Bản chất và tính hai mặt của toàn cầu hóa kinh tế
Trang 1Mục lục
Trang
Lời mở đầu 2
Phần I: Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế 4
1 Toàn cầu hoá kinh tế 4
2 Vai trò của các chủ thể, các thể chế khu vực và toàn cầu trong việc thúc đẩy toàn cầu hoá 6
3 Những tác động thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá 9
Phần II: Tác động của toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế 10
1 Tác động của toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế 10
2 Tính hai mặt của toàn cầu hóa 12
Phần III: Những cơ hội vợt qua thử thách hội nhập kinh tế có hiệu quả Biện pháp hội nhập có hiệu quả 18
1 Những cơ hội trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới 18
2 Những thách thức 22
3 Biện pháp hội nhập có hiệu qủa 23
Kết luận 29
Các tài liệu tham khảo 30
Trang 2Lời mở đầu
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một xu thế lớncủa nền kinh tế thế giới và mối quan hệ kinh tế quốc tế trong thời đại ngàynay.Những phát triễn mạnh mẽ về khoa học và công nghệ đã góp phần đẩy nhanhquá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới Thơng mại thế giới đã tăng lên nhanhchóng Với sự ra đời của các thể chế toàn cầu và khu vực nh WTO (tổ chức thơngmại thế gới), EU (cộng đồng châu âu), APEC (diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á -Thái bình dơng), NAFTA (hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ) Sự phát triễn mạnh
mẽ của công ty xuyên quốc gia Với mục tiêu chức năng của mình các tổ chứckinh tế quốc tế đã tham gia và thúc đẩy hoạt động kinh tế quốc tế
Thế gới ngày nay đang sống trong quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ.Quátrình này thể hiên không chỉ xãy ra trong lĩnh vực thơng mại mà cả trong lĩnhvực sản xuất, dịch vụ, tài chính đầu t cũng nh các lĩnh vực văn hoá,xã hội,môitrờng với các hình thức đa dạng và mức độ khác nhau.Toàn cầu hoá kinh tế tạo
ra những quan hệ gắn bó,sự phụ thuộc lẫn nhau và những tác động qua lại hếtsức nhanh nhạy giữa các nền kinh tế.Thông qua quá trình tự do hoá, toàn cầuhoá tạo ra những lợi thế mới thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển,đẩy mạnhgiao lu kinh tế giữa các nớc, Góp phần khai thác tối đa lợi thế so sánh các nớctham gia vào nền kinh tế toàn cầu Đối với một nớc đang phát triến ở vào thờikì đẩy mạnh CNH-HĐH thì hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới càng cóvai trò quan trọng hơn bao giờ hết.Sự giao lu kinh tế quốc tế chẳng những đemlại nguồn hàng hoá dịch vụ phong phú của thế giới cho tiêu dùng trong nớcvới giá hạ,những nguồn bổ xung lớn về khoa học –công nghệ,thiết bị,máymóc,kinh nghiệm quản lí hiện đại mà còn tạo nên động lực kích thích, khơidậy nhng nguồn lực tiềm năng sẳn có của đất nớc, tạo nên bầu không khí sôi
động trong đời sống kinh tế
Quá trình toàn cầu hoá là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa cácquốc gia Không chỉ giữa nớc giầu và nớc nghèo mà ngay trong cả giữa các n-
ớc giầu với nhau để dành vị trí có lợi nhất cho mình trong phân công lao động
và trong quan hệ quốc tế Toàn cầu hoá kinh tế xét về bản chất là một quátrình gia tăng mạnh mẽ của các mối quan hệ,sự phụ thuộc lẫn nhau tác độngqua lại của các quốc gia,khu vực trên lĩnh vực kinh tế
Toàn cầu hoá kinh tế với mặt trái của nó là cạnh tranh gay gắt trên quymô thế giới đã và đang nảy sinh những vấn đề Xã Hội nh thất nghiệp gia tăng,phân hoá giầu nghèo ngày một sâu thêm.Đồng thời toàn cầu hoá cũng mở đ-ờng cho sự du nhập những văn hoá và lối sống không phù hợp với truyền
Trang 3thống và bản sắc dân tộc của mỗi quốc gia Quá trình toàn cầu hoá đang thúc
đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của các nớc vào nền kinh tế khu vực và thế giới.Hoà trong bối cảnh đó cùng với phơng châm “Đa dạng hoá đa phơng hoá quanhệ” và là bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình
độc lập và phát triển.Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160
n-ớc và hầu hết các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng.Với việc gia nhâpASEAN(7-1995),ký hiệp định chung về hợp tác kinh tế chung với EU(7-1995),tham gia OPEC(11-1998) và đang chuẩn bị tích cực cho việc đàm phángia nhập tổ chức thơng mại thế giới(WTO).Việt Nam đã và đang từng bớcvững chắc hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới Hơn lúc nàohết, quá trình toàn cầu hoá không chỉ là sự quan tâm của mỗi quốc gia,mỗi tổchức mà còn đối với mỗi cá nhân chúng ta là chủ nhân tơng lai của đất nớc
Đây là một vấn đề rộng lớn phức tạp có nhiều biến động, có cả những nhậnthức và quan điểmkhác nhau, thậm chí đối lập nhau
Qua việc tham khảo tài liệu cùng với những kiến thức đã lĩnh hội trong
nhà trờng em đã chọn đề tài này Bản chất và tính hai mặt của toàn cầu“
hoá kinh tế”.
Nội dung của bài viết đợc trình bầy trong ba phần:
Phần I: Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
Phần II: Tác động của toàn cầu hoá kinh tế.
Phần III: Viêt Nam cần tập trung cơ hội vợt qua thử thách hội nhập
kinh tế có hiệu quả, biện pháp hội nhập kinh tế có hiệu quả
Em xin cảm ơn thầy Mai Hữu Thực đã hớng dẫn và giúp đỡ em hoànthành đề tài này
Phần I: Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế
1 Toàn cầu hoá kinh tế
Toàn cầu hoá, nó đề cập đến một thế giới xích lại gần nhau hơn, tới việcvợt qua những khoảng cách và sự khác biệt, tới việc mọi ngời cùng chia sẻ,hứa hẹn ở tơng lai Toàn cầu hoá là gì? Và tại sao điều này lại gây nhiều tranhcãi, nhiều quan niệm khác nhau về toàn cầu hoá mà có những lý giải khônggiống nhau về cơ sở của toàn cầu hoá, về tính tất yếu hay không của toàn cầuhoá
Hiện nay ngay trong thuật học cũng còn dùng khá nhiều khái niệm đểcùng chỉ về quá trình toàn cầu hoá chẳng hạn trong nhiều tài liệu còn dùng từ
Trang 4thế giới hoá, quốc tế hoá và rồi hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, thậm chí cóngời còn đánh đồng thế giới hoá, toàn cầu hoá với các vấn đề có tính toàn cầu.
Có quan điểm cho rằng toàn cầu hoá chỉ mới xuất hiện gần đây Toàn cầu hoá
đợc hiểu chính là chính sách của Mỹ nhằm bành trớng quyền lực, thống trị thếgiới theo kiểu Mỹ Thực chất toàn cầu hoá là Mỹ hoá Quan điểm này khôngchỉ tồn tại ở các nớc đang phát triển mà ngay cả các nớc phát triển nh NhậtBản và Pháp Chúng ta biết rằng sau chiến tranh lạnh, thế giới vận động theotrật tự đa cực với một siêu cờng là Mỹ Với sức mạnh của mình, Mỹ đang
đóng vai trò chi phối bàn cờ thế giới Theo lĩnh vực kinh tế, Mỹ thao túng các
định chế kinh tế toàn cầu, đòi các quốc gia phải mở rộng thị trờng, tham giahội nhập vào bàn cờ kinh tế quốc tế theo các luật chơi đã đợc định sẵn, xuấtphát từ nhu cầu, lợi ích và quan niệm chuẩn mực giá trị lối sống Mỹ Vì vậykhông phải ngẫu nhiên mà có ý kiến đồng nhất toàn cầu hoá với Mỹ hoá.Toàn cầu hoá biểu hiện trớc hết ở sự gia tăng của tự do hoá trong luchuyển các loại hàng hoá, vốn công nghệ và lao động Nguyên nhân dẫn đếnquá trình tự do hoá, của sự lu thông vợt khỏi biên giới quốc gia Các yếu tốcủa quá trình sản xuất chính là ở sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất.Nếu nh không có sự phát triển của lực lợng sản xuất, trong đó có sự phát triểncủa kỹ thuật, nhất là kỹ thuật giao thông đờng thuỷ, đờng sắt v.v mà sau này
là sự phát triển của khoa học, của kỹ thuật viễn thông thì dù có mở cửa thị tr ờng, có tự do hoá kinh tế cũng không thể có sự lu thông của quá trình sảnxuất, của con ngời và của mối quan hệ nói chung giữa các quốc gia, các vùng.Loại quan điểm thứ hai là quan điểm vừa nhận tính tất yếu khách quancủa quốc tế hoá, toàn cầu hoá Tuy vậy, ở đây còn có cách lý giải khác nhau
-Có ý kiến cho rằng, toàn cầu hoá xét về mặt bản chất là quá trình tăng lênmạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hởng tác động lẫn nhau, sự phụ thuộc lẫnnhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới
Toàn cầu hoá nh vậy là một quá trình phản ánh sự phát triển mạnh mẽcủa lực lợng sản xuất Kéo theo đó là sự gia tăng các mối quan hệ phụ thuộclẫn nhau ở cấp độ toàn cầu Tuy vậy có ý kiến nhấn mạnh đến khía cạnh quan
hệ sản xuất, xem “Toàn cầu hoá là một giải pháp về quan hệ sản xuất để phùhợp với lực lợng sản xuất ở thang bậc vĩ mô.” Có ý kiến giờng nh lại nhấnmạnh khía cạnh phát triển của lực lợng sản xuất, xem “Toàn cầu hoá là giai
đoạn cao của quá trình phát triển lực lợng sản xuất thế giới, là kết quả tất yếucủa phát triển kinh tế thị trờng và khoa học công nghệ.” Hoặc có tác giả viết
“Thực chất của toàn cầu hoá là ở chỗ hành vi kinh tế toàn cầu có ảnh hởng căn
Trang 5bản đối với hệ thống chính trị thế giới, ngợc lại chính trị lại có tác động to lớnhơn đối với kinh tế.” Toàn cầu hoá ngày nay về bản chất chính là sự tăng tr-ởng của hoạt động kinh tế, nói chung đã vợt khỏi biên giới quốc gia và khuvực Nói khác đi toàn cầu hoá mang nội chủ đạo là toàn cầu hoá kinh tế, pháttriển kinh tế vừa là mục tiêu vừa là động lực Toàn cầu hoá là một xu hớng baogồm nhiều phơng diện: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội v.v trong các mặt
đó toàn cầu hoá là trung tâm, là cơ sở cũng là động lực thúc đẩy các lĩnh vựckhác và thực tế toàn cầu hoá kinh tế là xu thế nổi bật nhất Cũng chính vì vậycác nghiên cứu thờng tập chung bàn luận, phân tích về toàn cầu hoá kinh tế.Các chuyên gia OECD cho rằng: Toàn cầu hoá kinh tế là sự vận động tự
do của các yếu tố sản xuất nhằm phân bố tối u các nguồn lực trên phạm vitoàn cầu, còn theo quan điểm của quỹ tiền tệ quốc tế thì toàn cầu hoá là sự giatăng không ngừng các luồng mậu dịch, vốn, kỹ thuật với quy mô và hình thứcphong phú, làm tăng sự phụ thuộc vào nhau giữa các nền kinh tế thế giới Vậy
từ các quan điểm ý kiến trên ta có:
Toàn cầu hoá kinh tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa cácquốc gia Không chỉ giữa các nớc giàu với nớc nghèo mà ngay cả các nớc giàuvới nhau để giành vị trí có lợi nhất cho mình trong phân công lao động vàtrong quan hệ quốc tế
2 Vai trò của các chủ thể, các thể chế khu vực và toàn cầu trong việc thúc đẩy toàn cầu hoá.
Khu vực hoá kinh tế là sự ra đời của các thể chế toàn cầu và khu vực nhWTO ( tổ chức thơng mại thế giới), EU (cộng đồng chung châu Âu ), TNC(các công ty xuyên quốc gia), APEC (diễn đàn hợp tác kinh tế châu á thái bìnhdơng ), ASEAN Sự ra đời của các tổ chức này góp phần không nhỏ vào quátrình toàn cầu hoá
Thứ nhất, là sự bành chớng của các công ty xuyên quốc gia.
Sự phát triển mạnh mẽ TNC trong những thập niên qua vừa phản ánh đặc
điểm của quá trình toàn cầu hoá, vừa là nhân tố thúc đẩy quá trình quốc tế hoágia tăng mạnh mẽ lên một bớc mới toàn cầu hoá
Vào nửa sau thế kỷ XX dới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹthuật đã đa lại sự phát triển cha từng có của các công ty xuyên quốc gia Nếuvào cuối những năm 60 có khoảng 7000 công ty thì đến năm 80 có khoảng20.000 và năm 1998 có khoảng 60.000 công ty mẹ và trên 500.000 công tycon rải rác ở khắp các quốc gia trên địa cầu Với một mạng lới rộng khắp nhvậy, hoạt động của chúng thực sự tác động đến nền kinh tế toàn cầu, chúng
Trang 6kéo theo các nền kinh tế quốc gia vào vòng chu chuyển của mạng lới công ty.Hiện nay các công ty xuyên quốc gia kiểm soát 80% công nghệ mới, 40%nhập khẩu, 60% xuất khẩu, 90% đầu t trực tiếp nớc ngoài và sử dụng 34,5triệu lao động, khoảng 500 công ty lớn kiểm soát tới 25% tổng sản phẩm thểgiới và giá trị trao đổi của chúng tơng đơng 3/4 giá trị thơng mại toàn cầu Vớisức mạnh nh vậy các công ty xuyên quốc gia không những có u thế phân phốitài nguyên trong phạm vi toàn thế giới, giúp cho việc phân công lao động quốc
tế đi vào chi tiết hoá mà còn thông qua toàn cầu hoá sản xuất và kinh doanhquốc tế để đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hoá thế giới
Sự phát triển mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia trên địa phận toàncầu đã tạo ra mạng lới liên kết kinh tế quốc tế Các quốc gia có thể tham giangay vào dây chuyền sản xuất quốc tế và cũng vì vậy mối quan hệ phụ thuộclẫn nhau gia tăng Nh vậy sự phát triển và xâm nhập ngày càng mạnh mẽ củacác công ty xuyên quốc gia vào các nền kinh tế dân tộc đã góp phần xoá bỏ sựngăn cách, biệt lập trong phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Các quốcgia dân tộc từng bớc tham gia, thích ứng với các chuẩn mực của nền kinh tếquốc tế, đồng thời nó cũng đem lại nét mới từ những bản sắc riêng của cácquốc gia bổ sung vào kinh tế toàn cầu làm gia tăng tính đa dạng của nó
Thứ hai, là vai trò của các định chế kinh tế toàn cầu và khu vực.
Các định chế kinh tế toàn cầu ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thếquốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế Sự tồn tại và hoạt động cuả các định chếkinh tế toàn cầu và khu vực lại góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của xuthế toàn cầu hoá
Trong các tổ chức kinh tế, thơng mại, tài chính, toàn cầu và khu vực có
ảnh hởng lớn tới quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá về kinh tế, phải kể đếnWTO, IMF, WB và các tổ chức khu vực nh EU, APEC, ASEAN với các mụctiêu chức năng của mình các tổ chức kinh tế quốc tế đã tham gia và thúc đẩycác hoạt động kinh tế, điều phối và quản lý các hoạt động này Cho dù tínhhiệu quả của các tổ chức này còn đợc đánh giá khác nhau xuất phát từ quan
điểm, lợi ích quốc gia, song không ai không thừa nhận sự cần thiết và vai tròcủa chúng thậm chí đang đặt ra yêu cầu về hoàn thiện cơ cấu tổ chức, đổi mớinguyên tắc hoạt động của chúng
Thứ ba, là vai trò của các chính phủ và sự chuyển đổi trong chính sách phát triển từ thay thuế nhập khẩu sang hớng xuất khẩu ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Trang 7Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu song tốc độ của toàn cầu hoá phụthuộc rất nhiều vào chính sách của các quốc gia Các chính sách này còn phùhợp với xu thế chung của quá trình tự do hoá hay không, các chính phủ cóủng hộ việc đó không? Có tích cực tham gia vào quá trình phá bỏ các hàng ràohạn chế luân chuyển các yếu tố sản xuất hay không đều tác động lớn đến xuthế toàn cầu
Chúng ta đã chứng kiến sự thụt lùi của qúa trình quốc tế hoá sau chiếntranh thế giới lần thứ nhất, điều này có liên quan rất lớn đến vai trò của cácchính phủ Sau chiến tranh thế giới thứ nhất cả thế giới đi vào thời kỳ bảo hộthơng mại và nhiều hàng rào hạn chế duy chuyển của dòng vốn quốc tế cũng
đợc đặt ra
Sau chiến tranh thế giới thứ hai các quốc gia phát triển cùng các tập đoàn
t bản đã nhận thấy vấn đề cần phải tự do hoá thơng mại, giảm các hàng ràothuế quan nhằm bành trớng thế lực kinh tế ra bên ngoài Các chính sách pháttriển của chủ nghĩa t bản dựa trên mô hình quản lý Taylor trong những năm50-60 đang đặt ra không ít vấn đề do môi trờng kinh doanh chuyển đổi
Nói tóm lại, toàn cầu hoá kinh tế không phải là hiện tợng mới Nói nh tácgiả Nall Fitz Gerrald “Toàn cầu hoá không phải là sản phẩm sáng tạo của việckinh doanh, không phải là một âm mu của chủ nghĩa t bản nhằm tạo ra mộtthế giới tập đoàn, cũng không phải là một điều tởng tợng của thế giới họcthuật.” Toàn cầu hoá là mở rộng tự do quốc tế hoá về t bản và thơng mại do sựthôi thúc của những thay đổi về dân số, chính trị, thơng mại, kinh tế và côngnghệ, đợc đẩy nhanh bởi các phơng tiện liên lạc cao cấp Nó vừa là nguyênnhân vừa là kết quả của một quan niệm mang tính chất quốc tế, sau hàng thập
kỷ tồn tại chế độ bảo hộ nền công nghiệp trong nớc đã bị thất bại, cho rằng thịtrờng mở cửa tạo ra của cải
3 Những tác động thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá.
Theo thuật ngữ kinh tế, động lực của quá trình toàn cầu hoá có thể đợcthể hiện thông qua 3 xu hớng chủ đạo sau đây:
Xu hớng thứ nhất và là xu hớng có tác động sâu sắc nhất, là sự thay đổi
về khoa học công nghệ Khoa học công nghệ có vai trò quyết định lợi thế cạnhtranh và tốc độ phát triển của các quốc gia
Xu hớng thứ hai, là việc ngày càng có nhiều chính phủ theo đuổi chínhsách tự do hoá, mở cửa thị trờng và loại bỏ những cản trở về mặt luật lệ đốivới các hoạt động kinh tế
Trang 8Xu hớng thứ ba, là sự kết hợp của những công nghệ mới và những thị tr ờng tự do hơn tạo điều kiện cho các khu vực kinh doanh ở nhiều nớc có thểquốc tế hoá các hoạt động của mình, dệt nên một mạng lới phức tạp hơn baogiờ hết, các hoạt động kinh tê với nhau trên bình diện toàn cầu.
-Cả ba xu hớng này: tiến bộ công nghệ, tự do hoá kinh tế, quốc tế hoá sảnxuất đã làm cho các quốc gia trở nên phụ thuộc lẫn nhau hơn về mặt kinh tế,tạo ra những cơ hội cũng nh những thách thức về kinh tế, xã hội, chính trị chatừng có
Trang 9Phần II: Tác động của toàn cầu hoá kinh tế
và hội nhập kinh tế quốc tế.
1 Tác động của toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất, là sự phát triển cao của lực lợng sản xuất,do sự phát triển
mạnh mẽ cửa lực lợng sản xuất cùng với ý thức độc lập đã đa lại sự phát triểnmới của phân công lao động.Các quốc gia vốn trớc là phụ thuộc sau khi dành
đợc độc lập đã chủ động tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế,tạo ra điều kiện cho sự phát triển hơn nữa của quá trình quốc tế hoá Quan hệgiữa các quốc gia dân tộc,giữa các nớc phát triển và kém phát triển từ đặc trngphụ thuộc một chiều chuyển dần sang quan hệ tơng hỗ phụ thuộc lẫn nhau Từsau chiến tranh thế giớ thứ hai gắn liền với sự phát triển của phong chào giảiphóng dân tộc là hiện tợng khoa học –kỹ thuật phát triển mạnh mẽ Và ngàycàng trở thành lực lợng sản xuất phát triển trực tiếp Các phát kiến về khoa họcnhanh chóng đợc áp dụng vào sản xuất đã thúc đẩy phân công lao động lênmột bớc mới Trên thực tế quan hệ giữa khoa học công nghệ và sản xuất ngaycàng ngăn bó chặt chẽ với nhau Dới sự tác động của khoa học-công nghệ cácngành kinh tế truyền thống dần dần nhờng bớc cho các ngành đại diện chotiến bộ khoa học kỹ thuật Sự tăng trởng của nền kinh tế từ dựa chủ yếu vàonguyên vật liệu và lao động đang chuyển sang dựa chủ yếu vào tri thức Trithức trở thành động lực chính cửa sự tăng trởng và phát triển kinh tế
Tóm lại, chính sự phát triển nh vũ bảo của khoa học kỹ thuật đã làm phá
vỡ hàng rào ngăn cách địa giới trong dao dịch của con ngời trên tất cả các mặtgiữa các quốc gia Điều này đã đẩy quốc tế hoá kinh tế lên một thời kỳ mới,thời kỳ toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Các quốc gia dù muốn hay không
đều chụi tác động của quá trình toàn cầu hoá và đơng nhiên để tồn tại, pháttriển trong điều kiện ngày nay không thể không tham gia quá trình toàn cầuhoá,tức phải hội nhập quốc tế
Thứ hai, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trờng Kinh tế thị
tr-ờng phát triển đã mở ra điều kiện cho sự gia tăng xu thế quốc tế hoá thể hiệntrên hai khía cạnh chính
Kinh tế thị trờng mở ra cơ sở, điều kiện cho sự phát triển của lực lợng sảnxuất làm cho quy mô sản xuất không bó hẹp trong phạm vi của từng quốc gia
mà mang tầm quốc tế, vậy cũng có nghĩa là thúc đẩy quá trình phân công lao
động quốc tế ngắn các quốc gia vào trong sự ràng buộc của sản xuất v tiêuà tiêuthụ Thứ hai kinh tế thị trờng phát triển ở các quốc gia đa lại cơ chế thống nhất
Trang 10cho xử lý các mối quan hệ kinh tế đó là cơ chế thị trờng với sự cùng tồn tạicủa kinh tế thị trờng, phơng thức phân bố các nguồn lực từ sức lao động đến tliệu sản xuất Điều này rõ dàng là có ý nghĩa cho thúc đẩy mở rộng đầu t,giao dịch thơng mại và tiếp nhận nguồn lao động Nh vậy có thể nói sự pháttriển mạnh mẽ của kinh tế thị trờng chính là cơ sở, là điều kiện cho quá trìnhquốc tế hoá Nhìn chung các quốc gia trên thế giới ngày nay đều dựa trên cơchế thị trờng, sử dụng các phơng tiện và công cụ kinh tế thị trờng trong hoạt
động kinh doanh, đa lại một không gian rộng lớn, không gian toàn cầu chocác hoạt động sản xuất và lu chuyển các yếu tố của chính quá trình sản xuấtấy.Thứ ba là sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu trong bối cảnh thế giới kếtthúc chiến tranh lạnh,bớc vào thời kì hoà bình,hợp tác và phát triển Sau chiếntranh thế giới thứ hai, thế giới hình thành trật tự đối đầu giữa hai cực, giữa hai
hệ thống kinh tế- xã hội Quan hệ giao lu kinh tế giữa hai hệ thống rất hạnchế Sự cách trở này là nhân tố ảnh hởng lớn đến xu thế toàn cầu hoá
Nhìn chung các vấn đề toàn cầu đều có quan hệ nhân quả với nhau, chonên phải có quan điểm tổng thể, khi giải quyết và đòi hỏi phải có sự nổ lựccủa mỗi quốc gia Các vấn đề toàn cầu là liên quan đến mọi quốc gia, nó tác
động trên phạm vi thế giới Vì lợi ích của nhân loại, cũng nh của chính mỗiquốc gia, đòi hỏi phải có liên kết sức lực của cả cộng đồng, bản thân mỗi quốcgia cho dù có tiền lực mạnh đến đâu cũng không thể giải quyết vấn đề liênquan đến toàn thế giới Đây chính là cơ sở khách quan quy định thúc đẩynhững cố gắng phối hợp liên kết sức mạnh, là cơ sở cho việc tiến tới thốngnhất những quy trình, quy phạm chung cho quá trình phát triễn kinh tế.Toàncầu hoá là xu thế tất yếu của quá trình tập trung,chuyên môn hoá sản xuất vàphân công lao động quốc tế.Khi nền kinh tế thế giới phát triễn thành một thịtrờng thống nhất thì không một quốc gia nào có thể đứng ngoài tiến trình này
mà có thể tồn tại và phát triễn đợc Toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thànhmột trong những xu thế chủ yếu của quan hệ quốc tế hiện đại và sẽ tiếp tụcphát triễn mạnh trong thế kỉ tới Toàn cầu hoá và khu vực hoá đợc thể hiện rõtrong sự gia tăng rất nhanh trao đổi quốc tế về hàng hoá, dịch vụ, tài chính vàcác yếu tố sản xuất đồng thời đợc thể hiện qua sự hình thành và cũng cố củcác tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực
Toàn cầu hoá đã và đang mang lại nhng cơ hội to lớn cho nền kinh tế thếgiới và cho mỗi quốc gia tham gia vào quá trình hội nhập Tự do hoá, luânchuyển hàng hóa, dịch vụ và vốn với việc hạ thấp hàng rào thuế quan, đơngiản hóa khâu thủ tục, cắt giảm kiểm soát hành chính sẽ góp phần giảm chi
Trang 11phí san xuất, đầu t tăng sản lợng, giảm thất nghiệp tăng thêm lợi ích cho ngờitiêu dùng.Toàn cầu hóa tạo ra nhiều cơ hội đầu t mới, tăng nhanh vòng quayvốn và tạo điều kiện để đa dạng hóa các loại hình đầu t Nhờ đó nâng cao hiệuquả, vừa hạn chế rủi do đầu t Toàn cầu hóa thúc đẩy chuyển giao công nghệ,chuyển giao vốn, kỹ năng quản lý, qua đó mở rộng địa bàn đầu t cho các nớcphát triển, đồng thòi giúp các nớc tiếp nhận đầu t có thêm nhiều cơ hội pháttriển.
2 Tính hai mặt của toàn cầu hóa.
Toàn cầu hóa là quá trình tất yếu, việc hội nhập tham gia vào toàn cầuhóa kinh tế sẽ tạo cho các bên tham gia những cơ hội, đồng thời nó cũng đặt
ra những thách thức Có ý kiến cho rằng Toàn cầu hóa là “Thanh gơm hai lỡi”
có thể tạo ra những xung lực làm tăng tốc độ phát triển kinh tế, đa lại kỹ thuậtmới góp phần nâng cao mức sống của ngời dân ở các quốc gia và nó cũng cóthể làm xói mòn nền văn hoá và chủ quyền quốc gia, đe dọa sự ổn định kinhtế-xã hội vv Toàn cầu hoá kinh tế là môt quá trình phức tạp Nó chứa đựngcả mặt tích cực xen lẫn mặt tiêu cực, tạo ra không chỉ thời cơ mà còn cả tháchthức đan xen nhau đối với nên kinh tế thế giới và các quốc gia tham gia quátrình này, trong đó có quốc gia đang phát triển chịu tác động của thách thứcnặng nề hơn Mặt tích cực của toàn cầu hóa kinh tế thể hiện ở chỗ
Thứ nhất: là sự phát triển của toàn cầu hóa kinh tế phá bỏ những cản trở,
những hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia, mở ra những điều kiện thuận lợicho sự phát triển quan hệ kinh tế quốc tế Từ đó các quốc gia có thể tận dụngcơ hội cho phát triên từ thị trờng bên ngoài.Chúng ta biết rằng, đối với nềnkinh tế thị trờng thì việc tạo lập một thị trờng quy mô cho phát triển kinh tế là
điều kiện rất quan trọng Từ việc khai thông thị trờng quốc gia với quốc tế chophép bổ xung những mặt yếu của nên kinh tế dân tộc Một thực tế hiển nhiên
là không một quốc gia nào có đủ điều kiện xây dựng một nền kinh tế nội địahiệu quả mà không cần tính đến thị trờng bên ngoài, cho dù đó là những quốcgia khổng lồ nh: Mỹ, Ân Độ hay kể cả Nga và Trung Quốc
Thứ hai:Toàn cầu hóa kinh tế, mở ra khả năng cho các quốc gia chậm
phát triển nhanh chóng tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế, từ
đó hình thành một cơ cấu kinh tế - xã hội hiệu quả, đẩy nhanh, rút ngắn tiếntrình hiện đại hóa Trong xu thế toàn cầu hóa phân công lao động quốc tếngày một sâu sắc xu hớng phân công lao động quốc tế ngày nay đang chuyểndịch từ phân công theo chiều dọc sang phân công lao động theo chiều ngang.Với sự phá bỏ của chủ nghĩa thực dân và do tác động của xu thế toàn cầu hóa,
Trang 12hình thức phân công theo chiều ngang trở thành hình thức phân công quốc tếchủ yếu với nội dung của nó là phân công theo bộ phân cấu thành sản phẩm.Với sự phát triển của loại hình phân công lao động quốc tế này, sản xuất trênphạm vi toàn cầu tạo thành một mạng lới mà trong đó mỗi quốc gia tham dự làmột mắt xích điều đó cũng có nghĩa là với toàn cầu hóa dù tăng thêm sự phụthuộc và tác động qua lại lẫn nhau giũa các nền kinh tế tạo ra cục diện xâmnhập, đan xen, bổ xung, hỗ trợ lẫn nhau.
Thứ ba: Quá trình toàn cầu hóa tạo cơ hội cho các quốc gia tiếp cận với
nguồn vốn và công nghệ kỹ thuật cũng nh công nghệ quản lý Ngày nay trongnền kinh tế toàn cầu hóa cùng với việc mở cửa thị trờng làm cho các quan hệtrao đổi buôn bán hàng hóa và dịch vụ gia tăng mạnh mẽ là dòng lu chuyểncủa vốn, công nghệ cũng đợc mở rộng và đẩy nhanh Tham gia vào quán trìnhtoàn cầu hóa các quốc gia không chỉ tận dụng đợc thị trờng mà còn có thể thuhút, sử dụng các dòng vốn quốc tê với việc mở của tiếp nhận nguồn vốn, cácquốc gia Đông Nam á đã tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng đợcnhiều mặt hàng xuất khẩu có khả năng cạnh tranh Các quốc gia Đông Nam á
là những chủ thể rất tích cực tham gia vào hệ thống phân công lao động theochiều ngang hiện nay
Thứ t: Hội nhập vào các tổ chức kinh tế toàn cầu vào khu vực cho phép
các quốc gia thành viên đpực hởng những u đãi về thuế quan, hàng hóa có thểnhanh chóng tiếp cận đợc thị trờng thế giới Đối với các nớc đang phát triểnthì hội nhập vào các tổ chức kinh tế quốc tế cũng chính là tham gia vào diễn
đàn cho phép mình bình đẳng bày tỏ quan điểm bảo vệ lợi ích chính đáng củamình Các tổ chức khu vực và toàn cầu hóa là nơi tập hợp lại sức mạnh của Ph-
ơng Nam vốn rất dễ bị phân tán để đấu tranh cho sự bình đẳng việc hội nhậpvào các tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực, về thực chất là sự xâm nhập ràngbuộc phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế điều này vô hình chung tạo ra cơ chế đảmbảo an toàn trong hoạt động kinh doanh với thực tế trong anh có tôi, trong tôi
có anh đã tạo cơ sở tin cậy và hợp tác phát triển, ngăn ngừa các xung đột.chính vì vậy toàn cầu hóa sẽ góp phần gia tăng xu thế hoà bình, hợp tác pháttriển
Thứ năm: Toàn cầu hóa kinh tế thực chất là quá trình mở cửa hội nhập
của quốc gia Trong quá trình hội nhập đó, các quốc gia đều nhanh chóng đợctiếp nhận những thông tin, tri thức mới Quá trình này góp phần nâng cao trình
độ dân trí tạo cơ sở nền tảng cho dân chủ phát triển Bởi lẽ dân chủ sẽ chỉ làhình thức khi nó dựa trên nền tảng dân trí thấp và ngợc lại ngày nay với mạng
Trang 13internet, số ngời sử dụng ngày một tăng đã nhanh chóng lan chuyền thông tintoàn cầu sự ngăn cách không gian, thời gian hầu nh không còn ý nghĩa Toàncầu hóa thực sự thúc đẩy sự hiểu biết, xích lại gần nhau giữa các dân tộc Vớicác phơng tiện thông tin, giao thông hiện đại, con ngời ở các vùng xa xôi, hẻolánh cũng có thể tiếp cận đợc với những tri thức văn hóa thế giới, làm chonhận thức của con ngời đợc nâng cao và vì vậy mà họ ý thức đợc nghĩa vụ vàtrách nhiệm của mình trong cộng đồng, từ đó góp phần tác động đến tiến trìnhphát triển chung.
Thứ sáu: Toàn cầu hóa mở ra khả năng phối hợp nguồn lực của các quốc
gia dân tộc để giải quyết vấn đề có tính toàn cầu nh: Vấn đề môi trờng, dân
số, chiến tranh hòa bình Các vấn đề toàn cầu và khu vực có liên quan đếnnhiều quốc gia, việc phối hợp sức mạnh quốc tế để giải quyết có thể đợc thựchiện trên những cấp độ khác nhau Các quốc gia có thể tham gia trên cơ sởhoạch định những chính sách theo một xu hớng thống nhất dựa trên nguồn lựcriêng nh: Chơng trình bảo vệ thiên nhiên làm ô nhiễm chất thải của mỗi quốcgia
Tuy vậy, bên cạnh mặt tích cực toàn cầu hóa kinh tế cũng bộc lộ nhữngmặt tiêu cực
Thứ nhất: Toàn cầu hóa không phân phối công bằng các cơ hội và lợi ích
giữa các khu vực, quốc gia và trong mỗi quốc gia và từng nhóm dân c Trênthực tế trong toàn cầu hóa, những nớc phát triển giầu có, những cá nhân giầu
có mới đợc hởng phần lớn những lợi thế đó Vì vậy toàn cầu hóa đã làm giatăng thêm tình trạng bất công, làm sâu sắc sự phân hóa giầu nghèo Hiện naycác quốc gia phát triển chiếm 19% dân số thế giới, nắm 71% khối lợng trao
đổi buôn bán tài sản và dịch vụ, 58% đầu t trực tiếp nớc ngoài và 91% ngời sửdụng mạng internet Hầu nh tuyệt đại bộ phận các công ty xuyên quốc gia, thếlực chính của toàn cầu hóa là thuộc về các quốc gia phát triển Rõ ràng là cơhội mà toàn cầu hóa mở ra là không ngang bằng cho các quốc gia Điều chúng
ta cần thấy là bản thân sự phân hóa giầu nghèo, sự gia tăng bất công khôngphải chỉ gắn với toàn cầu hóa mà nó có nguồn gốc từ bản chất của chế độ phânphối thu nhập Toàn cầu hóa góp phần làm sâu sắc hơn tình trạng phân hóagiầu nghèo ơ chỗ nó đặt các cá nhân, các quốc gia ở những lợi thế cơ hộikhông giống nhau và dới sự thao túng của các quốc gia t bản phát triển cùngcác tập đoàn xuyên quốc gia với mục đích tối đa hóa lợi nhuận gắn với tốithiểu hóa lao động, đã dẫn đến việc phân bổ lợi ích của tăng trởng theo xu h-