1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Trung Quốc.

21 832 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Trung Quốc
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 261 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Trung Quốc.

Trang 1

Lời mở đ ầu .

Hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hoá thương mại vừa là cơ hội, vừa làthách thức cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang ởthời kỳ đầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá như Việt Nam Vấn đề là phảikhai thác những yếu tố môi trường thuận lợi để lựa chọn một mô hình tăngtrưởng kinh tế dựa vào thúc đẩy xuất khẩu phù hợp nhất nhằm khai thác nộilực và tận dụng triệt để những ngoại lực Phát triển thị trường xuất khẩuhàng hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược xuất khẩu hànghóa cùa Việt Nam Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tếhiện nay, đối với từng quốc gia thì vấn đề xuất khẩu hàng hóa đang phảichịu sức ép cạnh tranh ngày càng lớn Vì vậy làm thế nào để phát triểnđược thị trường xuất khẩu hàng hóa trong xu thế thương mại hóa toàn cầungày càng trở nên cấp thiết Đẩy mạnh xuất khẩu là hoạt động không thểthiếu được đối với mỗi quốc gia Xuất khẩu tạo cơ hội cho nền kinh tế tăngtrưởng và phát triển Nhận thức được vai trò to lớn đó của xuất khẩu hànghoá trong việc phát triển kinh tế, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến

mở rộng quan hệ thương mại với các nước Từ nhiều năm nay Đảng ta chủtrương “làm bạn với tất cả các nước”, tăng cường hợp tác kinh tế - thươngmại với tất cả các quốc gia ở mọi Châu lục, đặc biệt những nước láng giềngvới Việt Nam Thực hiện chủ trương trên, hơn 10 năm qua Việt Nam đãkhông ngừng đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá sang Trung Quốc Để thúc đẩyhoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc và nâng caohơn nữa hiệu quả của hoạt động thương mại giữa hai nước Trên thực tế,với kim ngạch xuất khẩu liên tục vượt xa dự kiến trong những năm gầnđây, năm 2005 Trung Quốc đã lần thứ hai vượt qua tất cả đối tác để trởthành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam Hơn thế, trong bối cảnhngười khổng lồ này sẽ còn tiếp tục giữ vai trò nguồn động lực lớn thúc đẩyhoạt động xuất khẩu của nước ta

Trang 2

I Đặc điểm và nhu cầu nhập khẩu của thị trường Trung Quốc.

1 Đặc điểm thị trường Trung Quốc.

Trung Quốc là nước phát triển lớn trên thế giới với dân số 1,3 tỷngười - một lợi thế trội hơn nhiều quốc gia và khu vực khác về nguồn nhânlực.Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng là vùng đất tương đối giàu có về tàinguyên thiên nhiên, tạo thêm tiềm năng vật chất cho công cuộc xây dựngkinh tế Với diện tích 9,6 triệu km2, chiếm 7% diện tích đất trên thế giới,chiều dài bờ biển 1,8 triệu km2, là nhân tố có ý nghĩa chiến lược và thuậnlợi trong công cuộc xây dựng kinh tế, mở rộng giao lưu quốc tế, và cũng làquốc gia có nguồn lao động dồi dào Thêm vào đó Trung Quốc lại nằm ởtrung tâm Đông Bắc Á rất thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán hàng hóa.Với nhiều chính sách thương mại quốc tế ưu đãi cho các nước đối tác Đặcbiệt, ngày 11-11-2001 Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của tổchức Thương mại thế giới WTO, từ đây mở ra một thời kỳ mới cho TrungQuốc, Trung Quốc sẽ được hưởng những chính sách ưu đãi trong hoạt độngthương mại với các nước thành viên WTO theo quy định đã được xác định.Đồng thời , Trung Quốc cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt mọi quy địnhtrong quan hệ thương mại với các nước đã xác lập để Trung Quốc trở thànhthành viên Thêm vào đó , Trung Quốc sẽ phải cắt giảm hang loạt nhiều thứthuế, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam có thể thâm nhập đượcvào thị trường Trung Quốc

Có thể nói xét về mặt hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Trung Quốchiện vẫn đang nổi lên là một thị trường tiêu thụ hàng hóa đầu tư hấp dẫn.Trong những năm qua, Trung Quốc luôn có tốc độ tăng trưởng cao Năm

2004 tổng sản phẩm quốc nội tăng 9%, các khoản thu của Trung Quốc đạthơn 2600 tỷ NDT, tăng 20% Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch

vụ xã hội đạt trên 5400 tỷ NDT tăng 13% Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu

Trang 3

đạt kỷ lục hơn 1000 tỷ USD Thu nhập bình quân đầu người của TrungQuốc năm 2003 là 1200 USD.

Sau cải cách, mở cửa đất nước này đã không ngừng nâng cao trình

độ trong việc tham gia vào phân công lao động quốc tế và vị thế trong hệthống kinh tế thế giới nhờ thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài Đây là một

ưu thế nổi trội của Trung Quốc trong những năm gần đây Trong năm 2003kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc đạt 851,2 tỷ USD vươn lênđứng thứ 3 thế giới, sau Mỹ và Đức Trong một thời gian dài Trung Quốc

là nước thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn thứ 2 thế giới, sau Mỹ và đứngđầu các nước đang phát triển Với số dự trữ ngoại tệ lớn 711 tỷ USD vàocuối tháng 6 năm 2005, một trong những nước dự trữ ngoại tệ lớn nhất thếgiới, Trung Quốc có điều kiện thuận lợi hơn để ứng phó với những bất trắc

có thể xảy ra trên thị trường quốc tế

Những tiềm năng và lợi thế nói trên là nhân tố thuận lợi giúp TrungQuốc giành được nhiều thành tựu rực rỡ trên con đường xây dựng nền kinh

tế phồn vinh và hiện đại Và đương nhiên, sự lớn mạnh kinh tế sẽ góp phầnquan trọng nâng cao vai trò vị thế của Trung Quốc trong các mối quan hệquốc tế và khu vực

2.Nhu cầu nhập khẩu của thị trường Trung Quốc.

Nhu cầu về hàng hoá của Trung Quốc tương đối lớn, cơ cấu hànghóa sản phẩm của Trung Quốc tương đối giống các mặt hàng của ViệtNam Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của Trung Quốc chủ yếu là khoáng sản,cao su, nông sản, bong Mức độ đồng đều của thị trường Trung Quốckhông cao Có những khu vực thu nhập cao đòi hỏi chất lượng hàng hóacũng phải cao và chủng loại hàng hóa phải đa dạng nhưng cũng có nhữngkhu vực thì ngược lại thu nhập thấp nên nhu cầu hàng hoá không lớn lắm

và cơ cấu hàng hóa chủ yếu ở khu vực này tương đối đơn giản

Theo số liệu thống kê của Hải quan Trung Quốc, năm 2004 tổng kimngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc đạt 1154,74 tỷ USD, tăng 35,7% so

Trang 4

với năm trước, trong đó nhập khẩu đạt 561,38 tỷ, tăng 36%.Với kết quả nàyTrung Quốc là nước có giá trị ngoại thương lớn thứ ba trên thế giới Từtháng 1 đến tháng 6 năm 2005, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của TrungQuốc là 645,03 tỷ USD tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước Trong đókim ngạch nhập khẩu đạt 302,69 tỷ USD, tăng 14%.

3.Cơ cấu xuất khẩu các sản phẩm chủ lực của Việt Nam giai đoạn vừa qua.

3.1 Kim ngạch và cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam

Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng mạnh qua các năm Với chínhsách phát triển nền kinh tế mở, hàng hoá Việt Nam không còn xa lạ vớingười tiêu dùng trên thế giới Trong những năm qua kim ngạch xuất nhậpkhẩu của Việt Nam không ngừng tăng nhanh Kim ngạch xuất khẩu tínhtrên đầu người năm 2001 đạt gần 200 USD/người, năm 2004 đạt 323 USD/người và năm 2005 đạt 388 USD/ người Về chỉ số kim ngạch xuất khẩubình quân đầu người, Việt Nam năm 2005 đứng thứ 5 trong các nướcthuộc khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 11 ở Châu Á và đứng thứ 84 trênthế giới Đặc biệt trong điều kiện cụ thể của nước ta, tăng kim ngạch xuấtkhẩu có ý nghĩa to lớn trong việc tạo nguồn ngoại tệ để phục vụ cho cácnhu cầu đầu tư phát triển đang đặt ra rất bức xúc

Mặt hàng xuất khẩu đa dạng và xuất nhiều mặt hàng xuất khẩu đạtkim ngạch trên 1 tỷ USD Nhìn chung tất cả các mặt hàng đã tham gia xuấtkhẩu đều có số lượng xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước, đồng thời xuấthiện một số mặt hàng mới Trong một số mặt hàng chủ lực đã có 7 mặthàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD/năm là giày dép , dệt may,dầu thô, thuỷ sản, hàng điện tử, sản phẩm gỗ,gạo vào năm 2005 Tuy nhiên,

sự giảm giá một số mặt hàng nông sản của Việt Nam trên thị trường thếgiới và các vụ kiện về bán phá giá đã làm cho kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam bị ảnh hưởng đáng kể Cơ cấu hàng xuất khẩu đã có sự thay đổitích cực Cơ cấu hàng xuất khẩu đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng

Trang 5

của hàng công nghiệp, dịch vụ , hàng chế biến, giảm tỷ trọng hàng xuấtkhẩu thô sơ chế biến, nguyên liệu, khoáng sản Hàng nguyên liệu thô đếnnay chỉ chiếm khoảng 60% tổng kim ngạch xuất khẩu Hàng chế biến vàchế tạo năm 1997 chiếm 40%so với tổng kim ngạch xuất khẩu, năm 2000

tỷ lệ này là 56% và năm 2005 là 68% Cơ cấu nhóm hàng nông lâm thuỷsản năm 1997 chiếm 41% năm 2004 còn 17,17%, năm 2005 là 21,1 %,nhóm hàng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp năm 1997 64,74%, năm

Nguồn báo cáo của Bộ Thương mại

3.2 Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.

Trong đó thị trường Trung Quốc là một thị trường rộng lớn nhưng cósức cạnh tranh lớn, mà cạnh tranh trên thị trường Trung Quốc chủ yếu làcạnh tranh về giá cả.Tuy nhiên ở một số khu vực có thu nhập cao thì chủ

Trang 6

yếu lại cạnh tranh về dịch vụ, chất lượng còn cạnh tranh về giá đãgiảm.Chẳng hạn như hang giày dép Biti’s xuất khẩu sang thị trường TrungQuốc giá cao nhưng vẫn bán được Trên cơ sở lợi thế cạnh tranh của mìnhViệt Nam có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cácchủng loại sản phẩm có lợi thế cạnh tranh như: sản phẩm cao su chế biếndạng thành phẩm cuối cùng( săm lốp ô tô, xe máy, cao su y tế, đồ nhựa dândụng), rau quả và hoa, thực phẩm chế biến , hải sản, khoáng sản…Hơn 100nhóm hàng và mặt hàng khác nhau của Việt Nam xuất khẩu sang thị trườngTrung Quốc

Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc

- Nhóm nguyên liệu: than đá, dầu thô, quặng các loại, các loại dầuthực vật, cao su tự nhiên

- Nhóm nông sản: gạo , chè, rau , sắn lát, hạt điều, lạc nhân , các loạihoa quả nhiệt đới như chuối, soài , thanh long, chôm chôm, vải, nhãn…

- Thuỷ sản(tươi sống): tôm, cá, baba, mực

- Hàng tiêu dùng: hàng thủ công mỹ nghệ, giày dép, đồ gia dụng caocấp

- Hàng công nghiệp: linh kiện vi tính

- Hàng công nghệ phẩm: xà phòng, hàng dệt may, giày dép, điên tử.Dầu thô vẫn là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, chiếm55% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoácủaViệt Nam sang Trung Quốc.Theo đánh giá của các chuyên gia, với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, nhucầu nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc khoảng 40- 50 triệu tấn/năm, cộngvới yếu tố giá cả của mặt hàng này trên thị trường thế giới trong thời giantới vẫn sẽ có lợi cho xuất khẩu

Nhìn chung cơ cầu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường TrungQuốc đã có những thay đổi đáng kể Tỷ trọng hàng hóa đã qua chế biến vàhàng công nghiệp tiêu dùng tăng cao, nhiều mặt hàng của Việt Nam đãkhẳng định được thị phần và sức cạnh tranh của mình trên thị trường TrungQuốc

Trang 7

4 Đánh giá tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc.

4.1 Mặt tích cực.

Trên thực tế, với tổng kim ngạch buôn bán hai chiều liên tục vượt xa

dự kiến trong những năm gần đây, năm 2005 Trung Quốc đã lần thứ haivươt qua tất cả để trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam Hơnthế, trong bối cảnh người khổng lồ này sẽ còn tiếp tục giữ vai trò nguồnđộng lực thúc đẩy thương mại toàn cầu phát triển trong những năm tới,dường như có thể hy vọng đây sẽ là nguồn động lực thúc đẩy hoạt độngxuất khẩu của nước ta

Thị trường Trung Quốc là thị trường tiềm năng không chỉ của ViệtNam mà còn là của thế giới Trung Quốc là thị trường có sức tiêu thụ rộnglớn Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 334,6 triệu USD, sốtuyệt đối tăng 86% so với năm 2001 Điều đáng mừng đối với nước ta làkim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đã tăng hết sức ngoạn mục56,51% trong năm 2004, đã nhảy vọt qua ngưỡng 2 tỷ USD rất xa và đạttrên 2,7 tỷ USD, còn trong năm 2005 tuy chỉ tăng khiêm tốn ở mức 8,24% ,nhưng cũng đã gần đạt ngưỡng 3 tỷ USD Rõ rang với đà này, việc TrungQuốc có thể thay thế Nhật Bản trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 củaViệt Nam trong tương lai là điều có thể xảy ra Vì thế Việt Nam cần cóchính sách đúng đắn, thoả đáng đối với thị trường này, khai thác triệt đểcác yếu tố thuận lợi như : vừa to lớn , vừa dễ tính, vừa thuận tiện trong cácphương tiện như : đường bộ, đường thủy, hàng không, đường sắt

Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong những năm tiến hànhđổi mới đã có sự thay đổi đáng kể Ngoài những mặt hàng truyền thốngnhư : than đá, dầu thô, một số sản phẩm nhiệt đới như : cà phê, hồ tiêu,trong những năm gần đây hàng xuất khẩu của Việt Nam có thêm một sốloại mới tiêu biểu là lúa , gạo sau đó phải kể đến các loại hàng hóa thuỷ hảisản, nông sản,một vài sản phẩm khai khoáng(quặng, kim loại) Trong vài

Trang 8

năm gần đây, sản lượng và giá trị xuất khẩu của mặt hàng này một tăng.Năm 2003 đạt kim ngạch 2,3 tỷ USD và có triển vọng đạt kim ngạch ngàycàng cao hơn Ngành thuỷ sản của Việt Nam đã được trang bị kỹ thuật chếbiến tiên tiến, có môi trường nuôi trồng ngày càng cải thiện theo tiêuchuẩn.

Xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Quốc trong bối cảnh hainước có rất nhiều thuận lợi để đẩy mạnh xuất khẩu vì Việt Nam và TrungQuốc, núi liền núi, sông liền sông, có đường biên giới chung trên đất liền,

là hai nước láng giềng, gần gũi, có nhiều điểm tương đồng về văn hoá, gầnnhau về lãnh thổ.Việt Nam có chung biên giới với Trung Quốc dài 1350

km trải dài từ Đông sang Tây qua 6 tỉnh vùng cao phía Bắc của Việt Nam

và 2 tỉnh của Trung Quốc là Quảng Tây và Vân Nam Điều này thuận lợicho việc vận chuyển hàng hóa sang thị trường Trung Quốc.Kể từ khi chínhphủ 2 nước thực hiện chính sách mở cửa biên giới các tỉnh này được đô thịhoá rất nhanh và từng bước trở thành nơi trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữaViệt Nam và Trung Quốc Bên cạnh đó, nhiều ngành của Trung Quốc sửdụng một khối lượng lớn than đá mà Việt Nam lại có những mỏ than tươngđối lớn ở Quảng Ninh sát biên giới với Trung Quốc nên việc vận chuyểntương đối dễ dàng Tuy nhiên các khu vực và các tỉnh của Trung Quốc pháttriển không đồng đều, nhu cầu tiêu dùng mang tính đa dạng cao

Trung Quốc đã có nhiều chính sách thương mại nhằm thúc đẩy quan

hệ hợp tác về kinh tế đối với Việt Nam Trung Quốc đã chuyển từ chínhsách mậu biên tiểu ngạch sang chính ngạch đối với Việt Nam Hiện naychỉ còn Vân Nam được hưởng chính sách tiểu ngạch Phát triển mậu dịchtrên thị trường khu vực biên giới được coi là bước đi có tính chất mởđường cho chiến lược mở cửa ven biên giới đất liền Do sự khác biệt vềchính sách phát triển kinh tế- xã hội giữa Việt Nam và Trung Quốc nênhoạt động hàng hoá trên thị trường khu vực vừa có tính đa dạng, vừa mangtính đặc thù Chính sự đa dạng luôn đi cùng với tính đặc thù nêu trên nên

Trang 9

hoạt động thương mại Việt – Trung cũng tồn tại và phát triển dưới các hìnhthức trao đổi khá phong phú Đây là cơ sở để phát triển theo hướng vừahợp tác, vừa bổ xung và hỗ trợ cho nhau để cùng phát triển.

Việt Nam và Trung Quốc hiện nay đều trở thành thành viên củaWTO nên phải tuân thủ những quy định của tổ chức, đồng thời Trung Quốccũng sẽ giành cho Việt Nam những chính sách ưu đăi cho một thành viênmới của một gia đình lớn Trở thành một thành viên của tổ chức lớn nhấthành tinh là một thuận lợi rất lớn cho Việt Nam Lộ trình cắt giảm thuế chocác hàng hoá sẽ được thực hiện và Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi hơntrong việc xuất khẩu hàng hóa ra thị trường nước ngoài

Việc ký kết hiệp định thương mại hàng hóa và hiệp định cơ chế giảiquyết tranh chấp đã tạo tiền đề cho quá trình hợp tác toàn diện giữa TrungQuốc và ASEAN Hai bên nhất trí về chương trình Thu hoạch sớm ngày 1-1-2006 mỗi bên đã cung cấp danh mục 500 mặt hàng được giảm thuế từ 0-5% Tạo điệu kiện thuận lợi lớn cho các mặt hàng của Việt Nam có thểcạnh tranh được với hàng hoá của các nước khác trên thị trường TrungQuốc Sự kiện ảnh hưởng mạnh và trực tiếp hơn đến xuất khẩu hàng hóavào Trung Quốc, ngày 4-11-2002 Hiệp định khung về khu vực thương mại

tự do ASEAN- Trung Quốc(AC FTA) được ký kết, mở đường cho xâydựng khu vực mậu dịch tự do AC FTA Với hai điểm quan trọng tronghiêp định khung là:

- T ừ tháng 1 năm 2004, giữa Trung Quốc và các nước ASEAN đãbắt đầu thực hiện chương trình “thu hoạch sớm” EHP, giảm thuế nhập khẩuđối với sản phẩm nông nghiệp, việc này cũng có tác động rất lớn đến mậudịch nông sản phẩm nói riêng, mậu dịch biên giới giữa hai nước nói chung

- Điều khoản quy định Trung Qu c giốc gi ành cho các nư c ASEANớc ASEANchưa phải là thành viên của WTO được hưởng ngay lập tức và đầy đủ MFNtheo các tiêu chuẩn của WTO cũng có tác động tích cực đến thuế quanthương mại Việt –Trung

Trang 10

Nông sản phẩm của Việt Nam khi xuất khẩu sang Trung Quốc đượchưởng chính sách giảm toàn bộ thuế nhập khẩu, từ đó sẽ nâng cao sức cạnhtranh của sản phẩm Việt Nam trên thị trường Trung Quốc.

Cơ chế hợp tác giữa chính phủ, bộ ngành và địa phương giữa hainước cũng có nhiều tác dụng tích cực trong việc đẩy mạnh quan hệ hợp tácgiữa hai nước Một số thoả thuận liên quan đến hàng xuất khẩu của ViệtNam như kiểm dịch thuỷ sản, gạo, vệ sinh an toàn thực phẩm… đã và séđược ký kêt tạo điều kiện pháp lý cho hàng xuất khẩu của Việt Nam

Mặt khác, việc Trung Quốc vãn còn áp dụng chê độ ưu đãi đối vớihàng Việt Nam xuất khẩu qua đường biên mậu vào Vân Nam được giảm50% thuế nhập khẩu và VAT là điều kiện thuận lợi cho hàng hoá xuất khẩucủa Việt Nam sang Trung Quốc

4.2 Các vấn đề còn tồn tại

4.2.1 Khó khăn và thách thức đối với Việt Nam.

Tuy tăng trưởng nhanh nhưng quy mô xuất khẩu và nhập khẩu bìnhquân đầu người của Việt Nam còn rất nhỏ bé Xét trên tổng thể , thươngmại Việt Nam vẫn là một nền thương mại nhỏ, manh mún và phát triển cònmang nặng tính tự phát Thương mại Việt Nam tuy phát triển nhanh nhưngcòn thiếu tính bền vững, sức cạnh tranh của hàng hoá và của doanh nghiệpcòn thấp cả ở trong và ngoài nước

Cơ cấu chủng loại sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam tuy đa dạnghơn nhưng vẫn tập trung vào các mặt hàng chủ lực Chuyển dịch cơ cấu sảnphẩm xuất khẩu mới theo chiều rộng , chưa chú trọng nhiều theo chiều sâu

và gắn kết các ngành cùng hướng về xuất khẩu để tạo ra giá trị gia tăng caohơn

Sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam xuất khẩu có tiến triểnnhưng phần lớn còn yếu, do vậy tăng trưởng xuất khẩu chưa ổn định vữngchắc Hàng hóa Việt Nam đã có mặt ở trên một trăm nước nhưng khả năngcạnh tranh chưa cao Chậm đổi mới mẫu mã sản phẩm cho thích ứng với thị

Ngày đăng: 18/04/2013, 11:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w