1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò của thành phần kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc dân lí luận và thực tiễn

66 569 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 2,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy tại nghị quyết Đại hội Đảng IX đã khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng ta là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật, c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 36 (2010 – 2014)

VAI TRÒ CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ

NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CẦN THƠ 11/2013

Sinh viên thực hiện:

VÕ HỒNG ĐĂNG PHONG MSSV: 5106081

Lớp: Luật Thương Mại 2 - K36

Giảng viên hướng dẫn:

Ths ĐINH THANH PHƯƠNG

Bộ môn: Luật Hành Chính

Trang 2

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian có hạn và hiểu biết của bản thân

có giới hạn nên Luận văn tốt nghiệp khó tránh khỏi những thiếu sót Do đó, rất mong quý thầy cô, anh chị và các bạn đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cám ơn quý thầy cô khoa Luật đặc biệt là những quý thầy cô

đã trực tiếp dạy cho em của trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình chỉ dạy, truyền đạt cho

em những kiến thức quý báo trong suốt những năm Đại học để em tự tin bước tiếp Em cũng xin gửi lời cám ơn chân thành đến thầy Đinh Thanh Phương đã tận tình hướng dẫn

em hoàn thành luận văn này

Em xin kính chúc quý thầy cô luôn dồi dào sức khoẻ, công tác tốt

Xin chân thành cám ơn SVTH: Võ Hồng Đăng Phong

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2013

Giảng viên hướng dẫn

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2013

Hội đồng phản biện

Trang 5

MỤC LỤC

Trang LỜI CÁM ƠN

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ KINH TẾ VÀ THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC 3

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ KINH TẾ 3

1.1.1 Khái niệm kinh tế 3

1.1.2 Khái niệm chế độ kinh tế 3

1.1.3 Nội dung của chế độ kinh tế 4

1.2 THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC 15

1.2.1 Khái niệm về thành phần kinh tế Nhà nước 15

1.2.2 Quá trình hình thành thành phần kinh tế Nhà nước của Việt Nam15 1.2.3 Các bộ phận hợp thành kinh tế Nhà nước và chức năng của từng bộ phận 16

1.2.4 Cơ sở lý luận cho tính chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước 18

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC 21

2.1 VAI TRÒ VỀ MẶT KINH TẾ CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC21 2.2 VAI TRÒ VỀ MẶT CHÍNH TRỊ CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC 31

2.3 MỘT SỐ VAI TRÒ KHÁC CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC 38

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ THỰC TRẠNG VỀ VAI TRÒ CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 40

3.1 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC VỀ TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 41

3.1.1 Thực trạng về tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước 41

3.2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC VỀ CỔ PHẦN HOÁ

Trang 6

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 48

3.2.1 Thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước 48 3.2.2 Giải pháp đẩy mạnh cổ phần hoá của doanh nghiệp Nhà nước 49 3.3 Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh và tổ chức quản lí của các doanh nghiệp Nhà nước 53

3.3.1 Thực trạng hiệu quả kinh doanh và tổ chức quản lí của doanh nghiệp Nhà nước 53

3.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh và tổ chức quản lí của doanh nghiệp Nhà nước 54 KẾT LUẬN 58 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU



1 Tính cấp thiết của đế tài

Đất nước ta đang bước vào thời kì phát triển đổi mới, thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội Chính sách mới nước ta hiện nay là cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước bằng pháp luật, chính sách, kế hoạch và các công cụ khác Trong hơn 10 năm đổi mới nền kinh tế đất nước, vai trò chủ đạo, dẫn dắt, điều tiết nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của kinh tế Nhà nước luôn được Đảng quan tâm, coi trọng và đạt được những thành tựu bước đầu rất khả quan cả trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, cả đường lối đối nội và đối ngoại của đất nước Chính vì vậy tại nghị quyết Đại hội Đảng IX đã khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng ta là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân và một lần nữa nhấn mạnh nhiệm vụ “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế Nhà nước để thực hiện tốt vai trò chủ đạo của nền kinh tế ”

Thực tế đã chứng minh từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì vai trò của thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân hết sức quan trọng, đặc biệt là trong những năm gần đây, kinh tế Nhà nước đã

và đang tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế thị trường phát huy mặt tích cực và khắc phục những mặt hạn chế, đời sống của toàn thể nhân dân thực sự được cải thiện

Để phát huy hơn nữa vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi kinh tế Nhà nước phải đổi mới để giữ vững vai trò chủ đạo, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển Vì vậy việc nghiên cứu vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là hết sức quan trọng Do đó,

người viết đã chọn đề tài “Vai trò của thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế

quốc dân” để làm đề tài nghiên cứu cho bài luận văn kết thúc chương trình cử nhân luật

của mình

2 Nội dung đề tài

Khi nghiên cứu đề tài “Vai trò của thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân” người viết xác định nội dung chính của đề tài là phần lí luận chung về chế độ kinh tế ở nước ta và thành phần kinh tế Nhà nước qua đó làm nổi bật lên vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân của nước ta hiện nay Từ đó,

Trang 8

người viết chỉ ra một số thực trạng đang tồn tại và giải pháp khắc phục nhằm tăng cường vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế theo định hướng mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của đề tài “Vai trò của thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh

tế quốc dân” là làm rõ và nổi bật nội dung vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước trong Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001 quy định Thông qua đó người viết phân tích vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước đối với kinh tế, đối với chính trị và một số vai trò quan trọng khác của đời sống đã đạt được trong quá trình đổi mới theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời thông qua đó những người viết chỉ ra một số thực trạng và giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện vai trò của thành phần kinh tế Nhà nước góp phần thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển bền vững theo định hướng của Đảng và Nhà nước

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, người viết đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu và tổng hợp những bài nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam…, kết hợp phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu, liệt kê, đánh giá,…những quy định của pháp luật để làm rõ vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước từ đó được một bài nghiên cứu hoàn chỉnh

6 Bố cục của đề tài

Để giúp người đọc nắm bắt dễ dàng nội dung của đề tài thì bên cạnh phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, người viết chia bố cục nội dung của đề tài thành ba chương:

Chương 1: Lý luận chung về chế độ kinh tế và thành phần kinh tế Nhà nước Chương 2: Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước

Chương 3: Một số thực trạng về vai trò của thành phần kinh tế Nhà nước và giải pháp khắc phục

Trang 9

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ KINH TẾ VÀ THÀNH PHẦN

KINH TẾ NHÀ NƯỚC

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ KINH TẾ

Trong phần này, người viết trình bày khái quát chung về chế độ kinh tế được quy định tại chương hai Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001 của nước ta Trước hết là nêu lên khái niệm về kinh tế, khái niệm về chế độ kinh tế Sau đó là đi sâu phân tích về nội dung của chế độ kinh tế

1.1.1 Khái niệm kinh tế

Kinh tế là một thuật ngữ khá phức tạp, có nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau

về kinh tế Xét về mặt danh từ thì kinh tế là tổng thể nói chung những quan hệ sản xuất của một hình thức kinh tế - xã hội nhất định (như kinh tế phong kiến, kinh tế tư bản hay kinh tế xã hội chủ nghĩa) Hoặc kinh tế là tổng thề nói chung những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất của mình (như phát triển kinh tế, kinh tế quốc dân ) xét về mặt tính từ thì kinh tế có liên quan tới vật chất của con người (như sử dụng đòn bẩy kinh tế để phát triển) Hoặc kinh tế có tác dụng mang lại hiệu quả tương đối lớn (đi làm kinh tế).1

Như vậy, kinh tế nói chung là những hoạt động của con người nhằm biền đổi những

1.1.2 Khái niệm chế độ kinh tế

Với tư cách là đạo luật cơ bản của mỗi quốc gia, Hiến pháp ít hay nhiều phải có quy định về chế độ phát triền kinh tế Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001 của nước ta

đã dành hẳn một chương về quy định chế độ kinh tế Có nhiều cách hiểu khác nhau về chế độ kinh tế

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam có định nghĩa:

“ Chế độ kinh tế là tổng thể các thể chế đặc trưng cho quy định các điều kiện, các phương thức tổ chức và các chính sách, cơ chế hoạt động của một nước trong từng thời gian Có nhiều loại chế độ kinh tế: chế độ kinh tế tự do, chế dộ kinh tế chỉ huy, chế độ kinh tế thị trường, chế độ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, chế độ kinh tế mở, chế độ kinh

tế tự cấp tự túc Người ta thường phân biệt một cách máy móc hai chế độ kinh tế điển hình là chế độ kinh tế tự do theo cơ chế thị trường và chế độ kinh tế chỉ huy theo cơ chế

Trang 10

tập trung kế hoạch hoá, đặc trưng cho hai hệ thống kinh tế xã hội: tư bản chủ nghĩa và xã

hội chủ nghĩa ( theo mô hình cũ)”.3

Chế độ kinh tế là một bộ phận hợp thành chế độ xã hội của một quốc gia Nó bao gồm một tổng thể các quy định pháp luật ghi nhận những quan hệ kinh tế phù hợp với bản chất Nhà nước, truyền thống lịch sử và hoàn cảnh lịch sử khác Các quan hệ này vừa

là yếu tố quyết định tính chất của Nhà nước, vừa là cơ sở pháp lý kinh tế cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước Dưới gốc độ đó chế độ kinh tế là chế độ quan trọng của ngành Luật Hiến pháp

Theo tập bài giảng Luật Hiến pháp Việt Nam:

Chế độ kinh tế bao gồm trước hết là chính sách phát triển nền kinh tế Chúng định hướng cho sự phát triển nền kinh tế phù hợp với điều kiện của đất nước Quan hệ nền tảng quyết định tính chất của chế độ kinh tế là quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất Nhà nước xác định các loại hình sở hữu thích hợp, quy định chế độ pháp lý đối với từng hình thức sở hữu đó Chính sách về lao động sản xuất, phân phối và tiêu dùng thể hiện quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất Chúng cũng là một yếu tố của chế độ kinh tế,

Như vậy, chế độ kinh tế là một hệ thống các quan hệ kinh tế được pháp luật quy định thể hiện định hướng phát triển kinh tế, tính chất và hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất, các nguyên tắc về lao động sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm xã hội và

tổ chức quản lý nền kinh tế

1.1.3 Nội dung của chế độ kinh tế

Chế độ kinh tế được ghi nhận trong Hiến pháp là tổng hợp các quan hệ kinh tế cơ bản thể hiện bản chất của nền kinh tế trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nước Chế độ kinh tế của Việt Nam hiện nay bao gồm những nội dung chính sau đây:5

- Mục đích và phương hướng phát triển chính sách kinh tế của Nhà nước;

- Các hình thức sở hữu;

- Các thành phần kinh tế của nước ta;

- Chính sách lao động sản xuất, phân phối và tiêu dùng;

- Chính sách quản lí kinh tế của Nhà nước

Trang 11

mục đích và phương hướng của chính sách để từ đó thấy được định hướng mà Đảng và Nhà nước ta vạch ra

1.3.1.1.1 Khái niệm về chính sách phát triển kinh tế

Chính sách phát triển kinh tế là việc định hướng chiến lược phát triển kinh tế, là tập hợp những chủ trương, kế hoạch và hành động cụ thể về phương diện kinh tề nhằm đạt được mục đích nhất định dựa vào đường lối, chính sách chung và tình hình thực tế của đất nước trong từng giai đoạn mà Nhà nước đề ra những mục tiêu và phương hướng thực hiện mục tiêu đó một cách đúng đắn nhất

Như vậy, chính sách phát triển kinh tế là một trong những nội dung quan trọng của chế độ kinh tế, đó là sự định hướng cho cả một giai đoạn phát triển của đất nước Vì vậy, chính sách phát triển kinh tế không thể nặn ra ngay từ đầu mà đó là sự tổng kết thực tiễn, rút ra bài học nâng lên lí luận và dự báo cho tương lai phát triển.6

1.1.3.1.2 Mục đích của chính sách phát triển kinh tế

Mục đích phát triển chính sách kinh tế của Nhà nước ta là “làm cho dân giàu,

nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên

cơ sở phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế… thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kĩ thuật, và

không phải một bộ phận nào Giàu là giàu cả về kinh tế vật chất lẫn giàu văn hoá, tinh thần Nước mạnh là một quốc gia mạnh cả về kinh tế, chính trị, văn hoá lẫn an ninh, quốc phòng, đối ngoại Mạnh trong xây dựng kinh tế phát triển, văn hoá phát triển, chính trị ổn định, quốc phòng và an ninh vững chắc

Vì thế, để thực hiện tốt mục đích phát triển kinh tế đó Nhà nước cần ban hành và thực hiện các chính sách kinh tế thông qua việc đề ra những chiến lược phát triển kinh tế

để thúc đẩy và phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, tạo điều kiện cho các chủ thể bình đẳng về kinh tế cũng như trước phát luật, mở rộng quan hệ kinh tế, thúc đẩy khoa học – kĩ thuật phát triển

1.1.3.1.3 Phương hướng phát triển chính sách kinh tế nước ta

Từ những phương hướng chủ yếu của việc đổi mới kinh tế đã được Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng đề ra chủ trương: Phát triển nền kinh tế hàng

hoá8 nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Trên cơ sở thể chế đường lối đổi mới nền kinh tế đó, Hiến

Trang 12

pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001 đã xác định phương hướng phát triển kinh tế của Nhà

nước ta là: “Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực

chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức

Quy định trên cho thấy phương hướng phát triển chính sách kinh tế ở nước ta là

phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường10 có định hướng

xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp11 kém phát triển, để phát huy tiềm năng của mỗi thành phần kinh tế, tiến tới sự phân công lao động xã hội phù hợp với năng lực sản xuất của người lao động, của mỗi đơn vị kinh tế

Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, là mô hình kinh

tế mà ở đó các quan hệ kinh tế đều được thực hiện trên thị trường, thông qua quá trình

đẩy quan hệ hợp tác, liên kết tích luỹ đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, làm cho nền kinh

tế phát triển năng động

Đồng thời, nền kinh tế thị trường nhất thiết phải có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bởi vậy, bên cạnh mặt tích cực, nền kinh tế thị trường có tác dụng phát huy tính năng động, sáng tạo và hiệu quả của các đơn vị kinh tế, tạo điều kiện để các đơn vị kinh tế học hỏi kinh nghiệm, áp dụng khoa học và công nghệ để vươn lên thì kinh tế thị trường còn có những mặt tiêu cực nhất định, vì chạy theo lợi nhuận các nhà sản xuất, kinh doanh có thể gây nhiều hậu quả xấu như làm hàng giả, hàng kém chất lượng, buôn lậu, làm phân hoá giàu nghèo

Vì vậy, để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường thì nhất thiết phải có sự quản lí của Nhà nước để phát triển nền kinh tế thị trường đi đúng hướng, công cụ quản lí chủ yếu đó bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách, công cụ quản lí này sẽ bảo đảm môi trường phát lí an toàn và ổn định cho toàn thể nhân dân lao động

1.1.3.2 Chế độ sở hữu

Cùng với chính sách kinh tế, chế độ sở hữu là yếu tố cơ bản trong chế độ kinh tế Chính vì vậy mà việc điều chỉnh các quan hệ sở hữu luôn luôn đặt ra đối với Hiến pháp các nước cũng như Hiến pháp nước ta

9 Điều 15, Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001

10 Cơ chế thị trường là cơ chế kinh tế thông qua thị trường để tự điều chỉnh các cân đối của kinh tế theo yêu cầu của

các quy luật: giá trị, cạnh tranh, cung cầu và sự bình đẳng của các thành phần kinh tế

11 Kinh tế kế hoạch tập trung là một nền kinh tế trong đó Nhà nước kiểm soát toàn bộ các yếu tố sản xuất và giữ

quyền quyết định việc sử dụng các yếu tố sản xuất cũng như phân phối về thu nhập Nhà nước quản lý trực tiếp bằng

kế hoạch quy định toàn bộ việc ra cái gì, sản xuất bao nhiêu và phân phối cho ai

12

Bộ Gáo dục và Đào tạo: Giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.254

Trang 13

 Khái niệm chế độ sở hữu:

Chế độ sở hữu được hiểu là mối quan hệ sở hữu (mối quan hệ bên trong của quan

hệ giữa con người với con người về vật chiếm hữu của cải vật chất của xã hội) Mỗi hình thái kinh tế - xã hội điều có quan hệ sở hữu đặc trưng và gọi tên của nó cũng theo quan hệ

sở hữu đặc trưng đó Chẳng hạn như: sở hữu phong kiến, sở hữu tư bản chủ nghĩa, sở hữu

xã hội chủ nghĩa Những quan hệ sở hữu đó được thể hiện dưới những hình thức pháp lý

nhất định gọi là chế độ sở hữu Chế độ sở hữu bao gồm các quyền như: quyền sở hữu,

 Hình thức sở hữu:

Hiện nay, ở nước ta đang tồn tại những hình thức sở hữu chủ yếu sau: sở hữu toàn

► Sở hữu toàn dân (hay sở hữu Nhà nước)

Đây là hình thức sở hữu xã hội chủ nghĩa có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Nó bao quát những tư liệu chủ chốt quyết định sự phát triển của nền kinh tế

Sở hữu Nhà nước còn gọi là sở hữu toàn dân vì bản chất giai cấp của Nhà nước ta

là Nhà nước của nhân dân lao động “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” cho nên những

gì thuộc sở hữu Nhà nước đều được sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân

và Nhà nước là đại diện cho nhân dân Bởi vì, toàn dân không thể tự mình thực hiện các quyền của chủ sở hữu, không thể cứ mỗi khi thuê hoặc chuyển nhượng tài sản thuộc sở hữu toàn dân lại phải trưng cầu ý dân Vì vậy mà Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001

quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, vùng trời… Cùng các tài nguyên khác mà pháp

diện cho sở hữu toàn dân, Nhà nước thực hiện quyền sở hữu đối với toàn dân bằng cách giao cho cơ quan quản lí Nhà nước điều hành, quản lí, sử dụng để phát triển kinh tế xã hội phục vụ lợi ích chung cho nhân dân Chính vì thế mà sở hữu Nhà nước hay sở hữu toàn dân được hiểu như nhau

- Chủ thể của sở hữu Nhà nước

Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân Với tư cách

là đại diện cho toàn thể nhân dân, Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân theo quy tại Điều 17, Hiến pháp 1992 đó là những tư liệu sản xuất, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, đồng thời trên cơ

sở cụ thể hoá Hiến pháp 1992 thì Bộ luật dân sự 2005 cũng quy định: “Nước cộng hoà xã

Trang 14

hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu Nhà

pháp luật quy định, Nhà nước có đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản.17

Tuy nhiên, khác với chủ thể khác Nhà nước là chủ thể đặc biệt, Nhà nước thể hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu Nhà nước một cách gián tiếp, Nhà nước trực tiếp ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong đó quy định cho các cơ quan tổ chức, cá nhân thực hiện các quyền năng nhất định đối với tài sản thuộc sở hữu Nhà nước

- Khách thể của chủ sở hữu Nhà nước

Khách thể của chủ sở hữu Nhà nước rất đa dạng, bao gồm nhiều tài sản đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa đối với đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng và

được quy định tại Hiến pháp 1992: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên

trong lòng đất, phần vốn và tài sản do nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp công trình thuộc các ngành các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội… cùng nhiều tài sản khác mà pháp

thể của sở hữu Nhà nước có trong tất cả các lĩnh vực, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông Trên cơ sở cụ thể hoá Điều 17, Hiến pháp 1992 và Bộ luật dân sự 2005 còn quy

định có những khách thể thuộc sở hữu Nhà nước đó là: Những tài sản là bất động sản mà

chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản; tài sản là vật chứng vụ án có quyết

khách thể của sở hữu Nhà nước là rất rộng và không hạn chế

► Sở hữu tập thể

Sở hữu tập thể là sở hữu chung của những người lao động trong mỗi tổ chức kinh

tế tập thể, đó là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế ổn định khác do các cá nhân, hộ gia đình cùng góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc, tự nguyện, bình đẳng, dân

- Chủ thể của sở hữu tập thể

Dựa trên các quy định của Hiến pháp 1992 và được thể chế hoá trong Bộ luật Dân

sự 2005 (Điều 208) thì chủ thể của sở hữu tập thể là các hợp tác xã21, các tổ chức chính

182, Điều 192, Điều 195 Bộ luật Dân sự 2005)

18 Điều 17, Hiến pháp 1992(sửa đổi, bổ sung 2001)

19

Điều 239, Điều 240, Điều 241, Bộ luật Dân sự 2005

20 Điều 208, Bộ luật Dân sự 2005

21 Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các hộ gia đình, pháp nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu lợi ích

chung, tự nguyện góp vốn, góp sức, lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã (Điều 1, Luật Hợp tác xã 2003)

Trang 15

trị xã hội, các tổ hợp tác.22

- Khách thể của sở hữu tập thể

Theo quy định của Hiến pháp 1992 thì: Kinh tế tập thể do công nhân góp vốn, góp

sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự

liệu sản xuất cần thiết cho sự hoạt động của hợp tác xã và những tư liệu dùng trong sinh hoạt

► Sở hữu tư nhân

Sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu của một cá nhân đối với tư liệu sản xuất (tư hữu) Đây là hình thức sở hữu cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình trong đó có vốn,

tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng Sở hữu tư nhân bao gồm: sở hữu cá thể, tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân

- Chủ thể của sở hữu tư nhân

Hiến pháp 1992 không phân biệt giữa cá nhân và sở hữu tư nhân Vì vậy, chủ thể của sở hữu tư nhân có thể là công dân Việt Nam, là một hay một nhóm người như của người kinh doanh, nhóm kinh doanh

- Khách thể của sở hữu tư nhân

Theo quy định của Hiến pháp 1992 thì: Công dân có quyền sở hữu thu nhập hợp

pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp,

liệu dùng trong sản xuất và sinh hoạt Đồng thời để cụ thể hoá Hiến pháp thành bộ luật

Dân sự 2005 còn quy định tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân bao gồm: thu nhập hợp

pháp, của cải để dành, nhà, tư liệu trong sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức

1.1.3.3 Các thành phần kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã tuyên bố xây dựng

“…Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

nền kinh tế được Hiến pháp 1992 xác định gồm: “ Kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh

tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có

22 Tổ hợp tác: Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã,

phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự (Điều 111, BLDS 2005)

23 Điều 20, Hiến pháp 1992(sửa đổi, bổ sung 2001)

24 Điều 58, Hiến pháp 1992(sửa đổi, bổ sung 2001)

25 Điều 212, Bộ luật Dân sự 2005

26

Điều 15, Hiến pháp 1992(sửa đổi, bổ sung 2001)

Trang 16

vốn đầu tư nước ngoài với nhiều hình thức…”27

 Thành phần kinh tế Nhà nước

Kinh tế Nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước, ngân hàng Nhà nước, quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm Nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước có thể đưa vào vòng

Là thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất, công cụ sắc bén

Hiện nay, kinh tế Nhà nước đang củng cố và phát triển nhất là trong các ngành và lĩnh

vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng

 Thành phần kinh tế tập thể

Kinh tế tập thể là một hình thức tổ chức kinh tế của những người lao động sản xuất nhỏ dựa trên sự liên kết kinh tế theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi ở những mức độ khác nhau để giải quyết có hiệu quả hơn những vấn đề trong sản xuất kinh doanh bảo đảm lợi ích của từng thành viên Kinh tế tập thể được hình thành và phát triển

Hiện nay, kinh tế tập thể được “Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các

 Thành phần kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu

- Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản

- Kinh tế tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế tư hữu nhưng có thuê lao động, tuy

29 Điều 19, Hiến pháp 1992(sửa đổi, bổ sung 2001)

30 Hoàng Thị Bích Loan, Vũ Thị Khoa: Hỏi và Đáp Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Nxb Chính trị-Hành chính, Hà Nội,

Đỗ Nhật Tân: Đổi mới và phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam, Tạp chí cộng sản, số 66, 2004, tr.12, tr.14

34 Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh: Đề cương bài giảng kinh tế chính trị Mác-Lênin, Nxb Đại học quốc

gia thành phố Hồ Chí Minh, TP.Hồ Chí Minh, 2005, tr.211

35 Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh: Đề cương bài giảng kinh tế chính trị Mác-Lênin, Nxb Đại học quốc

gia thành phố Hồ Chí Minh, TP.Hồ Chí Minh, 2005, tr.211

Trang 17

nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động và vốn góp của gia đình.36

 Kinh tế tư bản tư nhân

Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên cơ sở chiếm hữu tư liệu tư

Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, kinh tế tư nhân không có điều kiện tồn tại, bị coi là loại hình kinh tế xấu, vì nó là tàn dư của chế độ cũ, mang nặng tính bót lột,

Từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách đổi mới kinh tế chủ trương

xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, kinh tế tư nhân bắt đấu có

Với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nhằm giải phóng và khai thác mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất, kinh tế tư nhân có điều kiện phục hồi và phát triển, ngày càng khẳng định là bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân

 Thành phần kinh tế tư bản Nhà nước

Thành phần kinh tế tư bản Nhà nước đó là hình thức tổ chức liên kết kinh tế tư bản

tư nhân, kinh tế tư nhân, với Nhà nước xã hội chủ nghĩa Đó là hình thức kinh tế hiện đại

để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thành kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, là hình thức kinh tế kết hợp nội lực với ngoại lực trong thực hiện chính

trong việc góp phần định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế ấy Thế nên, sự phát triển

kinh tế tư bản nhà nước có ý nghĩa sâu sắc về kinh tế và chính trị trong thời kỳ quá độ lên

Nhà nước quy định các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và

36 Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh: Đề cương bài giảng kinh tế chính trị Mác-Lênin, Nxb Đại học quốc

gia thành phố Hồ Chí Minh, TP.Hồ Chí Minh, 2005, tr.212

37 Hồ Văn Vĩnh, Viện nghiên cứu và phát triển tp Hồ Chí Minh: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về phát triển kinh

tế tư nhân ở nước ta, 2012, http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/cac-khu-vuc-kinh-te , [truy cập ngày 06/09/2012]

38 Hồ Văn Vĩnh, Viện nghiên cứu và phát triển tp Hồ Chí Minh: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về phát triển kinh

tế tư nhân ở nước ta, 2012, http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/cac-khu-vuc-kinh-te , [truy cập ngày 06/09/2012]

39 Trần Quế Phương: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ 21, Nxb Khoa học xã hội,

Trang 18

tài sản hợp pháp được pháp luật bảo hộ Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định

nước ngày càng phát triển

 Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu vốn của người và tổ chức nước ngoài được phép hoạt động ở Việt Nam Nó bao gồm những doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước ta thông qua các hình thức công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, hợp tác kinh doanh

quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của nước ta thông qua bổ sung nguồn vốn đầu tư, chuyển giao và phát triển công nghệ, nâng cao năng lực quản lý, tạo việc làm

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài góp phần rất lớn vào tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thúc đẩy tiến trình hội nhập

Trong khuôn khổ luật định, Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước

ngoài đầu tư vốn và công nghệ vào Việt Nam Nhà nước đảm bảo quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các cá nhân, tổ chức nước ngoài Ngoài ra, Nhà nước còn khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam định cư ở nước

“Nhà nước bảo hộ và khuyến khích tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư

ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế

- xã hội trên lãnh thổ Việt Nam theo quy đinh người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam” Điều đó đã tạo điều kiện cho thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng phát triển

Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là cơ cấu kinh tế trong đó các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển như một tổng thể, giữa chúng có quan hệ vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau Sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và là vấn đề tất yếu khách quan

44 Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin về thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001,tr.201

45

Điều 25, Hiến pháp 1992(sửa đổi, bổ sung 2001)

Trang 19

1.1.3.4 Chính sách lao động sản xuất, phân phối và tiêu dùng 46

 Chính sách lao động

Lao động là hoạt động có mục đích, ý thức của con người nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của đời sống xã hội Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở cơ bản trong các hoạt động xã hội của con người, là cơ sở của đời sống xã hội loài người Vì thế,

Hiến pháp nước ta quy định “ Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân ”47 nghĩa là công dân có quyền lao động để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho đời sống của mình với những cách thức khác nhau, tuy nhiên lao động phải phù hợp với quy định phát luật

có ý nghĩa trong việc thúc đẩy sự tích cực của người lao động vào việc tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất Vì thế cần có chính sách thích hợp để thu hút sự đóng góp của các thành phần kinh tế, mọi nhà đầu tư sản xuất, tạo nhiều việc làm cho người lao động

 Chính sách tiêu dùng

Giữa sản xuất và tiêu dùng có mối quan hệ chặt chẽ, qua lại lẫn nhau Nếu như sản xuất là khâu tạo ra sản phẩm xã hội thì tiêu dùng là mục đích của sản xuất, tạo ra nhu cầu thúc đẩy sản xuất phát triển, là căn cứ để xác định khối lượng, cơ cấu, chất lượng của sản phẩm Như vậy, tiêu dùng cũng có tác động mạnh mẽ đối với sản xuất Vì vậy cần phải có chính sách lao động sản xuất thích hợp trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo

cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.1.3.5 Chính sách quản lí Nhà nước về kinh tế

Hoạt động quản lí Nhà nước về kinh tế có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhất

là trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị

trường như hiện nay Do đó Hiến pháp của Việt Nam quy định nguyên tắc: “Nhà nước

thống nhất quản lí nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách, phân công trách nhiệm và phân cấp quản lí nhà nước giữa các ngành, các cấp, kết hợp lợi ích cá

Trang 20

nhân, của tập thể với lợi ích của Nhà nước”.48

Pháp luật là công cụ chủ yếu và có hiệu quả nhất để Nhà nước quản lí xã hội nói chung và quản lí kinh tế nói riêng Tạo hành lang pháp lí để đảm bảo thực hiện có hiệu quả quyền và nghĩa của các chủ thể trong quan hệ kinh tế Bằng công cụ pháp luật Nhà nước có thể quản lí, giám sát, kiểm tra việc thi hành pháp luật trong hoạt động kinh tế, đồng thời có những biện pháp xử lí nhanh chống và kịp thời những trường hợp các chủ thể kinh tế vi phạm pháp luật

Nhà nước cũng cần có những kế hoạch để từng bước ấn định và phát triển nền kinh tế theo định hướng đã đề ra, trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay quản lí Nhà nước bằng kế hoạch cũng là điều tất yếu để cụ thể hoá thành những phương án, để thực hiện mục tiêu chiến lược, thông qua kế hoạch Nhà nước ta xác định phương hướng, nhiệm vụ cho từng giai đoạn trong từng ngành, từng lĩnh vực, cũng như tiến hành phân

bố lao động, sử dụng tài nguyên thiên nhiên có hiệu quả

Cùng với pháp luật, kế hoạch Nhà nước đã ban hành một hệ thống chính sách về tài chính, thuế, thị trường đất đai để định hướng và thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định hướng mục tiêu đã đề ra Những chính sách kinh tế gắn liền với chính sách xã hội bảo đảm công ăn việc làm cho người lao động và công bằng xã hội điển hình như chính sách xoá đói giảm nghèo thì Nhà nước giao đất, giao rừng cho hộ nông dân sử dụng ổn định không phải trả tiền sử dụng đất; Nhà nước cho vay với lãi suất thấp, v.v , để người dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống Chính sách thương mại như xoá bỏ hàng rào thuế quan, mở rộng quyền tham giam hoạt động xuất nhập khẩu của khu vực ngoài quốc doanh và đầu tư nước ngoài

1.2 THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

1.2.1 Khái niệm về thành phần kinh tế Nhà nước

Kinh tế Nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước, ngân hàng Nhà nước, quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm Nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước có thể đưa vào vòng

1.2.2 Quá trình hình thành thành phần kinh tế nhà nước của Việt Nam 50

Mỗi Nhà nước đều có chức năng kinh tế nhất định và chức năng này được thông qua các mức độ khác nhau tuỳ từng giai đoạn phát triển, ở bất kì nước nào kém phát triển hay phát triển chức năng kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo

48

Điều 26, Hiến pháp 1992(sửa đổi, bổ sung 2001)

49 Hoàng Thị Bích Loan, Vũ Thị Khoa: Hỏi và Đáp Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Nxb Chính trị-Hành chính, Hà Nội,

2010, tr.97

50 Nguyễn Ngọc Quang, Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân Nghiên cứu

kinh tế số 225/1996, tr.10-11

Trang 21

Ở nước ta sau khi giải phóng (1945) và thống nhất đất nước (1975) trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội do nhận thức đơn giản phiến diện nên đã đồng nhất giữa sở hữu nhà nước với sở hữu xã hội chủ nghĩa Chúng ta coi kinh tế quốc doanh là chủ yếu

bó hẹp phạm vi xí nghiệp quốc doanh, thành lập xí nghiệp quốc doanh ở mọi lĩnh vực Đặc biệt là vấn đề quản lí: theo kiểu tập trung quan liêu, theo kế hoạch định trước theo kiểu lỗ thì được bù, lãi thì nộp ngân sách Nó đã tập trung mọi nguồn lực để đáp ứng yêu cầu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1945–1975) Song khi đất nước giải phóng đã bộc lộ nhiều nhược điểm căn bản làm giảm tính năng động, sáng tạo của các xí nghiệp, đặc biệt là thiếu một môi trường kinh doanh Số lượng các xí nghiệp quốc doanh quá nhiều, dàn trải, chồng chéo về cơ chế quản lí, ngành nghề, kĩ thuật lạc hậu, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, nhiều doanh nghiệp thua lỗ triền miên, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng

Trước tình hình đó Đại hội Đảng toàn quốc lần VI (12-1986) đã đề ra chủ trương đổi mới nền kinh tế một cách toàn diện, chuyển dịch sang kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Lý luận trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội có thay đổi căn bản: sự thừa nhận tồn tại của các thành phần kinh tế, kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo và lúc này vai trò của kinh tế Nhà nước cũng có nhiều đổi mới Đến các đại hội Đảng khác thì chúng ta vẫn tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng, then chốt của thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế quóc dân

1.2.3 Các bộ phận hợp thành kinh tế Nhà nước và chức năng của từng bộ phận

Kinh tế Nhà nước giử vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, kinh tế Nhà nước

bao gồm các bộ phận hợp thành như sau:

- Doanh nghiệp Nhà nước

- Ngân sách Nhà nước

- Ngân hàng Nhà nước

- Hệ thống bảo hiểm

1.2.3.1 Doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp Nhà nước: “là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập

và tồ chức quản lý Hoạt động kinh doanh hoạt động công ích, nhằm thực hiện những

nghiệp hoạt động vì lợi ích lợi nhuận, hai là các doanh nghiệp hoạt động vì mục đích xã hội Nếu loại doanh nghiệp thuộc loại 1 thì hoạt động với mục đích ổn định chính trị và chủ yếu còn doanh nghiệp thuộc loại 2 thì lấy mục đích lợi nhuận làm chủ yếu tuy nhiên phải chấp hành pháp luật Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của loại 1 là: quốc phòng an ninh,

51

Điều 1, Luật doanh nghiệp nhà nước 2003( hết hiệu lực)

Trang 22

tài chính, y tế, văn hoá, giáo dục, còn doanh nghiệp thuộc loại 2 là hoạt động trên tất cả các ngành, lĩnh vực kinh doanh có hiệu quả Vì vậy, mỗi doanh nghiệp có chức năng và đặc thù về cơ chế quản lý

1.2.3.2 Ngân sách Nhà nước

Ngân sách Nhà nước là một bộ phận của kinh tế Nhà nước, thực hiện chức năng

thu, chi ngân sách, và có tác dụng điều chỉnh, quản lý, kiểm soát các hoạt động của kinh

Ngân sách Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sách Nhà nước luôn gắn liền với vai trò của Nhà nước theo từng giai đoạn nhất định Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách Nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn

bộ nền kinh tế, xã hội

Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội Huy động các nguồn tài chính của ngân sách Nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Mức động viên các nguồn tài chính từ các chủ thể trong nguồn kinh tế đòi hỏi phải hợp lí nếu mức động viên quá cao hoặc quá thấp thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế, vì vậy cần phải xác định mức huy động vào ngân sách Nhà nước một cách phù hợp với khả năng đóng góp tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế.53

1.2.3.3 Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước: là bộ phận của kinh tế Nhà nước nhằm đảm bảo cho kinh

tế Nhà nước, kinh tế quốc dân hoat động bình thường trong mọi tình huống Các quỹ dự trự quốc gia dùng lực lượng vật chất để điều tiết quản lí giá bình ổn thị trường, đảm bảo

Việt Nam Đây là cơ quan đảm trách việc phát hành tiền tệ, quản lý tiền tệ và tham mưu

chính sách tỷ giá, chính sách về lãi suất, quản lý dự trữ ngoại tệ, soạn thảo các dự thảo luật về kinh doanh ngân hàng và các tổ chức tín dụng, xem xét việc thành lập các ngân

52 Điều 1, Luật Ngân sách Nhà nước 2003

53 Ngân sách Nhà nước, Bách khoa toàn thư mở

20/9/2013]

54 Luật Ngân hàng Nhà nước 2010

55 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bách khoa toàn thư mở

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%A2n_h%C3%A0ng_Nh%C3%A0_n%C6%B0%E1%BB%9Bc_Vi%E1%BB

%87t_Nam , [ngày truy cập 20/9/2013]

Trang 23

1.2.3.4 Hệ thống bảo hiểm

Hệ thống bảo hiểm: là một bộ phận không thể thiếu được của kinh tế thị trường

có sự quản lí của Nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện chế độ bảo hiểm do Nhà nước quy định phục vụ cho kinh tế và các thành phần khác

Tác dụng của bảo hiểm thể hiện rõ trên nhiều phương diện Ngoài việc giúp bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất, bảo hiểm còn sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào những lĩnh vực khác Cũng nhờ bảo hiểm mà ngân sách Nhà nước hàng năm có nguồn đóng góp không nhỏ, mọi người có được tâm lý

an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất được tăng cường 56

Như vậy, các bộ phận cấu thành kinh tế Nhà nước có chức năng nhiệm vụ cụ thể là khác nhau, nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau trong một hệ thống kinh tế Nhà nước

và các thành phần kinh tế khác và hoạt động theo một thể chế được Nhà nước quy định thống nhất

1.2.4 Cơ sở lý luận cho tính chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước

Tại các đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX Đảng ta đã xác định:“ chủ động hội nhập, đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế Nhà nước, kinh

tế tập thể Trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể dần trở thành nền tảng”57.Tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, vấn đề đặt ra là trong nền kinh tế nước ta hiện nay có hay không có mặt thành phần kinh tế nào đó đóng vai trò chủ đạo Nếu có thì căn cứ nào để xác định tính chất chủ đạo của một thành phần kinh tế, và vì sao vai trò chủ đạo đó lại được giao cho thành phần kinh tế này chứ không phải thành phần kinh tế khác

Từ sau đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến nay Việt Nam chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản

lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Như vậy nền kinh tế thị trường ở Việt Nam được xây dựng trên cơ sở đa dạng hoá sở hữu, đa dạng hoá thành phần kinh tế Trong nền kinh tế này có nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại Ai cũng biết rằng, trong một gia đình nếu chỉ có một con thì không thể có con trưởng, con thứ Nhưng với một gia đình đông con thì sự phân định con trưởng con thứ là tất yếu Trong nền kinh tế nhiều thành phần cũng vậy, sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế dựa trên các hình thức sở hữu đặc thù làm cho vai trò vị trí của chúng khác nhau và tất yếu sẽ có một sự phân vai,

đó là thành phần kinh tế chủ đạo cùng với các thành phần còn lại Vấn đề nằm ở chỗ thế

56 Kiến trúc sài gòn, vai trò của bảo hiểm,

http://kientrucsaigon.net/KINH-TE/KTBH/C1/VAI-TRO-CUA-BAO-HIEM.html , [ngày truy cập 20/9/2013]

57

Điều 19, Hiến pháp 1992(sửa đổi, bổ sung 2001)

Trang 24

nào là chủ đạo và ai là chủ đạo Căn cứ vào đâu đế xác định tính chất chủ đạo này Trước đây chúng ta lý giải vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế được thể hiện ở phạm vi của

nó chiếm hữu trong nền kinh tế, ở tính hiệu quả hơn, ưu việt hơn hẳn của nó so với các thành phần kinh tế khác Nhưng qua quá trình thực tiễn cùng với đổi mới tư duy thì thành phần kinh tế chủ đạo phải là thành phần kinh tế chi phối, làm thay đổi và xác định phương hướng hoạt động của các thành phần kinh tế khác, hướng tới mục tiêu kinh tế - chính trị - xã hội mà Đảng và Nhà nước đã chọn Vì bản chất cốt lõi của một chế độ xã hội sẽ quyết định tính chất chủ đạo của nền kinh tế Đối với một nước đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội như nước ta thì kinh tế Nhà nước cần và có thể giữ vai trò chủ đạo vì những lý do sau đây:58

 Thứ nhất: kinh tế Nhà nước dựa trên chế độ công cộng về tư liệu sản xuất, là chế

độ sở hữu phù hợp với xu hướng xã hội hoá của lực lượng sản xuất

 Thứ hai: kinh tế Nhà nước đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến trong nền kinh tế, tạo ra cơ sở kinh tế cho chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa

 Thứ ba: kinh tế Nhà nước nắm giữ những vị trí then chốt, xương sống của nền kinh tế, do đó nó có khả năng, có điều kiện chi phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo hướng đã định

 Thứ tư: kinh tế Nhà nước là lực lượng bảo đảm cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế, là lực lượng có khả năng can thiệp, điều tiết, hướng dẫn giúp đỡ và liên kết, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển

 Thứ năm: kinh tế Nhà nước có thể tác động tới các thành phần kinh tế khác không chỉ bằng các công cụ và đòn bẩy kinh tế mà còn bằng con đường gián tiếp, qua những thiết chế và hoạt động của kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa

 Thứ sáu: kinh tế Nhà nước dẫn đầu trong việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, tiên tiến Do đó nó có nhịp độ phát triển nhanh, đóng góp phần lớn cho ngân sách Nhà nước và sự tích tụ để có thể không ngừng tái sản xuất mở rộng

 Thứ bảy: kinh tế Nhà nước là lực lượng nòng cốt hình thành các trung tâm kinh

tế, đô thị mới, là lực lượng có khả năng đầu tư vào những lĩnh vực có vị trí quan trọng sống còn nhưng ít ai dám đàu tư vì đòi hỏi vốn quá nhiều mà thời gian thu hồi vốn quá chậm Trong xã hội tư bản, một xã hội dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì hoạt động kinh doanh sinh lợi là cái chi phối các nhà kinh doanh

Do vậy tính chất chủ đạo của nền kinh tế này thể hịên ở hiệu quả kinh tế, là lợi nhuận Nhưng con đường mà chúng ta đang đi là quá độ lên một xã hội mà ở đó bản chất

58 Nguyễn Ngọc Quang, Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân Nghiên cứu kinh tế số 225/1996, tr.12-14

Trang 25

của nó là bình đẳng - xã hội xã hội chủ nghĩa, vì vậy tính chất chủ đạo của nó phải thể hiện được quan hệ sản xuất đặc thù của xã hội đó Đáp ứng với nó kinh tế Nhà nước với hình thức sở hữu toàn dân giữ vai trò chủ đạo là một tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Trong xã hội tư bản, một xã hội dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì hoạt động kinh doanh sinh lợi là cái chi phối các nhà kinh doanh Do vậy tính chất chủ đạo của nền kinh tế này thể hịên ở hiệu quả kinh tế, là lợi nhuận Nhưng con đường mà chúng ta đang đi là quá độ lên một xã hội mà ở đó bản chất của nó là bình đẳng - xã hội

xã hội chủ nghĩa, vì vậy tính chất chủ đạo của nó phải thể hiện được quan hệ sản xuất đặc thù của xã hội đó Đáp ứng với nó kinh tế Nhà nước với hình thức sở hữu toàn dân giữ vai trò chủ đạo là một tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Trang 26

CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được ghi nhận và phát triển trong hầu hết các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam

Văn kiện Đại hội VII (1996) nêu cụ thể: “Tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế Nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo: làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh

tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh

tế khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết

và quản lí vĩ mô; tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới”

Văn kiện Đại hội IX (2001) lại nêu: “Kinh tế Nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và công cụ để Nhà nước định hướng

và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Doanh nghiệp Nhà nước giữ những vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành phát luật”

Văn kiện Đại hội X (2006) một lần nữa khẳng định: “Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển”.59

Như vậy, thông qua việc ghi nhận vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước trong các văn kiện của các Đại hội của Đảng cho ta thấy được tầm quan trọng của kinh tế Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân

Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước được thể hiện qua các mặt của đời sống xã hội sau đây: vai trò đối với kinh tế đất nước, đối với chính trị và các mặt khác

sẽ được đề cập như sau:

2.1 VAI TRÒ VỀ MẶT KINH TẾ CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Vai trò về kinh tế của thành phần kinh tế Nhà nước dược thể hiện như sau:60

Thứ nhất: kinh tế Nhà nước trở thành lực lượng vật chất và là công cụ sắc bén

để Nhà nước thực hiện chức năng định hướng, điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế

Muốn thực hiện được vai trò này, kinh tế Nhà nước phải giữ những lĩnh vực,

Trang 27

ngành nghề then chốt, có khả năng thúc đẩy, tác động đến các thành phần kinh tế khác nhằm định hướng, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế này cùng phát triển.61

Kinh tế Nhà nước đã và đang làm được điều đó, kinh tế Nhà nước là lực lượng sản xuất chủ chốt của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quan trọng như: Cụ thể tỷ trọng phần doanh nghiệp Nhà nước trong số ngành như sau: 80% công nghiệp khai thác, trên 60% công nghiệp chế biến, 99% công nghiệp điện - gaz - dầu khí, cung cấp nước, trên 82% vận chuyển hàng hoá, 50% vận chuyển hành khách,…74% thị phần đối với nền kinh tế Phần của doanh nghiệp Nhà nước trong GDP chiếm tỷ trọng năm 1992: 40,2%, năm 1996: 39,9%, năm 1998: 41,2%, năm 2000: 39,5%.62

Bảo đảm hơn 85% sản lượng điện, xăng dầu; thực hiện 98% sản lượng vận tải hàng không nội địa; hơn 90% hạ tầng viễn thông; 56% dịch vụ tài chính, tín dụng; 70% lượng gạo xuất khẩu; hơn 80% phân hóa học 63 Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế Nhà nước với tư cách là một yếu tố, một chủ thể đặc biệt của nền kinh tế đất nước Nó có vai trò vĩ mô điều hành trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, làm cho nền kinh tế được hoạt động thông suốt, tạo lập những cân đối lớn theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà thị trường không tự điều chỉnh được Đây là một trong những vai trò cực kỳ quan trọng của kinh tế Nhà nước

Ở các quốc gia đang phát triển, khi mà nguồn lực vật chất còn rất hạn chế, thì những nguồn lực quý giá cần được tập trung thành những lực lượng mạnh, đủ sức đáp ứng những mục đích phát triển thiết yếu Để thực hiện điều tiết, tránh các tác động bất bình đẳng trong đầu tư xã hội, Nhà nước cần phải có các công cụ kinh tế - tài chính, công cụ sản xuất đủ năng lực Các công cụ ấy vừa sản xuất ra của cải vật chất, cung cấp tài chính cho ngân quỹ quốc gia, vừa giúp Nhà nước có thể tác động trực tiếp vào nền kinh tế - xã hội nhằm mục đích điều tiết, hỗ trợ phát triển, nhân lên những tác động tốt, hạn chế những tác động xấu của cơ chế thị trường Đối với những nhiệm vụ khó khăn nhất, trong những thời điểm nguy cấp nhất mà chẳng doanh nghiệp nào muốn làm, muốn nhận thì doanh nghiệp Nhà nước sẽ là lực lượng gánh vác

Tại nước ta, từ 2008 đến nay, doanh nghiệp Nhà nước là công cụ quan trọng để bảo đảm thực hiện có hiệu quả các chính sách ổn định vĩ mô, đối phó với những biến động thị

Trang 28

trường, kiềm chế lạm phát, giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh

tế đến nước ta Doanh nghiệp Nhà nước đã đi đầu trong việc thực hiện chủ trương cắt giảm đầu tư, chi tiêu, không tăng giá bán sản phẩm, dịch vụ thiết yếu Ví dụ: Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam bán than cho ngành điện với giá bằng 67% đến 70% giá thành và bằng 35% đến 40% giá xuất khẩu; bán cho các doanh nghiệp sắt thép, xi-măng, hóa chất, giấy… bằng 60% giá xuất khẩu Tập đoàn Điện lực Việt Nam bán điện với giá tương đương 70% giá thành

Ngoài ra, theo đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đó là: các đơn vị kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường Nhà nước đóng vai trò điều tiết nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Các đơn vị kinh tế luôn phải giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản đó là sản xuất cái

gì, cho ai, như thế nào theo mục tiêu là tối đa lợi nhuận Điều đó dẫn đến kết quả là các đơn kinh tế Nhà nước luôn chạy theo những hàng hoá, dịch vụ mang tới nhiều lợi nhuận,

sẽ rút khỏi thị trường các loại hàng hoá không có lãi hoặc thua lỗ Tuy nhiên, không phải mọi doanh nghiệp đều luôn thu nhận được thông tin đầy đủ để quyết định tham gia và sản xuất mặt hàng nào tốt sẽ dẫn tới phát sinh những mâu thuẫn giữa cung và cầu ở mọi lúc , mọi nơi đối với mặt hàng Để điều tiết được nền kinh tế đó thì Nhà nước sử dụng kinh tế Nhà nước là lực lượng vật chất hay một công cụ điều tiết hiệu quả là vì:

 Kinh tế Nhà nước từ khi được hình thành cho tới nay luôn được chú trọng đầu tư

ở khắp các lĩnh vực, ngành kinh tế và cả ngành không có khả năng sinh lời (các hàng hoá, dịch vụ công) do đó nó làm cân đối giữa các ngành kinh tế Với tư cách là công cụ điều tiết, các doanh nghiệp Nhà nước được đầu tư theo phương châm “Ở đâu, khi nào nền kinh

tế quốc dân đang cần mở rộng sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó mà các thành phần kinh tế khác không muốn hoặc không có khả năng kinh doanh thì có mặt của doanh nghiệp Nhà nước, đến một lúc nào đó khả năng sinh lời tăng lên thì doanh nghiệp dân doanh nhảy vào hoạt động và đủ khả năng cung cấp thị trường thì doanh nghiệp Nhà nước rút ra và tiếp tục hoạt động ở các lĩnh vực khác”

 Chức năng điều tiết của doanh nghiệp Nhà nước còn thể hiện ở việc điều tiết kinh

tế trong phạm vi từng vùng Trong từng vùng kinh tế luôn có sự phát triển mất cân đối giữa các ngành kinh tế đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng kém phát triển Vì thế

ở từng vùng cũng diễn ra hiện tượng các doanh nghiệp dân doanh chỉ đổ xô vào kinh doanh các mặt hàng sinh lời nên dẫn tới mất cân đối trong sản xuất của từng vùng Chính

vì vậy mà doanh nghiệp Nhà nước cũng phải xuất hiện ở các ngành mà những vùng kinh

tế của đất nước đang đòi hỏi nhằm điều tiết cung cầu ở các vùng đó

Trang 29

Thứ hai: Hoạt động của khu vực kinh tế Nhà nước là nhằm mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế khác (chức năng tạo lập môi trường)

Tức là nó phải tạo được tiền đề thuận lợi để khai thông và tận dụng mọi nguồn lực ở tất cả các thành phần kinh tế khác nhau vì sự tăng trưởng chung của nền kinh tế, nền kinh

tế phát triển theo đúng mục tiêu đã chọn

Muốn xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đương nhiên phải xây dựng một lực lượng kinh tế đóng vai trò chủ đạo, làm tâm điểm ảnh hưởng tới các lực lượng khác của nền kinh tế, hướng dẫn, hỗ trợ các lực lượng kinh tế khác cùng phát triển theo một định hướng đã chọn và đó chính là kinh tế Nhà nước

Trên cơ sở xác định, không một nền kinh tế nào phát triển mà chỉ dựa vào một thành phần kinh tế duy nhất mà đó phải là sự phát triển đồng bộ của nhiều thành phần kinh tế mới có thể phát huy được mọi tiềm năng của đất nước Tuy nhiên quy mô của các thành phần kinh tế tư nhân của nước ta còn rất nhỏ hẹp, mặt khác thời gian phát triển còn ngắn nên các doanh nghiệp dân doanh chưa thể tích luỹ để mở rộng quy mô lớn hơn để làm nguồn cốt cho việc phát triển nước ta Trong điều kiện đó, chỉ các doanh nghiệp Nhà nước mới có đủ điều kiện để trở thành lực lượng nguồn cốt tạo chỗ đứng vững chắc để dẫn dắt các doanh nghiệp dân doanh cùng phát triển Muốn làm được điều đó thì kinh tế Nhà nước phải xác định được cơ cấu thành phần kinh tế của mình một cách hợp lí, luôn giữ được vị trí, vai trò xứng đáng phát huy lợi thế, khai thác được khả năng đóng góp thiết thực vào sự phát triển của kinh tế đất nước Kinh tế Nhà nước phải tích luỹ được vốn để phát triển trong các lĩnh vực then chốt, chi phối nhiều mặt của đời sống kinh tế -

xã hội, trở thành xương sống của nền kinh tế quốc dân, để từ đó các thành phần kinh tế khác có được chỗ dựa vững mà cùng phát triển, cùng tiến lên

Mặc khác, trong cơ chế thị trường, lợi nhuận luôn là mục tiêu mà các doanh nghiệp theo đuổi, do đó các thành phần kinh tế khác thường tập trung kinh doanh ở những ngành kinh tế hoặc những vùng kinh tế có khả năng đưa đến lợi nhuận cao một cách nhanh chóng mà ít rủi ro nhất, do đó sẽ tạo ra lỗ hỏng là những ngành và những vùng kinh tế kém tiềm năng hoặc đòi hỏi đầu tư lớn: đó là các vùng sâu, vùng xa, vùng kém phát triển

có cơ sở hạ tầng thấp kém Để khắc phục tình hình đó, đồng thời mở đường kích thích các thành phần kinh tế khác cùng tham gia vào hoạt động sản xuất thì kinh tế Nhà nước phải có mặt xây dựng cơ sở hạ tầng ở các vùng sâu, vùng xa, vùng kém phát triển là điều kiện tiền đề tạo điều kiện thuận lợi trước mắt thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế khác Đó cũng là một chức năng thể hiện vai trò chủ đạo trong việc mở đường hổ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội bởi nó cân bằng được trình độ phát triển giữa các vùng kinh tế, giảm bớt hố ngăn cách giàu nghèo, giữa thành

Trang 30

thị và nông thôn

Phát triển theo định hướng chủ nghĩa xã hội còn thể hiện ở việc tuân thủ theo pháp luật mà Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã đề ra Thực tế hiện nay, cho thấy không ít chủ các doanh nghiệp dân doanh chỉ vì lợi nhuận cá nhân mà bất chấp vi phạm pháp luật hoặc những hoạt động thiếu ý thức pháp luật Tất yếu đấy là vấn đề mà Nhà nước phải có biện pháp giải quyết và doanh nghiệp Nhà nước là một trong những công cụ mà Nhà nước dùng hạn chế vấn đề này Vì vậy, doanh nghiệp Nhà nước phải là tấm gương mẫu mực trong việc tuân thủ pháp luật để các doanh nghiệp khác cùng noi theo

Tuy nhiên, hiện nay cũng chưa có tài liệu nào giải thích kinh tế Nhà nước có thể mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển bằng phương thức nào Bản chất của kinh tế thị trường là cạnh tranh Nếu cùng tồn tại trên thị trường liên quan thì bất cứ thành phần kinh tế nào cũng chịu sự cạnh tranh khốc liệt Sự hỗ trợ có thể xảy ra giữa các thị trường liên quan với nhau khi mà đầu ra của thành phần kinh tế này là đầu vào của thành phần kinh tế khác Do đó, phạm vi “mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ” của kinh tế Nhà nước có thể được hiểu là phát triển đồng bộ các sản phẩm thiết yếu, là đầu vào của nhiều thành phần kinh tế khác cùng phát triển như giao thông, điện, nước, viễn thông, xăng dầu…64

Thứ ba: Kinh tế Nhà nước mà thành phần chính là các doanh nghiệp Nhà nước phải đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh

Đây thực chất là sự lựa chọn chủ nghĩa xã hội Trên thực tế kinh tế Nhà nước tiềm tàng các yếu tố cho phép nó ưu việt hơn như quy mô lớn và khả năng tập trung cao cho nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ, triển khai công nghệ mới…Tuy nhiên để tất cả các yếu tố tiềm tàng trở thành hiện thực cần phải có mô hình và cơ chể tổ chức quản lý

phù hợp thì mới phát huy được thế mạnh

Là lực lượng được Nhà nước chú trọng đầu tư, phát triển, do Nhà nước nắm giữ nguồn vốn chi phối do đó quy mô hoạt động của các thành phần kinh tế Nhà nước và đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước rất rộng lớn và đang ngày càng được tổ chức sắp xếp lại theo hướng hiện đại nhằm hoạt động có hiệu quả hơn Bởi nguồn vốn đầu tư lớn, chủ yếu trong các doanh nghiệp Nhà nước có 100% vốn của Nhà nước hoặc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối nên các doanh nghiệp Nhà nước có điều kiện đầu tư trang thiết bị kỹ thuật công nghệ hiện đại Có khả năng tạo ra năng suất, chất lượng các loại hàng hoá, dịch vụ cao sử dụng tối đa và vận dụng được các nguồn nguyên nhiên vật liệu đầu vào, tiết kiệm được chi phí sản xuất nhưng mang lại hiệu quả sản xuất cao, đóng góp vào ngân sách lớn

64 Nguyễn Thu Dung, Nhận thức về vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, Nhà nước và pháp luật số 12/2012, tr.37

Trang 31

Chỉ có doanh nghiệp Nhà nước mới có khả năng đi đầu trong việc ứng dụng các công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao để có thể đưa kinh tế đất nước theo kịp nền kinh tế thế giới

Đồng thời để tạo động lực, hổ trợ thành phần kinh tế khác phát triển thì doanh nghiệp Nhà nước phải đi đầu trong việc chuyển giao công nghệ, áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong các lĩnh vực mà trước đây ít được đầu tư hoặc ít sinh lời, nhưng là lực lượng duy nhất có đủ điều kiện về vốn, lao động nên doanh nghiệp Nhà nước phải đi đầu về cải cách kỹ thuật công nghệ sản xuất để mở đường cho các doanh nghiệp dân doanh mạnh dạn cùng tham gia phát triển để từ đó làm cho năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao cùng góp phần thúc đẩy kinh tế nước ta đi đúng theo định hướng của Đảng và Nhà nước đặt ra

Như đã phân tích thì kinh tế Nhà nước (doanh nghiệp Nhà nước) có lợi thế tốt hơn doanh nghiệp dân doanh trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh về các lí do sau:65

- Lợi thế về sở hữu tư liệu sản xuất: Khu vực kinh tế nhà nước sở hữu những nguồn

tư liệu sản xuất lớn và có giá trị cao, ví dụ đất đai, khoáng sản, nhà máy, xí nghiệp…

- Lợi thế về khả năng tài chính: Khu vực kinh tế Nhà nước thường sở hữu lượng vốn lớn và tài sản cố định có giá trị cao Đặc biệt, khu vực kinh tế Nhà nước thường được ưu đãi trong chính sách tín dụng với lãi suất ưu đãi hơn khu vực tư nhân do tín dụng này cũng được cung cấp bởi các ngân hàng thương mại cổ phần có cổ phần chi phối của Nhà nước

- Lợi thế về chính sách, quản lí của Nhà nước: Khu vực kinh tế Nhà nước luôn được

sự hậu thuẫn bởi Nhà nước do khu vực này nắm giữ những ngành nghề then chốt của công nghiệp Dường như bằng cách này hay cách khác, Nhà nước giữ cho chúng không

có nguy cơ bị phá sản

- Lợi thế về thông tin: Khu vực kinh tế Nhà nước luôn nắm bắt thong tin liên quan đến hoạt động quản lí Nhà nước, sự thay đổi trong chính sách điều hành kinh tế của Nhà nước nhanh hơn các khu vực kinh tế khác

Thứ tư: Kinh tế Nhà nước là lực lượng xung kích chủ yếu thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Mặc dù quan điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, của các thành phần kinh tế đã được khẳng định Nhưng trong bối cảnh tiềm lực của khu vực dân doanh còn chưa đủ mạnh để đảm đương nhiệm vụ nặng nề do quá trình công nghiệp hoá

65 Nguyễn Thu Dung, Nhận thức về vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, Nhà nước và pháp luật số 12/2012, tr.36

Trang 32

đất nước đặt ra nên trong giai đoạn hiện nay kinh tế Nhà nước đặc biệt là đầu tư mới của Nhà nước vẫn là lực lượng chủ chốt đi đầu trong quá trình chuyển nước ta thành nước công nghiệp hiện đại, văn minh, tiến bộ Để đảm đương được nhiệm vụ này kinh tế Nhà nước phải huy động tổng lực, trước hết là chiến lược đầu tư đúng đắn, trong đó bao hàm

cả đầu tư trực tiếp của Nhà nước lẫn chính sách khuyến khích để tập thể và tư nhân tập trung vào các ngành mũi nhọn, tạo đà tăng trưởng nhanh cho nền kinh tế Tiếp nữa là nỗ lực về tài chính và ngoại giao, chính trị để thực thi chiến lược chuyển giao công nghệ có hiệu quả với phương châm kế thừa tích cực tiến bộ kỹ thuật mà loài người đã đạt được Đồng thời với các nỗ lực trên là chiến lược về đào tạo, chiến lược tranh thủ chất xám của thế giới, là nỗ lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tìm kiếm thị trường Điểm mới ở đây là kinh tế Nhà nước không tiến hành công nghiệp hoá một cách đơn độc như trước kia mà trở thành hạt nhân tổ chức, thu hút và định hướng để lôi kéo các thành phần kinh tế khác cùng tham gia vào quỹ đạo công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Vì thế để là lực lượng xung kích của đất nước trong việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì kinh tế Nhà nước phải phát triển đồng thời các lĩnh vực và các ngành trọng yếu trong nền kinh tế, chính vì vậy mà cần xem xét vai trò của kinh tế Nhà nước trong các ngành và lĩnh vực sau:66

 Trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội như đường sắt, vận tải biển, hàng không sân bay, cảng biển, mạng lưới điện quốc gia, các khâu quan trọng của bưu chính viễn thông, hệ thống thuỷ lợi lớn tưới tiêu cho nông nghiệp và phòng chống thiên tai, cung cấp nước sạch…thì kinh tế Nhà nước phải là nòng cốt, có vai trò quyết định, tạo điều kiện mở đường cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Đồng thời phát huy sức mạnh cùng tham gia, nhất là ở những khâu có khả năng thu hồi vốn tương đối nhanh và

có lãi Ở các đô thị và liên tỉnh, Nhà nước cần đầu tư tổ chức một bộ phận vận tải hành khách hiện đại, văn minh và an toàn dưới hình thức công ty cổ phần có vốn Nhà nước chi phối làm nòng cốt cho lực lượng vận tải hành khách của các thành phần kinh tế Một số công trình điển hình cho sự phát triển kết cấu hạ tầng mà Nhà nước và kinh tế Nhà nước góp phần hoàn thiện như: công trình thuỷ điện Sơn La(miền Bắc), đường hầm Hải Vân, cầu Mỹ thuận, cầu Cần Thơ(miền Nam), đường dây Bắc-Nam 500kW,…

 Trong công nghiệp, kinh tế Nhà nước phải đi đầu và làm nòng cốt cho một số ngành mà nền kinh tế nước ta nhất thiết phải có để tạo cơ sở cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước như: luyện kim, cơ khí, chế tạo máy, hoá chất cơ bản, phân bón, khai thác khoáng sản có trữ lượng lớn, quý hiếm, sản xuất một số vật liệu xây dựng và linh kiện quan trọng, những ngành công nghệ cao như công nghệ điện tử, công nghệ tin học

66 Nguyễn Ngọc Quang, vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc dân Nghiên cứu

kinh tế số 225/1996, tr.19-20

Trang 33

(trước mắt là phát triển phần mềm), công nghệ sinh học Đồng thời phải quan tâm đáp ứng có chọn lọc một số nhu cầu thiết yếu của nhân dân và cả cho xuất khẩu với chất lượng cao, mẫu mã và giá cả phù hợp với thị hiếu và sức mua của các tầng lớp dân cư…Một số thành tựu như Nhà máy lộc dầu Dung Quất, khí điện đạm Cà Mau…

 Kinh tế Nhà nước trong nông lâm, ngư nghiệp phải hỗ trợ kinh tế hợp tác và kinh

tế hộ sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, phải làm đòn bẩy trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đưa công nghệ mới vào sản xuất, phát triển công nghiệp chế biến, phát huy vai trò là trung tâm công nghiệp dịch vụ, trung tâm chuyển giao công nghệ, trung tâm văn hoá trên địa bàn Trong thương nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước cần liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác, thu hút và hướng dẫn họ trong mạng lưới đại lý của hệ thống thương mại nông thôn, nắm đại bộ phận lực lượng buôn bán, chi phối bán lẻ những mặt hàng chủ lực, thiết yếu cho sản xuất và đời sống, điều tiết

và bình ổn giá cả có lợi cho nông dân

 Thương nghiệp doanh nghiệp Nhà nước phải giữ vai trò nòng cốt, chi phối trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá đối với khâu xuất nhập khẩu những ngành hàng và địa bàn quan trọng, chi phối bán buôn và tổ chức dự trữ lưu thông những mặt hàng thiết yếu cho

cả sản xuất và đời sống, cần phải thăm dò thị trường để nắm bắt được nhu cầu thị hiếu của khách hàng Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chi phối để đảm bảo sự tăng trưởng của đất nước trong các lĩnh vực tài chính, dịch vụ kiểm toán, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn pháp lý, thông tin thị trường

Như vậy, xét một cách tổng thể kinh tế Nhà nước có vai trò rất tích cực đối với nền kinh tế, sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế đã đạt được những thành tựu đáng kể, khắc phục được một cách thuyết phục các nhược điểm trong nền kinh tế cũ Đặc biệt là vai trò của kinh tế Nhà nước ngày càng được nhận thức rõ ràng hơn trong tiến trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước

Để thành phần kinh tế Nhà nước có thể thực hiện vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ các giải pháp sau đây:67

Một là, tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế Nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu; những cơ sở sản xuất thương mại, dịch vụ quan trọng; một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan hệ đến quốc phòng, an ninh… Nhà nước chỉ nên nắm một số không nhiều "những đài chỉ huy" trong nền kinh tế, tức là những vị trí

67 Vũ Văn Phúc , Sở hữu nhà nước và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, tạp chí tuyên giáo điện tử

http://luatminhkhue.vn/thay-doi/so-huu-nha-nuoc-va-vai-tro-chu-dao-cua-kinh-te-nha-nuoc-trong-nen-kinh-te-thi-truong-dinh-hu ong-xa-hoi-chu-nghia.aspx.[ngày truy cập 6/11/2013]

Ngày đăng: 05/10/2015, 07:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w