1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án quản trị kinh doanh, tổng hợp

26 2K 17
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề án quản trị kinh doanh tổng hợp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 291,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài : Một số biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 1

Đề án quản trị kinh doanh

tổng hợp

Mục Lục Đề Mục Nội Dung Số Trang Lời Nói Đầu………4

Chương I : khái quát những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng và hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam………5

I khái niệm xuất khẩu………5

II Nội dung hoạt động xuất khẩu……… 5

1 Nghiên cứu thị trường xuất khẩu……….6

1.1 Phân tích tình hình ở nước có thể nhập hàng……….6

1.2 Nghiên cứu nhu cầu thị trường ……… 6

1.3 Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh ………6

1.4 Nghiên cứu giá cả hàng hoá……….6

2 Xây dựng kế hoạch kinh doanh xuất khẩu……… 6

3.Tổ chức thực hiện và đánh giá các hợp đồng xuất khẩu………7

Trang 2

III Ngành thủ công mỹ………8

1 Vị trí và vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đối với nền kinh tế………8

2.Những nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ…8 2.1 Đặc điểm mặt hàng……….8

2.2 Nghiên cứu thị trường xuất khẩu………8

2.3 các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ……… 8

Chương II : phân tích thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay………11

I phân tích thực trạng………11

1 khái quát chung thị trường thế giới về mặt hàng thủ công mỹ nghệ………11

2.phân tích tính hiệu quả và kết quả hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta trong giai đoạn hiện nay……… 13

II Đánh giá thực trạng xuất khẩu………14

1 Thành tựu đạt được………15

2 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân……….16

Chương III Phương hướng và kiến nghị đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam………18

I Phương hướng phát triển và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong thời gian tới……… 18

1 Định hướng của Đảng và nhà nước……….18

2 Phương hướng, mục tiêu phát triển hàng thủ công mỹ nghệ trong những năm tới……….19

Trang 3

II Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ… 20

III Một số kiến nghị góp phần đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ………21

1.Kiến nghị với nhà nước……….21

2.Kiến nghị với doanh nghiệp……… 22

Kết luận……….25

Tài liệu tham khảo………26

Đề tài : Một số biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 4

Lời mở đầu

Xuất khẩu là một không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nhận thức được điều đó, năm 1986 thực hiện đường lối đổi mới, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra định hướng “ Kinh tế đối ngoại là trọng điểm, xuất khẩu là một trong ba chương trình kinh tế chủ đạo của đất nước ” Hơn 15 năm đổi mới, nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương chính sách nhằm khuyến khích xuất khẩu, đặc biệt là những lĩnh vực phát huy được lợi thế của nước nông nghiệp như nước ta Nền kinh tế nước

ta đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và thế giới, với phương châm “ đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá mối quan hệ kinhtế” thông qua con đường xuất khẩu để nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả của sự phát triển Hoạt động kinh doanh xuất khẩu thường phức tạp hơn nhiều so với kinh doanh trên thị trường nội địa , do quy mô thị trường rộng lớn khó kiểm soát, không cập nhật được thông tin kịp thời, đồng thời sự khác nhau về văn hóa phong tục và luật pháp cũng gây không ít khó khăn Kinh doanh trên th ị trường quốc tế, doanh nghiệp phải chịu cả sự cạnh tranhgay gắt của các đối thủ vì vậy, chúng ta cần hoạch định chiến lược, định hướng về xuất khẩu là phải lấy nhu cầu thị trường thế giới làm mục tiêu cho nền sản xuất trong nước sao cho thích ứng với đòi hỏi của thế giới và đặt nền kinh tế quốc gia trong lợi thế so sánh của quốc gia

Hiện nay thủ công mỹ nghệ là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu quan trọng đem về cho đất nước nhiều ngoại lớn nhất Đây là mặt hàng có truyền thống lâu đời, mang đậm văn hoá dân tộc Nó được xuất khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác, đã đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khẩu của

cả nước, đồng thời có một vai trò quan trọng trong giải quyết một số vấn đề kinh tế xã hội tại nông thôn như làm tăng thu nhập cho người lao động, xoá đói giảm nghèo v.v

Tính đến nay hàng thủ công mỹ nghệ đã có mặt trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ mặt hàng này còn nhiều tiềm năng phát triển, đặc biệt kể từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này là vô cùng lớn đây là cơ hội và cũng là thách thức đòi hỏi doanh nghiệp,nhà nước ta có những chiến lược lâu dài đúng hướng để khai thác tối đa tiềmnăng ngành mang lại vì thế em xin được chọn đề tài : “một số biện pháp đẩymạnh xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”

Đề án của em xin gồm 3 chương như sau :

Trang 5

Chương I : Khái quát những vấn đề cơ bản về xuất khẩu và ngành thủ công

Chương I : khái quát những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng

và hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam

I khái niệm xuất khẩu

Xuất khẩu được hiểu là bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ ra nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán hoạt động xuất khẩu diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi điều kiện nền kinh tế xã hội, hàng tiêu dung cho đến hàng sản xuất nông nghiệp, từ máy móc thiết bị cho đến hàng công nghệ kỹ thuật cao tất cả các hoạt động trao đổi đó nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho quốc gia

Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đồng thời nó thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, phát triển sản xuất ngoài ra còn tác động tích cực tới công ăn việc làm

Và nó còn là cơ sở để thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển.xuất khẩu là hoạt động kinh doanh ở phạm vi quốc tế, nó không phải là hành

vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức, nhằm đẩy nhanh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao đời sống nhân dân

Việt Nam là nước đang phát triển, nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hâu Nhưngnước ta ẩn chứa nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động dồi dào, ngược lại những nhân tố như vốn, kỹ thuật, trình độ quản lý lại thiếu thực chất hướng vào xuất khẩu để tranh thủ vốn, kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài kết hợp nguồn lao động và tài nguyên sẵn có nhằm mục đích đưa nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng, bắt kịp các nứoc phát triển trong khu vực và thế giới

II Nội dung hoạt động xuất khẩu

3 Nghiên cứu thị trường xuất khẩu

1.1 Phân tích tình hình ở nước có thể nhập hàng

Trang 6

Đây là bước nghiên cứu quan trọng trước khi doanh nghiệp xuất khẩumuốn đi sâu vào nghiên cứu nhà nhập khẩu ở nước đó Trước hết cần phảinghiên cứu xem diện tích nước nhập khẩu là bao nhiêu, dân số như thế nào,chế độ chính trị xã hội, tài nguyên kinh tế của nước đó như thế nào, tốc độphát triển kinh tế, tình hình tài chính, tiền tệ, chính sách nhập khẩu ra sao…

1.2 Nghiên cứu nhu cầu thị trường

Doanh nghiệp xuất khẩu cần nắm bắt được nhu cầu của người tiêu dùngcủa người tiêu dùng từ đó mới có thể lựa chọn mặt hàng phù hợp để xuấtkhẩu, phải nghiên cứu kĩ thêm nhu cầu đó về mặt hàng gì lớn nhất? Cóthường xuyên hay không, đó có phải là nhu cầu tiềm năng không?

1.3 Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh

Doanh nghiệp cần phải xem xét kĩ có bao nhiêu doanh nghiệp khác cungcấp hàng hoá giống doanh nghiệp của mình vào thị trường đó, thị phần của

họ là bao nhiêu, mục tiêu và phương hướng của họ là gì? quy mô có lớnkhông? nguồn tài chính như thế nào? lợi thế cạnh tranh và vị thế và uy tíncủa doanh nghiệp đó… từ đó đưa ra phương án kinh doanh hợp lý, ngoài radoanh nghiệp cần phải nghiên cứu cả sản phẩm thay thế

1.4 Nghiên cứu giá cả hàng hoá

Giá cả là biểu hiện bằng tiền của hàng hoá Giá cả là một yếu tố cấu thành thị trường, nó luôn luôn biến đổi và thay đổi khôn lường do chịu sự tác động của nhiều nhân tố Trong kinh doanh việc xác định giá cả là việc làm hàng đầu vì nó ảnh hưởng lớn nhất đến sự sống còn của doanh nghiệp Đặc biệt trong buôn bán ngoại thương thì giá cả càng khó xác định hơn Bởi

vì giá cả luôn luôn biến đổi mà hợp đồng ngoại thương lại thường kéo dài

Vì vậy làm thế nào để không bị thua lỗ là vấn đề mà các doanh nghiệp cần phải xác định rõ ràng nếu không sẽ bị thất bại

4 Xây dựng kế hoạch kinh doanh xuất khẩu

Để đạt được mục tiêu đề ra thì doanh nghiệp khi xây dựng kế hoạch cầnphải dựa vào các bước:

- Bước 1: Đánh giá thị trường và thương nhân mà doanh nghiệp có ýđịnh xuất khẩu

- Bước 2: Lựa chọn thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh

- Bước 3: Xác định mục tiêu cần đạt được

- Bước 4: Đề ra giải pháp thực hiện

5 Tổ chức thực hiện và đánh giá các hợp đồng xuất khẩu

Trang 7

Để tiến tới kí kết hợp đồng mua bán với nhau, hai bên mua và bánthường phải qua một quá trình giao dịch, thương lượng về các điều kiện giaodịch Trong buôn bán quốc tế, những bước giao dịch chủ yếu thường diễn ranhư sau:

- bước 1 : hỏi giá

- bước 2 : phát giá hay chào hàng

- bước 3 : đặt hàng

- bước 4 : hoàn giá ( mặc cả về giá hoặc điều kiện giao dich)

- bước 5 : chấp nhận điều kiện của chào hàng mà phía kia đưa ra

- bước 6 : xác nhận lại mọi thoả thuận với đối phương

III Ngành thủ công mỹ

1 Vị trí và vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đối với nền

kinh tế

Xuất khẩu là một tất yếu khách quan và có vai trò quan trọng đối với

các quốc gia Tuy không phải là mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn như gạo, thuỷhải sản, than đá, dệt may … nhưng hàng thủ công mỹ nghệ góp phần không nhỏ vào nâng cao nền kinh tế đất nước

Ở Việt Nam, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ đã có từ rất lâu, cùng với sự giao lưu văn hoá, mở rộng kinh tế giữa các nước trên thế giới, hàng thủ công

mỹ nghệ việt nam đã có mặt trên rất nhiều thị trường các nước Đông Nam

Á, Đông Á, Châu Âu, Mỹ và Nam Mỹ và dần dần khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường quốc tế

Xuất khẩu hàng mỹ nghệ lại mang về cho đất nước thực thu ngoại tệ có một tỷ trọng rất cao trong kim ngạch xuất khẩu của mình So với một số mặthàng khác như may mặc, gỗ và giày da do nguyên liệu đều phải nhập khẩu

từ nước ngoài giá trị gia tăng của các ngành này chủ yếu là chi phí gia công

và khấu hao máy móc thiết bị, cho nên giá trị thực thu ngoại tệ mang về cho đất nước chỉ chiếm một tỷ trọng từ 5-20% trong tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu Theo tính toán, hàng TCMN sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệusẵn có trong nước, nguyên phụ liệu nhập ước tính chỉ chiếm từ 3 – 3,5% giá trị xuất khẩu như năm 1999 ( nếu không kể đồ gỗ xuất khẩu ) kim ngạch là

171 triệu USD, năm 2000 đạt 237 triệu ÚSD, năm 2001 đạt 237 triệu USD, năm 2003 đạt 320 triệu USD Theo dự báo của các chuyên gia thì kim ngạchxuất khẩu mặt hàng này sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu về các sản phẩm thủ công mỹ nghệ trên thế giới có xu hướng tăng trong những năm tới

Trang 8

Bên cạnh đó, nó còn đem lại một lượng lớn công ăn việc làm, giải quyếttình trạng dư thừa lao động nhất là lao động ở nông thôn giúp nông dân có thêm thu nhập góp phần xoá đói giảm nghèo, đẩy lùi tệ nạn

2 Những nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

2.1 Đặc điểm mặt hàng

Hàng thủ công mỹ nghệ thuộc các ngành nghề truyền thống của Việt Nam Chúng được tạo ra từ các thợ thủ công, sản xuất bằng tay là chủ yếu nên các sản phẩm có chất lượng không đồng đều, khó tiêu chuẩn hoá Tuy nhiên những sản phẩm này thường rất tinh sảo và độc đáo Vì là sản phẩm truyền thống nên đa phần chúng mang nét văn hoá của dân tộc, thể hiện tính nghệ thuật đặc sắc chính điều này là điểm thu hút mạnh mẽ đối với khách hàng, đặc biệt là những khách hàng quốc tế ngoài ra, nó cũng tạo nên sự khác biệt giữa các sản phẩm dù có cùng chất liệu ở các quốc gia khác nhau.Hàng thủ công mỹ nghệ do sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước đặc biệt

là các nguồn nguyên vật liệu, được thu lượm từ phế liệu và thứ liệu của nônglâm sản, nguyên phụ liệu nhập ước tính chỉ chiếm từ 3 – 3,5% giá trị xuất khẩu, nên mang lại hiệu quả từ thực thu giá trị ngoại tệ rất cao, có những mặt hàng hầu như đạt 100% giá trị xuất khẩu, còn lại cũng đạt trên 80% giá trị kim ngạch xuất khẩu Đồng thời xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã giúp xã hội thu hồi một bộ phận chất thải nông nghiệp sau chế biến và thu hoạch, đã biến phế liệu trở thành những sản phẩm xuất khẩu, góp phần tích cực cho việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế đất nước

2.2 Nghiên cứu thị trường xuất khẩu

Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ rathị trường thế giới, nhưng kim ngạch xuất khẩu so với các nước khác còn quá bé, chỉ đạt khoảng 0,2% kim ngạch của thế giới ngoài những thị trường lớn như như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan… Bên cạnh đó, ta có thể khai thác thị trường Canada, Hồng Kông, Trung Đông, Nga và các thành viên mới của EU Về thị trường xuất khẩu, hiện nayxuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm 1,5% kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của Mỹ, 1,7% của Nhật Bản và 5,4% của EU ( báo điện tử

làocai.com.vn ) Tuy những năm qua, mặt hàng này luôn có mức tăng trưởng khá cao, bình quân khoảng 20%/năm, lọt vào top 10 mặt hàng có mức tăng trưởng xuất khẩu cao của cả nước, song ta cần phải áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh mặt hàng này hơn nữa Thống kê cho thấy, hiện cả

Trang 9

nước có trên 1.400 làng nghề thủ công mỹ nghệ, tạo việc làm cho khoảng 70.000 lao động, sản xuất trên 300 chủng loại hàng với bốn nhóm chính là: mây, tre, cói, lá, thảm; gốm sứ; thêu, ren, dệt; sản phẩm đá và kim loại quý Mặc dù tiềm năng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam là rất lớn, nhưng tính bền vững chưa cao Do quy mô sản xuất nhỏ nên các doanh nghiệp sản xuất khó đáp ứng được những đơn đặt hàng lớn của nước ngoài, chưa tạo dựng được sự tin cậy đối với bạn hàng trong những hợp đồng lớn Điều này dễ thấy khi bạn hàng tìm đến các đối tác khác mạnh hơn về quy

mô, vốn, công nghệ… Ngoài ra, một trong những nguyên nhân làm giảm tính cạnh tranh của hàng này là các doanh nghiệp đầu tư quá ít cho nghiên cứu thị trường, nhất là thị trường dành cho tạo mẫu và thiết kế Hệ quả là rất nhiều hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam không có những công cụ rõ rệt và chưa hướng vào một thị trường cụ thể để chiếm lĩnh nó Đơn cử với thị trường Nhật Bản là thị trường chiếm đến gần 30% lượng hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của Việt Nam, nhưng do ít thay đổi về mẫu mã, nên sức hấp dẫn của măt hàng vào thị trường này giảm đi nhiều , họ không muốn mua hàng của Việt Nam mà chuyển sang thị trường Trung Quốc, Philippines … Các chuyên gia đến từ nước này khuyến cáo, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam cần phải chuyên nghiệp hơn nếu muốn thâm nhập sâu vào những thị trường khó tính

2.3 các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

- Mặt hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng nguồn nguyên liệu chính là nguyên liệu trong nước, đa phần được lấy từ thiên nhiên và khá sẵn có Đó là

các nguyên liệu như: mây, tre, nứa, lá, bông, gỗ, đay, cói, dừa Đây là một trong những thuận lợi lớn vì những nguyên liệu này thường sẵn có trong tự nhiên hoặc có thể trồng khá dễ dàng ở các vùng nông

thôn Tuy nhiên, do sự khai thác bừa bãi, không có kế hoạch nên các nguồnnguyên liệu này cũng đã dần dần bị giảm cả về số lượng và chất lượng Giờ đây, trước nhu cầu vô cùng đa dạng của thị trường thế giới, doanh nghiệpkhông chỉ sản xuất những mặt hàng chỉ sử dụng những nguồn nguyên liệutrong nước mà còn phải nhập về một số nguyên liệu từ nước ngoài để phục

vụ cho xuất khẩu Điều này cũng gây ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp khi nguồn nguyên liệu phải phụ thuộc vào nước ngoài Các doanh nghiệp thường phải nhập khẩu một số nguyên liệu như phẩm nhuộm, bột màu, sơn, dầu bóng, len chất lượng cao, chỉ màu, sợi

- nguồn vốn : Nhìn chung, các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ đa số

là quy mô vừa, nhỏ và thiếu vốn Nhìn chung, các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ đa số là quy mô vừa, nhỏ và thiếu vốn Những mặt hàng khác nhau sẽ yêu cầu đòi hỏi vốn đầu tư khác nhau Những mặt hàng cần nhiều

Trang 10

vốn chủ yếu là gốm sứ, sơn mài, mĩ nghệ vì phải đầu tư máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ để làm ra các sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế Nhu cầu sử dụng vốn rất lớn nhưng việc huy động vốn hiện nay gặp rất nhiều khókhăn Các Ngân hàng có lúc thừa vốn nhưng các doanh nghiệp lại không vayđược vì ngoài tài sản thế chấp, cầm cố, ngân hàng còn kiểm tra cả phương

án kinh doanh, phương thức kinh doanh rất cụ thể

- chính sách của nhà nước : Thời gian gần đây chính phủ đã có nhiều tháo

gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Ngày 24/1/2000,Thủ tướng chính phủ đã ra Quyết định 132/2000/QĐ-TTg về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó nội dung chủ yếu là đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Bên cạnh đó, khó khăn về vay vốn ưu đãi đã được Chính phủ “khai thông” qua Quyết định 02/2001/QĐ-TTg ngày 2/1/2001 về chính sách hỗ trợ đầu tư

từ Quỹ hỗ trợ phát triển đối với các dự án sản xuất, chế biến hàng xuấtkhẩu

và sản xuất nông nghiệp Một khuyến khích rất cụ thể nữa đã được áp dụng

là chính sách thưởng xuất khẩu cho doanh nghiệp theo 5 tiêu chuẩn: có mặt hàng mới, thị trường mới, chất lượng cao, đạt quy mô về kim ngạch và tốc

độ tăng trưởng xuất khẩu theo quy định Có thể nói, các cơ chế, chính sách mới thông thoáng đã tạo điều kiện thuận lợi, tiếp sức cho doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu

- nhu cầu thị trường : nhìn chung những năm gần đây thị trường thủ công

mỹ nghệ có chiều hướng phát triển tốt, có nhiều chủng loại hàng hoá mới và

mở rộng thị trường theo hướng đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ thị trường với các nước trên thế giới Tuy nhiên, trong xuất khẩu những loại hàng hoá này, chúng ta phải đương đầu với một số đối thủ cạnh tranh có nhiều tiềm năng và kinh nghiệm như Trung Quốc, Indonesia, Philippines, Thái Lan… Để nâng cao sức cạnh tranh, cần phải tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm, thủ pháp kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh và các chính sách giải pháp liên quan của từng nước Đồng thời, với chất liệu và kỹ xảo riêng, phải sáng tạo ra được những mẫu hàng hoá đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của từng thị trường

- đối thủ cạnh tranh : Hiện tại hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt với hàng thủ công mỹ nghệ của Trung Quốc, Thái Lan, Singapore … Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam có nhiều lợi thế hơn nhờ độ tinh xảo và khéo léo thể hiện trên từng đường nét sản phẩm Hơn nữa nhiều mặt hàng của ta vượt trội về chất lượng cũng như mẫu mã Song để nâng cao sức cạnh tranh cần có những sản phẩm đặc trưng, đa dạng hơn về mẫu mã, kiểu dáng Bên cạnh việc phát huy những lợi thế của những sản phẩm làm bằng tay có độ

Trang 11

tinh xảo cao, cần đầu tư các phương tiện thiết bị máy móc và công nghệ hiệnđại để tạo nên những sản phẩm có chất lượng đồng đều và ổn định.

Chương II : phân tích thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

Năm 2002 và 2003 thị trường thủ công mỹ nghệ của Việt Nam tiếp tục được mở rộng rất nhiều, đặc biệt là thị trường Mỹ Xuất khẩu hàng thủ công

mỹ nghệ của Việt Nam sang Mỹ trong QuýI/ 2003 đạt 10.881.753 triệu USDđạt 11,95% tổng kim ngạch Hay như thị trường Nhật Bản có nhu cầu khá lớn về đồ gỗ, hàng năm Việt Nam xuất sang Nhật khoảng 60 triệu USD đồ dung gia đình, trong đó chủ yếu là gỗ vì mặt hàng này vào Nhật Bản chưa gặp nhiều khắt khe như vào Mỹ và EU về bảo vệ rừng Nếu những năm trước kim ngạch xuất khẩu chưa đáng kể thì đến nay Úc đã trở thành một trong 10 thị trường trọng điểm xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam Tính đến 2 quý cuối năm 2002, giá trị xuất khẩu của mặt hàng này sang Úc đạt 8.491.716 triệu USD Bên canh đó, thị trưòng ASEAN, Trung Quốc, ĐàiLoan cũng là những thị trường ta cần quan tâm Do cùng hệ tư tưởng là

Trang 13

đạo Phật nên những nét văn hoá độc đáo hàng thủ công mỹ nghệ của ta rất phù hơp với thị hiếu của họ Hơn nữa về vị trí địa lý các khu vực này gần Việt Nam thuận lợi cho việc vận chuyển Hay như thuế, ví dụ như thuế

nhập khẩu loại hàng này của Đài Loan rất thấp, chỉ khoảng từ 0 –2,5% Nhưng thị trường xuất khẩu nói chung và thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ còn gặp nhiều cạnh tranh, khó khăn nên việc nghiên cứu và nắm bắt thông tin về thị trường kết hợp xúc tiến thương mại, cải tiến mẫu

mã sản phẩm và chất lượng hàng hoá là cách tốt nhất để duy trì và mở rộng thị trường

2 phân tích tính hiệu quả và kết quả hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta trong giai đoạn hiện nay

Có thể nói trong những năm qua hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã đạt được nhiều hiệu quả đáng khích lệ Từ chỗ chỉ tậptrung ở một số thị trường nhất định, giờ chúng ta đã thâm nhập vào thị trường hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ

Ta có thể thấy rõ kết quả của hoạt động xuất khẩu khi đi sâu vào phân tích một số thị trường Đơn cử như thị trường EU, đây là thị trường lớn nhất trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam Kim ngạch xuất khẩucủa Việt Nam sang khu vực thị trường nàytăng khá nhanh trong những năm qua Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam sang thị trường này chiếm

tỷ trọng gần một phần tư trong tổng kim ngạch xuất khẩu Năm 2000, Việt Nam đứng thứ 8 trong số những nước xuất khẩu đồ gỗ nhiều nhất vào EU với kim ngạch là 203 triệu USD Tuy nhiên, sản phẩm đồ gỗ Việt Nam chưa

có sức cạnh tranh cao trên thị trường EU như mới chỉ tập trung vào các sản phẩm ngoại thất, có giá trị thấp và chưa có dấu ấn riêng Ngoài mặt hàng đồ

gỗ, các mặt hàng gốm, sứ mỹ nghệ cũng là nhóm hàng đang tiêu thụ mạnh sang EU Xét về kim ngạch xuất khẩu, mặt hàng này chỉ đứng sau mặt hàng mây tre đan (là nhóm mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam vào EU) Bên cạnh đó, các mặt hàng như mây, tre, hàng thêu ren… cũng được

xuất khẩu sang khu vực thị trường này với khối lượng đáng kể Theo tin từ

Bộ Thương mại, gần đây, các sản phẩm mây tre Việt Nam như: bàn, ghế bố, ghế xếp, đôn bát giác, chậu hoa… làm từ tre thô mộc, sơn dầu bóng của các công ty xuất khẩu mây tre Việt Nam đã xuất khẩu được nhiều hợp đồng lớn Nhật Bản cũng là thị trường gần và nhu cầu lớn về mặt hàng này, năm 1998 chiếm 16% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, thị phần mặt hàng gốm sứ Việt Nam tiêu thụ trên thị trường Nhật rất nhỏ, theo đánh giá chung của cơ quan thương vụ, kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ của Việt Nam vào Nhật trong những năm vừa qua chỉ đạt khoảng 5 triệu USD/năm Ngoài ra, một số loại hàng như thảm len đồ nội thất bằng mây tre Hai quý

Ngày đăng: 18/04/2013, 11:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w