1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÍCH hợp KIẾN THỨC LIÊN môn TRONG dạy học môn NGỮ văn văn bản “ CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG ”( hà ánh minh ngữ văn 7)

75 2,1K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 4,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiến thức, kĩ năng, thái độ môn học cần đạt trong bài học “Ca Huế trên sông Hương” Hà Ánh Minh- Ngữ văn 7 * Vận dụng kiến thức văn học giúp học sinh hiểu và nắm rõ: - Đôi nét về cuộc đ

Trang 1

PHIẾU MÔ TẢ HỒ SƠ DẠY HỌC DỰ THI CỦA GIÁO VIÊN

1 TÊN HỒ SƠ DẠY HỌC

TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN “ CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG ”( Hà Ánh Minh- Ngữ văn 7)

2 MỤC TIÊU DẠY HỌC

2.1 Kiến thức, kĩ năng, thái độ môn học cần đạt trong bài học “Ca Huế trên sông Hương” ( Hà Ánh Minh- Ngữ văn 7)

* Vận dụng kiến thức văn học giúp học sinh hiểu và nắm rõ:

- Đôi nét về cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn Hà Ánh Minh

- Nội dung chính của văn bản “Ca Huế trên sông Hương”: nguồn gốc ca Huếđược hình thành từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình trang trọng, uynghi; Các làn điệu dân ca Huế rất phong phú, đa dạng (các điệu hò, các điệu lí )thể hiện các cung bậc tình cảm của con người và cuộc sống lao động sản xuất

xứ Huế; Các nhạc cụ biểu diễn ca Huế phong phú; Cách thức và yêu cầu biểudiễn ca Huế

- Nghệ thuật của văn bản “Ca Huế trên sông Hương”: Thể loại văn bản nhật

dụng với kiểu loại thuyết minh Học sinh phân biệt “Ca Huế trên sông Hương” thuộc thể loại bút kí với tùy bút trong bài “Một thứ quà của lúa non” đã học.

- Rèn kĩ năng : Kĩ năng tóm tắt văn bản; Kĩ năng đọc diễn cảm; Rèn kĩ năngphân tích tác phẩm văn bản nhật dụng ( thể loại thuyết minh ) qua thể kí có kếthợp với nghị luận và miêu tả; Kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng

- Thái độ học tập nghiêm túc, yêu thích môn Văn và tự hào về văn hóa quêhương đất nước

* Tích hợp với môn Giáo dục công dân( GDCD): Giáo dục học sinh ý thức giữ

gìn, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ; bồi dưỡng học sinh

có ý thức bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc là ca Huế Thông qua vẻđẹp xứ Huế giáo dục học sinh tình cảm và trách nhiệm yêu thiên nhiên, sống hòahợp với thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi trường… Từ đó, giáo dục nâng cao ýtinh thần yêu quê hương đất nướcvà trách nhiệm bảo vệ quê hương, đất nướccủa học sinh bằng những hành động cụ thể phù hợp với lứa tuổi học sinh thcs

Trang 2

* Tích hợp môn Âm nhạc: giúp học sinh hiểu một thể loại âm nhạc truyền

thống với những làn điệu, nhạc cụ dân tộc phong phú để bồi dưỡng học sinhthêm yêu thích làn điệu dân ca xứ Huế và dân ca của các miền quê Việt Namnói chung trong đó có hát Dô – Dân ca của Quốc Oai nói riêng Phát huy năngkhiếu ca hát cảm thụ âm nhạc của học sinh

* Tích hợp môn Lịch sử : Cung cấp cho học sinh kiến thức về lịch sử xứ Huế

anh hùng; lịch sử xây dựng và giai đoạn phát triển của cố đô Huế; hoàn cảnh rađời của ca Huế gắn với bối cảnh thời kì lịch sử , cuộc sống, văn hóa phát triểncủa giai đoạn nào Từ đó học sinh so sánh với cuộc sống hiện tại để thấy bướctiến của lịch sử để biết gìn giữ, kế thừa và bảo vệ thành quả dựng nước – giữnước của cha ông ta , bảo vệ nền độc lập chủ quyền trong bối cảnh thời sự phứctạp hiện nay,

* Tích hợp môn Địa lí : giúp học sinh có vốn hiểu biết sâu rộng về vị trí, đặc

điểm khí hậu, thiên nhiên thắng cảnh… của xứ Huế để hiểu tại sao xứ Huế lạitrở thành cội nguồn cảm hứng đề tài cho thi ca, hội họa, phim ảnh, lễ hội…là cố

đô du lịch yêu thích của mọi người và bạn bè quốc tế Học sinh thêm tự hào về

vẻ đẹp quê hương , đất nước Việt Nam, bồi dưỡng tình yêu quê hương, đấtnước, môi trường…Biết vẽ sơ đồ tư duy hệ thống kiến thức bài học

* Tích hợp môn Mỹ thuật : học sinh hiểu và khắc sâu kiến thức về kiến trúc

lăng tẩm, hoa văn khắc in, biểu tượng thuyền Rồng, tranh ảnh chụp vẽ về xứHuế, màu sắc phối sơ đồ tư duy, lễ hội… hiểu thêm về văn hóa và thẩm mỹ của

xứ Huế qua từng giai đoạn lịch sử Thêm tự hào về về vẻ đẹp thiên nhiên, conngười và nét văn hóa ca Huế Bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước Việt Nam,

tự hào về văn hóa Việt, yêu hội họa

* Tích hợp ngành nghệ thuật thứ 7 : là các video, cip quay minh họa về cuộc

sống con người xứ Huế, thiên nhiên thơ mộng của Huế, biểu diễn ca Huế, cố đôHuế… để học sinh có thể quan sát, cảm nhận sâu hơn về nội dung bài học vàhình ảnh về Huế trở lên cụ thể trong tâm trí học sinh

* Tích hợp môn Tin học: biết vận dụng kiến thức, kĩ năng bộ môn Tin học vào

truy cập, tìm và chọn lọc các tư liệu kênh chữ, kênh hình để vận dụng phục vụ

Trang 3

cho bài học “Ca Huế trên sông Hương” Quan tâm, yêu thích việc học tập, tìmhiểu khoa học Thấy được sự gắn kết, tương quan, liên hệ giữa các môn học, từ

đó tìm thấy được niềm vui, say mê trong học tập và nghiên cứu

2.2 Năng lực vận dụng những kiến thức liên môn trong chương trình THCS vào giải quyết vấn đề bài học đặt ra của học sinh

55-56-Phong trào Tây Sơn

64-65 Chế độ phong kiến nhà Nguyễn

GDCD 6 8 Yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên

Thực hành tạo lập trình chiếu power point

Cụ thể hóa kiến thức các bài học trên áp dụng vào dạy học trong văn bản : “ CaHuế trên sông Hương ” – Hà Ánh Minh – như sau :

2.2.1 Tích hợp môn Lịch sử

a Lịch sử tên gọi địa danh xứ Huế

- Tên gọi Thuận Hóa: Năm 1306, Công chúa Huyền Trân làm vợ vua Chiêm

là Chế Mân, đổi lấy hai Châu Ô và Rí làm sính lễ Năm 1307, vua Trần AnhTông tiếp quản vùng đất mới và đổi tên là châu Thuận và châu Hóa Việc gomhai châu này làm một dưới cái tên phủ Thuận Hóa, được thực hiện dưới thời nội

Trang 4

thuộc Nhà Minh Đến đời Nhà Hậu Lê, châu Thuận và châu Hóa hợp thànhThuận Hóa và trở thành một đơn vị hành chính cấp tỉnh Năm 1604,NguyễnHoàng đã cắt huyện Điện Bàn thuộc trấn Thuận Hóa, nâng lên thành phủ, sápnhập vào trấn Quảng Nam Thuận Hóa dưới thời các chúa Nguyễn, (thế kỷ 17-18) là vùng đất trải dài từ phía nam đèo Ngang cho tới đèo Hải Vân

- Tên gọi Phú Xuân : Năm 1626, để chuẩn bị cho việc chống lại họ Trịnh,

Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên dời dinh đến làng Phước Yên (Phúc An) thuộchuyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên và đổi Dinh làm Phủ Năm 1636, ChúaThượng Nguyễn Phúc Lan chọn làng Kim Long, thuộc huyện Hương Trà, tỉnhThừa Thiên, làm nơi đặt Phủ Năm 1687, Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Trăn, dờiPhủ chúa về làng Phú Xuân , thuộc huyện Hương Trà và năm 1712, chúa MinhNguyễn Phúc Chu dời phủ về làng Bác Vọng, huyện Quảng Điền, Thừa Thiênlàm nơi đặt Phủ mới Đến khi Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát lên cầm quyềnnăm 1738 thì phủ chúa mới trở về lại vị trí Phú Xuân và yên vị từ đó cho đếnngày thất thủ về tay quân họ Trịnh Năm 1802, sau khi thống nhất Việt Nam,

vua Gia Long đã "đóng đô ở Phú Xuân, mới gọi là Kinh sư"

- Tên gọi Huế: Học giả Thái Văn Kiểm kiến giải: Căn cứ trên những dữ kiện

về ngôn ngữ và từ điển thì có thể chữ Huế đã xuất hiện trong thời kỳ Nam Bắc phân tranh, chữ Huế bắt nguồn từ chữ Hóa trong địa danh Thuận Hóa Hóa biến thành Huế có thể là do kị huý, theo ông, có thể là tên ông Nguyễn Nạp Hóa, cháu 6 đời của ông Nguyễn Bặc- công thần của nhà Đinh - tổ của nhà Nguyễn hoặc cũng có thể do kiêng tên bà Hồ Thị Hoa, chánh cung của vuaMinh Mạng, thân mẫu của vua Thiệu Trị- vì Hoa và Hóa đọc na ná - nên Hóa phải đổi thành Huế

b Phong trào Tây Sơn (Chiến tranh Tây Sơn-Chúa Nguyễn )

Chiến tranh Tây Sơn-Chúa Nguyễn : là một phần của nội chiến ở Đại

Việt thời gian nửa cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 Đây là cuộc chiến diễn rachủ yếu trên chiến trường chính là lãnh thổ Đại Việt và lan sang cả lãnhthổ Chân Lạp và Xiêm La Chiến sự diễn ra chủ yếu giữa lực lượng phong tràoTây Sơn và lực lượng của các chúa Nguyễn; nhưng đồng thời cũng ít nhiều lôi

Trang 5

kéo cả các nước lân bang Chân Lạp, Vạn Tượng, Xiêm La vào cuộc Kết quảcuối cùng của cuộc chiến này là việc lần đầu tiên sau mấy thế kỷ Đại Việt đượcthống nhất hoàn toàn, sự du nhập khoa học kỹ thuật Châu Âu và sự khởi đầu choảnh hưởng của người Pháp tại Việt Nam:

+ Năm 1778, Nguyễn Ánh quay lại và tập hợp lực lượng chiếm được Gia Định

và đến năm 1780, ông xưng vương Trong mùa hè năm 1781, quân đội củaNguyễn Ánh lên đến khoảng 3 vạn người với 80 chiến thuyền đi biển, 3 thuyềnlớn và 2 tàu Bồ Đào Nha do giám mục Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Ánh mời được.Ông tổ chức tấn công Tây Sơn đánh tới tận đất Phú Yên nhưng sau cùng phải rútchạy vì gặp bộ binh rất mạnh của Tây Sơn

+ Tháng 3 năm 1782, Nguyễn Huệ cùng vua Thái Đức mang quân thuỷ bộ Namtiến Tây Sơn đụng trận dữ dội ở sông Ngã Bảy, cửa Cần Giờ với quân Nguyễn

do chính Nguyễn Ánh chỉ huy Dù lực lượng thuyền của Tây Sơn yếu hơn,nhưng nhờ lòng can đảm của mình, họ đã phá tan quân Nguyễn, buộc Manuel tựsát, tuy vậy cũng thiệt hại khá nhiều binh lực Nguyễn Ánh bỏ chạy về BaGiồng, rồi có khi trốn sang tận rừng Romdoul, Chân Lạp Vua Thái Đức khichiếm lại Nam bộ gặp phải sự chống đối mạnh của người Hoa ủng hộ NguyễnÁnh tại đây khiến cho một thân tướng là Đô đốc Phạm Ngạn tử trận, binh línhthương vong nhiều, nên ông rất đau đớn rồi nổi giận ra lệnh tàn sát người Hoa ởGia Định để trả thù Việc này đã cản chân Tây Sơn trong việc truy bắt NguyễnÁnh, khiến cho Nguyễn Ánh có cơ hội quay trở về Giồng Lữ, một đô đốc TâySơn là Nguyễn Học đem quân đuổi theo Ánh bị quân Nguyễn bắt giết khiến choNguyễn Ánh có được 80 thuyền của Tây Sơn Nguyễn Ánh thấy vậy định kéo vềchiếm lại Gia Định nhưng đụng Nguyễn Huệ dàn binh quay lưng ra sông đánhbại khiến Nguyễn Ánh phải chạy về Hậu Giang, Rạch Giá, Hà Tiênrồi theothuyền nhỏ trốn ra Phú Quốc

+ Sau khi chiến thắng quân Thanh, vua Quang Trung đang chuẩn bị phối hợpvới vua anh đem quân vào Nam đánh Gia Định thì đột ngột qua đời (1792), con

là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, hiệu là Cảnh Thịnh Loạn lạcliền nổ ra ở Bắc Hà, sĩ phu trung thành với nhà Lê nổi lên tôn Lê Duy Cận làm

Trang 6

minh chủ, Duy Cận liên lạc với Nguyễn Ánh để cùng đánh Tây Sơn, việc nàygóp phần làm cho nhà Tây Sơn nhanh chóng suy yếu Nội bộ Tây Sơn xảy ratranh chấp, quyền hành rơi vào tay ngoại thích Bùi Đắc Tuyên Từ đó, NguyễnÁnh ra sức mở các đợt tấn công ra Quy Nhơn theo nguyên tắc đã định trước đó:

"Gặp nồm thuận thì tiến, vãn thì về, khi phát thì quân lính đủ mặt, về thì tản ra

đồng ruộng"

+ Năm 1793, Nguyễn Ánh cùng các tướng Võ Duy Nguy, Nguyễn VănTrương, Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Văn Duyệt, Nguyễn PhướcHội,Philippe Vannier, Nguyễn Văn Hòa, Chưởng cơ Cố đem quân đánh NhaTrang, Diên Khánh, Phú Yên rồi tranh thủ đánh tới tận thành Quy Nhơn củaNguyễn Nhạc Vua Thái Đức cầu cứu Phú Xuân Cảnh Thịnh sai Ngô Văn

Sở, Phạm Công Hưng, đô đốc Hố và Chưởng cơ Thiêm đem 17.000 quân,

80 thớt voi,và 30 chiếc thuyền chia nhiều đường tiến vào cứu, quân Nguyễn Ánhrút lui, trên đường về ông sai quân đắp thành Diên Khánh để lợi dụng địa thế nơinày làm bàn đạp chống Tây Sơn Cùng thời gian, quân Phú Xuân của Tây Sơnnhân dịp đánh chiếm luôn đất đai, kho tàng của vua Thái Đức Lúc đó NguyễnNhạc đang bệnh trên giường, nghe tin cơ nghiệp của con mình là Quang Bảo bịchiếm mất, uất quá thổ huyết mà qua đời Quang Toản cho an trí Quang Bảo rahuyện Phù Ly và cai quản toàn bộ đất đai của vua bác Từ năm 1794 đến năm

1795, Tây Sơn phản công, họ cho quân nhiều lần vào đánh Phú Yên, vây thànhDiên Khánh, quân Nguyễn cũng ra sức chống cự, nhiều lần kìm hãm, thậm chí

là đánh lại được quân Tây Sơn Năm 1797, Nguyễn Ánh cho quân ra đánh PhúYên, riêng ông thì cùng Nguyễn Phúc Cảnh chỉ huy thủy quân ra tận Quy Nhơngiao chiến với tướng Tây Sơn là Lê Trung tại Thị Nại thu được nhiều khí giới,nhưng khi tới Quy Nhơn thấy thế lực Tây Sơn thủ mạnh quá đành vòng lênđánh Quảng Nam nhưng được mấy tháng lại rút vềvì thuyền chở quân lương từGia Định bị ngược gió không lên kịp Năm 1799, Nguyễn Ánh cho sứ yêu cầuvua Xiêm La cho một đạo quân Chân Lạp và Vạn Tượng đi đến sát biên giớiNghệ An để nghi binh và vua Xiêm đồng ý làm theo Cũng trong năm 1799,Nguyễn Ánh tự cầm quân đi đánh thành Quy Nhơn, tướng giữ thành của Tây

Trang 7

Sơn là Vũ Tuấn đầu hàng dù trước đó Quang Toản đã sai Trần Quang Diệu và

Vũ Văn Dũng đem quân vào cứu Sau đó, Nguyễn Ánh đổi tên Quy Nhơn thànhBình Định, rồi cho quân tới trấn giữ thành Tây Sơn ngay lập tức tìm cách chiếmlại;tháng 1 năm 1800, hai danh tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng kéođến vây thành Quy Nhơn Nguyễn Ánh cho quân ra cứu nhưng bị bộ binh TâySơn chặn lại, ông chia quân đi đánh các nơi và thắng nhiều trận, trong đó có mộttrận lớn ở Thị Nại Thấy thế Tây Sơn vây Quy Nhơn còn mạnh, Nguyễn Ánhcho người lẻn mang thư đến bảo tướng quân Nguyễn giữ thành là Võ Tánh mởđường máu mà trốn ra nhưng Võ Tánh quyết tử thủ để tạo điều kiện cho NguyễnÁnh đánh Phú Xuân, việc này khiến thời gian hai danh tướng Tây Sơn bị cầmchân lên hơn một năm. Năm 1801, Nguyễn Ánh nhận thấy tinh binh Tây Sơnđều tập trung cả ở chiến trường Quy Nhơn nên mang quân chủ lực vượt biển rađánh Phú Xuân Tháng 5 năm 1801, Nguyễn Ánh kéo quân giao chiến dữ dộivới Tây Sơn ở cửa Tư Dung; rồi đụng Quang Toản ở cửa Eo, Quang Toản thuatrận bỏ chạy ra Bắc và đến ngày 3 tháng 5 Nguyễn Ánh giành được Phú Xuân.Đầu năm 1802, Tây Sơn mới chiếm lại thành Quy Nhơn, Võ Tánh tự vẫn để xintha mạng cho binh sĩ Cũng trong thời gian này, sau khi chiến thắng quân TâySơn, hoàn toàn chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế ngày 1tháng 6 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1802)

Để tượng trưng sự thống nhất Nam-Bắc lần đầu tiên sau nhiều năm,

Nguyễn Ánh chọn niên hiệu là Gia Long, chữ Gia lấy từ Gia Định và Long lấy

từ Thăng Long Sau đó ông cho người đem toàn bộ ấn sách nhà Thanh trao choTây Sơn trả lại và xin phong, rồi sai Lê Văn Duyệt kéo quân tiếp ra Bắc Hà diệthoàn toàn nhà Tây Sơn

c Hành chính Việt Nam thời Nguyễn

Năm 1802, trong khi đã quyết định Phú Xuân là quốc đô, Nguyễn Ánhvẫn tạm đặt 11 trấn phía Bắc (tương đương khu vực Bắc Bộ ngày nay) thànhmột Tổng trấn với tên cũ Bắc Thành, do một Tổng trấn đứng đầu Đếnthời Minh Mạng, để nhất thể hóa các đơn vị hành chính trong cả nước, năm1831-1832 nhà vua thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, theo đó bỏ các

Trang 8

tổng trấn, đổi các dinh, trấn trấn thành tỉnh Đây là lần đầu tiên đơn vị hànhchính tỉnh xuất hiện ở Việt Nam Năm 1831, Minh Mạng đổi các trấn từ QuảngTrị trở ra thành 18 tỉnh, và vùng còn lại ở phía Nam được chia làm 12 tỉnh ThừaThiên, nơi toạ lạc của kinh đô Phú Xuân, là phủ trực thuộc Trung ương Cả nướcđược chia làm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên

d Lịch sử cố đô Huế

Kinh thành Huế được vua Gia Long tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởicông xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm1832 dưới triều vua Minh Mạng.được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào ngày 11 tháng 12năm1993 Hiện tại, cố đô Huế đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vàodanh sách xếp hạng 48 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng.

2.2.2 Tích hợp môn Địa lí

a Vị trí địa lí xứ Huế

Thành phố Huế nằm ở toạ độ địa lý 16-16,80 vĩ Bắc và 107,8-108,20 kinhĐông phía Bắc và phía Tây giáp thị xã Hương Trà, phía Nam giáp thị xã HươngThuỷ, phía Đông giáp thị xã Hương Thuỷ và huyện Phú Vang Tọa lạc hai bên

bờ hạ lưu sông Hương, về phía Bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 112 km, cáchbiển Thuận An 14 km, cách sân bay quốc tế Phú Bài 14 km và cách Cảng nướcsâu Chân Mây 50 km Diện tích tự nhiên 71,68 km2, dân số năm 2012 ước là344.581 người Nằm tựa lưng vào dãy núi Trường Sơn, khu vực thành phố Huế

là đồng bằng thuộc vùng hạ lưu sông Hương và sông Bồ, có độ cao trung bìnhkhoảng 3 – 4 m so với mực nước biển và thường bị ngập lụt khi đầu nguồn củasông Hương (trên Dãy Trường Sơn) xảy ra mưa vừa và lớn Khu vực đồng bằngnày tương đối bằng phẳng, tuy trong đó có xen kẽ một số đồi, núi thấp như núiNgự Bình, Vọng Cảnh Huế có nhiều trung tâm thương mại lớn và nổi tiếngtoạ lạc ở hai bên bờ sông Hương như: Chợ Đông Ba, chợ Tây Lộc, chợ AnCựu, chợ Bến Ngự, siêu thị Thuận Thành, Trường Tiền Plaza(siêu thị Coopmart), Phong Phú Plaza(Big C) Trung tâm du lịch nổi tiếng của Việt Nam vớinhiều danh lam thắng cảnh đẹp: cố đô Huế, sông Hương núi Ngự

b Khí hậu xứ Huế

Trang 9

Thành phố Huế có sự ngoại lệ về khí hậu so với vùng Bắc Bộ và Nam Bộ,

vì nơi đây khí hậu khắc nghiệt và có sự khác nhau giữa các miền và khu vựctrong toàn tỉnh Vùng duyên hải và đồng bằng có hai mùa rõ rệt: mùa khô từtháng 3 đến tháng 8, trời nóng và oi bức, có lúc lên tới 39,9 °C Từ tháng 8 đếntháng 1 là mùa mưa và hay xảy ra bão lụt, nhiệt độ trung bình 19,7 °C, cũng cókhi hạ xuống còn 8,8 °C, trời lạnh Vào mùa này có những đợt mưa suốt ngày,kéo dài cả tuần lễ Vùng núi mưa nhiều, khí hậu mát mẻ, nhiệt độ dao động từ 9

°C đến 29 °C

c Vị trí cố đô Huế

Phía nam giáp đường Trần Hưng Đạo và, Lê Duẩn; phía tây giáp đường LêDuẩn; phía bắc giáp đường Tăng Bạt Hổ; phía đông giáp đường Phan Đăng Lưu.Bên trong kinh thành, được giới hạn theo bản đồ thuộc các đường như sau: phíanam là đường Ông Ích Khiêm; phía tây là đường Tôn Thất Thiệp; phía bắc làđường Lương Ngọc Quyến và phía đông là đường Xuân 68 Phần lớn các di tíchnày nay thuộc sự quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

2.2.3 Tích hợp môn Âm nhạc

a Sơ lược một số nhạc cụ dân tộc phổ biến

Việt Nam là nước có một kho tàng nhạc cụ cổ truyền hết sức phong phú

và đa dạng Kho tàng ấy được hình thành trong suốt hành trình cuộc sống vàchiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước Có những nhạc cụ được sáng tạo tạichỗ có tính đặc trưng bản địa, có những nhạc cụ được du nhập từ nhiều đườngkhác nhau nhưng đã được dân tộc hóa, bản địa hóa cho phù hợp với nhạc ngữ,với thẩm mỹ âm nhạc Việt Nam Tổng cộng có đến vài trǎm chi loài nhạc cụkhác nhau Dưới đây là những nhạc cụ tiêu biểu nhất của người Việt được dungtrong biểu diễn ca Huế:

- Đàn bầu, tên chữ là độc huyền cầm, là loại đàn một dây của người Việt, gảy

bằng que, miếng gảy Đàn có hai loại : đàn thân tre và đàn hộp gỗ

- Đàn nguyệt tức nguyệt cầm, trong Nam còn gọi là đàn kìm Loại đàn này

có hộp đàn hình tròn như Mặt Trăng nên mới có tên là "đàn nguyệt" Theosách xưa thì đàn nguyên thủy có 4 dây, sau rút lại còn 2 dây[cần dẫn

Trang 10

chứng] Sách của Phạm Đình Hổ thì ghi rằng đàn nguyệt xuất hiện ở ViệtNam vào thế kỷ 18.

- Đàn nhị (ở miền nam Việt Nam gọi là đàn cò) là nhạc cụ có cung vĩ, xuất

hiện từ lâu ở Việt Nam

- Tam thập lục là nhạc khí dây, chi gõ của âm nhạc dân gian Việt Nam Đàn

có 36 dây nên được gọi là Tam Thập Lục

- Phách là nhạc cụ gõ, xuất hiện trong nhiều thể loại ca, múa nhạc ở Việt

Nam từ lâu đời Phách có nhiều loại và tên gọi khác nhau Trong hát xẩmphách gọi là cặp kè; trong cải lương và dàn nhạc tài tử phách là song lang;trong ca Huế phách là sênh, còn trong dàn nhạc tuồng, đám ma, múa tôngiáo và múa dân gian người ta mới gọi là phách

- Sáo Trúc là tên gọi một nhạc cụ họ hơi, chi hơi vòm của dân tộc Việt Đặc

biệt rất được phổ biến ở vùng nông thôn Việt Nam.Sáo được làm bằngmột đoạn ống trúc, hoặc nứa có chiều dài 40 - 55cm, đường kính 1,5 -2cm Ở phía đầu ống có một lỗ hình bầu dục đó là lỗ thổi Trong lòngngay gần lỗ thổi được chặn bằng một mẩu nút bấc hoặc gỗ mềm để điềuchỉnh độ cao thấp khi cần thết Thẳng hàng với lỗ thổi có khoét 6 lỗ bấm,

lỗ bấm thứ nhất cách lỗ thổi 12cm, các lỗ bấm còn lại cách đều nhau(1cm) Mở dần các ngón ở 6 lỗ bấm ta sẽ có các âm Do1, Rê1, Mi1, Fa1,Sol1, La1, Si1, Do2 Phía sau cuối ống sáo có một lỗ không bấm là lỗđịnh âm Khi thổi sáo, thân sáo đặt ngang sang bên phải, miệng đặt lên lỗthổi Người thổi sáo có thể điều chỉnh luồng hơi (rót hơi yếu đường hơi đi

từ từ và yếu, rót hơi mạnh đường hơi đi nhanh và mạnh) Sáo thườngđược sử dụng để độc tấu, hòa tấu trong các dàn nhạc chèo, hát văn, tiểunhạc.Khoảng cuối thập kỷ 70, nghệ sĩ Đinh Thìn và Ngô Nam đã cải tiếncây sáo 6 lỗ thành sáo 10 lỗ để mở rộng âm vực, cho các nghệ sỹ chơinhững tác phẩm tương đối dễ dàng hơn như "Tiếng gọi mùa xuân" củaĐinh Thìn, "Tình quê" của Hoàng Đạm, "Tiếng sáo bản Mèo" của NgọcPhan là nhạc cụ thổi hơi có từ thời kỳ cổ đại, rất nhiều nước trên thế giới

sử dụng sáo với nhiều hình dáng và cấu tạo có thể khác nhau

Trang 11

- Sinh tiền là nhạc cụ gõ độc đáo, xuất hiện ở Việt Nam ít nhất vài trăm

năm nay Tên cổ của nó là phách sâu tiền hay phách quán tiền Ngày nay

có người gọi là sênh tiền

- Trống cái là nhạc cụ không định âm, to lớn, xuất hiện ở khắp nước Việt

Nam từ hàng ngàn năm nay Dù ở đồng bằng hay miền núi người ta đềunhận ra sự có mặt của trống cái

- Đàn Tranh được hình thành trong ban nhạc từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 14.

Thời Lý - Trần, Đàn Tranh chỉ có độ 15 dây nên bấy giờ gọi là "Thập ngũhuyền cầm" và được dùng trong ban "Đồng văn, nhã nhạc" (đời Lê ThánhTôn thế kỷ 15), sau này được dùng trong cả ban nhạc giáo phường ThờiNguyễn (thế kỷ 19) được dùng trong ban "nhạc Huyền" hay "Huyềnnhạc", lúc bấy giờ được sử dụng với 16 dây nên được gọi là "Thập lụchuyền cầm".Hình dáng đàn dài, có 16 dây bằng kim loại, mặt đàn nhô lênhình vòng cung Từ trục đàn đến chỗ gắn dây đàn, khoảng giữa của mỗidây đều có một con nhạn gọi là "Nhạn đàn" để tăng âm, lên dây đàn từnửa cung đến một cung khi đàn cần chuyền đổi dây Sau này, Đàn Tranhrất thông dụng được đứng thứ ba trong bộ tam tuyệt của dàn nhạc tài tử

- Tỳ Bà tên gọi một nhạc cụ dây gẩy của người Việt Nhiều tài liệu đã cho

biết, Tỳ Bà xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc với tên gọi PiPa, rồi ở NhậtBản với tên gọi BiWa.Người ta chế tác Tỳ Bà bằng gỗ Ngô Đồng Cầnđàn và thùng đàn liền nhau có dáng như hình quả lê bổ đôi Mặt đàn bằng

gỗ nhẹ, xốp, để mộc Phía mặt cuối thân đàn có một bộ phận để mắc dâygọi là ngựa đàn Đầu đàn (hoặc thủ đàn) cong có chạm khắc rất cầu kỳ,khi là hình chữ thọ, khi là hình con dơi Nơi đầu đàn gắn bốn trục gỗ đểlên dây Toàn bộ chiều dài của thân đàn có số đo từ 94 - 100cm Phần cầnđàn có gắn 4 miếng ngà voi cong vòm lên gọi là Tứ Thiên Vương Támphím chính làm bằng tre hoặc gỗ gắn ở phần mặt đàn cho các cao độ khácnhau Thuở xưa dây đàn se bằng tơ tằm rồi đem vuốt sáp ong cho mịn,ngày nay, người ta thay dây tơ bằng dây nilon Đàn có 4 dây lên theo 2quãng 4, mỗi quãng 4 cách nhau một quãng 2: Đồ - Fa - Sol - Đô1 hoặc

Trang 12

Sol -Đô1 - Rê1 - Sol1 Khi chơi đàn nghệ nhân gẩy đàn bằng miếng đồimồi hoặc miếng nhựa

b Một số ca khúc mang âm hưởng dân ca đặc trưng xứ Huế

Ca Huế là một thể loại âm nhạc cổ truyền của xứ Huế, Việt Nam, bao gồm

ca và đàn, ở nhiều phương diện khá gần gũi với hát ả đào, làm từ dòng nhạc dângian và cung đình nhã nhạc Hệ thống bài bản phong phú của ca Huế gồmkhoảng 60 tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc theo hai điệu thức lớn là điệu Bắc,điệu Nam và một hệ thống "hơi" diễn tả nhiều sắc thái tình cảm đặc trưng ĐiệuBắc gồm những bài ca mang âm điệu tươi tắn, trang trọng Điệu Nam là nhữngbài âm điệu buồn, nỉ non, ai oán Bài bản Ca Huế có cấu trúc chặt chẽ, nghiêmngặt, trải qua quá trình phát triển lâu dài đã trở thành nhạc cổ điển hoàn chỉnh,mang nhiều yếu tố "chuyên nghiệp" bác học về cấu trúc, ca từ và phong cáchbiểu diễn Đi liền với ca Huế là dàn nhạc Huế với bộ ngũ tuyệt Tranh, Tỳ, Nhị,Nguyệt, Tam, xen với Bầu, Sáo và bộ gõ trống Huế, sanh loan, sanh tiền:

- Ví dụ: bài “ Lý hoài thương”, “ Lý tương tư”, “ Lý hành vân”

c Dân ca địa phươngQuốc Oai

Hát Dô là thể loại dân ca nghi lễ, hình thành và phát triển trên mảnh đấtLạp Hạ, nay là xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây( nay là thành phố

Hà Nội).Hát Hội Dô ở Liệp Hạ xưa phản ánh nhận thức của con người Lạc Việt

về thiên nhiên, và ước mơ của nông dân về một cuộc đời êm ấm, thời tiết thuậnhòa, mùa màng bội thu, con cháu đông đúc Hát Hội Dô là tiếng ca trữ tình,nồng nàn về tình yêu nam nữ, về hạnh phúc lứa đôi của người nông dân dướichế độ phong kiến Nội dung này đã trở thành nội dung chủ đạo trong phần hát

Bỏ bộ, được tiến hành sau những diễn xướng có tính chất nghi lễ của hát Hội Dôtrong những ngày lễ hội

*Nguồn gốc: Quá trình hình thành là hoàn chỉnh của hát Hội Dô diễn ra trong

một thời gian dài, và được định hình sớm nhất là vào thế kỷ 15 Sự biến đổi vẫncòn tiếp tục diễn ra trong những thế kỷ sau này Đây là một loại dân ca tế thầnTản Viên nằm trong hệ thống hát Xoan ở vùng đất Tổ Hùng Vương thuộc tỉnhPhú Thọ ngày nay, hoặc như một số loại dân ca khác Tương truyền, hát Dô do

Trang 13

Đức Thánh Cao Sơn (Sơn Tinh), một trong bốn vị thánh linh thiêng nhất ở ViệtNam truyền lại Lối hát Dô cổ truyền có tới 36 làn điệu Người hát Dô chuẩnphải biết vừa hát, vừa múa Theo truyền thuyết vào thời Hùng vương, trong mộtlần du ngoạn, đức Thánh Tản Viên - Sơn Tinh qua vùng đất, ngày nay là thônVĩnh Phúc, xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, nhận thấy đây là nơi phong cảnhhữu tình, trai thanh gái lịch, ngài đã cho xây dựng cung điện và mở hội đểtruyền dạy cho dân làng các điệu hát ca ngợi quê hương, tình yêu nam nữ từ

đó hát Dô ra đời Có nhiều truyền thuyết giải thích nguồn gốc của diễn xướnghát Dô, nhưng đều khẳng định 36 năm lễ hội đền Khánh Xuân và diễn xướng hát

Dô mới được tổ chức một lần, vào ngày 15 và 16 tháng Giêng âm lịch Như vậy

có thể nêu giả thiết: những bài ca khẩn nguyện kết hợp với truyền thuyết TảnViên cùng với sự múa hay hát giỏi của cư dân Liệp Tuyết hình thành nên thểloại văn hoá dân gian đặc sắc Trong quá trình phát triển, diễn xướng hát Dôdung nạp thêm và hoàn thiện như ngày hôm nay Mục đích ban đầu của nó làphục vụ cho việc thờ cúng, ca ngợi các vị thần trong đền Khánh Xuân Quá trìnhphát triển, diễn xướng hát Dô dung nạp thêm những ý nghĩa mới mẻ như cầumong sự thịnh vượng cho làng chạ, cho ngành nghề Quá trình này chịu sự ảnhhưởng của các nhà Nho, đặc biệt ở thời Lê sơ Cao hơn nữa là những bài hát trữtình về tình yêu thiên nhiên, tình yêu nam nữ

* Cách thức tổ chức : Theo các già làng ở Liệp Tuyết kể lại, thì trước đây Hộihát Dô tổ chức theo quy định cứ 36 năm mở một lần từ ngày 10 đến 15 thánggiêng (Âm lịch), nhưng ở đây đã tổ chức rước kiệu từ ở đình, miếu ra đền KhánhXuân ngay từ chiều ngày 9 tháng giêng Đó là một cuộc rước chung toàn xã,chọn những thanh niên trai tráng khỏe mạnh mới được rước kiệu, thường mỗikiệu có bốn người khênh Cũng có thôn đông thanh niên thì nhiều người khênhhơn, hoặc thay đổi nhau vì đây là một việc làm vinh dự Đi trước kiệu là các vịchức sắc, hai bên kiệu có cờ, có lọng đi kèm Cái hát và bạn nàng cũng đi kèmtrước kiệu, mỗi người đều có ô che đầu Đám rước đi thành một đoàn dài gồmcác thôn nối tiếp nhau theo thứ tự đã sắp xếp từ trước Đại phu là thôn anh cả điđầu, rồi đến thôn anh hai là Vĩnh Phúc, và sau đó là các thôn Bái Nội, Bái

Trang 14

Ngoại, Thông Đạt, Đồng Sơn Đám rước đi trong rừng cờ, cầm lọng là mộtngười trạc tuổi 17, 18, đầu quấn khăn lượt, trong áo trắng, ngoài áo the đen,quần trắng, chân quấn xà cạp mầu đỏ, hoặc giày vải, thanh nữ cũng mặc quần áonhư những người khênh kiệu rước cờ rước lọng, nhưng chân không quấn xàcạp Xong rồi tất cả trở về nhà Sáng hôm sau, tất cả mọi người các thôn mới ratập trung ở đền Khánh Xuân và vào hội hát Dô Đại phu là thôn anh cả phải đếnsớm nhất và được hát trước nhất Trình tự cuộc hát như sau: Người cái dẫn dắtbạn nàng vào đứng trước đền Khánh Xuân, sau đó người cái cầm xênh gõ nhịplàm hiệu, dẫn bạn nàng vào trước bàn thờ, tất cả đều đi theo hình chữ chi Khinghe tiếng xênh mở đầu làm hiệu, các bạn nàng từ từ bỏ dép, bước vào chiếu,xòe quạt và bắt đầu múa hát Nếu các bạn nàng đông thì đứng trên hai chiếu,chiếu trên gồm các nàng lớn, chiếu dưới gồm các nàng con Nếu thôn nào có sốbạn nàng đông quá, thì phải chia ra hát làm nhiều đợt Câu mở đầu là những bàihát chúc của người cái, phần lớn là các bài hát đều không có động tác Sau khicác thôn lần lượt hát xong thì cuộc tế lễ mới bắt đầu Phương thức diễn xướngcủa hát Dô khá đơn giản Cái hát, ngoài động tác gõ xênh, hầu như không vậnđộng gì Các bạn nàng thường sử dụng đôi tay cùng với chiếc quạt gần như độngtác múa chèo Vần và nhịp của hát Dô cũng biến hóa linh hoạt Có câu, có đoạntuân theo thể lục bát một cách linh hoạt Nhưng có những câu, những đoạn colại, hoặc giãn ra cho phù hợp với các giọng kể, giọng ngâm Diễn xướng hát Dôtồn tại song song với lễ hội đền Khánh Xuân Là loại hình dân ca nghi lễ, diễnxướng hát Dô gắn liền với vị thần mà nó hướng tới

* Đặc trưng diễn xuớng hát Dô: Diễn xướng hát Dô được phân chia thành bốn

hình thức hát, đó là: hát nói, hát ngâm, hát xô và hát ca khúc Mỗi hình thức làmột cách hát khác nhau Tuy nhiên, diễn xướng hát Dô là một chuỗi những câuhát cho nên việc phân chia này chỉ mang tính tương đối

- Hát nói: thuộc nội dung hát Chúc, là hình thức khi bắt đầu và kết thúc của

diễn xướng hát Dô, gần giống với một điệu trong hát ca trù

- Hát ngâm: thể hiện ở những bài hát chúc thơ, ngâm thơ ở phần cuối của cuộc

hát, đặc biệt là ở phần hát Bỏ bộ

Trang 15

- Hát xô: là hình thức xuyên suốt của diễn xướng hát Dô Người Cái lĩnh xướng

và Con hát (bạn nàng) xen lẫn bằng những câu hát đệm.

- Hát ca khúc: những đoạn nào trong diễn xướng hát Dô có thể tách ra độc lập

mang nội dung hoàn chỉnh Hình thức này nghiêng về nội dung hơn

*Nội dung diễn xướng hát Dô : Các loại hát

- Hát Chúc: là nội dung hát thuộc phần nghi lễ của diễn xướng hát Dô Phần

nội dung bắt buộc nghi lễ chỉ chiếm phần nhỏ mà nội dung cơ bản của diễnxướng là ước muốn của mọi tầng lớp người trong xã hội, là thăng quan tiếnchức, làm nông thuận lợi, buôn bán thuận hoà, là mừng xuân, là vui chơi, hội hè

- Hát Bỏ bộ: là phần lời ca mang đậm chất trữ tình hơn cả Tình yêu nam nữ

được thể hiện tinh tế và rõ nét Lời ca điêu luyện, thấm đượm chất trữ tình Sứcsống lâu bền của diễn xướng hát Dô chính là giá trị hiện thực mang lại cho conngười

* Thể thơ : Nhiều thể thơ được sử dụng Từ câu thơ ba chữ, bốn chữ, bảy chữ

đến những câu thơ lục bát có sự cân bằng về trung tâm đều được sử dụng nhuầnnhuyễn Quá trình phát triển của thể thơ trong diễn xướng hát Dô cũng là sự pháttriển của thể thơ dân tộc

* Lời ca và làn điệu trong diễn xướng hát Dô: Lời thơ quy định các tên gọi của

làn điệu trong diễn xướng hát Dô Khi phân định ranh giới các bài có những lànđiệu khác nhau, người hát thường dựa vào lời thơ của đoạn hát ấy để đặt tên chonội dung từng đoạn Nội dung hát Bỏ bộ thì khác, bởi mỗi bài có một ý nghĩariêng cho nên việc đặt tên cũng dễ dàng hơn Làn điệu chi phối lời thơ trongdiễn xướng hát Dô bằng cách gia nhập những tiếng phụ vào bài thơ nguyên thể

Đó là những tiếng đệm, tiếng lót, tiếng láy cài vào đầu, giữa hay cuối nhữngdòng thơ của các thể thơ khác nhau Việc gia nhập tiếng phụ ở mỗi loại hình dân

ca là khác nhau Đó cũng là những nét khu biệt của diễn xướng hát Dô

* Đạo cụ: quạt giấy là đạo cụ của các bạn nàng, đôi sênh là đạo cụ của Cái hát.

* Điệu bộ động tác trong diễn xướng hát Dô: Cùng tồn tại song song với lời ca

nghi lễ hát Dô là các động tác phụ hoạ của các bạn nàng Diễn xướng hát Dô là

Cái xướng Con hoạ Khi hát, bạn nàng vừa hát vừa múa minh hoạ theo nội dung

Trang 16

từng đoạn như: hái hoa, múa quạt, bắn cung, hái chè, dệt cửi đặc biệt là độngtác chèo thuyền Ở nội dung hát Bỏ bộ các động tác có phần sinh động hơn.Nhìn chung, các động tác múa của diễn xướng hát Dô khá đơn giản Việc kếthợp các động tác này đòi hỏi cảm quan thẩm mĩ của người hát là khá cao.

Mặc dù còn có những hạn chế nhất định về mặt nội dung và nghệ thuật,hát hội Dô vẫn là một viên ngọc quý trong di sản văn hóa dân tộc, nó giúp chúng

ta nhìn rõ hơn cuộc sống lao động, cuộc sống tình cảm của ông cha ta trước kia,với tính chất là một sinh hoạt văn hóa tổng hợp xuất hiện từ lâu đời Do lời hátmộc mạc, gần gũi với đời sống nhân dân nên ngày nay hát Dô đang được khôiphục lại, trở thành nét sinh hoạt văn hóa độc đáo của người dân xã Liệp Tuyết,huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây ( thành phố Hà Nội) , đồng thời là biện phápnhằm khôi phục di sản văn hoá phi vật thể, bảo tồn và lưu truyền cho đời sau

2.2.4 Tích hợp môn Giáo dục công dân

a Từ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc nói chung và xứ Huế nói riêng giáo viên định hướng giáo dục học sinh về truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ nền độc lập chủ quyền của dân tộc Việt Nam:

Trong bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được Quốc hội công bố

cũng nêu rõ tại Ðiều 48 (sửa đổi, bổ sung Ðiều 77): "Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ

thiêng liêng và quyền cao quý của công dân Công dân phải làm nghĩa vụ quân

sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân; việc thực hiện nghĩa vụ thay thế nghĩa vụ quân sự do luật định".

- Bảo vệ Tổ quốc: Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất và

toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế dộ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước CHXH CN ViệtNam

- Vì sao phải bảo vệ tổ quốc vì: Đất nước ta là do cha ông ta đã đổ mồ hôi xương

máu, khai phá bồi đắp mới có được Hiện nay vẫn còn nhiều thế lực thù địchđang âm mưu thôn tính nước

- Bảo vệ Tổ quốc gồm các nội dung: Xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân;

Thực hiện nghĩa vụ quân sự; Thực hiện chính sách hậu phương quân đội; Bảo vệtrật tự an ninh xã hội

Trang 17

- Trách nhiệm của học sinh: Ra sức học tập, tu dưỡng đạo đức; Rèn luyện sức

khoẻ, luyện tập quân sự; Tích cực tham gia phong trào bảo vệ trật tự an ninhtrong trường học và nơi cư trú; Sẵn sàng làm nghĩ vụ quân sự; Vận động mọingười cùng thực hiện nghĩa vụ quân sự; Phê phán tố cáo hành vi trốn tránhnghĩa vụ quân sự

- Nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc: (Hiến pháp 1992, Luật nghĩa vụ quân sự, Bộ luậthình sự 1999:

+ Công dân nam thanh niên phải làm nghĩa vụ quân sự (từ 18 tuổi trở lên) Thờigian phục vụ bình thường là 3 năm

+ Công dân 18 - 45 tuổi ở các cơ quan, trường học, nhà máy, xí nghiệp cónghĩa vụ tham gia các đội tự vệ, luyện tập quân sự, làm lực lượng quân sự dự bịsẵn sàng bảo vệ tổ quốc

+ Công dân còn trẻ tuổi, là học sinh phổ thông có nghĩa vụ luyện tập quân sựtheo chương trình quy định để khi lớn lên sắn sàng đáp ứng yêu cầu bảo vệ tổquốc, bảo vệ trật tự làng, xã, cơ quan, trường học Việc thực hiện nghĩa vụ quân

sự được hiểu là nhập ngũ vào quân đội, ngoài ra còn có việc thực hiện nghĩa vụthay thế, song đều có mục tiêu chung là bảo vệ Tổ quốc Vì vậy có thể nên thốngnhất chung là nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc và được khẳng định trong Hiến pháp,nêu rõ những nghĩa vụ công dân Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc được quy định tạicác luật, pháp lệnh như: quân sự, an ninh, cảnh sát, cơ yếu làm căn cứ pháp lýkhẳng định ý thức nghĩa vụ của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Mặt khác, trong triển khai xây dựng cũng như thực hiện quyền lợi vànghĩa vụ công dân, yêu cầu công bằng là vấn đề phải được quan tâm thườngxuyên, có những vấn đề cần phải trưng cầu dân ý hay đưa ra dự thảo để tranhthủ ý kiến đóng góp của nhân dân trước khi quyết định Tuy nhiên, qua thờigian, thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự trong điều kiện đất nước hòa bình, ổnđịnh, yêu cầu biên chế lực lượng vũ trang giảm và cuộc sống ngày một đượcnâng cao với những quyền lợi công dân được rộng mở cũng cần nhìn nhận lạiviệc thực hiện nghĩa vụ công dân, trong đó có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc Thiếtnghĩ, cần có quy định hướng dẫn bảo đảm công bằng, trong đó kể cả những

Trang 18

người trong diện do điều kiện hoàn cảnh khác nhau không phải thực hiện nghĩa

vụ quân sự mà có điều kiện cuộc sống tốt phải đóng góp vật chất cho công cuộcbảo vệ Tổ quốc Việc tuyển quân đối với công dân đủ tiêu chuẩn tuyển sinh đạihọc, cao đẳng có thể vận dụng rút ngắn thời gian thực hiện nghĩa vụ sát hợp vớithời gian khóa học và bảo lưu nghĩa vụ còn lại nhằm tạo điều kiện cho công dânphấn đấu, không làm gián đoạn quá trình học tập của họ

b Giáo viên thông qua văn bản: “ Ca Huế trên sông Hương” – Hà Ánh Minh- học sinh tìm hiểu về ý nghĩa quần thể cố đô Huế, văn hóa phi vật thể

Ca Huế để giáo dục định hướng học sinh về ý thức bảo vệ di sản văn hóa

Ðại Hội đồng Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên Hợp Quốchọp tại Paris ngày 17-10 đến 21-11-1972, kỳ họp thứ 17 Thông qua bản Côngước này vào ngày 16-11-1972

- Di sản văn hoá bao gồm văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể, là sản phẩmtinh thần, vật chất có ý nghĩa lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ đờinày sang đời khác… Di sản văn hoá, di tích lịch sử – văn hoá và danh lam thắngcảnh là những cảnh đẹp của đất nước, là tài sản của dân tộc, nói lên truyền thốngcủa dân tộc, thể hiện công đức của các thế hệ cha ông trong công cuộc xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện kinh nghiệm của dân tộc trên các lĩnh vực:

+ Di tích lịch sử văn hoá là: Công trình xây dựng, địa điểm, các di vật cổ vật, bảo vật quốc gia, công trình địa điểm có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học + Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mĩ, khoa học.

- Trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ và giữ gìn các di sản văn hoá :

+ Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hoá.

+ Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hoá Chủ sở hữu di sản văn hoá có trách nhiệm giữ gìn và phát huy giá trị của di sản văn hoá.

- Nghiêm cấm các hành vi :

+ Chiếm đoạt, làm sai lệch di sản văn hoá.

Trang 19

+ Huỷ hoại hoặc gây nguy cơ huỷ hoại di sản văn hoá.

+ Đào bới trái phép địa điểm khảo cổ, xây dựng trái phép, lấn chiếm đất đai, thuộc di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh.

+ Mua bán, trao đổi, vận chuyển trái phép di vật, cổ vật…

c Thông qua tìm hiểu về vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế : Sông Hương, núi Ngự, Nhà vườn giáo dục học sinh tình yêu thiên nhiên cùng ý thức, trách nhiệm của bản thân và xã hội trong vấn đề bảo vệ thiên nhiên, môi trường sống:

- Thiên nhiên bao gồm: Không khí, bầu trời, sông suối, rừng cây, đồi núi, động

thực vật, khoáng sản

- Yêu thiên nhiên sống hoà hợp với thiên nhiên là sự gắn bó, rung động trước

cảnh đẹp của thiên nhiên; Yêu quý, giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên

- Vai trò của thiên nhiên:

+ Thiên nhiên giúp tâm hồn sảng khoái, làm bầu không khí trong lành, bảo vệcuộc sống con người, gắn bó và rất cần thiết đối với đời sống con người Là tàisản chung vô giá của dân tộc và nhân loại

+ Thiên nhiên bị tàn phá sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và tồn tại củacon người

- Trách nhiệm của học sinh: Phải bảo vệ thiên nhiên; Sống gần gũi, hoà hợp với

thiên nhiên; Kịp thời phản ánh, phê phán những việc làm sai trái phá hoại thiênnhiên

2.2.5 Tích hợp môn Mỹ thuật

a Kiến trúc ở Huế phong phú và đa dạng

+ Kiến trúc ở Huế phong phú và đa dạng: có kiến trúc cung đình và kiến trúc

dân gian, kiến trúc tôn giáo và kiến trúc đền miếu, kiến trúc truyền thống và kiếntrúc hiện đại Những công trình kiến trúc công phu, đồ sộ nhất chính là Quầnthể di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế Đó là những di tích lịch sử - vănhóa do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ

19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vithành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, Việt NamKinh thành Huế đựơc xây dựng trên một mặt bằng gần như như hình vuông với

Trang 20

mặt trước hơi khum hình cánh cung, tuân thủ chặt chẽ theo nguyên tắc kiến trúccủa dân tộc Việt Nam xuất phát từ Dịch Lý và thuật Phong Thủy dựa vào cácthực thể thiên nhiên để tạo các yếu tố hài hòa về Phong Thủy như núi Ngự làTiền Án, sông Hương là Minh Đường, cồn Hến và cồn Dã Viên lần lượt là tảThanh Long và hữu Bạch Hổ và quay mặt về hướng nam theo một quy định củasách Chu Dịch: "Vua quay mặt về phía nam để cai trị, hướng về lẽ sáng để làmviệc nước" Vòng tường thành với chu vi 10571 m được xây bó bằng gạch đượcxây dựng kiến trúc Vauban hay "thành lũy hình ngôi sao"với 24 pháo đài và 10cửa chính cùng 1 cửa phụ cùng; với một hệ thống hào nước phức tạp Chức năngchính của Kinh thành để phòng vệ, phục vụ sinh hoạt của triều đình và nhà vua.Trong quần thể di tích Cố đô Huế còn có một loạt công trình khác phục vụ chonhiều mục đích khác nhau như: phục vụ giáo dục (Văn Miếu, Võ Miếu, Quốc

Tử Giám, Trường Thi ); ngoại giao (Thượng Bạc Viện); quân sự (Trấn HảiThành) và giải trí (Hổ Quyền), triều Nguyễn với rất nhiều chùa quán, đền miếu

được xây dựng trùng tu như: bốn ngôi quốc tự Thiên Mụ, Giác Hoàng, Diệu Đế,

Thánh Duyên và quốc quán Linh Hựu Lăng tẩm Huế gồm những nơi dùng để

an táng các vị vua, chúa của những triều đại đã chọn Huế làm trung tâm quyềnlực Các lăng đều được xây dựng theo kiểu kiến trúc đơn giản bằng đá Bazan,gạch vồ gồm hai vòng trong ngoài Trước mộ có hương án, đằng sau mộ có bìnhphong, trang trí rồng phượng, ghép nổi mảnh vôi vữa hoặc sành sứ

+ Với những kiểu thức trang trí bắt nguồn từ những mẫu mực của Trung Hoa,các nghệ nhân Việt Nam đã tạo nên một bản sắc nghệ thuật trang trí với nhữngnét độc đáo mang cá tính Huế Nghệ thuật trang trí mỹ thuật Huế còn tiếp thunhững tinh hoa của nghệ thuật Chăm, đặc biệt là tiếp thu nghệ thuật trang trí TâyPhương Trang trí cung đình Huế còn tiếp nhận và nâng cao nghệ thuật dân gianViệt Nam Nhiều loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam nhưchạm khắc gỗ, cẩn xà cừ, cẩn tam khí ngũ khí, sơn son thếp vàng, chạm khắcxương và ngọc ngà, khảm sành sứ, làm vàng bạc, dệt, thêu, đan đã được triềuNguyễn nâng lên thành những nghệ thuật tinh xảo, sang trọng Về hội họa nhiềuhọa sĩ nổi tiếng về tranh thủy mặc sơn thủy, trúc lan, tranh gương, các ấn phẩm

Trang 21

nhất thi nhất họa đặc sắc Đặc biệt, từ Huế xuất hiện người họa sĩ vẽ tranh sơndầu đầu tiên ở Việt Nam là họa sĩ Lê Văn Miên(1870-1912) Về điêu khắc, cố

đô Huế đã đánh dấu một thời kỳ phát triển mới, thể hiện bằng các tác phẩm điêukhắc trên đá, trên đồng, trên gỗ Trong điêu khắc gỗ, phần khắc chạm gỗ trangtrí với những bức chạm nổi, chạm lộng trên các chi tiết công trình kiến trúc đạtđến sự tinh xảo và có tính thẩm mỹ cao Về mỹ thuật ứng dụng, ngoài việc nângcao các loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam, Huế còn mộtthời sản xuất đồ mỹ nghệ pháp lam cao cấp

b Hình ảnh và ý nghĩa biểu tượng của thuyền Rồng

Con rồng đã từng là một tô tem trong tín ngưỡng sơ khai của người ViệtNam Dân Việt cổ có tục xăm mình, phổ biến trong số ấy là họa tiết rồng (giao

long) Theo ghi chép Hoài Nam Tử và Sơn Hải Kinh, rồng được người Việt xưa

xăm lên đùi để khi xuống nước “tránh bị giao long làm hại” Đến đời vua TrầnAnh Tông (1293-1314) mới chấm dứt tục xăm mình Rồng là hình tượng củamưa thuận gió hòa, là linh vật đứng vào hàng bậc nhất trong tứ linh “long, lân,quy, phụng” Hình tượng rồng thời đại Hùng Vương là một linh vật thân dài cóvẩy như cá sấu được chạm trên các đồ đồng, đặc biệt là trên trống đồng

Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi vương quyền Rồng được thểhiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc rồng hàm thọ, lưỡng longtriều nhật, lưỡng long chầu hoa cúc, lưỡng long chầu chữ thọ v.v Thân rồngkhông dài ngoằn, uốn lượn với độ cong lớn Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu

có nhánh phụ cùng chĩa ngược ra sau Mắt rồng lộ to, mũi giống mũi lân hoặc sư

tử, miệng há to để lộ hàm răng răng nanh chắc khỏe Vây trên lưng rồng có tia,thân cuộn hoa văn lửa hoặc mây, phân bố dài ngắn đều đặn Râu rồng uốn sóng

từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên Hình tượng rồng dùng cho vua chân cónăm móng mạnh mẽ, còn quan và tầng lớp quý tộc chỉ được pháp dùng rồng bốnhoặc ba móng, đuôi không có bờm lông, các chi tiết hoa văn lờ mờ hơn rồngcung đình Rồng trên mái đình chùa miếu mạo thường cũng chỉ có bốn móng

Kể từ khi triều Nguyễn kết thúc, tính phân tầng xã hội trong quy cách sửdụng mô típ rồng không còn nữa, chính vì vậy người ta có thể chạm khắc rồng

Trang 22

với muôn hình vạn trạng, từ vân long, đoàn long, quỳ long, ứng long, li long,giao long, rồng 5 ngón, 5 ngón, 3 ngón v.v Hình tượng con rồng cũng khôngcòn tính chất thiêng liêng, tối thượng như xưa, thay vào đó dân gian vẫn đưa vàotrang trí cho các công trình kiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật với những

ý nghĩa dân gian, bình dị Từ xưa các vua Nguyễn đóng đô ở Huế có thuyềnrồng đi ngắm cảnh, thưởng ngoạn thiên nhiên trên sông Đến hết thời phongkiến, do nhu cầu khách tham quan cố đô muốn đi chơi trên sông nên ngành dulịch Huế đã biến những chiếc thuyền ngư dân thành thuyền rồng Đầu thuyềnđược gắn các miếng gang có hình rồng với mắt, mũi, miệng và bờm, phía sau làđuôi Thân thuyền được sơn phết như hình con rồng với vảy rồng Chỉ khác mộtđiều lúc xưa, thuyền rồng vua do lính chèo, thời nay, do chạy bằng máy

c Lễ hội xứ Huế

- Có hai loại lễ hội: lễ hội cung đình và lễ hội dân gian Lễ hội cung đình phản

ánh sinh hoạt lễ nghi của triều Nguyễn, phần lớn chỉ chú trọng về "lễ" hơn "hội"

Lễ hội dân gian gồm nhiều loại rất phong phú, tiêu biểu như: lễ hội Huệ Nam ởđiện Hòn Chén hay còn gọi là lễ rước sắc nữ thần Thiên y A na theo tín ngưỡngcủa người Chăm pa, lễ hội tưởng niệm các vị khai sinh các ngành nghề truyềnthống, lễ hội tưởng nhớ các vị khai canh thành lập làng

+ Tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000 , đến nay Festival Huế: là điều kiện quantrọng để xây dựng Huế thành thành phố Festival của Việt Nam Là một trongnhững lễ hội lớn, Festival Huế với nhiều chương trình lễ hội cộng đồng được táidựng với một không gian rộng lớn cả trong và ngoài thành phố, góp phần làmsống lại các giá trị văn hóa của Huế Nhiều chương trình như: Đêm Hoàng cung,

lễ tế Nam Giao, lễ Truyền lô và Vinh qui bái tổ, lễ hội áo dài, lễ hội biển, thả

lần (2000, 2002, 2004, 2006, 2008, 2010, 2012, 2014)

2.2.6 Tích hợp môn Tin học

- Học sinh vận dụng kiến thức tin học để thu thập tài liệu từ các nguồn khácnhau sách báo, video, phóng sự từ mạng Vận dụng kiến thức tạo lập trình

Trang 23

chiếu Power point để thiết kế trình chiếu các tư liệu, hình ảnh thu thậpcho cácphần thuyết trình nội dung bài học.

- Nhóm 1: Hình ảnh tiêu biểu về vẻ đẹp xứ Huế

Vịnh Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế)

Trang 24

Cầu Trường Tiền hay còn gọi là Tràng Tiền bắc qua sông Hương

- Nhóm 2: Hình ảnh tiêu biểu về quần thể cố đô Huế

Hoàng thành Huế

Điện Thái Hòa cố đô Huế

Trang 25

Chùa Thiên Mụ nhìn từ sông Hương

- Nhóm 3: Biểu diễn ca Huế trên thuyền Rồng

Biểu diễn ca Huế trên thuyền Rồng giữa dòng sông Hương

Thuyền Rồng trong đêm biểu diễn ca Huế trên sông Hương thơ mộng

Trang 26

- Nhóm 4: Lễ khai mạc Festival Huế 2014

- Nhóm 5: Nhạc cụ dân tộc

Trang 27

3.ĐỐI TƯỢNG DẠY HỌC CỦA BÀI HỌC

- Bài soạn phù hợp đối tượng là học sinh khối 7 (139 học sinh phân làm 4 lớp7A,7B,7C,7D ), của trường THCS Đông Yên – Quốc Oai – Hà Nội

- Yêu cầu: Khi giáo viên hướng dẫn học sinh tìm tư liệu liên quan bài học theo

3 nhóm, gợi ý cách phân công và đánh giá hoạt động của thành viên trong nhómqua phiếu đánh giá thì học sinh phải nghiêm túc chuẩn bị tư liệu, đọc và soạn bàitrước ở nhà; học sinh nghiêm túc thực hiện các hoạt động theo sự điều khiển củagiáo viên trên lớp, biết tương tác hợp tác hỗ trợ nhau trong học tập :

Mẫu phiếu 1: KẾ HOẠCH THỰC HIỆN DỰ ÁN

TÌM HIỂU VĂN BẢN : “ CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG ” ( Hà Ánh Minh )

Tên thành viên Nhiệm vụ Phương tiện Thời gian hoàn thành Dự kiến sản phẩm

4 Ý NGHĨA CỦA BÀI HỌC

4.1 Trong thực tiễn dạy học

- Theo TS Hoàng Thị Tuyết – Trường ĐH TP HCM: “Theo cách tiếp cận tíchhợp liên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các nội dunghọc tập chung: các chủ đề, các khái niệm, các khái niệm và kĩ năng liênngành/môn Họ kết nối các nội dung học tập chung nằm trong các môn học đểnhấn mạnh các khái niệm và kỹ năng liên môn.”

- Theo D' Hainaut (1977) thì quan điểm "liên môn" được hiểu: “Nội dung họctập được thiết kế thành một chuỗi vấn đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyếtphải huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của những môn học khác

nhau”(Dạy học tích hợp - GS.TS.Trần Bá Hoành) Như chúng ta đã biết, mỗi

môn học có vai trò riêng : môn học Giáo dục công dân được xem là môn họcđảm nhiệm phần giáo dục đạo đức cho học sinh Còn việc cung cấp tri thức khoahọc là phần đảm nhiệm của các môn học khác như Toán, Lí, Hóa, Sinh… Việcphát triển kĩ năng riêng biệt (Năng khiếu) của các em thì được chú ý ở các bộmôn Âm nhạc, Mỹ thuật… Và sẽ là một điều thú vị nếu các em học sinh đượckhám phá những tri thức khoa học ngay trong giờ học văn Những giá trị văn

Trang 28

học được lồng ghép, đan xen, tích hợp một cách logic, bài bản, sinh động, hiệuquả sẽ có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục học sinh Những giờ học vănkhông đơn thuần là cung cấp kiến thức về những đặc điểm văn học, giá trị nộidung và nghệ thuật của văn bản; kĩ năng hành văn hay chuẩn mực đạo đức… màcòn có không gian và thời gian để các em lĩnh hội những điều kì thú của tri thứckhoa học – điều mà học sinh tưởng rằng chỉ có trong các môn khoa học khác

Cụ thể qua văn bản “ Ca Huế trên sông Hương ” – Hà Ánh Minh – có ý nghĩaquan trọng trong cung cấp cho học sinh hiểu biết sâu rộng về : Nguồn gốc hìnhthành ca Huế là sự kết hợp dòng dòng ca nhạc dân gian sôi nổi, tươi vui và canhạc cung đình trang trọng, uy nghi ; Các làn điệu dân ca Huế rất phong phú, đadạng từ ca , hò, chèo tới điệu lí đều thể hiện sâu sắc các cung bậc tình cảm củacon người và cuộc sống lao động sản xuất; Các nhạc cụ biểu diễn ca Huế phong

phú : đàn tranh, đàn nguyệt, tì bà, nhị, đàn tam, đàn bầu, sáo, cặp sanh Nghe

ca Huế là một thú tao nhã bởi vì cách thức nghe ca trên thuyền rồng, trên dòngsông Hương thơ mộng giữa trời nước mênh mang đã là một cách thưởng thứcđộc đáo Mặt khác, nội dung ca Huế trang trọng, trong sáng, gợi tình người, tìnhđất nước Thông qua văn bản học sinh thêm hiểu lịch sử thời Nguyễn, kiến trúclăng tẩm, vị trí địa lí xứ Huế thơ mộng với cảnh quna thiên nhiên đẹp thêmyêu xứ Huế, cũng là bồi dưỡng học sinh thêm yêu và tự hào về vẻ đẹp thiênnhiên, con người và văn hóa dân ca của đất nước mình, một thú vui thanh cao

và lịch sự

4.2 Trong thực tiễn cuộc sống xã hội

- Đối với người dạy: để thực hiện tốt việc giảng dạy kiến thức liên môn đòi hỏimỗi giáo viên phải nỗ lực và quan tâm nhiều hơn nữa đối với các kiến thức củacác bộ môn khác, từ đó dần hoàn thiện bản thân mình, tạo sự tin cậy cho ngườihọc, từ đó sẽ góp phần vào thành công của quá trình giáo dục, bởi “Mỗi thầy côgiáo là một tấm gương tự học và sáng tạo” cho học sinh noi theo

- Đối tượng người học: Và một điều quan trọng hơn hết, các em học sinh sẽ biếtvận dụng những kiến thức liên môn ấy để giải quyết những tình huống thực tiễn

Trang 29

Từ đó rèn luyện cho mình những kĩ năng cần thiết để hòa nhập vào cuộc sống.Tạo cho các em sự bản lĩnh, tự tin để mạnh mẽ đón nhận thử thách trong đời

- Đối với xã hội: Việc dạy học tích hợp các môn học sẽ giúp cho học sinh dễ vậndụng kiến thức vào thực tiễn vì những vấn đề nảy sinh trong đời sống, sản xuất

ít khi chỉ liên quan với một lĩnh vực tri thức nào đó mà thường đòi hỏi vận dụngtổng hợp các tri thức thuộc một số môn học khác nhau Người học sẽ tiếp cận,đón nhận và giải quyết các vấn đề nảy sinh ấy với hiệu quả tốt nhất

5 THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU

- Các thiết bị: máy tính, máy chiếu, màn hình lớn, wedcame Thiết kế các bài dạy có ứng dụng công nghệ thông tin Ứng dụng CNTT: các phần mềm

download video, đổi đuôi video, cắt, ghép video, chỉnh sửa hình ảnh, phần mềm giảng dạy: Phần mềm hỗ trợ download: Internet Download Manager Phần mềm đổi đuôi, cắt ghép, xử lí phim ảnh: ZC Video Converter Phần mềm Violet Phần mềm vẽ bản đồ tư duy: ImindMap 5 Phần mềm xử lí hình ảnh: SnagIt 9 Editor

Phần mềm làm phim: ProShow Producer Phần mềm ActivInspire

- Dạy học tích hợp – GS.TS Trần Bá

- Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn THCS – Bộ Giáodục và đào tạo

- Bài giảng trên thư viện giáo án Bạch Kim, bài giảng của đồng nghiệp…

- Các trang web: Google.com, tư liệu trên mạng Internet…

- Tranh ảnh, video, tư liệu minh họa cho nội dung bài học 1 Giáo viên

- Giấy A0 hoặc A4, bút dạ để học sinh: lập sơ đồ tư duy, kết quả của quá trìnhthảo luận, vẽ tranh theo nội dung văn bản đã học

- Chuẩn bị sách giáo khoa, đồ dung học tập, vở viết, vở soạn Sưu tầm tư liệutheo định hướng: Cuộc đời và sự nghiệp của tác giả; hoàn cảnh ra đời của vănbản; Thể loại; Vị trí địa lí, vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên xứ Huế, vẻ đẹp cáccông trình kiến trúc của Huế; Vẻ đẹp văn hóa, con người xứ Huế; hiểu biết về caHuế, nhạc cụ qua sách, báo, tranh ảnh, phim, mạng Internet Phân nhóm đểthống nhất lựa chọn và sắp xếp tư liệu để trình bày trước lớp; Cử đại diện trìnhbày các mảng, khía cạnh của tư liệu sưu tầm được

Trang 30

- Chuẩn bị đoạn văn khoảng 15 câu nêu cảm nghĩ của em về ca Huế và vẻ đẹpcủa Huế

6 HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề và tích hợp các nộidung giáo dục trong bài học Việc vận dụng kiến thức liên môn, dạy học theochủ đề tích hợp không cần thay đổi nhiều về phương pháp, mà chúng ta chỉ cầnvận dụng một cách linh hoạt, khéo léo, hợp lí những phương pháp đặc thù của

bộ môn để dẫn dắt và làm sang Vận dụng kiến thức liên môn trong học tập có ýnghĩa quan trọng giúp học sinh tìm hiểu và khắc sâu thêm kiến thức bài học mới,đồng thời cũng giúp học sinh củng cố kiến thức các môn đã học để nắm chắcbài hơn, rèn năng lực năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo, hợp tác, tự quản bảnthân, giao tiếp tiếng Việt, thưởng thức – cảm thụ thẩm mỹ nét văn hóa nghệthuật phi vật thể tốt hơn Cụ thể trong văn bản “ Ca Huế trên sông Hương ” khivận dụng kiến thức liên môn sẽ mang lại ý nghĩa tích cực:

TIẾT 114- 115 : VĂN BẢN “ CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG ”

( Hà Ánh Minh) 6.1 Mục tiêu bài học

6.1.1 Kiến thức

Giúp học sinh nắm được:

* Đôi nét về cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn Hà Ánh Minh

* Vận dụng kiến thức văn học giúp học sinh hiểu về nghệ thuật:

+ Học sinh phân biệt được Ca Huế trên sông Hương thuộc thể loại bút kí với tùy bút trong bài Một thứ quà của lúa non đã học ( Xét về tính chất, bút kí gần với

tuỳ bút Cả hai loại đều là thể kí, tức là những ghi chép về người thật, việc thậtnhưng mang sắc thái trữ tình Tuy nhiên, so với tuỳ bút thì bút kí thể hiện ýnghĩa khách quan rõ nét hơn Trong bút kí, các nhân vật, sự kiện được miêu tảkhá chi tiết Tình cảm, thái độ của tác giả được thể hiện qua cách lựa chọn, miêu

tả đối tượng)

+ Thể loại văn bản nhật dụng với kiểu loại thuyết minh : học sinh tìm hiểu bướcđầu về các phương pháp thuyết minh đặc trưng: Phương pháp nêu định nghĩa,

Trang 31

giải thích; phương pháp liệt kê; phương pháp phân loại, phân tích ( học sinh sẽhọc ở lớp 8 ) kết hợp trong phương thức nghị luận.

* Về nội dung:

- Kết hợp kiến thức môn : địa lý, lịch sử, âm nhạc, mỹ thuật, phim, tranh ảnh…giúp học sinh hiểu về vẻ đẹp đặc trưng của thiên nhiên, lịch sử và con người xứHuế : Cố đô Huế là thành phố đẹp và cổ kính bên bờ sông Hương Tích hợp với

câu ca dao về xứ Huế : “Đường vô xứ Huế quanh quanh - Non xanh nước biếc

như tranh hoạ đồ -Ai vô xứ Huế thì vô” để cảm nhận xứ Huế nổi tiếng với vẻ

đẹp mộng mơ của sông Hương, núi Ngự Bình, kiến thức cố đô Huế và lịch sử

xứ Huế anh hùng, con người xứ Huế thanh lịch, dịu dàng và hiếu khách …

- Kết hợp với kiến thức môn âm nhạc, lịch sử , phim, tranh ảnh … giúp học sinhnắm rõ đặc trưng của ca Huế:

+ Lịch sử nguồn gốc ca Huế được hình thành từ dòng ca nhạc dân gian sôi nổi,tươi vui (có cả buồn cảm, bâng khuâng, tiếc thương ai oán) và ca nhạc cung đìnhtrang trọng, uy nghi Các làn điệu dân ca Huế rất phong phú, đa dạng: Về các

điệu hò thì có: chèo cạn, bài thai, đưa linh, giã gạo, ru em, giã vôi, giã điệp, bài

chòi, bài tiệm, nàng vung, hò lơ, hò ô, xay lúa, hò nện,… Các điệu hát có: lí con sáo, lí hoài xuân, lí hoài nam, nam ai, nam bình, quả phụ, nam xuân, tương tư khúc, hành vân, tứ đại cảnh thể hiện các cung bậc tình cảm của con người và

cuộc sống lao động sản xuất

+ Các nhạc cụ biểu diễn ca Huế phong phú : đàn tranh, đàn nguyệt, tì bà, nhị,

đàn tam, đàn bầu, sáo, cặp sanh

+ Cách thức và yêu cầu biểu diễn ca Huế : Nghe ca Huế là một thú tao nhã bởi

vì cách thức nghe ca trên thuyền rồng, trên dòng sông Hương thơ mộng giữa trờinước mênh mang đã là một cách thưởng thức độc đáo Mặt khác, nội dung caHuế trang trọng, trong sáng, gợi tình người, tình đất nước Những lời ca đẹp đólại được những ca sĩ duyên dáng, lịch sự của xứ Huế trình diễn với dàn nhạc phụhoạ gồm những nhạc công điêu luyện, tài hoa

Trang 32

+ Vai trò của ca Huế: Nghe ca Huế để thêm hiểu, thêm yêu xứ Huế, cũng là bồidưỡng học sinh thêm yêu vẻ đẹp thiên nhiên, con người và văn hóa dân ca củađất nước mình một thú vui thanh cao và lịch sự.

6.1.2 Rèn luyện kĩ năng

- Kĩ năng tóm tắt: Huế nổi tiếng với các điệu hò, các làn điệu dân ca Ca Huế

trên sông Hương là một sinh hoạt văn hoá tao nhã, đầy sức quyến rũ, được các

ca sĩ, nhạc công tài hoa biểu diễn trên thuyền rồng

- Kĩ năng đọc diễn cảm: Với loại văn bản này, khi đọc cần thể hiện giọng điệunhẹ nhàng, truyền cảm Cần chú ý: trong bài, thủ nghệ thuật pháp liệt kê thườngxuyên được tác giả sử dụng nhằm làm rõ vẻ đẹp phong phú, đa dạng của ca Huế,cần đọc rõ ràng, rành mạch từng yếu tố để tăng ý nghĩa biểu cảm

- Rèn kĩ năng phân tích tác phẩm văn bản nhật dụng ( thể loại thuyết minh ) quathể kí có kết hợp với nghị luận và miêu tả

- Tích hợp kiến thức tập làm văn bước đầu để tập tạo lập văn bản văn thuyếtminh và rèn kĩ năng viết văn bản nghị luận kết hợp yếu tố miêu tả

- Rèn kĩ năng sưu tầm, tập hợp tư liệu, nhập vai, thuyết trình, thảo luận nhóm;

kĩ năng tích hợp liên môn: văn học – văn học; văn học – lịch sử; văn học – địalý; văn học – GDCD; văn học – âm nhạc; văn học – văn hóa …để rèn cho họcsinh năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo, hợp tác, tự quản bản thân, giao tiếptiếng Việt, thưởng thức – cảm thụ thẩm mỹ nét văn hóa nghệ thuật phi vật thể

6.1.3 Thái độ

- Giáo dục học sinh ý thức “ Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dântộc” (GDCD bài 7, lớp 9); Học sinh sẽ qua đó tham gia “ Góp phần xây dựngnếp sống văn hóa ở cộng đồng dân cư ”(GDCD bài 9, lớp 8 ) và bồi dưỡng họcsinh có ý thức “ Bảo vệ di sản văn hóa ”( GDCD , bài 15, lớp 7),…

- Giáo dục học sinh tình cảm và trách nhiệm “ Yêu thiên nhiên, sống hòa hợpvới thiên nhiên ” ( GDCD, bài 7, lớp 6); yêu vẻ đẹp quê hương đất nước và ýthức bảo vệ môi trường qua các hoạt động thiết thực do các cơ quan đoàn thểphát động : thi vẽ tranh, thi sáng tác viết về vẻ đẹp thiên nhiên của quê hương,tham gia trồng cây, thu gom rác thải…

Trang 33

- Giáo dục học sinh ý thức tự hào và bảo vệ quê hương, đất nước ( GDCD, bài

17, lớp 9); Thông qua môn âm nhạc học sinh thêm yêu thích làn điệu dân ca củacác miền quê Việt Nam nói chung và Quốc Oai nói riêng

- Giáo dục học sinh thêm yêu thích bộ môn Văn và hiểu được : Dạy học liên

môn trong môn Văn học là giúp người học nhận thức được tác phẩm văn học trong môi trường văn hóa - lịch sử sản sinh ra nó hay trong môi trường diễn xướng của nó; thấy được mối quan hệ mật thiết giữa văn học và lịch sử phát sinh; văn học với các hình thái ý thức xã hội khác đồng thời khắc phục được tính tản mạn trong kiến thức văn hóa của học sinh.

6.2 Cách tổ chức dạy học

* Hình thức tổ chức: là hình thức vận động của nội dung dạy học cụ thể trong

không gian, địa điểm và những điều kiện dạy học xác định nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu dạy học

Căn cứ vào đối tượng học sinh là lớp 7 và điều kiện của trường THCS ĐôngYên – Quốc Oai – Hà Nội tôi lựa chọn các hình thức dạy học sau:

a Hình thức dạy học theo nhóm :

- Khái niệm: Dạy học theo nhóm là một phương pháp dạy học trong đó giáo

viên tổ chức cho học sinh hình thành các nhóm học tập nhỏ Mỗi thành viêntrong nhóm học tập này vừa có trách nhiệm tự học tập, vừa có trách nhiệm giúp

đỡ các thành viên trong nhóm để cùng hoàn thành mục đích học tập chung

- Đặc điểm : giáo viên cần nắm được ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy

học theo nhóm để sát sao, khắc phục trong quá trình tổ chức hình thức này đểđạt được mục tiêu bài học với hiệu quả cao nhất :

- Ưu điểm :

+ Học tập theo nhóm tạo môi trường thuận lợi giúp cho học sinh có cơ hội phát

biểu, trao đổi và học tập lẫn nhau, cùng nhau tìm hiểu, phát hiện kiến thức mới Những học sinh yếu kém nay có cơ hội được học tập ở những bạn giỏi hơn và những học sinh khá, giỏi không chỉ hoàn thành nhiệm vụ của mình mà còn phải giúp đỡ các bạn yếu hơn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Hình thành cho các em tinh thần tự chủ, đoàn kết, hợp tác giúp đỡ nhau trong học tập.

Trang 34

+ Học tập theo nhóm giúp học sinh phát triển năng lực xã hội Giúp học sinh phát triển kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thảo luận, kỹ năng bảo vệ ý kiến, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn v v

+ Học tập theo nhóm giúp những học sinh nhút nhát, thiếu tự tin có cơ hội phát biểu, trình bày ý kiến của mình và từ đó trở nên tự tin, năng động, mạnh dạn hơn trước tập thể

+ Học tập theo nhóm giúp học sinh phát triển năng lực hoạt động Học sinh có

cơ hội phát huy kỹ năng sáng tạo, đánh giá, tổng hợp, phân tích, so sánh

+ Học sinh biết giải quyết các vấn để và tình huống, trong học tập một cách phù hợp, hiệu quả và sáng tạo và từ những vấn đề và tình huống đó học sinh sẽ rút ra được những kinh nghiệm, bài học quý giá cho bản thân.

- Hạn chế :

+ Có một số thành viên ỷ lại không làm việc (hiện tượng ăn theo) Một số học

sinh sẽ ỷ lại vào những người giỏi hơn sẽ giúp họ hoàn thành công việc được giao mà không tham gia hoạt động

+ Có thể đi lệch hướng thảo luận do tác động của một vài cá nhân ( hiện tượng chi phối, tách nhóm).

+ Có một số học sinh khá, giỏi quyết định quá trình, kết quả thảo luận nhóm nên chưa đề cao sự tương tác bình đẳng và tầm quan trọng của từng thành viên trong nhóm.

+ Nếu lấy kết quả thảo luận chung của nhóm làm kết quả học tập cho từng cá nhân thì chưa công bằng và chưa đánh giá đúng thực chất được sự nỗ lực của từng cá nhân trong nhóm.

+ Sự áp dụng cứng nhắc và quá thường xuyên, thiếu sáng tạo của giáo viên sẽ gây nhàm chán và giảm hiệu quả trong hoạt động học tập của các em

+ Điều hành không tốt dễ dẫn đến mất trật tự trong học tập, tốn thời gian không cần thiết

- Hình thức tổ chức: Để phù hợp nội dung dạy học văn bản “ Ca Huế trên sông

Hương ”, tôi lựa chọn các hình thức thảo luận áp dụng vào các hoạt động tiếntrình lên lớp như sau:

Trang 35

+ Làm việc theo cặp 2 học sinh : Đây là hình thức học sinh trao đổi với bạn

ngồi kế bên để giải quyết tình huống do giáo viên nêu ra Trong quá trình giải quyết các tình huống, học sinh sẽ thu nhận kiến thức một cách tích cực Nhóm này thường được sử dụng khi giao cho HS chấm bài, sửa bài cho nhau (qua phiếu học tập, qua các bài tập lựa chọn )

+ Làm việc theo nhóm nhiều học sinh : Giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm và

thảo luận các bài tập phần Đọc – hiểu văn bản, câu hỏi tình huống do giáo viên nêu ra Có 2 loại hình bài tập: Bài tập cho hoạt động trao đổi: Trong hoạt động trao đổi, mỗi nhóm giải quyết một vấn đề khác nhau (nhưng cùng 1 chủ đề ), sau đó trao đổi vấn đề và giải quyết vấn đề của nhóm mình đối với nhóm khác Hoạt động trao đổi thường được sử dụng cho những bài học có nhiều vấn

đề cần phải giải quyết trong một thời gian ngắn; Bài tập cho hoạt động so sánh, tất cả các nhóm cùng giải quyết một vấn đề, sau đó so sánh cách giải quyết khác nhau giữa các nhóm Hoạt động so sánh thường dùng cho những bài học có dung lượng không lớn

+ Hoạt động nhóm theo cấu trúc STAD: Giáo viên giao nhiệm vụ cho các

nhóm Các thành viên trong nhóm tự lực nghiên cứu trong một khoảng thời gian xác định Các thành viên trong nhóm cùng nhau thảo luận, giúp đỡ nhau hiểu thực sự kĩ lưỡng về bài học được giao Tiến hành kiểm tra lần 1, đánh giá Tiến hành học nhóm trao đổi nội dung chưa nắm chắc qua bài kiểm tra lần 1 Tiến hành bài kiểm tra lần 2 Đánh giá sự nổ lực của từng cá nhân và cả nhóm Đánh giá kết quả cá nhân, nhóm học, nhóm kiểm tra cá nhân lần 1 Trao đổi nhóm kiểm tra cá nhân lần 2 Chỉ số cố gắng Kết quả nhóm: Làm việc cá nhân Trao đổi nhóm Thành viên 1 : 7đ; Thành viên 2 : 4đ; Thành viên 3 : 9đ; Thành viên 4 : 6đ; Trao đổi về nội dung chưa rõ qua bài kiểm tra lần 1; Thành viên

1 : 7đ; Thành viên 2 : 7đ; Thành viên 3 : 8đ; Thành viên 4 : 8đ; 0 3 0 2 Tổng số

điểm cố gắng của từng cá nhân 5đ Đánh giá về cấu trúc STAD: Cơ chế chấm

điểm dựa vào sự cố gắng của STAD được đánh giá là một nội dung quan trọng trong sự phát triển các phương pháp tổ chức hoạt động nhóm trên thế giới vì: Loại bỏ phần lớn hiện tượng ăn theo, chi phối tách nhóm Đề cao sự đóng góp

Trang 36

của học sinh yếu kém và nâng sự đóng góp này thành một nhân tố quyết định hoạt động nhóm có hiệu quả Lấy sự cố gắng và nỗ lực làm tiêu chí đánh giá thay cho khả năng, học lực của cá nhân Học sinh kém có thể mang điểm về cho cả nhóm dựa vào sự nỗ lực của bản thân nên giúp học sinh tự tin và tăng cường tình đoàn kết giúp đỡ trong nhóm.

b Hình thức dạy học cá nhân: Là hình thức dưới sự tổ chức, điều khiển của

giáo viên, mỗi học sinh độc lập thực hiện những nhiệm vụ học tập của mình theonhịp độ riêng để đạt đến mục tiêu dạy học chung

6.3 Phương pháp dạy học:

Phương pháp dạy học là những cách thức làm việc giữa thầy giáo và

học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành được thế giới quan và năng lực Để học sinh nắm được nội dung văn bản

và tích hợp liên môn hiệu quả tôi lựa chọn các phương pháp dạy học kết hợptruyền thống và hiện đại trong đó chú trọng nhất là phương án dạy học dự án

a Phương pháp dạy học dự án:

- Khái niệm: Dạy học theo dự án (DHDA) là một hình thức dạy học, trong đó

người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này

được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từviệc xác định mục đích, lập kế họach, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều

chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Làm việc nhóm là hình thức cơ

bản của DHDA

- Đặc trưng cơ bản của dạy học dự án : Người học là trung tâm của quá trình

dạy học Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với cácchuẩn Dự án được định hướng theo bộ câu hỏi khung chương trình Dự án đòihỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên Dự án có tính liên hệ vớithực tế Người học thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm và quátrình thực hiện Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của người học

Kĩ năng tư duy là yếu tố không thể thiếu trong phương pháp dạy học dự án

Trang 37

- Bộ câu hỏi định hướng : giúp học sinh kết nối những khái niệm cơ bản trong

cùng một môn học hoặc giữa các môn học với nhau Các câu hỏi này tạo điềukiện để định hướng việc học tập của học sinh thông qua các vấn đề kích thích tưduy Các câu hỏi định hướng giúp gắn các mục tiêu của dự án với các mục tiêuhọc tập và chuẩn của chương trình Bộ câu hỏi định hướng bao gồm:

+ Câu hỏi khái quát Câu hỏi khái quát là những câu hỏi mở, có phạm vi rộng,

kích thích sự khám phá, nhắm đến những khái niệm lớn và lâu dài, đòi hỏi các

kỹ năng tư duy bậc cao và thường có tính chất liên môn

+ Câu hỏi bài học Câu hỏi bài học là những câu hỏi mở có liên hệ trực tiếp với

dự án hoặc bài học cụ thể, đòi hỏi các kỹ năng tư duy bậc cao, giúp học sinh tựxây dựng câu trả lời và hiểu biết của bản thân từ thông tin mà chính các em thuthập được

+ Câu hỏi nội dung Câu hỏi nội dung là những câu hỏi đóng có các câu trả lời

“đúng” được xác định rõ ràng, trực tiếp hỗ trợ việc dạy và học các kiến thức cụthể, thường có liên quan đến các định nghĩa hoặc yêu cầu nhớ lại thông tin (nhưcác câu hỏi kiểm tra thông thường)

b Phương pháp dạy học tóm tắt và ghi ý chính.

c Phương pháp dạy học bài tập về nhà và thực hành trên lớp.

d Phương pháp dạy học thể hiện phi ngôn ngữ

đ Phương pháp dạy học học phối hợp trong tổ nhóm

e Phương pháp dạy học tạo và kiểm định các giả thuyết

g Phương pháp dạy học gợi ý, câu hỏi và khung thông tin cho trước.

6.4 Kĩ thuật dạy học ( KTDH)

Kĩ thuật dạy học: Là những động tác, cách thức hành động của giáo viên

và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiểnquá trình dạy học Các KTDH chưa phải là các phương pháp dạy học độc lập.Bên cạnh các KTDH thường dùng, có thể kể đến một số KTDH phát huy tính

tích cực, sáng tạo của người học như: Kỹ thuật công não, kỹ thuật thông tin

phản hồi, kỹ thuật bể cá, kỹ thuật tia chớp…

Để bài dạy đạt mục tiêu dạy học hiệu quả tôi áp dụng các kĩ thuật dạy học sau:

Ngày đăng: 05/10/2015, 08:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Nhóm 1: Hình ảnh tiêu biểu về vẻ đẹp xứ Huế - TÍCH hợp KIẾN THỨC LIÊN môn TRONG dạy học môn NGỮ văn  văn bản “ CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG ”( hà ánh minh  ngữ văn 7)
h óm 1: Hình ảnh tiêu biểu về vẻ đẹp xứ Huế (Trang 23)
- Nhóm 2: Hình ảnh tiêu biểu về quần thể cố đô Huế - TÍCH hợp KIẾN THỨC LIÊN môn TRONG dạy học môn NGỮ văn  văn bản “ CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG ”( hà ánh minh  ngữ văn 7)
h óm 2: Hình ảnh tiêu biểu về quần thể cố đô Huế (Trang 24)
Bảng kiến thức phần Khởi động - TÍCH hợp KIẾN THỨC LIÊN môn TRONG dạy học môn NGỮ văn  văn bản “ CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG ”( hà ánh minh  ngữ văn 7)
Bảng ki ến thức phần Khởi động (Trang 41)
Sơ đồ tư duy (10 phút) - TÍCH hợp KIẾN THỨC LIÊN môn TRONG dạy học môn NGỮ văn  văn bản “ CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG ”( hà ánh minh  ngữ văn 7)
Sơ đồ t ư duy (10 phút) (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w