1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng

51 489 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gà Nòi là giống gà địa phương của ĐBSCL với nhiều ưu điểm nổi bật như: sức đề kháng cao, thích nghi tốt với điều kiện chăn thả ở nước ta, da vàng, thịt thơm ngon săn chắc, ít mỡ, ít chol

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN THỊ MỸ LINH

ĐIỀU TRA ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH CỦA

GÀ NÒI NUÔI TẠI CHÂU THÀNH VÀ LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI – THÚ Y

2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI – THÚ Y

Tên đề tài:

ĐIỀU TRA ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH CỦA

GÀ NÒI NUÔI TẠI CHÂU THÀNH VÀ LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

Lớp: CN K36

2013

Trang 3

i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI – THÚ Y

ĐIỀU TRA ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH CỦA GÀ

NÒI NUÔI TẠI CHÂU THÀNH VÀ

LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013 Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013

DUYỆT CỦA KHOA

………

Trang 4

ii

LỜI CẢM TẠ

Trong những năm học tập tại Đại học Cần Thơ, nhờ sự quan tâm, động viên, giúp

đỡ của thầy cô, gia đình và bạn bè; bên cạnh đó, nhà trường luôn tạo điều kiện tốt nhất để tôi học tập và rèn luyện, giúp cho tôi có được những kiến thức quý báu và những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống Cùng với sự nỗ lực của chính bản thân, hôm nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi xin chân thành gởi lời cảm tạ sâu sắc đến:

Ba mẹ kính yêu, người đã sinh ra tôi, đã nuôi dưỡng, dạy dỗ cho tôi nên người, luôn luôn cỗ vũ, động viên, sẵn sàng giúp đỡ tôi những lúc khó khăn để tôi có được kết quả như ngày hôm nay

Dì và Cậu của tôi luôn luôn lo lắng, quan tâm, chăm sóc và luôn sát cánh bên tôi, giúp tôi vượt qua khó khăn trong cuộc sống

Thầy Nguyễn Trọng Ngữ, người đã tận tình chỉ dạy, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp, thầy là một tấm gương sáng trong việc nỗ lực trong học tập để tôi noi theo

Cô Nguyễn Thị Hồng Nhân đã giúp đỡ tôi, cho tôi những lời khuyên quý báu và những câu chuyện thú vị

Thầy Trương Chí Sơn – cố vấn học tập lớp chăn nuôi thú y K36B – đã dạy dỗ, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập trại trường Chị Lưu Huỳnh Anh, phòng E112 bộ môn chăn nuôi, khoa Nông Nghiệp và SHƯD

Anh Lộc, anh Hiệp, anh Thảo, anh Hùng những cán bộ thú y nhiệt tình đã giúp đỡ,

hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình điều tra và lấy mẫu tại tỉnh Sóc Trăng

Tập thể các bạn hai lớp chăn nuôi – thú y A1 và A2, luôn bên cạnh giúp đỡ tôi trong những năm qua

Xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 5

Kết quả cho thấy các nông hộ nuôi gà Nòi với số lượng lớn , bình quân là 216 con/hộ, người dân có kinh nghiệm nuôi chưa lâu từ 2-4 năm Giống gà Nòi được các hộ nuôi phổ biến và song song là gà Nòi địa phương và các giống nhập từ địa phương khác Phương thức nuôi chủ yếu và phổ biến nhất là nuôi thả vườn kết hợp làm chuồng chiếm 55% , với hình thức này bà con có thể kiểm soát và chăm sóc đàn gà dễ dàng hơn; công tác thú y ở đây được thực hiện khá tốt

Về năng suất sinh sản, gà mái bắt đầu đẻ khoảng 206,3 ngày tuổi, lúc đó khối lượng trung bình đạt 1,9 kg, năng suất trứng trung bình 35,3 quả/năm, lứa đẻ trung bình 3,3 lứa/năm, tỷ lệ ấp nở/tổng số trứng ấp là 85,4%

Về đặc điểm ngoại hình, gà trống có màu lông sặc sỡ hơn như đỏ đen, trắng, gạch…, gà mái có lông màu nâu chiếm tỷ lệ cao nhất 34,2%, chân màu vàng chiếm chủ yếu ở cả gà trống (43,8%) và cả gà mái (48,3%), ở gà trống kiểu hình thường thấy: mắt màu vàng cam (38,8%), mỏ màu vàng đen (42,5%), kiểu mào lá chiếm

tỷ lệ khá cao (47%), còn ở gà mái mắt màu vàng (34,2%), mỏ màu đen (40,8%) và kiểu mào trích (41%) là chủ yếu

Bước đầu đã khuếch đại được 2 cặp mồi microsatellite trên nhóm gà Nòi nuôi tại Châu Thành và Long Phú (Sóc Trăng), đã phát hiện ra sự khác biệt về tính đa hình của alen microsatellite trên nhiễm sắc thể số 7

Tóm lại quy mô chăn nuôi gà Nòi của các hộ điều tra cũng khá lớn, nguồn con giống phong phú song bị lai tạp khá nhiều, tính đa dạng về mặt ngoại hình của gà trống cao hơn gà mái

Trang 6

iv

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả

Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 7

v

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ ii

TÓM LƯỢC iii

LỜI CAM ĐOAN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

2.1 ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH CHUNG Ở ĐỊA BÀN ĐIỀU TRA 2

2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA GIA CẦM 3

2.2.1 Đặc điểm ngoại hình của gia cầm 3

2.3 ĐẶC ĐIỂM CHUNG GIỐNG GÀ NÒI Ở ĐBSCL 5

2.3.1 Đặc điểm ngoại hình 5

2.3.2 Khả năng sinh trưởng của giống gà Nòi 5

2.3.3 Tập tính thay lông của giống gà Nòi 5

2.3.4 Thức ăn 6

2.4 CÁC PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI GÀ 6

2.4.1 Phương thức nuôi thả vườn 7

2.4.2 Nuôi thả vườn kết hợp làm chuồng 7

2.4.3 Phương thức nuôi nhốt hoàn toàn 8

2.5 MICROSATELLITE 9

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 10

3.1 PHƯƠNG TIỆN 10

3.1.1 Phương tiện điều tra 10

3.1.2 Phương tiện phân tích 10

3.1.3 Địa điểm tiến hành điều tra và phân tích mẫu 10

Trang 8

vi

3.2 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 11

3.2.1 Chọn hộ điều tra 11

3.2.2 Phương pháp điều tra 11

3.2.3 Phương pháp khuếch đại alen Microsatellite 11

3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 12

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13

4.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI TẠI ĐỊA ĐỂM ĐIỀU TRA 13

4.1.1 Con giống 13

4.1.2 Quy mô và cơ cấu đàn gà 14

4.2 PHƯƠNG THỨC VÀ KINH NGHIỆM NUÔI 15

4.3 THỨC ĂN VÀ NƯỚC UỐNG 17

4.4 CÔNG TÁC THÚ Y VÀ VỆ SINH TRONG CHĂN NUÔI 18

4.5 NĂNG SUẤT TRỨNG CỦA GÀ NÒI 19

4.6 KHẢ NĂNG ẤP NỞ CỦA GÀ NÒI 20

4.7 ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH 21

4.7.1 Màu lông 21

4.7.2 Màu mắt 23

4.7.3 Màu mỏ 23

4.7.4 Kiểu mào 24

4.7.5 Màu sắc chân 26

4.7.6 Tổng kết các đặc điểm ngoại hình của gà Nòi 27

4.8 KẾT QUẢ KHUẾCH ĐẠI ALEN MICROSATELLITE 27

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 30

5.1 KẾT LUẬN 30

5.2 ĐỀ NGHỊ 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

PHỤ LỤC 33

Trang 9

vii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Sơ đồ các cặp mồi và chu trình nhiệt theo đề nghị của FAO 11

Bảng 4.1 Quy mô và cơ cấu đàn gà của 40 hộ được điều tra 14

Bảng 4.2 Hình thức nuôi và kinh nghiệm nuôi gà Nòi của 40 hộ điều tra 15

Bảng 4.3 Năng suất trứng của 40 gà Nòi 19

Bảng 4.4 Khả năng ấp nở của gà Nòi 20

Bảng 4.5 Màu lông của 200 gà nòi được điều tra 22

Bảng 4.6 Màu mắt của 200 gà Nòi được điều tra 23

Bảng 4.7 Tổng kết đặc điểm ngoại hình của gà Nòi 27

Trang 10

viii

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Bản đồ huyện Châu Thành và huyện Long Phú 10

Hình 4.1 Hình thức nuôi gà Nòi thả vườn kết hợp làm chuồng 16

Hình 4.2 Phương thức nuôi nhốt hoàn toàn và nuôi thả vườn 17

Hình 4.3 Thức ăn hỗn hợp cho gà 17

Hình 4.4 Màu lông gà Nòi 22

Hình 4.5 Màu mắt gà Nòi 23

Hình 4.6 Màu mỏ gà nòi 24

Hình 4.7 Các kiểu màu gà Nòi 26

Hình 4.8 Màu Chân gà nòi 27

Hình 4.9 Khuếch đại ADN gà Nòi nuôi tại Châu Thành và Long Phú 28

Hình 4.10 Khuếch đại ADN gà Nòi bằng cặp mồi MCW0014 29

Hình 4.11 Khuếch đại ADN gà Nòi bằng cặp mồi MCW0183 29

Trang 11

ix

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Kết quả điều tra về màu sắc mỏ gà Nòi 24

Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ các kiểu mào trên gà trống 25

Biểu đồ 4.3 Tỉ lệ các kiểu mào trên gà mái 25

Biểu đồ 4.4 Kết quả điều tra màu chân gà Nòi 26

Trang 13

1

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăn nuôi gia cầm là một trong những ngành có khả năng sản xuất ra thực phẩm nhanh nhất, kinh tế nhất hiện nay Ngoài ra, chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nòi riêng còn góp phần khai thác triệt để nguồn đất tự nhiên, tận dụng chuồng trại, nhà xưởng nguồn thức ăn sẵn có ở địa phương và nguồn lao động nông nhàn nông thôn Đây cũng là hoạt động cần thiết ở nhiều địa phương đang xây dựng nông thôn mới để hoàn thành tiêu chí nâng cao thu nhập cho người dân

Ngày nay, với nhu cầu tiêu dùng thực phẩm gia cầm tăng cao (chủ yếu là thịt gà) và đa dạng Ngoài những nhu cầu thiết yếu về gà sạch và an toàn, người tiêu dùng còn quan tâm đến chất lượng cũng như về giá trị dinh dưỡng vấn đề sức khỏe và thị hiếu người tiêu dùng Bên cạnh thị trường chiếm lĩnh phần lớn là thịt gà công nghiệp là chủ yếu, người tiêu dùng có xu hướng thích dùng gà thả vườn hơn Nắm bắt được nhu cầu và đáp ứng lại điều đó, nhiều địa phương đã tiến hành xây dựng mô hình chăn nuôi gà thả vườn Gà Nòi là giống gà địa phương của ĐBSCL với nhiều ưu điểm nổi bật như: sức đề kháng cao, thích nghi tốt với điều kiện chăn thả ở nước ta, da vàng, thịt thơm ngon săn chắc, ít

mỡ, ít cholesteron, đùi to, thịt ức dày,… nên được người dân lựa chọn nhân giống và sản xuất rộng rãi

Tuy nhiên, giống gà Nòi hiện nay bị lai tạp khá nhiều, tình hình chăn nuôi gà Nòi vẫn chưa phát triển ổn định, năng suất chăn nuôi còn thấp do chăn nuôi vẫn theo phương thức nhỏ lẻ với cơ cấu đàn nhỏ, chủ yếu là quy mô hộ gia đình, gà Nòi bị lai tạp khá nhiều, kiến thức chăn nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, đầu

tư tài chính và kỹ thuật còn hạn chế, dịch bệnh thường phát sinh gây thiệt hại cho người nuôi Bên cạnh đó, còn có công tác quản lý giống, chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý,…chưa được quan tâm đúng mức

Xuất phát từ những nguyên nhân trên nên đề tài “Điều tra đặc điểm ngoại hình của gà Nòi nuôi tại Châu Thành và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng” được tiến hành với mục tiêu:

- Đánh giá thực tế tình hình nuôi gà Nòi (số lượng, kinh nghiệm nuôi của người dân) tại địa bàn điều tra

- Khảo sát các chỉ tiêu về đặc điểm ngoại hình của giống gà Nòi tại địa phương

- Bước đầu khuếch đại một số alen microsatellite trên gà Nòi bằng kỹ thuật PCR

Trang 14

2

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH CHUNG Ở ĐỊA BÀN ĐIỀU TRA

Châu Thành và Long Phú là 2 huyện thuộc tỉnh Sóc Trăng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng gió mùa, chia thành mùa là mùa khô và mùa mưa, trong đó mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô kéo dài từ tháng

11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm của Sóc Trăng khoảng 26,80C, ít khi bị bão lũ, lượng mưa trung bình trong năm là 1.864 mm, tập trung chủ yếu vào các tháng 8, 9, 10, độ ẩm trung bình là 83%, thuận lợi cho cây lúa và các loại hoa màu phát triển

Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng nhìn chung kinh tế - xã hội của huyện Châu Thành trong Quý III và 9 tháng đầu năm 2013 tiếp tục có bước phát triển ổn định Chăn nuôi phát triển ổn định Tổng đàn gia súc của huyện đến nay phát triển được 40.060 con; đàn gia cầm 1.595.645 con đạt 93,86% kế hoạch (http://www.ipc.soctrang.gov.vn)

Huyện Long Phú tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định Kết quả điều tra (thời điểm 01/4/2013), trên địa bàn huyện tổng đàn heo hiện có 34.036 con, tăng 28,08%, đàn bò 2.232 con, giảm 4,28%, đàn trâu 22 con, tăng 22,22%, đàn gia cầm 292.230 con, tăng 108,95% so cùng kỳ Long Phú là huyện được đầu tư xây dựng Trung Tâm Điện Lực Long Phú tại xã Long Đức (http://www.ipc.soctrang.gov)

Hiện nay mô hình chăn nuôi gà thả vườn có nhiều khởi sắc và chuyển biến theo chiều hướng tích cực Song, bên cạnh người chăn nuôi cũng gặp phải không ít khó khăn: con giống bị lai tạp quá nhiều và không rõ nguồn gốc, về kĩ thuật người dân còn chưa nắm vững, thường thì chỉ nuôi theo kinh nghiệm là chính Cùng với sự biến đổi khí hậu và tình hình dịch bệnh càng lúc càng trở nên phức tạp và khó kiểm soát, mà người dân không nắm bắt được thông tin và xử lí kịp thời thì thiệt hại và rủi ro sẽ rất cao Bên cạnh chi phí xản xuất ra sản phẩm khá cao và sức ép từ giá cả thị trường nên nhiều người dân còn tâm lí e ngại và lo

sợ Vì vậy rất cần sự quan tâm và giúp đỡ của Nhà Nước, Chính Quyền địa phương, cán bộ khuyến nông và các phương tiện truyền thông đại chúng để người dân có cái nhìn cụ thể và triệt để hơn Góp phần giúp người dân chăn nuôi

có hiệu quả và cải thiện kinh tế

Trang 15

3

2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA GIA CẦM

2.2.1 Đặc điểm ngoại hình của gia cầm

2.2.1.1 Da

Da của gia cầm khá mỏng và không có các tuyến tiết, ngoại trừ duy nhất có tuyến dầu, hay gọi là tuyến phao câu (preen) nằm ở phía trên của phần đuôi Chất dầu này được gia cầm dùng mỏ rỉa để chải lông, làm cho bộ phận lông không bị thấm nước (điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với loài thủy cầm) Màu vàng ở da và cẳng chân của những giống gà có da vàng là do sắc tố của các diệp hoàng tố (xantophyl) có trong thức ăn, sau đó được tiêu hóa và tích lũy trong lớp mỡ dưới da (Bùi Xuân Mến, 2007)

dâu và gà hình hạt đậu ở gà Nòi (Nguyễn Thị Mai et al., 2009) Đến tuổi thành

thục sinh dục, mào trên đỉnh đầu nhô lên và căng bóng Tích của gà thường đỏ, thòng, núng nính ở 2 bên gốc mỏ

Mào tai là một mẫu thịt có da trần và có màu thay đổi tùy thuộc vào giống (Bùi Xuân Mến, 2007)

2.2.1.3 Mỏ, móng, cựa vảy và chân

Móng và cựa có cấu tạo bằng chất sừng Thêm vào ở những phần lộ ra của cẳng

và chân được bao phủ bởi lớp vảy cứng Theo Nguyễn Đức Hưng (2006), chân của gia cầm được bao phủ bằng lớp vảy sừng và có sự khác nhau về màu sắc Chân vàng là do sự có mặt của lipocrom và thiếu vắng melamin Màu đen của chân là do sự xuất hiện của melanin Khi màu đen có mặt ở thể trội và màu vàng

có mặt ở thể lặn thì chân sẽ xuất hiện màu lục (xanh lá cây) Khi đồng thời cả hai màu đều không xuất hiện thì chân có màu trắng Về cường độ (độ đậm nhạt) của màu vàng tùy thuộc vào hàm lượng xantophyl trong khẩu phần

2.2.1.4 Bộ lông

Theo Nguyễn Thị Mai et al., (2009), lông phân bố không đồng đều trên cơ thể

của gia cầm non cũng như gia cầm trưởng thành Bộ lông chiếm tỷ lệ từ 4-9% khối lượng cơ thể của gia cầm Người ta phân biệt các loại lông theo cấu trúc

và chức năng của chúng như sau:

Trang 16

4

Lông phủ: gồm những lông phủ bên ngoài cơ thể Lông phủ chia thành 4 phần phân biệt: phần ống lông, thân lông, lông tơ dưới và phiến lông Thân và trục lông nối liền, rỗng và thon nhọn đến phần ngọn của lông Phiến lông được hình thành bởi các sợi lông móc, các sợi móc nhỏ móc liên kết lại với nhau và hình thành nên một số phiến lông liên tục và đồng nhất Lớp lông tơ dưới gồm một loạt các sợi không có sợi móc nhỏ, không được móc lại với nhau, nhìn có vẻ thưa thớt và lộ ra các tơ lông

Lông tơ: lớp lông này hình thành lớp lót tơ lông rất mềm mại, trục lông ngắn, các sợi tơ lông tỏa tự do Lông tơ có tác dụng giữ nhiệt rất tốt, thường mọc nhiều

mỡ có nguồn gốc ngoại sinh sẽ làm lông có màu vàng, đỏ, xanh da trời hoặc xanh lá cây Nếu không có sắc tố thì lông có màu trắng, đó là gia cầm bạch tạng Đặc điểm này thường thấy ở các giống gia cầm siêu thịt, do kết quả chọn lọc định hướng của các nhà tạo giống để tạo ra sản phẩm Broiler có da sạch (không xuất hiện chân lông trên da gà đã làm thịt) Màu sắc, độ bóng của lông liên quan chặt chẽ với tình trạng dinh dưỡng sức khỏe và sức sản xuất của gia cầm Khi

gà khỏe mạnh, khẩu phần cân đối thì bộ lông đẹp và ngược lại khi dinh dưỡng kém, nhiễm bệnh thì bộ lông xơ xác, dễ gãy rụng (Nguyễn Đức Hưng, 2006) Gia cầm mới nở được phủ lông tơ, gốc của lông tơ gắn vào thân của lớp lông đầu tiên, phía ngoài xòe ra và phủ đều trên bề mặt của da Sau 2-3 tuần tuổi, thân lông đầu tiên mọc từ túi lông và thay thế lông tơ Việc hình thành bộ lông đầu tiên của gia cầm non ở các giống khác nhau và được hoàn thiện ở các tuần tuổi khác nhau Ở gia cầm non, quá trình thay lớp lông đầu tiên bằng lớp lông

cơ bản (lớp thứ hai) kết thúc khi khối lượng cơ thể đã hoàn thiện và bắt đầu thành thục sinh dục Thời điểm thay lông non của gia cầm thường bắt đầu từ 1,5 tháng tuổi và kết thúc hoàn toàn lúc 5,5-6,0 tháng tuổi, khi bắt đầu đẻ trứng Việc thay lông ở gà trống xảy ra mạnh mẽ hơn gà mái và thay lông cánh xảy ra

cùng lúc với việc thay các lông khác (Nguyễn Thị Mai et al., 2009)

Trang 17

gà điều, lông màu trắng gọi là gà nhạn, lông màu gạch tàu gọi là gà khét, lông màu lem luốc như chim được gọi là gà ó,… Giống gà này được người chăn nuôi

ưa chuộng vì chúng có rất nhiều ưu điểm như: thích nghi tốt với điều kiện nuôi chăn thả vì chúng có sức đề kháng cao và ít bệnh hơn so với một số giống gà thả vườn khác, da gà hồng hào, thịt thơm ngon nên đã trở thành món ăn đặc sản của vùng sông nước Cửu Long và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, đặc biệt giá bán của gà Nòi thường cao gấp 2-3 lần giá gà công nghiệp nên được người dân đầu

tư chăn nuôi Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì giống gà Nòi vẫn còn một

số khuyết điểm như chậm lớn, khả năng sinh sản còn thấp và giống bị lai tạp nhiều

2.3.2 Khả năng sinh trưởng của giống gà Nòi

Khả năng tăng trọng của giống gà Nòi nuôi ở các nông hộ ĐBSCL hiện nay nhìn chung còn rất thấp Do nuôi theo phương thức cổ truyền thức ăn chủ yếu của gà là lúa gạo một ít thức ăn tìm được ngoài thiên nhiên Khối lượng cơ thể lúc 4,5-5 tháng tuổi trống nặng khoảng 1,2-1,4 kg, con mái nặng khoảng 1,1-1,2 kg Khối lượng cơ thể gà Nòi lúc 1 năm tuổi, gà trống nặng 2,8-3,2 kg, gà mái nặng 2-2,2 kg; tương đương với gà Tàu Vàng, ở gà trống nặng 3 kg, gà mái 2,1 kg (Lê Hồng Mận và Hoàng Hoa Cương, 2005)

2.3.3 Tập tính thay lông của giống gà Nòi

Giống gà Nòi còn mang nhiều tập tính hoang dã, nên không cần sự chăm sóc tỉ

mỉ của con người như nuôi gà công nghiệp, chúng thường đi ăn hoặc nghỉ ngơi từng đàn, trong đàn thường có con trống đầu đàn, có tổ chức phân chia rõ ràng, nếu để gà ngủ trên cây cao thì ít khi bị bắt trộm Gà Nòi săn bắt mồi ngoài tự nhiên rất giỏi, thức ăn ngoài tự nhiên gồm: trùn, dế, ếch, nhái, cào cào, châu chấu, rau cỏ, lá cây, Khi kiếm ăn chúng thường hay bay nhảy, bươi xới Buổi sáng gà thường thức sớm kiếm ăn, chiều 16-17 giờ là chúng lên cây hoặc về chuồng để ngủ

Gà Nòi mọc lông chậm, 3-4 tháng mới mọc lông đầy đủ Gà thường thay lông vào mùa thu thường khoảng tháng 7 và tháng 8 dương lịch, khi thay lông gà sẽ

Trang 18

6

giảm đẻ hoặc ngừng đẻ hẳn Gà đẻ tốt thường thay lông muộn và thời gian thay lông thường ngắn khoảng 1-2 tháng, gà đẻ kém thường thay lông sớm và thời gian thay lông kéo dài 2-3 tháng sau đó mới đẻ lại Nên quan sát trong giai đoạn thay lông của gà để loại những gà mái đẻ kém, chỉ nên giữ lại những gà mái đẻ tốt trong mùa thu, cần loại sớm những gà đẻ kém để đỡ tiêu tốn thức ăn (Nguyễn Văn Quyên, 2010)

2.3.4 Thức ăn

Thức ăn của gà Nòi rất đơn giản so với các giống gà khác, về nhu cầu dinh dưỡng không đòi hỏi cao Hiện nay tại các địa phương ở ĐBSCL đa số người dân nuôi theo phương thức cổ truyền, lúc còn nhỏ cho theo mẹ ăn tấm nhuyễn, khi lớn tách bầy trọng lượng 300-400 g (1,5-2 tháng) thì cho ăn gạo, lúa Do còn nhiều tập quán hoang dã nên gà có khả năng săn mồi ngoài thiên nhiên rất giỏi, đây là nguồn thức ăn cung cấp đạm quan trọng cho gà, tuy nhiên năng suất nuôi trong người dân chưa cao Nếu nuôi theo phương thức thả vườn kết hợp làm chuồng có bổ sung thức ăn hỗn hợp thì năng suất sẽ cao hơn nhiều Lúa là loại thức ăn phổ biến nhất của gia cầm thường được sử dụng nguyên dạng trong chăn nuôi vịt chạy đồng và gà thả vườn ở nông hộ Lúa khi xay xát cho ra nhiều phụ phẩm là thức ăn của nhiều vật nuôi Theo số liệu của công nghiệp xay xát lúa gạo, bình quân từ 100 kg lúa ta có được: 19 kg trấu; 7,2 kg cám to và mịn; 0,8 kg phôi; 6,2 kg tấm; 0,8 kg bột vụn và 66 kg gạo Tấm được tách ra sau quá trình đánh bóng và có giá trị tương đương với gạo lau Gạo chứa càng nhiều tấm thì giá trị càng hạ nên tùy theo nhu cầu tiêu thụ của con người mà tỷ lệ tấm xuất dùng trong chăn nuôi thay đổi Tấm là một thực liệu ngon miệng, giàu năng lượng nên được ưa dùng cho mọi vật nuôi, đặc biệt nhờ giàu năng lượng và ít

xơ nên rất có giá trị trong khẩu phần nuôi gà đang lớn Cám gạo cũng là sản phẩm phụ phẩm của công nghiệp chế biến gạo Cám gạo được hình thành từ lớp

vỏ nội nhũ, mầm phôi của hạt, cũng như một phần từ tấm Chất béo của cám có ảnh hưởng làm nhão mỡ vật nuôi và mềm bơ sữa Cám có thể đưa vào khẩu phần của gia cầm đến 25% Cám có nguồn B phong phú, ngoài ra còn có cả vitamin B6 và Biotin, đây là nguồn cung cấp vitamin nhóm B cho gia cầm Trong 1 kg cám có khoảng 22 mg vitamin B1, 13 mg B6 và 0,43 mg Biotin Cám gạo chứa lượng xơ và dầu cao, đồng thời chất béo trong cám rất dễ bị oxy hóa (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2001)

2.4 CÁC PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI GÀ

Nhân dân ta đã nuôi gà từ rất lâu, và ngày nay, tại các vùng nông thôn, nếu không nuôi gà để kinh doanh, người dân vẫn giữ nguyên cách nuôi thả cổ truyền Trong các cách nuôi gà mới, tức nuôi gà theo lối bán công nghiệp hoặc nuôi

Trang 19

7

công nghiệp, người dân đã biết cách kết hợp những kinh nghiệm cổ truyền với những phương thức khoa học mới, tiếp thu từ các tài liệu, sách báo, Vấn đề là phải biết kết hợp một cách khoa học những kinh nghiệm từ cái ưu thế sẵn có về mặt tự nhiên và sự can thiệp tích cực của sức người, nhất là kiến thức khoa học

kỹ thuật chăn nuôi thú y là cách làm hiệu quả nhất (Trần Trung Vĩnh và Nguyễn Mộng Giao, 2002)

2.4.1 Phương thức nuôi thả vườn

Đây là phương thức chăn nuôi có từ lâu đời và vẫn tồn tại, phát triển ở hầu khắp vùng thôn quê Việt nam Đặc điểm của phương thức chăn nuôi này là đầu tư vốn ban đầu ít Theo tập quán của các gia đình nông dân nuôi gà thả vườn, đàn

gà được thả rong, ban ngày gà tự đi tìm thức ăn trong vườn, gà tự ấp và nuôi con, chiều đến chỉ cho ăn thêm ít ngũ cốc, thóc, ngô, tấm, để gà nhớ về, chuồng trại đơn giản, vườn nhà không có hàng rào bao che Tối đến gà đến đậu chuồng trâu, chuồng lợn hoặc cành cây để ngủ Cách nuôi này ở trung du, miền núi, có vườn đồi rộng có thể nuôi đàn gà qui mô lớn hơn ở đồng bằng có vườn nhỏ Do chăn thả tự do, môi trường chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh dịch tể, khiến đàn

gà dễ mắc bệnh, dễ chết nóng, chết rét, tỉ lệ nuôi sống thấp, gà không thể tìm đủ thức ăn và tầm vóc nhỏ, chậm lớn nên năng suất thịt, trứng đều còn thấp, hiệu quả kinh tế không cao Tuy vậy phương thức chăn nuôi này có những ưu điểm nhất định như gà tận dụng được thức ăn tự nhiên, tự kiếm sâu bọ, phù hợp với các giống gà địa phương, chất lượng thịt gà thơm ngon, vốn đầu tư không đòi hỏi lớn (chủ yếu là tiền mua con giống ban đầu) Mặc dù chưa đạt năng suất cao

và hiệu quả kinh tế thu được chưa lớn, Song hầu hết số hộ lao động nông nghiệp thường áp dụng phương thức chăn nuôi này nên hàng năm đã sản xuất ra khoảng 65% số lượng đầu con gà thịt ở Việt Nam Theo số liệu thống kê năm 1999, có khoảng 70 triệu con gà được sản xuất theo phương thức này (Lê Hồng Mận và Nguyễn Thanh Sơn, 2001) Ưu điểm lớn nhất của phương thức này là giảm chi phí đến mức thấp nhất Nếu gặp năm có thời tiết thuận lợi, không bị dịch bệnh thì đàn gà phát triển tốt mà đầu tư lại thấp nên hiệu quả kinh tế rất cao (Trần Trung Vĩnh và Nguyễn Thị Mộng Giao, 2002) Đây là phương thức chăn nuôi tận dụng, tuy có hiệu quả nhưng chưa phải là chăn nuôi kinh doanh và thường gặp nhiều rủi ro do thời tiết, bệnh tật (Ngô Quốc Trịnh, 2006)

2.4.2 Nuôi thả vườn kết hợp làm chuồng

Đây là phương thức chăn nuôi có sự kết hợp khá nhuần nhuyễn những kinh nghiệm nuôi gà truyền thống và kĩ thuật nuôi dưỡng tiên tiến Điều đó có nghĩa

là chế độ dinh dưỡng và quá trình phòng bệnh cho đàn gà được coi trọng hơn Phương thức này, khu nuôi gà có chuồng, có vườn rộng được rào quanh để chăn

Trang 20

8

nuôi vừa nhốt vừa thả Cho gà ăn uống đủ số lượng thức ăn tốt trừ phần gà tìm kiếm được Vườn có thể trồng cỏ cây thích hợp, tạo hố giun, hố mối cho gà ăn thêm Có thể tính toán mùa vụ thu hoạch xong dùng lồng đưa gà thả ra ruộng lúa tận dụng thóc rơi rụng Mục tiêu của chăn nuôi mang đậm tính sản xuất hàng hóa, chứ không thuần túy là sản xuất tự cung tự cấp So với phương thức chăn nuôi gà truyền thống (chăn nuôi quảng canh) thì phương thức bán thâm canh cho đàn gà tăng trọng nhanh hơn, tỉ lệ nuôi sống cao hơn, khống chế được bệnh tật tốt hơn, thời gian nuôi mỗi lứa ngắn hơn và hiệu quả kinh tế cao hơn (Lê Hồng Mận và Nguyễn Thanh Sơn, 2002)

Những năm gần đây phương thức chăn nuôi này đã và đang được áp dụng rộng rãi ở các vùng đồng bằng, trung du, ven đô thị và các nông hộ có điều kiện về vốn và diện tích vườn tương đối lớn Hiện nay đang phổ biến nuôi các giống gà kiêm dụng thả vườn vừa nhốt vừa thả của nước ngoài nhập vào nước ta như các giống gà Sasso, gà Tam Hoàng, Kabir, Lương Phượng, cho năng suất cao hơn, sản lượng trứng đạt 160-180 quả/mái/năm Gà nuôi thịt đến 70 ngày tuổi đạt 1,8-2,5 kg, thịt thơm ngon (Ngô Quốc Trịnh, 2006) Theo ước tính có khoảng 10–15% số lượng gà trong cả nước được nuôi theo phương thức này là 14 triệu con (năm 1999), (Lê Hồng Mận và Nguyễn Thanh Sơn, 2001)

2.4.3 Phương thức nuôi nhốt hoàn toàn

Những năm gần đây, không những đối với những giống gà lông màu nhập nội (Kabir, Tam Hoàng, lương Phượng, JA47,…) mà ngay cả các giống gà địa phương (gà Ri, gà Mía) cũng được áp dụng phương thức nuôi nhốt hoàn toàn

và gà được ăn thức ăn công nghiệp Phương thức nuôi này thường được áp dụng tại một số địa phương ven đô thị, nơi đất chật, không có vườn, đồi thả gà (Lê Hồng Mận và Nguyễn Thanh Sơn, 2001) Theo Nguyễn Đức Hưng (2006), nuôi thâm canh là phương thức chăn nuôi tiên tiến được ứng dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế và chăn nuôi công nghiệp phát triển Gia cầm được nuôi quy mô lớn và chất lượng sản phẩm theo chuẩn mực chung Giống gà thường được nuôi là các giống cao sản và thức ăn chủ yếu là thức ăn công nghiệp Quy trình thú y và sản xuất được kiểm soát nghiêm ngặt Đi theo phương thức nuôi này là các cơ sở chế biến thức ăn, chế biến sản phẩm, sản xuất các thiết bị phục

vụ chăn nuôi có liên quan đều phát triển để hỗ trợ cho sản xuất và trứng Tùy vào mức độ đầu tư và trình độ kỹ thuật mà quy mô có thể khác nhau Gà được nuôi nhốt hoàn toàn tuy mau lớn hơn, thịt mềm hơn, song chất lượng thịt không chắc đậm, mùi vị thơm ngon không bằng gà thả vườn, giá bán thấp hơn so với

gà được nuôi tự do

Trang 21

9

Nuôi nhốt tất nhiên sẽ tốn kém hơn về chi phí, về công sức so với nuôi thả nhưng lại là cách nuôi an toàn, đảm bảo chắc chắn về thu hoạch, phù hợp với tư duy kinh tế thời nay (Trần Trung Vĩnh và Nguyễn Thị Mộng Giao, 2002)

2.5 MICROSATELLITE

Microsatellites ngày nay đã trở thành thuật ngữ chung nhất để miêu tả các loại trình tự lặp lại ngẫu nhiên (không dài quá 6 nuccleotide), thay vì sử dụng các thuật ngữ STR (Short tDNAem reprats, Edward, 1991), VNTR (Variable number of tDNAem repeats) và đã được hầu hết mọi người chấp nhận Microsatellite có tính đa hình rất cao, loại có tính đa hình cao nhất là loại không

bị ngắt quãng thì được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau Nhưng trong thực tế thì các Microsatellite thường bị ngắt quãng, hoặc kết hợp giữa các loại trình tự lặp lại Microsatellites được tìm thấy trong tất cả cơ thể sống đặc biệt là

ở những cơ thể sống có bộ gen lớn

Những đoạn lặp lại của polyA/polyT là kiểu phổ biến nhất trong tất cả các bộ gen nhưng tần số phân bố giữa các loài rất khác nhau ngoài ra còn có một số kiểu lặp lại phổ biến khác như kiểu lặp lại 2 nucleotit như CA/GT và AG/TC

Di truyền học và các nghiên cứu khác cho rằng cơ chế xuất hiện và hình thành Microsatellite là do quá trình trượt, lỗi của enzym polymerase trong quá trình sao chép DNA Vì thế Microsatellite được sử dụng làm một tín hiệu rất hữu ích trong việc lập bản đồ gen, sự phân bố Microsatellite được biết rõ nhiều ở người

và chuột (www.vcn.vnn.vn)

Trang 22

10

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

3.1 PHƯƠNG TIỆN

3.1.1 Phương tiện điều tra

Phiếu điều tra được xây dựng sẵn để phỏng vấn trực tiếp các nông hộ nhằm thu thập các thông tin chung về: chủ hộ, dòng gà điều tra, các đặc điểm về ngoại hình, khả năng sinh sản của gà Nòi, thức ăn và nước uống công tác thú y và các chi phí sản xuất

Máy ảnh dùng để chụp lại ảnh của số gà khảo sát, chuồng trại, thức ăn, địa điểm điển hình tại nơi điều tra và quang cảnh chung quanh tại địa điểm điều tra cụ thể

Túi nylon, thùng trữ lạnh dùng để chứa mẫu lông gà thu thập được

3.1.2 Phương tiện phân tích

Các loại hóa chất, máy PCR, máy điện di, máy li tâm lạnh, máy sấy, máy chụp Gel, máy đo UV,…

3.1.3 Địa điểm tiến hành điều tra và phân tích mẫu

Quá trình điều tra được tiến hành tại xã Đắc Kiện, huyện Châu Thành và xã Long Phú, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng từ tháng 10/2013 đến 11/2013 và phân tích mẫu ở phòng thí nghiệm E112

Hình 3.1 Bản đồ huyện Châu Thành và huyện Long Phú

(maps.google.com)

Địa điểm điều tra

Trang 23

3.2.2 Phương pháp điều tra

Tiếp cận với các nông hộ, tiến hành phỏng vấn trực tiếp, để thu thập thông tin cần thiết bằng bộ câu hỏi trong phiếu điều tra đã xây dựng sẵn

Bên cạnh đó kết hợp quan sát và ghi nhận các đặc điểm ngoại hình của giống

gà, chụp ảnh và lấy mẫu lông cánh

3.2.3 Phương pháp khuếch đại alen Microsatellite

Tách chiết ADN: được ly trích từ mẫu cơ, có sử dụng phenol - chloroform, mẫu ADN sau đó được kiểm tra độ tinh sạch và sẽ được pha loãng về nồng độ 50 ng/µl để thực hiện phản ứng khuếch đại PCR

Thực hiện phản ứng PCR: sử dụng các cặp mồi và chu trình nhiệt theo đề nghị của FAO (DAD-IS,http://dad.fao.org) với các thông tin chi tiết được trình bày qua Bảng 3.1

Bảng 3.1 Sơ đồ các cặp mồi và chu trình nhiệt theo đề nghị của FAO

Tên Nhiễm

sắc thể Mồi (5’  3’)

Nhiệt độ khuếch đại ( o C)

GeneBank

Khoảng cách alen

Xuôi:

TATTGGCTCTAGGAACTGTC Ngược:

MCW0183 7

Xuôi:

ATCCCAGTGTCGAGTATCCGA Ngược:

TGAGATTTACTGGAGCCTGCC

58 G31974 296-326

(FAO guideline – Microsatellite chicken, 2011)

Điện di: thực hiện điện di kết quả PCR trên gel agarose 4% ở 50V trong 120 phút

Trang 24

12

3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel

Trang 25

đã khuyến cáo và thông báo cho những hộ chăn nuôi đi tập huấn để nắm rõ tình hình và kỹ thật chăm sóc đàn gà tốt hơn Tuy nhiên vẫn còn một số hộ dân chủ quan, không tiêm phòng dịch bệnh và chăm sóc đàn gà đúng cách nên đã thất thoát khá nhiều Tổng số gà Nòi được người dân nuôi khá lớn với tổng đàn là

8655 con Nhìn chung các hộ dân bắt đầu chăn nuôi gà cách đây không lâu, trong khoảng 2–3 năm trở lại đây, có hộ chỉ mới bắt đầu nuôi được vài tháng, bên cạnh đó vẫn có một số hộ với kinh nghiệm nuôi khá lâu từ 10–20 năm, trong

đó số lượng gà Nòi ở 20 hộ của huyện Châu Thành là 5115 con chiếm 59,1% còn lại ở huyện Long Phú là 3540 chiếm 40,9% Xét về kinh nghiệm nuôi thì người dân ở xã Long Phú huyện Long phú có kinh nghiệm nuôi lâu hơn trung bình từ 3–4 năm, có vài hộ kinh nghiệm nuôi từ 10–25 năm Còn người dân ở

xã Hồ Đắc Kiện huyện Châu Thành kinh nghiệm nuôi thấp hơn, có người mới bắt đầu nuôi được vài tháng, trung bình 2 năm

4.1.1 Con giống

Trong chăn nuôi thì con giống là một trong những yếu tố cơ bản nhất để quyết định đến chất lượng, khả năng sản xuất của vật nuôi Từng vùng, khu vực, địa phương sẽ có những giống gà Nòi khác nhau với các đặc điểm ngoại hình, khả năng tăng trọng, sản xuất cũng sẽ khác nhau

Qua điều tra 40 hộ chăn nuôi gà thì có 20 hộ nuôi gà Nòi địa phương, chiếm 50% Số hộ còn lại chọn nuôi giống ở các địa phương khác như: Trà Vinh, Bến Tre…chiếm 50% Ưu điểm của giống gà tại địa phương này là có khả năng chống chịu với bệnh tật tốt và có chất lượng thịt ngon, do đó nó được các hộ nuôi lựa chọn và mua ở những người đã nuôi nổi tiếng trong vùng, sau đó họ mang về nuôi ở gia đình mình và lựa chọn những con gà tốt để làm giống và gây đàn lên cho chính mình Với cách chọn giống và gây đàn như vậy thì nó có

ưu điểm là rẻ tiền và gây đàn cũng nhanh, còn khuyết điểm là con sinh ra có thể

bị cận huyết hay tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh do gà không được tiêm phòng đầy

đủ

Ngày đăng: 04/10/2015, 22:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Bản đồ huyện Châu Thành và huyện Long Phú - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Hình 3.1 Bản đồ huyện Châu Thành và huyện Long Phú (Trang 22)
Bảng 4.1 Quy mô và cơ cấu đàn gà của 40 hộ được điều tra - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Bảng 4.1 Quy mô và cơ cấu đàn gà của 40 hộ được điều tra (Trang 26)
Bảng 4.2 Hình thức nuôi và kinh nghiệm nuôi gà Nòi của 40 hộ điều tra - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Bảng 4.2 Hình thức nuôi và kinh nghiệm nuôi gà Nòi của 40 hộ điều tra (Trang 27)
Hình 4.1 Hình thức nuôi gà Nòi thả vườn kết hợp làm chuồng - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Hình 4.1 Hình thức nuôi gà Nòi thả vườn kết hợp làm chuồng (Trang 28)
Hình 4.2 Phương thức nuôi nhốt hoàn toàn và nuôi thả vườn - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Hình 4.2 Phương thức nuôi nhốt hoàn toàn và nuôi thả vườn (Trang 29)
Hình 4.3 Thức ăn hỗn hợp cho gà - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Hình 4.3 Thức ăn hỗn hợp cho gà (Trang 29)
Bảng 4.3 Năng suất trứng của 40 gà Nòi - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Bảng 4.3 Năng suất trứng của 40 gà Nòi (Trang 31)
Bảng 4.4 Khả năng ấp nở của gà Nòi - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Bảng 4.4 Khả năng ấp nở của gà Nòi (Trang 32)
Hình 4.4 Màu lông gà Nòi - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Hình 4.4 Màu lông gà Nòi (Trang 34)
Hình 4.6 Màu mỏ gà nòi  4.7.4 Kiểu mào - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Hình 4.6 Màu mỏ gà nòi 4.7.4 Kiểu mào (Trang 36)
Hình 4.8 Màu Chân gà nòi  4.7.6 Tổng kết các đặc điểm ngoại hình của gà Nòi - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Hình 4.8 Màu Chân gà nòi 4.7.6 Tổng kết các đặc điểm ngoại hình của gà Nòi (Trang 39)
Bảng 4.7 Tổng kết đặc điểm ngoại hình của gà Nòi - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Bảng 4.7 Tổng kết đặc điểm ngoại hình của gà Nòi (Trang 39)
Hình 4.9 Khuếch đại ADN gà Nòi nuôi tại Châu Thành và Long Phú - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Hình 4.9 Khuếch đại ADN gà Nòi nuôi tại Châu Thành và Long Phú (Trang 40)
Hình 4.10 Khuếch đại ADN gà Nòi bằng cặp mồi MCW0014 - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Hình 4.10 Khuếch đại ADN gà Nòi bằng cặp mồi MCW0014 (Trang 41)
Hình 4.11 Khuếch đại ADN gà Nòi bằng cặp mồi MCW0183 - điều tra đặc điểm ngoại hình của gà nòi nuôi tại châu thành và long phú, tỉnh sóc trăng
Hình 4.11 Khuếch đại ADN gà Nòi bằng cặp mồi MCW0183 (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm