Những cơ hội đối với hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam và giải pháp để khai thác cơ hội
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá đã và đang phát triển mạnh trên thế giới.Những quan hệ kinh tế ngày càng được mở rộng vượt qua biên giới quốc gia vàvươn tới nhiều lĩnh vực, không chỉ giới hạn trong thương mại hàng hoá mà lan toảsang các lĩnh vực dịch vụ, quyền sở hữu chí tuệ, chính sách cạnh tranh…Hoạt độngthương mại quốc tế được coi là vấn đề được ưu tiên quan tâm hàng đầu của mỗiquốc gia trong bối cảnh hiện nay
Thương mại quốc tế luôn mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia, chính bời vì thế màtrong quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn thựchiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá cácquan hệ đối ngoại; hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các
tổ chức quốc tế và khu vực, chủ động tích cực hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.Tuy nhiên, phải làm sao có thể khai thác triệt để những cơ hội mà hoạt độngthương mại quốc tế đem lại là một vấn đề hết sức thiết thực và khá phức tạp nhất làtrong tình hình mới Việt Nam đã hội nhập vào sân chơi toàn cầu WTO Đề tài
“Những cơ hội đối với hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam và giải pháp để khai thác cơ hội ” mong muốn đi đến giải đáp một phần vấn đề đó.
Đề tài này tập trung nghiên cứu những lý luận cơ bản về thương mại quốc tế;phân tích, đánh giá thực trạng và các cơ hội, đề xuất các giải pháp nhằm khai tháccác cơ hội đối với hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam chủ yếu là trên khíacạnh xuât nhập khẩu và số liệu dùng để phân tích được lấy từ năm 1990 đến nay.Trong bài viết này tác giả dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng Các phương pháp nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài là: Phươngpháp so sánh, phân tích, thống kê
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 : Những vấn đề lí luận cơ bản về thương mại quốc tế
Chương 2 : Thực trạng và Những cơ hội đối với hoạt động thương mại
quốc tế của Việt Nam
Chương 3 : Các giải pháp để khai thác cơ hội trong hoạt động thương
mại quốc tế của Việt Nam
Do hạn chế về kiến thức nên bài viết không tránh khỏi những sai sót, mong được
sự thông cảm và góp ý của bạn đọc để tác giả có cơ hội hoàn thiện hơn Tác giả xingửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng – Bộ mônKinh tế Quốc tế - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã hướng dẫn giúp hoàn thành
đề tài này
Chương 1
Trang 2NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm và các lý thuyết thương mại quốc tế
1.1.1 Tổng quan về thương mại quốc tế
“Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hoá, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ
… giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thôngqua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàngđổi hàng (barter) Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hànghoá, dịch vụ cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giátrị tương đương nào đó”2
“Khái niệm thương mại cần phải được giải thích theo nghĩa rộng, bao gồm cácvấn đề phát sinh từ tất cả các quan hệ có bản chất thương mại, dù có hợp đồng haykhông có hợp đồng Quan hệ có bản chất thương mại bao hàm nhưng không chỉgiới hạn đối với các giao dịch sau đây: bất kỳ giao dịch buôn bán nào nhằm cungcấp hoặc trao đổi hàng hoá hay dịch vụ, hợp đồng phân phối, đại diện thương mạihay đại lý, các công việc sản xuất, thuê máy móc thiết bị, xây dựng, tư vấn, thiết kế
cơ khí, li-xăng, đầu tư, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, các hợp đồng khai thác hoặcchuyển nhượng, liên doanh và các hình thức khác của hợp tác công nghiệp hoặckinh doanh, vận tải hàng hoá hoặc hành khách bằng đường không, đường biển,đường sắt hoặc đường bộ”3
Vây thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ quan biên giới quốcgia hoặc lãnh thổ Đối với phần lớn các nước, nó tương đương với một tỷ lệ lớntrong GDP Mặc dù thương mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người,tầm quan trong kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới được để ý đến một cách chitiết trong vài thế kỷ gần đây Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự pháttriển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và
1 Luật Thương mại (Điều 3 khoản 1) năm 2005
2 Wikimimedia.com
3 Theo Ủy ban liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)
2
Trang 3xu hướng thuê nhân lực bên ngoài Việc tăng cường thương mại quốc tế thườngđược xem như ý nghĩa cơ bản của "toàn cầu hoá".
Thương mại quốc tế có tính chất sống còn vì một lý do cơ bản: Ngoại thương mởrộng khả năng tiêu dùng của một nước Thương mại cho phép một nước tiêu dùngtất cả mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với ranh giới của khảnăng sản xuất trong nước đó dưới chế độ tự cung tự cấp, không buôn bán
1.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại quốc tế
Là một khía cạnh của kinh tế quốc tê, thương mại
- Điều kiện tự nhiên
- Trình độ nghiệp vụ và kỹ năng của đội ngũ cán bộ
- Tình trạng cạnh tranh và khả năng cạnh tranh quốc gia
1.1.2 Các lý thuyết thương mại quốc tế
1.1.2.1 Lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế.
Lý thuyết của chủ nghĩa trọng thương
Chủ nghĩa trọng thương cho rằng sự giàu có, hùng mạnh của mỗi quốc gia là dokhối lượng vàng bạc mà quốc gia đó tích luỹ được, Sự giàu có của dân tộc này là sự
hy sinh lợi ích của dân tộc khác Các tác giả lập luận rằng xuất khẩu đối với mộtquốc gia là rất có ích vì nó kích thích sản xuất trong nước, đồng thời làm gia tănglượng của cải quốc gia Ngược lại, nhập khẩu là gánh nặng vì nó làm giảm nhu cầuvới hàng hoá sản xuất trong nước, và hơn nữa nó dẫn tới sự thất thoát của cải quốcgia Như vậy, để giàu có, các quốc gia cần tăng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩuChính phủ đóng vai trò quan trọng để đạt mục tiêu hạn chế nhập khẩu bằng cáccông cụ bảo hộ mậu dịch, đồng thời có các biện pháp để khuyến khích sản xuất vàxuất khẩu thông qua trợ cấp
Ưu điểm của chủ nghĩa trọng thương là sớm nhận thức được tầm quan trọng củathương mại, các quốc gia giàu lên nhờ buôn bán, thấy được vai trò của nhà nướctrong điều tiết hoạt động thương mại, tạo được nền tảng khoa học để giải thích cácvấn đề về thương mại
Hạn chế là quan niệm giản đơn về sự giàu có của các quốc gia, đề cao chủ nghĩadân tộc trong ngoại thương
Trang 4 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.
Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế khi mỗiquốc gia tập trung chuyên môn hoá vào sản xuất và trao đổi những sản phẩm cómức chi phí sản xuất thấp hơn hẳn so với các quốc gia khác và thấp hơn mức chiphí trung bình của quốc tế thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi
Mô hình đơn giản nhất theo giả định
sau:
- Thế giới có hai quốc gia và mỗi
quốc gia sản xuất hai mặt hàng
- Đồng nhất chi phí sản xuất với
tiền lương cá nhân
- Giá cả hoàn toàn do chi phí sản
xuất quyết định
Từ đây rút ra kết luận:
Quá trình trao đổi trên cơ sở lợi thế tuyệt đối làm khối lượng tổng sản phẩm toàn
xã hội tăng lên, làm cho các nguồn lực trong nước được sử dụng một cách có hiệuquả hơn Thương mại quốc tế sẽ tạo điều kiện để phát triển những ngành có lợi thế
và thu hẹp những ngành bất lợi thế, là cơ sở lý luận sau này cho việc chuyển đổi cơcấu kinh tế giữa các quốc gia
Tuy nhiên, lý thuyết này có một số điểm bất ổn, chẳng hạn:
Nếu một quốc gia bị bất lợi trong sản xuất cả hai mặt hàng thì có nên tham giavào thương mại quốc tế không? Điều này lý thuyết không trả lời được Coi laođộng là yếu tố sản xuất duy nhất, trong khi lao động lại không đồng nhất giữa cácngành, do đó lý thuyết này cần được tiếp tục được hoàn thiện
Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo.
Một quốc gia không có lợi thế tuyệt đối vẫn có thể tham gia vào thương mại nếudựa vào lợi thế so sánh
Một quốc gia có lợi thế so sánh về một số mặt hàng và kém lợi thế so sánh vềmột số mặt hàng khác
Mặt hàng có lợi thế so sánh là mặt hàng có chi phí sản xuất thấp hơn tương đối
so với mặt hàng khác
Giả định
- Thế giới có 2 quốc gia và có hai loại hàng hoá
- Lao động không di chuyển giữa hai quốc gia
- Chi phí sản xuất và công nghệ không đổi
- Không có chi phí vận tải
Ví dụ 1 Lợi thế so sánh
Việt Nam Hoa Kỳ
Việt Nam có lợi thế tuyệt đối về gạo, Hoa Kỳ
có lợi thế tuyệt đối về thép Nếu đổi 6kg gạo
= 6kg thép, Việt Nam có lợi 4 kg thép, Hoa
Kỳ lợi 4,8 kg gạo Cả hai bên cùng có lợi.
Tỷ lệ trao đổi quốc tế nằm giữa hai tỷ lệ trao đổi quốc gia (6/2,1/5)
4
Trang 5- Thương mại hoàn toàn tự do
Kết luận:
- Các bên cùng có lợi khi tham gia
trao đổi trên cơ sở lợi thế so sánh
- Tỷ lệ trao đổi quốc tế nằm giữa tỷ
lệ trao đổi của 2 quốc gia(1/2, 6/4)
- Các quốc gia có thể mở rộng và
phát triển các ngành có lợi thế so
sánh
Ưu điểm của lý thuyết này là đã chứng
minh được trường hợp than gia vào thương mại của một nước bất lợi về các mặthàng
Nhược điểm là coi lao động là yếu tố sản xuất duy nhất chỉ di chuyển trongphạm vi quốc gia, đồng nhất lao động giưa các nước về mọi mặt, chưa giải thíchđược trường hợp các nền kinh tế có lợi thế so sánh như nhau
Lý thuyết chi phí cơ hội của Haberler.
Theo Heberler, chi phí cơ hội của mặt hàng X là số lượng mặt hàng Y cần đượccắt giảm để sản xuất thêm một hàng hoá X Trong hai quốc gia thì quốc gia nào cóchi phí cơ hội của X thấp hơn thì sẽ có lợi thế so sánh về măt hàng này
Chi phí cơ hội không đổi và
đường giới hạn khả năng sản xuất
Khái niệm chi phí cơ hội cho phép
minh hoạ lý thuyết thương mại cổ điển
bằng đồ thị thông qua đường giới hạn khả
năng sản xuất
Đường giới hạn khả năng sản xuất của
một quốc gia là tập hợp tất cả những
điểm biểu thị cho mức sản lượng của hai
mặt hàng có thể sản xuất ra khi quốc gia
đó sử dụng tất cả các nhuồn lực và công nghệ sản xuất tốt nhất mà mình có được
1.1.2.2 Lý thuyết hiện đại về thương mại quốc tế.
Lý thuyết H – O (Heckscher – Ohlin).
- Các giả thiết mô hình H-O
+ Thế giới bao gồm hai quốc gia, hai yếu tố sản xuất, và hai mặt hàng,mức độ trang bị sản xuất ở hai quốc gia là cố định
+ Công nghệ sản xuất giống nhau giữa hai quốc gia
Ví dụ 2 Lợi thế tuyệt đối
Việt Nam Hoa Kỳ
Việt Nam bất lợi thế tuyệt đối cả hai mặt hàng, Hoa Kỳ có lợi thế tuyệt đối cả hai Chi phí sản xuất tương đối mặt hàng vải ở Việt Nam thấp hơn sản xuất vải ở Hoa Kỳ =>Việt Nam có lợi thế so sánh về vải, Hoa Kỳ có lợi thế so sánh về thép Nếu đổi 6kg thép = 6m 2
vải, Việt Nam có lợi 3kg thép, Hoa Kỳ có lợi 2m 2 vải, cả hai quốc gia đều có lợi.
X
0 Y
Chi phí cơ hội tăng dần
Chi phí cơ hội giảm dần Đường giới hạn khả năng sản xuất
Trang 6+ Các mặt hàng khác nhau sẽ có hàm lượng các yếu tố khác nhau.
+ Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên cả thị trường hàng hoá lẫn thịtrường yếu tố sản xuất
+ Chuyên môn hoá là không hoàn toàn
+ Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong mỗi quốc gia,nhưng không thế di chuyển giữa các quốc gia
+ Sở thích là giống nhau giữa hai quốc gia
+ Thương mại được thực hiện tự do, chi phí vân chuyển bằng 0
Lý thuyết H-O được xây dựng dựa trên hai khái niệm cơ bản là hàm lượng (mức
độ sử dụng) các yếu tố và mức độ dồi dào các yếu tố Một mặt hàng được coi là sửdụng nhiều (một cách tương đối) lao động nếu tỷ lệ giữa lượng lao động và yếu tốkhác sử dụng để sản xuất ra một đơn vị mặt hàng đó lớn hơn tỷ lệ tương ứng cácyếu tố đó để sản xuất ra một đơn vị mặt hàng thứ hai
Định lý H-O: Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòihỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào của quốc gia đó
Bổ sung của một số lý thuyết mới:
- Lý thuyết lợi thế theo quy mô: Khắc phục giả định của H-O dựa vào hiệusuất không đổi theo quy mô, lý thuyết này coi sản xuất đạt hiệu quả nhất được
tổ chức trên quy mô lớn Tổ chức trên quy mô lớn dẫn tới giảm chi phí Giả
sử hai quốc gia giống nhau mọi khía cạnh (công nghệ sản xuất, mức trang bịcác yếu tố, sở thích), cùng sản xuất 2 mặt hàng A và B, tỷ lệ giá tương đốigiống nhau Khi tham gia thương mại, nếu mỗi nước chuyên môn hoá mộtmặt hàng thì cả hai đầu có lợi
- Lý thuyết về khoảng
cách công nghệ: Sự khác
biệt về mức độ công nghệ
chính là lý do cho thương
mại Lý thuyết trên có thể
giải thích cho hai dạng
thương mại Thứ nhất, nếu
cả hai quốc gia đều có
tiềm năng công nghệ như nhau thì vẫn có thể hình thành quan hệ thương mại,bởi vì phát minh sáng chế trong một chừng mực nào đó là một quá trình ngẫunhiên Dạng thương mại thứ hai được hình thành khi một nước tỏ ra năngđộng hơn về công nghệ so với nước kia
Công nghệ Các nước công nghiệp phát triển
Các nước đang phát triển
Các nước chậm phát triển
Trang 7- Chu kỳ sống của sản phẩm (Product Life-cycle) của Raymond Vernon:Theo Vernon, các nhân tố cần thiết cho việc sản xuất một sản phẩm mới sẽthay đổi tuỳ theo vòng đời của sản phẩm đó.
- Lợi thế cạnh tranh quốc gia theo mô hình kim cương của Micheal Porter:
Lý thuyết này được xây dựng dựa trên cơ sở lập luân rằng khả năng cạnhtranh của một ngành công nghiệp được thể hiện tập trung ở khả năng sáng tạo
và đổi mới ngành đó Và điều này được khái quát hoá cho một thực thể lớnhơn - một quốc gia Theo lý thuyết này, khả năng cạnh tranh quốc gia đượcthể hiện ở sự liên kết của 4 nhóm yếu tố:
(1) Điều kiện về các yếu tố sản xuất
(2) Điều kiện về cầu
(3) Các ngành công nghiệp có liên quan và các ngành công nghiệp hỗ trợ(4) Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành
Cả bốn yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau và hình thành nên khả năng cạnhtranh của một quốc gia
1.1.2.3 Đánh giá các lý thuyết thương mại
Kết quả đạt được: Luận giải được lý do hoạt động thương mại của các quốc gia,xác định được danh mục sản phẩm xuất khẩu và nhập khẩu, đánh giá được khoảnlợi từ thương mại Các quốc gia tham gia hoạt động thương mại vì:
+ Để có hàng hoá và dịch vụ trong nước không sản xuất được
+ Để có hàng hoá và dịch vụ rẻ hơn so với sản xuất trong nước
+ Để đạt lợi thế kinh tế theo quy mô: lợi ích tĩnh
+ Để tăng trưởng nhanh hơn: lợi ích động
Nhược điểm: thiếu cách tiếp cận hệ thống về thương mại quốc tế, những yếu tốmới của thương mại quốc tế : thương mại dịch vụ, nhãn hiệu, marketing, thươngmại điện tử…chưa được xem xét
1.2 Vai trò của thương mại quốc tế
“ Ích lợi của thương mại quốc tế - sử dụng có hiệu quả hơn các lực lượng sản xuất của thế giới ”4
Hoạt động thương mai quốc tế giữ vai trò trung tâm trong các quan hệ kinh tếquốc tế Sở dĩ thương mại quốc tế có vai trò quan trọng như vậy bởi vì kết quả củacác quan hệ kinh tế quốc tế khác cuối cùng cũng được thể hiện tập trung trongthương mại quốc tế và quan hệ hàng hoá tiền - tệ vẫn là quan hệ phổ biến nhấttrong các quan hệ kinh tế quốc tế Thương mại quốc tế mở rộng khả năng tiêu dùngcủa một nước
4 John Stuart Mill
Trang 8Không một quốc gia nào có thể phát triển không tham gia vào thương mại quốc
tế Hoạt động thương mại quốc tế sẽ đem lại những lợi ích to lớn cho nền kinh tếcác quốc gia thành viên: góp phần phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướnghiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sốngkinh tế xã hội
1.3 Những xu hướng cơ bản của thương mại quốc tế
Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra một cách mạnh mẽ,thương mại quốc tế là một bộ phận của kinh tế quốc tế nên không nằm ngoài xuhướng đó
Thương mại quốc tế được tự do hoá trên cơ sở đa phương: tiếp cận tự do hoáthương mại quốc tế trên quy mô toàn cầu là phương thức tốt nhất để vừa bao trùmđược một cách tối đa các quốc gia, vừa tạo khả năng tránh được những sai lầm vànhững rủi ro kinh tế liên quan đến sự phân biệt đối xử trong quan hệ giữa các đốitác
Thương mại quốc tế được tự do hoá trên cơ sở song phương: đối thoại songphường là cách hiệu quả nhất góp phần xoá bỏ các rào cản thương mại, điều chỉnhmối quan hệ với các đối tác thương mại chủ yếu và có triển vọng
Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
8
Trang 9QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 2.1 Thực trạng hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam
2.1.1 Thương mại quốc tế của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2000
Đõy là giai đoạn Việt Nam bắt đầu cú sự thay đổi căn bản trong đường lối phỏttriển kinh tế xó hội Nếu như trước năm 1990, Việt Nam chủ yếu cú quan hệ thươngmại với cỏc nước thuộc khối xó hội chủ nghĩa mà chủ yếu là Liờn Xụ (cũ) và nướclỏng giềng Trung Quốc, hoạt động thương mại mang chiều hướng một chiều Thỡ từsau sự kiện nhà nước Liờn bang Xụ Viết sụp đổ, tỡnh hỡnh thế giới cú nhiều biếnđộng, Việt Nam đó mở rộng quan điểm hội nhập với nền kinh tế thế giới Việt Nam
đó tăng cường quan hệ thương mại với nhiều nước, và tớch cực tham gia vào cỏc tổchức kinh tế, tài chớnh quốc tế Tuy nhiờn, mực độ quan hệ thương mại cũn nhỏ lẻ,chủ yếu là tăng cường về mặt ngoại giao
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong giai đoạn này liờn tục tăng qua cỏc năm.Nếu năm 1990, tổng kim ngạch xuất khẩu là 2404 triệu USD và nhập khẩu là2752,4 triệu USD, thỡ đến năm 1995 con số này là 5448,9 triệu USD về xuất khẩu
và 8155,4 triệu USD về nhập khẩu (tăng 1,27 lần về xuất khẩu và gần gấp 2 lần vềnhập khẩu so với năm 1990) Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu đạt 14482,7 triệuUSD (tăng gấp 5 lần so với năm 1995) và kim ngạch nhập khẩu là 15636,5 triệuUSD (tăng gấp 4,7 lần so với năm 1995)
Sơ đồ 1 : Xuất nhập khẩu Việt Nam giai đoạn 1990-2000
5225.3 8155.4 11143.6
11742.1 15636.5
2404 2087.1 2580.7 2985.2
3893.2
5448.9 7255.9
9185.0
9360.3
11541.4 14482.7
2752.4 2338.1
2540.8 3924
Trang 10chế biến chủ yếu là: hoỏ chất, chế biến theo phõn loại nguyờn liệu, một số phụ tựng
cơ khớ, hàng chế biến khỏc trong đú phải kể đến dệt may, giầy da Chưa thấy sự
cú mặt của cỏc mặt hàng cú hàm lượng cụng nghệ cao như hàng điện tử…Cỏc mặthàng nhập khẩu chủ yếu là mỏy múc, xăng dầu, sắt thộp, phõn bún…
2.8
5006.4 4350.1
3.7
5996.2 5540.6
4.6
8078.9
6397.6
6.4 0.0
1000.0 2000.0 3000.0 4000.0 5000.0 6000.0 7000.0 8000.0 9000.0 Triệu USD
Sơ đồ 2: Cơ cấu giá trị các mặt hàng xuất khẩu Việt Nam (1995-2000)
Hàng thô mới sơ chế Hàng chế biến hoặc đã tinh chế Hàng hoá khác
Nguồn Tổng cục thống kờ (2000)
Nhỡn vào sơ đồ, cú thể thấy khối lượng giỏ trị hàng mới sơ chế cũn chiếm tỷtrọng rất cao Cỏc mặt hàng chế biến và tinh chế đó bắt đầu được chỳ trọng đầu tưphỏt triển, khối lượng giỏ trị xuất khẩu cỏc mặt hàng này cú tăng nhưng vẫn ơ mứcchậm
Nhập khẩu tập trung vào cỏc mặt hàng: nguyờn nhiờn liệu, phương tiện giaothụng, trong đú nhập khẩu xăng dầu chiếm tỷ trọng lớn nhất
Bảng 1: Cỏc mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam (1995-2000)
Xăng, dầu cỏc loại Nghỡn tấn 5003.2 5933.1 5960.0 6852.0 7425.4 8747.3 Phõn bún Nghỡn tấn 2311.0 2787.1 2526.7 3448.0 3702.8 3971.3 Sắt, thộp Nghỡn tấn 1116.2 1548.5 1400.9 1786.0 2253.6 2845.0
Nguồn Tổng cục thống kờ (2000)
Năm 1995, đỏnh dấu một bước hội
nhập quan trọng của Việt Nam là
Ngày 28-7-1995 Việt Nam gia nhập Asean và trở thành thành viờn thứ 7 của tổ chức này.
Asean là một liờn kết khu vực về mặt ngoại giao, kinh tế, văn hoỏ, với mục tiờu là thỳc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xó hội và phỏt triển văn hoỏ trong khu vực, nõng cao vị thế của Asean, là đối trọng của cỏc quốc gia lớn…xõy dựng một mỏi nhà chung của tất cả cỏc nước Đụng Nam Á, một khu vực đoàn kết gắn bú
để cựng chung sống hoà bỡnh, thịnh vượng.
10
Trang 11việc Việt Nam trở thành thành viờn chớnh thức của Hiệp hội cỏc nước Đụng Nam Á(ASEAN) Sau thời điểm này hoạt động thương mại của Việt Nam đó cú sự tăngtrưởng vượt bậc, kim ngỏch xuất nhập khẩu tăng lờn nhanh trúng.
Sơ đồ 3 : Xuất nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN (1990-2000)
1945.0
2619.0 4449.0
1913.5 1652.8
3290.9 2905.5
539.8 811.1
953.4 1318.5 1689.6 2270.1
Bảng 2: Xuất nhập khẩu của Việt Nam với cỏc nước ASEAN (1995-2000)
Trang 12Tháng 3 năm 1996, Việt Nam tham gia vào sáng lập Hội nghị thượng đỉnh
Á-Âu (ASEM), đây là bước tiến quan trọng để Việt Nam tiến gần hơn nữa với các tổchức kinh tế quốc tế Thông qua ASEM, hai khu vực Á, Âu sẽ tiến lại gần nhautrong các quan hệ thương mại
Tháng 14-11-1999, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Diễn đàn hợptác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), với 21 quốc gia, 2,5 tỷ người,khoảng 17 nghìn tỷ USD (GDP 56% GDP toàn cầu) Tổng giao dịch thương mạikhoảng 5,5 nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 55% tổng giao dịch thương mại toàn cầu5.Đây là một bước tiến hết sức quan trọng trên con đường hội nhập vào nền kinh tếthế giới của Việt Nam Thông qua tổ chức này, Việt Nam sẽ có thêm được nhiềukinh nghiệm hợp tác, quản lý trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, tiến tới cảicách căn bản hệ thống kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng kinh tế, tiến tới gianhập sân chơi WTO, mà ta đã bắt đầu đàm phán từ năm 1994
Kể từ khi trở thành thành viên APEC, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trườngquốc tế tăng mạnh Thương mại quốc tế được đẩy lên một tầm cao mới Trong khốiAPEC, kim ngạch xuất khẩu tăng từ 3998,2 triệu USD năm 1995 lên 10.097, 6 triệuUSD năm 2000, nhập khẩu tăng từ 6493,6 triệu USD lên 12.998 triệu USD
Bảng 3: Xuất nhập khẩu của Việt Nam với tổ chức kinh tế thế giới (1995-2000)
Trang 13su, hạt tiêu, cà phê….và thuỷ sản, gạo, hàng dệt may, mũ và giầy da - mặt hàngxuất khẩu chủ lực vào thị trường này, còn nhập khẩu máy móc thiết bị.
Trong quan hệ với EU, chủ yếu Việt Nam có quan hệ bạn hàng lớn với các nướcAnh, Pháp và Đức - những nước là cửa ngõ để hàng hoá Việt Nam vào thị trường
EU Kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều liên tục tăng nhưng chủ yếu cán cânthương mại vẫn nghiêng về nhập siêu
Bảng 4 Xuất nhập khẩu của Việt Nam với Anh, Pháp Đức và Hoa
Trong quan hệ với Hoa Kỳ, kể từ khi hai nước chính thức bình thường hoá quan
hệ, hoạt động trao đổi, buôn bán và đầu tư diễn ra theo chiều hướng tích cực Xuấtkhẩu sang Hoa Kỳ luôn tăng trưởng với tốc độ cao, quan trọng hơn nữa đây là mộtnước có nền kinh tế thị trường hoàn toàn và các quy tắc kinh doanh trong nền kinh
tế phù hợp với các điều kiện của WTO
Với thị trường một số nước Châu Á, Việt Nam chủ yếu là nhập siêu từ Đài Loan,Hồng Kông và nhập khẩu rất nhiều từ Hàn Quốc Riêng đối với hai thị trườngTrung Quốc và Nhật Bản cán cân thương mại có vẻ nghiêng về xuất siêu Các mặt
Trang 14hàng nhập khẩu từ khu vực này chủ yếu là máy móc thiết bị công nghệ, đồ điện tửgia dụng và hàng dệt may cao cấp…còn các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là lươngthực, dệt may và một số sản phẩm nguyên liệu thô.
Bảng 5 Xuất nhập khẩu của Việt Nam với một số nước Châu Á (1995-2000)
và Mỹ Di chuyển nguồn lực lao động diễn ra một chiều, thông qua một số tổ chức,công ty xuất khẩu lao động, lao động Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các nước pháttriển, tuy nhiên hầu hết là thực hiện các công việc giản đơn, ít có hàm lượng côngnghệ
Nhìn chung, hoạt động thương mại quốc tế cũa Việt Nam trong giai đoạn này diễn
ra khá mạnh mẽ, hiệu quả phù hợp với chủ trương đường lối phát triển của ViệtNam Việt Nam đã tham gia đầy đủ hoặc không chính thức vào các tổ chức, diễn đànkinh tế thế giới trong đó phải kể đến tổ chức ASEAN, APTA, APEC, ASEM, Cộngđồng Pháp ngữ,…và có tiếng nói khá quan trọng trong các tổ chức này
2.1.2 Hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2001 đến trước
thời điểm gia nhập W TO (7/12/2006)
Đây là giai đoạn phát triển các hoạt động thương mại quốc tế, khi mà Việt Nam
đã chính thức trở thành thành viên quan trọng của các tổ chức kinh tế toàn cầu, vàđang tiến nhanh trong giai đoạn đàm phám cuối cùng trước khi gia nhập vào tổchức kinh tế lớn nhất thế giới WTO Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng từ 15.029,2triệu USD năm 2001 lên 32.223 triệu USD năm 2005, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
14