Cuộc khủng hoảng tiền tệ châu á 1997 – 1998 nguyên nhân và ảnh hưởng
Trang 1KHOA TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
- -BÀI TẬP NHÓM
“ Cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á 1997 – 1998:
Nguyên nhân và ảnh hưởng ”
GVHD: Nguyễn Thiều Quang
Đà Nẵng, tháng 10 năm 2014
Trang 2Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 MỘT SỐ KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Một số loại khủng hoảng tài chính 2
2 CUỘC KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ CHÂU Á 1997-1998 3
2.1 Diễn biến 3
2.1.1 Thái Lan 3
2.1.2 Indonesia 3
2.1.3 Hàn Quốc 3
2.1.4 Philippines 4
2.1.5 Malaysia 4
2.1.6 Hong Kong 4
2.2 Nguyên nhân 5
2.2.1 Nền kinh tề vĩ mô yếu kém 5
2.2.2 Chế độ tỷ giá không phù hợp 6
2.2.3 Sự tăng lên của dòng vốn nước ngoài 7
2.2.4 Hoạt động tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt 10
2.3 Ảnh hưởng 10
2.3.1 Ảnh hưởng tới các nước trong khu vực 11
2.3.2 Ảnh hưởng tới các nước ngoài khu vực 13
2.3.3 Ảnh hưởng tới Việt Nam 13
2.4 Giải pháp 17
2.4.1 Tăng cường hợp tác trong khu vực 17
2.4.2 Cải cách khu vực tài chính 17
2.4.3 Huy động vốn hỗ trợ trong và ngoài nước 18
2.4.4 Đổi mới phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô 18
2.5 Bài học kinh nghiệm 19
2.5.1 Bài học kinh nghiệm cho thế giới 19
2.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 3DANH MỤC BẢNG BI
Biểu đồ 1: Vốn tư nhân nước ngoài chảy vào 5 nước Đông Á, 1990-1996 8Biểu đồ 2: Tỷ lệ % giá trị cho vay bất động sản và công nghiệp chế biến của các công ty tài chínhThái Lan trong tổng dư nợ (%) 9Biểu đồ 3: Mức thu nhập bình quân/người năm 1996 so với năm 2002 12Y
Bảng 1: Tăng trưởng xuất khẩu ở Đông Á (%) 6Bảng 2: Thâm hụt tài khoản vãng lai (%GDP) 6Bảng 3: Vốn tư nhân nước ngoài đầu tư vào năm nước Đông Á (Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia,Malaysia và Philippines) từ 1991 – 1996 7Bảng 4: Nợ tài chính của khu vực tư nhân so với GDP (%) 8Bảng 5: Nợ ngắn hạn vào quý II năm 1997 9Bảng 6: Vốn tư nhân nhân nước ngoài ở 5 nước Đông Á (Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia,Indonesia và Philippines), 1991-1996 10Bảng 7:Tình trạng thua lỗ và phá sản trong hệ thống tài chính (1/4/1997-31/3/1998) 11
Trang 4Vậy tại sao cuộc khủng hoảng này lại diễn ra? Nguyên nhân do đâu? Diến biến thếnào? Hậu quả ra sao? Những bài học kinh nghiệm và những giải pháp khắc phục, vượt quakhủng hoảng rút ra được? Để trả lời những câu hỏi trên, nhóm chúng tôi đã nghiên cứu kĩ
và trình bày đề tài theo các nội dung sau:
1 Diễn biến
2 Nguyên nhân
3 Ảnh hưởng
4 Giải pháp
5 Bài học kinh nghiệm
Do kiến thức và thời gian còn hạn chế nên không thể tránh khỏi sai sót, rất mongnhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn để bài tiểu luận hoàn chỉnh hơn
Trang 51 MỘT SỐ KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
1.1 Khái niệm
Khủng hoảng tài chính (Financial Crisis): Là sự mất khả năng thanh khoản của
các tập đoàn tài chính, dẫn tới sự sụp đổ và phá sản dây chuyền trong hệ thống tài chính
Khủng hoảng tài chính là khái niệm bao trùm được sử dụng chung cho mọi loạikhủng hoảng gắn với mất cân đối về tài chính và thường là gắn với nghĩa vụ phải thanhtoán nhiều hơn phương tiện dùng để thanh toán tại một thời điểm nào đó
1.2 Một số loại khủng hoảng tài chính
- Khủng hoảng ngân hàng (Banking Crisis): Khi khách hàng rút tiền ồ ạt khỏi ngân hàng,
vì ngân hàng cho vay phần lớn số tiền gửi nên điều này làm ngân hàng khó có khả năng thanhtoán hết các khoản nợ Sự rút tiền ồ ạt và lan rộng có thể dẫn tới sự phá sản của ngân hàng, gây rakhủng hoảng ngân hàng mang tính hệ thống hoặc sự tăng lên của lãi suất tín dụng Khủng hoảngtrở nên nghiêm trọng hơn khi ngân hàng đổ vốn cho vay vào các dự án rủi ro cao, không hiệuquả Kết quả là tỷ lệ nợ xấu tăng, ngân hàng mất vốn và rơi vào tình trạng phá sản
- Khủng hoảng tiền tệ (Currency Crisis):Đây còn được gọi là khủng hoảng tỉ giá hối đoáihay cán cân thanh toán nổ ra khi hoạt động “đầu cơ” tiền tệ dẫn đến sự giảm giá một cách độtngột của đồng nội tệ hoặc trường hợp buộc các cơ quan có trách nhiệm phải bảo vệ đồng tiền củanước mình bằng cách nâng cao lãi suất hay chi ra một khối lượng lớn ngoại hối Khủng hoảngtiền tệ thường gắn liền với một cuộc khủng hoảng kinh tế thực sự
- Khủng hoảng kép (Twin Crisis): Xảy ra khi khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảngtiền tệ đi liền với nhau, cái này dẫn đến cái kia
- Các khủng hoảng tài chính khác: Khủng hoảng thị trường chứng khoán (Crisis ofSecurity Market), Khủng hoảng nợ quốc gia (National Debt Crisis), Khủng hoảng ngân sách(Budget Crisis),…
Trang 62 CUỘC KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ CHÂU Á 1997-1998
2.1 Diễn biến
2.1.1 Thái Lan
Từ năm 1985 đến năm 1995, Thái Lan là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất, tốc
độ bình quân hàng năm là 9% Cuối năm 1996, báo cáo “Triển vọng kinh tế thế giới” của IMF đãcảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ đượclâu Cùng thời gian, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh, cả mức vốn hóathị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm
Ngày 14 và 15/5/1997, đồng Baht bị tấn công đầu cơ quy mô lớn Sau khi thả nổiđồng Baht ngày 2/7/1997, Baht lập tức mất giá gần 50%, nó đã xuống mức 56 Baht mớiđổi được 1 USD vào tháng 1/1998 Chỉ số thị trường chứng khoán tụt từ mức 1280 cuốinăm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997 Đồng thời, mức vốn hóa thị trường giảm từ141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD Finance One, công ty tài chính lớn nhất Thái Lan bịphá sản Ngày 11/8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ USD và thôngqua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ USD vào 20/8
2.1.2 Indonesia
Tháng 8/1997, đồng Rupiah bị giới đầu cơ tấn công, đến ngày 14, áp dụng chế độ tỷgiá thả nổi hoàn toàn, đồng Rupiah liên tục mất giá Tháng 9, cả giá Rupiah lẫn chỉ số thịtrường chứng khoán đều giảm xuống mức thấp lịch sử Trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoáigiữa Rupiah và USD khoảng 2000USD/IDR, nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, tỷ giáđãlên đến 18000USD/IDR
Rupia mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các công ty Indonesia, đặc biệt
là khoản mục nợ ngân hàng nước ngoài tăng lên Do đó, nhiều công ty đẩy mạnh muaUSD vào, bán Rupia ra, khiến nội tệ thêm mất giá và tỷ lệ lạm phát tăng vọt Lạm phátkèm chính sách tài chính thắt chặt khiến chính phủ phải bỏ trợ giá lương thực và xăng, làmgiá 2 mặt hàng này tăng lên Tình trạng bạo động để tranh giành mua hàng bùng phát,riêng ở Jakarta đã có 500 người chết do bạo động.Do thay đổi tỷ giá hối đoái và do nhiềunhân tố khác, GDP theo Dollar Mỹ của Indonesia đã giảm đi
2.1.3 Hàn Quốc
Đầu tháng 11/1997, các nhà đầu tư bắt đầu bán chứng khoán hàn quốc với quy môlớn Ngày 28/11/1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ
Trang 7A1 xuống A3, ngày 11/12/1997 lại hạ tiếp xuống B2 Điều này góp phần làm giá chứngkhoán Hàn Quốc thêm giảm giá
Ngày 3/11/1997 tỷ giá Won/USD là 966,2 đến ngày 10/12/1997 tăng lên là 1450.Đồng Won mất giá liên tục, sự mất giá nhanh chóng của đồng Won đã buộc ngân hàngtrung ương Hàn Quốc công bố thả nổi đồng Won Đồng thời có sự cải thiện trong cán cânthanh toán, mức thặng dư tháng 11/1997 là 600 triệu USD, so với mức thâm hụt của cùng
kỳ năm trước là 2,07 tỷ giá USD
2.1.4 Philippines
Cuối tháng 6 đầu tháng 7/1997, từ những khó khăn nội tại của nền kinh tế nhất làviệc thâm hụt lớn trong cán cân vãng lai (13% GDP) và tác động khủng hoảng từ TháiLan, Ngân hàng trung ương Philippin đã bỏ ra khoảng 2 tỷ USD để bảo vệ đồng Peso
Ngày 1/7/1997 Ngân hàng trung ương Philippin đã công bố nới rộng biên độ giaođộng tỷ giá đồng Peso với đồng USD mà thực chất là sự phá giá đồng tiền không chínhthức như ở Thái Lan Dự trữ ngoại tệ của Philippin vào tháng 4/1997 chỉ có ở mức 13,6 tỷUSD Đây quả là ít ỏi để bảo vệ đồng Peso => đồng Peso mất giá
2.1.6 Hong Kong
Tháng 10/1997, Dollar Hong Kong bị tấn công đầu cơ Cơ quan Tiền tệ Hong Kong
đã chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình Từ ngày 20/10 đến 23/10, Chỉ số HangSeng đã giảm 23% Ngày 15/8/1998, Hong Kong nâng lãi suất cho vay qua đêm từ 8% lên23% và ngay lập tức nâng vọt lên 50% Đồng thời, Cơ quan Tiền tệ Hong Kong đã tuyênchiến với giới đầu cơ, bắt đầu mua vào các loại cổ phiếu thành phần của Chỉ số Hang Seng
để giảm áp lực giảm giá cổ phiếu Chính quyền đã mua vào khoảng 120 tỷ Dollar HongKong các loại chứng khoán
Trang 8Cuộc khủng hoảng này đã ngừng lại vào tháng 9/1998 Tỷ giá giữa Dollar HongKong và Dollar Mỹ vẫn được bảo toàn ở mức 7,8 USD/HKD.
2.2 Nguyên nhân
2.2.1 Nền kinh tề vĩ mô yếu kém
Thái Lan và một số nước Đông Á đã cố gắng thực hiện Bộ ba chính sách không thểđồng thời Họ vừa cố định giá trị đồng tiền của mình vào Đô la Mỹ, vừa cho phép tự dolưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoản vốn) Kinh tế Đông Á tăng trưởng nhanh trong thậpniên 1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ Để bảo vệ tỷ giá cốđịnh, các ngân hàng trung ương Đông Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Kết quả
là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đãđược áp dụng để chống lạm phát, vô hình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nềnkinh tế
Hệ thống ngân hàng - tài chính yếu kém:
Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ ở các nước Đông Á đã dẫn đến một lượng nợlòng vòng khổng lồ mà không kịp phát hiện kịp thời Các nước có thị trường tiền tệ khủnghoảng đều có mức nhập siêu quá lớn, trong khi tỷ lệ dự trữ ngoại tệ trên nợ nước ngoài quáthấp Trong năm 1996, tỷ lệ này của Hàn Quốc là 31%, Indonesia chỉ khoảng 12%, TháiLan là 43,1%,…
Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng do các nguyên nhân chủ yếu sau:
các ngân hàng và các công ty tài chính nhằm hướng các hoạt động ngân hàng vào hỗ trợ chochính sách phát triển kinh tế Khi các ngân hàng cho vay theo chỉ đạo của chính phủ thì luôn tồntại một tâm lý ỷ lại, giả định ngầm rằng chính phủ sẽ bảo lãnh và cứu giúp nếu khoản vay đókhông được đòi Điều này dẫn đến cơ chế giám sát, quy định về hoạt động thận trọng được coinhẹ, việc quản lý tín dụng lỏng lẻo và mở rộng quá mức khiến cho hiệu quả kinh tế thấp
hiện đại hóa các hoạt động nghiệp vụ của mình và phụ thuộc rất lớn vào sự trợ giúp của chínhphủ
Sự yếu kém trong hoạt động của hệ thống ngân hàng – tài chính thể hiệntrước hết trong việc quản lý và cấp tín dụng trong nước được coi là kém hiệu quả và khôngchặt chẽ, tốc độ cho vay vượt quá tốc độ tăng tiền gửi
Trang 9Bên cạnh đó, lượng lớn vốn tín dụng được đầu tư vào lĩnh vực đòi hỏi vốnlớn nhưng chu kỳ vốn chậm là bất động sản và đầu tư chứng khoán, các khoản tín dụngnày do nhiều lý do đã không được đảm bảo Vì vậy, khi nền kinh tế bị đình đốn, xuất khẩugiảm sút làm cho các doanh nghiệp vay vốn không có khả năng hoàn trả, các tổ chức ngânhàng đến bờ vực phá sản.
Ngoài ra, các ngân hàng còn chậm trễ trong việc đưa ra giải pháp đối phó vớitình trạng di chuyển vốn ngoại tệ một cách khá tự do Chính sách quản lý ngoại hối lỏnglẻo tạo điều kiện cho sự chuyển đổi dễ dàng giữa đồng bản tệ và ngoại tệ, dẫn đến khôngkiểm soát được sự rời đi của các dòng vốn do sự bán tháo đồng nội tệ đổi lấy USD khixuất hiện các dấu hiệu bất ổn trên thị trường tiền tệ
Mất cân đối vĩ mô:
Năm 1996, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước Đông Á bắt đầu chững lại, tăngtrưởng trong xuất khẩu của Đông Nam Á giảm xuống một cách nhanh chóng làm cho tàikhoản vãng lai bị suy yếu, nguyên nhân bao gồm: (i) Tăng trưởng thương mại toàn cầu suygiảm (ii) Đồng yên mất giá (iii) Tỷ giá hối đoái thực hiện hiệu dụng của các nước Đông
Á lên giá (iv) Lượng cầu và giá của các mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là điện tử suy giảm
Bảng 1: Tăng trưởng xuất khẩu ở Đông Á (%).
Nguồn: NHTG, “East Asia – The Road to Recoverty”, 1998.
Điển hình như ở Thái Lan, thâm hụt tài khoản vãng lai ở nước này vào 1996 lên đến8% GDP, trong khi con số của 4 nước còn lại khoảng 3,4-4,8%
Bảng 2: Thâm hụt tài khoản vãng lai (%GDP)
Trang 10Nguồn: NHTG, “Chỉ số phát triển thế giới năm 2002”.
2.2.2 Chế độ tỷ giá không phù hợp
Nếu yếu kém vĩ mô là những nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng thì cácchính sách “neo giá” giữa các đồng tiền khu vực với đồng USD, tạo nên một hệ thống tỷgiá khiên cưỡng là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc phá giá hàng loạt các đồng tiền khuvực
Mặc dù khởi phát từ việc cố định đồng Baht Thái Lan dẫn đến hiệu ứng lan tỏa sangcác đồng Peso, Ringgit và Rupiah,… nhưng thực tế, các đồng nội tệ này đã bị giảm giátrước xu hướng ngày càng tăng của đồng USD Việc duy trì tỷ giá hối đoái cố định mộtcách cứng nhắc theo USD của Thái Lan và các nước Đông Nam Á mà nền kinh tế có dấuhiệu chững lại hoặc đi xuống, trong khi nền kinh tế của Mỹ đang phát triển đã khiến chocác nước này thay vì thực hiện chính sách thả nổi đồng nội tệ, trả lại giá đích thực của nólại phải tiêu tốn hàng chục tỷ USD để cố gắng duy trì mức cân bằng giả tạo tới mức khôngthể kiềm giữ được nữa Đặc biệt là Thái Lan, việc 13 năm liền Chính phủ Thái Lan duy trì
tỷ giá cố định giữa đồng Baht và USD (khoảng 25 Baht/1USD) là hết sức phi kinh tế, bởitrong khoảng thời gian này, các quá trình kinh tế thế giới và khu vực diễn ra rất mạnh mẽ,đồng Đô la Mỹ ngày càng mạnh lên, đồng Baht yếu dần, cho đến trước thời điểm xảy rakhủng hoảng, đồng Baht đã giảm xuống còn 30,27 Baht/1USD Lợi dụng điều này, cácnhà đầu tư đã nâng cầu USD lên 100 lần so với bình thường và đẩy tỷ giá vượt xa tỷ giáthực Kết quả đồng Baht bị bẻ gãy
2.2.3 Sự tăng lên của dòng vốn nước ngoài
Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bảnđầu thập niên 1990 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nên cao quá mức Các nhàđầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sản củamình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Trong khi đó, các nước châu Á lại thựchiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn theo hướng khuyến khích dòng vốn nước ngoàingắn hạn Ví dụ như chính sách của Hàn Quốc là hạn chế đầu tư nước ngoài dài hạn dướidạng FDI hay đầu tư chứng khoán, trong khi chỉ cho phép các ngân hàng vay ngắn hạnnước ngoài Tỷ giá hối đoái cố định mà nhiều chính phủ Đông Á duy trì cũng là yếu tốkhuyến khích dòng vốn nước ngoài do rủi ro tỷ giá được loại bỏ Lãi suất ở các nước châu
Trang 11Á cao hơn ở các nước phát triển Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào cácnước châu Á.
Từ năm 1994 đến 1997, lượng vốn tư nhân chảy vào các nước đang phát triển tăng
5 lần từ 42 tỷ USD lên 256 tỷ USD Đông Á là nơi thu hút một lượng lớn dòng vốn này,chiếm khoảng 60% trong nửa đầu thập niên 1990 (theo NHTG 1998)
Bảng 3: Vốn tư nhân nước ngoài đầu tư vào năm nước Đông Á (Hàn Quốc, Thái Lan,
Indonesia, Malaysia và Philippines) từ 1991 – 1996.
(ĐVT: Tỷ USD)
Nguồn: NHTG, “World Economic Outlook”, 5/1998 và 3/2000.
Biểu đồ 1: Vốn tư nhân nước ngoài chảy vào 5 nước Đông Á, 1990-1996.
Nguồn: Tính toán từ NHTG – World Development Indicator 2002.
Mặt khác, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm của chínhphủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu Á bất chấp mạo hiểm
để đi vay ngân hàng, trong khi các ngân hàng bất chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài màphần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro
Dòng vốn nước ngoài đã tạo nên sự bùng nổ tín dụng trong khu vực Trong thậpniên 1990, tín dụng ngân hàng cấp cho khu vực tư nhân tăng lên nhanh chóng Từ cuốinăm 1996, tổng giá trị nợ tài chính của khu vực tư nhân trên GDP lên tới 140% ở Hàn
Trang 12Quốc và Thái Lan Mức cung tiền M2 ở Hàn Quốc, Thái Lan, Phillippines, Malaysia vàIndonesia tăng gần 20%/năm trong năm 1996 và 1997.
Bảng 4: Nợ tài chính của khu vực tư nhân so với GDP (%)
Điểm đáng lưu ý nữa là hầu hết các khoản vay nước ngoài ngắn hạn đượcđầu tư dài hạn Nợ ngắn hạn nước ngoài luôn luôn lớn hơn so với dự trữ ngoại tệ của cácnước Đông Á vào thời điểm trước khi xảy ra khủng hoảng, có nghĩa là trong ngắn hạn nềnkinh tế sẽ không có khả năng chi trả Chỉ có 2 nước Malaysia và Phillipines trong số 5nước bị khủng hoảng có nợ ngắn hạn thấp hơn dự trữ ngoại tệ
Bảng 5: Nợ ngắn hạn vào quý II năm 1997
Nguồn: ADB, “Asian Development Outlook”, 1999.
Một tỷ trọng lớn cho vay của ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàngđược tập trung vào khu vực bất động sản Ở Indonesia, các khoản vay khu vực bất độngsản tăng 37%/ năm trong giai đoạn 1992-1995 (tổng tín dụng ngân hàng chỉ tăng22%/năm) Ở Thái Lan, các
khoản cho vay bất động sản
tăng 41%/năm trong giai
đoạn 1990-1995 (tổng tín
dụng chỉ tăng 33%/năm) Ở
Trang 13Hàn Quốc, các khoản cho vay của ngân hàng tập trung chủ yếu vào các tập đoàn lớn Tỷ lệnợ/vốn cổ phần của các doanh nghiệp công nghiệp Hàn Quốc lên tới 317% vào cuối 1996(trong khi ở Mỹ là khoảng 100%)
Biểu đồ 2: Tỷ lệ % giá trị cho vay bất động sản và công nghiệp chế biến của các công ty tài chính Thái Lan trong tổng dư nợ (%).
Nguồn: Marcus Miller and Pongsak Luangaram (1998).
2.2.4 Hoạt động tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt
Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tiền tệ Châu Á năm 1997 là những cuộc tấncông đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á Khi phát hiện những dấu hiệusuy thoái của hệ thống ngân hàng – tài chính khu vực, nhiều nhà đầu cơ nước ngoài đãtăng cường hoạt động đầu cơ tiền tệ
Theo thống kê, nhiều nhà đầu cơ trong tổng số 2300 quỹ tín dụng tư nhân ở Mỹ, vớitài sản trên 100 tỷ USD đã nhảy vào thị trường khu vực này trong tháng 7 và 8/1997.Ngoài các quỹ do Soros kiểm soát còn có các quỹ tín dụng lớn như Tiger, Orbis, Pumas,Panther và Jaguar Họ mua đồng Baht, Peso, Ringgit, Rupiah, SGD ước tính 10-15 tỷ USD
để đầu cơ, dự trữ ngoại hối nhà nước cạn kiệt càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài
Cuối cùng thì thị trường bất động sản của Thái Lan đổ vỡ Một số thể chế tài chính
bị phá sản Người ta không còn tin rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cốđịnh Khi phát hiện những điểm yếu nghiêm trọng trong nền kinh tế các nước châu Á, một
số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á Các nhà đầu tư nước ngoàiđồng loạt rút vốn ra
Đông Á rơi vào tình trạng các nhà đầu tư không còn tin rằng dự trữ ngoại tệ đủ đểtrả nợ ngắn hạn Cả các nhà đầu tư nước ngoài lẫn trong nước đều muốn chuyển vốn ra.Ngân hàng đòi lại vốn cho vay, từ chối đảo nợ và ngưng cho vay mới; còn các nhà đầu tưchứng khoán thì bán chứng khoán, đổi ra ngoại tệ và chuyển ra ngoài Riêng trong năm
1997, hơn 20 tỷ USD ròng được đưa ra khỏi 5 nước Đông Á bị khủng hoảng, trong khitrong năm 1996 vẫn còn nhận được gần 66 tỷ USD (Bảng dưới)
Bảng 6: Vốn tư nhân nhân nước ngoài ở 5 nước Đông Á (Hàn Quốc, Thái
Lan, Malaysia, Indonesia và Philippines), 1991-1996
ĐVT: Tỷ USD