Từ những vấn đề bất cập trong hoạt động du lịch cũng như những định hướng đề ra một lối đi mới trong tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở Thành phố Châu Đốc.. Từ đó xác lập các nguyên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN LỊCH SỬ - ĐỊA LÝ – DU LỊCH
QUÁCH THỊ THÚY LIỂU
TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy cô, gia đình và bạn bè
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi đến quý Thầy cô ở Khoa Khoa học xã hội
và nhân văn- Trường Đại học Cần Thơ đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em suốt thời gian học tập tại trường Và đặc biệt, trong học kỳ cuối làm luận văn này, em xin chân thành cảm ơn cô Cao Mỹ Khanh đã tận tâm hướng dẫn em qua từng câu, từng mục lục, từng chương của đề tài luận văn Nếu như không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của cô thì em nghĩ bài luận văn này của em rất khó có thể hoàn thiện được Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn
cô Và đặc biệt hơn nữa em xin chân thành cảm ơn các ban ngành đoàn thể, cơ quan chức năng của Thành phố Châu Đốc rất nhiều, đã rất nhiệt tình trả lời những thắc mắc cũng như những thông tin, số liệu có liên quan đến đề tài mà em đang thực hiện
Bài thu hoạch thực hiện trong khoảng 4 tháng Bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về tiềm năng và định hướng một thành phố vừa mới thành lập, kiến thức của em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ trong việc làm luận văn Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn, em rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý Thầy cô và các bạn để kiến thức của em dần hoàn thiện hơn
Sau cùng em xin kính chúc Thầy cô trong Khoa Khoa học xã hội và nhân văn thật dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Lượng khách du lịch và doanh thu du lịch của tỉnh An Giang qua các năm 2008- 2012 43 Bảng 2.2 Lượng khách du lịch và doanh thu của TP.Châu Đốc qua các năm 2008- 2013 44 Bảng 2.3 Cơ sở đăng ký kinh doanh lĩnh vực thương mại- dịch vụ- du lịch qua các năm 2010- 2013 47 Bảng 2.4 Thống kê số lượng khách sạn TP.Châu Đốc 47 Bảng 3.1 Phân tích ma trận SWOT 60
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Trang Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh An Giang 21 Hình 2.2 Bản đồ hành chính Thành phố Châu Đốc 25
Trang 7MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Thực trạng vấn đề nghiên cứu 3
5 Quan điểm nghiên cứu 3
5.1 Quan điểm hệ thống 3
5.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
6.1 Phương pháp thu thập, xử lý thông tin và tổng hợp tài liệu 3
6.2 Phương pháp bản đồ 4
6.3 Phương pháp khảo sát thực tế 4
6.4 Phương pháp phỏng vấn 4
6.5 Phân tích ma trận SWOT 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Một số vấn đề về du lịch 6
1.1.1 Khái niệm du lịch 6
1.1.2 Khách du lịch 8
1.1.3 Khái niệm về Sản phẩm du lịch 9
1.1.4 Thị trường du lịch 10
1.1.5 Tài nguyên du lịch 10
1.1.5.1 Khái niệm tài nguyên du lịch 10
1.1.5.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên 11
1.1.5.3 Tài nguyên du lịch nhân văn 12
1.1.6 Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội 13
1.1.6.1 Ảnh hưởng ngành du lịch đến sự tăng trưởng, phát triển kinh tế 13
Trang 81.1.6.2 Vai trò ngành du lịch đối với văn hóa xã hội 13
1.1.6.3 Vai trò ngành du lịch đối với môi trường 14
1.2 Một số nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch 15
1.2.1 Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất 15
1.2.2 Nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực du lịch 16
1.2.3 Chính sách của nhà nước về phát triển du lịch 17
1.3 Thực tiễn phát triển du lịch Việt Nam 17
Chương 2 20
TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG 20
2.1 Tổng quan về tỉnh An Giang 20
2.1.1 Vị trí địa lý 20
2.1.2 Tiềm năng du lịch của tỉnh An Giang 21
2.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 21
2.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 22
2.1.3 Đánh giá về tình hình phát triển du lịch của tỉnh An Giang 22
2.2 Tiềm năng phát triển du lịch Thành phố Châu Đốc 24
2.2.1 Tổng quan về Thành phố Châu Đốc 24
2.2.1.1 Vị trí địa lý 24
2.2.1.2 Lịch sử hình thành Thành phố Châu Đốc 25
2.2.2 Tiềm năng du lịch Thành phố Châu Đốc 27
2.2.2.1 Tài nguyên tự nhiên 27
2.2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 29
2.2.3 Điều kiện ảnh hưởng phát triển du lịch Thành phố Châu Đốc 40
2.2.3.1 Khả năng tiếp cận 40
2.2.3.2 Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật 41
2.2.3.3 Quảng bá xúc tiến 41
2.2.3.4 Chính sách địa phương 42
2.3 Thực trạng phát triển du lịch Thành phố Châu Đốc 43
Trang 92.3.1 Hoạt động khách du lịch 43
2.3.2 Sản phẩm du lịch 45
2.3.3 Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật 45
2.3.3.1 Cơ sở hạ tầng 45
2.3.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật 46
2.3.4 Nguồn nhân lực phục vụ trong hoạt động du lịch 47
2.3.5 Những chính sách trong hoạt động du lịch của thành phố 48
2.3.6 Đầu tư vào ngành du lịch 48
2.3.7 Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch của thành phố 49
Chương 3 50
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH 50
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC 50
3.1 Xu hướng phát triển du lịch, quan điểm và mục tiêu chủ yếu 50
3.1.1 Xu hướng phát triển du lịch ở tỉnh An Giang và Thành phố Châu Đốc 50
3.1.1.1 Xu hướng phát triển du lịch của tỉnh An Giang 50
3.1.1.2 Xu hướng phát triển du lịch ở Thành phố Châu Đốc 50
3.1.2 Quan điểm phát triển du lịch của Thành phố Châu Đốc 51
3.1.3 Mục tiêu 52
3.2 Định hướng phát triển du lịch của Thành phố Châu Đốc 53
3.2.1 Định hướng sản phẩm du lịch 53
3.2.2 Định hướng phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng 54
3.2.3 Định hướng thị trường du khách 54
3.2.4 Định hướng nguồn nhân lực 55
3.2.5 Định hướng quy hoạch Thành phố Châu Đốc 56
3.2.6 Định hướng về quảng bá xúc tiến du lịch 59
3.3 Một số giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch 60
3.3.1 Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch từ phân tích SWOT 60
3.3.2 Giải pháp về đa dạng hóa sản phẩm du lịch 61
3.3.3 Giải pháp về đầu tư 62
Trang 103.3.4 Giải pháp về nguồn nhân lực 62
3.3.5 Giải pháp về tuyên truyền quảng bá du lịch 63
3.3.6 Giải pháp khắc phục tính thời vụ trong du lịch 63
3.3.7 Một số giải pháp khác 64
KẾT LUẬN 67
1 Kết quả đạt được 67
2 Ý kiến đề xuất 68
3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 72
PHỤ LỤC BẢNG 80
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, cùng với xu hướng quốc tế và toàn cầu hóa, du lịch nói chung và du lịch quốc tế nói riêng đã và đang trở thành một ngành dịch vụ quan trọng, chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong GDP của mỗi quốc gia Ước tính hàng năm có trên 3 tỷ lượt người đi du lịch, trong đó có gần 1 tỷ người đi du lịch quốc tế Hiện nay ngành du lịch
đã trở thành một trong năm ngành kinh tế lớn nhất trên thế giới và là một ngành kinh
tế trọng yếu ở nhiều quốc gia Đây là hoạt động kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận
có triển vọng phát triển trong xã hội hiện đại Du lịch với đặc điểm là ngành công nghiệp không khói- ngành du lịch đã và đang tích cực nâng cao vai trò trách nhiệm của mình Khi nền kinh tế ngày một đi lên thì nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của con người đòi hỏi phải nâng cao và ngành du lịch ra đời đã đáp ứng một phần tất yếu
đó Cuộc sống hiện đại trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa khiến con người dễ
bị căng thẳng, mệt mỏi lúc này du lịch giúp họ thư giãn hơn, làm việc hiệu quả hơn Cùng với những lợi thế về tự nhiên, về nhân văn- văn hóa, xã hội, Việt Nam là một nước được biết đến với các danh lam thắng cảnh nổi tiếng được thế giới công nhận là
di sản văn hóa thế giới như Vịnh Hạ Long, Cố Đô Huế, Cùng với điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng, nằm trên bán đảo Đông Dương ở Đông Nam Á, về đường thủy Việt Nam thuận tiện về địa lý là điểm gặp giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Việt Nam đã và đang là điểm đến lý tưởng của bạn bè du khách quốc tế Để làm được điều đó thì Việt Nam dần dần đẩy mạnh đầu tư và nâng cấp hạ tầng cơ sở du lịch ngày càng tốt hơn, hoàn thiện hơn, để đáp ứng nhu cầu và sở thích của du khách Nghị quyết 45/CP ngày 22.6.1993 của Chính phủ đã khẳng định: “Du lịch là một ngành kinh tế
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước mình”
Tỉnh An Giang thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có cơ sở hạ tầng phát triển, miền đất được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến với nhiều phong cảnh, chùa chiền đậm đà dấu ấn văn hóa và lịch sử cách mạng như: Núi Sam- Miếu Bà Chúa
Xứ, Núi Cấm và hệ thống hang động, Thủy Đài Sơn, Anh Vũ Sơn, Sơn viên Cô Tô, Đồi Tức Dụp, Dốc Bà Đắt anh hùng chống Mỹ và nhiều di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật khác An Giang là tỉnh có nhiều tài nguyên du lịch nhưng du lịch của tỉnh chưa được khai thác một cách tương xứng với tiềm năng sẵn có của nó An Giang có 11 đơn
vị hành chính với những thế mạnh khác nhau trong đó có TP.Châu Đốc là một trong những địa phương có tiềm năng du lịch nhưng chưa được khai thác xứng tầm Đặc biệt TP.Châu Đốc là nơi hội tụ những giá trị văn hóa truyền thống một thời của bao thế hệ
đã anh dũng hi sinh dựng lên như ngày hôm nay Bên cạnh đó còn có những giá trị mang đậm chất nhân văn, văn hóa hào hùng của dân tộc với những tín ngưỡng, phong tục tập quán mang đậm bản sắc dân tộc Với những tiềm năng phong phú về lợi thế phát triển du lịch, TP.Châu Đốc xác định từng bước đưa ngành du lịch thật sự trở
Trang 12thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần tích cực trong việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, trên cơ sở tận dụng tiềm năng sẵn có kết hợp với sự đầu
tư đứng mức và sự hỗ trợ, quan tâm của nhà nước để tạo điều kiện tốt nhất cho ngành
du lịch phát triển Thời gian qua, TP.Châu Đốc đã có những bước phát triển, nhưng so với lợi thế thì mức độ khai thác, phát triển chưa cao Công tác quản lý còn nhiều bất cập, nội dung chương trình du lịch chưa phong phú, sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chất lượng phục vụ chưa cao, nguồn nhân lực phục vụ còn thấp và khả năng cạnh tranh còn nhiều hạn chế Từ những vấn đề bất cập trong hoạt động du lịch cũng như những định hướng đề ra một lối đi mới trong tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở Thành
phố Châu Đốc Hiện nay thì việc nghiên cứu đề tài “Tiềm năng và định hướng phát
triển du lịch Thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang” trên cơ sở khảo sát đánh giá và
đề ra giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch ở Thành phố Châu Đốc là điều rất cần thiết Nhằm nghiên cứu làm rõ nét những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức Từ đó xác lập các nguyên tắc, tiêu chuẩn phát triển du lịch phù hợp với bối cảnh phát triển du lịch Châu Đốc, định hướng cho ngành du lịch những bước đi hiệu quả nhất, tác động chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố thông qua việc xác định một cách đúng hướng về cách nhìn,
cách làm ăn và phải có cách đối phó đối thủ cạnh tranh để tồn tại và phát triển
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về tiềm năng, thực trạng phát triển
du lịch của Thành phố Châu Đốc Thông qua sự tiếp cận thực tế về tài nguyên du lịch của địa phương, khảo sát thực tế về thực trạng phát triển du lịch của Thành phố Châu Đốc Qua đó có thể đề xuất những kiến nghị nhằm giúp cho du lịch của Châu Đốc có những bước chuyển mới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tiềm năng và thực trạng phát triển của ngành du lịch Thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang trên cơ sở xác định ngành du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, liên ngành để đề xuất những giải pháp chiến lược nhằm phát triển du lịch của Thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi của Thành phố Châu Đốc cụ thể gồm 5 phường và 2 xã: phường Châu Phú A, phường Châu Phú
B, phường Núi Sam, phường Vĩnh Mỹ, phường Vĩnh Ngươn, xã Vĩnh Châu, xã Vĩnh
Tế và trong mối quan hệ với các vùng lân cận
+ Phạm vi thời gian: luận án nghiên cứu sâu về hoạt động du lịch của Thành phố Châu Đốc 2008- 2013 (6 tháng đầu năm 2013) và đề xuất các giải pháp thực hiện giai đoạn 2013 -2020
Bên cạnh đó do hoạt động du lịch chịu tác động mạnh và không ngừng biến động theo thời gian và xu thế của thời đại Vì vậy, đề tài sẽ cố gắng không ngừng nắm
Trang 13bắt những vận động phát triển hệ thống du lịch theo hướng hội nhập, toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức để đề xuất các giải pháp phát triển du lịch của Thành phố Châu Đốc một cách hiệu quả nhất
4 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Du lịch Thành phố Châu Đốc ngày nay đang có những bước chuyển biến mới, tài nguyên du lịch đang từng bước được đánh thức, cơ sở hạ tầng đang từng bước hoàn thiện để phục vụ du lịch phát triển Từ những đặc thù của địa phương, cùng với chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ Châu Đốc và sự quan tâm của tỉnh An Giang, Thành phố Châu Đốc nêu ra một số định hướng đầu tư, phát triển kinh tế đặc thù của địa phương theo hướng hội nhập như sau: Thành phố Châu Đốc là vùng sông nước, núi non hùng vĩ, với nhiều di tích văn hóa xếp hạng nên mục tiêu du lịch là “Văn hóa Du lịch” và thực hiện nghị quyết 04/NQ.TU ngày 04 tháng 12 năm 2006 quy hoạch tổng thể thành phố, trên cơ sở quy hoạch khu du lịch, vui chơi giải trí có lập dự án kêu gọi các thành phần kinh tế tham gia, góp phần xây dựng thành phố thành đô thị văn minh hiện đại Bên cạnh đó Thành phố Châu Đốc còn đề cập đến vấn đề phát triển du lịch trên sông và đưa ra những điều kiện cần và đủ để Thành phố Châu Đốc có thể hội nhập vào khu vực và thế giới Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về du lịch của Châu Đốc còn quá ít và thường đan xen với các ngành kinh tế khác, không có sự nhìn nhận
rõ ràng về vấn đề du lịch, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việc xem xét, đánh giá tổng thể về tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch của điểm đến Nếu có chăng thì cũng chỉ mang tính hình thức, qua loa, thực hiện không nghiêm túc
Qua đó, tôi chọn đề tài này để có sự nhận định rõ ràng và đi sâu vào tiềm năng, thực trạng và đưa ra một số giải pháp để du lịch Thành phố Châu Đốc ngày càng phát triển
5 Quan điểm nghiên cứu
5.1 Quan điểm hệ thống
Hệ thống lãnh thổ du lịch là hệ thống mở phức tạp gồm nhiều thành phần có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Đây là dạng đặc biệt của địa hệ mang tính chất tổng hợp, có đủ các thành phần kinh tế, tự nhiên xã hội và chịu sự chi phối của nhiều qui luật cơ bản
5.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Lãnh thổ du lịch được tổ chức như là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và trên cơ sở của nguồn tài nguyên, các dịch vụ phục vụ cho du lịch Quan điểm này vận dụng vào luận văn để phân tích các tiềm năng và tác động về nhiều mặt cho sự phát triển du lịch Thành phố Châu Đốc
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập, xử lý thông tin và tổng hợp tài liệu
Phương pháp này rất cần thiết trong việc nghiên cứu các đề tài về du lịch Để có một lượng thông tin đầy đủ về các mặt tự nhiên, xã hội, kinh tế thì cần phải thu thập
Trang 14thông tin tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau để có sự đánh giá, so sánh, cân nhắc thông tin để có những kết luận có liên quan cần thiết Du lịch của tỉnh An Giang để xử lí thông tin và tổng hợp tài liệu cần thiết Các tư liệu có thể là các bài báo cáo, các dự thảo, các báo cáo tổng kết, các công trình nghiên cứu trước đó…phương pháp này giúp tiết kiệm được thời gian, kinh phí mà vẫn có được một tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu
6.2 Phương pháp bản đồ
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tổng hợp, đề tài sẽ áp dụng phương pháp bản đồ nhằm thể hiện một cách trực quan các nội dung nghiên cứu, số liệu cụ thể cũng như xác định được địa điểm và phân bố theo lãnh thổ của đối tượng nghiên cứu trên bản
đồ Phương pháp nghiên cứu bản đồ sẽ thể hiện quy luật của toàn bộ hệ thống trong không gian
6.3 Phương pháp khảo sát thực tế
Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm mục đích làm cho kết quả mang tính xác thực Việc nghiên cứu theo phương pháp này giúp tôi có thể cảm nhận được giá trị của tài nguyên, hiểu được những khía cạnh khác nhau của thực tế, qua đó nắm bắt thêm những thông tin cần thiết để bổ sung, đối chiếu với những kiến thức mình biết hoặc thu thập được từ các nguồn tự liệu khác Trên cơ sở đó sẽ đề xuất được những giải pháp hợp lý và khả thi hơn
6.4 Phương pháp phỏng vấn
Đây là một phương pháp thu thập thông tin dựa trên cơ sở quá trình giao tiếp bằng lời nói có tính đến mục đích đặt ra Trong cuộc phỏng vấn, người phỏng vấn nêu những câu hỏi theo một chương trình được định sẵn dựa trên những cơ sở luật số lớn của toán học Lựa chọn cán bộ thực hiện phỏng vấn: nghề nghiệp, giới tính, trình độ học vấn Phương pháp này chúng ta sẽ lấy số liệu chính xác, xác thực hơn tại các điểm
du lịch, phòng du lịch, mà họ đã cập nhật hàng năm từ khách du lịch Để thực hiện phỏng vấn dễ dàng chúng ta phải chọn ngữ cảnh tiêu chuẩn hóa trên các mặt như cố gắng sao cho môi trường đảm bảo tương đối đồng đều, có một bầu không khí tin cậy, trung thực, nghiêm túc, vui vẻ
6.5 Phân tích ma trận SWOT
Ma trận SWOT kết hợp giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài để hình thành các phương án chiến lược SO, ST, WO, WT Mục đích của công cụ phân tích tình huống kinh doanh ma trận SWOT giúp đề ra các giải pháp chiến lược khả thi
Ma trận SWOT gồm 4 yếu tố chính:
Những điểm mạnh (S= Strengths) còn gọi là những ưu điểm của ngành
Những điểm yếu (W= Weaknesses) còn gọi là những nhược điểm của ngành
Những cơ hội (O= Opportunities) còn gọi là những cơ may của ngành
Những đe dọa (T= Threats) còn gọi là những rũi ro của ngành
Để thiết lập ma trận SWOT thực hiện 8 bước sau:
Trang 15Bước 1: Liệt kê các cơ hội chính
Bước 2: Liệt kê các mối đe dọa chủ yếu bên ngoài
Bước 3: Liệt kê những điểm mạnh chủ yếu
Bước 4: Liệt kê những điểm yếu tiêu biểu bên trong
Bước 5: Kết hợp điểm mạnh bên trong với các cơ hội bên ngoài và đề xuất phương án chiến lược SO thích hợp Chiến lược này lợi dụng điểm mạnh của mình để tận dụng cơ hội
Bước 6: Kết hợp điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài và đề xuất phương án chiến lược WO thích hợp Chiến lược này khắc phục điểm yếu bằng cách tận dụng cơ hội Chiến lược này khắc phục điểm yếu bằng cách tận dụng cơ hội
Bước 7: Kết hợp điểm mạnh bên trong với mối đe dọa bên ngoài và đề xuất phương án chiến lược ST thích hợp Chiến lược này lợi dụng thế mạnh của mình để đối phó với nguy cơ đe dọa từ bên ngoài
Bước 8: Kết hợp điểm yếu bên trong với mối đe dọa bên ngoài và đề xuất phương án chiến lược WT Chiến lược này nhằm tối thiểu hóa tác dụng của điểm yếu và phòng thủ trước các mối đe dọa từ bên ngoài
Trang 16Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Một số vấn đề về du lịch
1.1.1 Khái niệm du lịch
Khái niệm về du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu khác nhau Đúng như một chuyên gia về du lịch đã nhận định: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”
- Du lịch là một dạng hoạt động của con người
Thuật ngữ “Tourism” (Du lịch) hiện nay trở nên rất thông dụng Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp và trở thành một từ trong tiếng Pháp “Tour” có nghĩa là đi vòng quanh, đi dạo chơi…Trong tiếng Việt, “Du lịch” là một từ Hán – Việt, trong đó
“Du” cũng có nghĩa tương tự như chữ “Tour” (du khảo, du ngoạn, du xuân,…)
Tuyên La Hay (Hà Lan) về du lịch đã nêu: Du lịch là hoạt động cốt yếu của con người và của xã hội hiện đại Bởi một lẽ du lịch đã trở thành một hình thức quan trọng trong việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của con người, đồng thời là phương tiện giao lưu trong mối quan hệ giữa con người với con người
Nhà kinh tế học Kalfiotis thì cho rằng: “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức,
do đó tạo nên các hoạt động kinh tế”
Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch tại Canada (1991) đã đưa ra định nghĩa:
“Du lịch là các hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài nơi ở thường xuyên của mình trong một khoảng thời gian ít hơn thời gian được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm
Năm 1963, các chuyên gia du lịch tại Liên Hợp Quốc về du lịch hợp tại Roma đưa ra: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”
Theo I.I.Pirojnic (1985): “ Du lịch là một dạng hoạt động của cư dân trong thời gian rảnh rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về kinh
tế, tự nhiên, văn hóa”
Trang 17Theo luật du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là các dạng hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”
Từ những góc độ trên, ta có thể hiểu : “Du lịch là một tập hợp các hoạt động và dịch vụ đa dạng, liên quan tới việc di chuyển tạm thời của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm mục đích giải trí, nghỉ ngơi, văn hóa, nghỉ dưỡng…và nhìn chung là vì những lý do không phải để kiếm sống” theo Tổ chức Du lịch thế giới (WTO,1994)
- Du lịch là một ngành kinh tế
Thuở ban đầu du lịch là sự tự thỏa mãn nhu cầu của bản thân người đi du lịch Người đi du lịch phải tự lo tất cả Đến năm 1841 với sự kiện Thomas Cook tổ chức một chuyến du lịch tập thể bằng tàu hỏa đã mở ra sự ra đời hoạt động kinh doanh du lịch
Du lịch còn được hiểu là một hoạt động kinh tế hay một ngành kinh doanh Theo nghĩa này, du lịch là toàn bộ các hoạt động phối hợp nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch
Đứng trên góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp bao gồm các hoạt động: tổ chức, hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch
Khái niệm du lịch thể hiện mối quan hệ tác động tổng hợp của các yếu tố liên quan đến hoạt động du lịch: Du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan
hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch
Nhà địa lý Michaud: “Du lịch là tập hợp những hoạt động sản xuất và tiêu thụ phục vụ cho việc đi lại và ngủ lại ít nhất một đêm ngoài nơi ở thường ngày với lý do giải trí, kinh doanh, sức khỏe, hội hợp, thể thao hoặc tôn giáo”
- Du lịch nghỉ ngơi (giải trí ): nhằm thay đổi môi trường, bứt ra khỏi công việc hàng ngày để giải phóng thân thể, đầu óc thảnh thơi
- Du lịch chữa bệnh: Đi du lịch nhằm chữa bệnh gắn với các cơ sở chữa bệnh hoặc có điều kiện phục hồi sức khỏe (nguồn nước khoáng, khí hậu, khung cảnh thiên nhiên,…)
Trang 18- Du lịch thể thao: Có nhiều loại hình thể thao trong hoạt động du lịch như săn bắn, leo núi, bơi thuyền, lướt ván, chơi golf Người ta chia thành 2 loại là du lịch thể thao chủ động: du lịch để tham gia các hoạt động thể thao (leo núi, săn bắn, câu cá,…);
du lịch thể thao bị động: du lịch để xem thi đấu, trình diễn thể thao ( thế vận hội, thi đấu bóng đá,…)
- Du lịch công vụ: Loại hình du lịch này ngày càng phổ biến Đây là sự kết hợp
du lịch với công việc như đàm phán, giao dịch, tìm hiểu thị trường, nghiên cứu cơ hội đầu tư,…
- Du lịch tôn giáo: Là loại hình du lịch lâu đời Khách du lịch thực hiện các chuyến du lịch để hành lễ
- Du lịch thăm hỏi: Du lịch để thăm người thân, bạn bè, dự lễ cưới,…Hiện nay, loại hình du lịch này khá phát triển
- Du lịch biển: Là loại hình du lịch ở vùng ven biển với mục đích tắm biển
- Du lịch núi: Là loại hình sẽ phát triển trong tương lai
- Du lịch nông thôn: Là một tập thể loại du lịch, dựa trên sự khác biệt của tài nguyên thiên nhiên, nhân văn, sự kiện và sản vật của nông thôn để thu hút khách
- Du lịch đô thị: Là du lịch đến các khu đô thị có tài nguyên du lịch hấp dẫn khách du lịch
Theo nhà kinh tế học người Anh, ông Ogilvie cho rằng: “Khách du lịch là tất cả những người thỏa mãn 2 điều kiện: rời khỏi nơi ở thường xuyên trong khoảng thời gian dưới một năm và chi tiêu tiền bạc tại nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền ở đó” Khái niệm này chưa hoàn chỉnh vì nó chưa làm rõ được mục đích của người đi du lịch
và qua đó để phân biệt được với những người cũng rời khỏi nơi cư trú của mình nhưng lại không phải là khách du lịch
Trang 19Nhà xã hội học Cohen quan niệm: “Khách du lịch là một người đi tự nguyện, mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những điều mới lạ và sự thay đổi thu nhận được từ một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên”
Năm 1937 Ủy Ban Thống kê Liên Hiệp Quốc đưa ra khái niệm về du khách quốc tế như sau: “Du khách quốc tế là những người thăm viếng một quốc gia ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất là 24 giờ”
Tuy nhiên, trong thực tế lượng khách tham quan giải trí trong thời gian ít hơn
24 giờ ngày càng nhiều và không thể không tính đến tiêu dùng của họ trong thống kê
du lịch, do đó đã nãy sinh ra khái niệm về khách tham quan Khách tham quan là những người đi thăm và giải trí trong khoảng thời gian dưới 24 giờ
Từ những khái niệm trên, cho ta nhận định rằng khách du lịch (du khách) là những người đi vì lý do giải trí, lý do sức khỏe, gia đình…, những người đi tham gia các hội nghị, hội thảo của các tổ chức, các đại hội thể thao…hoặc những người đi với mục đích kinh doanh công vụ (tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng…) Những người không được xem là khách du lịch quốc tế là những người đi sang nước khác để hành nghề, những người tham gia vào các hoạt động kinh doanh ở nước đến (có thu nhập ở nước đến), những người nhập cư, các học sinh sinh viên đến để học tập, những cư dân vùng biên giới, những người cư trú ở một quốc gia và đi làm ở quốc gia khác, những người đi xuyên qua một quốc gia và không dừng lại cho dù cuộc hành trình kéo dài trên 24 giờ 9
Như vậy, với khái niệm này về mặt thời gian khách du lịch quốc tế là những người có thời gian thăm viếng (lưu lại) nước đến ít nhất là 24 giờ Sở dĩ như vậy vì các
du khách phải lưu lại qua đêm và phải chi tiêu một khoản tiền nhất định cho việc lưu trú
1.1.3 Khái niệm về Sản phẩm du lịch
Theo M.M.Coltman: “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất, hữu hình và vô hình Sản phẩm du lịch có thể là món hàng cụ thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát”
Sản phẩm du lịch bao gồm toàn bộ các giá trị sử dụng để thỏa mãn nhu cầu du lịch nhất định Theo Luật du lịch Việt Nam : “Sản phẩm du lịch là tập hợp những dịch
vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”
Theo pháp lệnh du lịch Việt Nam: “Sản phẩm du lịch được tạo ra do sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch”
Theo quan niệm của Đức: “Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài long” (Từ điển Du lịch Đức, NXB Kinh tế, Berlin 1984)
Trang 20Kotler và Turner đã định nghĩa về sản phẩm du lịch một cách rộng rãi như sau:
“Một sản phẩm là tất cả những gì có thể cung cấp cho sự chiếm hữu, sự sử dụng hoặc
sự tiêu thụ của một thị trường: điều đó bao gồm những vật thể, những khoa học, những nhân vật, những nơi chốn, những tổ chức và những ý tưởng”
Đặc điểm của sản phẩm du lịch :
- Sản phẩm du lịch không hiện hữu trước người mua
- Sản phẩm du lịch có tính sử dụng tạm thời và không có tính sở hữu
- Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm diễn ra đồng thời
- Sản phẩm du lịch những yếu tố đặc thù, không bị mất đi giá trị khi sử dụng
- Sản phẩm du lịch không thể lưu kho, tích trữ được
- Sản phẩm du lịch có tính thời vụ
1.1.4 Thị trường du lịch
Thị trường du lịch cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Đứng trên góc độ người mua:“Thị trường du lịch là tổng số các nhu cầu về một loại hình du lịch nào đó” (Nguyễn Văn Thường- Thông tin chuyên đề kinh tế du lịch (tập 1) - Ủy ban Khoa học Nhà nước 1990)
“Thị trường du lịch là các nhóm hàng đang có nhu cầu mong muốn về sức mua sản phẩm du lịch nhưng chưa được đáp ứng” (Đỗ Hoàng Toàn- Marketing du lịch- Tổng cục du lịch 1990)
“Thị trường du lịch là nơi diễn ra các hoạt động mua bán sản phẩm du lịch” (Nguyễn Văn Thường- Thông tin chuyên đề Kinh tế du lịch, tập 1- UBKHNN 1990)
Theo viện nghiên cứu Cu Ba: “Thị trường du lịch là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu du lịch” (Dẫn theo Michael M.C- Tiếp thị du lịch- Trung tâm dịch vụ đầu tư và ứng dụng kinh tế - 1991)
Chức năng của thị trường du lịch:
- Chức năng thực hiện và công nhận
- Chức năng điều tiết và kích thích
- Chức năng thông tin
1.1.5 Tài nguyên du lịch
1.1.5.1 Khái niệm tài nguyên du lịch
Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự nhiên,
di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”
Luât du lịch Việt Nam (2005): “Tài nguyên du lịch là những cảnh quan tự nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử- văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”
Trang 21Như vậy, tài nguyên du lịch là những yếu tố tự nhiên và nhân tạo có khả năng khai thác và sử dụng để thỏa mãn nhu cầu du lịch
1.1.5.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên
- Địa hình: Địa hình là những đặc điểm bên ngoài của bề mặt đất Địa hình biểu hiện bằng các yếu tố như độ cao, độ dốc, trạng thái… Người ta thường chia tổng quát địa hình gồm 3 dạng : miền núi, đồng bằng, biển và bờ biển
+ Địa hình miền núi thường rất đa dạng và có nhiều khả năng thu hút khách du lịch Có nhiều loại hình du lịch ở miền núi: du lịch thám hiểm, du lịch sinh thái, săn bắn, leo núi và thể thao, du lịch mạo hiểm,… Địa hình thường có rừng, thác và hang động … Vì vậy, miền núi có nhiều điều kiện để phát triển du lịch Tuy nhiên, hạn chế của du lịch ở miền núi là giao thông khó khăn, cơ sở hạ tầng kém phát triển…
+ Địa hình biển và bờ biển có khả năng khai thác du lịch khá thuận lợi, nhất là
du lịch: tắm biển, nghỉ biển và du thuyền ra biển,… Ngoài ra, biển còn có nhiều hải đảo nên khả năng khai thác rất đa dạng
+ Địa hình đồng bằng thường đơn điệu nên ít có khả năng trực tiếp phát triển
du lịch Tuy nhiên, đồng bằng thường là nơi dân cư tập trung sinh sống nên cũng có nhiều cơ hội để phát triển du lịch
- Khí hậu: khí hậu có ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống con người Trước hết, trạng thái của cơ thể con người gắn liền với các chỉ số khí hậu, nhất là nhiệt độ và độ
ẩm Những nơi có khí hậu thích hợp thì thuận lợi để phát triển du lịch nghỉ dưỡng Khí hậu còn tạo ra nhịp điệu của mùa du lịch Thường thì mùa hè là mùa du lịch của các vùng bãi biển nhiệt đới Mùa đông lại là mùa du lịch của các điểm thể thao ở các vùng
ôn đới… Nhịp điệu mùa du lịch cũng có thể gián tiếp hình thành do mùa sinh hoạt của con người
- Nước có vai trò rất quan trọng đối với con người Du lịch đòi hỏi phải cung cấp nước cho du khách Nước còn là môi trường cho nhiều loại hình hoạt động du lịch: tắm, bơi lặn, câu cá…
Các hồ nước, thác nước, sông suối,… Cũng là những yếu tố có giá trị nhiều mặt đối với du lịch
Nguồn nước khoáng còn là tiềm năng để hình thành các khu du lịch nghỉ dưỡng
- Sinh vật : Tài nguyên sinh vật còn có thể được tổ chức thành các điểm tham quan sinh vật hoang dã, bán hoang dã và nhân tạo Ví dụ các vườn thú, bảo tàng sinh vật, điểm nuôi các động vật hoang dã…
Tài nguyên sinh vật còn phục vụ cho loại hình du lịch săn bắn, câu cá…
+ Các hiện tượng tự nhiên đặc biệt: có nhiều hiện tượng thiên nhiên độc đáo và đặc sắc tạo nên sự thu hút du khách Ví dụ: Hiện tượng nhật thực, tuyết rơi, đêm trắng Bắc Cực…
Trang 221.1.5.3 Tài nguyên du lịch nhân văn
- Di tích lịch sử - văn hóa: Đó là những gì mà quá khứ để lại Di tích được chia
thành 4 nhóm chủ yếu như sau :
+ Di tích khảo cổ: là di tích liên quan đến các nền văn hóa cổ của loài người trên thế giới Thường bao gồm những loại hình là di chỉ cư trú và di chỉ mộ táng
+ Di tích lịch sử: Liên quan đến các giai đoạn lịch sử khác nhau Các di tích lịch sử thường là nơi diễn ra các sự kiện quan trọng như những trận đánh lớn, những kinh đô cổ, những địa điểm liên quan đến các nhân vật lịch sử
+ Di tích kiến trúc nghệ thuật: là các công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao tiêu biểu cho những thời kỳ lịch sử nhất định Ví dụ: Đền tháp, đình chùa, miếu, nhà thờ,…
+ Danh lam thắng cảnh: Đây là loại di tích đặc sắc trong có sử kết hợp yếu tố nhân tạo với tự nhiên Các danh lam thắng cảnh thường thể hiện sự tinh tế và sử tô điểm của con người vào thắng cảnh thiên nhiên làm cho nó trở thành tuyệt tác
- Lễ hội: Lễ hội là những hình thức sinh hoạt của cộng đồng dân cư Lễ hội có nhiều dạng nhưng thông thường đều bao gồm 2 phần liên quan với nhau rất chặt chẽ: phần Lễ mang tính lễ nghi, trang trọng nhằm tưởng niệm, hoặc cầu phúc… phần Hội mang tính sinh hoạt vui chơi của cộng đồng Đương nhiên có thể sự phân chia này cũng mang tính tương đối Có thể có lễ hội hòa quyện cả hai phần làm một, có lễ hội thì phần lễ là chính hoặc có lễ hội lại chỉ có phần hội
Lễ hội có sức hấp dẫn du lịch rất cao Người ta thường ví nó như những bảo tàng sống về văn hóa của cộng đồng Khách du lịch không chỉ tham quan, tìm hiểu lễ hội mà còn có thể tham gia vào các hoạt động lễ hội
- Làng nghề cổ truyền: Nghề thủ công truyền thống là những loại hình hoạt động kinh tế- xã hội rất phong phú Nghề thủ công trên thế giới rất đa dạng có tính độc đáo nên có nhiều giá trị thu hút du lịch Mặt khác, các sản phẩm thủ công cũng mang nhiều giá trị nghệ thuật nên đã trở thành những mặt hàng lưu niệm đối với du khách
- Các đặc trưng văn hóa dân tộc: Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện nhiều mặt như trang phục, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội, hoạt động kinh tế, văn hóa nghệ thuật… Vì vậy, khả năng khai thác du lịch cũng rất đa dạng và đặc sắc
- Sự kiện văn hóa- thể thao: có rất nhiều yếu tố thuộc nhóm này Dưới đây là một số yếu tố cơ bản:
+ Các hội chợ, triển lãm: Hội chợ, triển lãm rất đa dạng về loại hình và quy mô
Nó tạo ra khả năng thu hút nhiều loại đối tượng đến tham quan, mua sắm, tìm cơ hội thị trường…Hiện nay có xu hướng kết hợp hội chợ triển lãm với lễ hội Ví dụ thế giới
có rất nhiều lễ hội mang tính chất quảng bá thương mại và du lịch như lễ hội bia, lễ hội trái cây,…
+ Các cuộc thi đấu thể thao, liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, thi hoa hậu, thi âm nhạc… cũng là những sự kiện có tác động rất mạnh đến du lịch
Trang 23- Các tài nguyên du lịch nhân văn khác:
+ Bảo tàng: đây là những điểm tham quan du lịch rất có giá trị giúp cho du khách tìm hiểu về các di tích, hiện vật và nhiều chủ đề khá tập trung và hấp dẫn
+ Công trình và sản phẩm kinh tế Ví dụ như các cây cầu lớn, các nhà máy thủy điện, các đập và hồ nước nhân tạo, các đặc sản,…
+ Giá trị văn hóa nghệ thuật, ẩm thực…
- Tạo một dấu ấn riêng cho đất nước, là niềm tự hào của dân tộc
1.1.6 Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội
1.1.6.1 Ảnh hưởng ngành du lịch đến sự tăng trưởng, phát triển kinh tế
Ngành du lịch phát triển còn là động lực thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của nhiều ngành khác trong nền kinh tế quốc dân như: ngành nông nghiệp, ngành sản xuất vật tư xây dựng, ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, ngành tiểu thủ công nghiệp,
Do nhu cầu của khách du lịch là rất đa dạng và phong phú cho nên ngành du lịch tạo điều kiện cho các ngành đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ ngay tại chỗ giúp lưu thông được nhanh hơn, tăng vòng quay của vốn
Ngành du lịch phát triển còn thúc đẩy sự phát triển của các ngành giao thông vận tải, bưu điện, ngân hàng, xây dựng, thông qua việc du khách trực tiếp sử dụng các dịch vụ của các ngành như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ bưu điện, dịch vụ đổi tiền
Hoạt động của ngành du lịch còn góp phần làm tăng thu nhập quốc dân, thông qua việc sản xuất, chế biến các đồ ăn, thức uống phục vụ du khách và bán các mặt hàng lưu niệm… mà hoạt động du lịch góp phần tạo ra thu nhập quốc dân, làm tăng thu nhập quốc dân Phát triển du lịch quốc tế chủ động đem lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước
Du lịch phát triển còn kích thích đầu tư Do du lịch là ngành được tạo nên bởi rất nhiều các doanh nghiệp nhỏ và nhiều loại hình dịch vụ khác nhau nên sự đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng nhằm tạo điều kiện cho du lịch phát triển sẽ kích thích sự đầu tư rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, của các doanh nghiệp nhỏ và cả đầu tư nước ngoài Sự phát tiển du lịch quốc tế còn có vai trò to lớn trong việc mở rộng và củng cố mối quan hệ kinh tế quốc tế
Sự phát triển du lịch sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới cho người lao động Mức thu nhập của dân cư ảnh hưởng đến mức nhu cầu trong khách du lịch Nền kinh
tế phát triển, người dân có mức sống cao, từ đó tạo điều kiện cho người dân có khả năng thanh toán nhu cầu du lịch càng cao và ngược lại
1.1.6.2 Vai trò ngành du lịch đối với văn hóa xã hội
Trong cuộc sống xã hội hiện nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của
xã hội, là ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia, mà bên cạnh đó du lịch là cầu nối giao lưu giữa các quốc gia, các dân tộc lại với nhau Với những giá trị truyền thống dân tộc hình thành từ ngàn năm dựng nước bởi những con người mãnh liệt, dũng cảm, tính
Trang 24cách hiền hậu chân thành cũng góp phần thu hút du khách từ phương xa đến tham quan Bởi trãi qua hàng năm lịch sử, người Việt đã tạo dựng cho mình một phong cách, một nền văn hóa, thuần phong, mỹ tục riêng
Du lịch đã tạo cơ hội cho du khách một sự trải nghiệm, giúp họ nhìn nhận lại những giá trị quý báu của dân tộc mà biết bao thế hệ, ngay cả chính họ đã phải đánh đổi bằng xương máu của mình để tạo dựng nên
Du lịch là dịp để họ hiểu hơn về công lao của cha ông mình, đồng thời cũng hiểu những giá trị nhân văn, giá trị truyền thống và thiên nhiên mà họ đang được thừa thưởng Du lịch ngày nay đã trở thành một hoạt động không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt xã hội, làm cho đời sống ngày một phong phú hơn, lý thú và bổ ích hơn
Du lịch có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, các danh lam thắng cảnh của địa phương, của đất nước Bên cạnh, sự phát triển du lịch còn góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các hoạt động lễ hội, khôi phục các làng nghề truyền thống,
Du lịch làm đầu mối giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng: thông qua du lịch, con người được thay đổi môi trường, có các ấn tượng và cảm xúc mới, thỏa mãn được trí tò mò, đồng thời mở mang kiến thức… góp phần hình thành phương hướng đúng đắn trong mơ ước sáng tạo, cho kế hoạch tương lai của con người
Thông qua các cuộc tiếp xúc giữa khách du lịch với dân cư của địa phương giúp con người mở mang những hiểu biết về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, đạo đức, kinh tế,…Du lịch làm giàu và phong phú thêm khả năng thẩm mỹ của con người Du khách được mở rộng kiến thức, hiểu biết thêm được nhiều điều mới lạ Du lịch được hiểu như một hoạt động cốt yếu cho cuộc sống của dân tộc vì nó tác động trực tiếp đến các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục, kinh tế và quan hệ quốc tế của các quốc gia trên thế giới Do đó, thông qua du lịch dân trí của người dân được nâng cao hơn và du lịch được xem là cánh cửa giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng trên thế giới
1.1.6.3 Vai trò ngành du lịch đối với môi trường
Tài nguyên và môi trường du lịch nói riêng và tài nguyên môi trường nói chung luôn chịu những tác động của hoạt động kinh tế - xã hội, trong đó bao gồm cả hoạt động phát triển du lịch Những tác động này có thể là tích cực, song cũng có thể là tiêu cực đến trạng thái tài nguyên, môi trường nếu như không có những giải pháp phù hợp
về tổ chức quản lý và kỹ thuật
Hoạt động của ngành kinh tế du lịch là hoạt động khai thác các tiềm năng du lịch phục vụ kinh doanh du lịch Vì vậy hoạt động du lịch có tác động đến hầu hết các dạng tài nguyên và môi trường giống như các ngành kinh tế khác, tuy nhiên hoạt động
du lịch còn tạo ra tài nguyên nhân tạo, hình thành các môi trường du lịch hoàn toàn do con người điều khiển, đó là đặc thù của hoạt động du lịch
Trang 25Tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường theo hai mặt: mặt tác động tích cực tạo ra hiệu quả tốt đối với sử dụng hợp lý và phục hồi tài nguyên, đồng thời tạo cơ sở cho việc phát triển môi trường bền vững Mặt tác động tích cực gây nên sự lãng phí, tiêu phí tài nguyên và suy thoái môi trường Cụ thể như sau:
Những tác động tích cực của ngành du lịch đối với môi trường:
Du lịch hoạt động theo khuynh hướng phục hồi, bảo tồn và bảo vệ môi trường cũng như việc khôi phục, tôn tạo các kho tàng lịch sử và duy trì các công viên và khu bảo tồn khác Lợi ích của việc không tiêu diệt động vật hoang dã cho du lịch nhằm hạn chế những hoạt động gây bất lợi cho môi trường Ngành du lịch là một động cơ cải thiện chất lượng môi trường thông qua việc bảo tồn, phục hồi và bảo vệ thiên nhiên, di sản văn hóa, cải thiện hệ thống giao thông, hệ thống quản lý cung cấp nước sạch và xử
lý nước thải… sẽ tác động làm phát huy tính hấp dẫn cho du khách và mang lại thu nhập ngày càng cao cho ngành du lịch
Những tác động tiêu cực của ngành du lịch đối môi trường:
Làm suy thoái môi trường: Các tác động hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường có thể tác động trực tiếp, tạo nên những thay đổi của môi trường và của việc sử dụng tài nguyên Cũng có thể là các tác động gián tiếp thông qua các phản ứng dây chuyền trong tự nhiên mà làm biến đổi các thành tố của môi trường
Làm ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm môi trường là nhân tố tác động tiêu cực chủ yếu của du lịch thông qua ô nhiễm không khí, tiếng ồn, nước thải, sinh học và địa chất Hoạt động giao thông là tác nhân cơ bản của ô nhiễm không khí và tiếng ồn Bên cạnh, nhiều hoạt động du lịch như bơi thuyền, lặn, đi bộ, trượt tuyết, kinh doanh mua bán ở các khu du lịch đã tác động tiêu cực đến môi trường thiên nhiên
1.2 Một số nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch
1.2.1 Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất
Cơ sở hạ tầng: là cơ sở thúc đẩy mọi hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước
Đối với ngành du lịch, cơ sở hạ tầng là yếu tố cơ bản nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng du lịch, nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch Trong cơ sở hạ tầng phục vụ
du lịch, quan trọng nhất là hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, hệ thống cấp, thoát nước và cung cấp điện Các sản phẩm đó phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ ngơi,
giải trí của khách du lịch
Giao thông là một bộ phận của cơ sở hạ tầng, nhưng cũng có các phương tiện giao thông du lịch được sản xuất và sử dụng chủ yếu phục vụ nhu cầu du lịch Thông tin liên lạc là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động du lịch, nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế
Bên cạnh đó thì hệ thống các công trình cấp điện, nước Các sản phẩm của nó còn phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ ngơi giải trí của khách tại điểm tham quan
Trang 26Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo
ra và thực hiện sản phẩm du lịch, cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm cơ sở vật chất của ngành du lịch và cơ
sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế quốc dân tham gia phục vụ du lịch như thương nghiệp, dịch vụ… Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm nhiều thành phần, mang những chức năng khác nhau và có ý nghĩa nhất định đối với việc tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch Việc đánh giá cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được căn cứ vào
ba loại tiêu chuẩn chủ yếu:
- Đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho khách du lịch nghỉ ngơi
- Đạt hiệu quả kinh tế tối ưu trong quá trình xây dựng và khai thác cơ sở vật chất kỹ thuật
- Thuận tiện cho việc đi lại của khách từ các nơi đến
Các cơ sở dịch vụ khác về thương mại, thể thao, y tế, ngân hàng, bảo hiểm,… điều có ảnh hưởng nhiều mặt đến các hoạt động du lịch Ảnh hưởng trực tiếp nhất là các cơ sở vui chơi giải trí Bản thân du lịch là mang tính giải trí Vì vậy, đầu tư phát triển các loại hình vui chơi giải trí sẽ tăng thêm khả năng lưu giữ khách và tăng thêm nguồn thu cho du lịch
1.2.2 Nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực du lịch
Nhân lực du lịch – sản phẩm văn hóa, sản phẩm du lịch đặc biệt là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của đất nước, bởi nhân lực chính là nguồn lực chủ đạo của
xã hội Nhân lực là nguồn lực lao động hoạt động trong một lĩnh vực nào đó của đời sống xã hội trên một địa bàn nhất định, trong những khoảng thời gian nhất định
Đặc điểm của nguồn nhân lực:
- Đặc điểm về giới tính, tuổi tác, sức khỏe: một số lĩnh vực sẽ phù hợp với nam, phù hợp với nữ nên cần có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sức khỏe và trình độ ngoại ngữ, đặc biệt hơn phải có kinh nghiệm thực tế
- Đặc thù công việc: du lịch là hoạt động mang tính hoạt động cao, luôn biến đổi và không ngừng phát triển, luôn chịu sự tác động về tài chính, tiền bạc trong kinh doanh nên thường xuất hiện tính thực tế, thực dụng cao
- Tính liên ngành, liên vùng cao đòi hỏi sự phối kết hợp cao, sâu và rộng mang tính đồng bộ… giữa nhiều cơ quan, ban ngành, các cá nhân và tổ chức; giữa địa phương vùng miền; giữa các quốc gia trong khu vực và quốc tế
- Tính luân chuyển nhanh chóng, kịp thời: sự luân chuyển vị trí, nhiệm vụ, địa bàn và hình thức hoạt động
- Tính linh hoạt, thích ứng cao đòi hỏi sự tích cực, chủ động, nhạy bén, sáng tạo của người làm du lịch
- Trong một số lĩnh vực cao đòi hỏi tính chính xác, cụ thể, khách quan, khoa học
Trang 27- Tính tổng hợp và kế thừa cao những kết quả thành tựu, kinh nghiệm của những người đi trước, của hoạt động kinh doanh đã và đang hoàn thành
1.2.3 Chính sách của nhà nước về phát triển du lịch
Ngày nay, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác, ngành du lịch đã
có những bước phát triển đáng kể và ngày càng tỏ rõ vị trí quan trọng của mình trong
cơ cấu kinh tế nói chung Du lịch không những là một ngành có khả năng tạo ra nguồn thu nhập cho xã hội mà còn là cầu nối quan trọng phát triển mạnh mẽ các mối quan hệ giao lưu văn hóa, hữu nghị, phát triển khoa học kỹ thuật, hợp tác, ngoại giao giữa các vùng miền, các quốc gia, các khu vực trên toàn thế giới và thúc đẩy sự đổi mới, phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, giải quyết nhiều vấn đề của xã hội Nhận thấy vai trò to lớn của du lịch đối với nền kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định,…để du lịch thực sự trở thành một ngành kinh
tế mũi nhọn
1.3 Thực tiễn phát triển du lịch Việt Nam
Việt Nam có đủ các yếu tố để phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, thể hiện ở các thế mạnh sau: Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó có hơn 3000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 5000 di tích xếp hạng cấp tỉnh Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam Việt Nam có 117 bảo tàng trong đó các bộ, ngành quản lý 38, các địa phương quản lý 79 Hai bảo tàng lịch sử mang tính quốc gia là Bảo tàng Cách Mạng Việt Nam và Bảo tàng lịch sử Việt Nam Bên cạnh đó, Việt Nam còn được UNESCO công nhận 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới đó là Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây Nghệ An, Đồng Nai, Cù lao Chàm, Cần Giờ, Cà Mau và biển Kiên Giang Và hiện nay
có 30 vườn quốc gia Với thuận lợi về điều kiện địa lý tự nhiên, Việt Nam có 400 nguồn nước nóng từ 40- 45oC Nhiều suối có hạ tầng xây dựng khá tốt như suối nóng thiên nhiên Đam Rông, Lâm Đồng; suối nước nóng Kim Bôi, Hòa Bình, suối nước nóng Bình Châu ở Bà Rịa- Vũng Tàu, suối nước nóng Kênh Gà, Ninh Bình, suối nước nóng Quang Hanh, Quảng Ninh Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới với 125 bãi tắm biển, hầu hết là các bãi tắm đẹp Việt Nam là 1/12 quốc gia có vịnh đẹp nhất thế giới đó là vịnh Hạ Long và vịnh Nha Trang Việt Nam có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng về văn hóa, phong tục tập quán và lối sống riêng Ngành du lịch và các địa phương đã nỗ lực xây dựng được một
số điểm du lịch độc đáo, như du lịch cộng đồng Sapa, du lịch Bản Lát ở Mai Châu Nhưng bên cạnh đó, ngành du lịch Việt Nam cũng đang đối mặt với nhiều vấn đề yếu kém như ô nhiễm môi trường tại các điểm du lịch, nhiều di tích không được bảo quản đúng mức, gây hư hỏng nghiêm trọng hay bị sửa lại khác xa nhau mẫu cổ và luôn thu phí vào cửa, tình trạng chèo kéo, bắt chẹt khách, tăng giá phòng tùy tiện, chất lượng hạ tầng cơ sở và giao thông thấp, dịch vụ kém, trong khi đó công tác quản lý của các cơ
Trang 28quan chức năng chưa đạt hiệu quả; thị trường thế giới còn biến động trong khi năng lực cạnh tranh của ngành du lịch còn yếu; nhận thức, kiến thức quản lý và phát triển du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu; cơ chế, chính sách quản lý còn bất cập; quy hoạch phát triển du lịch bị tác động mạnh bởi các quy hoạch chuyên ngành; tài nguyên có nguy cơ bị tàn phá, suy thoái nhanh và môi trường du lịch bị xâm hại; sản phẩm, dịch
vụ du lịch chưa đặc sắc, trùng lặp và thiếu quy chuẩn; thiếu nguồn nhân lực chuyên nghiệp và đội ngũ chuyên ngành, lực lượng quản lý tinh thông và lao động trình độ cao; thời tiết khắc nghiệt; mức sống dân cư phần đông còn thấp
Từ những phân tích, đánh giá tiềm năng phát triển du lịch Việt Nam, nên chúng
ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm để định hướng ngành du lịch An Giang phát triển một cách toàn diện như sau:
Cần phải có thể chế quản lý du lịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển và phải được sự quan tâm đúng mức về phát triển ngành du lịch: đây là vấn đề vô cùng quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của chiến lược phát triển du lịch của địa phương, vì thế chính phủ, các cơ quan ban ngành có liên quan phải sắp xếp về mặt tổ chức cũng như đề ra các chủ trương, chính sách phù hợp để tác động ngành du lịch phát triển một cách hiệu quả nhất
Hoạt động du lịch phải được thống nhất từ Trung Ương đến địa phương: hầu hết các quốc gia trên thế giới thành công trong phát triển du lịch đều có sự thống nhất, đồng bộ từ Trung Ương đến địa phương, đưa ra những chính sách khuyến khích việc phát triển rất hữu hiệu như chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách thuế, chính sách thu hút vốn đầu tư,
Phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp du lịch, chính quyền và cộng đồng địa phương trong các điểm, khu du lịch và các chương trình du lịch: các doanh nghiệp phải phối hợp một cách nhịp nhàng, hiệu quả thông qua việc tham gia góp ý của các thành viên rất thiết thực, tích cực và tự giác để thực hiện tốt công việc liên quan đến trách nhiệm của mình trong kế hoạch chung
Đẩy mạnh việc thực hiện việc xã hội hóa trong hoạt động du lịch và nâng cao nhận thức của người dân địa phương để đồng tình ủng hộ xây dựng sản phẩm du lịch hấp dẫn như thực hiện chương trình du lịch sinh thái nghỉ tại nhà dân rất hấp dẫn, vừa giảm được chi phí đầu tư trong việc phát triển cơ sở hạ tầng, mà còn đáp ứng được nhu cầu thị yếu của khách hiện nay Bên cạnh đó, cần phải giáo dục, tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích sâu rộng về lợi ích của việc phát triển du lịch đem lại
Phải quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ môi trường sinh thái và giữ gìn, bảo
vệ nguồn tài nguyên đó một cách hiệu quả nhất: nêu cao ý thức, tinh thần tự giác, có trách nhiệm trong việc bảo tồn, phát triển các giá trị truyền thống của dân tộc, đưa ra các hình phạt nặng để răn đe những du khách hoặc người dân có hành vi xả rác,
Trang 29Sản phẩm du lịch phải mang tính độc đáo, đặc thù của địa phương: phải tạo ra sản phẩm, thương hiệu riêng để sản phẩm đó mang tính đặc trưng có ý nghĩa kinh tế cao, đặc thù của riêng mình
Môi trường du lịch an toàn- an ninh: sản phẩm du lịch dù có chất lượng cao, phong cảnh đẹp tuyệt vời, di tích lịch sử văn hóa độc đáo nhưng không có môi trường
du lịch an toàn- an ninh thì cũng không thể thu hút khách
Trang 30Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở THÀNH PHỐ
CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG 2.1 Tổng quan về tỉnh An Giang
Là tỉnh nằm giữa 3 trung tâm lớn kinh tế lớn: thành phố Hồ Chí Minh- Cần Thơ
- Phnong Pênh
An Giang có dãy núi dài trên 30km, rộng 13km Đó là vùng bảy Núi (Thất Sơn)
ở các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Đốc
An giang là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về sản lượng lương thực, ngoài cây lúa còn trồng các loại nông sản và nuôi trồng thủy sản nước ngọt như cá, tôm,… An Giang nổi tiếng với các làng nghề thủ công truyền thống như tơ lụa Tân Châu, mắm Châu Đốc, mộc Chợ Thủ, bánh phồng Phú Tân, khô bò và các mặt hàng tiêu dùng khác Đặc biệt là nghề dệt vải thủ công lâu đời của đồng bào Chăm và nghề nuôi cá bè đặc trưng của vùng sông nước
Trang 31Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh An Giang (nguồn: lichsuvn.net)
Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và 9 huyện gồm có An Phú, Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên và Tân Châu với 150 đơn vị xã, phường, thị trấn Các dân tộc sinh sống ở An Giang: người kinh chiếm 94,24%, người Chăm chiếm 0,63% người, người Hoa chiếm 0,90%, người Khmer chiếm 4,23%
2.1.2 Tiềm năng du lịch của tỉnh An Giang
2.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
An Giang nổi tiếng với vùng Thất Sơn hùng vĩ với địa hình nhiều dãy núi xen vào nhau, hang động và những cách đồng lúa mênh mông tạo sức hút đối với du
khách
Nguồn nước mặt và nước ngầm rất dồi dào Sông Tiền và sông Hậu chảy qua song song từ Tây Bắc xuống Đông Nam trong địa phận của tỉnh dài gần 100km, lưu lượng trung bình năm 13.800m3/s Bên cạnh đó có 280 tuyến sông rạch và kênh lớn, mật độ 0,72km/km2 Hằng năm bị ngập lụt từ tháng 7 đến tháng 10, gọi là “mùa nước nổi” lên dâng cao lên từ 1m đến 3m, có năm lên đến 4,5m Tỉnh đã đưa nhiều chính sách để khai thác mùa nước nổi thông qua các mô hình sản xuất phong phú như trồng nấm rơm, nuôi cá bè, trồng ấu … tạo tính đa dạng và đặc thù của miền sông nước
Trang 32An Giang còn có diện tích rừng khá lớn gần 12.000 ha, đặc biệt rừng tự nhiên ở các Núi Cấm, Núi Cô Tô còn được bảo quản tốt tạo môi trường cho các loài động vật hoang dã về sinh sống như khỉ, heo rừng, thỏ, trăn và các loài chim… các khu rừng chàm đồng bằng ngoài chức năng phòng hộ cho nông nghiệp, còn là nơi cư trú ngụ và sinh sản lý tưởng cho các loài chim dưới nước Đặc biệt rừng tràm Trà Sư có đàn chim, cò sống và sinh sản lên đến hàng vạn con, trong đó có những loại chim quý như sếu đầu đỏ hàng năm về trú ngụ
2.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
An Giang nổi tiếng với Vía Bà Chúa Xứ hàng năm thu hút đông đảo du khách đến tham quan Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam tọa lạc tại phường Núi Sam, TP.Châu Đốc, tỉnh An Giang Đây là một di tích (lịch sử, kiến trúc và tâm linh) quan trọng của tỉnh và của khu vực Lễ Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được tổ chức trang trọng từ ngày 23 đến 27 tháng 4 âm lịch hàng năm, trong đó ngày vía chính là ngày 25 Lễ hội mang ý nghĩa đời sống tâm linh của người dân trong khu vực, tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt Khi đến An Giang du lịch bên cạnh viếng Miếu bà thì còn có thể tham quan Lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An…
Đặc biệt đến vùng Bảy Núi An Giang du khách còn được tham gia lễ hội đặc trưng của vùng Bảy Núi là lễ hội đua bò truyền thống của người Khmer ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Đây là lễ hội mang đậm nét sinh hoạt văn hóa độc đáo của người Khmer, nơi nuôi bò nhiều để lấy sức kéo Trường đua thường là một khu đất rộng khoảng 60m và dài khoảng 170m, được bao bởi bờ đất cao, đồng thời còn là nơi dành cho khán giả Phía dưới là đường đua dài 90m, rộng khoảng 4m, hai đầu đặt mốc xuất phát và đích đến Trước và sau mỗi lượt đua, bò được chăm sóc cẩn thận Lễ hội đua
bò của dân tộc Khmer hàng năm thường được tổ chức vào dịp lễ Đôlta
2.1.3 Đánh giá về tình hình phát triển du lịch của tỉnh An Giang
Thiên nhiên ưu đãi, cảnh quan đặc thù với núi rừng, sông nước và nhiều di tích văn hóa- lịch sử, có đường sông và đường bộ đến PhnômPhênh ngắn nhất
An Giang nằm ở ĐBSCL, là tỉnh đồng bằng có núi, là nơi có nhiều nguồn lực phát triển: nông nghiệp, thủy sản, thương mại, dịch vụ và du lịch, giao thông thủy bộ thuận tiện, danh lam thắng cảnh đẹp, nhiều di tích lịch sử lâu đời, lễ hội văn hóa dân tộc truyền thống, nổi tiếng với các làng nghề thủ công truyền thống như tơ lụa Tân Châu, mắm Châu Đốc, mộc Chợ Thủ, Bánh phồng Phú Tân, khô bò và các mặt hàng tiêu dùng khác Đặc biệt là dệt vải thủ công lâu đời của đồng bào Chăm và nghề nuôi
cá bè đặc trưng của vùng sông nước, An Giang có các cửa khẩu quốc tế, quốc gia là lợi thế để phát triển ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn phát triển toàn diện và
An Giang sẽ là cầu nối đồng thời là trung tâm để quan hệ với tiểu vùng sông Mêkông gồm: Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan và một số nước Đông Nam Á khác
Trang 33An Giang đã và đang khai thác các tiềm năng sẵn có của địa phương với những loại hình du lịch hấp dẫn để thu hút nhiều du khách Riêng các tour, tuyến trên địa bàn
đã được kết nối thành những tour tuyến, tuyến du lịch liên hoàn trong và ngoài tỉnh
Các năm qua lượt khách đến các khu, điểm du lịch đều tăng Lượt khách năm
2011 đạt 5.549.087 lượt người/năm, doanh thu đạt 235.506 triệu đồng/năm
Thời gian qua các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn đã quan tâm đầu tư xây dựng nâng cấp mở rộng quy mô kinh doanh của đơn vị mình, khai thác tiềm năng đặc trưng của cảnh quan môi trường sinh thái cũng như sinh hoạt văn hóa, thể thao, lễ hội truyền thống Qua đó, hình thành và phát triển thêm các loại hình dịch vụ du lịch phong phú mới lạ về chất lượng lẫn hình thức phục vụ
Dịch vụ du lịch trước mắt cũng như lâu dài là một thế mạnh của tỉnh, trên cơ sở quy hoạch, ưu tiên đầu tư nâng cấp, mở rộng các khu, cụm, điểm du lịch, nâng cấp các
lễ hội, cũng cố phát triển ngành nghề truyền thống, khuyến khích các thành phần kinh
tế đầu tư khách sạn, nhà hàng, dịch vụ y tế, giao thông, ngân hàng…để tăng nhanh hiệu quả dịch vụ du lịch
Tập trung hỗ trợ nâng cấp chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh theo hướng phát huy thế mạnh hiện có, đi sâu từng loại hình du lịch phù hợp với trình độ quản lý kinh doanh để tạo ra những sản phẩm du lịch có khả năng cạnh tranh, phát triển và vươn lên ra các thị trường trong nước và quốc tế
Khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào các hoạt động du lịch, giải trí, thể thao, nghỉ dưỡng…mà hiện nay chưa có điều kiện phát triển trên địa bàn nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng thu hút du khách và tăng doanh thu cho du lịch và các ngành dịch vụ có liên quan
Phát triển du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh, nên Tỉnh đã và đang tập trung đầu tư, khai thác để phát triển nhanh các khu di tích văn hóa lịch sử như: Núi Sam (TP.Châu Đốc), Núi Cấm (Tịnh Biên), đồi Tức Dụp ( Tri Tôn), văn hóa Óc Eo (Thoại Sơn), khu lưu niệm Bác Tôn (TP Long Xuyên) và khu du lịch sinh thái rừng Tràm Trà Sư (Tịnh Biên), khu du lịch cộng đồng ở Mỹ Hòa Hưng (Long Xuyên), Châu Phong (Tân Châu)
Kết hợp hài hòa giữa văn hóa tự nhiên và văn hóa lịch sử như: Tận dụng ưu thế
và bảo vệ cảnh quan môi trường thiên nhiên Trùng tu và tôn tạo phát huy giá trị các di tích lịch sử, các công trình văn hóa truyền thống
Du lịch An Giang còn hấp dẫn du khách ở các lễ hội văn hóa dân tộc từng bước được nâng cấp: lễ hội đua bò Bảy núi ở Tri Tôn, Tịnh Biên, Tết Ramada của người Chăm, các lễ giỗ danh nhân như Cố Quản Cơ Trần Văn Thành, giỗ Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu, lễ Đôlta của người Khmer, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam…và đã trở thành nét sinh họat văn hóa của địa phương
Hướng tới du lịch An Giang sẽ tổ chức hợp tác với du lịch Campuchia và các tỉnh ĐBSCL khai thác có hiệu quả du lịch tiểu vùng sông Mêkông: kết nối các tour,
Trang 34nhất là thực hiện các tour thích hợp phục vụ cho đồng bằng và người dân Campuchia được đi du lịch trong khu vực An Giang đang nổ lực để phát triển và khai thác tốt tiềm năng du lịch hiện có, đồng thời đang phấn đấu để nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch còn bị trùng lấp hoặc sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, đơn điệu
Hoạt động du lịch An Giang bước đầu đã đóng góp được nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao của du khách đến tỉnh Đây là một bước chuyển biến tích cực thông qua chương trình phát triển du lịch 2006 - 2010 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt đang triển khai thực hiện, là một tín hiệu vui báo hiệu cho du lịch An Giang đã và đang phát triển đúng hướng
2.2 Tiềm năng phát triển du lịch thành phố Châu Đốc
2.2.1 Tổng quan về thành phố Châu Đốc
2.2.1.1 Vị trí địa lý
Châu Đốc là thành phố trực thuộc tỉnh An Giang, sát biên giới Việt Nam với vương quốc Campuchia, cách thành phố Long Xuyên 54km theo quốc lộ 91
- Đông bắc giáp với huyện An Phú
- Tây bắc tiếp giáp với Campuchia
- Phía đông giáp với huyện Phú Tân
- Phía nam giáp với huyện Châu Phú
- Phía tây tiếp giáp với huyện Tịnh Biên
Thành phố Châu Đốc nằm ở ngã ba sông, nơi sông Hậu, sông Vàm Nao và sông Châu Đốc gặp nhau; giữa 4 cửa khẩu sầm uất là cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên- huyện Tịnh Biên, cửa khẩu quốc gia Khánh Bình- huyện An Phú và cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương- thị xã Tân Châu, cửa khẩu quốc gia Vĩnh Hội Đông- huyện An Phú Thành phố Châu Đốc được xem là cửa ngõ giao thương quan trọng của tỉnh An Giang và vùng Đồng bằng sông Cửu Long, là nơi tập trung hàng hóa buôn bán với Vương quốc Campuchia qua cả hai đường thủy, đường bộ Bên cạnh đó, với vị trí tiếp giáp với 4 cửa khẩu làm tăng tính đa dạng văn hóa dân tộc, ngôn ngữ giao tiếp, nền kinh tế thương mại Châu Đốc phát triển vượt bậc Đời sống kinh tế của người dân được cải thiện nhờ vào trao đổi buôn bán với nước bạn Thêm vào đó, tình hữu nghị láng giềng giữa TP.Châu Đốc với vương quốc Campuchia ngày càng khăng khít, thêm gắn bó hơn trong phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa, bản sắc dân tộc
Trang 36Sau khi vua Gia Long lên ngôi, năm 1805 đã đặt lại địa giới hành chính Châu Đốc thuộc huyện Tây Xuyên, trấn Hà Tiên, Châu Đốc lúc này gọi là Châu Đốc Tân Cương Năm 1808, Châu Đốc thuộc huyện Vĩnh Định, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh, thuộc Gia Định thành Năm 1815, triều Nguyễn cho xây thành Châu Đốc Đến
1825, Châu Đốc tách riêng thành Châu Đốc trấn
Năm 1832, vua Minh Mạng đổi trấn thành tỉnh, phủ Gia Định chia thành Nam
Kỳ lục tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, Hà Tiên và An Giang Trấn Châu Đốc đổi thành tỉnh An Giang, tỉnh lỵ đặt tại thành Châu Đốc Để xứng đáng là tỉnh lỵ, năm 1834 vua Minh Mạng cho triệt phá thành Châu Đốc cũ (1815) xây dựng thành Châu Đốc mới theo hình bát quái
Năm 1868, sau khi quân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, nhà cầm quyền thực dân chia Nam Kỳ thành 24 hạt Tham biện Trong đó, hạt Châu Đốc trông coi hạt Đông Xuyên (Long Xuyên) và Sa Đéc Ngày 30 tháng 12 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi hạt Tham biện thành tỉnh; chia An Giang thành 2 tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên
Trong Cách mạng tháng tám, lực lượng cách mạng khởi nghĩa giành chính quyền ngày 24 tháng 8 năm 1945 Đến 20 tháng 01 năm 1946, quân Pháp chiếm lại Châu Đốc
Theo sự phân chia của chính quyền Cách mạng, ngày 06 tháng 3 năm 1948, Châu Đốc thuộc huyện Châu Phú A của tỉnh Long Châu Hậu Đến cuối năm 1950, huyện Châu Phú A thuộc huyện Long Châu Hà Đến cuối năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm sát nhập Châu Đốc với Long Xuyên thành tỉnh An Giang, địa bàn Châu Đốc nằm trên xã Châu Phú thuộc tổng Châu Phú, quận Châu Phú tỉnh An Giang Từ năm 1957, Châu Đốc thuộc huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Năm 1964, sau khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa tách tỉnh, Châu Đốc thuộc tổng Châu Phú, quận Châu Phú, tỉnh Châu Đốc Đến giữa năm 1966, thành lập thị xã ủy Châu Đốc
Mùa nước năm 1967 thực hiện chỉ đạo của Khu ủy khu 8 và Tỉnh ủy An Giang trong hội nghị mở rộng tại núi Cô Tô, Châu Đốc được chọn làm mặt trận chính của tỉnh trong chiến dịch Xuân 1968 Năm 1971, huyện Châu Phú vẫn thuộc tỉnh An Giang sau khi tách tỉnh Long Châu Hà Cho đến tháng 5 năm 1974, huyện Châu Phú thuộc tỉnh Long Châu Hà theo Hội nghị thường trực Trung ương Cục cho đến ngày giải phóng Tháng 2/ 1976, thị xã Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang, gồm 2 xã: Châu Phú
Trang 37+ Sáp nhập 1/2 ấp Châu Thới 1 và 1/2 ấp Châu Thới 2 của phường Châu Phú A vào phường Châu Phú B (theo đường rãnh lòng kinh Vĩnh tế, qua lòng kinh cầu số 4 đến giữa lộ núi Sam – Châu Đốc)
+ Tách ấp Mỹ Chánh 1, 1/2 ấp Mỹ Hòa (theo kinh đào thẳng ra sông Hậu Giang) của xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, ấp Châu Long 1, ấp Châu Long 6 của phường Châu Phú B lập thành một xã lấy tên là xã Vĩnh Mỹ
- Quyết định 300-CP ngày 23 tháng 08 năm 1979 của Hội đồng Bộ trưởng, sáp
nhập xã Vĩnh Tế của huyện Châu Phú vào Châu Đốc
- Nghị định 29/2002/NĐ-CP ngày 22 tháng 03 năm 2002 của Chính phủ về việc
điều chỉnh địa giới hành chính:
+ Thành lập phường Núi Sam trên cơ sở 1.397 ha diện tích tự nhiên và 21.241 nhân khẩu của xã Vĩnh Tế
+ Sau khi thành lập phường Núi Sam, xã Vĩnh Tế còn lại 3.121 ha diện tích tự nhiên và 5.172 nhân khẩu
- Nghị định 53/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 05 năm 2003 của Chính phủ:
+ Thành lập phường Vĩnh Mỹ trên cơ sở 779,6 ha diện tích tự nhiên và 14.870 nhân khẩu của xã Vĩnh Mỹ
+ Đổi tên xã Vĩnh Mỹ thành xã Vĩnh Châu
- Nghị quyết 86/NQ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ về việc
2.2.2 Tiềm năng du lịch thành phố Châu Đốc
2.2.2.1 Tài nguyên tự nhiên
Châu Đốc là thành phố trực thuộc tỉnh An giang, sát biên giới Việt Nam với Vương quốc Campuchia, cách Thành phố Long xuyên 54km theo Quốc lộ 91 Đông bắc tiếp giáp huyện An phú; Tây bắc giáp Campuchia; phía Đông giáp huyện Phú tân; phía Nam giáp huyện Châu phú; phía Tây giáp huyện Tịnh Biên
Châu Đốc có vị trí địa lý khá đặc biệt nằm ở ngã ba sông, nơi sông Hậu và sông Châu Đốc, sông Vàm Nao gặp nhau; giữa 4 cửa khẩu kinh tế sầm uất là: cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên - huyện Tịnh Biên, cửa khẩu quốc gia Khánh Bình - huyện An Phú
và cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương - thị xã Tân Châu, cửa khẩu quốc gia Vĩnh Hội Đông- huyện An Phú Từ vị trí này, thành phố Châu Đốc được xem là cửa ngõ giao thương quan trọng của tỉnh An giang và vùng Đồng bằng sông Cửu long, là nơi tập trung hàng hoá buôn bán với Vương quốc Campuchia qua cả hai đường thuỷ, bộ
Thành phố Châu Đốc thuộc vùng đồng bằng của tỉnh An giang do phù sa sông Hậu bồi đắp Địa hình thấp dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Ở trung tâm có Núi
Trang 38Sam đột khởi lên giữa đồng bằng tạo nên cảnh quan độc đáo Phía đông có sông Châu Đốc và sông Hậu chảy theo chiều Bắc - Nam Phía tây có kênh Vĩnh Tế chạy song song với biên giới Campuchia, nối liền với thị xã Hà Tiên Địa hình chia cắt bởi các kinh rạch ngang dọc Với địa hình đa dạng, Châu Đốc có điều kiện phát triển về thương mại, dịch vụ, du lịch và nông nghiệp
Thành phố Châu Đốc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mang những đặc tính chung của khí hậu vùng ĐBSCL, nóng ẩm quanh năm, nhiệt độ bình quân hàng năm
250C – 290C, nhiệt độ cao nhất từ 360C – 380C, nhiệt độ thấp nhất hàng năm thường xuất hiện vào tháng 10, dưới 182C Khí hậu hàng năm chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 11 trùng với gió mùa Tây Nam; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau trùng với gió mùa Đông Bắc; lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1500mm Khí hậu, thời tiết Thành phố Châu Đốc có nhiều điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, thích nghi với các loại cây trồng; đặc biệt là cây lúa và cây màu Thành phố ít chịu ảnh hưởng của gió bão nhưng chịu sự tác động mạnh của chế độ thuỷ văn gây nên hiện tượng ngập lụt, sạt lỡ đất bờ sông…
Theo đặc điểm thổ nhưỡng, Châu Đốc có 6 nhóm đất chính; trong đó nhóm phù
sa ngọt và phù sa có phèn chiếm 72% diện tích tự nhiên Phần lớn đất đai của Châu Đốc rất màu mỡ, có độ thích nghi để canh tác, phù hợp với nhiều loại cây lương thực, cây ăn trái, một số cây công nghiệp nhiệt đới và một phần diện tích có khả năng dành cho chăn nuôi Trữ lượng nguồn nước của thành phố khá dồi dào, có thể khai thác và phục vụ sản xuất công nghiệp, sinh hoạt Hiện nay, Châu Đốc vẫn tiếp tục công trình cải tạo, nâng cấp và xây mới các nhà máy nước ở các khu dân cư tập trung và các cụm công nghiệp Rừng ở Châu Đốc đa phần là rừng đồi núi với diện tích 210ha, tập trung chủ yếu ở Núi Sam Trong đó, rừng trồng khoảng 99ha, còn lại là rừng tự nhiên thuộc rừng ẩm nhiệt đới, đa số là cây lá rộng với 154 loài cây quý hiếm, thuộc 54 họ
Từ những tiềm năng thuận lợi về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý đã tạo nên những ngọn núi hùng vĩ, với những phong cảnh đẹp đó là:
Núi Sam: là một địa danh, là điểm du lịch có nhiều di tích lịch sử văn hóa Núi
Sam cách trung tâm Thành phố Châu Đốc 5km, thuộc phường Núi Sam, một vùng đất mang đậm nét đặc thù của miền Tây Nam Bộ, thuộc Thành phố Châu Đốc; có núi, có sông, có đồng bằng bao la bát ngát và nhiều di tích, thắng cảnh cùng với huyền thoại, truyền thuyết dân gian phong phú, ly kỳ Núi Sam có tên gọi là “Học lãnh Sơn” nghĩa
là núi con Sam, vì nơi đây có rất nhiều Sam sinh sống Truyện kể rằng, “Khu vực Núi Sam xưa kia vốn là vùng đất còn tràn ngập nước biển Có hai vợ chồng nọ làm nghề chai lưới sống với nhau rất chung tình Sau đó, chẳng may người vợ chết, vì quá thương vợ nên người chồng không đem chôn mà để dưới thuyền để được gặp mặt hằng ngày Một hôm ông Bụt hiện lên, thấy tình cảnh như vậy ông Bụt cho viên ngọc và bảo ngậm xuống biển để tìm hồn vợ và hãy ôm lấy nàng về, nhưng cấm không được cười, lên tới bờ mới được nói chuyện với vợ Do vì quá vui mừng nên người chồng đã quên
Trang 39lời Bụt dặn, khi vừa lên tới mặt nước vội ôm chầm lấy nhau mà cười khiến cả hai cùng
bị chết chìm xuống biển không lên được nữa Thời gian trôi qua, tại vùng biển này tự nhiên xuất hiện một cặp sam và nổi lên một hòn núi lớn Kể từ đó, người dân trong vùng gọi ngọn núi này là Núi Sam”
Núi có diện tích khoảng 280 ha, với độ cao vừa phải (241m) Từ đỉnh núi, phóng tầm mắt, chúng ta có thể quan sát được biết bao cảnh đẹp nên thơ hùng vĩ: những cánh đồng, làng mạc cập bên con kênh Vĩnh Tế chạy thẳng tấp như sợi chỉ hoặc đưa mắt nhìn về cảnh Thất Sơn hùng vĩ giữa châu thổ bao la Dưới chân núi là những
di tích, danh thắng được bộ Văn Hóa, Thể Thao & Du Lịch Việt Nam công nhận là di tích quốc gia Đó là chùa thầy Tây An uy nghi, cổ kính Đó là khu lăng mộ Thoại Ngọc Hầu, nơi thờ vị tướng tài ba của dân tộc, người đã có công lớn trong việc đào kênh Vĩnh Tế giúp thuận lợi cho việc giao thông, buôn bán Và đặc biệt là Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam
2.2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Thành phố Châu Đốc là đô thị lớn thứ hai của tỉnh An Giang và là địa danh du
lịch nổi tiếng trong cả nước với chiều dài lịch sử gắn liền với những câu chuyện ly kỳ
về Bà Chúa Xứ Núi Sam, cũng như những sự kiện trong công cuộc gìn giữ đất nước như huy động sức dân đào kênh thủy lợi, quân sự Vĩnh Tế, chiến đấu trong các thời kỳ Pháp, Mỹ, chiến tranh biên giới Tây Nam Châu Đốc còn là trung tâm du lịch của tỉnh
An giang, là thành phố đồng bằng đặc biệt có sông, có núi với phong cảnh tự nhiên hấp dẫn và nhiều Di tích lịch sử - văn hoá được xếp hạng cấp Quốc gia và cấp Tỉnh; địa điểm du lịch phong phú đa dạng được trải đều và liên hoàn trên toàn thành phố Du lịch, hành hương hấp dẫn khách đến tham quan ngày càng đông Ngoài ra thành phố Châu Đốc còn lưu giữ và bảo tồn nhiều di tích lịch sử, văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, rất thuận lợi cho phát triển du lịch trong đó nổi bật nhất là Lễ hội vía Bà Chúa Xứ Núi Sam đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin và Tổng cục du lịch Việt Nam phê duyệt nâng cấp thành lễ hội cấp quốc gia từ năm 2001, hàng năm thu hút trên 3,5 triệu lượt khách du lịch Nhiều di tích khác đã được xếp hạng như Chùa Tây An, Lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Hang, và các khu danh thắng Núi Sam như đồi Bạch Vân, vườn Tao Ngộ, nhà nghĩ mát bác sĩ Nu, Pháo Đài, miếu cụ nghè Trương Gia Mô, là những lợi thế nổi bật và là tiềm năng to lớn của thành phố và đây cũng là những điều kiện đã giúp cho du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố trong thời gian gần đây
Bên cạnh đó du khách còn có thể ngồi thuyền tham quan dòng sông Hậu, dạo quanh làng bè, khu chợ nổi trên sông và sang Cồn tiên tham quan thánh đường Hồi giáo, xem nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Chăm An giang và mua sắm hàng hoá, đặc sản tại chợ Châu Đốc như: mắm thái, đường thốt nốt, khô bò, khô cá tra phồng… Châu Đốc còn là nơi hội tụ, bảo tồn di sản văn hóa của bốn dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khmer
Trang 40*Một số điểm di tích lịch sử tiêu biểu
Miếu Bà Chúa Xứ: là một di tích nổi tiếng ở Núi Sam, hàng năm thu hút hàng
triệu lượt người đến cúng bái, tham quan Khách hành hương không những đến từ các tỉnh lân cận mà còn từ các tỉnh xa như miền Đông, miền Trung, … tạo nên một mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo ở Núi Sam suốt nhiều tháng
Trong dân gian tương truyền rằng: cách đây gần 200 năm, núi Sam còn hoang
vu, cây cối rậm rạp, nhiều thú dữ, dân cư thưa thớt, giặt biên giới thường xuyên khuấy nhiễu
Một hôm, có 1 toán giặc Xiêm leo lên núi Sam phát hiện được pho tượng cổ bằng đá rất đẹp Động lòng tham, chúng xeo nại, tìm cách khiên nhưng không thể nào
xê dịch được Sau hàng giờ vất vả với pho tượng, chúng tức giận, đập phá làm gãy cách tay trái pho tượng
Sau khi chúng bỏ đi, trong làng có 1 bé gái đang đùa giỡn bỗng dưng ngồi lại, mặt đỏ bừng, đầu lắc lư, tự xưng là Chúa Xứ Thánh Mẫu, nói với các bô lão: “Tượng
Bà đang ngự trên núi, bị giặc Xiêm phá hại, dân làng hãy đưa bà xuống” Dân làng kéo nhau lên núi, quả thật Bà đang ngự gần trên đỉnh Họ xúm nhau khiêng tượng xuống làng với mục đích giữ gìn và phụng thờ Bao nhiêu tráng đinh lực điền được huy động, các lão làng tính kế để đưa tượng đi nhưng không làm sao nhấc lên được dù pho tượng không phải là quá lớn, quá nặng
Các cụ bàn nhau chắc là chưa trúng ý Bà nên cử người cầu khấn Quả nhiên đứa
bé hôm nọ lại được Bà đạp đồng mách bảo: “Hãy chọn chín cô gái đồng trinh để đem
Bà xuống núi”
Dân làng mừng rỡ tuyển chọn chín cô gái dẫn lên núi, xin phép Bà được đưa cốt tượng xuống Lạ thay, chín cô gái khiêng tượng Bà đi một cách nhẹ nhàng Xuống đến chân núi, tượng bỗng nặng trịch, các cô phải đặt xuống đất và không nhấc lên nổi nữa Dân làng hiểu bà muốn ngự nơi đây nên tổ chức xin keo, được Bà chấp thuận và lập miếu thờ Hôm đó là ngày 25 tháng 4 âm lịch, dân làng lấy ngày này làm
lễ Vía Bà
Lúc đầu, miếu Bà được xây dựng đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng, lưng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra cánh đồng bát ngát Sau nhiều lần trùng tu, miếu Bà khang trang hơn Năm 1870, miếu được xây lại bằng đá miểng và lợp ngói, thu hút khách thập phương đến chiêm bái, tín ngưỡng
Kiến trúc
Ngôi miếu có bố cục kiểu chữ Quốc, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng Các hoa văn ở cổ lầu chánh điện thể hiện đậm nét nghệ thuật Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi lộng lẫy.Đặc biệt,