Việc xác định thời điểm xác lập quan hệ vợ chồng, cách xác định tài sản chung, quyền và nghĩa vụ đối với con chung trong trường hợp chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn còn có n
Trang 1Cần Thơ, 11/2013
Trang 2GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 2 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
Trang 3GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 3 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
Trang 4GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 4 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
MỤC LỤC Trang PHẦN MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined
1 Tính cấp thiết của việc lựa chọn nghiên cứu đề tài Error! Bookmark not defined
2 Phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined
3 Mục tiêu nghiên cứu Error! Bookmark not defined
4 Cấu trúc của luận văn: Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN VÀ VIỆC CHUNG SỐNG NHƯ
VỢ CHỒNG MÀ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Error! Bookmark not
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆC NAM NỮ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ
CHỒNG MÀ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Error! Bookmark not defined 1.2.1 Khái niệm chung sống như vợ chồng của nam nữ Error! Bookmark not defined
1.2.2 Đặc điểm nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Error! Bookmark not defined
1.3 PHÂN LOẠI NAM NỮ CHUNG SỐNG VỚI NHAU NHƯ VỢ CHỒNG MÀ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN HIỆN NAY Error! Bookmark not defined 1.3.1 Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng không bị coi là trái pháp luật Error! Bookmark not defined 1.3.2 Nam nữ chung sống như vợ chồng bị coi là trái pháp luật Error! Bookmark not defined
Trang 5GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 5 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
1.3.2.1 Trường hợp một bên hoặc cả hai bên nam nữ chưa đến tuổi kết hôn Error!
Bookmark not defined
1.3.2.2 Trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà một bên hoặc cả hai bên đang có vợ hoặc có chồng Error! Bookmark not defined
1.4 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ VIỆC NAM NỮ CHUNG SỐNG NHƯ
VỢ CHỒNG MÀ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Error! Bookmark not defined 1.4.1 Sơ lược lịch sử quy định của pháp luật Việt Nam về việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn Error! Bookmark not defined
1.4.1.1 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Error! Bookmark not defined 1.4.1.2 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 Error! Bookmark not defined 1.4.1.3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Error! Bookmark not defined
1.4.2 Pháp luật một số nước trên thế giới về vấn đề nam nữ chung sống như vợ chồng Error! Bookmark not defined
1.4.2.1 Sự điều chỉnh đối với quan hệ chung sống như vợ chồng ở Anh quốc Error!
Bookmark not defined
1.4.2.2 Sự điều chỉnh đối với quan hệ chung sống như vợ chồng ở Mỹ Error!
Bookmark not defined
1.4.2.3 Sự điều chỉnh đối với quan hệ chung sống như vợ chồng ở Australia Error!
Bookmark not defined
1.4.2.4 Sự điều chỉnh đối với quan hệ chung sống như vợ chồng ở Pháp Error!
Bookmark not defined
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VIỆC NAM NỮ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG TỪ SAU NGÀY 03/01/1987 Error! Bookmark
not defined
2.1 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA HAI NGƯỜI CHUNG SỐNG VỚI NHAU NHƯ
VỢ CHỒNG Error! Bookmark not defined 2.1.1 Quyền và nghĩa vụ thể hiện quyền bình đẳng tự do dân chủ của hai người chung sống như vợ chồng Error! Bookmark not defined
Trang 6GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 6 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
2.1.2 Quyền đại diện cho nhau trước pháp luật Error! Bookmark not defined 2.1.3 Nghĩa vụ chung thủy giữa hai người chung sống với nhau như vợ chồng Error! Bookmark not defined 2.1.4 Quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng Error! Bookmark not defined 2.1.5 Quyền hưởng thừa kế của vợ chồng Error! Bookmark not defined 2.2 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ GIỮA HAI NGƯỜI CHUNG SỐNG VỚI NHAU NHƯ
VỢ CHỒNG VỚI NGƯỜI THỨ BA Error! Bookmark not defined 2.2.1 Trường hợp xác lập, thực hiện chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của vợ chồng Error! Bookmark not defined 2.2.2 Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa hai người chung sống như vợ, chồng Error! Bookmark not defined
2.3 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ GIỮA HAI NGƯỜI CHUNG SỐNG VỚI NHAU NHƯ
VỢ CHỒNG VÀ CON CÁI Error! Bookmark not defined 2.3.1 Về việc xác lập quan hệ cha mẹ - con Error! Bookmark not defined 2.3.2 Trường hợp nuôi con nuôi Error! Bookmark not defined 2.4 CHẤM DỨT QUAN HỆ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG Error! Bookmark not defined
2.4.1 Căn cứ chấm dứt quan hệ chung sống như vợ chồng Error! Bookmark not defined
2.4.2 Vấn đề về tài sản khi chấm dứt quan hệ chung sống như vợ chồng Error! Bookmark not defined
2.4.3 Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT VIỆC NAM NỮ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG Error! Bookmark not defined 3.1 TÌNH HÌNH QUAN HỆ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG Ở VIỆT NAM Error! Bookmark not defined
3.1.1 Thực trạng nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn giai
Trang 7GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 7 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
đoạn trước khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực Error! Bookmark not defined 3.1.2 Thực trạng nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn giai đoạn sau khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực Error! Bookmark not defined 3.2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NAM NỮ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG MÀ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN
VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT Error! Bookmark not defined 3.2.1 Xử phạt đối với những người chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Error! Bookmark not defined 3.2.2 Thực tiễn giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn Error! Bookmark not defined 3.2.3 Một số kiến nghị nhằm hạn chế trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn Error! Bookmark not defined
3.2.3.1 Xu hướng của việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn
Error! Bookmark not defined
3.2.3.2 Một số kiến nghị nhằm hạn chế việc nam nữ chung sống như vợ chồng
không đăng ký kết hôn Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
Trang 8GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 8 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc lựa chọn nghiên cứu đề tài
Tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn là một hiện tượng xã hội đã và đang tồn tại trong xã hội Việt Nam Nguyên nhân của tình trạng này
có thể là do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, do ý thức pháp luật của người dân còn thấp, hay vì điều kiện địa lý ở các vùng núi hải đảo đường sá xa xôi Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 ra đời đã không thừa nhận việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: "Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như
vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng" Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn rất nhiều trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn Giải quyết những vấn đề liên quan đến việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn là hết sức cần thiết Với tinh thần đó, Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nghị định
số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 đã có những hướng dẫn cụ thể việc giải quyết về mặt pháp luật đối với những trường hợp vi phạm việc đăng ký kết hôn… Mặc dù đã có nhiều văn bản hướng dẫn như đã nói ở trên nhưng việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn vẫn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Việc xác định thời điểm xác lập quan hệ vợ chồng, cách xác định tài sản chung, quyền và nghĩa vụ đối với con chung trong trường hợp chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn còn có nhiều quan điểm và cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau, không chỉ đối với những người công tác trong các cơ quan thi hành pháp luật mà còn cả ở đội ngũ Thẩm phán trực tiếp tham gia giải quyết án hôn nhân và gia đình Vì vậy, nghiên cứu các trường hợp chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn và hậu quả pháp lý của tình trạng này nhằm nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân trong việc xác lập quan hệ hôn nhân Đặc biệt, nghiên cứu các quy định của pháp luật đối với các trường hợp chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn còn nhằm nâng cao hiệu quả công tác xét xử của Tòa án nhân dân đối với các tranh chấp hôn nhân và gia đình nói chung và tranh chấp liên quan đến việc chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn nói riêng là vô cùng cần thiết
Từ những lý do trên, sinh viên đã lựa chọn đề tài "Quan hệ chung sống như vợ chồng – Những hạn chế và giải pháp hoàn thiện luật" làm đề tài nghiên cứu của mình
Trang 9GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 9 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn bài viết chỉ nghiên cứu các trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn từ khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực từ ngày 01/01/2001 và các trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 có đủ điều kiện kết hôn mà không đăng ký kết hôn đến ngày 01/01/2003
Bài viết không nghiên cứu các trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn trước ngày 03/01/1987 ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực
và trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 có đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn đến ngày 01/01/2003
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nhận diện và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kết hôn, thông qua đó thấy được vai trò quan trọng của việc đăng ký kết hôn
Phân tích những quy định của pháp luật điều chỉnh việc nam nữ chung sống như
vợ chồng mà không đăng ký kết hôn cùng với việc nêu lên thực trạng giải các quyết tranh chấp liên quan đến việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn
Kiến nghị một số giải pháp nhằm hạn chế việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn
4 Phương pháp nghiên cứu
Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình đổi mới, xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa và vấn đề cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ lý luận đến thực tiễn, dùng thực tiễn kiểm chứng lý luận
Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh
Phương pháp tổng hợp và phương pháp thống kê sử dụng các trang website để tìm kiếm tài liệu đồng thời vận dụng các tài liệu của các nhà nghiên cứu, các tạp chí chuyên ngành
Trang 10GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 10 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
5 Cấu trúc của luận văn:
Bên cạnh lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được trình bày thành ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về kết hôn và việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà
không đăng ký kết hôn
Chương 2: Những quy định của pháp luật về việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà
không đăng ký kết hôn
Chương ba: Thực tiễn giải quyết các tranh chấp và một số kiến nghị đề xuất việc nam nữ
chung sống như vợ chồng
Trang 11GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 11 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN VÀ VIỆC CHUNG SỐNG NHƯ
VỢ CHỒNG MÀ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN1.1 KHÁI NIỆM KẾT HÔN VÀ QUY ĐỊNH VỀ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN
1.1.1 Khái niệm kết hôn
Hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình – tế bào của xã hội Trong mỗi chế độ xã hội, gia đình đều thực hiện những chức năng cơ bản mang tính chất xã hội của nó Một trong những chức năng cơ bản của gia đình là sinh sản nhằm tái sản xuất ra con người, là quá trình tiếp tục nòi giống Đó là một quá trình cần thiết của cuộc sống trong xã hội nhất định Quá trình này được thể hiện ở chỗ hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra con người khác, sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái – đó là gia đình.1 Nếu không có sản xuất và tái sản xuất ra con người thì xã hội không phát triển, thậm chí không thể tồn tại được Như vậy, gia đình là một trong những thể chế cơ bản của xã hội
Gia đình ra đời, tồn tại và phát triển trước hết là nhờ Nhà nước thừa nhận hôn nhân của đôi nam nữ, đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ Hôn nhân là
sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người nữ, sự liên kết đó được nhà nước thừa nhận bằng sự phê chuẩn dưới hình thức pháp lý – đó là đăng ký kết hôn Như vậy, đăng ký kết hôn đã làm xác lập quan hệ hôn nhân và là cơ sở để hình thành gia đình Trong xã hội có giai cấp, quan hệ hôn nhân bị chi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị Thông qua Nhà nước và bằng hệ thống pháp luật, giai cấp thống trị tác động vào các quan
hệ hôn nhân và gia đình làm cho những quan hệ này phát sinh, thay đổi chấm dứt phù hợp với lợi ích của giai cấp đó
Pháp luật của Nhà nước phong kiến Việt Nam trước đây quy định việc kết hôn của nam nữ phải có sự đồng ý của cha mẹ hoặc họ hàng thân thích Luật HN&GĐ năm 1959
và Luật HN&GĐ năm 1986 đã quy định về chế định kết hôn nhưng không giải thích cụ thể về thuật ngữ “kết hôn” Khắc phục điều này, Luật HN&GĐ năm 2000 đã đưa ra định nghĩa kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn (khoản 2, Điều 8) Kết hôn thực sự là một giao dịch pháp lý long trọng mà việc xác lập phải tuân theo những điều kiện được pháp luật quy định một cách chặt chẽ, chi tiết
1 C.Mác – Ph.Ăngghen toàn tập, tập III, “Hệ tư tưởng Đức”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986
Trang 12
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 12 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
1.1.2 Quy định về việc đăng ký kết hôn
Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều
39 Bộ luật dân 2005 sự thì việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi chung là cơ quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo một nghi thức
do pháp luật quy định Mọi nghi thức kết hôn không tuân theo các quy định của pháp luật
về đăng ký đều không có giá trị pháp lý Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn Đăng ký kết hôn là thủ tục do nhà nước quy định như là một điều kiện về hình thức nhằm công nhận xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam nữ là hợp pháp Việc pháp luật quy định sự kiện kết hôn phải được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận là sự ràng buộc pháp lý, là cơ sở để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng Ở các nước hình thức, thủ tục, nghi lễ kết hôn khác nhau Có những nước thừa nhận hình thức kết hôn trên cơ sở nghi lễ tôn giáo (tại nhà thờ) mà không cần thông qua thủ tục hành chính như Mỹ, Anh… Một số nước khác lại quy định hình thức kết hôn pháp lý, tức là phải có sự chứng kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Pháp, Trung Quốc…
Ở nước ta, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức quy định tại điều 14 Luật HN&GĐ năm 2000 Đăng ký kết hôn là biện pháp để cơ quan nhà nước có thể kiểm tra và kịp thời ngăn chặn các hiện tượng vi phạm điều kiện kết hôn của nam nữ và tuyên truyền, giải thích pháp luật cho họ hiểu
Như vậy, đăng ký kết hôn là nghi thức kết hôn duy nhất làm phát sinh quan hệ hôn nhân Muốn trở thành vợ chồng, nam nữ phải xin đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn Chỉ khi nào cơ quan đăng ký kết hôn đăng ký việc kết hôn cho họ, ghi vào sổ kết hôn và trao giấy chứng nhận kết hôn và trao giấy chứng nhận kết hôn thì giữa họ mới phát sinh quan hệ vợ chồng Trên nguyên tắc đó nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ, chồng
Về thẩm quyền đăng ký kết hôn: Theo quy định tại Điều 17 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch và Điều
12 Luật HN&GĐ năm 2000 thì Ủy ban nhân dân xã, phường, Thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau tại Việt Nam Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 102 Luật HN&GĐ năm 2000 thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
Trang 13GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 13 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
trực thuộc trung ương thực hiện việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài.2 Thông qua các quy định trên cho thấy, tùy từng trường hợp mà cơ quan đăng ký kết hôn có thể là ủy ban nhân dân cấp cơ sở, ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh
sự Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì việc đăng ký kết hôn đó không có giá trị pháp lý Nếu có yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật thì dù việc kết hôn đó có vi phạm một trong các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000, Tòa án cũng không hủy việc kết hôn trái pháp luật mà tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc kết hôn, đăng ký kết hôn
Thứ nhất: Thông qua việc đăng ký kết hôn, Nhà nước sẽ kiểm soát việc tuân theo pháp luật của công dân, xem xét họ có tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định hay không, do đó có thể hạn chế được các trường hợp kết hôn trái pháp luật như: tảo hôn; vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; kết hôn do một bên bị ép buộc hoặc lừa dối,…
Thứ hai: Đăng ký kết hôn là một trong các hoạt động quản lý hành chính Nhà nước về công tác hộ tịch (khai sinh; khai tử; nhận cha, mẹ, con…) Bởi vậy thực hiện tốt việc đăng ký kết hôn sẽ góp phần giúp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý công tác hộ tịch ở địa phương
Thứ ba: Việc cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật HN&GĐ giữa vợ và chồng, bao gồm các quan hệ về nhân thân và tài sản Giấy chứng nhận kết hôn là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng
Mọi nghi thức kết hôn khác như tổ chức lễ cưới tại gia đình hoặc kết hôn theo phong tục tập quán, tiến hành theo nghi lễ tôn giáo tại nhà thờ mà không có Giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp thì không được công nhận là hợp pháp Như vậy, việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký kết hôn thì mới có giá trị pháp lý, hai bên nam nữ mới phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng với nhau
2Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập 1 – Gia đình, Nxb Trẻ, Tp Hồ
Chí Minh, 2002, tr 80.
Trang 14GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 14 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆC NAM NỮ CHUNG SỐNG NHƢ VỢ
CHỒNG MÀ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN
1.2.1 Khái niệm chung sống nhƣ vợ chồng của nam nữ
Dưới góc độ pháp lý nếu kết hôn là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn, thì quan hệ chung sống như vợ chồng là quan hệ vợ chồng không đăng ký kết hôn Quan hệ ấy có thể được xác lập không phù hợp với điều kiện nội dung kết hôn, nhưng cũng có thể hoàn toàn phù hợp với các điều kiện ấy
Theo quy định tại điểm d mục 2 Thông tư liên tịch 01/2001/TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 03/01/2001 được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điền kiện kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
Việc họ chung sống với nhau được gia đình (một hoặc hai bên) chấp nhận;
Việc họ chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ, cùng nhau xây dựng gia đình
Như vậy, nam nữ được coi là có quan hệ chung sống như vợ chồng thì phải thuộc một trong bốn trường hợp trên Từ đó ta có thể rút ra khái niệm quan hệ chung sống như
vợ chồng của nam nữ như sau: Quan hệ chung sống như vợ chồng là quan hệ được xác lập giữa hai người, một nam và một nữ, có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng lại không đăng ký kết hôn
1.2.2 Đặc điểm nam nữ chung sống nhƣ vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Đặc điểm thứ nhất: Nam nữ có đủ điều kiện kết hôn nhưng chung sống như
vợ chồng mà không đăng ký kết hôn Theo Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000 thì nam nữ kết hôn phải tuân thủ các kiện sau:
Về tuổi kết hôn: Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên
Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định
Tuy nhiên, xuất phát từ một vài lý do mà các bên có đủ điều kiện kết hôn nhưng không tiến hành đăng ký kết hôn Ví dụ như ở các tỉnh miền núi, do phong tục tập quán, kết hôn chỉ cần sự chứng kiến của già làng nên việc đăng ký kết hôn khi lấy vợ, lấy chồng vẫn chưa được người dân biết đến và quan tâm Hoặc ở thành phố với lối sống nhà nào biết nhà đấy và do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng tự do cá nhân đã tạo điều kiện cho việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn diễn ra phổ biến
Trang 15GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 15 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
Đây chính là một đặc điểm cơ bản để phân biệt với trường hợp nam nữ không đủ điều kiện kết hôn hay trường hợp kết hôn trái pháp luật Đối với các trường hợp nam nữ không đủ điều kiện kết hôn hoặc kết hôn trái pháp luật, các bên nam nữ đều không đủ điều kiện kết hôn có thể là về độ tuổi, về ý chí tự nguyện hoặc vi phạm điều cấm của xã hội không thể đăng ký kết hôn hoặc mặc dù có đăng ký kết hôn nhưng cũng không được công nhận là vợ chồng
Còn trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng, hai bên không hề vi phạm những điều kiện về kết hôn theo quy định của pháp luật Về nội dung giữa hôn nhân hợp pháp và nam nữ chung sống như vợ chồng không có sự khác biệt Chính vì vậy, hành vi chung sống như vợ chồng của hai bên hoàn toàn không vi phạm pháp luật
Về mặt hình thức: Nam nữ chung sống như vợ chồng là trường hợp nam nữ chung sống nhưng giữa họ không có Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn cấp Điều đó có nghĩa là giữa họ trong quan hệ hôn nhân không có chứng cứ về mặt pháp lý để khẳng định họ là vợ chồng Theo quy định của pháp luật, nam nữ chung sống như vợ chồng không được công nhận là vợ chồng Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa hôn nhân có đăng ký và trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn
Đặc điểm thứ hai: Trong thời gian chung sống như vợ chồng hai người thực
sự coi nhau là vợ chồng Đây là điểm có thể giúp chúng ta phân biệt trường hợp chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn với trường hợp chung sống tạm bợ Tuy nhiên, để đánh giá việc hai người có coi nhau là vợ chồng hay không là điều không dễ dàng Bởi lẽ đây là vấn đề thuộc về vấn đề ý thức chủ quan của con người Đối với trường hợp này, không chỉ căn cứ vào lời khai của họ mà cho rằng họ chung sống tạm bợ với nhau, mà phải căn cứ vào thái độ tình cảm, cách cư xử của họ với nhau và hậu quả trong thời gian chung sống để đánh giá và quyết định
Đặc điểm thứ ba: Khi bắt đầu chung sống, hai người muốn chung sống lâu dài và ổn định Đây là đặc điểm để phân biệt với khái niệm hôn nhân thử nghiệm Đối với hôn nhân thử nghiệm trước khi chung sống, các bên thỏa thuận sẽ thử chung sống với nhau như vợ chồng, thử thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của vợ chồng Nếu sau một thời gian chung sống, các bên thấy phù hợp thì sẽ lúc này sẽ tiến hành đăng ký kết hôn, còn trường hợp không thấy phù hợp với nhau nữa thì các bên sẽ chấm dứt quan hệ chung sống ấy Còn trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng, hai bên mong muốn xây dựng một gia đình hạnh phúc nên từ khi bắt đầu chung sống, họ đã có ý định gắn bó lâu dài với nhau
Trang 161.3.1 Nam nữ chung sống với nhau nhƣ vợ chồng không bị coi là trái pháp luật
Chung sống như vợ chồng không bị coi là trái pháp luật là việc chung sống giữa nam và nữ như vợ chồng không vi phạm điều kiện kết hôn Thực tế có rất nhiều lý
do và nguyên nhân khác nhau dẫn đến việc nam nữ có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn, đó là:
Do trình độ hiểu biết pháp luật còn thấp, do ý thức tôn trọng pháp luật chưa cao nên hai bên nam nữ chỉ tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Bị cha mẹ ngăn cản nên hai bên nam nữ đã chung sống với nhau mà không đăng
ký kết hôn
Ảnh hưởng của phong tục, tập quán trong xã hội phong kiến
Ảnh hưởng của tôn giáo, nhiều trường hợp nam nữ tổ chức hôn lễ tại nhà thờ trước cha xứ mà không đăng ký kết hôn
Do điều kiện lịch sử, các bên kết hôn trong chiến trường Do điều kiện chiến tranh khốc liệt, nhiều người vội vàng cưới vợ để nhập ngủ, tổ chức lễ cưới trong vùng địch tạm chiếm, nhiều người không có thời gian thực hiện thủ tục đăng ký; cũng trong thời gian này cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký chưa được kiện toàn chặt chẽ, hiệu quả tuyên truyền pháp luật chưa cao nên việc Luật HN&GĐ năm 1986 công nhận hôn nhân thực tế trong giai đoạn này
Vợ chồng đã ly hôn sau đó quay lại chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Cơ quan đăng ký kết hôn không thực hiện đúng và đầy đủ các quy định về đăng ký kết hôn, nhưng hai bên nam nữ vẫn chung sống trong quan hệ vợ chồng
1.3.2 Nam nữ chung sống nhƣ vợ chồng bị coi là trái pháp luật
Đây là dạng chung sống giữa nam và nữ vi phạm một trong các điều kiện kết hôn như: Một hoặc cả hai bên nam nữ chưa đến tuổi kết hôn, một hoặc cả hai bên nam nữ đang có vợ hoặc chồng…
Trang 17GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 17 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
1.3.2.1 Trường hợp một bên hoặc cả hai bên nam nữ chưa đến tuổi kết hôn
Trong thực tế có những trường hợp vì nhiều nguyên nhân, lý do khác nhau mà nam nữ muốn kết hôn khi một bên hoặc cả hai bên chưa đến tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Đối với các trường hợp này thì thông thường là họ tổ chức lễ cưới theo phong tục mà trong nhân dân thường nói là cưới chui Về mặt pháp lý, hai bên nam nữ đã chung sống như vợ chồng từ khi còn chưa đến tuổi kết hôn đó có phải là vợ chồng không? Theo hướng dẫn tại một số văn bản pháp luật được ban hành từ khi Luật HN&GĐ năm 1959 có hiệu lực đến nay thì chỉ công nhận hôn nhân thực tế đối với các trường hợp nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không đăng ký kết hôn mà chung sống như vợ chồng với nhau (Thông tư số 112/NCPL ngày 19-08-1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xử lý về dân sự những hôn nhân vi phạm điều kiện kết hôn; Nghị quyết số 01/NQ- HĐTP ngày 20-01-1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thi hành luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986)
Và như vậy, đối với các trường hợp này không thể công nhận quan hệ giữa hai bên nam nữ là quan hệ vợ chồng được Nhưng nếu trường hợp nam nữ đã chung sống hàng chục năm, có con chung, tài sản chung, bản thân họ đã từng có thời gian hạnh phúc bên nhau mà nay không công nhận quan hệ vợ chồng giữa họ thì e rằng trong nhiều trường hợp sẽ không bảo vệ được quyền và lợi ích của các bên Trước thực trạng này, Nhà nước
ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về vấn đề này Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP và Nghị quyết số 35/2000/QH10 đã quy định
và hướng dẫn, nếu quan hệ vợ chồng được xác lập từ trước ngày Luật HN&GĐ năm
1986 có hiệu lực (ngày 03/01/1987) thì khi xem xét cơ quan nhà nước có thẩm quyền không cần phải xem xét rằng các bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hay không
1.3.2.2 Trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà một bên hoặc cả hai bên đang
có vợ hoặc có chồng
Trên thực tế, có không ít các trường hợp người đang có vợ, có chồng mà lại chung sống như vợ chồng với người khác mà một trong những nguyên nhân dẫn đến vấn nạn này là việc chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn Có thể thấy, những trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng với nhau chấp nhận chung sống không có đăng ký kết hôn một phần vì họ không thể đăng ký kết hôn do rơi vào trường hợp mà pháp luật đã cấm kết hôn (khoản 1 Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2000), phần khác là họ không quan
Trang 18GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 18 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
tâm đến những quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình mà vô tình hoặc cố tình vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng Nhận biết được ảnh hưởng của việc nam nữ chung sống như vợ chồng đối với chế độ hôn nhân một vợ, một chồng và cũng nhằm ngăn chặn tình trạng trên, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ và Bộ luật Hình sự 1999 đã có những quy định để xử lý đối với những trường hợp này
1.4 SƠ LƢỢC LỊCH SỬ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ VIỆC NAM NỮ CHUNG SỐNG NHƢ
VỢ CHỒNG MÀ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN
1.4.1 Sơ lƣợc lịch sử quy định của pháp luật Việt Nam về việc nam nữ chung sống nhƣ vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
1.4.1.1 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
Về nguyên tắc không thừa nhận trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng là
vợ chồng Điều 11 có quy định: “Việc kết hôn phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của bên người con trai hoặc bên người con gái công nhân và ghi vào sổ kết hôn Mọi hình thức kết hôn khác đều không có giá trị về mặt pháp luật" Tuy nhiên, xuất phát
từ hoàn cảnh đất nước mà việc đăng ký kết hôn nhiều khi gặp khó khăn Hơn nữa, do trình độ nhận thức của người dân nói chung và trình độ hiểu biết pháp luật nói riêng còn thấp nên thực tế xảy ra nhiều trường hợp nam nữ lấy nhau không đăng ký kết hôn Để bảo vệ quyền lợi của các bên, pháp luật công nhận quan hệ giữa họ là vợ chồng Tại thông tư số 112/NCPL ngày 119/08/1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: “Nếu các điều kiện khác đều được thỏa mãn nhưng chỉ riêng hôn nhân chưa được đăng ký thì tòa án nhân dân coi đó là hôn nhân thực tế”
1.4.1.2 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
Luật cũng chỉ công nhận những trường hợp nam nữ có đăng ký kết hôn là vợ chồng hợp pháp Để giải quyết các trường hợp chung sống như vợ chồng mà không đăng
ký kết hôn, Nghị quyết số 01-NQ/HĐTP ngày 20/01/1988 có hướng dẫn cụ thể tại mục 2:
“Trong thực tế vẫn có không ít trường hợp kết hôn không có đăng ký Việc này tuy có vi phạm về thủ tục kết hôn nhưng không coi là việc kết hôn trái pháp luật, nếu việc kết hôn không trái với các điều 5, 6, 7 Trong những trường hợp này, nếu có một hoặc hai bên xin
ly hôn, Toà án không huỷ việc kết hôn theo Điều 9 mà xử như việc xin ly hôn theo Điều 40” Mặt khác tại Kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cáo tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1995: để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự nhất là đối với phụ nữ, Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục thừa nhận “hôn nhân thực tế” đối với những
Trang 19GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 19 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
cặp chung sống với nhau không đăng ký kết hôn đã chung sống với nhau hàng chục năm
có tài sản chung hoặc có con chung Do một số vấn đề thực tế lịch sử như ý thức pháp luật của nhân dân trong giai đoạn này còn hạn chế, trước đây, do điều kiện chiến tranh khốc liệt, nhiều người vội vàng cưới vợ để nhập ngũ, tổ chức lễ cưới trong vùng địch tạm chiếm, nhiều người không có thời gian thực hiện thủ tục đăng ký; cũng trong thời gian này cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký chưa được kiện toàn chặt chẽ, hiệu quả tuyên truyền pháp luật chưa cao nên việc Luật HN&GĐ năm 1986 công nhận hôn nhân thực tế trong giai đoạn này
1.4.1.3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, trình độ nhận thức và công tác tuyên truyền pháp luật ngày càng được nâng cao, Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 đã thể hiện một thái độ dứt khoát đối với trường hợp “Nam, nữ chung sống như vợ chồng”, cụ thể tại khoản 1 Điều 11 có quy định: “Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng” Pháp luật hiện hành về vấn đề nam nữ sống chung như vợ chồng Khoản 1 Điều
11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định: Việc kết hôn phải được đăng ký và
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi là cơ quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều không có giá trị pháp lý Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn.3
Tuy nhiên, vẫn còn có những trường hợp quan hệ hôn nhân được xác lập từ trước ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực pháp luật, bởi vậy, giải quyết vấn
đề tồn tại trước đó là một việc hết sức cần thiết Với tinh thần đó, Nghị quyết số 35/2000/QH10 đã hướng dẫn áp dụng khoản 1 Điều 11 về việc giải quyết hậu quả pháp lý đối với trường hợp hôn nhân thực tế Theo tinh thần của mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 và Nghị quyết số 77/2001/NĐ-CP ngày 22-10-2001 của Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký hôn nhân theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 đã có những hướng dẫn cụ thể giải quyết về mặt pháp luật đối với những trường hợp vi phạm việc đăng ký kết hôn (nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn) từ trước ngày 01/01/2001, cụ thể như sau:
3 Đinh Thị Mai Phương: Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội –
2004, tr.118
Trang 20GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 20 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987
Nếu quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03/01/1987(ngày Luật HN&GĐ năm
1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn thì được nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho đăng ký kết hôn.Việc đăng ký kết hôn đối với trường hợp này không bị hạn chế về thời gian Những trường hợp này pháp luật không bắt buộc mà nhà nước chỉ khuyến khích kết hôn vì thực tế họ đã vào tuổi ông, bà Trong trường hợp có phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật HN&GĐ năm 2000
Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001:
Nếu nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ kết hôn trong thời hạn hai năm Kể từ ngày Luật này có hiệu lục đến ngày 01/01/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các yêu cầu về ly hôn của Luật HN&GĐ năm 2000 để giải quyết Từ ngày 01/01/2003
mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng
Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập từ ngày 01/01/2001 trở đi Nếu nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a, b khoảng 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10, mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận họ là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật HN&GĐ năm
2000 để giải quyết Trên thực tế chính quyền các cấp, các cơ quan tư pháp ở địa phương, các tổ chức đoàn thể đã hết sức cố gắn trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quy định pháp luật, ngoài ra cách thức tổ chức đăng ký kết hôn cũng phong phú, linh hoạt hơn Phần lớn các trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn đã được rà soát, lập danh sách và đăng
ký kết hôn Tuy nhiên, do số lượng các trường hợp đăng ký kết hôn theo mục 3 Nghị Quyết số 35/2000/QH10 quá lớn, cho đến nay, trong cả nước vẫn còn không ít trường hợp đã được rà soát, lập danh sách nhưng chưa được đăng ký kết hôn Nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đăng ký kết hôn, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của công dân, đặc biệt là quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em Ngày 14/07/2003 Bộ trưởng Bộ Tư Pháp đã ban hành chỉ thị số 02/2003/CT-BTP về việc tiếp tục đăng ký kết hôn cho các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ
Trang 21Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 nhưng chưa xin đăng ký kết hôn, chưa được rà soát, lập danh sách trước ngày 01/01/2003, mà nay họ tự nguyện xin đăng ký kết hôn thì vẫn được khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để đăng ký kết hôn Việc đăng ký kết hôn cho các trường hợp này được thực hiện theo thủ tục quy định tại nghị định số 83/1998/NĐ-CP về đăng ký hộ tịch
và quan hệ vợ chồng của họ chỉ được pháp luật công nhận kể từ thời điểm đăng ký kết hôn Đối với các trường hợp đăng ký kết hôn mà hồ sơ đăng ký rõ ràng, hai bên nam nữ
có đủ điều kiện kết hôn, thì Ủy ban nhân dân và cơ quan tư pháp địa phương các cấp có trách nhiệm hoàn thành việc đăng ký kết hôn trong năm 2003 Đối với các trường hợp phức tạp cần xác minh hoặc xin ý kiến thì cần phải cố gắng tích cực hoàn thành việc đăng
ký kết hôn trước ngày 01/08/2004/CT-BTP những trường hợp sống chung như vợ chồng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vẫn có thêm thời gian để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.4 Tuy nhiên, nếu nhóm này hiện đã đăng ký kết hôn thì được xem là vợ chồng hợp pháp, tức là những đối tượng này không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.4.2 Pháp luật một số nước trên thế giới về vấn đề nam nữ chung sống như vợ chồng
Thế kỷ 21 là thế kỷ mà quyền tự do cá nhân được đề cao hơn bao giờ hết Ở hầu hết các nước trên thế giới, cũng như ở Việt Nam, hiện tượng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn đang diễn ra phổ biến Do điều kinh tế, chính trị, xã hội của từng nước là khác nhau nên việc nhìn nhận của pháp luật mỗi nước về vấn đề nam nữ chung sống như vợ chồng là khác nhau
4 Đinh Thị Mai Phương, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội –
2004, tr.122
Trang 22GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 22 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
1.4.2.1 Sự điều chỉnh đối với quan hệ chung sống như vợ chồng ở Anh quốc
Tại Anh, hiện tượng nam nữ chung sống như vợ chồng được điều chỉnh bởi pháp luật HN&GĐ Sự chung sống như vợ chồng của những phụ nữ đã ly hôn trước khi kết hôn lần thứ hai gần như là quy tắc xử sự hiện nay, áp dụng cho 70% các trường hợp kết hôn như vậy Bên cạnh đó, những phụ nữ chưa một lần kết hôn chung sống như vợ chồng với một người nam giới trước khi họ tiến hành kết hôn ngày càng trở thành phổ biến, từ 7% năm 1970 tăng đến 48% vào năm 1987 Cho đến nay, con số này còn tăng lên nhiều
Từ thực tế đó, Quốc hội Anh đã ban hành những đạo luật khác nhau dẫn đến sự thay đổi
về mức độ công nhận đối với hiện tượng chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn ở công dân
Trước đây, pháp luật Anh không công nhận những người ăn ở với nhau như vợ chồng mà không kết hôn là vợ chồng, dưới góc độ pháp luật các bên chung sống như vợ chồng không có tư cách pháp lý của các cặp đã kết hôn, vì vậy mối quan hệ giữa họ không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật HN&GĐ, đồng thời những người chung sống như vợ chồng mà không kết hôn cũng không chịu sự điều chỉnh của bất kỳ một đạo luật hoặc một quy chế pháp lý nào Do vậy, giữa họ không phát sinh các quyền và nghĩa
vụ pháp lý đối với nhau
Hiện nay, sự nhìn nhận về việc chung sống như vợ chồng đã có sự thay đổi Những quy định về sự ăn ở với nhau như vợ chồng đã được ban hành trong đó, vấn đề tài sản giữa các bên chung sống phải được đối xử như giữa vợ chồng với nhau Các nguyên tắc phân chia tài sản và cấp dưỡng cũng được áp dụng như các trường hợp kết hôn Khi việc chung sống bị tan vỡ thì quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em phải được bảo vệ như đối với trẻ em của các cặp kết hôn Các vấn đề như cấp dưỡng, bảo đảm việc học hành, vui chơi, giải trí của trẻ em do các cặp chung sống sinh ra phải được quan tâm.5
Như vậy, mặc dù pháp luật Anh không công nhận các bên chung sống mà không đăng ký kết hôn là vợ chồng nhưng lại có các quy định riêng điều chỉnh quan hệ này nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia, của trẻ em được sinh ra từ quan hệ đó và bảo vệ an ninh xã hội
1.4.2.2 Sự điều chỉnh đối với quan hệ chung sống như vợ chồng ở Mỹ
Khác với nước Anh, pháp luật của Mỹ cho rằng hôn nhân là một hợp đồng dân sự được ký kết giữa một người nam và một người nữ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ
5Trương Hồng Quang, Chế định hôn ước trên thế giới, Bộ tư pháp,
http://www.moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=5948, [ngày truy cập 18/09/2013]
Trang 23GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 23 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
giữa vợ chồng với nhau, hợp đồng này được lập nên và giải thể theo nghi thức trang trọng hơn hợp đồng thông thường Trong đó, kết hôn là một sự kiện bắt buộc phải được tiến hành tại nhà thờ hoặc tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Sở dĩ nhà làm luật của
Mỹ không coi quan hệ nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật HN&GĐ bởi tác động xấu của quan hệ này tới đời sống gia đình và xã hội, thuật ngữ “chung sống ngoài hôn nhân” được sử dụng để không thừa nhận tư cách vợ chồng giữa các bên, do đó các bên không được hưởng các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản mà pháp luật quy định cho các vợ chồng trong hôn nhân hợp pháp Ở một số bang như: Ohio, Texas, Washington DC… Tòa án lại thừa nhận tính hợp pháp của quan hệ chung sống như vợ chồng và gọi đó là “hôn nhân thực tế” nhưng phải đáp ứng được một số điều kiện là: thời gian chung sống của các bên phải lâu dài; giữa họ đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau; thậm chí có bang quy định còn phải được những người xung quanh công nhận và các bên phải có nguyện vọng được kết hôn với nhau.6
Như vậy, về mặt pháp lý nhà làm luật phủ định tính hợp pháp của hiện tượng nam
nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn Tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm coi hôn nhân là một hợp đồng, sự tự do, tự nguyện của các bên nam, nữ là yếu tố quyết định thì nhà làm luật vẫn tiếp tục thừa nhận “hôn nhân thực tế” mặc dù quan điểm này không phải là phổ biến ở hầu khắp 50 bang ở nước Mỹ
1.4.2.3 Sự điều chỉnh đối với quan hệ chung sống như vợ chồng ở Australia
Quan hệ HN&GĐ ở Australia chỉ thuộc phạm vi điều chỉnh của nhà thờ cho tới khi đạo luật về HN&GĐ đầu tiên Luật gia đình ra đời năm 1961 Từ đó, các khía cạnh của quan hệ hôn nhân mới được thể hiện rõ ràng bằng những quy định cụ thể Pháp luật Australia quy định nam nữ muốn trở thành vợ chồng phải tiến hành hôn lễ tại nhà thờ hoặc tại cơ quan nhà nước Sự tuyên bố của nhà thờ hoặc giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có giá trị pháp lý trong việc khẳng định rằng quan hệ hôn nhân đã phát sinh hiệu lực
Như vậy, trên nguyên tắc pháp luật Australia không công nhận các bên chung sống như vợ chồng mà không tiến hành hôn lễ tại nhà thờ hoặc tại cơ quan nhà nước là
vợ chồng Tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm của pháp luật Australia coi hôn nhân là hợp đồng nên cũng công nhận quan hệ vợ chồng đối với những trường hợp các bên ký kết
6
Tạ Quốc Tuấn, Đại cương về luật gia đình Hoa Kỳ, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
luatkhoavietnam.com/ /NghienCuuLuatPhap-DaiCuongVeLuatGiaDinh , [ngày truy cập ngày 20/10/2013]
Trang 24GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 24 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
một hợp đồng sống chung với nhau gọi là “hợp đồng chung sống” Khi hợp đồng sống chung giữa các bên được ký kết thì các bên có tư cách là vợ chồng của nhau Nếu trong hợp đồng có những điều khoản trái với đạo đức, chính sách công cộng thì điều khoản đó
sẽ không phát sinh hiệu lực, còn hợp đồng sống chung thì vẫn có giá trị pháp lý Đối với các trường hợp này quan hệ hôn nhân được phát sinh do hợp đồng
1.4.2.4 Sự điều chỉnh đối với quan hệ chung sống như vợ chồng ở Pháp
Nhà làm luật của Pháp quan niệm hôn nhân đồng thời mang hai tính chất: Hợp đồng dân sự và thiết chế pháp luật Theo Bộ luật dân sự quy định: Không ai có thể được đòi hỏi danh nghĩa vợ, chồng và các hệ quả dân sự của hôn nhân nếu không xuất trình chứng thư kết hôn được ghi vào sổ hộ tịch, trừ các trường hợp quy định tại phần các chứng thư hộ tịch
Trước sự phát triển của quan hệ chung sống như vợ chồng, người Pháp, thông qua con đường lập pháp hay án lệ, đã cố gắng áp dụng đối với những người chung sống như
vợ chồng một quy phạm pháp luật trước đây chỉ dành riêng cho các cặp vợ chồng hợp pháp, chẳng hạn như thuế thu nhập, quyền tiếp tục thuê nhà ở … Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự cũng quy định: “thỏa ước dân sự về sự đoàn kết là một hợp đồng được giao kết bởi hai thể nhân trưởng thành, khác giới hoặc cùng giới, nhằm tổ chức cuộc sống chung của họ.” Tính hợp đồng của hôn nhân thể hiện ở giai đoạn trước và tại thời điểm kết hôn, khi đó phản ánh sự tự nguyện thỏa thuận của các bên kết hôn Tuy nhiên, để bảo vệ quyền tự do của họ, cũng như để những điều kiện kết hôn của pháp luật được tôn trọng thì một thủ tục tố tụng đặc biệt và bắt buộc được tổ chức tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.7 Như vậy, việc nam nữ chung sống như vợ chồng sẽ không được Nhà nước thừa nhận là hôn nhân hợp pháp
Tóm lại, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán và quan điểm làm luật của các nước, một số nước đã thừa nhận chung sống như vợ chồng như là một dạng thức của hôn nhân, ngược lại, một số nước khác lại không thừa nhận Nhìn chung, đa số nhà làm luật các nước đều công nhận sự tồn tại của tình trạng này như là một tất yếu khách quan của cuộc sống Đồng thời, họ có những quy định cần thiết để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của hiện tượng này đối với đời sống gia đình và xã hội
7 Nguyễn Quốc Hùng, Giáo trình Luật so sánh, Nxb Công an nhân dân 2008, Tr, 158
Trang 25GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 25 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VIỆC NAM NỮ CHUNG
có các quyền và nghĩa vụ đối với người kia theo luật chung, như hai cá nhân bình thường
2.1.1 Quyền và nghĩa vụ thể hiện quyền bình đẳng tự do dân chủ của hai người chung sống như vợ chồng
Bình đẳng được hiểu là sự ngang nhau về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ vợ chồng Bình đẳng là một trong những quyền quan trọng quyền có tính chất dân chủ, tiến
bộ được hầu hết các quốc gia trên thế giới ghi nhận và quy định trong pháp Luật hôn nhân và gia đình Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi và bổ sung năm 2001), quy định, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 52), hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng (Điều 64) Quyền bình đẳng của vợ chồng cũng được ghi nhận trong BLDS 2005: Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và trong quan hệ dân sự (Điều 40) Quy định này cũng là sự kế thừa Điều 10 Luật HN&GĐ năm 1986, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình
Nếu như trước đây người phụ nữ không có vai trò gì trong gia đình và hoàn toàn phụ thuộc vào người cha, người chồng, hay con trai, thì ngày nay người phụ nữ được xã hội nhìn nhận là có vai trò, địa vị bình đẳng như nam giới và được pháp luật bảo vệ Một lần nữa, Luật HN&GĐ năm 2000 khẳng định sự bình đẳng, bình quyền về mọi mặt trong mối quan hệ giữa vợ và chồng, vợ chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình Khái niệm bình đẳng ở đây được hiểu theo hai khía cạnh:
Thứ nhất: Bình đẳng là sự ngang nhau về các quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong
gia đình
Thứ hai: Quyền bình đẳng còn thể hiện ở việc hôn nhân không làm cho vợ chồng
hòa nhập về mặt tư cách pháp lý
Trang 26Tuy nhiên, đó là sự bình đẳng của vợ chồng khi là vợ chồng thực sự theo nghĩa của luật, còn đối với trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì quyền bình đẳng giữa họ có được hai bên chung sống với nhau tôn trọng? Hay được pháp luật bảo vệ không là đều đáng để chúng ta quan tâm Khi quan hệ chung sống như vợ chồng của hai người không được pháp luật công nhận, tức là họ không phải là vợ chồng của nhau thì mỗi người có các quyền và nghĩa vụ đối với người kia theo luật chung, như hai cá nhân bình thường
2.1.2 Quyền đại diện cho nhau trước pháp luật
Đại diện cho nhau giữa vợ và chồng là quy định mới trong Luật HN&GĐ năm
2000 mà trước đây Luật HN&GĐ năm 1986 chưa đề cập Theo khoản 1 Điều 139 BLDS 2005: Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây được gọi là người đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện Trong giao lưu dân sự phần lớn các chủ thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch Tuy nhiên, cũng có trường hợp vì nhiều lý do như bệnh tật ốm đau, điều kiện công tác mà một người cần người khác thay mình thực hiện công việc, ta gọi đó
là quan hệ đại diện Luật HN&GĐ năm 2000 quy định vấn đề đại diện cho nhau giữa vợ
và chồng trên cơ sở phù hợp với BLDS 2005
Quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật HN&GĐ năm 2000 quan hệ đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng (tương ứng với điều 142 BLDS 2005): Vợ chồng có thể đại diện cho nhau để xác lập, thực hiện, chấm dứt cáo giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả vợ chồng Quy định này thể hiện mối quan hệ bình đẳng giữa vợ
và chồng trong các giao dịch mà pháp luật quy định phải có sự đồng ý của cả vợ chồng, nếu như trước kia trong gia đình chỉ người chồng chỉ mới có quyền xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch dân sự, thì ngày nay người vợ hoàn toàn có quyền đại diện cho chồng thực hiện các giao dịch dân sự đó Địa vị pháp lý của vợ chồng là hoàn toàn bình đẳng Tuy nhiên, đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng phải được lập thành văn bản
Trang 27GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 27 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
Những giao dịch dân sự mà pháp luật quy định phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng, có giá trị lớn như đất đai, nhà ở tác động nhiều đến đời sống chung của gia đình Do vậy khi
vợ chồng ủy quyền cho nhau thực hiện các giao dịch đó cần thiết hai bên phải lập văn bản
ủy quyền, có chữ ký của người ủy quyền và người được ủy quyền, nhằm xác nhận sự tự nguyện của hai bên, đồng thời, ghi nhận trách nhiệm của người đại diện trong phạm vi công việc ủy quyền
Vấn đề đại diện theo pháp luật giữa vợ và chồng cũng được đặt ra tại khoản 2 Điều 24 Luật HN&GĐ năm 2000 Khi vợ (hoặc chồng) bị mất năng lực hành vi dân sự, thì người kia có điều kiện đương nhiên trở thành người giám hộ cho người đó hoặc khi một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà người kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện thì sẽ làm người đại diện của vợ (hoặc chồng) mình Việc quy định vợ, chồng có thể đại diện cho nhau cho thấy một lần nữa pháp luật khẳng định vai trò, vị trí như nhau của người vợ, người chồng trong gia đình, cũng như ngoài xã hội Người chồng không còn là người gia trưởng trong gia đình, đại diện và chỉ huy mọi hoạt động của vợ
mà người vợ có quyền đại diện cho chồng làm người giám hộ khi người chồng mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm người đại diện theo pháp luật cho chồng khi Tòa án chỉ định
do chồng bị hạn chế năng lực hành vi Quy định này đúng đắn và hoàn toàn phù hợp; bởi
vì trong gia đình, quan hệ vợ chồng được xác lập trên cơ sở tình yêu, sự tự nguyện và bình đẳng giữa hai bên Do vậy, họ có thể là chỗ dựa tin cậy cho nhau khi người kia không đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch Quy định này một lần nữa ràng buộc trách nhiệm của vợ chồng với nhau trong việc thực hiện giao dich dân sự vì mục tiêu duy trì đời sống chung của gia đình.8
Tuy nhiên, đó là quy định trong trường hợp hai bên nam nữ đã xác lập quan hệ vợ chồng bằng việc đăng ký kết hôn Trong trường hợp nam, nữ có quan hệ chung sống như
vợ chồng không được thừa nhận là có quan hệ hôn nhân trên thực tế thì cũng không phát sinh quyền và nghĩa vụ đại diện theo pháp luật cho nhau Khi hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, nếu một bên thực hiện giao dịch dân
sự có liên quan đến tài sản chung bắt buộc phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng mà lại không được sự ủy quyền của bên kia, thì khi đó quyền và lợi ích của bên kia sẽ không được pháp luật bảo vệ Ví dụ sau đây chứng minh cho điều đó: Bản án số 32/DSST ngày 26/05/2007 của TAND quận C, thành phố H đã giải quyết vụ kiện giữa anh A và chị B, chung sống với nhau từ năm 2002 sau khi cả hai người đều đã ly hôn Họ chung sống hạnh phúc, đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên anh A đã yêu cầu ly
8 Đinh Thị Mai Phương, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội –
2004, tr.174
Trang 28GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 28 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
hôn Trước Tòa, chị B cho rằng anh A không phải là chồng mà chỉ là bạn của chị, do thấy anh A nuôi con nhỏ một mình nên đã chung sống để giúp đỡ anh nuôi con Trong thời gian chung sống, anh A đã góp tiền để chị B mua một mảnh đất trị giá 1,2 tỉ đồng Chị B không thừa nhận có quan hệ vợ chồng với anh A nên không chấp nhận yêu cầu chia tài sản của anh A Rõ ràng anh A là người bị thiệt hại về tài sản trong trường hợp này Giả
sử, ngay từ khi về chung sống với nhau, anh A và chị B tiến hành đăng ký kết hôn thì khi chị B mua một tài sản có giá trị lớn như mảnh đất thì phải có giấy ủy quyền của anh A cho chị B đại diện cho anh mua miếng đất đó Như vậy là quyền lợi của anh A sẽ được bảo đảm khi anh A có đăng ký kết hôn với chị B Tuy nhiên, trong trường hợp này, vì anh A và chị B không đăng ký kết hôn mà chỉ chung sống với nhau như vợ chồng nên giao dịch của chị B không có sự ủy quyền của anh A là hoàn toàn phát sinh hiệu lực Do
đó, về mặt pháp lý thì mảnh đất này chỉ thuộc về chị B, anh A không được chia tài sản, trừ khi chứng minh được tư cách đồng sở hữu với chị B
2.1.3 Nghĩa vụ chung thủy giữa hai người chung sống với nhau như vợ chồng
Gia đình là nơi hình thành và là môi trường quan trọng nuôi dưỡng nhân cách của mỗi con người Để gia đình thực sự là tổ ấm, Điều 18 luật HN&GĐ năm 2000 quy định
vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy, yêu thương, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau Chung thủy trong quan hệ vợ chồng “là tình cảm trước sau như một, không thay đổi” Thương yêu là tình cảm gắn bó thân thiết, hết lòng quan tâm chăm sóc, quý trọng là sự tôn trọng, đánh giá cao vai trò Đây là những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định hạnh phúc và sự bền vững của gia đình Quy định này là sự kế thừa nội dung của Điều 11 Luật HN&GĐ năm
1986, một lần nữa khẳng định giá trị và vai trò của tình cảm yêu thương giữa vợ và chồng trong cuộc sống gia đình Bản chất của tình yêu thương là không thể chia sẽ và chung thủy là nền tảng để duy trì hạnh phúc gia đình, đó không đơn thuần là nghĩa vụ không mang tính chất pháp lý mà còn là đạo đức, nhân cách của con người Tuy nhiên chung thủy chưa phải là yếu tố đủ để xây dựng mái ấm mà chính tình thương yêu, sự quý trọng lẫn nhau mới là nội dung sâu sắc của mối quan hệ này Yêu thương là tình cảm gắn bó xuất phát từ bản chất của tình yêu Điều 18 đã đề cao được đạo lý chung và ý thức của mỗi người về một gia đình trọn vẹn với hạnh phúc đích thực của đời sống vợ chồng Quy định này không chỉ xác lập nghĩa vụ về mặt pháp lý nhằm củng cố nền tảng gia đình, mà còn là một bước quan trọng để tiếp tục bác bỏ quan điểm phong kiến trước đây đã được các Luật năm 1959, 1986 bãi bỏ: “Trai năm thê bảy thiếp, gái chín chuyên một chồng” Việc xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc là trách nhiệm chung của cả hai người, là quyền và nghĩa vụ mà vợ chồng cần phải chung sức, chia sẻ Vì vậy cuộc sống vợ chồng
tự nhiên và cần thiết phải được xây đắp, duy trì trên cơ sở sự gắn kết tình yêu và trách
Trang 29GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 29 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
nhiệm Trách nhiệm trong quan hệ vợ chồng được thể hiện ở sự chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau
Là sự quan tâm chia sẻ, tương trợ lẫn nhau trong đời sống vật chất và tinh thần để
có thể cùng nhau đạt tới được mục đích thực sự của hôn nhân là “xây dựng gia đình no
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững” Ý nghĩa của việc quy định về tình nghĩa
vợ chồng chủ yếu là nhằm đề cao đạo lý chung và tạo ra ý thức trách nhiệm cho mỗi người trong quan hệ vợ chồng, do vậy, không thể bằng các biện pháp cưỡng chế hay quyền lực nhà nước mà điều chỉnh mối quan hệ xã hội vốn tế nhị và riêng tư này.9 Sở dĩ, pháp luật quy định như vậy là bắt nguồn từ nguyên tắc “hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một
vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” Nam nữ yêu thương nhau, mong muốn xây dựng gia đình nên đã kết hôn với nhau, Giấy chứng nhận kết hôn là sợi dây ràng buộc về mặt pháp
lý giữa người nam và người nữ với nhau, giúp cho hai bên phần nào ý thức được trách nhiệm đối với quan hệ hôn nhân của mình
Tuy nhiên, trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn thì sợi dây ràng buộc này lại không được chặt chẽ, đó chỉ là sự “quy ước” với chính bản thân mỗi bên về trách nhiệm chung thủy của mình đối với bên kia chứ không có một
sự ràng buộc chắc chắn nào về mặt pháp luật Cho dù người đó có vi phạm chế độ một vợ một chồng đi chăng nữa thì pháp luật cũng không có chứng cứ gì buộc họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình Do vậy, có thể nói việc chung sống như vợ chồng đã phần nào tạo một cơ chế mở cho việc thực hiện nghĩa vụ yêu thương, chung thủy với nhau của
vợ chồng Xin đưa ra một ví dụ để minh chứng cho điều này: Anh Nguyễn Văn A và chị Trần Thị L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001 đã có hai người con chung (con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2005) Năm 2006 anh A bỏ mẹ con chị L (không tiến hành xin ly hôn tại Tòa án) và kết hôn với chị Phạm Thị H có đăng ký kết hôn tại UBND xã Khi chị L tìm đến và yêu cầu anh A về chung sống với mẹ con chị thì anh A đã từ chối, và đưa cho chị xem Giấy chứng nhận kết hôn của anh với chị H và tuyên bố việc anh lấy chị H là hoàn toàn hợp pháp Qua ví dụ đưa ra ta thấy: Nếu như ngay từ ban đầu anh A và chị L đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì việc anh và chị H kết hôn sau này là không thể (trừ khi anh chị đã ly hôn) Vì không có quan hệ vợ chồng theo pháp luật với chị L nên anh A đã tự do yêu thương người khác ngoài “vợ” của mình là chị L, thậm chí còn chối bỏ tư cách là chồng của chị L và tư cách làm cha của các con ruột của mình
9
Đinh Thị Mai Phương, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội –
2004, tr.154
Trang 30GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 30 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
Trong thực tế, cuộc sống gia đình không phải lúc nào cũng diễn ra như mong muốn mà đôi khi vẫn xảy ra mâu thuẫn, vì không bị ràng buộc bởi pháp luật nên trong suy nghĩ của hai bên nam nữ họ có quan niệm là còn tình cảm thì sống chung, còn nếu tình trạng trầm trọng kéo dài mà không thể sống cùng nhau được nữa thì chia tay mà lại không cần phải làm những thủ tục kết hôn, ly hôn cho phức tạp Những suy nghĩ như vậy
đã gây ra những hậu quả không nhỏ cho mỗi bên sau này, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em Xét một cách toàn diện nó làm suy đồi những giá trị đạo đức và nhân văn tốt đẹp của dân tộc Việt
2.1.4 Quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng
Về nguyên tắc, để xác định tài sản chung của vợ chồng thì điều quan trọng nhất đó
là thời kỳ hôn nhân Điều 58 Hiến pháp năm 1992 về chế độ tài sản giữa vợ và chồng thuộc phạm trù quyền sở hữu của công dân đã có quy định: Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác
Luật HN&GĐ năm 1959 đã bước đầu xác lập sự bình đẳng trong việc hợp nhất tài sản chung vợ, chồng Chế độ tài sản chung của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 1959 là chế độ sở hữu chung Mọi tài sản của vợ chồng không phân biệt nguồn gốc có trước hoặc sau khi cưới đều thuộc sở hữu chung và vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung Điều 14 Luật HN&GĐ năm 1986 quy đinh: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ, chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung Như vậy, không phải tất cả các tài sản đều là tài sản chung của vợ chồng Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về tài sản chung của vợ chồng trên cơ sở kế thừa quy định Luật HN&GĐ năm 1986 và xác định cụ thể hơn về các loại tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng
Căn cứ pháp lý: Việc xác định khối tài sản chung của vợ, chồng căn cứ vào sự tồn
tại của quan hệ hôn nhân – quan hệ vợ chồng Theo khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ năm
2000, tài sản chung của vợ chồng do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuât, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân… Theo Điều 7, Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000: Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân Thời kỳ hôn nhân bắt đầu từ khi kết hôn tức là ngày Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
- nơi thường trú của vợ hoặc chồng ghi vào Sổ đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn cho hai vợ chồng và chấm dứt khi một bên vợ chồng chết hoặc vợ chồng ly hôn (từ khi phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp lực pháp luật) Như vậy, mọi tài sản trong
Trang 31GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 31 SVTH: Đặng Ngọc Đẹp
gia đình có được trong thời kỳ hôn nhân đều được coi là tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà không phụ thuộc vào khả năng trực tiếp tạo ra tài sản hay công sức đóng góp của mỗi bên
Căn cứ vào nguồn gốc tài sản:
Thứ nhất, tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời
kỳ hôn nhân
Thứ hai, tài sản chung của vợ chồng là: Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất
kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung
Thứ ba, khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 còn quy định tài sản chung là
tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Thứ tư, nếu vợ chồng xẩy ra tranh chấp về xác định tài sản chung, nhưng mỗi bên
đều không có chứng cứ chứng minh đó là tài sản riêng của mình thì coi đó là tài sản chung của vợ chồng (khoản 3 Điều 27)
Thứ năm, quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung
của vợ, chồng
Luật HN&GĐ năm 2000 đã khẳng định: Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất (Điều 27) Đây là quy định mới và hoàn toàn phù hợp với BLDS 2005 về quyền sở hữu Theo quy định tại điều 214 BLDS 2005 Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất
Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung
Từ trước đến nay, tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở hữu thông thường chỉ một bên là tên vợ hoặc tên chồng Luật HN&GĐ năm 2000 ra đời
đã quy định việc đăng ký quyền sở hữu chung phải ghi tên hai người Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn như sau: Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợp tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu chung nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên vợ hoặc chồng nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng nếu
có tranh chấp thì đó là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh tài sản này được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng quy định tại khoản 1 Điều 32… Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang được tranh chấp này là tài sản riêng theo quy định tại khoản 3 Điều 27 tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng, hướng