Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến các phạm trù kinh tế khác và đóng vai trò như là một công cụ có hiệu lực, có hiệu quả trong việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nước, đồng thời là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệ quốc gia.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Lời nói đầu 3
I/ Tỷ giá hối đoái và sự cần thiết phải hạn chế rủi ro tỷ giá trong hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam 5
1 Tỷ giá hối đoái 5
1.1 khái niệm 5
1.2 Các phương pháp niêm yết tỷ giá 6
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái 6
2 Rủi ro tỷ giá và sự cần thiết phải hạn chế rủi ro tỷ giá 7
2.1 Khái quát chung về rủi ro tỷ giá 7
2.2 Sự cần thiết phải hạn chế rủi ro tỷ giá 9
II / Tỷ giá hối đoái với hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua 10
1 Khái quát chung tình hình biến động tỷ giá ở Việt Nam qua các thời kỳ 10
1.1.Giai đoạn thả nổi tỷ giá: 1989-1993 11
1.2 Giai đoạn cố định tỷ giá 1993 - 1996: 12
1.3 Quá trình đi tới một chính sách tỷ giá hối đoái tự chủ theo cơ chế thị trường (1992 - 1997) 14
1.4 Giai đoạn điều hành tỷ giá linh hoạt có sự điều tiết của Nhà nước từ năm 1997 đến nay 16
2 Thực trang rủi ro tỷ giá với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam hiện nay 18
III Một số giải pháp hạn chế rủi ro tỷ giá 24
1 Những giải pháp mang tính vĩ mô 24
2 Những giải pháp cụ thể với doanh nghiệp nhập khẩu 27
2.1 Sử dụng các phương pháp dự báo tỷ giá 27
2.2 Lựa chọn ngoại tệ thanh toán 28
Trang 22.3 Sử dụng hợp đồng xuất nhập khẩu song hành 29
2.4 Sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tỷ giá 29
2.5 Sử dụng thị trường tiền tệ 29
IV Kết luận 32
Tài liệu tham khảo 33
Trang 3Lời nói đầu
Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến các phạm trù kinh tế khác và đóng vai trò như là một công cụ có hiệu lực, có hiệu quả trong việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nước, đồng thời là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệ quốc gia Đã bao thời nay, loài người đã và đang tiếp tục đứng trước một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt này và cố gắng tiếp cận nó, mong tìm ra một nhận thức đúng đắn để từ đó xác định và đưa vào vận hành trong thực tế một tỷ giá hối đoái phù hợp, nhằm biến nó trở thành một công cụ tích cực trong quản lý nền kinh
tế ở mỗi nước
Tỷ giá hối đoái, như các nhà kinh tế thường gọi là một loại "giá của giá",
bị chi phối bởi nhiều yếu tố và rất khó nhận thức, xuất phát từ tính trừu tượng vốn có của bản thân nó Tỷ giá hối đoái không phải chỉ là cái gì đó để ngắm
mà trái lại, là cái mà con người cần phải tiếp cận hàng ngày, hàng giờ, sử dụng nó trong mọi quan hệ giao dịch quốc tế, trong việc sử lý những vấn đề
cụ thể liên quan đến các chính sách kinh tế trong nước và quốc tế Và do vậy, nhận thức một cách đúng đắn và sử lý một cách phù hợp một cách tỷ giá hối đoái là một nghệ thuật
Trong khi công cụ tỷ giá luôn được các quốc gia trên thế giới đề cao thì
ở Việt Nam, tỷ giá dường như chưa được hiểu theo đúng nghĩa của nó.Khoảng thời gian mười năm trước,người ta dường như hờ hững với mọi biến động của tỷ giá và cho rằng vấn đề tỷ giá là mảng đề tài cổ lỗ, rằng trong mối tương quan với hoạt động xuất nhập khẩu, tỷ giá không có ảnh
hưởng gì mấy Tuy nhiên, thời gian gần đây,s ự can thiệp của Nhà nước vào
tỷ giá rõ ràng là ngày càng suy giảm và dường như đang theo một cơ chế truyền động có chủ đích để tiến tới bước đi cuối cùng là xóa bỏ tỷ giá bình quân liên ngân hàng Đây có lẽ chính là điểm khởi sự đầu tiên cho một chính sách tỷ giá thả nổi có quản lý một cách thực chất, theo hướng tỷ giá phải linh
Trang 4hoạt hơn nữa theo khuyến cáo của IMF và phù hợp với việc Việt Nam là thành viên của WTO Khi cơ chế tỷ giá linh hoạt, thì rủi ro tỷ giá sẽ xẩy ra thường xuyên hơn, mức độ ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ lớn hơn Thời gian gần đây trên báo chí những tiêu đề như “ảnh hưởng của biến động tỷ giá” hay “khó khăn về tỷ giá”, “thiệt đơn thiệt kép vì USD” xuất hiện ngày càng nhiều hơn Điều đó chứng tỏ ảnh hưởng của biến động tỷ giá đã bắt đầu được các doanh nghiệp quan tâm Nhằm đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh, đòi hỏi các ngân hàng và các thành viên tham gia thị trường ngoại hối phải nâng cao khả năng phòng ngừa biến động tỷ giá.
Xuất phát từ những lý do trên đây, Em chọn đề tài của mình là "Hạn chế rủi ro tỷ giá trong hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam”.Với sự quan tâm hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của thầy giáo Nguyễn Quang Huy đã giúp em hoàn thành đề tài này.Em xin cảm ơn thầy rất nhiều Dưới đây em xin trình bầy nội dung đề án của mình
Trang 5I/ Tỷ giá hối đoái và sự cần thiết phải hạn chế rủi ro tỷ giá trong hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
1 Tỷ giá hối đoái
1.1 khái niệm.
Hầu hết mỗi quốc gia hay một nhóm quốc gia liên kết (như liên minh Châu Âu) đều có đồng tiền riêng của mình Việt nam có tiền đồng (VNĐ) Trung quốc có Nhân dân tệ (CNY), Mỹ có Dollar (USD)
Mối liên hệ kinh tế giữa các nước, các nhóm nước với nhau mà trước hết
là quan hệ mua bán trao đổi đầu tư dẫn đến việc cần có sự trao đổi đồng tiền của các nước khác nhau với nhau, đông tiền này đổi lấy đồng tiền kia, từ đó nảy sinh khái niệm “ tỷ giá hối đoái”:
“tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một nước tính bằn tiền tệ của một nước khác”, hay được coi là “ hằng số chuyển đổi” đồng tiền của nước này sang đồng tiền của nước khác.
Thông thường, thuật ngữ "Tỷ giá hối đoái" được ngầm hiểu là số lượng đơn vị tiền nội tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ, tuy nhiên ở Mỹ và Anh được sử dụng theo nghĩa ngược lại: số lượng đơn vị ngoại tệ cần thiết để mua một đồng USD hoặc đồng bảng Anh; ví dụ: ở Mỹ 0,8 xu/USD
Các nhà kinh tế thường đề cập đến hai loại tỷ giá hối đoái:
- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (en): đây là tỷ giá hôí đoái được biết đến nhiều nhất do ngân hàng nhà nước công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày
- Tỷ giá hối đoái thực tế (er) được xác định er = en * Pn/Pf
Pn: chỉ số giá trong nước
Pf: chỉ số giá nước ngoài
Trang 6Tỷ giá hối đoái thực tế loại trừ được sự ảnh hưởng của chênh lệch lạm phát giữa các nước và phản ánh đúng sức mua và sức cạnh tranh của một nước
1.2 Các phương pháp niêm yết tỷ giá
1.2.1 phương pháp yết giá trực tiếp
Một số lượng cố định ngoại tệ được biểu hiện bằng một số lượng biến đổi nội tệ
Đồng tiền yết giá là ngoại tệ, đồng tiền định giá là nội tệ
Đa số các nước biểu diễn theo phương pháp trực tiếp và đồng USD là đồng tiền yết giá
1.2.2 phương pháp yết giá giản tiếp
Một số lượng cố định nội tệ được biểu hiện bằng một số lượng biến đổi ngoại tệ
Đồng tiền yết giá là nội tệ, đồng tiền định giá là ngoại tệ
England (GBP), Autraylia (AUD), New zealand (NZD), (IEP), SDR và EUR sử dụng phương pháp gián tiếp, và USD là đồng tiền định giá
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái
1.3.1 Cán cân thương mại:
Trong các điều kiện khác không đổi nếu nhập khẩu của một nước tăng thì đường cung về tiền của nước ấy sẽ dịch chuyển về phía bên phải, tỷ giá hối đoái giảm xuống; nếu xuất khẩu tăng thì đường cầu về tiền của nước ấy sẽ dịch chuyển sang trái tỷ giá hối đoái tăng lên
1.3.2 Tỷ giá lạm phát tương đối:
Nếu tỷ lệ lạm phát của một nước cao hơn tỷ lệ lạm phát của một nước khác thì nước đó sẽ cần nhiêù tiền hơn để mua một lượng tiền nhất định của nước kia Điều này làm cho cung tiền dịch chuyển sang phải và tỷ giá hối đoái giảm xuống
1.3.3.Sự vận động của vốn:
Trang 7Khi người nước ngoài mua tài sản tài chính, lãi suất có ảnh hưởng mạnh Khi lãi suất của một nước tăng lên một cách tương đối so với nước khác thì các tài sản của nó tạo ra tỷ lệ tiền lời cao hơn và có nhiều người dân nước ngoài muốn mua tài sản ấy Điều này làm cho đường cầu về tiền của nước đó dịch chuyển sang phải và làm tăng tỷ giá hối đoái của nó Đây là một trong những ảnh hưởng quan trọng nhất tới tỷ giá ở các nước phát triển cao
1.3.4 Dự trữ, phương tiện thanh toán, đầu cơ:
Tất cả đều có thể làm dịch chuyển đường cung và cầu tiền tệ Đầu cơ có thể gây ra những thay đổi lớn về tiền, đặc biệt trong điều kiện thông tin liên lạc hiện đại và công nghệ máy tính hiện đại có thể trao ddổi hàng tỷ USD giá trị tiền tệ mỗi ngày Trên đây là 4 nguyên nhân cơ bản gây lên sự dịch chuyển đường cung và cầu trên thị trường ngoại hối Sự dịch chuyển này đến lượt nó
sẽ gây ra những dao động của tỷ giá hối đoái, và như vậy phản ứng dây chuyền, những biến động của tỷ giá hối đoái lại tác động đến nền kinh tế trong nước
2 Rủi ro tỷ giá và sự cần thiết phải hạn chế rủi ro tỷ giá
2.1 Khái quát chung về rủi ro tỷ giá
2.2.2 Các loại rủi ro tỷ giá thường gặp:
Về cơ bản rủi ro tỷ giá phát sinh trong 3 hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp là : hoạt động đầu tư, hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động tín dụng
Trang 8- Rủi ro tỷ giá trong hoạt động đầu tư thường phát sinh đối với công ty
đa quốc gia hoặc đối với các nhà đầu tư tài chính có danh mục đầu tư đa dạng hoá trên bình diện quốc tế Lý do là vốn đầu tư và doanh thu được tính bằng các loại đồng tiền khác nhau
Ví dụ: một công ty nước ngoài đầu tư sản xuất nước giải khát tại Việt Nam có vốn bỏ ra bằng ngoại tệ để thiết lập nhà máy và nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất, như vậy phần lớn các chi phí của công ty này đều phát sinh từ ngoại tệ Hàng hoá sản xuất ra chủ yếu phục vụ cho nhu cầu trong nước, do đó doanh thu lại chủ yếu bằng VND Nếu tỷ giá tăng thì chi phí sản xuất gia tăng tương đối so với doanh thu làm cho lợi nhuận giảm đi thậm chí còn có thể làm đảo lộn kết quả kinh doanh
- Rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất nhập là loại rủi ro tỷ giá thường xuyên gặp phải và đáng lo ngại nhất đối với các công ty có hoạt động xuất nhập khẩu mạnh Sự thay đổi tỷ giá ngoại tệ so với nội tệ làm thay đổi giá trị
kỳ vọng của các khoản thu hoặc chi ngoại tệ trong tương lai khiến cho hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng đáng kể
Ví dụ: tổng công ty may 10 ký hợp đồng xuất nhập khẩu trị giá 500.000 USD ngày 08/05/20007, hợp đồng được thanh toán sau 6 tháng kể từ ngày ký –08/11/2007 tại thời điểm ký kết tỷ giá USD/VND= 16.200 Vào ngày thanh toán tỷ giá USD/VND= 16.000 như vậy, cứ mỗi USD xuất khẩu công ty bị thiệt 200VND toàn bộ hợp đồng trị giá 500.000VND, công ty sẽ bị mất 10 triệu VND khoản tiền này không phải là lớn với 1 hợp đồng nhưng nếu tính chung cho hoạt động xuất khẩu của công ty với ba trăm hợp đồng thì đó là một con số không nhỏ
- Hoạt động tín dụng, đặc biệt là tín dụng bằng ngoại tệ cũng chứa đựng rủi ro tỷ giá rất lớn Khoản nợ có thể trở nên trầm trọng hơn khi tỷ giá biến động
Trang 9Ví dụ: công ty ABC xin vay vốn ngân hàng VP Bank với số tiền 2 triệu USD, lãi suất vay là 5,5 %/ năm trong thời hạn 1 năm Như vậy sau 1 năm số tiền mà công ty phải trả nhà băng là 2(1 + 0,055)= 2,1 triệu USD, tại thời điểm hiện tại với tỷ giá USD/VND= 16.000, tương đương 33.600 triệu Nhưng nếu 1 năm sau tỷ giá USD/VND= 16.200 thì khoản tiền phải trả tương đương 34.020 triệu VND Như vậy công ty phải trả thêm 420 triệu so với dự tính ban đầu.
Như vậy, mức độ rủi ro tỷ giá phụ thuộc vào biến động tỷ giá nhiều hay
ít, giá trị hợp đồng hay giá trị khoản thu chi lớn hay nhỏ
2.2 Sự cần thiết phải hạn chế rủi ro tỷ giá
Để phục vụ cho mục tiêu vĩ mô, trong một thời gian dài qua, tỷ giá hối đoái được nhà nước giữ ở mức ổn định tương đối, biến động tỷ giá không ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh, khiến các doanh nghiệp chưa quan tâm nhiều đến rủi ro tỷ giá Nhưng tình hình đã thay đổi khi nền kinh tế Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, với những cải cách mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực Để ngày càng thích nghi với mức độ mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới, nhiều chính sách đã được đề ra trong đó có việc Ngân hàng nhà nước liên tục nới rộng biên độ tỷ giá Cơ chế này cùng với sự biên động chung của kinh tế toàn cầu đã khiến cho tỷ giá biến động tương đối trong khoảng 2 năm gần đây Cơ chế càng linh hoạt thì rủi ro tỷ giá càng lớn và hiện tại rủi ro tỉ giá đang được đanh giá là một trong 5 áp lực chính mà doanh nghiệp phải đối mặt trong kinh doanh bên cạnh chính sách thuế,môi trường cạnh tranh,năng lực vốn, biến động thị trường Do đó công tác quản lý rủi ro tỷ giá được đặt ra như là một nhu cầu cần thiết tất yếu đối với các doanh nghiệp có hoạt động thu chi bằng ngoại tệ
Trang 10II / Tỷ giá hối đoái với hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua.
1 Khái quát chung tình hình biến động tỷ giá ở Việt Nam qua các thời kỳ
Trong quan hệ với các nước thuộc khối XHCN trước đây, tỷ giá của Việt nam được tính theo đồng Rúp clearing(sau này đổi là rúp chuyển khoản transferableruble) đồng tiền ghi sổ dùng trong thanh toán mậu dịch giữa các nước thuộc khối XHCN tự quy định với nhau để làm sao cho tài khoản các bên, sau khi trao đổi ngoại thương theo khối lượng đã được quy định trong hiệp định ký kết vào đầu năm thì cuối năm không còn số dư Đặc trưng của chế độ tỷ giá Việt nam trong thời kỳ này là cố định, đã bộc lộ nhiều mặt bất hợp lý, nó không những không thể hiện vai trò điều tiết tỷ giá hối đoái trong việc cân bằng cán cân thanh toán, điều tiết tái sản xuất mà còn kìm hãm các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta là nghuyên nhân dẫn đến tình trạng trì trệ kinh tế trong một thời gian dài
Từ năm 1989 trở về sau cho đến nay, nhà nước ta đã có những chủ trương và giải pháp đổi mới trong quan hệ đối ngoại, và chính sách tỷ giá đã từng bước xoá bỏ cơ chế độc quyềnngoại thương, cho phép các tổ chức kinh
tế được phép xuất nhập khẩu trực tiếp với nước ngoài Số lượng cáccông ty được trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu không ngừng tăng lên, cùng với việc mở rộng ngoại thương chế độ tỷ giá cũng có những thay đổi căn bản; chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới bản thân cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái đã được nhanh chóng thay đổi phù hợp với bối cảnh thực tế
Từ một cơ chế đa tỷ giá, mang nặng tính chủ quan bao cấp, xa rời với thị trường; tỷ giá hối đoái đã được điều chỉnh theo các quan hệ và điều kiện của các quy luật kinh tế thị trường Cơ chế một tỷ giá linh hoạt, có sự điều tiết của nhà nước đã phát huy được vai trò vừa là một phạm trù kinh tế vận động theo quy luật cung cầu của nền kinh tế vừa là một công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của nhà nước Nhà nước đã áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt có sự
Trang 11quản lý của nhà nước nhưng việc điều hành của nhà nước trong từng năm có khác nhau, ta có thể chia ra 3 giai đoạn:
1.1.Giai đoạn thả nổi tỷ giá: 1989-1993
Trong giai đoạn này, tỷ giá hối đoái VND/USD thể hiện qua bảng 1 dưới đây:
Bảng 1: Tỷ giá và lạm phát của Việt nam qua các năm 1989-1993
Bảng số liệu trên cho chúng ta thấy, tỷ giá VND/USD qua các năm có biến động lên xuống Tuy nhiên tổng quát mà nói, trong khoảng thời gian này,
tỷ giá VND/USD có khuynh hướng tăng và được nhà nước điều chỉnh sát với giá thị trường tự do, điều này chứng tỏ nhà nước bắt đầu thả nổi tỷ giá, quan
hệ cung cầu ngoại tệ đã được quan tâm đầy đủ hơn, tuy nhiên sự thả nổi tỷ giá đã:
+ Kích thích tâm lý đầu cơ ngoại tệ, nhằm mục đích hưởng chênh lệch giá
+ Tình trạng tỷ giá thường xuyên đột biến và thiếu ngoại tệ đã gây nên những cơn sốc USD làm mất ổn ddịnh nền kinh tế
+ Quản lý ngoại tệ của chính phủ không đạt được kết quả như mong muốn
Trang 12+ Nhà nước không kiểm soát được lưu thông ngoại tệ
Tình trạng leo thang của giá đồng Đôla đã kích thích tâm lý dự trữ Đôla Ngoại tệ vốn đã khan hiếm lại không được dùng cho hoạt động xuất nhập khẩu mà còn bị buôn bán vòng vèo giữa các tổ chức trong nước Mọi cố gắng quản lý ngoại tệ của chính phủ ít đem lại kết quả, thậm chí có những quyết định của chính phủ về quản lý ngoại tệ đã bị mất hiệu lực ngay khi vừa mới công bố Giai đoạn này, ngân hàng không kiểm soát được lưu thông ngoại tệ
1.2 Giai đoạn cố định tỷ giá 1993 - 1996:
Bảng 2: Lạm phát và tỷ giá Việt nam qua các năm 1993-1996
(số liệu lấy từ tập san khoa học ngân hàng tháng 7/1995 đến tháng 12/1995 và từ số 1/1996 đến tháng 12/1996 và từ tháng 1/1997 đến tháng 12/1997)
Do tỷ giá chính thức của nhà nước và tỷ giá thị trường tự do trong thời gian này không chênh lệch nhiêù nên chúng ta chọn tỷ giá chính thức của nhà nước làm cơ sở tính toán qua bảng số liệu (bảng2), chúng ta thấy tốc độ tăng
tỷ giá hối đoái chậm hơn tốc đọ tăng của lạm phát vì phụ thuộc vào quan hệ cung cầu ngoại tệ, vào cụm các nhân tố đối ngoại
Việc duy trì tỷ giá ổn định trong thời gian dài (1993 - 1996_ đã không khuyến khích được xuất khẩu đã làm cho ngoại thương kém phát triển biểu hiện cụ thể qua bảng 3 sau đây:
Trang 13Bảng 3: Số liệu xuất nhập khẩu qua các năm (đơn vị tính: triệu USD)
(số liệu lấy từ nguồn thời báo kinh tế Sài gòn của UBND Thành phố HCM qua các năm 1996-1997-1998)
Tình trạng nhập siêu liên tục trong giai đoạn này đã tác động xấu đến xuất khẩu và khuyến khích nhập khẩu, gây thâm hụt cán cân thương mại dẫn tới tình trạng hặc phải tiêu giảm dự trữ ngoại hối quốc gia, hặc phải vay nợ nước ngoài để bù đắp cán cân thanh toán Tuy cơ cấu nhập khẩu có thay đổi,
tỷ trọng nhập máy móc thiết bị công nghệ này càng tăng, nhưng nhập siêu vẫn kéo dài làm đất nước lún sâu vào nợ nần, khó khăn cho nền tài chính quốc gia
Trở lại bảng 2, ta thấy qua 4 năm phát triển kinh tế đất nước (1993 - 1996) tốc độ lạm phát tăng tổng cộng là 36,8% trong khi tỷ giá VND so với USD chỉ tăng 2% đưa đến thực tế giá bán hàng nội địa đã tăng trên 30% so với hàng nhập ngoại
Hàng nhập ngoại đã trở nên rẻ hơn và được nhập vào thị trường nước ta với số lượng lớn cạnh tranh với hàng nội địa, thể hiện qua sự gia tăng thâm hụt cán thương mại quốc tế của nước ta trong những năm 1993-1996 từ nhập siêu 939 triệu USD năm 1993 lên 1,7 tỷ USD năm 1994 lên 2,7 tỷ USD năm
1995 lên 3,8 tỷ USD năm 1996
Đứng trước tình hình đó, ngay từ năm 1997 cho đén nay nhà nước đã có những chỉ đạo:
Trang 14+ Chỉ đạo xử lý nợ quá hạn từ năm 1994, hạn chế kịp thời tình trạng mở
LC thanh toán tràn lan và cuối năm 1996 thông qua khống chế mức mở LC At Sight là chủ yếu, hạn chế mở LC trả chậm, xem xét cho nhập khẩu những mặt hàng cần thiết chủ yếu là những mặt hàng về tư liệu sản xuất, dựa vào huy động vốn trung và dai hạn ngày càng được nâng cao và huy động vốn bằng mọi biện pháp thông qua mức ký quỹ bắt buộc
+ Điều hành tỷ giá linh hoạt theo tín hiệu của thị trường
1.3 Quá trình đi tới một chính sách tỷ giá hối đoái tự chủ theo cơ chế thị
trường (1992 - 1997)
Vào thời điểm cuối năm 1992, do kết quả sự can thiệp của ngân hàng nhà nước vào thị trường ngoại tệ, tỷ giá VND/USD dần dần ổn định khiến cho lượng ngoại tệ của các doanh nghiệp được giải toả khỏi yếu tố đầu cơ, hướng mạnh vào kinh doanh xuất nhập khẩu Đồng thời ngoại tệ từ bên ngoài vàonhiều nên kinh doanh cung cầu ngoại tệ đảo ngược so với cùng kỳ mội năm, giá Dola giảm mạnh, mức giá phổ biến trên thị trường tư nhân Hà nội năm 1993 là 10.300 đến 10.400 Tình trạng giá USD giảm mạnh đã ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu và kích thích nhập khẩu quá mức, nên ngân hàng nhà nước lại phải can thiệp nhằm tăng giá đồng USD
Trong hầu hết các phiên giao dịch của quý I năm 1993, hệ thống ngân hàng phải mua Dola vào nhằm ngăn chặn xu hướng giảm giá của đồng tiền này Từ tháng 3/1993 USD đã lên giá dần và duy trì xu hướng lên giá một cách ổn định (ở đây nói về tỷ giá danh nghĩa VND/USD)
Tháng 10/1994 khi thị trường ngoại tệ đã phát triển đến một giai đoạn nhất định, xét trên khía cạnh phạm vi cũng như cơ cấu tổ chức, hai trung tâm giao dịch ngoại tệ không còn phù hợp Số lượng ngân hàng tham gia vào giao dịch tăng nhanh Phạm vi và cường độ giao dịch cũng ngày càng phát triển và
mở rộng Trước tình hình mới Ngân hàng Nhà nước đã cho phép thị trường
Trang 15ngoại tệ liên Ngân hàng ra đời, thay thế hoạt động của hai trung tâm giao dịch Bởi thị trường liên Ngân hàng có qui mô lớn hơn và mang tính thị trường khách quan, linh hoạt hơn, tỷ giá hối đoái và cơ chế điều hành của Ngân hàng Nhà nước cũng càng sát với thực tế hơn
Đồng thời qua thị trường, Ngân hàng Nhà nước có thể bắt nắm được nhu cầu tổng thể của nền kinh tế về ngoại tệ trong từng thời kỳ, điều tiết kịp thời
tỷ giá hối đoái Ngân hàng nhà nước đã thông qua thị trường liên ngân hàng
để nắm bắt tín hiệu của tỷ giá hối đoái, sử dụng tỷ giá chính thức công bố hàng ngày và biên độ qui định tỷ giá giao dịch cho các ngân hàng thương mại làm công cụ hỗ trợ, can thiệp và điều hoà hướng tỷ giá thị trường theo mục tiêu của chính sách tỷ giá và chính sách tiền tệ Thực lực của Ngân hàng Nhà nước về ngoại tệ cũng đã tăng lên, tỷ giá đã phản ánh tương đối khách quan sức mua của đồng tiền Việt Nam và quan hệ cung - cầu ngoại tệ của nền kinh
tế, đủ điều kiện cho phép Ngân hàng Nhà nước dần dần nới hơn đối với cơ chế điều hành tỷ giá
Thực tế tỷ giá chính thức đã được điều chỉnh ngày một linh hoạt, theo sát với thực tế và biên độ giao dịch cho các Ngân hàng thương mại đã được mở rộng liên tục (từ 0,5% , +_ 0,1% đến 5% so với tỷ giá chính thức )
* Tóm lại từ năm 1989, tỷ giá hối đoái kế hoạch bao cấp đã bị xoá bỏ và chuyển sang trạng thái nổi cho đến cuối năm 1991 Từ năm 1992, tỷ giá hối đoái được hình thành theo phương pháp ổn định có điều chỉnh, nhìn chung,
tỷ giá hối đoái đã có những bước tiến lớn so với trước: chênh lệch giữa tỷ giá hối đoái qui định và tỷ giá hối đoái thị trường ngày càng nhỏ ( điều đó chứng
tỏ khả năng chi phối của Ngân hàng trung ương đối với tỷ giá hối đoái ), mức
tỷ giá hối đoái đã phản ánh giá trị ngoại tệ và quan hệ cung cầu
Trang 161.4 Giai đoạn điều hành tỷ giá linh hoạt có sự điều tiết của Nhà nước từ
năm 1997 đến nay
Giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng cũng như thị trường ngoại tệ nói chung bị giảm sút Thực tế sáu tháng cuối năm 1997 nhu cầu mua ngoại tệ luôn cao hơn nhu cầu bán ngoại tệ và hoạt động của thị trường lúc ngưng trệ Doanh số mua 6 tháng cuối năm 1997 đạt 2,5 tỷ USD, giảm 5% so với 6 tháng đầu năm 1997, doanh số bán đạt 2,6 tỷ USD giảm 1% so với 6 tháng đầu năm 1997, nhiều doanh nghiệp không mua được ngoại tệ đã phải mua với giá cao và chịu lỗ rất lớn do tỷ giá tăng đột biến Ngoại tệ tăng giá mạnh đã làm tăng nhu cầu vay vốn VNĐ do lãi xuất thấp hơn và không chịu rủi ro về tỷ giá đã gây mất cân đối cung cầu VNĐ trên thị trường
Nhà nước ta đã mở rộng liên độ giao dịch của các Ngân hàng thương mại
từ 1% đến 5% rồi đến 10% Những giải pháp này cũng đã kịp thời góp phần giảm sức ép đối với tỷ giá hối đoái VNĐ
Năm 1997 dư nợ LC ngắn hạn chỉ còn gần 700 triệu USĐ so với 1,4 tỷ USĐ vào tháng 6 năm 1996 Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tiền tệ ở khu vực châu á đã ảnh hưởng gây sức ép VNĐ do yếu tố đầu cơ của thị tường, đã đẩy
tỷ giá ở thị trường tự do tăng mạnh có lúc lên đến 14600 VNĐ/USĐ
Nhìn lại chặng đường đã qua có thể nói rằng năm 1997 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình đổi mới và phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam, một năm với những khó khăn và thử thách trên hầu hết các lĩnh vực Mặc dù có những tổn thất mất mát nhưng hoạt động ngân hàng vẫn tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng, tạo đà thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong những năm tiếp theo Những kết quả nổi bật này được thể hiện qua một số nội dung, góp phần kiềm chế lạm phát ở mức thấp.,Nhưng vẫn đảm bảo duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức nhất định