1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang

50 578 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.2 Các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa Theo Nguyễn Ngọc Đệ 2008 đời sống cây lúa bắt đầu từ khi hạt nẩy mầm cho đến khi lúa chín có thể chia làm ba giai đoạn chính: Giai đoạn tăng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

HUỲNH VĂN ĐƯỢC

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM 2517 VỤ HÈ THU NĂM 2012 TẠI HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC

Cần Thơ, 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

GS TS Nguyễn Bảo Vệ Huỳnh Văn Được

Lớp: Nông Học k36

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Sinh viên thực hiện: Huỳnh Văn Được

Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013

Cán bộ hướng dẫn

GS.TS Nguyễn Bảo Vệ ThS Trần Thị Bích Vân

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN – GIỐNG NÔNG NGHIỆP

 -

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp với đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM 2517 VỤ HÈ THU NĂM 2012 TẠI HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG Do sinh viên Huỳnh Văn Được thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:

Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:

Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2013 Thành viên Hội đồng ……… ……… ………

DUYỆT KHOA

Trưởng khoa Nông nghiệp & SHƯD

Trang 5

QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

I LÝ LỊCH SƠ LƢỢC

Nơi sinh: Ch u Phú – An Giang

Quê quán: ấp Hưng H a, x Đào H u Cảnh, huyện Ch u Phú, t nh n iang

Thời gian đào tạo: 2003 đến năm 2007

Trường: Trung học cơ sở Tà Đảnh

Địa ch : x Tà Đảnh, huyện Tri Tôn, t nh n iang

3 Trung học phổ thông

Thời gian đào tạo: 2007 đến năm 2010

Trường: Trung học phổ thông Nguyễn Trung Trực

Địa ch : thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, t nh n iang

4 Đại học

Thời gian đào tạo: 2010 đến năm 2013

Trường: Đại học Cần Thơ

Địa ch : Ninh Kiều – Cần Thơ

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013

Ký tên

Huỳnh Văn Đƣợc

Trang 6

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng

Cha mẹ hết l ng yêu thương và tạo điều kiện cho con được học tập và rèn luyện

Xin tỏ lòng biết ơn đến

Thầy Nguyễn ảo Vệ và cô Trần Thị ích V n đ quan tâm, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đ hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đ y là công trình nghiên cứu của bản th n Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đ y

Tác giả luận văn

Huỳnh Văn Đƣợc

Trang 8

HUỲNH VĂN ĐƯỢC, 2013 “Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa

OM 2517 vụ Hè Thu năm 2012 tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang” Luận văn

tốt nghiệp Đại học, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại Học Cần Thơ.Cán bộ hướng dẫn: S.TS Nguyễn ảo Vệ và ThS Trần Thị ích V n

TÓM LƯỢC

Đề tài Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa OM 2517 vụ Hè Thu năm 2012 tại huyện Ch u Phú, t nh n iang được thực hiện nhằm mục tiêu xác định mật độ sạ thích hợp cho năng suất và mang lại hiệu quả kinh tế trong việc sản xuất lúa tại đi m thí nghiệm Thí nghiệm được bố trí theo th thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, có 3 nghiệm thức gồm: nghiệm thức 1 sạ 200 kg/ha (theo nông

d n), nghiệm thức 2 sạ 150 kg/ha, nghiệm thức 3 sạ 100 kg/ha, với 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức

Kết quả thí nghiệm cho thấy trong vụ Hè Thu năm 2012, ở thời đi m thu hoạch chiều cao c y và số chồi của các nghiệm thức không có sự khác biệt Số hạt trên bông, số hạt chắc trên bông của nghiệm thức sạ 100 kg/ha cao hơn so với hai nghiệm thức sạ 150 kg/ha và 200 kg/ha Nghiệm thức sạ 100 kg/ha có chiều dài bông dài nhất là 18,81 cm và khác biệt so với hai nghiệm thức c n lại Với việc thay đổi mật độ sạ thì năng suất của các nghiệm thức vẫn không có sự khác biệt Tuy nhiên sạ với mật độ thưa sẽ giảm được một lượng giống đáng k c n giúp hạn chế được s u bệnh hại và đổ ng Mặt khác với mật độ sạ 100 kg/ha cho lợi nhuận tăng thêm cao nhất là 5.110.000 đồng/ha so với nghiệm thức sạ 200 kg/ha

Trang 9

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Trang 10

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.2.4 Đánh giá ch tiêu năng suất và các thành phần năng suất 15 2.2.5 Đánh giá khả năng phản ứng với một số s u bệnh hại chính 16

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.2 Ảnh hưởng của mật đọ sạ đến sự sinh trưởng và phát tri n của c y lúa 20

Trang 11

DANH SÁCH BẢNG

1.1 Đáp ứng của c y lúa đối với nhiệt độ ở các giai đoạn sinh trưởng

khác nhau nguồn Yoshida, 1981 (theo Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) 13 3.1 Ghi nhận tình hình s u bệnh hại chung của các nghiệm thức 19 3.2 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến chiều cao c y (cm) qua các giai

đoạn sinh trưởng của giống lúa OM 2517 vụ Hè Thu năm 2012

3.3 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến số chồi/m2 qua các giai đoạn sinh

trưởng của giống lúa OM 2517 vụ Hè Thu năm 2012 tại Ch u

3.4 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến chiều dài bông (cm) của giống lúa

3.5 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất (tấn/ha) giống lúa OM

3.6 Hiệu quả kinh tế từ việc giảm mật độ sạ của giống lúa OM 2517

Trang 12

DANH SÁCH HÌNH

3.1 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến số bông mét vuông của giống lúa

3.2 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến số hạt trên bông của giống lúa OM

3.3 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến số hạt chắc trên bông của giống

lúa OM 2517 trong vụ Hè Thu năm 2012 tại Ch u Phú- An

3.4 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến tỷ lệ hạt chắc trên bông của giống

lúa OM 2517 trong vụ Hè Thu năm 2012 tại Ch u Phú- An

3.5 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến trọng lượng 1000 hạt của giống

lúa OM 2517 trong vụ Hè Thu năm 2012 tại Ch u Phú- An

Trang 14

MỞ ĐẦU

Lúa là một trong các cây lương thực quan trọng trên thế giới và vùng nhiệt đới, vì nó cung cấp lương thực cho khoảng 50% dân số thế giới (Nguyễn Thành Hối, 2011) Ở Việt Nam, lúa gạo chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm sản xuất lúa, đa phần diện tích đất ĐBSCL đều phục vụ cho việc sản xuất lúa gạo, chiếm

51% tổng sản lượng lúa của cả nước và chiếm 85% tổng sản lượng gạo xuất khẩu

Ở Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm gần đây diện tích sản xuất lúa

đã vươn lên mạnh mẽ, với sự phát triển của hệ thống thủy lợi và thủy nông nội đồng, cùng những tiến bộ khoa học kỹ thuật đang được áp dụng rộng rãi trên đồng ruộng, đã trở thành vùng trọng điểm sản xuất lúa gạo trong cả nước (Nguyễn Ngọc

Đệ, 2008) Trong những năm qua đã có nhiều nghiên cứu cải tiến, lai tạo nhằm tạo

ra nhiều giống mới cho năng suất cao, chất lượng tốt để đưa ra phục vụ sản xuất Bên cạnh những thành tựu về giống thì các biện pháp kỹ thuật làm gia tăng năng suất lúa cũng được nghiên cứu, trong kỹ thuật “ba giảm ba tăng” các nhà khoa học

đã khuyến cáo cho nông dân sạ với mật độ sạ 80-100 kg/ha Tuy nhiên việc áp dụng vẫn chưa được rộng rãi, do nông dân có tập quán canh tác sạ lúa với mật độ khá dày, với mật độ sạ khoảng 200-300 kg giống/ha Nhưng trong thực tế lúa là loại cây

có khả năng tự điều chỉnh trong quần thể, nếu sạ quá dày cây lúa sẽ đẻ nhánh ít hoặc không đẻ nhánh, tỉ lệ chồi vô hiệu cao, thậm chí có cây bị chết do cạnh tranh sinh tồn, bên cạnh đó sâu bệnh phá hại nặng do ánh sáng quang hợp hạn chế Vì vậy, sạ với mật độ hợp lý sẽ rất có ý nghĩa trong việc tăng năng suất giảm được sự phát triển của dịch hại cũng như hạ giá thành sản xuất

Do đó, đề tài “Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng giống lúa OM 2517 vụ

Hè Thu 2012 tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang” được thực hiện nhằm mục

tiêu xác định mật độ gieo sạ thích hợp cho năng suất cao, từ đó làm cơ sở khuyến cáo cho nông dân trong canh tác để có hiệu quả kinh tế cao nhất

Trang 15

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC VÀ CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA

1.1.1 Đặc điểm nông học

1.1.1.1 Chiều cao cây

Chiều cao cây được kiểm soát bởi đa gen và chịu ảnh hưởng của gen hoạt động cộng tính Chiều cao cây được tính từ gốc đến mút lá hoặc chóp bông cao nhất Chiều cao thân được tính từ gốc đến cổ bông Chiều cao cây và chiều cao thân liên quan đến khả năng chống đổ ngã của giống lúa Khi khảo sát sự kháng đổ ngã, chiều cao thân là số đo có ý nghĩa hơn chiều cao cây (Yoshida, 1981) Thân cây lúa dày hơn thì có nhiều bó mạch hơn, nó sẽ cung cấp và tạo khả năng vận chuyển chất khô và tích lũy tốt hơn, thân cứng và dày cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chống đổ ngã và dẫn tới chỉ số thu hoạch cao (Clarkson và Hanson, 1980)

Theo Jenning và ctv.(1979) cũng có kết luận tương tự, thân rạ thấp và cứng là

hai yếu tố quyết định tính đổ ngã Thân rạ cao và nhỏ, dễ đổ ngã sớm ảnh hưởng làm hư bộ lá, tăng hiện tượng bóng rợp, cản trở sự chuyển vị các dưỡng chất và các chất quang hợp làm hạt bị lép và giảm năng suất Thân rạ ngắn và dày sẽ chống lại

đổ ngã Tuy nhiên không phải tất cả các cây lùn đều cứng rạ, một số vẫn có thể đổ ngã vì nó còn phụ thuộc vào một số đặc tính như đường kính thân, độ dài thân rạ, mức độ bẹ lá ôm lấy các lóng…

Theo Akita (1989), cây cao từ 90-100 cm được coi là lý tưởng cho năng suất cao Tuy nhiên cây lúa có thể cao tới 120 cm trong một số điều kiện nào đó

(Jenning và ctv., 1979) Lượng phân bón càng nhiều (đặc biệt phân đạm) sẽ làm cho chiều cao cây càng tăng, dẫn đến thân rạ yếu và dễ ngã (Bùi Chí Bửu và ctv., 1992)

Do đó việc giảm chiều cao cây lúa là yếu tố quan trọng để tăng năng suất sau này (Vergara, 1991)

1.1.1.2 Chiều dài bông

Chiều dài bông do yếu tố di truyền quyết định nhưng chịu ảnh hưởng mạnh của điều kiện môi trường, nhất là điều kiện dinh dưỡng trong giai đoạn đầu hình

thành bông (Trịnh Thị Ngọc Sương,1991) Theo Vũ Văn Liết và ctv (2004), chiều

dài bông được tính từ đốt cổ bông đến đầu mút bông Giống có bông dài hạt xếp khít, tỷ lệ hạt lép thấp, khối lượng 1000 hạt cao sẽ cho năng suất cao

Chiều dài bông góp phần gia tăng năng suất, bông lúa đóng vai trò quan trọng trong quang hợp, quang hợp có thể gia tăng 25-40% nếu độ cao của thân cây lúa

Trang 16

thấp hơn 40% chiều cao của tán lá Do vậy, trong tương lai việc tạo cây lúa có chiều

dài bông bằng nửa chiều cao của thân cây lúa là tốt nhất (Setter và ctv., 1994) 1.1.1.3 Tỷ lệ chồi hữu hiệu

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2010), số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu hay chồi có ích) thấp hơn so với chồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trước khi đạt chồi tối đa Các chồi ra sau đó, thường sẽ bị rụi đi không cho bông được, do chồi nhỏ, yếu không đủ khả năng cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng với các chồi khác, gọi là chồi vô hiệu

Hạn chế sự nhảy chồi khi sử dụng các giống lúa nhảy chồi khỏe bằng cách trồng dày hơn sẽ không thực tiễn vì phương pháp này làm cho chồi nhỏ, thân thanh mảnh, bông phát sinh từ các chồi này tương đối nhỏ Khi so sánh chỉ tiêu nhánh hữu hiệu với nhánh tối đa trên cây, những giống nào đẻ nhánh nhiều thì thường tỷ lệ cho

chồi hữu hiệu thấp (Vũ Văn Liết và ctv., 2004)

Ở cây lúa, khoảng 10-30 chồi được sinh ra trong khoảng cách trồng hợp lý, nhưng chỉ 2-5 chồi được hình thành trong lúa sạ thẳng (Nguyễn Thành Phước, 2003) Cho nên những giống đâm chồi mạnh thường thích hợp cho lúa cấy, vì có đủ điều kiện về khoảng cách cho sự cạnh tranh dưỡng chất và ánh sáng để tăng số chồi hữu hiệu và đạt tối đa về năng suất (Yoshida, 1981) Tùy vào khả năng đâm chồi của mỗi giống mà có mật độ sạ thích hợp để có được số bông trên mét vuông cao

1.1.2 Các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) đời sống cây lúa bắt đầu từ khi hạt nẩy mầm cho đến khi lúa chín có thể chia làm ba giai đoạn chính: Giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh dục) và giai đoạn chín

Với giống có thời gian sinh trưởng 120 ngày, trong điều kiện nhiệt đới thời gian sinh trưởng là 60 ngày, làm đòng 30 ngày và chín 30 ngày Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng thường biến động mạnh nhất, thời kỳ làm đòng thường biến động trong khoảng 30-40 ngày tuỳ theo giống ngắn ngày hay dài ngày Thời kỳ chín thường biến động theo nhiệt độ Sự khác nhau và biến động về thời lượng trong các thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng phụ thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh Những giống chín sớm có thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng ngắn, chúng có thể làm đòng trước khi đạt số nhánh tối đa Ngược lại ở giống dài ngày thường đạt số nhánh tối đa và làm đốt trước làm đòng (Nguyễn Đình Giao, 1997)

Trang 17

1.1.2.1 Giai đoạn tăng trưởng

Giai đoạn này bắt đầu từ lúc hạt nảy mầm đến lúc cây lúa phân hóa đòng (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Trong giai đoạn này cây lúa chủ yếu hình thành và phát triển các cơ quan dinh dưỡng như lá, phát triển rễ, đẻ nhánh và một phần thân (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999) Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước ngày càng lớn giúp cây lúa nhận được nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau Trong điều kiện đầy đủ chất dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thể bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5-6 (Yoshida, 1981; Nguyễn Ngọc Đệ, 2008 )

Thời gian sinh trưởng của cây lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ yếu là do giai đoạn tăng trưởng này dài hay ngắn (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Thường các giống lúa rất ngắn ngày và ngắn ngày có giai đoạn tăng trưởng ngắn và thời điểm phân hóa đòng có thể xảy ra trước hoặc ngay khi cây lúa đạt được chồi tối đa Ngược lại, các giống lúa dài ngày (trên 4 tháng) thường đạt được chồi tối đa trước khi phân hóa đòng

Theo Đinh Thế Lộc (2006) việc đẻ nhánh của cây lúa phụ thuộc vào điều kiện: ngoại cảnh, môi trường, các biện pháp kỹ thuật tác động, và có mối liên hệ chặt chẽ với sự ra lá lúa Thời kỳ đẻ nhánh là thời kỳ quyết định đến sự phát triển diện tích lá và số bông (Nguyễn Đình Giao, 1997) Do đó cần chú ý đến các biện pháp kỹ thuật nhằm làm tăng diện tích lá để tăng khả năng quang hợp và tăng số bông là yếu tố quan trọng để tăng năng suất lúa

1.1.2.2 Giai đoạn sinh sản

Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ lúc cây lúa phân hóa đòng đến lúc trổ bông Giai đoạn này kéo dài khoảng 27-35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài ngày hay ngắn ngày thường không khác nhau nhiều Lúc này số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Đòng lúa phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ: lúa trổ bông

Nguyễn Đình Giao và ctv (1997) cho rằng, quá trình làm đòng là quá trình

phân hóa và hình thành cơ quan sinh sản có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành năng suất lúa Trong thời gian này nếu đầy đủ chất dinh dưỡng, mực nước thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt kích thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăng trọng lượng hạt sau này (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Trang 18

1.1.2.3 Giai đoạn chín

Giai đoạn này bắt đầu từ lúc lúa trổ bông đến lúc thu hoạch Giai đoạn chín được đặc trưng bởi sự sinh trưởng hạt, tăng trưởng kích thước và trọng lượng, sự đổi màu của hạt và sự già hoá của lá Ở giai đoạn sớm của sự chín hạt màu lục chúng chuyển sang màu vàng khi trưởng thành Cơ cấu của hạt cũng thay đổi từ trạng thái sữa, sáp sang cứng chắc

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới Trong giai đoạn này cây lúa trải qua các thời kỳ như sau: thời kỳ chín sữa (ngậm sữa) các chất dự trữ trong thân lá và các sản phẩm quang hợp được chuyển vào trong hạt Kích thước hạt gạo tăng dần làm đầy

vỏ trấu, hạt gạo chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa nên gọi là thời kỳ ngậm sữa Ở thời kỳ chín sáp hạt lúa mất nước, từ từ cô đặc lại, nhưng vỏ trấu vẫn còn xanh Thời kỳ chín vàng hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, vỏ trấu bắt đầu chuyển sang màu vàng đặc thù của giống lúa Thời kỳ chín hoàn toàn: hạt gạo khô cứng lại, thời điểm thu hoạch tốt nhất là khi 80% hạt lúa ngã sang màu vỏ trấu đặc trưng của giống Theo Đinh Thế Lộc (2006) cho rằng, trong giai đoạn này gặp điều kiện thuận lợi (ngoại cảnh, dinh dưỡng,…) thì sẽ giảm tỷ lệ hạt lép, tăng tỷ lệ hạt chắc (tăng số hạt trên bông) và nhất là tăng khối lượng hạt

Trong đó:

Y: năng suất hạt (tấn/ha)

N: số bông trên mét vuông

Trang 19

F: tỷ lệ hạt chắc trên bông

104: hệ số quy đổi từ mét vuông sang hecta

Các yếu tố năng suất có liên quan với nhau Số bông trên mét vuông phụ thuộc vào tỉ lệ đẻ nhánh, phụ thuộc vào mật độ sạ Khi cây đẻ nhánh mạnh thì số bông trên mét vuông tăng Khi số bông trên mét vuông tăng quá cao thì bông lúa sẽ

bé đi, số hạt trên bông giảm, tỷ lệ hạt chắc trên bông cũng giảm Tỷ lệ hạt chắc và khối lượng hạt phụ thuộc vào số hạt trên bông (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999)

1.2.1 Số bông trên mét vuông

Theo Nguyễn Đình Giao và ctv (1997), trong bốn yếu tố tạo thành năng suất

thì số bông/m2 là yếu tố có tính quyết định nhất và sớm nhất Số bông trên đơn vị diện tích quyết định vào giai đoạn sinh trưởng ban đầu của cây lúa, nhưng chủ yếu

là giai đoạn từ khi cấy đến khoảng 10 ngày trước khi có chồi tối đa Yếu tố này có thể đóng góp 74% năng suất, trong khi số hạt và trọng lượng hạt đóng góp 26% năng suất Tuy nhiên, nó còn chịu ảnh hưởng lớn của kỹ thuật canh tác và điều kiện ngoại cảnh (chế độ phân bón, nước tưới, mật độ sạ hoặc cấy, nhiệt độ, ánh sáng,…)

Số bông trên mét vuông tỷ lệ thuận với năng suất lúa Các giống lúa cải thiện thấp cây có số bông trên mét vuông trung bình phải đạt 500-600 bông/m2 đối với lúa sạ, hoặc 350-450 bông/m2 đối với lúa cấy, mới có thể cho năng suất cao (Nguyễn Ngọc

Đệ, 2008) Ngoài ra, số bông trên đơn vị diện tích còn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, trong đó vụ Đông Xuân có số bông trên mét vuông cao hơn vụ Hè Thu, vì

vụ Hè Thu mưa nhiều nên làm ảnh hưởng đến khả năng quang hợp, do đó làm giảm khả năng nảy chồi (Nguyễn Bích Hà Vũ, 2006)

Nguyễn Đình Giao và ctv (1997) đã khẳng định, số bông có quan hệ nghịch

với số hạt trên bông và trọng lượng hạt Nên khi tăng mật độ, số bông trên một đơn

vị diện tích sẽ tăng nhưng số hạt trên bông và trọng lượng hạt sẽ giảm Nếu mật độ quá dày, đầu tư phân bón sẽ cao nhưng dễ dẫn đến gia tăng sâu bệnh trên ruộng lúa

Theo Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999) số bông trên đơn vị diện tích được quyết định bởi 2 yếu tố mật độ cấy và tỷ lệ đẻ nhánh Trong phạm vi nhất định, cấy dày lúa đẻ nhánh ít, cấy thưa lúa đẻ nhánh nhiều cuối cùng cũng đạt được

số bông trên đơn vị diện tích như nhau.Vì vậy, để cho năng suất cao cây lúa cần có

số bông/m2 vừa phải, gia tăng số hạt chắc/bông trên một đơn vị diện tích là biện pháp gia tăng năng suất tốt hơn là gia tăng số bông/m2

(Nguyễn Đình Giao và ctv.,1997).

Trang 20

1.2.2 Số hạt trên bông

Đặc tính số hạt trên bông chịu tác động rất lớn của điều kiện môi trường Số hạt trên bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, hoa phân hóa, hoa không phân hóa quyết định, số hoa phân hóa càng nhiều số hoa thoái hóa càng ít số hạt trên bông sẽ nhiều (Vũ Văn Hiển, 1999) Số hạt trên bông được quyết định từ lúc tượng cổ bông đến 5 ngày trước khi trổ, nhưng quan trọng nhất là thời kỳ phân hóa hoa và giảm nhiễm tích cực Ở giai đoạn này số hạt trên bông có ảnh hưởng thuận đến năng suất lúa do ảnh hưởng đến số hoa được phân hóa Sau giai đoạn này, số hạt trên bông được hình thành có thể bị thoái hóa có ảnh hưởng âm (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Nguyễn Ngọc Đệ (2008) cho rằng, số hạt trên bông tùy thuộc vào số hoa phân hóa và số hoa bị thoái hóa Hai yếu tố này lại bị ảnh hưởng bởi giống lúa, kỹ thuật canh tác và điều kiện thời tiết Đối với những giống lúa có bông to, kỹ thuật canh tác tốt, bón phân đầy đủ, chăm sóc đúng mức, thời tiết thuận lợi thì số hoa phân hóa càng nhiều, số hoa thoái hóa càng ít Lúa sạ có trung bình từ 80-100 hạt trên bông và 100-120 hạt trên bông đối với lúa cấy là tốt trong điều kiện ở Đồng bằng Sông Cửu Long Trên cùng một cây lúa, những bông chính thường có nhiều hạt, những bông phụ phát triển sau nên ít hạt hơn

1.2.3 Tỷ lệ hạt chắc

Nguyễn Ngọc Đệ (2008) cho rằng, tỷ lệ hạt chắc được quyết định từ đầu thời

kỳ phân hóa đòng đến khi lúa vào chắc nhưng quan trọng nhất là thời kỳ phân bào giảm nhiễm, trổ bông, phơi màu, thụ phấn và vào chắc Nguyên nhân hạt lép là do quá trình thụ phấn gặp điều kiện không thuận lợi, khi ra hoa gặp rét hoặc quá nóng,

ẩm độ không khí quá nóng hoặc quá cao, làm cho hạt phấn mất khả năng nảy mầm

hoặc trước đó nhị và nhụy phát triển không hoàn toàn (Nguyễn Đình Giao và ctv.,

1997) Theo Nguyễn Thành Hối (2003) lúa Hè Thu xuống giống muộn sẽ gặp bất lợi nhiều về điều kiện thời tiết lúc lúa trổ, do lúc này mưa dầm nên vũ lượng cao, mưa kéo dài và đặc biệt là trời hay mưa vào buổi sáng nên bông lúa khó thụ phấn và hạt bị lép nhiều

Tỷ lệ hạt chắc tuỳ thuộc số hoa trên bông, đặc tính sinh lý của cây lúa và chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện ngoại cảnh Thường số hoa trên bông quá nhiều dễ dẫn đến tỉ lệ hạt chắc thấp Các giống lúa có khả năng quang hợp, tích lũy và chuyển vị các chất mạnh, cộng với cấu tạo mô cơ giới vững chắc không đổ ngã sớm, lại trổ và tạo hạt trong điều kiện thời tiết tốt, dinh dưỡng đầy đủ thì tỉ lệ hạt chắc sẽ cao và ngược lại (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Trang 21

trổ bông hoặc nhiệt độ cao trên 35oC sau khi lúa trổ xong đều làm giảm tỷ lệ hạt chắc Gió, mưa và bão làm ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn, thụ tinh và gây đổ ngã làm ảnh hưởng đến tỷ lệ hạt chắc Ngoài ra, hạn hán làm thiếu nước tưới của một số vùng cũng làm giảm tỷ lệ hạt chắc nhất là khi cây lúa vừa trổ xong và bắt đầu ngậm sữa

1.2.4 Trọng lượng 1000 hạt

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) trọng lượng hạt được quyết định ngay từ thời

kỳ phân hóa hoa đến khi lúa chín, nhưng quan trọng nhất là các thời kỳ giảm nhiễm tích cực và vào chắc rộ Khối lượng hạt là một đặc tính quan trọng góp phần nâng cao năng suất lúa So với các yếu tố khác thì trọng lượng 1000 hạt tương đối ít biến động Ở phần lớn các giống lúa, trọng lượng 1000 hạt thường biến thiên trong khoảng 20-30 gram Trọng lượng 1000 hạt của cây lúa trong ruộng lúa là một đặc tính ổn định (Yoshida, 1981), chủ yếu là do đặc tính di truyền của giống quyết định Khối lượng hạt do hai yếu tố cấu thành, khối lượng vỏ trấu chiếm 20% và khối

lượng hạt gạo chiếm 80% (Nguyễn Đình Giao và ctv.,1997)

Theo Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999) vào giai đoạn phân bào giảm nhiễm nếu điều kiện dinh dưỡng thuận lợi và ít bị ảnh hưởng do các yếu tố ngoại cảnh thì hạt được hình thành với kích thước lớn Để tăng khối lượng hạt trước lúc trổ bông cần bón thúc nuôi đồng để làm tăng kích thước vỏ trấu, sau khi trổ bông cần tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt để quang hợp và tích lũy nhiều tinh bột thì khối lượng hạt sẽ cao

Theo Nguyễn Đình Giao và ctv (1997) ngoài ánh sáng, yếu tố nhiệt độ, nhất

là biên độ chênh lệch ngày và đêm, có ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình quang hợp, tích lũy, vận chuyển vật chất về hạt Vì vậy, giữ cho lá lúa xanh lâu, quang hợp vận chuyển tốt là yếu tố quan trọng tác động đến trọng lượng hạt

1.3 NHU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY LÚA

1.3.1 Điều kiện đất đai

Cây lúa được trồng nhiều trên các loại đất khác nhau: đất ngập nước, đất trũng, đất cao, đất đồi nương, đất chua phèn, đất nhiễm mặn nhẹ…trong điều kiện khí hậu và thủy văn khác nhau nên phạm vi phân bố đất ruộng lúa rất rộng Do đó đất trồng lúa có sự khác nhau rất lớn về mặt hóa học, địa lý, thổ nhưỡng và sinh học giữa các khu vực, các vùng

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) đất trồng lúa cần giàu dinh dưỡng, nhiều hữu

cơ, tơi xốp, thoáng khí, khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dầy để bộ rễ

ăn sâu, bám chặt vào đất và huy động nhiều dinh dưỡng nuôi cây Loại đất thịt hay đất thịt pha sét, ít chua hoặc trung tính (pH = 5,5-7,5) là thích hợp đối với cây lúa

Trang 22

Tuy nhiên, muốn trồng lúa đạt năng suất cao, đất ruộng cần bằng phẳng và chủ động được nguồn nước tưới Trong thực tế, có những giống lúa có thể thích nghi được trong những điều kiện khắc nghiệt như: phèn, mặn, khô hạn, ngập úng…

và nhiệt độ tối hảo thay đổi tùy theo giống lúa, giai đoạn sinh trưởng, thời gian bị ảnh hưởng là tình trạng sinh lý của cây lúa (Bảng 1.1)

Bảng 1.1: Đáp ứng của cây lúa đối với nhiệt độ ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau

Trang 23

ruộng thiếu nước, nhiệt độ không khí cao, ánh sáng chiếu mạnh thì lúa chín mạnh hơn và tập trung, ngược lại thời gian chín sẽ kéo dài ra (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

1.3.4 Lượng mưa

Trong điều kiện thủy lợi chưa hoàn chỉnh, lượng mưa là một yếu tố khí hậu

có tính chất quyết định đến việc hình thành các vùng trồng lúa và các vụ lúa trong năm Ở Đồng bằng sông Cửu Long, lượng mưa hàng năm trung bình từ 1200- 2000

mm nhưng phân phối không đồng đều, gây ngập úng giữa mùa mưa ở nhiều nơi, mùa khô lại không đủ nước tưới Mưa nhiều, trời âm u, gió nhiều, ít nắng cây lúa phát triển không tốt Mưa còn tạo điều kiện ẩm độ thích hợp cho sâu bệnh phát triển (Nguyễn Ngọc Đê, 2008)

1.3.5 Gió

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, một năm

có hai mùa rõ rệt trùng với hai mùa: mưa và mùa khô Mùa khô (từ tháng 12-04 dương lịch), hướng gió chính là gió đông bắc lạnh và khô Mùa mưa (từ tháng 5-11 dương lịch) hướng gió chính là hướng Tây-Nam nóng ẩm, mưa nhiều ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây lúa Gió lớn có thể làm cho cây lúa đổ ngã, thân lá

bị tổn thương tạo điều kiện cho mầm bệnh xâm nhập, nhất là bệnh cháy bìa lá Ở giai đoạn làm đòng và trổ, gió lớn gây ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển của đòng lúa, sự trổ bông, thụ phấn, thụ tinh, tăng tỷ lệ hạt lép, hạt lửng làm giảm năng suất lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

1.4 PHƯƠNG PHÁP SẠ

1.4.1 Sạ lan

Đất được chuẩn bị trong điều kiện ướt: cày, bừa, trục, trang phẳng, xong rút cạn nước và tiến hành gieo hạt giống đã được ngâm ủ cho nảy mầm trên đất đã đánh bùn nhuyễn Phương pháp này hiện phổ biến, vì phần lớn diện tích lúa đã trồng bằng các giống lúa cao sản hay ngắn ngày, cần cho lúa mọc tốt ngay từ giai đoạn

mạ, để có cở sở ban đầu cho sinh trưởng phát triển đạt năng suất cao và vì cây lúa không có thời gian để hồi phục như đối với lúa mùa dài ngày (Nguyễn Văn Luật, 2001)

Nguyễn Ngọc Đệ (2008) sạ lan ướt có thể áp dụng cho cả các vụ Hè Thu, Thu Đông hay Đông Xuân Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là mật độ thường không đều, bộ rễ ăn nong, dễ bị chim chuột phá hại và lúa thường bị đổ ngã

vào mùa có mưa gió nhiều (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997)

Theo Nguyễn Thành Hối (2011) lượng giống lúa cao sản ngắn ngày hiện nay được khuyến cáo là khoảng 150 kg/ha Tuy nhiên, trong thực tế nông dân trồng lúa thường theo tập quán sạ với mật độ cao, lượng giống gieo sạ từ 200-300 kg

Trang 24

giống/ha (Nguyễn Văn Luật, 2001) Với lượng giống gieo sạ nhiều như thế thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự tiếp nhận ánh sáng của từng cây lúa trong quần thể ruộng lúa, nhu cầu dinh dưỡng từ đất trồng và tạo điều kiện vi khí hậu dưới tán lá thích hợp cho sâu bệnh phát triển

1.4.2 Sạ hàng

Sạ hàng là phương pháp sạ cải tiến từ phương pháp sạ lan ướt, có nhiều ưu điểm như: tiết kiệm được vật tư chủ yếu là giống và phân bón, tạo điều kiện thuận lợi để thâm canh dễ dàng chăm sóc và quản lý dịch hại, giảm được thiệt hại do sâu bệnh và tăng năng suất so với phương pháp sạ lan Về mặt gieo sạ thì sạ theo hàng

có ưu thế hơn sạ lan vì sạ theo hàng ít hao giống, ít sâu bệnh và cho năng suất tương đối với sạ lan mật độ 200 kg/ha (Nguyễn Kim Chung và Nguyễn Ngọc Đệ, 2005)

So với phương pháp sạ lan thì phương pháp sạ hàng có thể làm giảm được lượng giống sử dụng từ 50-75% Lượng giống giảm được tương ứng khoảng từ 100-150

kg giống/ha (Nguyễn Văn Luật và ctv., 1999)

Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy lượng giống gieo sạ thích hợp cho

kỹ thuật này ở Đồng bằng sông Cửu Long là khoảng từ 70-100 kg giống/ha (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2009) Trong điều kiện quản lý đồng ruộng tốt, mật

độ sạ 100 kg giống/ha được khuyến cáo để cho năng suất lúa có chất lượng tốt, cũng như đáp ứng đủ số bông/m2 cho việc chín đồng bộ trong hệ thống canh tác lúa

sạ ướt (Trần Thị Ngọc Huân và ctv.,1999) Trong kỹ thuật này, cây lúa có sự phân

bổ quần thể ruộng lúa thích hợp nên đã tận dụng được năng lượng mặt trời cho quá trình quang hợp tạo năng suất và làm giảm thiệt hại do tác động của ngoại cảnh (Nguyễn Văn Luật, 2001)

1.5 NGHIÊN CỨU MẬT ĐỘ SẠ

Bùi Huy Đáp (1980) cho rằng, mật độ là yếu tố chi phối chặt chẽ quá trình phát triển của cả quần thể, với khả năng đẻ nhánh giúp cho quần thể ruộng lúa có khả năng điều chỉnh rất nhanh Khả năng này còn tùy thuộc vào khả năng đâm chồi của giống và mật độ ban đầu Về khả năng chống chịu sâu bệnh đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả và đều có chung nhận xét rằng: gieo cấy với mật độ dày sẽ tạo môi trường thích hợp cho sâu bệnh phát triển vì quần thể ruộng lúa không được thông thoáng, các lá bị che khuất lẫn nhau nên bị chết lụi nhiều

Yoshida (1985) cho rằng, ở quần thể lúa sạ việc đẻ nhánh chỉ xảy ra ở mật độ

300 cây/m2, tăng số cây lên nữa thì chỉ có thân chính phát triển cho ra bông Trường hợp lúa gieo thẳng rất dễ dàng đạt 600 bông/m2 gấp 2 lần số bông của ruộng cấy tốt,

Trang 25

Theo Nguyễn Văn Luật (2001) ruộng lúa sạ thưa, sạ theo hàng do đã tận dụng được ánh sáng mặt trời một cách hợp lý nên tạo được năng suất cao hơn ruộng lúa sạ lan theo tập quán là 5-7 tạ/ha Trong những năm gần đây Viện Nghiên Cứu Lúa ĐBSCL đã thực hiện nhiều thí nghiệm về điều chỉnh mật độ sạ và phương pháp

sạ, các kết quả nghiên cứu cho thấy nếu ruộng lúa bằng phẳng, quản lý nước tốt khi gieo hàng ở mật độ 75-125 kg giống/ha cho năng suất tương đương hoặc cao hơn so với sạ lan ở mật độ 200-250 kg giống/ha Khi sạ lan ở mật độ 100-150 kg giống/ha cho năng suất lúa cao hơn sạ lan mật độ 200 kg giống/ha, do mật độ sạ dày ruộng lúa bị nhiễm sâu bệnh, đổ ngã làm giảm năng suất (Trịnh Quang Khương, 2010)

Kết quả nghiên cứu của Hồ Minh Thuận (2011) cũng cho thấy rằng mật độ sạ

có tác động đến năng suất lúa, với mật độ sạ lan 200 kg/ha cho năng suất thấp nhất

và thấp hơn so với các mật độ sạ lan 100 kg/ha, sạ hàng 50 kg/ha và sạ hàng 100 kg/ha Ở ĐBSCL, những nghiên cứu về mật độ sạ đã khuyến cáo sạ ở mật độ 100

kg giống/ha cho năng suất tương đương hoặc cao hơn sạ ở mật độ 200 kg giống/ha (Trịnh Quang Khương, 2010)

Ngày đăng: 04/10/2015, 22:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tựa bảng  Trang - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang
ng Tựa bảng Trang (Trang 11)
Hình  Tựa hình  Trang - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang
nh Tựa hình Trang (Trang 12)
Bảng  1.1:  Đáp  ứng  của  cây  lúa  đối  với  nhiệt  độ  ở  các  giai  đoạn  sinh  trưởng  khác  nhau - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang
ng 1.1: Đáp ứng của cây lúa đối với nhiệt độ ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau (Trang 22)
Hình 2.1: Bản đồ địa điểm thí nghiệm  2.1.2 Vật liệu thí nghiệm - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang
Hình 2.1 Bản đồ địa điểm thí nghiệm 2.1.2 Vật liệu thí nghiệm (Trang 26)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm: - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm: (Trang 27)
Bảng 3.1 Ghi nhận tình hình sâu bệnh hại chung của các nghiệm thức - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang
Bảng 3.1 Ghi nhận tình hình sâu bệnh hại chung của các nghiệm thức (Trang 32)
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến chiều cao cây (cm) qua các giai đoạn sinh trưởng của - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến chiều cao cây (cm) qua các giai đoạn sinh trưởng của (Trang 33)
Hình 3.1 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến số bông mét vuông của giống lúa OM 2517 vụ Hè Thu - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang
Hình 3.1 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến số bông mét vuông của giống lúa OM 2517 vụ Hè Thu (Trang 36)
Hình 3.2 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến số hạt trên bông của giống lúa OM 2517 trong vụ Hè - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang
Hình 3.2 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến số hạt trên bông của giống lúa OM 2517 trong vụ Hè (Trang 37)
Hình 3.3: Ảnh hưởng của mật độ sạ đến số hạt chắc trên bông của giống lúa OM 2517 trong - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang
Hình 3.3 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến số hạt chắc trên bông của giống lúa OM 2517 trong (Trang 38)
Hình 3.4: Ảnh hưởng của mật độ sạ đến tỷ lệ hạt chắc trên bông của giống lúa OM 2517 - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang
Hình 3.4 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến tỷ lệ hạt chắc trên bông của giống lúa OM 2517 (Trang 39)
Hình 3.5: Ảnh hưởng của mật độ sạ đến trọng lượng 1000 hạt của giống lúa OM 2517 trong - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang
Hình 3.5 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến trọng lượng 1000 hạt của giống lúa OM 2517 trong (Trang 40)
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất (tấn/ha) giống lúa OM 2517 trong vụ Hè - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất (tấn/ha) giống lúa OM 2517 trong vụ Hè (Trang 40)
Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế từ việc giảm mật độ sạ của giống lúa OM 2517 trong vụ Hè Thu - ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa om 2517 vụ hè thu năm 2012 tại huyện châu phú, tỉnh an giang
Bảng 3.6 Hiệu quả kinh tế từ việc giảm mật độ sạ của giống lúa OM 2517 trong vụ Hè Thu (Trang 42)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm