Với những đóng góp đáng quý của ông vào kho tàng ngôn ngữ dân tộc, việc nghiên cứu về trường từ vựng ngữ nghĩa trong ca từ của nhạc Trịnh Công Sơn, là một sự tất yếu của dòng chảy ngôn n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN -
NGUYỄN MINH MẪN Mssv: 6116189
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN -
NGUYỄN MINH MẪN Mssv: 6116189
Trang 3ĐỀ CƯƠNG PHẦN MỞ ĐẦU
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Trường từ vựng và trường từ vựng màu sắc
1.1.1 Trường từ vựng
1.1.1.1 Về từ vựng 1.1.1.2 Về trường từ vựng
1.1.2 Phân loại trường từ vựng
1.1.2.1 Trường từ vựng trực tuyến
1.1.2.1.1 Trường biểu vật 1.1.2.1.2.Trường biểu niệm 1.1.2.2 Trường từ vựng tuyến tính 1.1.2.3 Trường từ vựng liên tưởng
1.1.3 Khái niệm trường từ vựng màu sắc
Trang 41.1.4 Phân loại trường từ vựng màu sắc
1.2 Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và ca từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn
1.2.1 Nhạc sĩ, thi sĩ Trịnh Công Sơn
1.2.1.1 Đôi nét về cuộc đời Trịnh Công Sơn 1.2.1.2 Đôi nét về sự nghiệp sáng tác
1.2.1.3 Những ca khúc tiêu biểu làm nên tên tuổi nhạc Trịnh
1.2.2 Vài nét về ca từ Trịnh Công Sơn
CHƯƠNG 2:
TRƯỜNG TỪ VỰNG MÀU SẮC TRONG CA TỪ TRỊNH
CÔNG SƠN
2.1 Tổng quan về từ chỉ màu sắc trong ca từ Trịnh Công Sơn
2.2 Giá trị ngữ nghĩa của từ chỉ màu sắc trong ca từ Trịnh Công Sơn
2.2.1 Nghệ thuật sử dụng từ chỉ màu xanh
PHỤ LỤC 1 PHỤ LỤC 2
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người được sinh ra, sống và chết đi, chẳng có gì thay đổi từ ngàn đời nay Đó là cái quy luật đau đớn mà ai cũng biết của cuộc đời Điều quan trọng là ta để lại gì cho mai sau, và sẽ là gì trong đôi mắt của thế giới mai sau Đó không nên chỉ là sự tiếc thương của đôi ba người thân thuộc, không nên chỉ là đôi lời nhận xét trên trang sổ kính viếng, cũng không nên là cái tiếng xấu muôn đời vì đôi vết nhơ nào đó Đối với cuộc đời nói chung và trong văn học nói riêng, việc nhà văn để lại dấu ấn của mình trên những trang viết, trên
bảng niên biểu lịch sử văn học là chuyện “xưa nay thường tình” Nhưng chuyện một nhạc
sĩ, mà nói đúng hơn là một nghệ sĩ không biết vô tình hay hữu ý để lại dấu ấn của mình trên nền văn học bằng những sáng tác âm nhạc, thì không phải là dễ gặp Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là một người như thế Ca từ trong ca khúc của ông quả thật là thơ, cả về phần hồn lẫn phần xác Một lối thơ rất Trịnh Công Sơn, và một cảm xúc cũng rất Trịnh Công Sơn
Tác giả Nguyễn Thị Minh Châu viết: “Trịnh Công Sơn ông là ai? Giới văn nghệ sĩ
thân ái gọi ông là: Người ca thơ (Văn Cao), Người tình lãng du của nhiều thế hệ (Hoàng
Phủ Ngọc Tường), Thiền sư du ca (Đỗ Minh Tuấn), Ông hoàng tình ca (Nguyễn Trọng Tạo), Thi sĩ của âm nhạc, hay Nhạc sĩ của thi ca… Còn ông trả lời theo cách riêng của
mình: Tôi chỉ là tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về
những giấc mơ đời hư ảo…”[16; Tr.136] Chẳng phải vô cớ nhiều nhà thơ đã gọi Trịnh
Công Sơn là thi sĩ Ca từ trong nhiều bài hát của ông là những vẫn thơ đẹp mĩ miều
Trịnh Công Sơn sinh ra và lớn lên ở giai đoạn có nhiều biến động lớn trong lịch sữ dân tộc và nhân loại Là tầng lớp tri thức trẻ chịu nhiều sự tác động của các nền văn hóa phương Tây đặc biệt là Pháp Là lớp người có những nhìn nhận khá sâu sắc về hoàn cảnh dân tộc hiện thời Những luận đề trên là lý do hoàn toàn hợp lý, giải thích cho những suy tư, trăn trở về con người trong sáng tác của Trịnh Công Sơn Là nền móng ban đầu tạo nên những bứt phá trong nhận thức của chàng nhạc sĩ trẻ tài hoa Trịnh Công Sơn, đem đến cho
Trang 6đời những ca khúc phản chiến đậm tính nhân văn, những bản tình ca đậm chất triết lý cuộc đời
Vào thời điểm đầu thế kỉ XX, đã có những tên tuổi lớn, phủ bóng khắp làng nhạc Việt như Phạm Duy, Văn Cao, Đặng Thế Sơn,… Nhưng Trịnh Công Sơn xuất hiện và đã tìm cho mình được chỗ đứng trong lòng khán giả trong cũng như ngoài nước Nét mới, đặc sắc của nhạc Trịnh Công Sơn không sang trọng như nhạc Văn Cao, không đa dạng như Phạm Duy mà là một bức tranh siêu thực, đầy chiêm nghiệm về thân phận và tình yêu Nhạc
Trịnh Công Sơn là “một cuộc hôn phối kì diệu” giữa dấu nhạc và ca từ Phần ca từ hay đến
não nùng khi hát lên nhưng không phải lúc nào cũng có thể hiểu hết những chữ trong ấy, mỗi chữ, mỗi từ, mỗi câu đều có những giá trị đặc biệt mà khi kết hợp chúng lại với nhau, chất thơ, ý thơ lại toát lên một nét đẹp đặc thù của Trịnh Công Sơn, bảng lảng, mơ hồ, khó định nhưng chắc chắn ai cũng nhận thấy là đẹp, là mê hoặc Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát
từng nói: “ Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra” Nhưng sao lại mượt mà đến
như thế?
Một điều vô cùng đặc biệt, từ nhỏ Trịnh Công Sơn đã theo học những trường thuộc Pháp, Tiếng Việt là một môn vô cùng xa xỉ trong những ngôi trường như thế Vậy mà một điều chắc chắn rằng trước, và sau Trịnh Công Sơn ta sẽ khó tìm được một nhạc sĩ thứ hai có vốn từ vựng tiếng Việt phong phú và tuyệt vời đến như thế Điều đáng nói ở đây là cách sử dụng vốn từ của Trịnh có thể xem đã đạt đến độ tinh tế và sâu sắc Sẽ là quá khập khiễng nếu ta so sánh với bậc thầy ngôn ngữ dân tộc Nguyễn Du, song cũng chẳng phải là ngoa khi xếp Trịnh Công Sơn vào một nhạc sĩ bậc thầy
Ở thế kỉ XXI, nhạc Trịnh Công Sơn vẫn có một chỗ đứng vững vàng trong lòng người hâm mộ Trịnh Công Sơn đã trở thành một trong những tên tuổi lớn Những dấu ấn của Trịnh Công Sơn trong âm nhạc nói riêng cũng như trong văn hóa nghệ thuật nói chung
là không thể phủ nhận được Nhạc Trịnh đã trở thành một thương hiệu của người Việt Nam
Đó cũng là phần nào lý do những đề tài, chuyên luận nghiên cứu về Trịnh Công Sơn, về ca
từ của ông xuất hiện ngày càng dày đặc Những nét đẹp của ca từ trong ca khúc Trịnh Công
Trang 7Sơn là rất nhiều và vẫn là đề tài hấp dẫn để chúng ta tìm hiểu Đặc biệt là phạm trù từ vựng ngữ nghĩa
Với những đóng góp đáng quý của ông vào kho tàng ngôn ngữ dân tộc, việc nghiên cứu về trường từ vựng ngữ nghĩa trong ca từ của nhạc Trịnh Công Sơn, là một sự tất yếu
của dòng chảy ngôn ngữ học Riêng đề tài Trường từ vựng màu sắc trong ca từ Trịnh Công
Sơn là một nghiên cứu hoàn toàn mới, chưa thấy xuất hiện trong thời gian gần đây Nhận
thấy sức hấp dẫn cũng như sự mới mẻ của đề tài, người viết muốn thử sức mình, muốn đóng góp phần nào những tìm hiểu nhỏ của mình về trường từ vựng màu sắc trong ca từ của Trịnh Công Sơn, để có thể thỏa niềm đam mê sâu sắc với nhạc Trịnh Công Sơn Bên cạnh
đó chúng tôi cũng muốn tôn vinh những cống hiến của Trịnh Công Sơn đối với từ vựng ngôn ngữ dân tộc; gửi đến tác giả lòng ái mộ cũng như sự kính trọng của thế hệ chúng tôi
đối với một nghệ sĩ tài hoa có phần “bạc mệnh”; thể hiện phần nào những suy nghĩ, cảm
nhận của thế hệ trẻ đối với những sáng tác đáng giá của Trịnh Công Sơn và tìm chút sự đồng điệu từ bạn đọc
2 Lịch sử vấn đề
Nhắc đến từ vựng ngữ nghĩa học chúng ta không thể bỏ qua công lao của hai nhà ngôn ngữ học lừng lẫy người Đức J Trier và L Weisgerber, hai nhà tiên phong đưa ra nhưng định nghĩa ban đầu về trường từ vựng Tiếp đó còn phải kể đến những cái tên có đóng góp cho trường từ vựng ngữ nghĩa như, G Ipsen, J Trier Những đóng góp của các nhà ngôn ngữ học này đã làm cho sự xuất hiện của trường từ vựng vào những năm 20-30 của thế kỉ XX trở nên phong phú và đa dạng hơn về hướng tiếp cận
Ở Việt Nam, người có những công trình tiếp thu, hưởng ứng đầu tiên nhất, có lẽ phải
kể đến giáo sư Đỗ Hữu Châu với “Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa” ra
đời năm 1973 Ở những công trình sau đó của mình, Đỗ Hữu Châu đi vào phân loại trường
từ vựng trong tiếng Việt Theo đó các khái niệm, trường biểu vật, trường biểu niệm, trường
tuyến tính, và trường liên tưởng lần lượt ra đời Các công trình của Đỗ Hữu Châu là những
bước đệm, tạo đà cho việc nghiên cứu trường từ vựng ở Việt Nam phát triển, đồng thời
Trang 8cũng mang vai trò tiên phong, đúng hướng để các nghiên cứu khác học hỏi, lấy đó làm tài liệu nghiên cứu
Tiếp sau đó có những công trình tiếp thu khác như Từ vựng học tiếng Việt của Nguyễn Thiện Giáp, Ngữ nghĩa học của Lê Quang Thiêm và một số công trình khác
Bên cạnh đó còn có sự xuất hiện của một số luận án, đề tài về trường từ vựng như:
Luận án Phó Tiến Sĩ Trường từ vựng bộ phận cơ thể người, bảo vệ năm 1988 của
Nguyễn Đức Tồn
Luận án Phó Tiến Sĩ Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật ra đời năm
1996 của Nguyễn Thúy Khanh
Luận văn Thạc sĩ Cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ thuộc trường “thực vật Do Đinh Thị
Oanh bảo vệ Năm 1999
Ở chương thứ 8 của công trình Tìm hiểu đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ
và tư duy ở người Việt do Nguyễn Đức Tồn xuất bản năm 2002, đã chỉ ra đặc điểm ngữ
nghĩa của trường gọi thực vật
Luận văn Thạc sĩ Trường từ vựng tên gọi các loại cây trong ca dao của người Việt
bảo vệ năm 2007 của Phan Thị Thúy Hằng
Năm 2008, Lê Thị Thanh Nga bảo vệ luận văn Thạc sĩ Đặc điểm lớp từ ngữ thuộc
trường nghĩa chỉ vật dụng - biểu tượng tình yêu trong ca dao tình yêu lứa đôi
Bên cạnh đó còn có một số nghiên cứu, chuyên đề được in trên một số tạp chí như:
Trường ngữ nghĩa biểu hiện quan niệm về nữ giới trong tục ngữ Việt (Đăng trên Tạp
chí Ngôn ngữ và đời sống, số 6 (140) - 2007), năm 2007 của tiến sĩ Đỗ Thị Kim Liên
Trường nghĩa ẩm thực trong các bài báo viết về bóng đá (Đăng trên tạp chí Ngôn
ngữ và đời sống, số 7 (165) - 2009), năm 2009 của tiến sĩ Hoàng Anh và Nguyễn Thị Yến
Trang 9Trường từ vựng chỉ không gian trong tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận (Đăng trên tạp
chí Ngôn ngữ và đời sống, số 1+2 (171+172) – 2010), năm 2010 của tác giả Trần Thị Mai
Ở các công trình trên, lý thuyết trường được vận dụng vào nghiên cứu với vai trò là
cơ sở tập hợp từ để phục vụ cho các mục đích nghiên cứu khác nhau Như các công trình của tác giả Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn Thúy Khanh, Phan Thị Thúy Hằng, Đỗ Thị Kim Liên tập hợp các trường từ để nghiên cứu về đặc trưng văn hóa Tác giả Đinh Thị Oanh nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ về mặt ngữ nghĩa nhưng chỉ gói gọn trong phạm vi các vị từ Tác giả Lê Thị Thanh Nga thì nghiên cứu về mặt đặc điểm của từ ngữ Tiến sĩ Hoàng Anh và Lê Thị Yến nghiên cứu trường nghĩa ẩm thực trong các bài viết về bóng đá để chỉ ra sự sinh động trong cách sử dụng từ ngữ Bài viết của tác giả Trần Thị Mai áp dụng lý thuyết trường
từ vựng ngữ nghĩa để nghiên cứu về ngôn ngữ thơ
Riêng về từ chỉ màu sắc, cũng có xuất hiện một số công trình như:
Biện Minh Điền với bài viết “Về tính từ chỉ màu sắc trong thơ Nguyễn Khuyến” (Ngôn ngữ số 7- 2000)
Bên cạnh đó còn có, “Màu xanh trong thơ Nguyễn Bính”, Nguyễn Thị Thành Thắng
(Ngôn ngữ số 11-2001)
Trên Ngôn ngữ và Đời sống số 8 năm 2006, Hà Thị Thu Hoài viết “Từ chỉ màu sắc
để miêu tả thiên nhiên trong tác phẩm Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài”
Đinh Trí Dũng- Lê Thu Giang nghiên cứu từ chỉ màu sắc trong thơ Thế Lữ qua bài
viết “Thế Lữ - người vẽ tranh ngôn từ thi ca” trên Ngôn ngữ và Đời sống (số 8- 2007)
Các công trình trên hầu hết đều dùng lý thuyết trường từ như là cơ sở để tập hợp, nghiên cứu về một phạm vi ngôn ngữ trong một lĩnh vực nhất định Dùng từ vựng màu sắc
như một đối tượng cụ thể để hiện thực hóa lý thuyết Riêng Trường từ vựng màu sắc trong
ca từ Trinh Công Sơn chưa từng thấy xuất hiện
Trang 10Kể từ sau 1975 đã có những bài viết về ca khúc Trịnh Công Sơn ở trong và ngoài nước Đầu tiên phải kể đến đề tài cao học của một cô gái người Nhật Yoshii Michiko, với
tựa đề được dịch Những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn hoàn thành năm 1990 tại
Paris, Pháp Đây là một trong những nghiên cứu bài bản, khoa học gần như đầu tiên về sáng tác của Trịnh Công Sơn, từ số lượng bài hát, các dòng nhạc mà ông sáng tác, đến hoàn cảnh
ra đời của từng bài Những nhận định đầy cảm xúc nhưng cũng không kém phần khoa học, rất đáng trân trọng
Ở Việt Nam, có dấu ấn hơn cả phải kể đến hai quyển tập hợp những bài viết về ông ngay sau khi nhạc sĩ qua đời không lâu
Đó là Trịnh Công Sơn (1939 – 2001) – Cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội họa và suy tưởng
của Trịnh Cung và Nguyễn Quốc Thái Quyển này hai tác giả tập hợp nhiều bài viết của những bạn bè, thân nhân, những bài văn, thơ, một số tác phẩm hội họa của cố nhạc sĩ, rất đáng trân trọng, song có phần chưa đi sâu vào những ca khúc, ca từ…mà chủ yếu quan tâm đến những thông tin riêng, những hình ảnh về cố nhạc sĩ
Quyển thứ hai cần phải kể đến là tuyển tập Một cõi Trịnh Công Sơn của các tác giả
Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha và Đoàn Tử Huyến Ở quyển này chủ yếu cũng là tập hợp và biên soạn lại những bài viết về Trịnh Công Sơn và nhạc Trịnh Bên cạnh đó các tác giả cũng giới thiệu trên dưới 70 ca khúc và viết lại ca từ như những bài thơ để làm nỗi bật lên chất thơ của nhạc Trịnh Công Sơn Đây là những việc làm rất hữu ích cho những người nghiên cứu sau này
Bên cạnh hai quyển trên, ra đời trong khoảng thời gian gần, sau khi nhạc sĩ mất Còn
phải kể đến cuốn Trịnh Công Sơn và cây đàn Lya của Hoàng Tử Bé do nhà văn Hoàng Phủ
Ngọc Tường, bạn thân của nhạc sĩ từ thuở niên thiếu viết Bằng nét tài hoa của mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường đưa ta tới với một Trịnh Công Sơn đời thường gần gủi qua những kí ức Quyển sách mang tính tạp văn, có lẫn chút hơi thở của kí và tự truyện, mang nhiều ý nghĩ triết lý về một con người
Trang 11Sau ba quyển kể trên, cũng không thể không kể đến Trịnh Công Sơn ngôn ngữ và
những ám ảnh nghệ thuật, chuyên luận của Bùi Vĩnh Phúc, một trong những nghiên cứu có
thể nói là có giá trị chuyên sâu về ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn Chuyên luận nghiên cứu khá chi tiết về những ám ảnh thường xuyên xuất hiện trong nhạc Trịnh, phân tích kỹ lưỡng
và rất có giá trị văn học Bên cạnh đó tác giả cũng có đưa thêm một số ca khúc được viết lại
ca từ như những bài thơ để làm tư liệu Tuy có một số trùng lặp với Một cõi Trịnh Công Sơn
nhưng sắp xếp có phần logic hơn Đây là quyển được đánh giá cao về văn học và có giá trị nghiên cứu hơn cả
Cũng có thể kể đến Trịnh Công Sơn người hát rong qua nhiều thế hệ của Trần Thanh
Phương và bạn bè của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn Sưu tầm, đây là tập hợp rất nhiều bài viết của chính Trịnh Công Sơn in trên các tạp chí, các trang báo thời đó và cũng có cả những bài viết
về Trịnh Công Sơn như những quyển đã kể trên
Gần đây, còn có hai quyển mới được xuất bản đó là Trịnh Công Sơn Ánh nến và Bạn
bè của nhiều tác giả do nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành Ở quyển này chủ yếu tập hợp
những bài viết của bạn bè, người thân hồi tưởng cũng như ghi lại những kí ức đáng trân
trọng về tác giả, bày tỏ tình cảm với Trịnh Công Sơn Sau đó là quyển Trịnh Công Sơn, Bob
DyLan như trăng và nguyệt của tác giả nước ngoài Jonh C.Schafer xuất bản 2012 Đây là
một tài liệu hoàn toàn mới, với những cái nhìn so sánh độc đáo về điểm gặp gỡ kì diệu giữa hai con người, hai nhạc sĩ lừng danh của hai châu lục, Bob Dylan và Trịnh Công Sơn Tác giả có những am hiểu khá đầy đủ về ngôn ngữ, về tôn giáo, về phương Đông học và văn hóa tín ngưỡng… nên có những phân tích rất chi tiết, chỉ ra những điểm gặp gỡ cũng như những điểm nổi bật riêng của hai nhạc sĩ tài năng
Còn có khá nhiều bài viết, luận văn đại học, nghiên cứu ít quy mô hơn được in rải rác trên các tạp chí cũng nói khá nhiều về Trịnh Công Sơn Rõ ràng Trịnh Công Sơn đã và đang
là vấn đề nghiên cứu được rất nhiều người quan tâm, tìm hiểu
Trang 123 Mục đích, yêu cầu nghiên cứu
Trịnh Công Sơn nói “Hội họa và âm nhạc là hai người bạn đồng hành trong nghệ
thuật Trong âm thanh có màu sắc và ngược lại, trong màu sắc có âm thanh Khi bạn nghe một bản nhạc, bạn đắm chìm vào bản nhạc ấy và trong khối lượng âm thanh kia bỗng
mở ra cho bạn một không gian đầy màu sắc, lung linh, óng ả mà có thể để bạn chưa bao giờ nhìn thấy ”.[20] Ý kiến trên của Trịnh Công Sơn cho ta thấy sự gắn kết giữa màu sắc và
âm nhạc của ông
Khi nghiên cứu đề tài : Trường từ vựng màu sắc trong ca từ Trịnh Công Sơn người
viết xác định những mục đích, yêu cầu sau:
Bằng những kiến về ngôn ngữ và văn chương có được sau 4 năm đại học, người viết muốn tìm hiểu về lý thuyết trường tự vựng ngữ nghĩa qua đó tìm hiểu từ vựng màu sắc trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn, giá trị của chúng trong việc khắc họa những cung bậc cảm xúc, tình yêu, những thân phận con người trong các ca khúc của cố nhạc sĩ và những nét đặc sắc trong ngôn ngữ của ông Muốn làm được như thế, người viết phải nắm vững kiến thức về trường từ vựng, tập hợp được các ca khúc của Trịnh Công Sơn, thống kê một cách trung thực từ vựng màu sắc đã được sử dụng, khảo sát chúng trên trục tuyến tính, chỉ
ra sự liên tưởng của tác giả trên trục kết hợp, phân tích được giá trị của chúng trong ca từ Trịnh Công Sơn
Mong mỏi luận văn sẽ có giá trị tham khảo cho các nghiên cứu sâu hơn về Trịnh Công Sơn Đến với đề tài này còn là lòng ngưỡng mộ của người yêu nhạc Trịnh, thích tìm
hiểu ngôn ngữ trong ca từ “bảng lảng” của ông
Trang 13Trên cơ sở tiếp thu ý kiến từ những người đi trước, ở đề tài này phạm vi nghiên cứu
bao gồm 140 ca khúc tìm được, in trong Tuyển tập Những bài ca không năm tháng (nhà xuất bản Âm nhạc xuất bản năm 1998), Một Cõi Trịnh Công Sơn, và Trịnh Công Sơn ngôn
ngữ và những ám ảnh nghệ thuật Dựa trên lý thuyết trường từ vựng đã tìm hiểu, những bài
hát nêu trên sẽ là ngữ liệu nghiên cứu về trường từ vựng màu sắc trong ca từ Trịnh Công Sơn (tên tất cả các bài hát đã xem xét được ghi ở phần phụ lục 1)
5 Phương pháp nghiên cứu
Sau khi tìm đọc các ca khúc của Trịnh Công Sơn, để hoàn thành nghiên cứu người viết sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như :
Phương pháp thống kê, phân loại ngữ liệu: người viết dùng phương pháp này để tập hợp, khảo sát những từ ngữ thuộc trường từ vựng màu sắc thuộc phạm vi nghiên cứu Sau
đó phân loại trường từ vựng màu sắc theo các phạm trù màu làm cơ sở phân tích
Phương pháp phân tích, chứng minh: người viết bóc tách các mối quan hệ ngữ nghĩa của từ vựng màu sắc trong ca từ Trịnh Công Sơn trong ngữ cảnh, tìm hiểu mối quan hệ liên tưởng, phân tích giá trị ngữ nghĩa của chúng
Phương pháp so sánh, đối chiếu: ở phương pháp này, người viết bằng kiến thức có được, dựa trên những điểm giống và khác nhau để so sanh đối chiếu, tìm ra những đặc sắc của ca từ Trịnh Công Sơn
Phương pháp tổng hợp: sau khi phân tích, người viết dùng phương pháp này để đúc kết những đặc trưng, giá trị chung của trường từ vựng màu sắc trong ca từ Trịnh Công Sơn
Bên cạnh các phương pháp trên người viết cũng sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp xã hội học, phương pháp tiểu sử Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết ý thức được rằng không có phương pháp nào là tuyệt đối vì vậy trong quá trình vận dụng người viết đã kết hợp các thế mạnh của mỗi phương pháp để góp phần hoàn thiện đề tài
Trang 14PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
Theo Đỗ Hữu Châu “Các hình vị kết hợp với nhau thành những đơn vị có nghĩa lớn
hơn Những đơn vị này trực tiếp kết hợp với nhau tạo thành các câu nói Truyền thống ngôn ngữ học gọi đơn vị thứ ba này là từ.”[4; 5] Ông còn nhấn mạnh những đặc điểm của từ, về
hình thức ngữ âm và nghĩa, về tính cố định, sẳng có, về tính thực tại và hiển nhiên của
chúng Bên cạnh đó Đỗ Hữu Châu còn định nghĩa từ trong tiếng Việt “Từ của tiếng Việt là
một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, tất cả ứng với một kiểu nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt.”[4; Tr.13]
Đỗ Hữu Châu tiến hành phân loại từ thành hai nhóm: Từ đơn và Từ phức, trong đó ông chia từ phức thành Từ láy và Từ ghép Cách hệ thống như trên rất hợp lý và bao quát
được các nhân tố của từ, đây là cách phân loại được sự đồng tình của khá nhiều nhà ngôn
ngữ học Đỗ Hữu Châu nhận định từ có hai chức năng cơ bản: Chức năng biểu nghĩa (biểu thị sự vật hiện tượng …) và chức năng tạo câu Những nghiên cứu của ông tập trung nhiều
vào chức năng thứ nhất, nghĩa của từ
Đỗ Hữu Châu trình bày các khái niệm đại khái như sau:
Trang 15Từ Đơn: Là từ do một từ tố tạo nên, căn cứ vào số lượng âm tiết ta có thể chia từ
đơn thành từ đơn đơn tiết và tư đơn đa tiết Một số ví dụ cho từ đơn đa tiết như: ba ba, mãng cầu, đu đủ, nam mô, bồ đài, ba lơn, thằn lằn, măng cục… Còn ví dụ về từ đơn đơn tiết thì
chắc không cần phải nêu thêm nữa, vì đa phần từ vựng của chúng ta là từ đơn tiết “Các từ
đơn, đặc biệt là từ đơn đơn âm mang những đặc trưng tiêu biểu về ngữ nghĩa của tiếng Việt, đóng vai trò quan trọng trong cấu tạo từ, vừa là từ tố được dùng để tạo nên từ láy và
từ ghép của tiếng Việt.”[3; Tr 46]
Từ Phức: Là từ do hai hoặc hơn hai từ tố tạo nên Trong từ phức có từ láy và từ
Kiểu cấu tạo từ thứ hai trong từ phức, là từ láy “Từ láy là những từ phức do phương
thức láy tác động vào một từ tố cơ sở làm xuất hiện một từ tố phát sinh được gọi là từ tố láy”[3; Tr 60] Hai từ tố ấy kết hợp lại tạo nên từ láy Dựa theo phương thức láy ta có từ láy hoàn toàn ví dụ: xanh xanh, đo đỏ, nằng nặng, cao cao, và từ láy bộ phận ví dụ: nhẹ nhàng, dịu dàng, dễ dãi, mỉa mai, nhá nhem, Dựa theo số lượng từ tố ta có thể có các từ láy đôi ví dụ: xanh xanh, dịu dàng, mơ màng,… ; từ láy ba ví dụ: dửng dừng dưng, sạch sành xanh, tất tần tật,… ; từ láy tư ví dụ: quần quần áo áo, bù lu bu loa, trùng trùng điệp điệp, khập kha khập khiểng,…
Còn theo Nguyễn Thiện Giáp “Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng và của ngôn ngữ nói
chung.”[7; Tr.16] Ông nhấn mạnh chức năng định danh của từ “Chức năng cơ bản của từ
là chức năng định danh… Vốn là đơn vị định danh từ có thể biến thành yếu tố có chức năng tương tự như hình vị hoặc có thể đảm nhiệm chức năng thông báo vốn là đặc trưng của câu.”[7; Tr.17]
Trang 16Bên cạnh đó phải kể đến nhận định của Nguyễn Văn Tu “Từ là đơn vị cơ bản chủ
yếu có khả năng vận dụng độc lập mang nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp Chúng ta gọi từ là đơn vị trung tâm, vì từ có đầy đủ những tiêu chuẩn của đơn vị ngôn ngữ cơ bản và là đơn vị ngôn ngữ quan trọng nhất.”[16; Tr.35]
Trong ngôn ngữ đồng thời cũng có những đơn vị khác cũng có chức năng tương tự như từ nhưng, có cấu tạo không thể đồng nhất với từ, đó là các cụm từ cố định, các cụm từ này được giới Việt ngữ học gọi là thành ngữ, quán ngữ, hay phương ngôn…
Cụ thể hơn Đỗ Hữu Châu viết “ Đối chiếu với từ phức và cụm từ tự do, có thể nói:
ngữ cố định là các cụm từ ( ý nghĩa có tính chất là ý nghĩa của cụm từ, cấu tạo là cấu tạo của cụm từ), nhưng đã cố định hóa, cho nên cũng có tính chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, có tính xã hội như từ.”[4; Tr.36] Chúng ta hiểu nghĩa của cụm từ cố định như hiểu một cụm từ
chính phụ thông thường, nhưng hình thức của chúng đã được cố định hóa, khi sử dụng phải dùng đúng như nó đã có Vì đã cố định hóa nên bản thân cụm mang tính thành ngữ rất cao
và có khi trở thành thành ngữ Một số ví dụ như: giàu bà cố, đi guốc trong bụng, chối bây
bẫy, hết nước hết cái…
Nguyễn Thiện Giáp cũng giải thích rất rõ ràng về cụm từ cố định, cụ thể như sau:
“Những cụm từ cố định không phải do người ta tùy tiện tạo ra mà đã hình thành trong lịch
sử Chúng là những đơn vị có sẵn như những từ trong ngôn ngữ Những từ trong cụm từ cố định với mức độ khác nhau mất tính độc lập về nghĩa và tổ hợp thành một kết cấu hoàn chỉnh Nói chung, ta không nên tùy tiện thay đổi trật tự của những từ hay thêm bớt những từ trong cụm từ cố định.”[16; Tr.180] Ông lý giải “Cụm từ cố định dùng để chỉ một khái niệm thống nhất như một từ, được dùng để đặt câu, cho nên nó là đối tượng của từ vựng học.”[16;Tr.181]
Đó là những nhận định về từ, còn dối với từ vựng, Từ vựng là thuật ngữ để chỉ tập
hợp các từ và các đơn vị tương đương với từ trong ngôn ngữ học
Như đã biết từ vựng là một trong ba bộ phận cấu thành của ngôn ngữ học (từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp) Tuy nhiên bản thân từ vựng lại có phần nhỉnh hơn hai bộ phận còn lại
Trang 17về mặt số lượng cũng như vai trò của mình Khi ta nói đến một sự kiện ngôn ngữ học là phải
đề cập đến thành tố cũng như giá trị chức năng của sự kiện ấy, từ vựng cũng vậy Như đã nói từ vựng được hợp thành bởi từ và các đơn vị ngang với từ Về mặt chức năng của từ vựng xét trên cơ sở ngữ pháp chúng là đơn vị của câu và các cấp bậc cao hơn câu.Về mặt ngữ nghĩa, từ vựng bao hàm nghĩa biểu vâ ̣t , nghĩa biểu thái , nghĩa biểu niệm , và cả nghĩa hành động ngôn từ
1.1.1.2 Về trường từ vựng
Trường từ vựng là một phạm trù trong lĩnh vực nghiên cứu từ vựng học xuất hiện từ những năm 20 – 30 của thế kỷ XX Người có công lao đưa lý thuyết trường vào ngôn ngữ học là hai nhà ngôn ngữ học người Đức J Trier và L Weisgerber
Có nhiều quan niệm về trường từ khác nhau nhưng chủ yếu xoay quanh hai khuynh hướng:
Khuynh hướng 1: Đại diện cho khuynh hướng này là L.Weisgerber và J Trier Chịu
ảnh hưởng của học thuyết Humboldt cho rằng ngôn ngữ là cái phản ánh tinh thần của một dân tộc và tư tưởng của Saussure về tính hệ thống của ngôn ngữ Hai nhà ngôn ngữ học cho rằng trường từ vựng là phạm vi các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện, người ta
có thể tập hợp các khái niệm thành trường bằng các đơn vị từ vựng của ngôn ngữ từng dân tộc Tuy nhiên, khái niệm và nghĩa của từ không hoàn toàn đồng nhất Chính vì vậy, việc tập hợp các khái niệm để lập thành các trường từ vựng của trường phái J Trier còn nhiều điều bất hợp lý
Khuynh hướng 2: Khuynh hướng này gồm nhiều quan niệm dựa vào các tiêu chí
ngôn ngữ học
Hướng dựa vào ngữ pháp của từ: Theo khuynh hướng này, Muller và Porrig tập hợp
các từ có đặc điểm ngữ pháp giống nhau, nghĩa là có khả năng kết hợp giống nhau với các
từ khác để thành lập trường từ vựng - cú pháp
Ví dụ:
Trang 18Trong tiếng Anh, trường từ vựng - cú pháp gồm các từ có khả năng kết hợp ở
phía trước với: the hoặc a, an, hoặc this, that
Trong tiếng Việt, trường từ vựng - cú pháp các từ có khả năng kết hợp ở phía
trước với: rất, hơi, khá, khí và ở phía sau với lắm, quá
Hướng dựa vào hình thái và chứa năng của từ: Dựa vào tiêu chí này, Ipsen đã thành
lập trường từ vựng - ngữ pháp Đây là tập hợp các từ có cùng căn tố, có cùng trường cấu tạo
từ:
Hướng dựa vào các nét nghĩa phạm trù, các nét nghĩa loại: Theo hướng này, người
ta dựa vào các nét nghĩa phạm trù, nét nghĩa loại để lập các trường từ vựng - ngữ nghĩa Đây
là tập hợp các từ có quan hệ về mặt ngữ nghĩa
Ví dụ: Việc lập các trường từ vựng - ngữ nghĩa dựa vào nét nghĩa màu sắc, hoặc mùi
vị, thời gian, hoặc phương hướng, hoặc thức ăn, hoặc các phương tiện đi lại trên bộ, dưới nước
Hướng dựa vào các từ mà khi người nghe liên tưởng tới khi nghe được một từ nào đó: Theo hướng này, người ta lập các trường từ vựng ngữ nghĩa liên tưởng
Ví dụ: Nghe từ lài, trường liên tưởng của người Việt có thể gồm các từ sau đây: hoa,
màu trắng, thơm ngát, người trồng hoa, người mà bạn đã có lần gặp khi có mùi hoa lài, kỹ
nữ, gái ăn sương,
Nói tóm lại, có nhiều quan niệm về trường từ khác nhau nhưng chủ yếu xoay quanh các xu hướng; dựa vào tập hợp các từ gần nghĩa với nhau về tiêu chí hình thái hình thái và
chức năng của từ, với Trường từ vựng – ngữ pháp do G Ipsen đặt ra, Trường từ vựng – ngữ
Trang 19nghĩa của J Trier, hoặc hai mối quan hệ Ngữ đoạn (ngang, tuyến tính) và quan hệ Đối vị
(dọc, trực tuyến) ta có Trường từ vựng – trực tuyến, Trường từ vựng – tuyến tính Bên cạnh
đó còn có Trường từ vựng – liên tưởng dựa trên quan hệ liên tưởng, liên hội trong nhận
thức
Ở Việt Nam nỗi bật là những công trình của Đỗ Hữu Châu, ông cho rằng “Trường từ
vựng ngữ nghĩa là tập hợp các từ và ngữ cố định trong từ vựng của một ngôn ngữ dựa vào
sự đồng nhất nào đấy về nghĩa.”[3; Tr.127]
Bên cạnh đó trong quyển Dẫn luận ngôn ngữ học xuất bản 2009 của Vũ Đức
Nghiệu và Nguyễn Văn Hiệp định nghĩa: “Trường ngữ nghĩa (còn được gọi là trường từ
vựng) là những tiểu hệ thống, những tổ chức của từ vựng, gồm những từ ngữ có quan hệ về nghĩa với nhau một cách có hệ thống.”
Nói tóm lại, trường từ vựng (trường nghĩa) là tập hợp các đơn vị từ vựng có quan hệ
với nhau dựa trên một tiêu chí nào đó về nghĩa
1.1.2 Phân loại trường từ vựng
Việc phân loại trường từ vựng có nhiều ý kiến, theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu có
thể dựa vào các mối quan hệ ngang, dọc và liên tưởng trong ngôn ngữ để tiến hành phân loại trường từ vựng
1.1.2.1 Trường từ vựng trực tuyến
Trường từ vựng trực tuyến hay trường nghĩa dọc là tập hợp các đơn vị từ vựng hoặc tương đương từ có dặc điểm cùng chỉ về một phạm vi sự vật hiện tượng nào đó hoặc có cấu trúc biểu niệm giống nhau Theo đó ta có hai trường tương ứng: trường biểu vật và trường biểu niệm
1.1.2.1.1 Trường biểu vật
Nghĩa biểu vật là một trong những thành phần ý nghĩa từ vựng của từ, tập hợp những
từ có điểm chung nhất nào đó về nghĩa biểu vật sẽ tạo thành trường biểu vật Đỗ Hữu Châu
Trang 20viết “Các từ cùng chỉ những sự vật thuộc một phạm vi sự vật nào đó lập thành một trường
biểu vật.”[3; Tr.127]
Ví dụ trường từ vựng về con người nói chung ta có thể có:
+ Tuổi tác: trẻ em, thanh niên, thiếu niên, trung niên, người già, …
+ Nghề nghiệp: học sinh, công nhân, bác sĩ, nhạc sĩ, …
+ Các hoạt động của người: đi, đứng, chạy, làm việc, ăn,…
+ Ngoại hình: cao, thấp, mập, ốm, đẹp, xấu,
+ Tâm lý: vui, buồn, giận, sung sướng, hạnh phúc, …
Tấc cả các ví dụ trên đều thuộc trường từ vựng về con người nói chung
Một đơn vị từ vựng có thể thuộc nhiều trường biểu vật khác nhau do hiện tượng
nhiều nghĩa của từ Ví dụ do hiện tượng nhiều nghĩa của từ ta có các từ: tay, chân, đầu,
thân,… Các từ này thuộc trường chỉ cơ thể người, song trong một trường hợp khác: tay áo, chân bàn, đầu kênh, thân cây,… cũng đã thuộc những trường đồ vật, tự nhiên Tương tự, ví
dụ các từ: đứng, ngồi, quỳ, nằm, dựa, thuộc trường từ vựng chỉ tư thế, điệu bộ con người, đồng thời lại thuộc trường từ vựng chỉ hoạt động của động vật, ví dụ như: voi quỳ, gấu ngồi,
ngựa đứng,… Chỉ cần tập hợp các từ cùng chỉ một phạm vi sự vật nào đó ta sẽ có trường
nghĩa biểu vật của sự vật ấy
1.1.2.1.2 Trường biểu niệm
Tương tự nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm cũng là một trong những thành phần nghĩa
từ vựng của từ Căn cứ để tập hợp các từ về một trường biểu niệm là nét nghĩa chung hay cấu trúc biểu niệm khái quát Cũng như các trường biểu vật, do hiện tượng nhiều nghĩa của
từ nên có những từ có thể đi vào nhiều trường biểu niệm khác nhau và trường biểu niệm lớn
có thể chia thành các trường biểu niệm nhỏ hơn Mật độ các từ trong mỗi trường nhỏ là khác nhau Và các từ trong các trường này cũng có thể giao thoa với nhau
Ví dụ:
Trang 21- Trường biểu niệm có nét nghĩa chung về vật thể nhân tạo (dùng để phục vụ sinh
hoạt):
+ Đối tượng dùng để đặt: bàn, ghế, giường,
+ Đồ dùng để chứa đựng: tủ, chai, lọ, bình,
+ Đồ dùng để mặc: áo, quần, giày, dép, nón,
- Trường biểu niệm có nét nghĩa chung về tính chất tốt hay xấu (có tác động tích
cực hay tiêu cực đến đối tượng khác): hiền lành, tốt bụng, hung bạo, tàn bạo,
- Trường biểu niệm hoạt động tác động đến sự vật X, làm cho X có tình trạng:
* Y động hay tĩnh:
+ Động hay tĩnh tại chỗ một cách cơ giới: rung, lay, lắc,
+ Y dời chỗ hay dừng lại: đẩy, xô, ném, lao, giật, bẩy, quay,
+ X là thiết bị cơ khí: khởi động, tắt (máy), nổ (nổ máy),
+ X là trang thái sinh lí hay tâm lí: Thức, đánh thức, kích thích,
- Trường biểu niệm làm cho X có những biến đổi trong trạng thái Y, trạng
thái nằm trong bản thân X:
+ Tăng hay giảm về kích thước: co, giãn, mở, đóng, xẹp, phình, tăng trọng, giảm,
+ Bị phá vỡ hay liền lại: phân, chia, phân tán, liên kết, ghép, kết hợp,
1.1.2.2 Trường từ vựng tuyến tính
Trường tuyến tính hay trường nghĩa ngang là một tập hợp các từ có thể kết hợp với một từ tố gốc tạo nên các câu, cụm, ngữ theo trục quan hệ tuyến tính
Đỗ Hữu Châu nói “Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn m ột từ
làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó tạo thành những chuổi tuyến tính (cụm
Trang 22Mục đích chính của việc thành lập các trường tuyến tính, là để ta có thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó Một vài ví dụ về trường từ vựng tuyến tính
Trường tuyến tính của từ đi:
Đi + nhanh, chậm, chập chững, khập khiểng…
Đi + người, sinh viên, heo, bò, voi, trâu, ngựa…
Đi + học, chơi, du lịch, làm, chợ, ăn tiệc…
Từ Hồng có thể kết hợp thành má hồng, gót hồng, ngay cả mưa hồng…
Các từ trong cùng một trường nghĩa tuyến tính là những từ thường được kết hợp với nhau theo chuẩn mực có thể chấp nhận được của một ngôn ngữ Nói nôm na là những từ cộng đồng có thể hiểu và chấp nhận được khi chúng đi với nhau Song cũng phải nói đến những ngoại lệ trong văn chương, do sự sáng tạo của văn nghệ sĩ các từ tố có thể kết hợp
với nhau rất đặc biệt để thực hiện ý đồ của tác giả Ví dụ Trời cao + níu bước sơn khê hay
Bàn tay + chăn gió mưa sang… Là những thí dụ điển hình cho sự kết hợp độc đáo của từ
ngữ
Do hiện tượng nhiều nghĩa của từ, một từ tố gốc có thể lập thành những trường tuyến tính khác nhau về tính chất phụ thuộc vào nghĩa được dùng làm gốc Trường hợp phương ngữ thì trường nghĩa ngang của phương ngữ có thể khác với trường nghĩa ngang của ngôn ngữ toàn dân
Có rất nhiều từ có thể đi với một từ tố gốc, tuy nhiên mức độ khắng khít của những
từ đó với từ tố gốc không giống nhau Sự khác nhau ấy tùy vào mức độ thường xuyên sử dụng hay sự chấp nhận của cộng đồng Một số nhà ngôn ngữ ho ̣c go ̣i nó là tính mòn của ngôn ngữ Khi lối mòn ấy bi ̣ phá vỡ , sẽ có vô số điều thú vị xảy ra , đă ̣c biê ̣t là với các tác phẩm văn chương
Cùng với trường trực tuyến, trường tuyến tính góp phần phát hiện ra tính hệ thống, quan hệ ngữ nghĩa giữa các đơn vị từ vựng
Trang 231.1.2.3 Trường từ vựng liên tưởng
Một loại trường từ khác với trường trực tuyến và trường tuyến tính là trường từ vựng liên tưởng Như đã được định danh, trường từ liên tưởng được thành lập dựa trên mối quan
hệ liên tưởng, liên hội trong nhận thức con người về thế giới khả hữu xoay quanh một từ trung tâm làm cốt lõi Ch.Bally một nhà ngôn ngữ học người Pháp đã đưa ra khái niệm trường từ này
Hiểu đơn giản về trường từ vựng liên tưởng, khi một từ tố được đưa ra, dựa trên năng lực liên hội và vốn hiểu biết của từng người, từ tố ấy sẽ gợi ra một loạt những từ tố khác có mối quan hệ với từ tố ban đầu, từ tố gốc về một hay một vài phương diện nào đó kể cả trong ngôn ngữ học và cả thế giới khách quan
Trường từ vựng liên tưởng trước hết là tập hợp những từ tố cùng nằm trong các trường trực tuyến, tuyến tính và một số từ tố khác có mối quan hệ nào đó với từ tố gốc kể cả các mối quan hệ ngoài ngôn ngữ như, dân tộc, thời đại và cả sự liên hội cá nhân… Sức mạnh của trường này hay độ nông sâu về ngữ nghĩa phụ thuộc vào khả năng liên hội cũng như vốn từ của từng cá nhân riêng biệt
Do sự phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố ngoại ngôn ngữ ( văn hóa, xã hội…) nên trường từ vựng liên tưởng của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ, từng dân tộc, kể cả từng
cá nhân là hoàn toàn khác nhau và có khi đối nghịch với nhau
Đỗ Hữu Châu định nghĩa “ Khi từ ngữ của cả dân tộc hay của một người có sức gợi
liên tưởng, như vậy mỗi từ sẽ thành trung tâm của một trường liên tưởng.”[3;Tr.142]
Một số ví dụ về trường liên tưởng như từ Quê hương gợi ra các từ như chùm khế
ngọt, cầu tre nhỏ, con sông, đường đi học, con diều, đêm trăng…Hay mục đồng gợi ra đàn chiên, đồi cỏ, tiếng sáo, con diều, lưng trâu…
Trong ngôn ngữ văn chương nói riêng , trường từ vựng liên tưởng đóng mô ̣t vai trò
vô cùng quan tro ̣ng trong viê ̣c ta ̣o nên chiều sâu , hay nghĩa bóng của tác phẩm Nó là công
cụ để nhà văn tạo nên nét riêng , nét độc đáo của tác phẩm mình hạ sinh
Trang 241.1.3 Khái niệm trường từ vựng màu sắc
Trong tiếng Việt, lớp từ chỉ màu sắc chiếm một số lượng khiêm tốn nhưng giữ vai trò quan trọng Để hiểu khái niê ̣m trường từ v ựng màu sắc , điều trước hết ta phải hiểu “màu
sắc” là gì
Theo lý thuyết Phương Tây , thì chỉ có ba màu cơ bản nhất tạo nên cấp độ 1 của màu
gồm: đo ̉, xanh, vàng Với ba màu này chồng lên nhau ta sẽ có các màu thuộc cấp độ 2 trên
bảng màu Các màu này đươ ̣c chia làm hai gam cơ bản : gam nóng và gam lạnh Sự giao thoa giữa gam nóng và gam lạnh tạo nên gam màu ấm và gam màu mát Bên cạnh đó người
ta cũng phân loại các màu theo độ đậm nhạt như: Màu sáng, màu sậm, màu nhạt, màu tươi
Theo vâ ̣t lý ho ̣c , màu sắc là một d ải quang phổ có bước sóng khác nhau theo thứ tự
đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím Chúng là thứ tự ng ắn dần của bước sóng và nh ạt dần về
mức sáng Về cơ bản đen và trắng không phải là màu , màu đen hay màu trắng thực chất là
tổ hơ ̣p tất cả các màu với sắc đô ̣ khác nhau Hiểu mô ̣t cách đơn giản , trắng hoặc đen là s ắc
độ giảm tối đa hoặc tăng tối đa của các màu khi phối la ̣i
Các màu sắc từ lâu trong nhận thức con người không chỉ mang nghĩa màu sắc đơn thuần mà còn mang nhiều ý nghĩa tượng trưng khác nhau Bên cạnh đó trong các nền văn hoa khác nhau, các màu cũng mang những ý nghĩa khác nhau Ví dụ như:
Màu xanh lá là màu chung của tự nhiên đại diện cho thiên nhiên và hệ sinh thái biểu
tượng cho sự phát triển, tái sinh, và khả năng sinh sản Trong các nền văn hóa khác nhau
màu xanh lá cũng mang những ý nghĩa khác nhau Màu xanh lá cây là màu của may mắn
trong hầu hết văn hoá phương Tây, nó cũng là màu của thiên đường trong triều nhà Minh
Xanh lá cũng là màu thánh thiện của Hồi Giáo và tại Ireland nó cũng là màu may mắn Bên
cạnh những ý nghĩa tốt lành màu xanh lá cũng mang những ý nghĩa tiêu cực tại một số quốc gia như Tại Israel, màu xanh lá cây có thể mang ý nghĩa là có tin xấu
Màu hồng là màu thường được gắn vói nữ giới Nói tới màu hồng, người ta sẽ nghĩ
ngay tới màu của tình yêu, sự lãng mạn, quan tâm, màu của hạnh phúc và những gì tốt đẹp nhất Hồng là sự kết hợp của màu đỏ và trắng Màu hồng mang năng lượng nhiệt tình của
Trang 25màu đỏ và sự sâu sắc của màu trắng Đó là niềm đam mê và sức mạnh của màu đỏ được làm dịu lại bằng độ tinh khiết, cởi mở và nhẹ nhàng của màu trắng Tại một số quốc gia màu hồng lại mang nhiều nghĩa khác Đơn cư như tại Bỉ, màu hồng lại là màu dành cho bé trai Nhưng hầu hết trong các nền văn hóa màu hồng mang nghĩa hạnh phúc
Màu vàng trong thế giới tự nhiên, màu vàng là màu của hoa hướng dương, lòng đỏ
trứng và ong Trong thế giới con người, màu vàng biểu tượng cho vua chúa, cho sự chiến thắng – huy chương vàng, cúp vàng Màu vàng cũng là màu của sự hạnh phúc, lạc quan, giác ngộ, sáng tạo và ánh nắng mùa xuân Tuy vậy đằng sau ý nghĩa tích cực của màu vàng,
nó cũng đi kèm với ý nghĩa của sự ích kỷ, hèn nhát, phản bội Và trong vấn đề sức khoẻ màu vàng có nghĩa là bệnh lý
Trở la ̣i với ngôn ngữ ho ̣c , “màu sắc” theo Từ điển Tiếng Viê ̣t do viê ̣n ngôn ngữ ho ̣c
và nhà xuất bản từ điển bách khoa soạn thảo năm 2006: “màu sắc (dt), nói chung về màu
Nghĩa bóng là chỉ tính cách , đặc tính” Còn theo từ điển Từ ngữ Nam bô ̣ do nhà xuất bản
khoa khoa ho ̣c xã hô ̣i xuất bản năm 2007 “màu sắc” được ghi : “Mầu sắc hay màu sắc là
danh từ chỉ các màu nói chung , chỉ tính chất , đặc thù đặc điểm riêng biê ̣t ” Hay ta có thể
mượn định nghĩa của Đào Thản nói về màu sắc “Màu sắc là một thuộc tính của vật thể, tồn
tại một cách khách quan trong thế giới vật chất, mà thị giác con người có thể nhận biết được.” [15] Những định nghĩa trên còn khá mơ hồ về nhóm từ chỉ màu sắc
Như các khái niệm nêu trên thì từ chỉ màu sắc với các nhóm từ chỉ mùi vị, âm thanh,
có một vài điểm chung Chúng đều mang nghĩa chỉ tính chất, đặc thù đặc điểm riêng biệt Ví dụ: màu sắc và mùi vị đều là các từ chỉ những tính chất, đặc điểm riêng biệt của một sự vật, hiện tượng nào đó Song sự khác nhau nằm ở việc cảm nhận mùi vị thì bằng khứu giác và vị giác còn màu thì ta cảm nhận bằng thị giác Do sự giống nhau về mặt bản chất khái niệm nên giữ các nhóm từ trên có sự trao đổi qua lại với nhau khi sử dụng để tạo nét đặc sắc riêng
biệt Ví dụ ta nói: món này nhìn ngon quá, hay nghe màu xanh hát trong lời gió cũng hoàn
toàn có thể chấp nhận được
Trang 26Bên cạnh đó, về mặt đặc điểm hình thức như khái niệm mà Đào Thản đưa ra, cái mà người ta có thể nhận thức được bằng mắt không chỉ có màu sắc mà còn có hình dáng, kích thước Những khái niệm về từ chỉ màu sắc còn khá mơ hồ trong ngôn ngữ
Nhìn chung , nghĩa từ điển của từ “ màu sắc” trong ngôn ngữ ho ̣c không c ần phải bàn
thêm Nói cho cùng nó cũng chỉ là một danh từ với đầy đủ đặc thù như nh ững danh từ khác , chỉ một khái niệm mang tính trừu tươ ̣ng trong thế giới khách quan
Về nghĩa từ vựng , “màu sắc” đơn thuần là để chỉ đ ặc điểm về màu của một sự vật cụ
thể, nhâ ̣n biết được bằng thi ̣ giác Nhưng trong văn chương
Truyê ̣n Kiều có câu :
“Gió chiều như giục cơn sầu
Vi lô hiu hắt như màu khẩy trêu.”
Hay câu:
“Khác màu kẻ quý người thanh
Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn.”
Hay như trong Chinh Phụ Ngâm cũng có câu :
“Thiếp xin chàng chớ bạc đầu
Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung.”
Điều đó chứng t ỏ từ chỉ màu sắc từ lâu đã không còn đơn thuần chỉ là mầu sắc thuần túy Mà phạm vi nghĩa của nó khi chuyển loại cũng vô cùng phong phú đa dạng Đơn vị từ vựng chỉ màu sắc hiê ̣n ta ̣i không chỉ là những sắc th ái của một sự vật cụ thể , có thể nhận biết bằng thi ̣ giác nữa , mà nó còn là những sắc thái khác của cuộc sống , kể cả cảm xúc , suy nghĩ, hành động
Quay trở về với Trường từ vựng màu sắc, hiểu mô ̣t cách nôm na , trường từ vựng màu
sắc là mô ̣t tâ ̣p hợp những đơn vi ̣ từ vựng , có liên hệ với nhau một cách nào đó về nghĩa
“màu sắc” Có thể xem “ màu sắc” như mô ̣t thỏi nam châm làm trung tâm hút mo ̣i sắc màu
của thế giới khách quan về phía mình
Trang 271.1.4 Phân loại trường từ vựng màu sắc
Dựa vào sự phân loa ̣i chung về trường từ vựng đã trình bày trong phần lý thuyết , trường từ vựng về màu sắc được chia thành ba loa ̣i như sau :
- Trườ ng từ vựng trực tuyến màu sắc
- Trườ ng từ vựng tuyến tính màu sắc
- Trườ ng từ vựng liên tưởng màu sắc
Trường từ vựng trực tuyến màu sắc
Trường từ vựng trực tuyến màu sắc trước hết phải là tâ ̣p hợp những đơn vi ̣ từ vựng
chỉ “màu sắc” Cụ thể như: đo ̉, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím,…
Trường từ vựng tuyến tính màu sắc
Trường từ vựng tuy ến tính màu sắc hay trư ờng nghĩa ngang là một tập hợp các từ có thể kết hợp với một t ừ tố gốc chỉ màu sắc nào đó để t ạo nên các câu, cụm, ngữ… theo trục quan hệ tuyến tính
Ví dụ như:
Từ xanh có thể đi với các từ
Xanh + lơ, lá, da trờ i, nước biển , xao, …
…+ Xanh trời, lá,cây, xuân, tuổi, …
Xanh + nhạt, vừ a, đâ ̣m, đen,lét …
Trên thực tế, trường này vô cùng phong phú và ngày một phát triển nhiều thêm do sự
sáng tạo của con người Có tác giả viết , “chợt hồn xanh buốt” hay “đất hồng nỗi nhớ” Sự
kết hơ ̣p có vẻ bất thường này có chăng cũng là bình thường do sự liên tưởng của chúng ta
Trường từ vựng liên tưởng màu sắc
Trường từ vựng liên tưởng màu sắc trư ớc hết là tập hợp những từ tố cùng nằm trong
các trường trực tuyến, tuyến tính và một số từ tố khác có mối quan hệ nào đó với từ tố “màu
sắc” kể cả các mối quan hệ ngoài ngôn ngữ như, dân tộc, thời đại và cả sự liên hội cá nhân
Trang 28Hiểu đơn giản về trường từ vựng liên tưởng màu sắc , khi một từ vựng về màu sắc được đưa ra, dựa trên năng lực liên hội và vốn hiểu biết của từng người, từ vựng ấy sẽ gợi ra một loạt những từ tố khác có mối quan hệ với từ tố màu sắc ban đ ầu về một hay một vài phương diện nào đó, kể cả trong ngôn ngữ học và cả thế giới khách quan
Ví dụ như từ Màu tím gơ ̣i ra các từ như sự mộng mơ, nỗi buồn, tuổi học trò , Huế…
Màu xanh lại gợi ra tuổi xuân, thiên nhiên, hy vọng, thanh bình…
Bên cạnh sự phân loại như trên ta cũng có thể phân loại theo cấu tạo Lấy màu sắc thuần Việt làm những màu cơ bản ta có các kiểu:
- Màu cơ bản + Màu cơ bản: ví dụ: đỏ đỏ, nâu đen, xanh đen, nâu đỏ…
- Màu cơ bản + yếu tố phụ: trong đó yếu tố phụ có các loại như, yếu tố phụ là yếu
tố màu vay mượn từ ngôn ngữ khác; yếu tố phụ là những khái niệm sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội; yếu tố phụ là từ chỉ sắc thái; yếu tố phụ là những từ không rõ nghĩa
o Màu cơ bản + yếu tố phụ chỉ sự vật hiên tượng: Xanh lá mạ, xanh nước
biển, xanh công nhân, nâu đất, đỏ gất, trắng phau…
hồng, xanh lục, …
vàng rực, trắng đục, xanh lơ …
trắng bong, đen đúa, trắng trẻo…
ghi xám, tái xanh, thâm nâu….
Trang 291.2 Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và ca từ Trịnh Công Sơn
1.2.1 Nhạc sĩ, thi sĩ Trịnh Công Sơn
1.2.1.1 Đôi nét về cuộc đời Trịnh Công Sơn
1.2.1.1.1 Niên biểu
Trịnh Công Sơn sinh ngày 28 tháng 2 năm 1939 ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh
Năm 1943 (4 tuổi) từ Đắc Lắc ông theo gia đình chuyển về Huế Ông học trường tiểu học Nam Giao (nay là Trường An), vào trường Pellerin, sau đó theo học trường
Thiên Hựu (Providence) Ông tốt nghiệp tú tài ban Triết tại Chasseloup Laubat, Sài Gòn
Năm 17 tuổi bắt đầu sáng tác với ca khúc Ướt mi được biết đến đầu tiên năm 1959 do
nhà xuất bản An Phú in, qua giọng hát Thanh Thúy
Khi 18 tuổi, ông bị một tai nạn, khi đang tập judo với người em trai, ông bị thương nặng ở ngực, suýt chết và phải nằm liệt giường gần hai năm tại Huế
Năm 1961 (22 tuổi) ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư
phạm Quy Nhơn Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại một trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng
Từ 1965 đến 1975, là giai đoạn quyết liệt nhất trong hành trình ca khúc Trịnh Công Sơn
Năm 1966, ông cho ra đời tập Ca khúc Trịnh Công Sơn Bắt đầu mang dấu ấn Phản
Chiến Đến năm 1967, nhạc Trịnh Công Sơn lên đến đỉnh cao của sự phản chiến bằng
tập Ca khúc da vàng (1967) Năm sau, ông cho ra tiếp tập Kinh Việt Nam
Từ năm 1970 tới 1972 ông tự ấn hành được hai tập nhạc phản chiến khác là Ta phải
thấy mặt trời và Phụ khúc da vàng Cũng trong 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng ở Nhật
Bản với bài “Ngủ đi con” (trong Ca khúc da vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly
Trang 30Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lên Đài phát thanh Sài Gòn hát bài “Nối vòng
tay lớn”, bài hát kêu gọi và nói về ước mơ hòa hợp dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết
Năm 1997 ông đoạt giải thưởng lớn của Hội Nhạc Sĩ cho một chuỗi bài hát: “Xin trả
nợ người”, “Sóng về đâu”, “Em đi bỏ lại con đường”, “Ta đã thấy gì hôm nay”
Cuối đời, ông bị bệnh gan, thận và tiểu đường Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh tiểu đường lúc 12giờ45 ngày 01 tháng 04 năm 2001 (tức ngày 8 tháng 3 năm Tân Tỵ)
Năm 2004, Giải thưởng Âm nhạc hòa bình thế giới được trao cho ông vì “lý tưởng
hòa bình mà ông đã đấu tranh không mệt mỏi cho nhân loại”
1.2.1.1.2 Sơ lươ ̣c tiểu sử
Trịnh Công Sơn (1939-2001) quê gốc ở Thừa Thiên Huế , thuở nhỏ sống chủ yếu ở
Huế, sau 1975 chuyển vào Sài Gòn và sống tại đây đến cuối đời
Ông sinh ra trong một gia đình khá đông anh chị em Thân sinh ông là cụ Trịnh
Xuân Thanh, một doanh nhân yêu nước, vừa kinh doanh vừa tham gia hoạt động chống
thực dân Pháp Thân mẫu là bà Lê Thị Quỳnh, một người mẹ đảm đang, nhân hậu, có cảm
nhận tinh tế và sâu sắc về thi ca và âm nhạc Trịnh Công Sơn là con trưởng, sau ông còn bảy
Trang 31người em, hai trai, năm gái: Trịnh Quang Hà, Trịnh Xuân Tịnh, Trịnh Vĩnh Thúy,
Trịnh Vĩnh Tâm, Trịnh Vĩnh Ngân, Trịnh Hoàng Diệu và Trịnh Vĩnh Trinh
Ông từng ho ̣c các trường , tiểu học Nam Giao (nay là Trường An), trường Pellerin, trường Thiên Hựu (Providence), sau đó tốt nghiệp tú tài ban Triết tại Chasseloup Laubat, Sài Gòn Năm 22 tuổi ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư
phạm Quy Nhơn
Khi Trịnh Công Sơn 16 tuổi (năm 1955), thân phụ qua đời vì tai nạn giao thông Đó
là một tổn thất quá lớn đã trở thành nỗi ám ảnh thường trực đối với ông: “Nỗi ám ảnh ấy
chắc hẳn không bắt nguồn từ lớp dày tro bụi của vô thức làm nên từ những cái chết của tổ tiên mà có lẽ từ những năm tù tra tấn chết đi sống lại của ba tôi trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp Rất nhiều bài hát đầu đời của tôi đã phảng phất cái không khí vắng lặng của sự mất mát Càng về sau, lúc tiến dần về tuổi trưởng thành, giữa bức xúc của cuộc sống, giữa những năm tháng buồn vui, nỗi ám ảnh ấy đã trở thành lúc nào không hay ngọn nguồn của một nỗi âu lo thường trực về sự vắng bóng con người”.[12; Tr.107]
Cha mất sớm, là anh đầu nên nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sớm lo toan nhiều việc trong gia đình và cũng vì thế nên anh đặc biệt yêu kính mẹ Có rất nhiều tính, nết của anh được truyền lại từ mẹ như: thích ăn ngon và thích bày biện món ăn đẹp mắt, thương yêu mọi người và yêu quý tất cả anh em trong gia đình, quan tâm đến người khác
Trong khoảng thời gian Trịnh Công Sơn nằm viện điều trị, sau khi bị tay na ̣n trong lúc tập Judo năm 18 tuổi, mẹ là người gắn bó với ông nhất, cũng chính mẹ ông đã góp phần đưa ông đến với âm nhạc, qua một món quà là chiếc máy nghe nhạc để ông khuây khỏa lúc nằm viện Đối với mẹ, Trịnh Công Sơn có một lòng kính trọng vô bờ bên, ông có lần đã suýt lập gia đình vì mẹ muốn Bà ra đi để lại một khoảng trống lớn trong tâm hồn tác giả Ông u hoài hơn, ám ảnh hơn về cái chết và cuộc đời
“Khi một người mất mẹ ở tuổi năm mươi, điều ấy có nghĩa là không còn gì có thể
dàn xếp được Cái sa mạc để lại trong lòng bạn cứ thế mỗi ngày mỗi lan rộng ra và cõi lòng bạn thì tan nát như một cánh đồng xanh tươi vừa trải qua một cơn bão lớn.”.[12; Tr.89]
Trang 321.2.1.2 Đôi nét về sự nghiệp sáng tác
Trịnh Công Sơn được giới nhạc sĩ biết đến có lẽ đầu tiên nhất qua ca khúc Ướt mi
đươ ̣c Nxb An Phú in năm 1959 Chă ̣ng đường sáng tác âm nha ̣c của cố nha ̣c sĩ vì lẽ đó sẽ
đươ ̣c tính từ 1959 Có nhiều tài liệu và chính Tr ịnh Công Sơn cũng từng thừa nhâ ̣n Ướt mi
không phải là ca khúc đầu tiên tác giả viết , song cũng chính t ác giả muốn mọi người hãy
nhớ đến Ướt mi như là tác phẩm đầu tiên đánh dấu sự nghiê ̣p sáng tác của Tr ịnh Công Sơn
Về sự nghiê ̣p sáng tác của Tri ̣nh Công Sơn cũng có nhiều cách phân chia khác nhau , tùy theo tiêu chí chúng t a đă ̣c ra Nếu phân theo những giai đoa ̣n sáng tác tiêu biểu ta có thể chia sự nghiê ̣p sáng tác của Tri ̣nh Công Sơn theo ba giai đoa ̣n Giai đoa ̣n đầu vào nghề với
các ca khúc n ổi bâ ̣t như Ướt mi, Diễm xưa, Dấu chân đi ̣a đàng, … Bắt đầu từ khoảng 1959
đến những năm đầu thập niên 60 Giai đoa ̣n thứ hai là giai đoa ̣n có những giằng xé lớn trong
nô ̣i tâm , những suy nghĩ về thân phâ ̣n con người ,về chiến tranh song song với chúng là đề tài tình yêu , vào khoảng nh ững năm 1967 – 1975, với những ca khúc đâ ̣m chất phản chiến
trong các tâ ̣p Ca khúc da vàng, Kinh Việt Nam, Phụ khúc da vàng, … Giai đoa ̣n thứ ba cũng
là giai đoạn cuối đời của Trịnh Công Sơn tính từ khoảng những năm 1980 trở về sau, đây là giai đoa ̣n sáng tác mang nhiều dấu ấn , nhiều trăn trở về cuô ̣c đời với các ca khúc tiêu biểu
Ta đã thấy gì hôm nay, Em đi bỏ lại con đường, Sóng về đâu, Xin trả nợ người,…
Trong cuô ̣c đời nghê ̣ sĩ của mình , Trịnh Công Sơn được biết bao thế hê ̣ người Viê ̣t trong và ngoài nước mến mô ̣ , với vô vàng những tác phẩm âm nha ̣c đâ ̣m chất thơ , đâ ̣m chất phản chiến để đời
Dưới đây là mô ̣t số album , tâ ̣p nha ̣c đã được xuất bản của TCS :
Trang 336 Ta Pha ̉i Thấy Mặt Trời, Nxb Nhân Bản , 1969
Ngoài Âm nhạc, tác phẩm của ông còn gồm nhiều thể loại thuộc các lãnh vực như: Thơ, Văn và Hội Họa Các tác phẩm thơ, văn đươ ̣c đăng nhiều trên ta ̣p chí Sóng Nha ̣c , riêng các tác phẩm hội họa đa phần dành tặng bạn bè và vẽ chân dung chính tác giả
1.2.1.3 Những ca khúc tiêu biểu làm nên tên tuổi nhạc Trịnh Công Sơn
Nhắc đến những ca khúc làm nên tên tuổi Tr ịnh Công Sơn không thể không nhắc đến
Ướt mi Qua gio ̣ng hát Thanh Thúy ngay khi được chào đời trên sân khấu , Ướt mi ngay lâ ̣p
tức được đón nhân mô ̣t cách nồng nhiê ̣t vì mô ̣t lẽ , nó không giống , không tương tự , không mang mô ̣t chút dư vi ̣ nào của những ca khúc cùng thời đang là hot, là đỉnh cao Hình ảnh
Trang 34mô ̣t người con gái đi về giữa đêm mưa , giữa nước mắt heo hắt , da diết đến ngâ ̣p ngừng từng nhịp tim người nghe Gieo vào lòng người nghe mô ̣t nỗi xót thương đến xeo sắc
Mô ̣t vài ca khúc khác mang âm hưởng tình ca buồn thương nhưng nhe ̣ nhàng , man
mác và được nhiều người biết đến không thể không kể , đó là Diễm xưa, Biển nhớ, Em còn
nhớ hay em đã quên, Tuổi đá buồn… Mỗi bài hát gần như gắn với hình bóng mô ̣t người con
gái đã đi qua đời tác giả , dù ít dù nhiều cũng để lại đôi vết chân trên nền cát tâm hồn nhạy
cảm của Trịnh Công Sơn
Nhắc đến nha ̣c Trịnh cũng không thể không kể đến những ca khúc từng gây tranh
cãi một thời gian dài , những ca khúc làm tên tuổi Tri ̣nh Công Sơn được ba ̣n bè quốc tế biết
đến như là một Bob.Dylan của Việt Nam Đó là những Đại bác ru đêm , là Huyền thoại me ̣,
là Hát cho những xác người , là Người con gái Viê ̣t Nam da vàng , là Giọt nước mắt cho quê
hương, … Những tiếng go ̣i tha thiết của mô ̣t trái tim nồng hâ ̣u không phải chỉ là yêu nước
mà là yêu đồng loại , không bênh vự c mô ̣t phía nào mà quyết liê ̣t đấu tranh cho hòa bình , cho ma ̣ng sống con người , cho những bà me ̣ mất con , những gia đình tan tát , cho “người con gái Viê ̣t Nam da vàng”
Bên ca ̣nh những bài hát kể trên là mô ̣t số lượng không ít n hững bài hát khác như
những lời thầm thì với cuô ̣c đời , với chính mình Những Tôi ơi đừng tuyê ̣t vọng , Một cõi đi
về, Cát bụi, Đêm thấy ta là thác đổ , Đóa hoa vô thường ,…Và rất nhiều những bài khác là
những lời thì thầ m ấy
Là một nhạc sĩ , mô ̣t con người bình thường , yêu đời, yêu người ông cũng có những bài hát thành danh về tình yêu như bao nhạc sĩ khác Đó là Nắng thủy tinh , Yêu dấu tan
theo, Tình xa, Tươ ̉ng rằng đã quên, Tình sầu,… và rất nhiều những bài thành danh khác xin
đươ ̣c sơ lược
Ông cũng nỗi tiếng với hàng loa ̣t bài hát về quê hương , đất nướ c như , Huế Sài Gòn
Hà Nội, Đoản khúc thu Hà Nội, Nhớ mùa thu Hà Nội, … Bên ca ̣nh đó Tri ̣nh Công Sơn cũng
viết nha ̣c thiếu nhi , nhạc phong trào thanh niên như Nối vòng tay lớn , Em là hoa hồng nhỏ
Trang 35Thâ ̣t không phải dễ tìm mô ̣t nha ̣c sĩ có số lượng bài hát lớn vào loa ̣i nhất nhì , lại thành công
và được hâm mộ như Tr ịnh Công Sơn
1.2.2 Vài nét về đặc điểm ca từ Trịnh Công Sơn
Nhạc Trịnh Công Sơn có một phần ca từ rất thơ, điều đó đã không còn ai tranh luận nữa trong những năm gần đây Vấn đề ở chỗ ca từ ấy thơ như thế nào? Ca từ của Trịnh Công Sơn đáp ứng gần như đầy đủ các tính chất của một tác phẩm trữ tình chính hiệu Từ tính tạo hình, biểu cảm đến biểu trưng đa nghĩa, và sự hòa phối các mặt như vần, âm, đến thanh điệu, mạch cảm xúc
Trong Trịnh Công Sơn ta rất thường hay bắt gặp những cách nói lạ hóa, phá vỡ lối mòn ngôn ngữ, sáng tạo ra những hình ảnh đặc trưng gây dấu ấn mạnh mẽ Một vài ví dụ
như trong ca khúc Mưa hồng Trịnh Công Sơn viết, “Trời ươm nắng cho mây hồng”, một lối nghĩ xưa nay chỉ có ông nghĩ ra Một lần khác ông viết, “Lùa nắng cho buồn vào tóc
em” (Nắng thủy tinh) Nếu Xuân diệu chỉ muốn “tắt nắng đi”, thì ở đây Trịnh Công Sơn
lùa được cả nắng đến nơi mình muốn Có những ca khúc ông dùng những chữ rất đặc biệt,
dễ nhầm như: “Làm sao em nhớ những vết chim di” (Diễm xưa) Ở đây ông sử dụng chữ Di
chứ không phải là ĐI Di là di trong di trú, loài chim di trú chứ không phải đi trong đi
đứng Hay trong ca khúc Một cõi đi về ông viết “Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi” Để
giải thích cho chữ tinh ấy Trịnh Công Sơn giảng giải: Các cô gái nhỏ, xinh đẹp và nghịch
ngợm ở Huế thường hay bị gia đình, người thân mắng yêu là “đồ yêu tinh”, và cái “con yêu
tinh” nhỏ nhắn đó đã đi vào ca khúc Một cõi đi về như thế Hay: “Em hồn nhiên, rồi em sẽ bình minh” (Tôi ơi đừng tuyệt vòng), em sẽ như ánh bình minh chăng Bình minh là ánh
sáng, là ngày mới, và cũng là tương lai Em cứ hồn nhiên rồi em sẽ tỏa sáng, sẽ bước qua nỗi buồn, bước đến với tương lai
Hay trong hai ca khúc Tình xót xa vừa và Ru ta ngâm ngùi Trịnh Công Sơn vừa
treo, vừa phơi tình mình Riêng ở câu “Phơi tình cho nắng khô mau” có một điều gì đó hơi
nghịch lý Lẽ thường phải là “phơi nắng cho tình khô mau” chứ không phải như thế, nhưng
đây là thơ thì điều ấy chỉ thêm phần thú vị cho câu thơ
Trang 36“Xin đứng yên trong chiều
Phơi tình cho nắng khô mau
Xin đứng yên trong chiều
Treo tình trên chiếc đinh không.”
Tình xót xa vừa
Và:
“Môi nào hãy còn thơm
Cho ta phơi cuộc tình.”
Ru ta ngâm ngùi
Hay từ hồ như trong ca khúc đêm thấy ta là thác đổ cũng là một nét độc đáo của
Trịnh Công Sơn
“Nhiều khi thấy trăm nghìn nấm mộ
Tôi nghĩ quanh đây hồ như.”
Đêm thấy ta là thác đổ
Từ hồ như mang nét nghĩa là mơ hồ là mông lung không thực, quanh đây có điều gì
đó hồ như, có điều gì đó mông lung, không thực chăng Hay trong ca khúc Nhớ mùa thu
Hà Nội
“Màu sương thương nhớ
Bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời.”
Giữa màu sương mờ ảo, hình ảnh bầy sâm cầm nhỏ chỉ còn là mơ hồ là vỗ cánh mặt
trời Một từ rất quan trọng giữa vỗ cánh và mặt trời đã bị màu sương che lấp Thật ra ở
đây, vốn dĩ không cần đến bất cứ từ nào chỉ động tác gì đó của bầy sâm cầm Dưới màu sương kia, chỉ mơ hồ ta thấy bầy sâm cầm vỗ cánh, và hình ảnh mặt trời, ngoài ra không có một hình ảnh gì khác Có nhiều cách giải thích như bầy sâm cầm vỗ cánh bay về phía mặt trời, hay bay dưới mặt trời Đó là điều không cần thiết Mầu sương chỉ thương nhớ bầy sâm cầm vỗ cánh làm chập chờn màn sương trên Hồ Tây và hình ảnh mặt trời rọi xuống sau màn sương để vàng lay mặt nước Chỉ như thế là quá đủ cho câu thơ đầy ý
Trang 37Trong ca từ của Trịnh Công Sơn, các hình ảnh biểu trưng đa nghĩa được sử dụng một cách dày đặc, cùng với các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ… Chúng là công cụ
để hiện thực hóa việc tạo hình cho các hình ảnh trong ca từ Trịnh Công Sơn
Hình ảnh nhân hóa là hình ảnh thường gặp trong ca từ Trịnh Công Sơn, với ca khúc
Biển nhớ, biển ngay lập tức được gắn với trạng thái tâm lí của con người Biển nhớ tên em
gọi về Hay trong Đóa hoa vô thường có câu “Sen buồn một mình, em buồn đến trọn mối
tình” Bỏ qua nét nghĩa tượng trưng, sen là một loài hoa vô tri vô giác, lại được gắn với một
từ mang tâm trạng con người Buồn Hay trong Bống không là bồng, hình ảnh được nhân
hóa khá rõ ràng “Bống nhảy lên bờ bống đi chơi phố/ Nắng vàng ủng hộ cho bống căn nhà”
Cả Bống nhảy lên bờ và Nắng vàng đều có thể gọi là những dị tượng, không thể giải thích
được theo nghĩa đen trong ca khúc này
Bên cạnh nhân hóa, ẩn dụ là biện pháp tu từ được Trịnh Công Sơn dùng thường xuyên Không những thế, ẩn dụ của Trịnh Công Sơn còn có phần siêu thực Trong ca khúc
Bống bồng ơi hình ảnh Bống là hình ảnh ẩn dụ để chỉ em Còn nắng vàng, gió vàng cũng là
Trang 38Lay nhẹ đóa hồng nhung
Nắng vàng em đi đâu mà vội
Mà vội bống bồng bống bồng ơi
Mà vội gió vàng gió vàng ơi
Em đi đâu mà vội Bống hồng bống hồng lay
Em đi đâu mà vội Sương mù tóc mẹ trôi
Em đi đâu mà vội mà vội
Bống này bống là ai.”
Bống bồng ơi
Hình ảnh gót hồng trong Đóa hoa vô thường là một hình ảnh hoán dụ, không ai đọc
gót hồng mà nghĩ đến một chiếc gót màu hồng, đó là hoán dụ cho một người phụ nữ
Song song với hai phương thức trên là biện pháp nghệ thuật được Trịnh Công Sơn ưu
ái nhất, so sánh Những hình ảnh so sánh xuất hiện dày đặc trong ca từ Trịnh Công Sơn, có khi so sánh chiếm gần hết không gian chữ nghĩa của ca khúc Thử trích một đoạn trong ca
khúc Tình sầu:
“Tình yêu như vết cháy
Trên da thịt người
Tình xa như trời, Tình gần như khói mây, Tình trầm như bóng cây, Tình reo vui như nắng,
Tình buồn làm cơn say
Cuộc tình lên cao vút Như chim mỏi cánh rồi,
Trang 39Như chim xa lìa bầy, Như chim xa lìa trời, Như chim bỏ đường bay ”
Tôi như là người lạc trong đô thị
Một hôm đi về biển khơi
Tôi như là người một hôm quay lại
Vì nghe sa mạc nối dài.”
Tự tình khúc
Ngôn ngữ nghệ thuật là đôi cánh giúp ca từ của Trịnh Công Sơn vƣợt qua cả
âm nhạc để trở thành thơ, thành một tác phẩm văn học Trên đây chỉ điểm qua những điểm tiêu biểu trong ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn, khái quát phần nào những nét đẹp trong ngôn từ của ca khúc Trịnh Công Sơn
Trang 40TỪ VỰNG MÀU CƠ BẢN THƯỜNG ĐƯỢC SỬ DỤNG
là dễ hiểu
Từ vựng màu sắc trong ca từ của Trịnh Công Sơn có những đặc điểm nhất định của chúng Đó là những đặc điểm về cấu tạo của cụm từ chỉ màu sắc, từ loại và cách sử dụng màu sắc trong một ca khúc của ông
Ở những cụm từ có từ vựng chỉ màu sắc, chủ yếu Trịnh Công Sơn sử dụng theo hai kiểu chính trên trục tuyến tính: