Nghiên cứu chính sách thuế quan và phi thuế quan trong tiến trình tự do hóa thương mại nông sản với các nước nhật bản, trung quốc, hàn quốc, ấn độ
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
I.Lí DO NGHIÊN CỨU Lý do nghiên cứu
Với ý tưởng xây dựng khu vực mậu dịch tự do và hợp tác kinh tế trong khuvực Châu Á, 4 nước Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ên Độ mong muốn trởthành đối tác toàn diện của ASEAN thông qua ký kết các Hiệp định khung về hợptác kinh tế toàn diện với ASEAN Nước ta đã thực hiện nghĩa vụ của nước thànhviên theo AFTA, đang trong quá trình thực hiện giảm thuế, áp dụng các biện phápphi thuế theo lộ trỡnh đó cam kết đối với các nước trong khối ASEAN Chóng ta
đã ký kết Hiệp định thương mại Việt -Mỹ và kết thúc các cuộc đàm phán songphương và đa phương chuẩn bị gia nhập WTO Thương lượng và ký kết Hiệp địnhkhung với 4 đối tác nói trên là mở rộng hợp tác trong khu vực và cũng là cơ sở chonước ta hội nhập sâu hơn khi trở thành thành viên của WTO Ký kết Hiệp địnhkhung ASEAN với 4 đối tác, trong đó đặc biệt Hiệp định Hợp tác kinh tế toàn diệnASEAN -Trung Quốc, Việt Nam đã thoả thuận thiết lập khu vực mậu dịch tự doASEAN - Trung Quốc vào năm 2015 Tuy nhiên Trung Quốc đó cú chương trình
“Thu hoạch sớm”, rút ngắn thời gian thực hiện lộ trỡnh cam kết xuống vào năm
2008 Để thực hiện các Hiệp định với 4 đối tác đặc biệt là với Trung Quốc, đặt racho chóng ta phải thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại, rà soát và hoàn thiệncác văn bản pháp lý, khai thác những cơ hội do việc thực hiện các Hiệp địnhkhung, thúc đẩy tự do hoá thương mại và mang lại hiệu quả cao hơn cho ngànhnông nghiệp
Trong các Hiệp định ký kết hợp tác giữa ASEAN và 4 đối tác lớn nói trên,vấn đề thương mại nông sản là vấn đề nhạy cảm, đang chịu ảnh hưởng của chínhsách thuế quan và phi thuế quan của từng nước Liệu chính sách của Việt Nam đãphù hợp với các Hiệp định khung và cần bổ sung thêm những chính sách gì để thúcđẩy tự do hóa thương mại nông sản và phát triển nông nghiệp trong bối cảnh hộinhập Đây là vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, cũng là vấn đề bức xúchiện nay Cho đến nay, đó cú một số nghiên cứu về hội nhập nông nghiệp vào khuvực và quốc tế Nhưng chưa có nghiên cứu phõn tích chính sách thuế quan và phithuế quan của nước ta tương thích với các Hiệp định cụ thể Từ thực tiễn đó, đặt rayêu cầu bức thiết nghiên cứu các chính sách về thuế quan và các biện pháp phithuế quan, các công cụ bảo hộ như thế nào để vừa phù hợp với các cam kết và thúcđẩy tự do hóa thương mại vừa đảm bảo lợi Ých cho nông nghiệp nước ta trong quá
trình hội nhập kinh tế Chính vì vậy, chúng tôi lùa chọn đề tài: "Nghiên cứu chính sách thuế quan và phi thuế quan trong tiến trình tự do hóa thương mại nông sản với các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ên Độ"
1
Trang 2II MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
2.1.Mục tiêu Mục tiêu
2.1.1Mục tiêu chung: Mục tiêu chung:
Phân tích những bất cập về chính sách thuế quan và phi thuế quan của ViệtNam với Hiệp định khung giữa ASEAN với 4 nước Trung Quốc, Nhật Bản, HànQuốc và Ên Độ; đề xuất bổ sung chính sách phù hợp với Hiệp định khung và pháthuy lợi thế nông nghiệp của Việt Nam trong tiến trình tự do hóa thương mại nôngsản với 4 nước
2.1.2.Mục tiêu cụ thể: Mục tiêu cụ thể:
1) Tập hợp thông tin và phân tích vai trò nông nghiệp các nước;
2) Tổng quan kết hợp khảo sát để đánh giá thực trạng chính sách thuế quan và phi thuế quan của Việt Nam;
3) Phân tích Hiệp định khung giữa ASEAN với 4 nước;
4) Phân tích, chỉ ra những bất cập của chính sách Việt Nam so với các HĐK;5) Đề xuất bổ sung chính sách thích ứng với HĐK và phát huy lợi thế nông nghiệp của Việt Nam trong tiến trình tự do hóa thương mại nông sản với 4 nước
2.2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.2.1.Phạm vi nội dung và đối tượng nghiên cứu: Phạm vi nội dung và đối tượng nghiên cứu:
Làm rõ khái niệm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan, những qui định
về thuế quan và phi thuế quan trong khuụn khổ WTO và AFTA;
Tóm lược các Hiệp định khung ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Nhật Bản,ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN -ấn Độ, trong đó tập trung quan tâm các nộidung thuế quan và phi thuế quan liên quan đến thương mại hàng hóa nôngsản;
Đánh giá tình hình nông nghiệp 4 nước và quan hệ thương mại nông sản vớiViệt Nam;
Phân tích chính sách thuế quan và phi thuế quan của Việt Nam, các chínhsách này được nghiên cứu tổng quát ở tầm vĩ mô và vi mô
Phân tích và đánh giá sự bất cập của chính sách Việt Nam với Hiệp định khung:
Trang 3Đề tài phân tích và đánh giá tính bất cập thể hiện: (1) Sự chưa phù hợp hay chưa tương thích giữa chính sách Việt Nam với Hiệp định khung; (2) Tình hình thực trạng và các điều kiện thể hiện khả năng thực thi Hiệp định của Việt Nam.
Tuy nhiên, đề tài cũng giới hạn phạm vi nghiên cứu, chỉ tập trung vào:
Trong tiến trình đàm phán và ký kết Hiệp định của ASEAN với 4 nước lùachọn, tốc độ nhanh chậm và chi tiết diễn ra khác nhau Cho đến nay, Hiệpđịnh hợp tác ASEAN - Trung Quốc đã thảo luận và ký kết khá cụ thể, cũncỏc Hiệp định khác tiến độ đạt được chậm hơn Mặt khác các Hiệp địnhkhác cũng dự định dùa theo Hiệp định khung ASEAN - Trung Quốc Hơnnữa nội dung Hiệp định ASEAN - Trung Quốc bao quát toàn diện cả về biệnpháp thuế quan và phi thuế quan lấy nền tảng các qui định của GATT vàWTO Do vậy, đề tài tập trung thời lượng nhiều hơn vào việc phân tích sựbất cập giữa chính sách của Việt Nam theo Hiệp định khung ASEAN -Trung Quốc và nền tảng của các Hiệp định khung đó là các thể chế thươngmại hàng hóa nông sản của WTO
Trong phân tích các Hiệp định khung với 4 nước nói chung và với TrungQuốc nói riêng, đề tài cũng chỉ tập trung vào thương mại hàng hoá và cácnội dung liên quan đến thương mại hàng hoỏ Cỏc nội dung khác về đầu tư,dịch vụ v.v đề tài chưa có điều kiện nghiên cứu
2.2.2Phương pháp tiếp cận và khung phân tích Phương pháp tiếp cận và khung phân tích
1) Tiếp cận tài liệu thứ cấp trong nước; thông tin nông nghiệp và thương mại quốc tế qua các tài liệu, báo cáo và truy cập trên Internet các trang Website của FAO, UNDP, WB, AMAD, UNCTAD
2) So sánh thuế quan giữa các nước (mức thuế quan trung bình giản đơn, thuế quan trong và ngoài hạn ngạch);
3) Sử dụng phương pháp thống kê và phân tích tỷ lệ sử dụng các công cụ phi thuế quan của các nước đối với hàng nông sản;
4) Sử dụng phương pháp phân tích khiếm khuyết (GAP approach) để phân tích
sự bất cập của chính sách Việt Nam với HĐK;
III.TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Cho đến nay ở trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề hộinhập kinh tế khu vực và quốc tế, trong đó có ngành nông nghiệp Phần lớn trongcác công trình nghiên cứu đó ở mức độ khác nhau đều có đề cập đến các chínhsách thuế quan và phi thuế quan Một số công trình nghiên cứu hội nhập riêng vềngành nông nghiệp và phát triển nông thôn có thể nêu lên ở đây là:
3
Trang 4Dự án: Tăng cường năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cho ngành nôngnghiệp và phát triển nông thôn (SCARDSII) do chương trình hợp tác phát triểnViệt Nam - Ôxtrõylia thông qua Quỹ CEG tài trợ Các công trình đã xuất bản một
bộ sách (4 quyển) với các tiêu đề: WTO và ngành nông nghiệp Việt Nam; Đánhgiá sự phù hợp của chính sách nông nghiệp Việt Nam với các quy định trong Hiệpđịnh khu vực và song phương; Tác động của tự do hóa thương mại đến ngành chănnuôi Việt Nam; Nghiên cứu điều kiện hình thành sàn giao dịch nông sản tại ViệtNam Bộ sách này đã giới thiệu một số vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu: (1)các qui định và luật lệ quốc tế đối với ngành nông nghiệp, tập trung trong Hiệpđịnh nông nghiệp, Hiệp định SPS và Hiệp định TBT, doanh nghiệp thương mại nhànước, sở hữu trí tuệ trong thương mại nông nghiệp; (2) chính sách nông nghiệp củaViệt Nam, trong đó cú cỏc chính sách thuế quan và biện pháp phi thuế quan, sosánh với các quy định trong Hiệp định khu vực và đa phương; (3) WTO, thươngmại nông sản và phát triển
Dự án nghiên cứu nói trên đã đề cập tới các vấn đề thuộc đề tài nghiên cứu,
dự ỏn giới thiệu các Hiệp định và qui định của WTO, đối chiếu với chính sáchnông nghiệp Việt Nam Tuy nhiên sự so sánh đú cũn rất khái quát, chưa đề cập cụthể
Bộ Thương mại cũng đã chủ trì thực hiện: Dự án hỗ trợ thương mại đa biêngiai đoạn 2 từ năm 2005 đến 2008, viết tắt MUTRAP II, do cộng đồng Châu Âutài trợ, trong đú cú 3 hợp phần về lĩnh vực nông nghiệp Tuy nhiên dự án này bắtđầu triển khai từ quớ IV năm 2005, muộn hơn so với thời gian thực hiện đề tài
Trong nước cũng có một số nghiên cứu của Viện quản lý kinh tế Trungương, Viện nghiên cứu của Bộ Thương mại về hội nhập kinh tế quốc tế của ViệtNam Các nghiên cứu này có nội dung rộng lớn hơn bao quát tất cả các ngành kinh
tế Chính sách thuế quan và phi thuế quan trong nông nghiệp chỉ là một phần rấtnhỏ và chưa được đề cập chi tiết
Trên thế giới đó cú rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài.Trước hết là phải kể đến các công trình nghiên cứu về khái niệm, phân loại vàlượng húa cỏc biện pháp phi thuế quan của các tác giả Bijit Bora, Aki Kuwahara
và Samlaird được Liên hiệp quốc ở NewYork và Geneva xuất bản năm 2002
Nhóm nội dung nghiên cứu khác tập trung vào quá trình gia nhập và thựchiện nghĩa vụ thành viên WTO của Trung Quốc WTO đã tập hợp các kết quả đó
và đăng tải trên trang web của WTO (tài liệu dày trên 350 trang điện tử), trong đó
có một số chương liên quan vấn đề nghiên cứu Tất nhiên là những nội dung đóthuộc nền kinh tế Trung Quốc
Các kết quả nghiên cứu trờn đó hỗ trợ thêm về ý tưởng và phương phápnghiên cứu của đề tài, giúp nhóm nghiên cứu có cách nhìn rõ hơn từ các công trìnhtrên
Trang 5PHẦN I.
CÁC BIỆN PHÁP THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN TRONG WTO VÀ AFTA
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN Cơ sở Lý luận về thuế quan
và phi thuế quan
1.1 Thuế quan Thuế quan
1.1.1 Khái niệm thuế quan và mục đớchđỏnh thuế quan Khái niệm thuế quan và mục đíchđánh thuế quan
Thuế quan là thuế xuất nhập khẩu, đó là số tiền nhà xuất khẩu hoặc nhậpkhẩu phải nép vào ngân sách nhà nước của nước xuất khẩu hoặc nước nhập khẩu
Mọi hàng hoá được phép xuất nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới của mộtnước nói chung đều phải chịu thuế xuất nhập khẩu theo qui định của nước xuấthoặc nhập khẩu
Thông thường, thuế quan được áp dụng trước tiên nhằm mục đích tăngnguồn thu ngân sách cho chính phủ Tuy nhiên, thuế quan cũng có thể được ápdụng vì những mục đích khác như ngăn chặn hàng nhập khẩu và bảo vệ hàng trongnước, trả đũa một quốc gia khác, bảo vệ một ngành công nghiệp quan trọng haynon trẻ, v.v
Thuế quan được WTO coi là hợp lệ và cho phép các nước thành viên duy trì,nhờ sự minh bạch và tính dễ dự đoán trong việc áp dụng biện pháp này
1.1.2 Mức thuế quan và các loại thuế suất Mức thuế quan và các loại thuế suất
Mức thuế quan được qui định theo tỷ lệ % trị giá xuất, nhập khẩu hoặc trịgiá tuyệt đối trên một đơn vị sản phẩm xuất, nhập khẩu
Mức thuế quan bao gồm các loại: Thuế suất ưu đãi; thuế suất ưu đãi đặc biệt;thuế suất thông thường và thuế nhập khẩu bổ sung
a)Thuế suất Thuế suất ưu đãi:
Là thuế suất chỉ áp dụng cho hàng nhập có xuất xứ từ nước, hoặc khối nước
có thỏa thuận về đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại Mỗi một nước cóquy định cụ thể cho từng mặt hàng trong biểu thuế xuất nhập khẩu ưu đãi
b)Thuế suất ư Thuế suất ưu đãi đặc biệt:
Là thuế suất được áp dụng cho hàng nhập khẩu có xuất xứ từ nước hoặc khốinước đó cú thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu theo thể chế khu vựcthương mại tự do, liên minh quan thuế, hoặc để tạo thuận lợi cho giao lưu thươngmại biên giới và trường hợp ưu đãi đặc biệt khác Mỗi một nước, thuế suất ưu đãiđặc biệt được áp dụng cụ thể cho từng mặt hàng theo qui định trong thoả thuận
c)Thuế suất thông th Thuế suất thông thường:
5
Trang 6Là thuế suất được áp dụng cho hàng nhập khẩu có xuất xứ từ nước hoặc khốinước không có thoả thuận về đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại Đây làthuế suất thương mại tự do không có thỏa thuận hoặc cam kết ưu đãi.
d) Thuế nhập khẩu bổ sung Thuế nhập khẩu bổ sung
Ngoài thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt,hàng nhập khẩu có thể còn bị đánh thuế theo thuế suất bổ sung Tùy theo qui địnhcủa từng nước và từng trường hợp để nước đó áp dụng các biện pháp thuế nhậpkhẩu bổ sung
1.1.3 Các bảng danh mục thuế để thực hiện lộ trỡnh cam kết cắt giảm thuế
là 3 năm 1 lần, mỗi lần cắt giảm tối thiểu là 5%;
Nhúm các mặt hàng loại trừ tạm thời (Temporary Exclusion List -TEL), đõy
là các mặt hàng tạm thời chưa cắt giảm ngay trong một số năm đầu, nhưngthời gian sau đó phải được đưa vào cắt giảm hoặc loại bỏ hoàn toàn TheoAFTA, đối với Việt Nam, nhóm mặt hàng này được loại trừ tạm thời từ 1995-1999, sẽ phải đưa vào cắt giảm theo 5 bước trong giai đoạn 5 năm từ 1999 -2003;
Nhúm các mặt hàng loại trừ hoàn toàn (General Exception List -GEL), có tàiliệu nêu là nhóm mặt hàng nhạy cảm là nhúm cỏc mặt hàng có vị trí quantrọng đối với an ninh quốc gia, đạo đức, sức khỏe, sự tồn tại của động thựcvật, bảo tồn giá trị văn hóa v.v được loại trừ khỏi việc cam kết cắt giảmthuế quan
Trong các Hiệp định khung ASEAN với 4 nước, cũn cú khái niệm "thuhoạch sớm" có nghĩa là các mặt hàng thuộc diện hoàn thành việc cắt giảmnhanh trước thời hạn thông thường
1.1.4.Phương phỏp tớnh thuế quan Phương pháp tính thuế quan
Thuế quan theo tỷ lệ % trị giá xuất, nhập khẩu được tớnh dựa trờn: Số lượngtừng mặt hàng xuất nhập khẩu, trị giá tính thuế và thuế suất
Thuế xuất nhập khẩu được tính theo công thức:
Trang 7Thuế xuất/nhập = Sè lượng (từng mặt hàng) * Trị giá tính thuế * Thuế suất
Trong đó:
Sè lượng từng mặt hàng: là số lượng hàng (tấn, bao, kiện ) ghi trong tê
khai hải quan
Trị giá tính thuế: Là giá tiền của một đơn vị hàng hóa Trị giá tính thuế được
xác định theo trị giá giao dịch
Tuy nhiên trong thực tế các loại hàng hóa rất đa dạng và không phải hànghóa nào cũng có trị giá giao dịch cho nên ở Việt Nam trị giá tính thuế được xácđịnh theo 5 phương pháp khác nhau Ngoài phương pháp theo giá trị giao dịch cũn
cú 4 phương pháp khác là: Tính theo trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩugiống hệt; tính theo trị giá khấu trừ; tính theo trị giá tính toán và theo phương phápsuy luận
Thuế suất (nh đó nêu ở trên)
1.2.Các biện pháp phi thuế quan Các biện pháp phi thuế quan
1.2.1.Khái niệm và mục đích áp dụng các biện pháp phi thuế quan Khái niệm
và mục đích áp dụng các biện pháp phi thuế quan
Cú mét số khái niệm và cách hiểu về biện pháp phi thuế quan, sau đây đề tài
sử dụng các khái niệm được một số tác giả đưa ra và được tóm lược nêu lên trongtài liệu của WTO về chính sách thương mại và hàng hóa thế giới, chuỗi nghiên cứu
số 18 với tiêu đề "Định lượng các biện pháp Phi thuế quan" của Bijit Bora, AkiKuwahara and Sam Laird (2002):
- Thuật ngữ “cỏc biện pháp phi thuế quan” (Non-Tariff Measures, sau đây
viết tắt là NTM) bao hàm tất cả các biện pháp hạn chế định lượng xuất nhập khẩu,trợ giá sản xuất, trợ giá xuất khẩu, hoặc các biện pháp khác có tác dụng tương tự,không chỉ riêng hạn chế xuất khẩu (GATT và UNCTAD)
- Theo Baldwin (1970s), cho rằng “biện pháp phi thuế quan” là bất kì biệnpháp nào tác động đến việc phân bổ hàng hoá dịch vụ thông thương quốc tế, hoặccác nguồn lực cho hàng hoá và dịch vụ đó sao cho giảm được thu nhập thực tế
Từ các khái niệm và nhận dạng ở trên ta có thể khái quát: Biện pháp phi thuếquan là các biện pháp (không bao gồm công cụ thuế quan) can thiệp vào hàng xuấtnhập khẩu, từ đó làm tăng hoặc giảm giá trị thương mại thực của hàng hóa làmgiảm hoặc tăng năng lực cạnh tranh
Đối với nước nhập khẩu, mục tiêu hay động lực áp dụng các biện pháp phithuế quan xuất phát từ mong muốn thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội lâu dài, hoặcxuất phát từ mong muốn trước mắt cân bằng cán cân thanh toán, cũng có thể là
7
Trang 8giúp một ngành sản xuất tránh được tình trạng nhập khẩu quá nhiều, gây tổn hại vàảnh hưởng đến sự phát triển của ngành đó Biện pháp nước nhập khẩu áp dụng làhạn chế hoặc làm tăng chi phí dẫn đến tăng giá làm giảm năng lực cạnh tranh củahàng nhập khẩu
Đối với nước xuất khẩu với mục tiêu xuất khẩu được nhiều, xuất khẩu vớigiá cạnh trạnh nờn tỡm biện pháp hỗ trợ để giảm chi phí dẫn đến giảm giá hàngxuất khẩu
Tuy nhiên khi lạm dụng quá mức hoặc sử dụng trá hình các biện pháp phithuế quan sẽ bóp méo giá trị thương mại và trở thành các rào cản thương mại, cótác động tiêu cực đến việc tiếp cận thị trường và cản trở tự do hóa thương mại
1.2.2.Phân loại Phân loại
a)Phõn loại theo biện pháp Phi thuế quan truyền thống và mới áp dụng Phân loại theo biện pháp Phi thuế quan truyền thống và mới áp dụng
Các hàng rào phi thuế quan truyền thống bao gồm hạn ngạch, cấp phép, định
giá hải quan, quy định về xuất xứ, kiểm tra hàng hóa trước khi xuống tàu , trong
đó, ba biện pháp đầu tiên được sử dụng rộng rãi hơn cả là: (a) Hạn chế định lượng;(b) Cấp phép nhập khẩu; (c) Các quy định về định giá hải quan để tính thuế
Nhìn chung, các biện pháp hạn chế định lượng được coi là có tác dụng bảo hộmạnh hơn các biện pháp thuế quan và trực tiếp bóp méo thương mại Do vậy, điều
XI của Hiệp định GATT không cho phép các nước thành viên áp dụng các biệnpháp hạn chế số lượng nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hóa Không áp dụng hạnchế định lượng là một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO Tuy nhiên, Hiệpđịnh GATT đưa ra một số ngoại lệ với nguyên tắc này, cho phép các nước thànhviên được áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng theo những điều kiện nghiêmngặt Thớ dụ nh để đối phó tình trạng thiếu lương thực trầm trọng (Điều XI:2), bảo
vệ cán cân thanh toán (Điều XVII:B), bảo vệ sức khỏe con người, động thực vật(Điều XXV) và bảo vệ an ninh quốc gia (Điều XXIV) Trước đây, cấp phép nhậpkhẩu là một biện pháp được sử dụng rất rộng rãi nhằm hạn chế nhập khẩu Hiệnnay, các quy định về cấp phép nhập khẩu của một nước thành viên phải tuân thủHiệp định về thủ tục cấp phép Nhập khẩu của WTO, tức là đáp ứng các tiêu chínhư đơn giản, minh bạch và dễ dự đoán Trình tự, thủ tục xin cấp phép cũng như lý
do áp dụng giấy phép phải được thông báo rõ ràng, đặc biệt là với các loại giấyphép không tự động Các quy định về định giá hải quan để tính thuế có thể trởthành một rào cản lớn với hoạt động thương mại Thớ dụ nh quy định việc áp giátối thiểu để tính thuế nhập khẩu Chính vì vậy, Hiệp định về định giá Hải quanACV của WTO đã quy định cỏc nguyờn tắc cụ thể trong việc xác định giá trị tínhthuế của hàng hóa
Trang 9Các biện pháp phi thuế quan khác mới áp dụng đó là (a) Các quy định về kỹ
thuật, vệ sinh, dán nhãn Đồng thời với những nỗ lực giảm thuế và điều chỉnh cácbiện pháp phi thuế truyền thống trong WTO, ngày càng xuất hiện nhiều hình thứcrào cản thương mại mang tính kỹ thuật như các quy định về vệ sinh, kỹ thuật, môitrường, tiêu chuẩn sản phẩm Hiện nay, trong WTO, Hiệp định SPS điều chỉnhviệc áp dụng các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động, thực vật và Hiệp định TBTđiều chỉnh việc áp dụng các quy định liên quan tiêu chuẩn sản phẩm, dán nhãn,chứng nhận và công nhận hợp chuẩn Mục tiêu của hai hiệp định này là cho phépcác nước thành viên một mặt duy trì các biện pháp vệ sinh và kỹ thuật vỡ cỏc lý dochính đáng, mặt khác hạn chế khả năng lạm dụng các biện pháp này để bóp méohoạt động thương mại (b) Trợ cấp, đây là một công cụ chính sách được sử dụngrộng rãi và phổ biến ở hầu hết các nước nhằm đạt các mục tiêu của chính phủ vềkinh tế, xã hội, chính trị Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trợ cấp, tuy nhiên,theo WTO, trợ cấp là một khoản đóng góp về tài chính do chính phủ hoặc một tổchức nhà nước cung cấp, hoặc là một khoản hỗ trợ thu nhập hoặc hỗ trợ giá vàmang lại lợi Ých cho đối tượng nhận trợ cấp Trong WTO, trợ cấp nông nghiệpđược điều chỉnh bởi Hiệp định Nông nghiệp (c) Các quy định chống bán phá giá.Nhìn chung, "bán phá giá" được hiểu là hành vi bán hàng hóa tại thị trường nướcnhập khẩu thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa nước xuất khẩu Bán phá giáthường được thực hiện khi bên bán muốn chiếm lĩnh thị trường hay cạnh tranhgiành thị phần Bán phá giá bị coi là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh, vỡkhụng dựa trờn những tiêu chí thương mại và có xu hướng bóp méo thương mại,gây ảnh hưởng ngành công nghiệp nước nhập khẩu (d) Mua sắm chính phủ Cácchính phủ thường chi một khoản rất lớn để mua sắm hàng hóa, thiết bị và dịch vụphục vụ hoạt động của mình Tuy nhiên, việc mua sắm đó thường không căn cứvào các tiêu chí thương mại thông thường Dưới áp lực chính trị, các chính phủthường mua hàng hóa và dịch vụ từ các công ty trong nước, do vậy, tạo ra sự phânbiệt đối xử với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài Hiện nay, WTO có Hiệp định Muasắm Chính phủ để điều tiết hoạt động này Tuy nhiên, hiệp định này mới chỉ dừng
ở khuôn khổ của một hiệp định nhiều bên và việc tham gia hiệp định là trên cơ sở
tự nguyện (e) Các biện pháp đầu tư liên quan thương mại, thí dụ như các quy địnhyêu cầu các nhà đầu tư phải sử dụng nguyên liệu trong nước, quy định tỷ lệ xuấtkhẩu sản phẩm hay hạn chế nguồn ngoại tệ dùng để thanh toán hàng nhập khẩu củacông ty Các biện pháp này thường được các nước đang phát triển sử dụng rộngrãi để hạn chế nhập khẩu và phát triển ngành công nghiệp trong nước Để khắcphục tình trạng này, Hiệp định TRIMS đã đưa ra mét danh mục các biện pháp đầu
tư bị coi là không phù hợp các quy định về tự do hóa thương mại của WTO và yêucầu các nước thành viên không duy trì những biện pháp này (f) Bảo hộ quyền sởhữu trí tuệ Việc thực thi không đầy đủ quyền sở hữu trí tuệ cũng được coi là mộtrào cản lớn với hoạt động thương mại quốc tế, vì hàng nhái, hàng giả, hàng viphạm bản quyền với giá rẻ sẽ hạn chế khả năng tiếp cận thị trường của sản phẩmđích thực Vấn đề này thật sự trở nên nghiêm trọng với những quốc gia mà việc
9
Trang 10thực thi quyền sở hữu trí tuệ không được nghiêm ngặt (Nguyễn Văn Long, UBQGHNKTQT)
b)Phõn loại theo tính chất tác động của các biện pháp Phi thuế quan Phân loại theo tính chất tác động của các biện pháp Phi thuế quan
Trong tài liệu "Chính sách thương mại và hàng hóa thế giới, chuỗi nghiêncứu 18 về Định lượng các biện pháp Phi thuế quan", theo Laird và Vossenaar(1991), NTM có thể được phân loại theo mức độ tác động trực tiếp của các biệnpháp, các tác giả đã chia các biện pháp đó bao gồm năm phõn lớp sau đây:
(i)Cỏc biện pháp kiểm soát khối lượng hàng nhập khẩu Các biện pháp kiểm soát khối lượng hàng nhập khẩu
Có hàng loạt các biện pháp được sử dụng để kiểm soát khối lượng hàngnhập khẩu, nó bao gồm các lệnh cấm, các hạn ngạch hay hạn chế số lượng hàngnhập khẩu (Quota Rate-QR), việc cấp giấy phép có điều kiện, giấy phép nhậpkhẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, Hiệp ước bình ổn thị trường và độc quyềnnhập khẩu hay kinh doanh của nhà nước
Các biện pháp trong phõn lớp này áp dụng ngay tại biên giới hoặc trước đó,
do nước nhập khẩu thực hiện để ngăn chặn không cho vào biên giới nước nhậpkhẩu
(ii) Các biện pháp kiểm soát giá hàng nhập khẩu
Những biện pháp này bao gồm: phần trả thêm, thuế theo mùa, hạn ngạchthuế quan, chi phí phát sinh và chi phí quốc nội đánh thuế lên mặt hàng nhập khẩu,các khoản thuế biến thiên, thuế chống phá giá và thuế nhập khẩu phụ thu
Các biện pháp khác trong nhóm này như giá tối thiểu, thủ tục mua bán củachính phủ, hạn chế giá xuất khẩu do quốc gia xuất khẩu đảm nhận, các biện phápkhác làm tăng chi phí hàng nhập khẩu như qui định khoản đặt cọc, sử dụng tíndụng khi nhập khẩu, vận chuyển trờn cỏc đội tàu quốc gia hoặc qui định cảng nhậpkhẩu
Các biện pháp này tập trung vào xem xét và tác động lên giá hàng nhậpkhẩu Nói là kiểm soát giá nhưng thực chất là các biện pháp kích hoạt làm cho giáhàng nhập khẩu tăng thêm
(iii)Cỏc biện pháp giám sát như điều tra giá cả và trọng lượng Các biện pháp giám sát như điều tra giá cả và trọng lượng
Các biện pháp này là việc cấp giấy phép tự động, giám sát nhập khẩu, điềutra giá và điều tra chống phá giá - bù đắp Các biện pháp này xem xét mức độchênh lệch giữa giá bán ở thị trường nhập khẩu với chi phí sản xuất và lưu thông
Trang 11hàng hóa Các biện pháp này có tác động quấy rối, gây cản trở đối với các hoạtđộng khác, làm nón lòng người xuất khẩu, và như vậy thì sẽ hạn chế xuất khẩu Ởnhiều nước như Mỹ và Liên minh Châu Âu thường xuyên cú cỏc cuộc điều trachống bán phá giá Ban đầu họ điều tra xem liệu có bán phá giá hay trợ giá diễn rakhông Nếu như có hiện tượng này, họ tiếp tục điều tra xem liệu có gây hại đến sảnxuất trong nước hay không Từ đó họ áp đặt thuế bù đắp hay thuế bán phá giá.
(iv)Cỏc biện pháp trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ sản xuất Các biện pháp trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ sản xuất
Các biện pháp này có thể áp dụng trợ cấp cho sản xuất hoặc gián tiếp chođầu vào sản xuất, cũng có thể áp dụng cho dịch vụ tài chính hay vận chuyển trongsản xuất và tiếp thị, đôi khi áp dụng cho các vùng nhằm hỗ trợ phát triển khu vực
đú Nú được thực hiện dưới dạng hỗ trợ tài chính hay hoàn thuế hay lệ phí
Các biện pháp trong phõn lớp này do các nước xuất khẩu thực hiện có tácdụng hỗ trợ làm giảm giá thành sản phẩm khi đưa đến thị trừờng nhập khẩu và do
đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường nước nhập khẩu
(v)Biện pháp kĩ thuật Biện pháp kĩ thuật
Biện pháp kỹ thuật bao gồm những qui định và tiêu chuẩn kỹ thuật mà cácsản phẩm nhập khẩu phải đáp ứng khi đưa vào thị trường nước nhập khẩu Đó làcác qui định, tiêu chuẩn về y tế, vệ sinh, kiểm dịch động thực vật, ATTP, tiêuchuẩn môi trường và kết hợp của các tiêu chuẩn đó Mục đích chính đáng của cácbiện pháp kỹ thuật là vì lý do an toàn sức khoẻ của con người, bảo vệ cây trồng vàvật nuụi tránh nguy cơ bị xâm nhập lây lan các bệnh tõt Để đáp ứng được các quiđịnh và tiêu chuẩn kỹ thuật nước nhập khẩu yêu cầu nhà sản xuất và xuất khẩu phảităng đầu tư, tăng chi phí làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu Vì vậy, một số mặthàng xuất khẩu không tuân thủ quy định có thể sẽ bị cấm hoặc bắt buộc phải đầu tưnhiều cho việc nâng cấp quy trình sản xuất
Nhúm các biện pháp kỹ thuật do nước nhập khẩu áp dụng nhằm mục tiêu rấtchính đáng là bảo vệ sức khỏe con người, ngăn chặn bệnh xâm nhập lây lan, nhưngnấp dưới mục tiêu chính đáng đó là hàng rào kỹ thuật để ngăn chặn hàng hóa nhậpkhẩu Với nhóm biện pháp này các nước đang phát triển chịu nhiều thua thiệt hơn
Biện pháp phi thuế quan có rất nhiều loại, theo OECD năm 1994, đã thống
kê chỉ riêng nông nghiệp, có khoảng 150 biện pháp NTM Xu hướng của các biệnpháp Phi thuế quan đi từ các biện pháp can thiệp hành chính (ngăn cấm) chuyểnsang các biện pháp tác động lên giá thành và giá bán, đến ngày nay chuyển sanghình thức tinh vi hơn thông qua hàng rào kỹ thuật Cho dù ở mức độ nào thì cácnước đang phát triển cũng phải đối đầu với nhiều thách thức hơn là cơ hội thuậnlợi
11
Trang 121.3 Tính chất hai mặt của thuế quan và biện pháp phi thuế quan Tính chất hai mặt của thuế quan và biện pháp phi thuế quan
trong thể chế thương mại quốc tế
1.3.1.Mặt tích cực Mặt tích cực
Với mục đích và các nguyên tắc hoạt động của WTO là tạo điều kiện hìnhthành thể chế thương mại chung bao hàm trong các qui định về thuế quan, biệnpháp phi thuế quan và các lĩnh vực khác, nhờ vậy thể chế thương mại quốc tế cúcỏc mặt tích cực thể hiện:
Về nguyên tắc, các biện pháp thuế quan và phi thuế quan theo WTO là tạonên thể chế thương mại minh bạch, bình đẳng, thông thoáng dựa trờn cơ sởđàm phán thương lượng và loại bỏ rào cản
Thể chế thương mại đó kích thích sản xuất nông sản theo qui trình kỹ thuậttiến bộ đảm bảo an toàn thực phẩm và nâng cao chất lượng hàng hóa
Cũng tạo điều kiện để cho các loại nông sản đủ tiêu chuẩn có thể được mởrộng thị trường, tự do cạnh tranh trên bất kỳ thị trường nào
Tạo cơ hội cho các nước tiếp cận kỹ thuật, công nghệ, quản lý tiên tiến đổimới nền sản xuất và cơ chế quản lý kinh tế của chính nước mình
Vì mục đích và những đòi hỏi ở trên, khuyến khích các nước hợp tác songphương và đa phương, kích thớch các nước gia nhập các tổ chức hoạt độngtrong các lĩnh vực tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch, BVTV, v.v để từng bướchài hòa hóa tiêu chuẩn quốc gia tương thích với tiêu chuẩn quốc tế
Cho phép các nước sử dụng công cụ thuế quan để điều khiển việc xuất, nhậpnông sản, cũng như tạo cho các nước đang phát triển những điều khoản linhhoạt trong tiếp cận thương mại quốc tế và có một khoảng thời gian dài hơn
để cải cách và hoàn thiện các chính sách của mình hài hòa với thông lệ vàthể chế thương mại quốc tế
Với những mặt tích cực của thể chế thương mại quốc tế như trên, thể chếthương mại quốc tế đóng góp quan trọng vào việc tạo sức Ðp sự đổi mới, cải cách,thóc đẩy sự phát triển nông nghiệp các nước cũng như đẩy nhanh quá trình hộinhập nông nghiệp khu vực và quốc tế
1.3.2.Mặt hạn chế Mặt hạn chế
Trái ngược với mục đích và mong muốn cao cả của thể chế thương mại quốc
tế, trong thực tế do cơ chế thị trường thể chế thương mại quốc tế không được trongsáng như ý tưởng mong muốn mà nó bị bóp méo thể hiện trên một số điểm hạn chếhoặc tiêu cực dưới đây:
Việc thương lượng và đàm phán là cơ sở hàng đầu của sự thống nhất Tuynhiên với vai trò và vị thế kinh tế, chính trị của mỡnh, cỏc nước lớn thường
Trang 13có sức áp đảo và quyết định Tiếng nói của các nước nhỏ, kinh tế yếu cótrọng lượng thấp Chính vì vậy, trong thực tiễn nguyên tắc "thương lượng vàđàm phán" đã chứa đựng sự bất bình đẳng.
Các nước đang phát triển hoặc kém phát triển tổ chức sản xuất trong điềukiện cơ sở hạ tầng yếu kém, cơ sở vật chất kỹ thuật và qui trình sản xuất lạchậu nên chất lượng sản phẩm thấp, chứa đựng nhiều yếu tố và công đoạn bất
an toàn thực phẩm Các sản phẩm với chất lượng nh vậy làm thế nào để xâmnhập vào được các thị trường các nước phát triển với yều cầu tiêu chuẩn antoàn thực phẩm, tiêu chuẩn chất lượng cao, tiêu chuẩn môi trường chặt chẽ.Chính vì vậy, đã tạo nên dòng chảy sản phẩm một chiều từ các nước pháttriển sang các nước đang và kém phát triển, dòng chảy ngược lại (từ cácnước đang và kém phát triển sang các nước phát triển) rất khó khăn Các sảnphẩm chưa an toàn thực phẩm, chất lượng thấp do các nước đang và kémphát triển sản xuất ra chỉ có thể tiêu dùng nội bộ và luân chuyển trong khuvực các nước đang và kém phát triển
Khai thác điểm yếu này của các nước đang và kém phát triển, các nước pháttriển dựng cỏc biện pháp kỹ thuật thực chất là hàng rào kỹ thuật về qui trìnhsản xuất, về tiêu chuẩn sản phẩm, về môi trường để ngăn chặn các sản phẩmcác nước đang phát triển nhập khẩu vào nước họ, nhằm bảo hộ sản xuấttrong nước Trong khi đó, các nước mạnh như EU, Mỹ thực hiện hỗ trợ sảnxuất trong nước rất lớn dưới nhiều hình thức làm cho giá thành nông sản của
họ giảm, giá bán có sức cạnh tranh cao so với sản phẩm tương tự từ cácnước đang phát triển (ví dụ: Đường của châu Âu, ngô của Mỹ)
Về phương diện cạnh tranh, khả năng cạnh tranh của nông sản về chất lượngnhư đã nói ở trên, về phương diện giá bán có thể do giá công lao động rẻhơn nên giá thành sản phẩm các nước đang phát triển có giá bán thấp hơn.Cho dù giá bán có thấp hơn chăng nữa, nó chỉ phù hợp với bộ phận thu nhậpthấp trong các nước phát triển mà thôi Để hạn chế nhập khẩu các nông sản
có giá rẻ, các nước phát triển dùng chính sách chống bán phá giá để ngănchặn, làm cho giá hàng nhập khẩu tăng lên khó cạnh tranh với hàng nội địa.Các nước đang phát triển rất khó có điều kiện về tài chính và quan hệ quốc
tế để theo đuổi các vụ kiện loại này Việt Nam đã bị kiện bán phá giá cá Ba
sa, tôm, giày mà rất Ýt cơ hội để thắng kiện
Điều cần quan tâm nhiều hơn là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp,các ông chủ kinh doanh thương mại nông sản Thương nhân của các nướcđang và kém phát triển phần lớn vốn liếng Ýt ỏi, năng lực tiếp cận thị trườnghạn chế, hệ thống giao dịch và phân phối hạn hẹp Tất cả đó thể hiện nănglực cạnh tranh của các thương nhân trong các nước đang phát triển không đủsức để đương đầu với các Tổng công ty xuyên quốc gia, các công ty lớn củacác nước phát triển dày dạn kinh nghiệm quản lý, thương trường và năng lựctài chính khổng lồ Điều đó phản ỏnh tớnh bất bình đẳng trong thương mại
13
Trang 14cạnh tranh, cái được gọi là " công bằng" dựa trờn một thực tế "không ngangsức".
Về hưởng lợi của công nghệ và quản lý tiến bộ, các nước đang phát triển rấttốn kém để tiếp thu công nghệ và quản lý do các nước phát triển chuyểngiao Nhưng thông thường họ nhận được những loại công nghệ thuộc các thế
hệ trước, trong đó có loại đã lỗi thời Thêm vào đó là sự chuyển giao khôngđầy đủ về đặc tính công nghệ, kỹ năng sử dụng, vận hành Chính vì vậy, khiđưa vào ứng dụng gặp không Ýt trục trặc, hiệu quả thấp Điều này làmchậm sự phát triển của nước tiếp nhận và của xã hội Các nước đang và kémphát triển phải trả giá và tốn kém không Ýt nguồn lực
Có thể là chưa đầy đủ khi phân tích những mặt hạn chế, tiêu cực Nhưng vớinhưng điểm nêu trên cho thấy thể chế thương mại quốc tế mà các quốc gia đangmong muốn xây dựng chứa đựng trong mình nó một số khuyết tật Thực chất củacác điểm tiêu cực này đã hạn chế tự do hóa thương mại của các nước đang và kémphát triển, một lực lượng đông đảo trên hành tinh này
Khi nghiên cứu chính sách thuế quan và phi thuế quan phân tích các điểmtiêu cực của thể chế thương mại quốc tế, không vì thế mà lung lay ý chí hội nhậpnông nghiệp quốc tế Hội nhập kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riờng đã là xuthế tất yếu khách quan và cũng là sức Ðp mạnh mẽ để nhanh chóng đổi mới nềnnông nghiệp nước ta Phân tích những hạn chế này hàm ý rằng trên con đường hộinhập có nhiều thách thức và nhiều đá ngầm mà chúng ta phải lường trước để lùachọn một cách linh hoạt, khôn ngoan
1.4.Phương pháp xác định tác động của các biện pháp thuế quan Phương pháp xác định tác động của các biện pháp thuế quan
và phi thuế quan
1.4.1.Phương pháp xác định tác động của thuế quan Phương pháp xác định tác động của thuÕ quan
Dùa vào mức độ cắt giảm thuế suất để đánh giá mức độ tiếp cận thị trườngcủa nước nhập khẩu Thuế suất thuế nhập khẩu cam kết càng thấp điều đó đồngnghĩa với tiếp cận thị trường cao hơn Ngược lại mức thuế suất cao thì mức độ tiếpcận thị trường giảm
Các nhà phân tích định lượng cũng đã xây dựng mô hình để phân tích cácphương án cắt giảm thuế quan tác động đến lượng xuất nhập khẩu, giá cả nội địa,phóc lợi đối với người sản xuất, người tiêu dùng, quốc gia nhập khẩu Mô hình môphỏng chính sách thương mại nông sản (Agricultural Trade Policy SimulationModel, viết tắt ATPSM) của Vazetti được sử dụng để phân tích tác động thay đổithuế quan của một số nước
Trang 151.4.2.Xác định tác động của các biện pháp phi thuế quan Xác định tác động của các biện pháp phi thuế quan
Phương pháp tính toán xác định tác động của các biện pháp phi thuế quanhết sức phức tạp Tuy vậy, các nhà nghiên cứu cố gắng tìm tòi các phương phápđánh giá tác động của nó Hiện có nhiều phương pháp luận để xác định tầm quantrọng của các biện pháp mậu dịch và dự đoán tác động của các biện pháp phi thuếquan Trong đó có 2 phương pháp chủ yếu: (1) phương pháp thống kê và (2)phương pháp mô hình
Phương pháp thống kê để tóm tắt thông tin về các biện pháp NTM được sửdụng và phạm vi các mặt hàng chịu ảnh hưởng Theo phương pháp này trước hếtxác định các biện pháp phi thuế quan mà một nước áp dụng Tiếp đến là xác địnhphạm vị sử dụng các biện pháp đó cho những sản phẩm nào, tỷ trọng khối lượngsản phẩm được áp dụng biện pháp phi thuế quan Cuối cùng phân tích tỷ trọngphần nông sản áp dụng biện pháp phi thuế quan so với tổng khối lượng nông sản.Chỉ số phân tích này chỉ cho chóng ta thấy phạm vi tác động của các biện pháp phithuế quan
Phương pháp mô hình dùng để phân tích mô phỏng tác động định lượng củacác biện pháp NTM, tác động lên giá, lên lượng xuất nhập khẩu và do đó lờn phúclợi thu được Các phương pháp này quan trọng ở chỗ nó tạo ra một khuôn khổvững chắc trên cơ sở đó phân tích tác động của phóc lợi, giá cả, sản xuất, và mậudịch
II NHỮNG VẤN ĐỀ THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN ĐỐI VỚI NÔNG SẢN Những vấn đề thuế quan và phi thuế quan đối với nông sản
ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG KHUÔN KHỔ WTO VÀ AFTA
2.1.Qui định thuế quan và phi thuế quan trong WTO Qui định thuế quan và phi thuế quan trong WTO
2.1.1Nguyên tắc chung Nguyên tắc chung
WTO là tổ chức thương mại quốc tế, tiền thân là Hiệp định chung về thuếquan và thương mại (GATT) WTO xây dựng một hệ thống các qui định vô cùngphức tạp và cụ thể trên 4 lĩnh vực: thương mại hàng hóa; dịch vụ; đầu tư và sở hữutrí tuệ Tất cả những qui định đú dựa trờn 5 nguyên tắc cơ bản, đó là:
(1) thương mại không phân biệt đối xử;
(2) thương mại ngày càng được tự do hơn thông qua đàm phán;
(3) dễ dự đoán, dự báo;
(4) tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng;
(5) dành cho các nước đang phát triển một số ưu đãi
15
Trang 16Nguyên tắc không phân biệt đối xử yêu cầu các nước thành viên phải dànhcho nhau ưu đãi tối huệ quốc (Most Favored Nation -MFN), không có sự phân biệtđối xử về hàng hóa và dịch vụ giữa các nước thành viên với nhau, và đối xử quốcgia (National Treatment -NT), tức là không phân biệt đối xử giữa hàng hóa và dịch
vụ sản xuất trong nước và nhập khẩu
Để thúc đẩy tự do hóa thương mại, WTO yêu cầu các nước phải mở cửa thịtrường, loại bỏ dần dần các rào cản thương mại Mức độ cắt giảm các rào cảnthương mại được thỏa thuận thông qua đàm phán song phương và đa phương Thuếquan được WTO coi là hợp lệ và cho phép các nước thành viên duy trì, nhờ sựminh bạch và tính dễ dự đoán trong việc áp dụng biện pháp này Yêu cầu bắt buộccác quốc gia giảm thuế nhập khẩu, và có thể áp dụng hạn ngạch để mở cửa thị tr-ường Trong tương lai không được nâng mức thuế quan cao hơn mức đã cam kết.Nếu muốn nâng cao mức cao hơn phải đàm phán lại với các quốc gia quan tâm Từmức thuế cam kết làm cơ sở, các nước đang phát triển phải giảm thuế 24 % bìnhquân và giảm tối thiểu 10% của mỗi dòng thuế trong vòng 10 năm Chuyển tất cảcác rào cản phi thuế quan đối với thương mại thành các mức thuế quan tương ứng(gọi là thuế húa) Khụng khuyến khích áp dụng lại các biện pháp phi thuế quan.Ngoài ra, vòng đàm phán Uruguay còng khuyến khích nhập khẩu các sản phẩm màtrước đây được bảo hộ bằng biện pháp phi thuế quan, thông qua sử dụng hạn ngạch
Nguyên tắc bình đẳng yêu cầu hạn chế các biện pháp cạnh tranh không bìnhđẳng như bán phá giá, trợ cấp hay dành đặc quyền nào đó cho một số doanhnghiệp
Dành ưu đãi cho các nước đang phát triển thông qua việc cho phép các nướcđang phát triển cú thờm một số quyền và không phải thực hiện một số nghĩa vụhay có thời gian dài hơn để điều chỉnh chính sách trong nước phù hợp với qui địnhcủa WTO Đối xử ưu đãi đặc biệt và riêng biệt dành cho các nước đang phát triển
và kém phát triển gọi là điều khoản linh hoạt
2.1.2.Qui định đối với nông nghiệp và hàng nông sản Qui định đối với nông nghiệp và hàng nông sản
Đối với nông nghiệp, có một số Hiệp định của WTO liên quan đến nôngnghiệp như: Hiệp định nông nghiệp (Agreement on Agriculture - AoA); Hiệp định
Trang 17áp dụng các biện pháp vệ sinh kiểm dịch động thực vật (Sanitary and PhitosanitaryAgreement - SPS); Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại(Technical Barries to Trade - TBT) Ngoài ra cú cỏc hợp phần khác của thươngmại nông sản trong các Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS).
Hiệp định nông nghiệp trong vòng đàm phán Uruguay tập trung vào 3 nộidung chủ yếu: (1) Giảm trợ cấp xuất khẩu nông sản (2) Mở cửa thị trường nhậpkhẩu; (3) Cắt giảm hỗ trợ sản xuất trong nước cho nông nghiệp
Mục tiêu chính của Hiệp định nông nghiệp là cải cách các nguyên tắc, luật
lệ, chính sách trong nông nghiệp cũng như giảm bớt những bóp méo thương mạinông sản do việc bảo hộ nông nghiệp và hỗ trợ sản xuất trong nước tạo nên
Các điều khoản và cam kết về mở cửa thị trường bao gồm các nội dung:
Đối với nông nghiệp điều khoản mở cửa thị trường cũng phải tuân thủ theonguyên tắc chung Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, các nước thành viên WTO
là những nước có nông sản là mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã không khuyến khíchnhững nước đang xin gia nhập đưa ra bất kỳ một cam kết nào về hạn ngạch - thuếquan Đoàn công tác đã áp dụng điều này với Việt Nam
Về điều khoản tự vệ đặc biệt:
Theo GATT năm 1994 (điều khoản XIX), các nước thành viên có quyền ápdụng các biện pháp tự vệ để hạn chế trào lưu nhập khẩu ồ ạt làm thiệt hại đến sảnxuất trong nước Hiệp định nông nghiệp cũng cho phép các nước thành viờn củaWTO áp dụng các biện pháp tự vệ đặc biệt (SSG) mà không yêu cầu chỉ ra sự tổnhại đối với sản xuất trong nước (tuy nhiên, rào cản phi thuế quan đối với nông sản
đú đó được thuế hóa và đánh dấu SSG) Đối với nông sản, biện pháp tự vệ đặc biệtđược áp dụng khi giá cả một mặt hàng nông sản nhập khẩu nào đó giảm xuốngdưới mức có thể gây ra nguy hại hoặc khối lượng mặt hàng nhập khẩu đó tăng đếnmức gây ra nguy hại đến kinh tế của nước nhập khẩu
Hỗ trợ sản xuất trong nước:
Hiệp định nông nghiệp chia hỗ trợ sản xuất trong nước thành 3 nhóm (3 loạihộp khác nhau: Hộp xanh lá cây; hộp xanh lam; và hộp hổ phách (hay hộp đỏ)
Các chính sách thuộc hộp xanh lá cây được hoàn toàn loại trừ khỏi cam kết
cắt giảm Đó là các biện pháp hỗ trợ, nhưng không làm bóp méo giá trị thươngmại Bao gồm các khoản hỗ trợ nh sau:
Các chương trình trợ cấp lương hưu cho người sản xuất nông nghiệp;
Chương trình chuyển đổi sản xuất, tái cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp;
Các chương trình bảo vệ môi trường;
Các chương trình hỗ trợ vùng;
Dự trữ quốc gia vì mục tiêu an ninh lương thực;
Chương trình trợ cấp lương thực trong nước;
17
Trang 18 Các dịch vụ công của nhà nước như: Nghiên cứu khoa học, đào tạo, khuyếnnông, đầu tư cơ sở hạ tầng và thông tin thị trường.
Các chính sách thuộc hộp xanh lam, là những biện pháp có thể bóp méo giá
trị thương mại nhưng ở mức tối thiểu và vì vậy không yêu cầu phải cam kết cắtgiảm, bao gồm các khoản:
- Chi trả trực tiếp trong các chương trình hạn chế sản xuất, nếu chi trả nàytớnh trờn diện tích và sản lượng cố định hoặc số đầu con gia sóc, gia cầm cố định;
- Các chính sách thuộc "chương trình phát triển" Bao gồm: Trợ cấp đầu tưnhư cho vay ưu đãi, hỗ trợ sau đầu tư, hỗ trợ lãi suất v.v.; Trợ cấp các loại vật tưđầu vào, cho người nghèo, có thu nhập thấp hoặc nụng dân ở cỏc vựng khó khăn;
Hỗ rợ để chuyển đổi cây thuốc phiện sang trồng cỏc cõy khỏc
Các chính sách thuộc hộp hổ phách (hay hộp đỏ), là loại hỗ trợ làm bóp méo
thương mại, buộc phải cam kết cắt giảm khi vượt mức tối thiểu về tổng mức hỗ trợgộp Tổng mức hỗ trợ gộp bao gồm cả những chính sách hỗ trợ trong nước đượcqui cho là có tác động đến sản lượng, ở cấp độ sản phẩm còng nh cấp độ ngànhnông nghiệp Tổng mức hỗ trợ gộp được xác định từ nguồn chi ngân sách củachính phủ WTO còng qui định loại trừ mức tối thiểu đối với tổng mức hỗ trợ gộp:không lớn hơn 5% tổng giá trị sản xuất của sản phẩm (đối với nước đã phát triển)
và tương ứng không lớn hơn 10% (đối với nước đang phát triển) Nếu vượt quámức trên phải cắt giảm Theo qui định của WTO, các nước phát triển được yêu cầucắt giảm 20% tổng mức hỗ trợ gộp trong thời kỳ 1995- 2000, các nước đang pháttriển phải cắt giảm 13,3 % trong giai đoạn 1995 -2004
Tuy nhiên các nước đang phát triển sử dụng các biện pháp thuộc hộp hỗphách thường trở thành đối tượng cho các đối tác thương mại khác xem xét và ápdụng các biện pháp thuế đối kháng, thuế chống bán phá giá
Trợ cấp xuất khẩu:
Đây là các chính sách được qui cho là có tác động bóp méo thương mại trênthị trường thế giới cả về giá và bất ổn định thị trường Trợ cấp xuất khẩu có tácđộng trực tiếp và ngay lập tức đến thị trường nông sản Tuy nhiên, trợ cấp xuấtkhẩu nông sản được cho phép áp dụng với một số biện pháp giới hạn cụ thể (Có 6hình thức trợ cấp xuất khẩu:(1) Trợ cấp trực tiếp cho người sản xuất hàng xuấtkhẩu; (2) Bán thanh lý hàng nông sản dự trữ xuất khẩu với giá rẻ hơn; (3)Tài trợcác khoản chi trả cho xuất khẩu, kể cả phần được tài trợ từ nguồn thu thuế, cáckhỏan được để lại; (4)Trợ cấp cho nông sản dựa trờn tỷ lệ xuất khẩu; (5)Trợ cấp đểgiảm chi phí tiếp thị, kể cả chi phí xử lý, nâng cấp, tái chế sản phẩm, chi phí vận tảiquốc tế, cước phí vận chuyển; (6)Ưu đãi cước phí vận tải trong nước và quốc tế đốivới hàng xuất khẩu hơn hàng tiêu thụ nội địa Các nước đang phát triển được phép
áp dụng 2 hình thức 5, 6)
Trang 19Hiệp định nông nghiệp hạn chế những chính sách trợ cấp xuất khẩu màtrước đây chưa có; khống chế cả khối lượng xuất khẩu được trợ cấp và chi tiêungân sách cho trợ cấp trên cơ sở mức cam kết; các nước phát triển phải giảm 21%khối lượng hàng hóa được hưởng trợ cấp và giảm 36% chi tiêu chính phủ cho trợcấp trong thời kỳ 1995- 2002, đối với các nước đang phát triển chỉ tiêu tương ứng
là 14% và 24% trong vòng 10 năm kể từ 1995 Bất kỳ một hình thức trợ cấp mớinào, một loại mặt hàng nào không có trong biểu cam kết đều không được trợ cấp
Hiệp định về vệ sinh kiểm dịch động, thực vật (Sanitory and Phytosanitory measures - SPS)
Hiệp định này được áp dụng cho cả nông sản xuất và nhập khẩu, nhằm mụcđích bảo vệ sức khỏe của con người, cây trồng và gia súc, tránh nguy cơ bị xâmnhập, lây lan các bệnh dịch
Nội dung Hiệp định đòi hỏi các quốc gia thành viên phải:
Hài hòa các biện pháp SPS của quốc gia với quốc tế thông qua việc xây dựngcác tiêu chuẩn quốc gia dựa trờn cơ sở tiêu chuẩn của CODEX, OIE, IPPC,FAO;
Phân tích đánh giá nguy cơ dịch bệnh và ATTP dựa trờn chứng lý khoa học,minh bạch và công khai;
Chấp nhận các biện pháp SPS tương đương và thừa nhận lẫn nhau, thông quacác Hiệp định hoặc các thỏa thuận giữa các nước;
Minh bạch các thủ tục kiểm tra, giám sát và chấp thuận
Hiệp định này có tác dụng tích cực thúc đẩy các quốc gia tiêu chuẩn hóa quitrình sản xuất và tiêu chuẩn hóa sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế với nỗ lực caonhất (không bắt buộc), khuyến khích các nước tham gia Hiệp ước quốc tế về kiểmdịch động thực vật và vệ sinh an toàn thực phẩm
Các nước phải thiết lập một Điểm hỏi đáp, đây là cơ quan chịu trách nhiệmtiếp nhận và giải quyết các yêu cầu về thông tin liên quan đến chính sách SPStrong nước (các chính sách và qui định hiện hành, những chính sách mới banhành) Các nước phải thông báo với Ban Thư ký của WTO về những thay đổi (banhành mới hoặc sửa đổi) và dự kiến thực hiện những qui định mới về SPS trongnước trước thời gian thực hiện, những thay đổi đú cú thể ảnh hưởng đến thươngmại quốc tế Đồng thời cũng phải thông báo đến các đối tác thương mại liên quan
để tham vấn, tiếp nhận ý kiến đóng góp của họ
Hiệp định này cũng có một số đối xử đặc biệt giành cho các nước đang pháttriển và kém phát triển (nới rộng khoảng thời gian, có một số ngoại lệ về nghĩa vụ
có thời hạn, tạo điều kiện tham gia vào hoạt động của các tổ chức quốc tế, đượccác nước phát triển trợ giúp kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực thực thi hiệp địnhSPS)
19
Trang 20Hiệp định về rào cản kỹ thuật đối với thương mại (Agreement on Technical Barries to Trade - TBT)
Hiệp định này áp dụng cho tất cả các quốc gia thành viên của WTO kể từvòng đàm phán Tokyo Hiệp định này bao gồm tất cả những qui định kỹ thuật vàtiêu chuẩn tự nguyện, thủ tục tiến hành để thực thi các qui định này Hiệp địnhTBT yêu cầu tất cả các nước thành viên phải cam kết: Tôn trọng nguyên tắc MFNtrong việc áp dụng hàng rào kỹ thuật trong thương mại; Giám sát quá trình xâydựng các qui định kỹ thuật; ban hành các qui định kỹ thuật; thiết lập điểm hỏi đáp;thông báo cho WTO và tạo điều kiện cho các nước thành viên góp ý kiến chonhững qui định kỹ thuật nếu các qui định kỹ thuật đó tác động đến thương mạiquốc tế; yêu cầu các cơ quan tiêu chuẩn quốc gia thông qua qui tắc thực hành; ápdụng qui tắc đối xử NT và MFN khi đánh giá tính phù hợp
Về doanh nghiệp thương mại nhà nước (STEs)
GATT thừa nhận tính pháp lý của STEs cũng như các loại hình doanhnghiệp khác Tuy nhiên, WTO cũng nhận thấy các khả năng có thể xảy ra bóp méothương mại do chính sách đối xử của các nước đối với các STE, thông thường cácchính sách đó là: Các ưu tiên dành riêng cho STE tạo ra cạnh tranh không bìnhđẳng có thể dẫn đến độc quyền của các STE; sự thiếu minh bạch trong việc địnhgiá cũng như hoạt động của các STE Các nước thành viên lo lắng rằng các chínhsách này có thể sử dụng STE để trốn trỏnh thực hiện các cam kết về trợ cấp xuấtkhẩu, tiếp cận thị trường và hỗ trợ trong nước
Về sở hữu trí tuệ trong thương mại nông sản (TRIPs)
WTO đã ban hành TRIPs nhằm thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu về quyền sởhữu trí tuệ Đối với nông nghiệp, những qui định về giống cây trồng và vật nuôiđòi hỏi các nước thành viên phải:
Bảo hộ văn bằng sáng chế cho các chủng vi sinh, các qui trình vi sinh và phisinh học phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp;
Bảo hộ văn bằng sáng chế hoặc một hệ thống riêng hoặc kết hợp cả hai hệthống này để bảo hộ các giống cây trồng, vật nuôi;
Loại trừ các giống cây trồng, vật nuôi hoặc các qui trình cơ bản cho sản xuấttrồng trọt và chăn nuôi
Hiệp định TRIPs đòi hỏi sự tuân thủ chặt chẽ từ các bên tham gia ký kết, thểhiện: Các thủ tục rõ ràng và công bằng; được cơ quan có thẩm quyền xem xét,nhưng không có nghĩa vụ phải thiết lập một hệ thống phán quyết riêng để giảiquyết các vấn đề về quyền SHTT; luôn có những giải pháp tình thế và biện pháp
xử lý ngay tại biên giới; có điều khoản phạt trong trường hợp vi phạm quyềnSHTT
2.1.3.Cơ chế linh hoạt áp dụng cho các nước đang phát trỉển Cơ chế linh hoạt
áp dụng cho các nước đang phát trỉển
Trang 21Cơ chế linh hoạt bao hàm phạm vi rộng rãi của các yếu tố khác nhau về đối
xử đặc biệt và ưu đãi cho các nước đang phát triển trong khuôn khổ GATT vàWTO Đối xử đặc biệt và ưu đãi thiết lập một bộ các quyền và đặc ân được phép ápdụng trong các nước đang phát triển, những điều mà các nước đã phát triển khôngđược phép Nó tồn tại dưới dạng các điều khoản cam kết về pháp lý, các thỏa thuận
về chính sách và thông qua sự hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực
Cả GATT và hầu hết các hiệp định của WTO hiện tại đã cho phộp cỏc nước đang phát triển với điều khoản linh hoạt rộng rãi để theo đuổi tự do hóa thương mại theo định hứơng yêu cầu phát triển của họ Một số điều khoản linh hoạt áp dụng tạm thời theo hướng tiếp tục tăng cường phát triển kinh tế Cả GATT và hầu hết các hiệp định của WTO hiện tại đã cho phép các nước đang phát triển với điều khoản linh hoạt rộng rãi để theo đuổi tự do hóa thương mại theo định hứơng yêu cầu phát triển của họ Một số điều khoản linh hoạt áp dụng tạm thời theo hướng tiếp tục tăng cường phát triển kinh tế
Các điều khoản linh hoạt chủ yếu được chấp thuận được mô tả theo ngành
Nó được nêu lên một cách toàn diện thông qua tất cả các Hiệp định của WTO vàđược tóm tắt tại bảng 1
Bảng 1: Cơ chế linh hoạt của WTO áp dụng cho các nước đang phát triển
Hiệp định chung
về thương mại dịch vụ (GATS)
21
Trang 22nông nghiệp trong nước
Các biện pháp bảo vệ các ngànhnon trẻ;
Các biện pháp tự vệ đặc biệt đảm bảo cân đối tài chính;
Các biện pháp tăng cường các ngành nội địa;
Qui định về tiếp cận thị trường dịch vụ, hạn chế các nhà cung cấp nước ngoài;
Qui định về tiếp cận thị trường dịch vụ đối với một số ngành nhất định;
Miễn trừ/thay đổi của các qui tắc áp đặt trách nhiệm bù đắp thiệt hại, tự vệ đặc biệt;
Miễn trừ đặc biệt một số nghĩa vụ;
Sử dụng hạn chế xuất khẩu hàng dệt may
GATT;
Hiệp định về nông nghiệp;
Hiệp định chung
về thương mại dịch vụ (GATS);
Hiệp định về trợ cấp và biện pháp
bù đắp thiệt hại;
Hiệp định Phòng
vệ đặc biệt;
Hiệp định về VS ATTP (SPS);
Hiệp định về hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT);
Hiệp định về dệt may (ATC);
Hiệp định về biệnpháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs);
Hiệp định về định giá hải quan
ii Trợ cấp Sử dụng trợ cấp trong nông
nghiệp và PTNT;
Sử dông một số hỗ trợ xuất khẩu trong NN;
Miễn trừ một số qui định đối với cấm và hạn chế xuất khẩu nông sản;
Hỗ trợ xuất khẩu đối với sản phẩm công nghiệp;
Miễn trừ hoặc điều biến của quitắc về khuyến khích các trợ cấp
Trang 234 Ưu đãi thương
mại không có đi
có lại
Miễn nghĩa vụ (có đi có lại) trong tiếp cận thị trường theo cơ chế ưu đãi đơn phương
5 Ưu đãi thương
mại có đi có lại
Không tuân theo yêu cầu bao quát tất cả thương mại chính yếu;
Linh hoạt trong việc bao quát các ngành chủ yếu về Hiệp định dịch vụ
Những thỏa thuận chủ yếu trong AFTA:
2.2.1.Các bảng danh mục hàng hóa theo mức độ cắt giảm thuế quan Các bảng danh mục hàng hóa theo mức độ cắt giảm thuế quan
Theo CEPT, các nước ASEAN thỏa thuận về việc đưa các mặt hàng vào 3danh mục cắt giảm: (1) danh mục hàng hóa cắt giảm thuế quan ngay; (2) danh mụctạm thời chưa đưa vào cắt giảm;(3) danh mục các mặt hàng không giảm thuế Mụctiêu chung là giảm mức thuế quan xuống 0 -5% trong thương mại giữa các nướcvào năm 2003, đối với Việt Nam vào năm 2006 Theo AFTA, nhúm cỏc mặt hàngcắt giảm ngay của Việt Nam phải cắt giảm xuống 0-5% vào năm 2006, mức giảm
Ýt nhất là 3 năm 1 lần, mỗi lần cắt giảm tối thiểu là 5% Nhúm cỏc mặt hàng loạitrừ tạm thời, sau 5 năm loại trừ sẽ phải xóa bỏ, mỗi năm đưa 20% số mặt hàng vàodiện cắt giảm Nhúm các mặt hàng nhạy cảm do các nước đề nghị và sẽ phải đưavào đàm phán vào năm 2015 đối với các nước ASEAN mới, trong đó có Việt Nam
2.2.2Điều kiện để thực hiện ưu đãi thuế quan Điều kiện để thực hiện ưu đãi thuế quan
Các hàng hóa muốn đựơc hưởng ưu đãi thuế quan trong khuôn khổ CEPTcần có các điều kiện:
23
Trang 24 Phải là các sản phẩm đưa vào danh mục giảm thuế và đã được Hội đồng AFTAxác nhận;
Chỉ có những sản phẩm đã ở mức thuế từ 29% trở xuống và nằm trong danhsách giảm thuế giữa 2 nước thành viên;
Các sản phẩm phải có Ýt nhất 40% thành phẩm được sản xuất, chế tạo, có xuất
2.2.4 Giảm các hàng rào phi thuế quan Giảm các hàng rào phi thuế quan
Thành lập nhóm thương lượng về ưu đãi buôn bán, thảo luận, thực hiệnthương lượng song phương đi đến thỏa thuận về việc giảm các biện pháp phi thuếquan Các nước ASEAN đều cam kết thực hiện giảm các hàng rào phi thuế quan.Hiệp định CEPT còng qui định các nước ASEAN phải cam kết xóa bỏ các hàngrào phi thuế quan liên quan 5 năm sau khi AFTA hoàn thành
PHẦN II.
THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP, THƯƠNG MẠI NÔNG SẢN VÀ
TRIỂN VỌNG THƯƠNG MẠI NÔNG SẢN CỦA 4 NƯỚC VỚI VIỆT Nam
I.THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP 4 NƯỚC, THƯƠNG MẠI NÔNG SẢN Thực trạng nông nghiệp 4 nước, thương mại nông sản
VỚI VIỆT NAM
1.1.Nhật Bản Nhật Bản
Trang 251.1.1.Nông nghiệp và thương mại nông sản Nhật Bản Nông nghiệp và thương mại nông sản Nhật Bản
Nhật Bản có diện tích tự nhiên 377 864 km2 Trong tổng diện tích tự nhiên,73% là nỳi, cỏc vựng đất bằng nhỏ và một số vùng đồi là nơi canh tác nông nghiệp,chỉ khoảng 15% diện tích đất phù hợp cho canh tác Tiềm năng tự nhiên đáng kể lànguồn khoáng sản và sản phẩm biển
Với dân số năm 2004 là 127,7 triệu người, trong đó khoảng 80 triệu ngườisống ở đô thị Trong tổng sè 67 triệu lao động, chỉ có 5% lực lượng lao động hoạtđộng nông lâm nghiệp và thủy sản; 43% hoạt động dịch vụ; 46% họat động trongcác lĩnh vực công nghiệp, thương mại, xây dựng và khai khoáng Tỷ lệ thất nghiệpkhoảng 5%
Nhật Bản đã đạt tốc độ tăng trưởng phi thường trong 100 năm qua là kết quảcủa sự thay đổi về khoa học, công nghiệp và xã hội học Nhật Bản là nước côngnghiệp, nền kinh tế thị trường tự do, kinh tế xếp hàng thứ 2 trên thế giới Kinh tếNhật Bản có hiệu quả và có tính cạnh tranh cao trong các lĩnh vực liên quanthương mại quốc tế Tuy nhiên năng suất thấp trong một số lĩnh vực nh nôngnghiệp, phân phối và dịch vụ Sau những năm đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trênthế giới từ những năm 60 đến những năm 80, nền kinh tế nước này giảm đột ngộtvào những năm đầu 90 Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997- 1998 cũng
có tác động đáng kể Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân những năm đầu 90 giảmxuống còn khoảng 1% so với 4% những năm 60-80 Đến năm 2004, GDP đạt 4900triệu tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng 2,7%, GDP bình quân đầu người là 38 201USD
Sản xuất nông nghiệp tập trung vào lúa gạo, rau, quả, tơ tằm, thịt và sữa.Nguồn thu nhập của rất nhiều nông dân được bổ sung từ hoạt động không thườngxuyên từ các đô thị quanh vùng Kinh tế nông nghiệp Nhật Bản được trợ giá và bảo
hộ cao Với diện tích canh tác khoảng 5,6 triệu ha, nhưng nhờ năng suất cây trồngtrên mỗi ha cao nhất thế giới, Nhật Bản duy trì tỷ lệ tự cung tự cấp nông nghiệpkhoảng 50% Thông thường sản xuất dư thừa một Ýt lúa gạo, nhưng phải nhậpkhẩu số lượng lớn lỳa mỳ, lúa miến, đậu tương chủ yếu từ Mỹ Nhật Bản là thịtrường lớn nhất cho xuất khẩu nông sản của Mỹ
Sự hỗ trợ kinh tế của Nhật Bản cho Trung Quốc hiện nay đang giảm xuống,Nhật Bản hiện đang đàm phán thỏa thuận quan hệ đối tác kinh tế với Hàn Quốc,Thái Lan, Malaysia và Philipine1 Đây có thể là một cơ hội cho Việt Nam khi NhậtBản chuyển hướng ưu tiên đầu tư từ Trung Quốc sang các nước khác, trong đó cóViệt Nam
1.1.2.Thương mại hàng nông sản Việt Thương mại hàng nông sản Việt Nam với Nhật Bản
a) Xuất khẩu
1 Nguån: Bureau of East Asian and Pacific Affairs, April 2005 - cia.doe.gov
25
Trang 26Thương mại hàng hoá nông lâm sản giữa 2 nước tăng lên Ta xuất siêu nôngsản sang Nhật Nếu chỉ tính riêng 9 nhúm nụng, lâm sản chính (gạo, cà phê, cao suchè, hạt điều, hạt tiêu, lạc nhân và sản phẩm gỗ), tốc độ tăng trưởng kim ngạchxuất khẩu sang Nhật tăng lên khá nhanh, từ 150 triệu USD năm 2001 lên 261 triệuUSD năm 2004.
0 10.000 20.000 30.000 40.000 50.000
Cà phê: Bình quân mỗi năm, Nhật nhập khẩu của nước ta khoảng trên dưới
30 ngàn tấn cà phê (năm cao nhất 2001 tới 40,7 ngàn tấn), kim ngạch khoảng 20triệu USD (năm cao nhất 1998 tới 38 triệu USD) Nhật là nước châu Á nhập khẩu
cà phê lớn nhất của Việt nam
Cao su: Mặc dù khối lượng xuất khẩu sang Nhật còn nhỏ, nhưng có tốc độ
tăng nhanh Từ bình quân 5-6 ngàn tấn/ năm trong các năm 1996-99 lên gần 9 ngàntấn/ năm các năm 2000-2001 và lên 14 - 15 ngàn tấn/ năm từ 2002 - 2004 Giá cao
su xuất khẩu sang Nhật năm 2004 đạt bình quân 1.137 USD/ tấn, tăng gấp 2 lần sovới năm 1999
0 2.000 4.000 6.000 8.000 10.000 12.000 14.000 16.000
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Trang 27Rau quả: Xuất khẩu rau quả sang Nhật tăng nhanh trong giai đoạn 2001 đến
nay Năm 2001 đạt kim ngạch xuất khẩu là 11,7 triệu USD, năm 2004 đạt tới 22,1triệu USD (gấp gần 2 lần) Nhìn chung, rau quả chế biến và đông lạnh chiếm tỷ lệlớn Rau quả tươi rất hạn chế, một mặt là do không đáp ứng yêu cầu ngặt nghèocủa thị trường nh cung cấp hàng thường xuyên, đúng thời gian, độ đồng đều v.v
b) Nhập khẩu:
Kim ngạch nhập khẩu nông sản từ Nhật cũng tăng lên qua các năm, nhưngvới tốc độ tăng chậm hơn Theo số liệu của Global Trade Atlas Navigator (Mỹ),kim ngạch xuất khẩu nông sản của Nhật sang Việt Nam đã tăng từ 16,7 triệu USDnăm 1999 lên 28,5 triệu USD năm 2004 Những sản phẩm nhập khẩu chủ yếu làlỳa mỳ và bột mỳ, luụn chiếm từ 40 - 50% tổng kim ngạch xuất khẩu sang ViệtNam Chế phẩm thực phẩm dùng cho người, nhất là các loại bột dinh dưỡng, luônchiếm trên 10% Rượu, nguyên liệu thuốc lá, nguyên liệu TACN (khô dầu), gỗ vàcác mặt hàng từ gỗ cũng là những sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu khá đều đặn
từ vài trăm ngàn đến trên dưới mét triệu USD/ năm
Năm 2003, GDP đạt 576 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng GDP là 8,2%, GDPbình quân đầu người ở mức 543 USD Năm 2004, GDP dự đoán đạt 648 tỷ USD,GDP bình quân đầu người lên 602 USD Trong cơ cấu GDP, nông nghiệp chiếm tỷ
lệ 22,7%, công nghiệp chiếm 26,6%, dịch vụ và vận tải chiếm 50,7%
Về thương mại, xuất khẩu 62 tỷ, trong đó cú cỏc nông sản, máy móc, đỏquớ, hàng thêu và may mặc, ngọc và đồ trang sức, kim hoàn, hàng thủ công, chè.Xuất khẩu phần mềm đạt 12,5 tỷ USD Nhập khẩu 76 tỷ USD, trong đó có dầu ăn,sợi, phân bón Đối tác thương mại chính là Mỹ, EU, Nga, Irắc
Ên Độ đang tiếp tục chuyển hướng cải cách kinh tế theo định hướng thịtrường từ năm 2001 Mỹ là đối tác thương mại lớn nhất của Ên Độ, thương mạisong phương năm 2003 là 18,1 tỷ USD và hy vọng đạt 20 tỷ USD năm 2004 Xuấtkhẩu chủ yếu của Mỹ vào Ên Độ là các chất thử phản ứng và phòng thí nghiệm,máy móc tiên tiến, bông, phân bón, sắt phế thải và phần cứng máy tính Nhập khẩuchủ yếu của Mỹ từ Ên Độ bao gồm sợi dệt, quần áo may sẵn, nông sản và các sảnphẩm liên quan 2
2 Nguån: Bureau of South Asian Affairs, August 2004 - cia.doe gov
27
Trang 281.2.2 Thương mại hàng nông sản Việt Thương mại hàng nông sản Việt Nam với Ên Độ
Thương mại nông sản giữa hai nước có xu thế tăng lên khá nhanh trongnhững năm gần đây Tuy nhiên, nước ta luôn nhập siêu hàng nông sản từ Ên Độ
a) Xuất khẩu sang Ên Độ:
Kim ngạch xuất khẩu nông sản sang Ên Độ tăng từ 23,7 triệu USD năm
2000 lên 45,2 triệu USD năm 2004 Các mặt hàng xuất khẩu chính là chè, hạt tiêu,quế, hồi, cao su, lúa gạo, cánh kiến Trong đó, chè và hạt tiêu luôn chiếm tỷ trọnglớn nhất Ên Độ là đất nước rộng lớn có tiềm năng sản xuất và xuất khẩu nông sản
Cơ cấu xuất khẩu nông sản giữa 2 nước tương đối giống nhau Những mặt hàng Ên
Độ nhập khẩu từ nước ta chủ yếu là để bổ xung vào nguồn xuất khẩu sang nướckhác như chè, hồ tiêu Lượng nhập khẩu phục vụ tiêu dùng trong nước hầu như rất
Ýt (quế, hồi, cao su)
b) Nhập khẩu từ Ên Độ:
Kim ngạch nhập khẩu nông sản từ Ên Độ tăng từ 27,5 triệu USD năm 1999lên 83 triệu USD năm 2004 Những mặt hàng nhập khẩu chính là khô dầu các loạilàm thức ăn chăn nuôi, lúa mì, tinh bột, dầu mỡ động thực vật, hạt điều thô, bánhkẹo, bột dinh dưỡng vv Trong đó, khô dầu và lúa mì luôn chiếm tỷ trọng lớnnhất Hàng năm, nước ta nhập khẩu từ Ên Độ từ 200 - 300 ngàn tấn khô dầu (chiếm
40 50% tổng lượng nhập khẩu cả nước), từ 100 200 ngàn tấn lúa mì (chiếm 20 40% tổng lượng nhập khẩu cả nước) Thuế nhập khẩu các mặt hàng này đều rấtthấp từ 0 - 3% (khô dầu 0%, lỳa mỳ 3%) Các sản phẩm khỏc cú thuế suất cao hơnnhưng khối lượng không lớn
-1.3.Hàn Quốc Hàn Quốc
1.3.1 Nông nghiệp và thương mại nông sản
Hàn Quốc, với diện tích tự nhiên 99 915 km2 Dân số năm 2003 là 47,925triệu người, tốc độ tăng dân số là 0,6%, trong đó dân số nông nghiệp là 3,53 triệungười Tổng số lao động là 22, 976 triệu người, trong đó 96,4 % lực lượng laođộng đang làm việc Trong tổng số lao động đang làm việc chỉ có 1,95 triệu ngườilàm việc trong ngành nông lâm nghiệp, thủy sản (chiếm 8,81%) Trong tổng số gần15,3 triệu hộ, chỉ có 1,26 triệu hộ nông nghiệp, chiếm 8,3%
Đến năm 2004 kinh tế Hàn Quốc đã đứng thứ 11 trên thế giới, với tổng GDPđạt 680 tỷ USD, tăng 189 lần so với năm 1954 Kim ngạch xuất khẩu đạt gần 254
tỷ USD, dự trữ ngoại tệ đạt 199,66 tỷ USD Tỷ trọng GDP nông nghiệp trong tổngGDP giảm từ 23,7% năm 1970 xuống 3,5% năm 2002 Đến năm 2004 cơ cấu GDPHàn Quốc là: Nông lâm thủy: 3,17%, công nghiệp và xây dựng là: 34,6%, dịch vụ62,23%, (Quang Thiều, 2005).Thu nhập bình quân đầu người từ 286 USD năm
1971 lên hơn 14 000 USD năm 2004
Trang 29Tổng diện tích canh tác năm 2003 gần 1, 846 triệu ha, chiếm 18,5% Đất lâmnghiệp có 6 406 ngàn ha, chiếm 64,1% Là quốc gia nghèo về tài nguyên thiênnhiên Bình quân diện tích đất canh tác trên một hộ nông nghiệp là 1,46 ha
Hàn Quốc gia nhập WTO từ năm 1995, sau 10 năm chuẩn bị để thực hiệncác cam kết theo vòng đàm phán Uruguay vào năm 2004 Hàn Quốc phải giảmmức thuế quan trung bình xuống còn 24% với mức giảm tối thiểu 10% cho mỗi lộtrỡnh thuế Hàn Quốc đã thiết lập được hạn ngạch tiếp cận tối thiểu, nhưng chưachuyển (thuế húa) cỏc hàng rào hạn chế nhập khẩu thành mức thuế quan tươngứng Theo qui định tổng mức hỗ trợ gộp của Hàn Quốc phải giảm 13,3% trong 10năm và chỉ còn mức hỗ trợ gộp 1,5 nghìn tỷ won vào năm 2004 Tuy nhiên do mức
hỗ trợ trong giai đoạn 1989 -1991 rất cao nên Hàn Quốc phải giảm hơn 13,3%.Trong hỗ trợ gộp ở Hàn Quốc, mặt hàng gạo chiếm 90%, mặt hàng lúa mạch chiếm3%, còn lại là hỗ trợ cho đậu, ngô, và hạt cải dầu
Trong tổng diện tích canh tác 1 846 ngàn ha, có 1127 ngàn ha (61,0%) dànhcho trồng lúa, đất trồng cạn chiếm 39% Nông dân Hàn Quốc trồng nhiều loại câytrồng, chăn nuôi nhiều loại gia súc khác nhau Sản lượng lúa gạo năm 2003 đạt6,15 triệu tấn thóc, tương đương 4,45 triệu tấn gạo, sản lượng lúa gạo chiếm 35%giá trị sản xuất nông nghiệp Hàn Quốc đã tự túc đủ lượng nhu cầu lúa gạo Năngsuất lúa nước đạt 6,09 tấn /ha, lúa cạn đạt 3, 4 tấn/ha Hàn Quốc phát triển mạnhcác nông sản rau, quả, sản phẩm làm vườn Sản phẩm từ nghề làm vườn bao gồmrau và quả chiếm 30% Chăn nuôi gia sóc gia cầm chiếm 25% tổng giá trị sản xuấtnông nghiệp Tổng sản lượng quả đã tăng từ 833 ngàn tấn năm 1980 lên 2,5 triệutấn năm 2002 Sản lượng rau tăng từ 7,676 triệu tấn năm 1980 lên 9,796 triệu tấnnăm 2002 Điều đáng quan tâm là Hàn Quốc đã tổ chức sản xuất các loại rau quả
từ nhà kính, công nghệ cao, sạch chiếm tỷ trọng cao Hàn Quốc đã sử dụng nhiềumáy móc vào công việc đồng áng, hàng năm số giê lao động trên 1 ha đã giảm từ
600 giê năm 1990 xuống còn 300 giê năm 2002
1.3.2 Thương mại hàng nông sản Việt Thương mại hàng nông sản Việt Nam với Hàn Quốc
a) Xuất khẩu:
Thương mại hàng hóa giữa Viờt Nam và Hàn quốc tăng nhanh chóng tănggấp 3 lần trong vòng 10 năm Đến cuối năm 2005, Hàn Quốc đã trở thành đúi tỏcthương mại lớn thứ 6 của Việt Nam sau Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, ĐàiLoan và Mỹ Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam Hàn quốc chiếm 6,6%tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2002 -2005.Đến năm
2005, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc là đạt 694, 04 triệu USD
và kim ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc lờn đến 3431,65 triệu USD Thương mại vàhợp tác kinh tế giữa hai nước mang tính bổ sung cho nhau nhiều hơn là cạnh tranh
29
Trang 30Hàn quốc tăng đầu tư và xuất khẩu hàng công nghiệp cho Việt Nam, ngược lại ViệtNam tăng cường xuất khẩu nông sản sang Hàn Quốc (Uỷ ban quốc gia về hội nhậpkinh tế quốc tế)
Thương mại hàng nông sản giữa 2 nước có xu hướng tăng theo thời gian,nhưng dung lượng tương đối nhỏ so với các thị trường khác Nếu tớnh riờng 8nhóm hàng nông sản chính cho thấy, kim ngạch xuất khẩu nông sản sang Hàn quốcluôn dao động trong mức từ 40 - 50 triệu USD/ năm, nhưng cơ cấu mặt hàng có sựthay đổi đáng kể Nếu như những năm cuối 90, Hàn Quốc nhập khá nhiều gạo của
ta, thì từ năm 2000 trở lại đây, nhập khẩu gạo giảm dần xuống mức hầu như khôngđáng kể, trong khi đú nhúm sản phẩm cao su, cà phê, rau quả lại có sự tăng trưởngcao và ổn định Xuất khẩu lâm sản sang Hàn Quốc có sự tăng khá, từ gần 18 triệuUSD năm 2001 lên 32 triệu USD năm 2004
b) Nhập khẩu:
Kim ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc cũng có xu hướng tăng, nhưng dunglượng thị trường ở mức nhỏ, từ 11-12 triệu USD trong các năm 2000-2001 lên 16triệu USD năm 2003 Các mặt hàng nhập khẩu chính là:
Bụng, lụng thú và các loại lông để nhồi (gối, đệm) luôn chiếm tỷ trọng cao từ 30 40% tổng kim ngạch xuất khẩu Lỳa mỳ: trờn 1 triệu USD/ năm Chế phẩm từ ngòcốc, nhất là bột dinh dưỡng, chế phẩm ăn được khác (chế phẩm từ sâm) đạt 2 - 3triệu USD/ năm Nguyên liệu TACN (khô dầu các loại) đạt 3-4 triệu USD/ năm.Một số sản phẩm khác cũng thường xuyên có mặt nhưng khối lượng và kim ngạchnhỏ hơn như rong tảo biển, rượu, đồ gỗ vv
XK Hàn quốc sang Việt nam
XK Việt nam sang Hàn quốc
Trang 31§å thÞ 4: XuÊt khÈu lóa g¹o sang Hµn Quèc
0 20.000
Trang 32Xuất khẩu cao su sang Hàn quốc
0 5.000
§å thÞ 7: XuÊt khÈu rau qu¶ sang Hµn Quèc
0 5.000 10.000
Nguồn: Số liệu vẽ đồ thị 3,4,5,6,7 từ Tổng cục Hải quan
1.4.Trung Quốc Trung Quốc
1.4.1 Nông nghiệp và thương mại nông sản
Tổng diện tích tự nhiên của Trung Quốc gần 9 596 ngàn km2 Dân số năm
2003 đã lên đến 1,3 tỷ người với tốc độ tăng dõn số 0,6% Tổng số lao động năm
2001 khoảng 711 triệu, trong đó nông lâm nghiệp chiếm 50%, công nghiệp vàthương mại chiếm 23%, các ngành khác chiếm 27%
GDP năm 2003 tớnh trờn cơ sở tỷ giá trao đổi đạt 1,4 tỷ tỷ USD, tốc độ tăngtrưởng 9,1% GDP bình quân đầu người năm 2003 đạt 1 090 USD Trung Quốc giữ
vị trí hàng đầu thế giới về một số sản phẩm nông nghiệp, đó là lúa gạo, lúa miến,khoai tây, lạc, kê, lúa mạch Các nông sản thương mại chủ yếu bao gồm bụng, cỏcloại sợi khỏc, cõy có dầu, giống gia sóc
Trang 33Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ 10%/năm trong giai đoạn 1990
-2001, cao nhất thế giới GDP của Trung Quốc tăng 8% năm 2002, 9,1% năm 2003,9,5% năm 2004 Tổng kim ngạch thương mại Trung Quốc năm 2004 vượt qua mức1,1 tỷ tỷ USD, đưa quốc gia này trở thành quốc gia thương mại lớn thứ 3 sau Mỹ
và Đức
Về nông nghiệp, khoảng một nửa lực lượng lao động Trung Quốc gắn liềnvới nông nghiệp, cho dù chỉ có khoảng 10% diện tích đất tự nhiên phù hợp chocanh tác nông nghiệp Trung Quốc là một trong những nước sản xuất lớn nhất vềlúa gạo, lúa miến, lúa mạch, lạc, chè, và thịt lợn Một số cây trồng phi lương thực
nh bụng, các loại sợi khác, và cây có dầu Năng suất cây trồng cao do thâm canh,nhưng Trung Quốc hy vọng sản lượng nông sản tăng thông qua việc cải tiến laighép thực vật, phân bón và công nghệ Thu nhập của nông dân đình trệ, dẫn đếnlàm tăng mức chênh lệch của cải giữa thành phố và nông thôn Chính sách của nhànước về tiếp tục nhấn mạnh tự cung tự cấp lương thực, cùng với một thực tế lànông dân không làm chủ, không mua bán đất đai đã góp phần làm tăng mức chênhlệch thu nhập giữa nông dân với cư dân thành thị Hơn nữa, điều kiện hải cảngchưa phù hợp, thiếu các kho tàng, kho lạnh bảo quản nông sản làm hạn chế cảthương mại nông sản trong nước và xuất khẩu
Ngoại thương:
Xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc đạt tổng kim ngạch 438,4 tỷ USD vànhập khẩu với kim ngạch 412,8 tỷ USD Xuất khẩu chủ yếu là máy móc và thiết bịđiện, thiết bị tạo điện năng, hàng may mặc, đồ chơi, giày dép Các đối tác thươngmại chính của Trung Quốc là Mỹ, Hồng Kụng, Nhật Bản, EU, Hàn Quèc,Singapore Nhập khẩu chủ yếu là thiết bị điện, thiết bị tạo năng lượng, sản phẩmhóa dầu, hóa chất, thép Đối tác xuất khẩu chủ yếu của Trung Quốc là Nhật Bản,
EU, Đài Loan, Hàn Quốc, Mỹ và Hồng Kụng Theo Thống kê của Mỹ, TrungQuốc xuất siêu sang Mỹ năm 2003 là 124 tỷ USD
Trung Quốc đã thực hiện một bước quan trọng mở cửa hệ thống ngoạithương và hội nhập nó vào hệ thống thương mại quốc tế Trung Quốc chính thứcgia nhập WTO tháng 12/2001, đã thỏa thuận giảm mức thuế quan và loại bỏ cácrào cản thương mại Các thương gia Trung Quốc và nước ngoài, được quyền xuấtkhẩu, nhập khẩu và bán sản phẩm của họ không phải qua người trung gian củachính phủ Đến năm 2005, mức thuế quan bình quân của những nông sản chủ yếunhập khẩu từ Mỹ giảm từ 31% xuống còn 14%, và sản phẩm công nghiệp từ 25%xuống 9% Hiệp định cũng mở cửa và tạo cơ hội mới cho các nhà cung cấp dịch vụcủa Mỹ trong các ngành ngân hàng, bảo hiểm, truyền hình Trung Quốc đã đạtđược tiến bộ trong việc thực hiện các cam kết với WTO, nhưng một số mối quantâm khác vẫn còn, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Mỹ là đối tác hàng đầu của Trung Quốc Tuy nhiên, các nhà xuất khẩu của
Mỹ tiếp tục quan tâm về tiếp cận thị trường một cách công bằng do kiểm nghiệm
33
Trang 34chặt chẽ và yêu cầu tiêu chuẩn cao đối với một số sản phẩm nhập khẩu Thêm vào
đó, thiếu tính minh bạch trong quá trình đưa ra các qui định, luật lệ làm cho cácthương gia rất khó dự đoán và có kế hoạch thay đổi phù hợp
1.4.2.Thương mại nông sản Việt Thương mại nông sản Việt Nam với Trung Quốc
Kim ngạch xuất khẩu hàng nông lâm sản của Việt Nam sang Trung Quốctăng từ 282,3 triệu USD năm 2000 lên 543,1 triệu USD năm 2004
Các mặt hàng nông lâm sản Việt Nam được tiêu thụ nhiều nhất tại TrungQuốc là cao su, hạt tiêu, điều, rau quả, sản phẩm chăn nuôi Ngoài ra, nhiều nôngsản khác cũng được xuất sang Trung Quốc với đủ các chủng loại như gạo, sắn lát,tinh bột sắn, vừng, đậu xanh, dừa, cau, lâm đặc sản (quế, trầm hương vv ) Thịtrường Trung Quốc thường tiêu thụ từ 40 - 60% lượng cao su, 25 - 30% lượng điềuxuất khẩu của ta
Trước đây, kim ngạch xuất khẩu rau quả của nước ta sang Trung Quốcthường chiếm từ 40 - 60% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả Tuy nhiên, xuất khẩurau quả sang Trung Quốc đang giảm dần, nhất là 2 năm vừa qua Một mặt, là dotrước đây Trung Quốc áp dụng chính sách giảm 50% thuế nhập khẩu và thuế VATcho rau quả Việt Nam buôn bán theo đường tiểu ngạch tại các cửa khẩu thuộc cáctỉnh Vân Nam và Quảng Tây, nhưng từ tháng 1/2004 chỉ còn thực hiện chính sách
ưu đãi này tại Vân Nam Mặt khác, là do bắt đầu từ 1/1/2004, Trung Quốc và TháiLan đã thoả thuận giảm thuế xuống 0% đối với rau quả nên rau quả Thái Lan có lợithế hơn so với rau quả của ta
Kim ngạch nhập khẩu nông sản và vật tư nông nghiệp từ Trung Quốc cũngtăng nhanh, từ 200 triệu USD năm 2000 lên 536 triệu USD năm 2004 Nước tanhập khẩu từ Trung Quốc chủ yếu là các mặt hàng vật tư phục vụ cho nông nghiệpnhư giống ngụ, lỳa lai, giống cây ăn quả, thuốc BVTV, phân bón, thức ăn gia súc,máy nông nghiệp loại nhỏ và một số thiết bị chế biến nông sản Gần 100% giốnglúa lai, ngô lai nhập khẩu từ Trung Quốc Mỗi năm, Việt Nam nhập khẩu từ 10 - 15ngàn tấn giống lúa lai, kim ngạch 17 triệu USD, trên dưới 1000 tấn giống ngô lai,rất nhiều giống cây ăn quả (tỏo, lờ ), giống mía Thuốc thó y, thuốc BVTVtương đối phù hợp với điều kiện sử dụng và giá rất rẻ so với các nguồn nhập khẩukhác Năm 2004, lượng nhập khẩu phân bón từ Trung Quốc đạt 1.747 ngàn tấn,kim ngạch đạt 391,9 triệu USD, kim ngạch nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệuđạt 62,4 triệu USD, kim ngạch nhập khẩu gỗ đạt 24,9 triệu USD, kim ngạch nhậpkhẩu nguyên phụ liệu thuốc lá đạt 20,7 triệu USD
Nước ta cũng nhập khẩu khá nhiều rau quả từ Trung Quốc, chủ yếu là vàonhững thời gian trái vụ, khan hiếm rau quả (khoai tây, cà chua, cà rốt, rau đậu tươihoặc ướp lạnh, rau khô, sắn, hành tỏi, chà là) hoặc những loại rau quả ôn đới nước
Trang 35ta không sản xuất được (cam quýt, nho, tỏo, lờ, dưa, đào) Kim ngạch nhập khẩurau quả từ Trung Quốc tăng dần qua các năm Năm 2004, kim ngạch nhập khẩu rauquả tăng gấp đôi so với năm 2000 Một mặt, do nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng,giá rau quả của Trung Quốc tương đối rẻ, hợp với tói tiền của dân Mặt khác, rauquả tươi là mặt hàng thực hiện chương trình “Thu hoạch sớm” trong Khu vực mậudịch tự do ASEAN - Trung Quốc, ta phải giảm thuế rau quả từ 30 - 40% hiện nayxuống còn 15% trong năm 2005
Biểu 2: Xuất nhập khẩu nông lâm sản của Việt Nam với 4 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ên Độ
Nước Kim ngạch Xuất khẩu của Việt Nam Nhập khẩu của Việt Nam
năm 2004 (triệu USD)
Mặt hàng chủ yếu
Kim ngạch năm 2004 (triệu USD)
Mặt hàng chủ yếu
Trung
Quốc
543 Cao su, hạt tiêu,
điều, rau quả, SPchăn nuôi
536 Giống (ngô, lúa,
CAQ); thuốcBVTV, Phân bón,TAGS, Rau quảNhật Bản 261
769 (T.sản)
Cà phê, cao su,rau quả, lâm sản,thủy sản
28,5 Lúa mú, bột mú,
các loại bột dinhdưỡng
Hàn Quốc 80 Cao su, cà phê,
rau quả, lâm sản
16 Bông, Lông thó,
lúa mú, bột dinhdưỡng
quế, hồi,
dầu mỡ độngvật
Nguồn: Tổng cục Hải quan
35
Trang 360 100 200 300 400 500 600
Kim ngạch (triệu
USD)
Trung Quốc NHật Bản Hàn Quốc ấn Độ
Đồ thị 8 : Xuất khẩu nông lâm sản của Việt Nam sang
các n ớc
Năm 2000 Năm 2004
0 100 200 300 400 500 600
Kim ngạch (triệu
USD)
Trung Quốc NHật Bản Hàn Quốc ấn Độ
Sơ đồ 9: NHập khẩu nông, lâm sản của Việt Nam
từ các n ớc
Năm 2000 Năm 2004
Nguồn: Số liệu vẽ đồ thị 8,9 từ Tổng cục Hải quan
Trang 37II.TRIỂN VỌNG VÀ THÁCH THỨC KHI TÙ DO HểA THƯƠNG MẠI NÔNG SẢN
TRiển vọng và thách thức khi tù do hóa thương mại nông sản
và ngày càng tăng, trong đó có một số dự án đầu tư vào nông nghiệp, sản xuấtnông sản tại Việt Nam và nhập khẩu về nước Khi chóng ta cải thiện được chấtlượng nông sản, nó sẽ mở ra triển vọng xuất khẩu nông sản của nước ta sang Nhật
2.1.2.Những thách thức khi mở rộng tự do hóa thương mại nông sản
Những thách thức khi mở rộng tự do hóa thương mại nông sản
Nhật Bản là nước bảo hộ nông nghiệp nội địa rất lớn, nhiều mặt hàng nông sản
áp dụng cụng cụ hạn ngạch - thuế quan Mức thuế suất đối với hàng hóa nôngsản rất cao, ví dụ gạo 358,8%, đậu đỗ 150,4%, đường thô 292,8%, cà phê chếbiến 164,1% (Xem biểu 3) Nhật Bản cũng là nước áp dụng chính sách bảo hộcao đối với ngành nông nghiệp và hàng nông sản sản xuất nội địa Tỷ lệ ápdụng các biện pháp Phi thuế quan của Nhật Bản theo đánh giá của UNCTAD
là 7,7% gấp gần 13 lần nước ta (Xem biểu 4) Để bảo hộ nền nông nghiệptruyền thống của mình, Nhật Bản đã xây dựng khung lý thuyết về nông nghiệp
đa chức năng với quan điểm là ngành nông nghiệp có nhiều chức năng Ngoàichức năng kinh tế tạo ra giá trị được thể hiện qua khối lượng sản phẩm với giátrị được đánh giá qua giá cả thị trường, nông nghiệp còn tạo ra các giá trị khác
37
Trang 38chưa được định giá bằng thương mại Chính vì vậy, cần đầu tư hỗ trợ để bảo vệcác giá trị đó và thực tế Nhật Bản đã hỗ trợ cho nông nghiệp trong nước rấtcao.
Yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa cao, vệ sinh ATTP yêu cầu ngặtnghèo
Đây là những thách thức mà nông nghiệp Việt Nam phải đối đầu khi muốn
mở rộng hơn nữa xuất khẩu nông sản của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản
Biểu 3: Mức thuế quan nhập khẩu hàng nông sản của các nước
Đơn vị: % Mặt hàng
Mức thuế suất thuế nhập khẩu
Trang 39su, lúa gạo, cánh kiến Những mặt hàng Ên Độ nhập khẩu từ nước ta chủ yếu là để
bổ xung vào nguồn xuất khẩu sang nước khác nh chè, hồ tiêu Có thể thông qua đódần dần các nước biết thêm về nông sản nước ta
39
Trang 40Các mặt hàng nhập khẩu chính là khô dầu các loại làm thức ăn chăn nuôi,lúa mì, tinh bột, dầu mỡ động thực vật, hạt điều thô, bánh kẹo, bột dinh dưỡng v.v.Trong đó, khô dầu và lúa mì luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất Hàng năm, nước tanhập khẩu từ Ên Độ từ 200 - 300 ngàn tấn khô dầu (chiếm 40 - 50% tổng lượngnhập khẩu cả nước), từ 100 - 200 ngàn tấn lúa mì (chiếm 20 - 40% tổng lượngnhập khẩu cả nước)
Trong những năm gần đây Ên Độ đổi mới cơ chế để thu hót mạnh mẽ vốnđầu tư của nước ngoài và khuyến khích các thương nhân Ên Độ đầu tư ra nướcngoài Việt Nam là một trong các nước được hưởng đầu tư FDI của Ên Độ, theo
Bộ Tài chính Ên Độ, Việt Nam là quốc gia xếp hàng thứ 11 trong danh sách cácnước tiếp nhận FDI của Ên Độ Chế biến lương thực, thực phẩm là lĩnh vực Ên Độ
có thế mạnh, nước ta có thể thu hót đầu tư FDI của bạn
2.2.2Những thách thức khi tù do hóa thương mại với Những thách thức khi
tù do hóa thương mại với Ên Độ
Ên Độ là một nước bảo hộ nông nghiệp rất cao, nhìn vào tỷ lệ áp dụng cáccông cụ phi thuế quan ở Ên Độ chiếm tới 42,24% điều đó có nghĩa là gần một nửanông sản được bảo hộ bằng các công cụ phi thuế Điều này, thực sự đã bóp méo giátrị thương mại của hàng hóa nông sản sản xuất từ trong nước Trong những năm tớitrong chương trình phát triển nông nghiệp của mình, Ên Độ tiếp tục hỗ trợ trực tiếpcho các hộ sản xuất nhỏ, càng làm gia tăng mức độ chênh lệch giữa giá trị thực vớigiá nông sản lưu thông trên thị trường
Về thuế nhập khẩu, Ên Độ thực hiện mức thuế quan cao đối với nhiều mặthàng nông sản nh gia cầm 58%, gạo 68%, đường tinh 100%, cà phê nhân 100%, càphê chế biến 58%, chè 81,25 %, dầu thực vật 91,25% Trong đó, có một số mặthàng nước ta có thế mạnh, sẽ bất lợi cho mở rộng xuất khẩu sang Ên Độ
Qua kinh nghiệm về Hiệp định giữa Ên Độ với Thái lan, hai nước đã thốngnhất ký kết Chương trình thu hoạch sớm, lộ trỡnh đưa ra cắt giảm 50% thuế nhậpkhẩu và năm sau đó tiếp tục cắt giảm 25%, tiến tới hạ thuế xuống 0% vào năm
2006 cho 82 mặt hàng nông sản Thái Lan và Ân Độ chưa nhất trí về danh mụchàng hóa nhạy cảm Ên Độ đưa ra danh mục 1000 mặt hàng nhạy cảm trên tổng số
5000 mặt hàng hai nước có quan hệ thương mại Trong khi đó Thái Lan chỉ đưa radanh mục 100 mặt hàng Điều đó càng khẳng định thêm Ên Độ vẫn tiếp tục thựchiện bảo hộ rất cao hàng hóa của mỡnh Đõy là vấn đề khó khăn cho các nướcmong muốn mở rộng tự do hóa thương mại với Ên Độ nh nước ta
Ên Độ có hạn chế là thãi quen can thiệp và kiểm soát sâu của chính phủ vàokinh tế Trong nông nghiệp, những năm tới chính phủ đưa ra chính sách hỗ trợ trựctiếp cho nông dân sản xuất nhỏ Điều đó đồng nghĩa với việc bảo hộ nông nghiệptrong nước Nh vậy Ên Độ mở cửa vừa phải, hạn chế nông sản các nước thâm nhập