệp ở Thái Lan thực hiện môi giới để chuyển nhượng bất động sản của doanh nghiệp Việt Nam tại Việt Nam thì dịch

vụ môi giới này thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư 60

- Đào tạo (trừ đào tạo trực tuyến);

Ví dụ 5: Công ty A ở Việt Nam ký hợp đồng với Trường Đại học B của

Singapore để nhân viên Việt Nam sang Singapore học tại Trường Đại học B của Singapore thì dịch vụ đào tạo của Trường Đại học B không thuộc đối tượng

áp dụng của Thông tư số 60; trường hợp Công ty A ở Việt Nam ký hợp đồng với Trường Đại học B của Singapore để Trường Đại học B dạy học cho nhân viên Việt Nam tại Việt Nam theo hình thức học trực tuyến thì dịch vụ đào tạo trực tuyến của Trường Đại học B thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư

Trang 38

Vấn đề này được đặt ra trong TMĐT là bởi vì trong một môi trường và không gian số hóa việc xác định các tiêu chí là rất khó khăn Trong trường hợp giả định một công ty nước ngoài thực hiện tư vấn tài chính cho doanh nghiệp Việt Nam, nếu trong giao dịch truyền thống họ có thể cử nhân viên của mình sang Việt Nam nghiên cứu và thực hiện tư vấn thì vấn đề sẽ rất đơn giản do có thể thấy được sự hiện diện thương mại của họ ở Việt Nam Nhưng trong TMĐT, khách hàng Việt Nam và công ty có thể thực hiện tất cả quá trình trao đổi và hướng dẫn tư vấn qua các giao dịch trực tuyến thì việc xác định xem là dịch vụ được thực hiện và cung cấp ở đâu sẽ có thể có rất nhiều câu trả lời

Thứ ba, trong việc xác định đối tượng tính thuế, nhất là trường hợp của

thuế thu nhập doanh nghiệp, vấn đề lớn là việc xác định chi phí Bản thân vấn

đề này không chỉ nảy sinh ở các giao dịch TMĐT mà còn thấy phổ biến ở các giao dịch truyền thống Tuy nhiên, xác định chi phí để tính thu nhập chịu thuế trong giao dịch TMĐT cũng làm xuất hiện thêm nhiều khó khăn mới, nhất là về vấn đề phân bổ chi phí Chẳng hạn, để thực hiện cung cấp sản phẩm cho khách hàng Việt Nam, công ty trong giả định trên có thể phải thuê các dịch vụ từ một nước thứ ba, thuê các cơ sở hạ tầng kỹ thuật về Internet Tất cả những chi phí như vậy cần phải được tính khi xác định thu nhập chịu thuế Tuy nhiên điều này rất khó thực hiện bởi các giao dịch thương mại điện tử

2.2.2 Phân tích đối tượng nộp thuế và đối tương chịu thuế theo quy định

 Đối tượng nộp thuế: Theo quy định của Luật quản lý thuế năm 2006,

các chủ thể kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam đều phải khai thuế trước khi bắt đầu tiến hành các hoạt động kinh doanh Các DN nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ vào Việt Nam cho các

tổ chức, cá nhân kinh doanh thì tổ chức, cá nhân kinh doanh trong nước là người mua sẽ phải khai thuế theo từng hợp đồng và khấu trừ nộp thuế thay thế

cho DN nước ngoài

Thật chất, Luật quản lý thuế chưa hề tách bạch đâu là kinh doanh truyền thống, đâu là kinh doanh bằng phương thức điện tử kinh doanh Vậy nên, khái niệm “kinh doanh” trong Luật quản lý thuế được hiểu là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, chứ không hề có sự phân biệt kinh doanh bằng hình thức nào mới được áp dụng thuế Với sự phát triển khoa học hiện nay, kinh doanh bằng phương thức điện tử được xem là phương thức kinh doanh tiến bộ và hiện đại, bắt kịp sự phát triển của thời đại công nghệ Khái niệm kinh doanh nên được

Trang 39

hiểu mở rộng ra, bao gồm cả kinh doanh bằng phương thức điện tử Từ đây, người viết tự phân loại đối tượng nộp thuế dựa vào nguồn gốc của đối tượng nộp thuế:

+ Nếu là tổ chức, cá nhân kinh doanh trong nước liên quan đến hoạt động

TMĐT:

Tất cả các tổ chức, cá nhân trong nước thực hiện hoạt động thương mại nói chung và hoạt động TMĐT nói riêng đều phải tiến hành đăng ký thuế, khai thuế và thực hiện nghĩa vụ của mình26 theo đúng quy định chung của pháp luật

về thuế trong hoạt động thương mại Chẳng hạn: khi tiến hành lập một trang bán đồng hồ trên mạng thì trước tiên, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải đăng ký chủ sở hữu Website thương mại điện tử với Bộ Công thương thực hiện trực tuyến qua Cổng thông tin Quản lý hoạt động TMĐT tại địa chỉ

www.online.gov.vn, tiếp đến là đăng ký thuế với cơ quan quản lý thuế như là một hoạt động kinh doanh bình thường Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thuế trong việc quản lý và truy thu thuế Cơ quan quản lý thuế hoàn toàn có thể kiểm tra, xác định chính xác thông tin các đối tượng này thông qua địa phương mà đối tượng này cư trú, thông qua sự phối hợp với Bộ Công

thương, Bộ Thông tin và truyền thông

+ Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài liên quan hoạt động

TMĐT:

Đây là đối tượng phát sinh nhiều vấn đề cho công tác quản lý thuế của cơ quan quản lý thuế đối với thương mại điện tử Một trong những lý do cốt lõi làm cho các cơ quan chức năng cần có văn bản pháp luật và cơ chế quản lý thích hợp và tiến bộ để quản lý đối tượng này Đó là đối tượng có yếu tố nước ngoài khi tham gia hoạt động TMĐT mà không có bất cứ sự hiện diện thương mại nào tại Việt Nam, không gian số hóa, giao dịch thương mại vượt khỏi biên giới quốc gia với họ là hoàn toàn hợp lý khi tiến hành kinh doanh bằng phương

tiện điện tử

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam27 phải thực

26 - khoản 1 điều 2 đối tượng áp dụng tại Luật quản lý thuế năm 2006

- điều 2 Người nộp thuế, Nghị định số 83/2013/NĐ-CP2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế

27 khoản 3 điều 7, Thu nhập chịu thuế TNDN, Thông tư số 60/2012/TT-BTC hướng dẫn thực hiên

nghĩa vụ thuế đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam

Trang 40

hiện nghĩa vụ thuế theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam (trừ trường hợp đối tượng là công dân của quốc gia mà quốc gia này tham gia ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam) Tuy nhiên, đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên này vẫn phải đăng ký thuế, kê khai thuế với cơ quan quản lý thuế Việt Nam Nếu chứng minh được mình thuộc vào đối tượng được miễn giảm thì cơ quan quản lý thuế thực hiện theo đúng thủ tục

Ví dụ: DN nước ngoài A thực hiện việc ký hợp đồng và bán cho doanh nghiệp Việt Nam B 20 tấn xi măng với tổng giá trị của hợp đồng là 20 triệu USD (chưa bao gồm thuế GTGT và thuế TNDN) bằng phương thức là giao dịch điện tử DN A đã thực hiện hoạt động thương mại điện tử trong trường hợp này Mặc dù doanh nghiệp A không có sự hiện diện tại Việt Nam nhưng đã

có hành vi kinh doanh tại Việt Nam, nên DN A phải thực thiện thanh toán nghĩa vụ về thuế GTGT và thuế TNDN theo cách tính thuế và thuế suất tại Việt Nam (trừ trường hợp DN A là công dân của nước mà nước đó là thành viên của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần)

Một điều đáng chú ý tại điều 2 - đối tượng áp dụng, Nghị định số

52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 về Thương mại điện tử Một văn bản duy nhất và mới nhất quy định chính thức và khái quát về hoạt động TMĐT, khi quy định về đối tượng nước ngoài được áp dụng TMĐT tại khoản 3 như sau:

Thương nhân, tổ chức nước ngoài có sự hiện diện tại Việt Nam thông qua hoạt động đầu tư, lập chi nhánh, văn phòng đại diện, hoặc thiết lập Website dưới tên miền Việt Nam

Như vậy, nếu đối tượng nước ngoài thực hiện hoạt động TMĐT và có sự hiện diện tại Việt Nam thì chịu sự ràng buộc của pháp luật Việt Nam cũng như thực hiện đúng nghĩa vụ thuế thông qua đại diện hiện diện Ngược lại không có

sự hiện diện tại Việt Nam, liệu chăng đây có là đối tượng nộp thuế hay không theo quy định mới này Điều này nên hiểu là sẽ có sự thay đổi đối tượng nộp thuế, sự chuyển trách nhiệm nộp thuế cho chính chủ thể trong nước khi tiến hành giao dịch và được khấu trừ nghĩa vụ thuế mà doanh nghiệp nước ngoài phải chịu trước khi thanh toán Có hai nhóm đối tượng liên quan đến chủ thể thực hiện có yếu tố nước ngoài khi thực hiện TMĐT:

Ngày đăng: 05/10/2015, 09:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Thông tư 134/2008/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam. [Hết hiệu lực] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 134/2008/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam
Nhà XB: Bộ Tài chính
Năm: 2008
3. Bộ Thương mại điện tử : Thương mại điện tử, NXB Thống kê, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại điện tử
Nhà XB: NXB Thống kê
4. Bộ Công thương và Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin, Báo cáo thương mại điện tử năm 2012, Internet, Tr. 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thương mại điện tử năm 2012
5. Đặng Tiến Dũng, Tìm hiểu khái niệm quản lý và quản lý thuế, Tạp chí thuế Nhà nước, số 12, 2003, Tr. 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu khái niệm quản lý và quản lý thuế
6. Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, Báo cáo chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam năm 2012
Tác giả: Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam
Năm: 2012
7. Học viện Hành chính Quốc gia, Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, Hà Nội, 1998, Tr. 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý hành chính nhà nước
8. Nguyễn Thị Lệ Thúy, Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của Doanh nghiệp, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của Doanh nghiệp
9. Nguyễn Thị Thương Huyền, Luật Quản lý thuế và những vấn đề cần bàn thêm, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 19, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Quản lý thuế và những vấn đề cần bàn thêm
Tác giả: Nguyễn Thị Thương Huyền
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Năm: 2008
9. Nguyễn Văn Minh và Trần Hoài Nam, Giao dịch điện tử một số vấn đề cơ bản, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, Tr. 36-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao dịch điện tử một số vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Minh, Trần Hoài Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
10. Pierre G.Bergeron, Gestion modrene- Une vision globale et inesgrese, 1997, Tr. 467 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gestion modrene- Une vision globale et inesgrese
11. Viện nghiên cứu hành chính, Thuật ngữ hành chính, Hà Nội, 2002, Tr. 136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ hành chính
13. Trần Đình Hảo, Góp phần hoàn thiện pháp luật thuế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần hoàn thiện pháp luật thuế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
14. Võ Đình Toàn, Những định hướng cơ bản để hoàn thiện pháp luật thuế ở nước ta, Tạp chí Luật học, số 5, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những định hướng cơ bản để hoàn thiện pháp luật thuế ở nước ta
1. Hoàng Hà: Lỗ hổng chính sách thuế thương mại điện tử, trang tin Báomới.com, http://www.baomoi.com/Lo-hong-chinh-sach-thue-thuong-mai-dien-tu/126/9286413.epi, [truy cập ngày 23/5/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗ hổng chính sách thuế thương mại điện tử
2. Hóa đơn điện tử, nguồn từ Tổng cục thuế: hóa đơn điện tử là gì?, trang tin Thanh toán, http://www.hoadon.com.vn/hoa-don-dien-tu-la-gi.html, [truy cập 20/9/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: hóa đơn điện tử là gì
3. HobbesZankon, Internet Timeline, http://info.iso.org/guest/zankan/internet/history/hit.html, [truy cập 13/9/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Internet Timeline
9. Trang thông tin điện tử: Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh, www.tphcm.gdt.gov.vn Link
10. Cổng thông tin điện tử của Chính phủ, www.chinhphu.gov.vn Link
11. Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính, www.mof.gov.vn Link
12. www.businesscompliance.govt.nz/reports/final/fianl-11.html Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Biểu đồ tăng trưởng số người sử dụng Internet - một số vấn đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử
Hình 1 Biểu đồ tăng trưởng số người sử dụng Internet (Trang 14)
Hình 2: Biểu đồ tỷ lệ số người sử dụng Internet/100 dân - một số vấn đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử
Hình 2 Biểu đồ tỷ lệ số người sử dụng Internet/100 dân (Trang 14)
Hình 3: Đối tượng tham gia điều tra - một số vấn đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử
Hình 3 Đối tượng tham gia điều tra (Trang 61)
Hình 5: Phân bổ máy tính tại các doanh nghiệp - một số vấn đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử
Hình 5 Phân bổ máy tính tại các doanh nghiệp (Trang 63)
Hình 6: Tình hình nhân viên thường xuyên sử dụng email trong - một số vấn đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử
Hình 6 Tình hình nhân viên thường xuyên sử dụng email trong (Trang 63)
Hình 7: Tình hình sử dụng email trong kinh doanh - một số vấn đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử
Hình 7 Tình hình sử dụng email trong kinh doanh (Trang 64)
Hình 8: Khung pháp lý cho TMĐT năm 2012 - một số vấn đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử
Hình 8 Khung pháp lý cho TMĐT năm 2012 (Trang 66)
Hình 9: Tỷ lệ tiền mặt lưu thông trong tổng phương tiện thanh toán - một số vấn đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử
Hình 9 Tỷ lệ tiền mặt lưu thông trong tổng phương tiện thanh toán (Trang 67)
Hình 10: Số thuế bao điện thoại phát triển mới (đơn vị: nghìn) - một số vấn đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử
Hình 10 Số thuế bao điện thoại phát triển mới (đơn vị: nghìn) (Trang 69)
Hình 11: Thị phần của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông - một số vấn đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử
Hình 11 Thị phần của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông (Trang 70)
Hình 13: Thị phần các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet năm - một số vấn đề quản lý thuế liên quan thương mại điện tử
Hình 13 Thị phần các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet năm (Trang 71)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w