TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG VÕ THÀNH TÀI KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BA TỔ HỢP ỚT KIỂNG GHÉP TRÊN GỐC ỚT HIỂM XANH Luận văn tốt nghiệp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
VÕ THÀNH TÀI
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA BA TỔ HỢP ỚT KIỂNG GHÉP TRÊN GỐC ỚT HIỂM XANH
Luận văn tốt nghiệp Ngành: TRỒNG TRỌT
Cần Thơ, 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGS TS Trần Thị Ba Võ Thành Tài
ThS Võ Thị Bích Thủy MSSV: 3108361
Lớp: TT1011A1
Cần Thơ, 2013
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
-
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng trọt, với đề tài:
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA BA TỔ HỢP ỚT KIỂNG GHÉP TRÊN GỐC ỚT HIỂM XANH
Do sinh viên Võ Thành Tài thực hiện
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013 Cán bộ hướng dẫn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Võ Thành Tài
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
-
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng trọt với đề tài: KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BA TỔ HỢP ỚT KIỂNG GHÉP TRÊN GỐC ỚT HIỂM XANH Do sinh viên Võ Thành Tài thực hiện và bảo vệ trước hội đồng Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá ở mức:
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
Thành viên Hội đồng ……… ……… ………
DUYỆT KHOA
Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 6QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
I Lý lịch sơ lược
Nơi sinh: Xã Long Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
Con ông: Võ Văn Hường
Và bà: Nguyễn Thị Tuyết Nương
Chỗ ở hiện nay: Ấp Phú Sơn A, xã Long Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
II Quá trình học tập
1 Tiểu học
Thời gian: 1999-2003
Trường: Tiểu học Long Phú A
Địa chỉ: Xã Long Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
2 Trung học Cơ sở
Thời gian: 2003-2007
Trường: Trung học Cơ sở Long Phú
Địa chỉ: Xã Long Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
3 Trung học Phổ thông
Thời gian: 2007-2010
Trường: Trung học Phổ thông Long Phú
Địa chỉ: Xã Long Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
4 Đại học
Thời gian: 2010-2014
Trường: Đại học Cần Thơ
Địa chỉ: Đường 3/2, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ Chuyên ngành: Trồng trọt (Khóa 36)
Trang 7LỜI CẢM TẠ Kính dâng!
Cha mẹ đã hết lòng nuôi nấng, dạy dỗ con khôn lớn nên người
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
- PGS.TS Trần Thị Ba đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, góp ý
và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành tốt luận
Xin chân thành cảm ơn!
- Chị Lý Hương Thanh lớp Cao học Trồng trọt khóa 18 đã giúp tôi hoàn thành số liệu và chỉnh sửa luận văn
- Anh Toàn, Nhí, Khoa, cùng các bạn Hồng, Dung, Nam, Luân, Linh, Như,
Tư, Thảo, An, Ngọc, Ngân, Rẻ, Phát, Lâm và Thư đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Thân gửi về!
Các bạn lớp Trồng Trọt khóa 36 những lời chúc sức khỏe và thành đạt trong
tương lai
Trang 8MỤC LỤC
Mục lục……….……… vi
Danh sách bảng…….……… viii
Danh sách hình ix
Tóm lược xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Tổng quan về cây ớt 2
1.1.1Nguồn gốc, phân bố, phân loại và công dụng của cây ớt 2
1.1.2 Đặc tính thực vật của cây ớt 2
1.1.3 Sâu bệnh hại chính trên ớt 4
1.1.4 Điều kiện ngoại cảnh 5
1.2 Giống ớt 6
1.2.1 Ớt ăn 6
1.2.2 Ớt Kiểng 6
1.2.3 Một số kết quả nghiên cứu về giống ớt 6
1.3 Kỹ thuật ghép, nguyên lý ghép 7
1.3.1 Khái niệm ghép và cơ sở khoa học của việc ghép cây 7
1.3.2 Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng phương pháp ghép 8
1.3.3 Mối quan hệ giữa gốc và ngọn ghép 8
1.3.4 Phương pháp ghép rau họ cà ớt 9
1.3.5 Ảnh hưởng của gốc ghép lên sự sinh trưởng của ngọn ghép 9
1.4 Tình hình sản xuất và giá trị của hoa, cây kiểng 10
1.4.1 Tình hình sản xuất hoa, cây kiểng trên Thế Giới và ở Việt Nam….10 1.4.2 Giá trị của hoa và cây kiểng 11
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 12
2.1 Phương tiện 12
2.1.1 Địa điểm và thời gian 12
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 12
2.2 Phương pháp 14
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 14
2.2.2 Kỹ thuật canh tác 14
2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 17
2.2.4 Xử lý số liệu 18
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 19
3.1 Ghi nhận tổng quát 19
3.2 Điều kiện ngoại cảnh 20
Trang 93.2.1 Nhiệt độ, ẩm độ không khí và cường độ ánh sáng trong phòng phục
hồi sau ghép 20
3.2.2 Cường độ ánh sáng trong và ngoài nhà lưới 20
3.2.3 Nhiệt độ và ẩm độ không khí trong và ngoài nhà lưới 21
3.3 Tỷ lệ sống sau ghép 23
3.4 Một số chỉ tiêu trong vườn ươm 24
3.4.1 Chiều cao cây, đường kính gốc và số lá của 5 giống ớt Kiểng trước khi ghép 24
3.4.2 Chiều cao cây, đường kính gốc và số lá của 5 giống ớt Kiểng sau ghép 24
3.5 Chiều cao thân 25
3.5.1 Chiều cao cây 25
3.5.2 Chiều cao gốc ghép 26
3.5.3 Chiều cao ngọn ghép 27
3.6 Đường kính gốc thân của gốc ghép và ngọn ghép, đường kính tán…… 28
3.6.1 Đường kính gốc ghép 28
3.6.2 Đường kính ngọn ghép 29
3.6.3 Tỷ lệ đường kính gốc ghép/ngọn ghép 30
3.6.4 Đường kính tán 30
3.7 Số trái và kích thước trái 31
3.7.1 Số trái 31
3.7.2 Kích thước trái 32
3.8 Đánh giá tính thẫm mỹ của cây ớt Kiểng ghép 33
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36
4.1 Kết luận 36
4.2 Đề nghị … 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ CHƯƠNG
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
2.1 Đặc điểm về hình dạng, màu sắc trái của 5 giống ớt Kiểng thí nghiệm 12 2.2 Loại phân, lượng phân và thời kỳ bón cho ớt 17 2.3 Thang đánh giá cảm quan tổng thể (kiểu dáng cây, cân đối cành nhánh,
xen kẽ dạng trái và màu sắc) của các tổ hợp ớt ghép làm kiểng
3.5 Đường kính gốc thân ngọn ghép trung bình của 3 tổ hợp ghép qua các
thời điểm khảo sát
29
3.6 Tỷ số đường kính gốc chồi ghép/gốc thân ngọn ghép của 5 giống ớt
Kiểng ghép khảo sát
30
3.7 Đánh giá cảm quan tổng thể (kiểu dáng cây, cân đối cành nhánh, xen kẽ
dạng trái và màu sắc trái) của 3 tổ hợp ớt ghép 3 ngọn khác nhau trên
cùng 1 gốc ớt Hiểm Xanh
35
3.8 Đánh giá cảm quan về vị trí trưng bày của của 3 tổ hợp ớt ghép 3 ngọn
khác nhau trên cùng 1 gốc ớt Hiểm Xanh
35
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
2.1 Các giống ớt Kiểng dùng trong thí nghiệm (a) Dài Tím, (b) Tròn Tím,
(c) Thiên Ngọc, (d) Ớt Cà và (e) Dài Trắng
13
2.2 Giống ớt Hiểm Xanh dùng trong thí nghiệm (a) 40 ngày tuổi và (b) 66
ngày tuổi
14
2.3 Các bước ghép ớt Kiểng lên ớt Hiểm Xanh (a) chuẩn bị cắt gốc ghép,
(b) cắt bỏ ngọn của gốc ghép, (c) cắt rời ngọn ghép, (d) gắn ống cao su
vào ngọn ghép, (e) đặt ngọn ghép có ống cao su vào gốc ghép và (f)
3.9 Số trái trung bình của 3 tổ hợp ghép qua các thời điểm khảo sát 31
3.10 Kích thước trái (cm) của 5 giống ớt Kiểng ghép thời điểm 90 NSKGh 32
Trang 123.11 Hình dáng cây của 3 tổ hợp ớt ghép 3 ngọn khác nhau trên cùng một
gốc ớt Hiểm Xanh (a) tổ hợp Dài Tím + Tròn Tím + Thiên Ngọc, (b) tổ
hợp Dài Tím + Tròn Tím + Ớt Cà, (c) tổ hợp Dài Tím + Tròn Tím +
Dài Trắng
33
Trang 13VÕ THÀNH TÀI 2013 “Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của ba tổ hợp ớt
Kiểng ghép trên gốc ớt Hiểm Xanh” Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Trồng trọt, khoa
Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Trần Thị Ba và ThS Võ Thị Bích Thủy
TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện tại nhà lưới nghiên cứu rau sạch khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ từ tháng 06-12/2012 nhằm xác định khả năng tương thích giữa ngọn ghép ớt Kiểng và gốc ghép ớt Hiểm Xanh; đặc điểm sinh trưởng, phát triển của ba tổ hợp ớt Kiểng ghép; ảnh hưởng của 3 giống (Thiên Ngọc, Ớt Cà, Dài Trắng) lên sinh trưởng, phát triển và thẩm mỹ của cây ớt ghép (Dài tím + Tròn Tím/Hiểm Xanh) Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 lặp lại gồm 3 nghiệm thức là 3 tổ hợp ghép 3 giống ớt Kiểng ghép trên gốc ớt Hiểm Xanh: (1) Dài Tím + Tròn Tím + Thiên Ngoc, (2) Dài Tím + Tròn Tím + Ớt Cà, (3) Dài Tím + Tròn Tím + Dài Trắng
Kết quả cho thấy tất cả các tổ hợp ghép trong vườn ươm đều có tỷ lệ sống khá cao (95% thời điểm 15 ngày sau khi ghép), chiều cao cây trung bình của 3 tổ hợp từ 42,23 đến 54,60 cm; đường kính tán trung bình của 3 tổ hợp từ 61,73 đến 87,20 cm và có số trái trung bình của 3 tổ hợp từ 22,73 đến 38,53 trái/cây giai đoạn trưng bày làm kiểng Khi ghép giống Dài Tím + Tròn Tím + Ớt Cà lên gốc Hiểm Xanh, cây ghép cho dáng đẹp nhất được chọn trưng bày trước sân nhà
Trang 14
MỞ ĐẦU
Ớt là loại cây được con người trồng trọt và thu hái từ lâu đời Với một ít người, ớt là một loại gia vị không thể thiếu trong các bữa ăn, giúp làm tăng cảm giác ngon miệng Nhưng có lẽ ít ai biết ớt còn được dùng để trị bệnh như một loại dược liệu nhờ chất Capsaicine có trong trái Bên cạnh đó một số loài ớt còn có hình dạng trái đặc biệt với nhiều màu sắc khác nhau, với vẻ đẹp tự nhiên như thế nên một
số người con dùng ớt để làm cây trang trí trong nhà vào các dịp lễ tết trong năm Tuy nhiên, cây ớt Kiểng chỉ đơn thuần là một dạng trái với một màu sắc nên chưa thể hiện được hết vẻ đẹp vốn có của nó Nếu trên cùng một gốc ớt, có sự kết hợp giữa 3 ngọn ớt khác nhau về dáng cây phân tầng nhánh cao nhánh thấp, đa dạng về màu sắc trái (tím, xanh, cam, đỏ,…) và nhiều hình dạng trái (trái tròn, trái thon dài, trái to, trái nhỏ, trái chỉ thiên, trái chỉ địa) sẽ làm cây ớt Kiểng khác hẳn với cây trồng bình thường không ghép
Vì vậy, đề tài “Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của 3 tổ hợp ớt Kiểng
ghép trên gốc ớt Hiểm Xanh” được thực hiện tại nhà lưới nghiên cứu rau sạch khoa
Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ từ tháng 06-12/2012 nhằm xác định khả năng tương thích giữa ngọn ghép ớt Kiểng và gốc ghép ớt Hiểm Xanh; đặc điểm sinh trưởng, phát triển của 3 tổ hợp ớt Kiểng ghép, tạo ra một cây
ớt có 3 giống với hình dạng và màu sắc trái khác nhau cùng sống chung trên một gốc, góp phần nâng cao giá trị làm kiểng của cây ớt, đồng thời đáp ứng được yêu cầu về thẩm mỹ ngày càng cao của người tiêu dùng
Trang 15
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về cây ớt
1.1.1 Nguồn gốc, phân bố, phân loại và công dụng của cây ớt
* Nguồn gốc: Ớt (Capsicum spp.) có tên tiếng Anh là Pepper, Chili là cây trồng thuộc họ cà Solanaceae, có nguồn gốc từ Mexico, Trung và Nam Mỹ (Mai Thị
Phương Anh, 1999) Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005), cây ớt được thuần hóa và trồng ở châu Âu, Ấn Độ cách đây hơn 500 năm từ 1 loài ớt cay hoang dại ở Nam Mỹ
* Phân bố: Theo Võ Văn Chi (2005), ớt được trồng nhiều ở các nước châu Phi, khu vực Đông và Nam châu Á Ớt ngọt được trồng nhiều ở châu Âu, châu Mỹ và một vài nước ở châu Á; ớt cay được trồng phổ biến ở Ấn Độ, châu Phi và các nước nhiệt đới khác (Đường Hồng Dật, 2003)
* Phân loại: Ớt có 5 loài được trồng trọt chính trong tổng số 30 loài ớt (Mai Thị
Phương Anh, 1999) Năm loài ớt thuần hóa là C.annuum, C.baccatum, C.chinense,
C.frutescens và C.pubescens (Bosland, 1996) Cũng theo Bosland (1996), ớt được
phân loại theo đặc điểm trái, màu sắc, hình dáng, kích thước và mục đích sử dụng
* Công dụng của cây ớt: Ớt là loại cây vừa được dùng làm rau tươi, vừa được dùng
làm gia vị Trong ớt chứa nhiều loại vitamin, đặc biệt là vitamin C, nhiều nhất trong các loại rau, ngoài ra trong ớt có chứa 1 lượng Capsaicine (C18H27NO3), là một alkaloid có vị cay, gây cảm giác ngon miệng khi ăn, kích thích quá trình tiêu hóa (Mai Thị Phương Anh, 1999) Theo Võ Văn Chi (2005), trong 100 g ớt, trung bình
có 94 g nước; 1,3 g protid; 5,7 g glucid; 1,4 g chất xơ; 250 mg vitamin C; 100 mg carotene và 29-30 calo Ngoài việc dùng làm gia vị ớt còn được dùng làm thuốc, chúng có tác dụng là kích thích tiêu hóa, trị cảm lạnh, thấp khớp, sốt rét, lá ớt dùng đắp trị mụn nhọt (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007)
1.1.2 Đặc tính thực vật của cây ớt
* Rễ: Ớt có nhiều rễ trụ, nhưng khi cấy rễ phân nhánh mạnh và cây phát triển thành
rễ chùm, phân bố trong vùng đất cày là chính (Phạm Hồng Cúc và ctv 2001) Cây
ớt không chịu được úng, có thể chịu được nóng, nhưng chịu hạn trung bình, do bộ
rễ ăn nông (Mai Văn Quyền và ctv 2007) Theo Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn
(2005), rễ có nhiệm vụ chống đỡ, hút và vận chuyển nước, chất dinh dưỡng Hình
dạng rễ do đặc tính di truyền quyết định và bị ảnh hưởng bởi môi trường đất
* Thân: Ớt là cây bụi thân gỗ 2 lá mầm, thân thường mọc thẳng, đôi khi có thể gặp
các dạng thân bò, nhiều cành, chiều cao trung bình 0,5-1,5 m (Mai Thị Phương
Trang 16
Anh, 1999) Theo nhận định của Mai Văn Quyền và ctv (2000) cũng cho rằng cây
ớt phân cành, phân nhánh nhiều và chiều cao khách nhau thường phụ thuộc vào điều kiện canh tác và đặc tính giống Khi cây già phần gốc thân chính hóa gỗ, dọc theo chiều dài thân có 4-5 cạnh, có nhiều lông hoặc không lông (Phạm Hồng Cúc và
ctv 2001)
* Lá: Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2007), lá có dạng hình
thoi hơi dài về phía ngọn, có cuốn Lá nguyên có hình trứng đến bầu dục, phiến lá nhọn ở đầu, lá màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặc không lông (Phạm Hồng Cúc
và ctv 2001) Lá ớt có hình ê-líp hoặc hình lưỡi mác, mép lá nhẵn, gân lá hình
mạng lông chim (Nguyễn Hữu Doanh, 2000) Lá ớt mọc đơn mọc trên thân chính (Mai Thị Phương Anh, 1999), đôi khi mọc thành chùm hoa nhị (Phạm Hồng Cúc và
ctv 2001) Theo Mai Thị Phương Anh (1999), lá thường mỏng, có kích thước trung
bình 1,5-12 cm x 0,5-7,5 cm Chức năng chủ yếu của lá là quang hợp và thoát hơi nước (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2005) Số lá trên cây quyết định diện tích
lá tổng cộng trên cây
* Hoa: Theo Lê Quang Long (2006), ớt ra hoa, trái hầu như quanh năm, nhiều nhất
là vào mùa hạ Hoa ớt là loại hoa lưỡng phái, mọc đơn hoặc thành chùm 2-3 hoa Hoa nhỏ, dài, hoa màu xanh có hình chén, lá đài nhỏ, hẹp và nhọn (Phạm Hồng Cúc
và ctv 2001) Theo Mai Thị Phương Anh (1999), hoa thường có màu trắng, một số
giống có màu sữa, xanh lam và tím
* Trái: Dạng trái rất thay đổi từ hình cầu đến hình nón, bề mặt trái có thể phẳng, gợn sóng, có khía hay nhẵn, trái khi chín có màu đỏ đen vàng, trái không cay hay
rất cay (Phạm Hồng Cúc và ctv 2001) Ớt thuộc loại trái mọng, có nhiều hạt với thịt
trái nhăn và chia thành 2-4 thùy Các giống khác nhau có kích thước trái, hình dạng,
độ nhọn, màu sắc, độ cay và độ mềm của thịt trái rất khác nhau Trái chưa chín có thể có màu xanh hoặc tím, trái chín có màu đỏ, da cam, vàng, nâu, màu kem hoặc hơi tím (Mai Thị Phương Anh, 1999) Theo Đường Hồng Dật (2003), trên cây ớt có nhiều lứa trái, có trái đang chín, có trái già và có trái còn non
* Hạt: Hạt có dạng thận và màu vàng rơm, chỉ có hạt của C.pubescens có màu đen
Hạt có chiều dài khoảng 3-5 mm Một gam hạt ớt ngọt có khoảng 160 hạt, còn ớt
cay khoảng 220 hạt theo (Mai Thị Phương Anh, 1999) Theo Trần Thị Ba và ctv
(1999) hạt tròn, dẹp, nhỏ có màu nâu sáng, hạt có khả năng cất giữ lâu (3 năm), trọng lượng 1000 hạt 4-6 g Nhưng theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2007), hạt màu vàng hoặc trắng, đường kính 1-2 mm Hạt cay hơn thịt trái
Trang 17
1.1.3 Sâu bệnh hại chính trên ớt
* Rầy phấn trắng (Bemisia tabaci): Rầy trưởng thành nhỏ và dài khoảng 1 mm,
màu vàng nhạt, trên cơ thể phủ lớp bột màu trắng như phấn (Nguyễn Mạnh Chinh
và Phạm Anh Cường, 2007) Cả ấu trùng và thành trùng đều sống ở ngọn và mặt dưới lá, chích hút làm lá biến vàng, cây mau suy yếu, giảm năng suất và truyền
bệnh virus như rầy mềm (Phạm Hồng Cúc và ctv 2001) Theo Nguyễn Văn Huỳnh
và Lê Thị Sen (2011), biện pháp phòng trị dùng bẩy vàng để thu hút và bắt thành trùng
* Bù lạch (Thrips palmi Karny): Bù lạch có cơ thể rất nhỏ, khoảng 1 mm, màu vàng
hơi nâu, hai mắt đen (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) Con trưởng thành màu đen, có màu vàng nhạt lúc còn nhỏ Bù lạch thường sống ở đọt non và mặt dưới lá non (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007) Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), bù lạch thường chích cho nhựa cây chảy ra để hút ăn, đôi khi còn ăn cả mô lá hoặc cây Lá bị bù lạch gây hại sẽ quăn queo, lá non biến dạng và bị cong xuống phía dưới Đọt non bị bù lạch tấn công không phát triển dài
ra được mà chùn lại và cất cao lên, bù lạch còn truyền bệnh khảm do virus làm vàng
và xoăn lá, cây không chết nhưng ra hoa mà không cho trái Phòng trừ bằng cách đốt các tàn dư thực vật, dùng bẩy vàng từ khi cây con đến lúc trổ hoa
* Nhện đỏ (Tetranychus sp): Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), thành
trùng nhện đỏ hình bầu dục, thân rất nhỏ khoảng 0,4 mm Cả ấu trùng và thành trùng nhện đỏ đều hút chích mô của lá cây làm cây bị mất màu xanh và có màu vàng và sau cùng lá sẽ bị khô đi Màu vàng của lá dễ nhìn thấy nhất là ở mặt dưới
lá, làm giảm phẩm chất và năng suất trái Nhện đỏ rất khó trị vì rất nhỏ và thường sống ở gần gân lá, nhện tạo lập quần thể rất nhanh nên mật số tăng nhanh và nhiều
Có thể sử dụng các loại thuốc trừ nhện nhưng phải để ý đến quần thể thiên địch
* Sâu ăn tạp (Spodoptera litura Fab): Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006), sâu nhỏ tạp
trung thành từng đám gặm ăn lá, chừa lại biểu bì trên lá và gân lá Khi sâu lớn thì phân tán ăn thủng lá chỉ để lại gân lá, có thể ăn trụi hết lá, trụi cành hoa, chui vào
đục khóe trong trái, nụ hoa Theo Mai Văn Quyền và ctv (2000) Cây con hay
ruộng ớt mới trồng, sáng thăm đồng thấy cây con bị cắn ngang thân hay ăn trụi lá; ở ruộng ớt đã tốt, thấy lá bị ăn còn trơ cành, đó là do sâu ăn tạp phá hoại Sâu ăn thủng lá có hình dạng bất định, hoặc cắn đứt cây con sau đó sâu chui vào sống trong đất ẩn dưới các kẻ nứt hay rơm rạ phủ trên mặt đất Hoa nụ bị hại sẽ rụng, trái bị hại cũng sẽ rụng sớm hoặc bị thối khi trời mưa
* Bệnh héo xanh (Pseudomonas solanacearum): Bệnh héo xanh thường thể hiện
triệu chứng sau khi vi khuẩn xâm nhập vào rễ hoặc phần thân sát mặt đất Ở cây
Trang 18
bệnh, ban ngày lá cây mất nhẵn bóng, tái xanh, héo cụp xuống, về ban đêm có thể hồi phục lại Sau 2-3 ngày, lá cây bệnh không hồi phục được nữa, các lá gốc tiếp tục héo rũ và toàn cây ớt héo rũ rồi chết (Vũ Triệu Mân, 2007)
* Bệnh khảm: Bệnh do virus, côn trùng chích hút như rầy mềm, bù lạch gây ra Bệnh thường làm lá đọt nhỏ, xoắn lại, lá không phát triển, lóng ngắn, cây trở nên giòn dễ gãy; bệnh nặng cây còi cọc, hoa bị vàng nhỏ và rụng, cây rất ít trái, trái nhỏ
và vặn vẹo; cuối cùng cây có thể bị chết (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011).Nhổ bỏ những cây bệnh và diệt tác nhân truyền bệnh để ngừa bệnh virus (Trần Thị
Ba và ctv 1999)
1.1.4 Điều kiện ngoại cảnh
* Nhiệt độ: Nhiệt độ ảnh hưởng đến sinh trưởng, số hoa, tỷ lệ đậu trái của cây ớt;
nhiệt độ thích hợp để cây sinh trưởng, phát triển tốt, tăng năng suất, tăng số trái thương phẩm là 20-30oC đối với ớt cay và 20-25oC đối với ớt ngọt (Mai Thị Phương Anh, 1999) Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005), ớt là cây ưa nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của ớt là 25-28oC ban ngày và 18-
20oC ban đêm Nhiệt độ dưới 15oC và trên 32oC cây sinh trưởng kém, hoa bị rụng nhiều, ít trái (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007)
* Ánh sáng: Ớt là cây ưa ánh sáng ngày ngắn Nếu thời gian chiếu sáng trong 9-10
giờ sẽ kích thích sinh trưởng, tăng sản phẩm khoảng 21-24% và tăng chất lượng trái Trời âm u sẽ hạn chế sự đậu trái, giảm năng suất (Mai Thị Phương Anh, 1999) Trong quá trình sinh trưởng phát triển với cường độ ánh sáng từ 10.000-20.000 lux, cây rau sẽ cho năng suất cao và chất lượng tốt (Tạ Thu Cúc, 2005) Theo Đường Hồng Dật (2003), ớt cần nhiều ánh sáng cho sinh trưởng và phát triển, thiếu ánh
sáng nhất là vào thời điểm ra hoa cây sẽ bị giảm tỷ lệ đậu trái
* Nước và ẩm độ: Tùy điều kiện đất đai cần đảm bảo nước tưới đầy đủ mỗi ngày
trong mùa nắng để ớt phát triển tốt, mùa mưa phải đảm bảo thoát nước tốt (Phạm
Hồng Cúc và ctv 2001) Ớt là loại cây chịu hạn không chịu được ngập úng Ẩm độ
thấp hơn 70% ở giai đoạn ra hoa, hình thành trái thì trái bị sần sùi, giảm giá trị thương phẩm, 70-80% là ẩm độ thích hợp nhất, ẩm độ quá cao rễ sinh trưởng kém, cây sẽ còi cọc (Mai Thị Phương Anh, 1999) Theo nhận định của Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005), cũng cho rằng ở thời kỳ ra hoa và đậu trái, độ ẩm (đất
và không khí) đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khối lượng và chất
lượng trái
* Đất và dinh dưỡng: Theo Nguyễn Thị Hường (2004), cây ớt không kén đất nhưng tốt nhất là đất bãi hoặc đất trong đồng có độ màu mỡ khá, thoát nước, giãi nắng Theo Mai Thị Phương Anh (1999), đất phù hợp nhất để trồng ớt là đất thịt nhẹ, giàu
Trang 19
vôi, nó có thể sinh trưởng trên đất cát nhưng phải đảm bảo tưới tiêu và bón phân đầy đủ Đất chua và kiềm đều không thích hợp cho ớt phát triển Lượng phân bón cho cây ớt nên tùy thuộc vào điều kiện, độ màu mỡ của đất Theo khuyến cáo của
Phạm Hồng Cúc và ctv (2001): 100-200 kg N, 70-150 kg P2O5, 100-250 kg K2O, 10-15 kg phân hữu cơ cho 1 ha Theo Trần Thị Ba và ctv (1999), cây ớt rất nhạy
cảm với triệu chứng thiếu canxi, biểu hiện là thối đít trái hay còn gọi là mày ốc Vì vậy cần phải bón lót vôi bột và bổ sung thêm Cloruacanxi (CaCl2) nồng độ 2-40/00 phun trên lá định kỳ từ 7-10 ngày/lần từ lúc trái non phát triển
1.2 Giống ớt
1.2.1 Ớt ăn
Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005) có 2 nhóm phổ biến là ớt cay và
ớt ngọt Ớt ngọt (Sweet pepper) được trồng nhiều ở châu Âu, châu Mỹ và một vài nước châu Á và được dùng như một loại rau xanh hoặc dùng để chế biến Ớt cay được trồng phổ biến ở Ấn Độ, châu Phi và các nước nhiệt đới khác, ở nước ta ớt cay được trồng phổ biến từ Bắc chí Nam, ớt cay được sử dụng làm gia vị, ớt cay là cây
có giá trị kinh tế (Đường Hồng Dật, 2003) Một số giống ớt cay trồng phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay: ớt cay (F1) TN 16, ớt Hiểm lai (F1) 207, ớt cay Chilli (F1), ớt cay (F1) Hot Chilli (Hàn Quốc), ớt cay lai F1 số 20, ớt sừng trâu địa phương, ớt hiểm địa phương Trong đó ớt Hiểm lai (F1) 207 của công ty Hai Mũi Tên Đỏ hiện được bà con huyện Châu Thành, Chợ Mới, tỉnh An Giang, huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp trồng nhiều
1.2.2 Ớt Kiểng
Ớt Capsicum chinense - hay ớt Kiểng nhiều màu sắc thường dùng trang trí, không
cay Thường có rất nhiều màu, trái to, nhỏ, hay tròn như cà hay hình giọt nước Theo Eshbaugh (1993), một số loài ớt có hình dạng trái độc đáo và màu sắc tươi sáng đã được sử dụng rộng rãi như là cây kiểng (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Kim Đằng, 2012) Một nhóm nhỏ của ớt được dùng làm kiểng và có thể ăn được vì có hình dạng trái khác thường nhiều màu sắc, có tất cả các màu của cầu vòng, thường hiển thị 4 hoặc 5 màu sắc trái cùng lúc trên 1 cây (Bosland, 1996)
1.2.3 Một số kết quả nghiên cứu về giống ớt
* Trên Thế giới: Để ngăn chặn sự mất mát của các gen quý trong tập đoàn ớt, vào tháng 3 năm 2003, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau Châu Á (AVRDC) ở Đài Loan đã thu thập được 7.492 mẫu từ hầu hết các khu vực địa lý trên Thế giới Một bộ sưu tập ớt khác của bộ Nông nghiệp Mỹ gồm 3.000 mẫu ớt thuộc tất cả các dòng của rất nhiều quốc gia, là nguồn nguyên liệu rất quan trọng cho công tác
Trang 20
nghiên cứu và các chương trình chọn giống trên khắp Thế giới Viện nghiên cứu tài nguyên Di truyền thực vật quốc tế (IPGRI) hiện cũng đang lưu trữ 2.870 mẫu ớt thuộc các nơi trên Thế giới (Phạm Văn Trọng Tính, 2010)
* Tại Việt Nam: Theo Phạm Văn Trọng Tính (2010) trước đây việc nghiên cứu tập đoàn ớt chưa được quan tâm, các tài liệu báo cáo về tập đoàn ớt rất hạn chế Chỉ có một vài tài liệu được báo cáo như Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Hà Nội (1987) công bố bộ sưu tập với 117 giống nội địa
1.3 Kỹ thuật ghép, nguyên lý ghép
1.3.1 Khái niệm ghép và cơ sở khoa học của việc ghép cây
* Khái niệm ghép: Ghép là một kỹ thuật có từ rất lâu đời với cây ăn trái, ở Châu Âu
nó được ghi nhận vào những năm 327- 287 trước công nguyên, còn ở Trung Quốc
sử dụng biện pháp này cách nay 3000 năm (Lê Thị Thủy, 2000) Ghép là 1 phương pháp kỹ thuật bằng cách áp sát phần tượng tầng của gốc ghép và ngọn ghép (Phạm Văn Côn, 2007) Sau khi ghép có sự đáp ứng của vết thương thành lập cầu callus và cuối cùng chữa lành vết thương (Nguyễn Bảo Toàn, 2007) Tế bào của gốc ghép và ngọn ghép hình thành một cơ thể sống cộng sinh thống nhất, khả năng tiếp hợp của gốc ghép và ngọn ghép tùy thuộc vào sự tiếp hợp giữa chúng và mối liên hệ di truyền giữa chúng quyết định
* Cơ sở khoa học của việc ghép cây: Trong quá trình ghép tượng tầng của gốc ghép
và ngọn ghép tiếp xúc với nhau, nhờ sự hoạt động và tái sinh của tượng tầng mà gốc ghép và ngọn ghép gắn liền nhau Sau khi được gắn liền các mô mềm chỗ tiếp xúc giữa gốc ghép và ngọn ghép do tượng tầng sinh ra phân hóa thành các hệ thống mạch dẫn do đó nhựa nguyên và nhựa luyện giữa gốc ghép và ngọn ghép lưu thông nhau được (Trần Thế Tục, 2000) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), việc kết hợp giữa gốc và cành ghép như sau: Áp sát phần tượng tầng của gốc với cành ghép với nhau; lớp tế bào tượng tầng ngoài của gốc và cành ghép tạo ra những
tế bào nhu mô dính lại với nhau, gọi là mô sẹo; các tế bào nhu mô của mô sẹo phân hóa thành những tế bào tượng tầng mới, kết hợp với tượng tầng nguyên thủy của gốc và cành ghép; các tế bào tượng tầng mới tạo ra những mô mạch mới, gỗ bên trong và libe bên ngoài, hình thành sự kết hợp mạch giữa gốc và cành ghép làm dinh dưỡng và nước được vận chuyển qua lại với nhau Gốc ghép thông qua bộ rễ,
có chức năng lấy dinh dưỡng trong đất để nuôi toàn bộ cây mới, còn phần ghép có
chức năng sinh trưởng và tạo ra sản phẩm (Vũ Khắc Nhượng và ctv 2007)
Trang 21
1.3.2 Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng phương pháp ghép
Theo nhận định của Oda (1995), ghép là một kỹ thuật có từ rất lâu đời đối với cây
ăn trái Những năm 1900, phương pháp ghép rau được sử dụng lần đầu tiên trên cây
dưa hấu nhằm hạn chế bệnh héo do Fusarium (Cary và Frank, 2006; trích dẫn bởi
Nguyễn Khánh Lâm, 2008) Theo Besri (2001), việc sử dụng gốc ghép kháng bệnh trên cây rau đã được áp dụng phổ biến ở nhiều nước như Nhật Bản, Tây Ban Nha,
Ý, Đài Loan,… Ở Nhật Bản, năm 1990 có đến 31,5% cà chua, 49,9% cà tím, 92% dưa hấu, 71,7% dưa leo và 43,8% các loại dưa khác ứng dụng trồng bằng kỹ thuật ghép gốc kháng bệnh (Oda, 1993; trích dẫn bởi Trần Thị Ba, 2010)
Ở Việt Nam, ghép dưa hấu đã được áp dụng từ năm 1968, chủ yếu là ở Sóc Trăng nhằm mục đích kháng bệnh héo rũ và tăng kích thước trái (Trần Thị Ba, 2010) Việt Nam cũng đã bắt đầu nghiên cứu kỹ thuật ghép cà chua năm 1999 tại Viện nghiên cứu Rau Quả Hà Nội (Lê Thị Thủy, 2000) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam năm 2000-2003 (Trần Thị Ba, 2010) Đến năm 2004, Viện Nghiên cứu Cây Ăn Quả Miền Nam cũng có nghiên cứu về cà chua ghép áp dụng cho Đồng bằng Sông Cửu Long Hiện nay tại Lâm Đồng, diện tích trồng cà chua ghép đạt 1.500 ha, với hơn 30 trại sản xuất cây ghép có công suất lớn đảm bảo cung cấp đủ nguồn giống (Ngô Quang Vinh và Nguyễn Xuân Chinh, 2004)
Nhờ phương pháp ghép cành cộng với sự khéo léo uốn tỉa, các nhà vườn trồng hoa kiểng đã tạo ra những cây kiểng vừa nhỏ gọn, vừa có hình dạng lạ lẫm, gây sự chú ý cho người xem Một cây mai thấp nhỏ có thể mang được nhiều màu sắc hoa như mai vàng, mai trắng, mai đỏ, mai xanh; có thứ mỗi đóa chỉ 5 cánh, có thứ đến 12 cánh rồi 24 cánh (Việt Chương và Phúc Quyên, 2010) Trên một cây sứ thái có được nhiều màu sắc hoa khác nhau (trắng, đỏ, hồng, vàng,…) từ nhiều giống khác nhau (Huỳnh Văn Thới, 2004)
1.3.3 Mối quan hệ giữa gốc và ngọn ghép
Theo Phạm Văn Côn (2007), mối quan hệ giữa gốc và ngọn ghép được thể hiện ở sức tiếp hợp của chúng Thông thường sức tiếp hợp giữa gốc và ngọn ghép được đánh giá bằng tỷ số tiếp hợp T:
T =
T = 1, cây ghép sinh trưởng phát triển bình thường là do thế sinh trưởng của ngọn ghép tương đương thế sinh trưởng của gốc ghép
Đường kính gốc ghép Đường kính ngọn ghép
Trang 22
T > 1, cây ghép có hiện tượng chân voi (gốc lớn hơn thân), cây ghép vẫn sinh trưởng bình thường, tuy nhiên, T càng gần 1 thì càng tốt hơn là T càng xa 1 T càng xa 1 thì sinh trưởng của ngọn ghép yếu hơn gốc ghép, biểu hiện cây ghép hơi cằn cõi, chậm lớn, lá hơi vàng, phần gốc ghép vỏ nứt nhiều
T < 1, cây ghép có hiện tượng chân hương (gốc nhỏ hơn thân), thế sinh trưởng của ngọn mạnh hơn gốc Phần ngọn bị nứt vỏ nhiều hơn phần gốc, cây ghép sinh trưởng kém dần, tuổi thọ ngắn
1.3.4 Phương pháp ghép rau họ cà ớt
Trước ghép 1-2 tuần cần tiến hành vệ sinh vườn cây gốc ghép và tăng cường chăm sóc để cây có nhiều nhựa, tượng tầng hoạt động tốt; chọn cành, mắt ghép tốt: Cành ghép được lấy từ vườn chuyên lấy cành ghép hoặc trên vườn sản xuất với những cây mang đầy đủ đặc tính của giống muốn nhân (Phạm Văn Côn, 2007)
* Kỹ thuật ghép nối ống cao su: Dùng dao lam cắt ngọn ghép xiên 1 góc 30o so với phương thẳng đứng của cây ở vị trí lá thật đầu tiên Tương tự cắt ngọn ghép ở vị trí
lá mầm cũng thành lát xiên 1 góc 30o Dùng ống cao su hoặc ống nhựa lồng vào ngọn ghép rồi lồng ống cao su hoặc ống nhựa có mang theo ngọn ghép vào gốc ghép đã cắt vát sao cho vết cắt của ngọn và gốc ghép tiếp xúc với nhau Thao tác ghép cần nhanh, chính xác, được tiến hành ở nơi râm mát, khuất gió, gần phòng bảo quản (Trần Thị Ba, 2010)
* Chăm sóc cây ghép: Cây ghép cần chuyển ngay vào phòng phục hồi và điều chỉnh
điều kiện phòng ở nhiệt độ 27-29oC, độ ẩm không khí 90% (sao cho không có nước đọng trên lá, cường độ ánh sáng yếu) Thời gian bảo quản là 7-10 ngày Trong điều kiện phòng phục hồi đơn giản: Gồm vòm che bằng ni lông trắng, lưới đen phía trên (3-5 lớp) giảm cường độ ánh sáng, nền phòng được trải ni lông để đựng nước tạo độ
ẩm, giá đặt cây cần cao hơn mặt nước Trong ngày đầu sau khi ghép, thường xuyên phun nước cho cây để cây luôn tươi (chỉ phun mù, rất ít trên lá, không phun nhiều làm cho nước dính vào vết ghép) Từ ngày thứ 2, thứ 3 trở đi tưới nước cho cây bằng bình bom có vòi phun nước mịn Trong 3 ngày đầu sau khi ghép, cây ghép phải được che mát để có ánh sáng nhẹ Từ ngày thứ 4 tăng dần ánh sáng, đến ngày thứ 7 cho cây sống trong điều kiện đủ sáng Khoảng 12-15 ngày sau khi ghép có thể đem cây đi trồng Khi trồng cần chú ý không vun đất quá cao giáp với vết ghép (Trần Thị Ba, 2010)
1.3.5 Ảnh hưởng của gốc ghép lên sự sinh trưởng của ngọn ghép
Kết quả nghiên cứu của trường Đại học Cần Thơ tại Bạc Liêu cho thấy tỷ lệ sống của cây con cà chua ghép khá cao (86-92%) ở tất cả gốc ghép cà chua và cà tím
Trang 23
(Phạm Hoàng Sỹ, 2008) Theo Lâm Anh Nghiêm (2008) thì khả năng tương thích tốt giữa ngọn ghép cà chua Red Crown 250 và gốc ghép cà tím EG 203 với tỷ lệ sống sau ghép cao tương đương, dao động từ 89,89-93,24% Theo nghiên cứu của
Lê Trường Sinh (2006), ngọn ghép trên gốc cà chua có chiều cao thân, số lá, đường kính gốc thân phát triển tốt hơn so với đối chứng không ghép Cà Cherry ghép trên gốc cà chua Miền Nam sinh trưởng tốt nhất về chiều cao, đường kính thân chính, số nhánh hữu hiệu trên cây, năng suất (8,62 tấn/ha) tương đương gốc ghép cà tím EG
195 (7,07 tấn/ha) (Lư Tuấn Anh, 2008)
1.4 Tình hình sản xuất và giá trị của hoa, cây kiểng
1.4.1 Tình hình sản xuất hoa, cây kiểng trên Thế giới và ở Việt Nam
* Thế giới: Hoa, cây kiểng là một ngành kinh tế non trẻ nhưng phát triển với tốc độ
khá mạnh mẽ, giá trị sản lượng hoa, cây kiểng toàn Thế giới năm 1995 đạt 45 tỷ USD, đến năm 2004 tăng lên 66 tỷ USD Những nước có nền sản xuất công nghiệp hoa phát triển là Hà Lan, Pháp, Mỹ, Colombia, Kenia,… Một số nước đang có kế hoạch đầu tư phát triển mạnh mẽ, đưa cây hoa lên thành một ngành kinh tế quan trọng là Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapo, Ixraen, Italia,… (Đặng Văn Đông, 2008) Châu Á Thái Bình Dương có diện tích hoa, cây kiểng khoảng 134.000 ha; chiếm 60% diện tích hoa của thế giới (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim
Lý, 2005) Theo Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga (2007), sản xuất hoa ở các nước châu Á đang phát triển mạnh và cạnh tranh quyết liệt để chiếm lĩnh thị trường hoa trên Thế giới Chủng loại hoa cảnh trên thị trường Thế giới hiện nay chủ yếu là hồng, cúc, cẩm chướng, layơn (gladiolus), lan, anthurium, gerbera, gloxinia, các loại kiểng lá và bonsai (Đặng Phương Trâm, 2004)
* Ở Việt Nam: Hiện cả nước có khoảng 11.340 ha hoa, cây cảnh, trong đó các tỉnh
Miền Bắc (mà tập trung chủ yếu ở Đồng bằng Sông Hồng) có 6.300 ha, Miền Nam
có gần 5.000 ha, thu nhập bình quân trồng hoa, cây cảnh của nước ta là 72 triệu/ha/năm (Đặng Văn Đông, 2007) Theo Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý (2005), diện tích trồng hoa, cây kiểng nước ta còn nhỏ, tập trung ở các vùng truyền thống của thành phố, khu công nghiệp, khu du lịch nghỉ mát như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, với tổng diện tích trồng hoa, cây kiểng khoảng 3.500 ha Năm 2003, giá trị xuất khẩu hoa kiểng đạt khoảng 30 triệu USD, thu nhập từ hoa kiểng trong cả nước ước tính đến 1.000 tỷ đồng (Đặng Phương Trâm, 2005)
Trong những năm gần đây, sản xuất hoa, cây kiểng đã được mở rộng khắp các tỉnh trên cả nước, các vùng sản xuất mới còn được đầu tư các loại hoa mới và quy trình
kỹ thuật tiên tiến nên năng suất và thu nhập trên đối với diện tích cao hơn vùng
Trang 24
truyền thống từ 2-3 lần (Đặng Văn Đông, 2008) Với phong trào chơi cây kiểng cổ thụ, bonsai thì các cây có trái đẹp, chín bền trên cây lại được các nhà trồng cây ưa chuộng (Trần Hợp, 1998) Theo Phạm Văn Duệ (2005), một số nhà vườn ở nước ta
có sáng tạo trồng và điều chỉnh cây ăn trái thành cây kiểng lưỡng dụng, vừa có thể trang trí, vừa làm thực phẩm
1.4.2 Giá trị của hoa và cây kiểng
Hoa kiểng là loại cây nông nghiệp đặc biệt cung cấp cho con người các sản phẩm mang tính nghệ thuật, khi cái ăn và cái mặc không còn là gánh nặng người ta có nhu
cầu thư giãn tinh thần (Đặng Phương Trâm, 2004)
* Giá trị tinh thần xã hội: Theo Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga (2007), hoa là
tượng trưng của cái đẹp, là nguồn cảm giác ngọt ngào của cuộc sống Hoa và cây kiểng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tâm linh của con người; ở nhiều nơi trên Thế Giới, trong nghi thức lễ hội hoặc lễ nghi của quốc gia, hoa như một thông điệp thể hiện tâm tư tình cảm của con người (Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Hoa kiểng làm cho con người hướng thiện, nhân hậu, dịu dàng Sự thưởng thức cái đẹp của hoa kiểng làm cho người ta cảm thấy cuộc đời như đẹp tươi, phấn chấn hơn (Đặng
Phương Trâm, 2005)
* Giá trị thẩm mỹ: Sự có mặt của hoa, cây kiểng có ý nghĩa rất cao về thẩm mỹ
Trước hết vì hoa kiểng đẹp là tinh túy và muôn hình muôn vẻ Người ta yêu chuộng hoa cảnh vì những lý do khác nhau như có người thích hoa do sắc màu rực rỡ, có người lại yêu màu trắng tinh khiết của cánh hoa mới nở (Đặng Phương Trâm, 2005) Theo Đặng Phương Trâm (2004), vẻ đẹp của ngôi nhà, của đường phố không
thể hoàn thiện nếu thiếu màu sắc điểm xuyến của hoa và cây xanh
* Giá trị kinh tế: Hoa nói riêng và các loại cây cảnh nói chung là những sản phẩm
có giá trị cao về mặt kinh tế lẫn nghệ thuật (Lê Văn Hòa, 2010) Lợi nhuận từ nghề trồng hoa cao hơn gấp nhiều lần so với trồng các loại hoa màu khác, thông thường gấp 2-3 lần, với vùng thâm canh trình độ cao trên cùng một diện tích lợi nhuận đem
về từ trồng hoa gấp hàng chục lần so với trồng lúa (Đặng Phương Trâm, 2005) Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga (2007), cũng cho rằng cây hoa đem lại hiệu quả
kinh tế cao gấp 5-20 lần so với trồng các cây trồng khác
* Hoa, cây kiểng và sự cải thiện môi trường: Ngày nay ở các thành phố lớn mật độ
dân số thường rất cao, sự có mặt của hoa cảnh trong khuôn viên, ngoài đường phố góp phần làm dịu bầu không khí, điều hòa bớt sự khắc nghiệt của thiên nhiên trong những ngày nắng nóng oi bức Trong các cao ốc, hoa cảnh ngoài mục đích trang trí còn giữ vai trò tạo bầu không khí trong sạch, giúp người ta cảm thấy gần gũi với thiên nhiên hơn (Đặng Phương Trâm, 2004)
Trang 25
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phương tiện
2.1.1 Địa điểm và thời gian
- Địa điểm: Nhà lưới nghiên cứu rau sạch, khoa Nông nghiệp và Sinh học
Ứng dụng (NN&SHƯD), trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT)
- Thời gian: Tháng 06-12/2012
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
- Giống: Ớt Hiểm Xanh (HX), ớt Kiểng có nguồn gốc từ địa phương
+ Gốc ghép: Ớt Hiểm Xanh, cây cao, nhiều cành nhánh cho tán xòe rộng, trái nhỏ, dài trung bình 3-4 cm, chỉ thiên, trái non có màu xanh, chín màu đỏ, cây có khả năng kháng bệnh tốt
+ Ngọn ghép: Ớt Cà, Tròn Tím, Dài Tím, Dài Trắng và Ớt Thiên Ngọc (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Đặc điểm về hình dạng, màu sắc trái của 5 giống ớt Kiểng thí nghiệm, nhà
lưới nghiên cứu rau sạch khoa NN&SHƯD, ĐHCT (06-12/2012)
Giống ớt Dạng trái Hướng trái Màu sắc trái từ non đến chín
Tròn Tím Tròn Chỉ thiên Tím - cam - đỏ
Dài Trắng Dài Chỉ thiên Trắng ngả vàng - cam - đỏ
Thiên Ngọc Tròn Chỉ thiên Trắng ngả vàng - cam - đỏ
(Tên các giống ớt được gọi theo hình dạng, kích thước trái)
- Nhà lưới, phòng phục hồi sau ghép
- Giá thể: Tro trấu, đất
- Dinh dưỡng: Urê, KCl, NPK 16-16-8, BC-204, Black earth, Kina-01, Tomato, Risopla II, Risopla V, Phân cá, Cabona
- Thuốc trừ sâu, bệnh: Vertimec 1.8EC, Diony 75EC, Biffiny 70WP, Nazomi 5WDG, Anvil, RevusOpti, Binyvil, Actara 25WG, Sendox 200EC, Marthian 90SP, Ridomil Gold 68WG, Appencarb super 50FL, Nissorun 5EC
- Khay ươm cây con (28 cm x 50 cm x 5 cm), ly nhựa tròn trồng cây con (9
cm x 12 cm), chậu nhựa trồng cây sau ghép (15 cm x 15 cm x 20 cm), ống cao su,
dao lam, cồn 90o, thước dây, thước kẹp, cân, nhiệt kế, máy đo ánh sáng Lux meter model DM-28 và một số dụng cụ cần thiết khác
Trang 26Hình 2.1 Các giống ớt Kiểng dùng trong thí nghiệm (a) Ớt Cà, (b) Tròn Tím, (c) Thiên Ngọc,
(d) Dài Tím và (e) Dài Trắng
Trang 27
lá mầm khoảng 2 cm, những ngày sau đó theo dõi và tiến hành ngắt tỉa chỉ để lại 3 chồi to, khỏe, đều làm chồi ghép sau này
Hình 2.2 Giống ớt Hiểm Xanh dùng trong thí nghiệm (a) 40 ngày tuổi và (b) 66 ngày tuổi
Trang 28* Giai đoạn vườn ươm:
- Trước khi ghép: Phun thuốc phòng trừ sâu bệnh trước đó 3 ngày Cây con được tưới trước ghép (3 giờ) cho đủ ẩm, tránh tưới ướt lá Thời gian ghép tốt nhất từ 17-20 giờ tối, thời gian đó thời tiết mát mẻ, nhiệt độ thấp cây ghép ít bị mất sức, vết ghép phục hồi nhanh
- Ghép: Sử dụng phương pháp ghép nối ống cao su (Trần Thị Ba, 2010) Dùng dao lam cắt ngọn gốc ghép xiên 1 góc 30o so với phương thẳng đứng của thân cây ở vị trí lá thật đầu tiên Tương tự cắt ngọn ghép ở vị trí lá mầm cũng thành lát xiên 1 góc 30o Dùng ống cao su lồng vào ngọn ghép rồi lồng ống cao su
có mang theo ngọn ghép vào gốc ghép đã cắt vát sao cho vết cắt của ngọn và gốc ghép tiếp giáp với nhau chặt chẽ Thao tác tương tự cho 2 ngọn còn lại
Cây vừa ghép xong phải đưa vào phòng phục hồi sau ghép, lưu ý phun mù
cho cây ghép trước khi di chuyển
- Chăm sóc cây ghép trong vườn ươm:
+ Cây ghép được đặt trong phòng phục hồi sau khi ghép trong 3 ngày đầu, điều kiện ánh sáng nhẹ, nhiệt độ 28-30oC, phun mù định kỳ 20 phút/lần để cây luôn tươi tỉnh, tránh phun nhiều đọng giọt làm vết ghép lâu hồi phục
- Ngày thứ 4-6 cho cây ghép tiếp xúc ánh sáng vài giờ trong ngày (sáng sớm đến 9 giờ và 15 giờ đến tối), sau đó tăng dần để cây thích nghi từ từ với điều kiện môi trường bên ngoài
- Từ ngày thứ 7 cây ghép được bố trong môi trường có nhiệt độ, ánh sáng tương đối thấp hơn bình thường (có lưới đen phía trên để che mát cho cây, làm giảm cường độ ánh nắng gay gắt vào buổi trưa) Cây ghép được 10 ngày đặt trong môi trường có nắng đầy đủ
- Cây ghép được 15 ngày trồng vào chậu nhựa lớn hơn (giai đoạn này cây ghép đã khỏe)
Trang 29
(a) (b)
(c) (d)
(e) (f)
Hình 2.3 Các bước ghép ớt Kiểng lên ớt Hiểm Xanh (a) chuẩn bị cắt gốc ghép, (b) cắt bỏ ngọn
của gốc ghép, (c) cắt rời ngọn ghép, (d) gắn ống cao su vào ngọn ghép, (e) đặt ngọn ghép có ống cao su vào gốc ghép và (f) cây ớt ghép hoàn chỉnh
Trang 30
* Giai đoạn trồng chậu:
- Chuẩn bị giá thể: Hỗn hợp giá thể được trộn theo tỷ lệ 2 đất kết hợp với 1
phần tro trấu (120 lít đất + 60 lít tro trấu), 480 g phân dơi, 300 g NPK, dùng cho 60 chậu (3 lít/chậu)
- Trồng cây: Trồng lúc chiều mát, sau khi trồng tưới phân hữu cơ Risopla V kích thích ra rễ, rãi Diazan phòng ngừa côn trùng trong đất Cố định vết ghép bằng cây trúc nhỏ để tránh gió làm gãy vết ghép
- Chăm sóc:
+ Tưới nước: 3 lần/ngày
+ Tỉa chồi: Tỉa bỏ chồi dưới vết ghép
+ Bón phân: Theo công thức 144:144:132 NPK (Bảng 2.2)
Bảng 2.2 Loại phân, lượng phân và thời kỳ bón cho ớt, nhà lưới nghiên cứu rau sạch
+ Phòng trừ sâu bệnh: Trong nhà lưới treo các bẫy dính côn trùng màu vàng
Phun luân phiên các loại thuốc khác nhau, định kỳ 7 ngày/lần đều kết hợp với dầu khoáng
2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi
* Ghi nhận:
- Ngày gieo, sinh trưởng của cây trước khi ghép, ngày ghép
- Thời gian từ ngày ghép đến ngày cây có nụ, trổ hoa, đậu trái và có trái chín 50%
- Tình hình sâu bệnh hại chính (trước và sau ghép)
* Tỷ lệ sống sau ghép (%): Đếm số ngọn ghép không bị héo giai đoạn 1-15 ngày sau khi ghép (NSKGh)
Trang 31
* Chỉ tiêu về điều kiện ngoại cảnh: Cường độ ánh sáng (lux), nhiệt độ (oC), ẩm độ (%), trong phòng ghép và môi trường cây ghép sinh trưởng, phát triển
* Chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển: Cố định 10 cây/nghiệm thức, thời điểm 15, 30,
50, 70 và 90 NSKGh; sau đó tính tốc độ tăng trưởng (chiều cao)
- Chiều cao (cm): Đo dọc theo thân chính từ gốc sát mặt đất đến đỉnh sinh
trưởng cao nhất (cao cây), từ vị trí ghép đến đỉnh sinh trưởng cao nhất (cao ngọn),
từ gốc sát mặt đất đến vị trí ghép (cao gốc) bằng thước dây
- Đường kính (cm): Đo dưới vị trí ghép 1 cm (gốc ghép), trên vị trí ghép 1
cm (gốc thân ngọn ghép) bằng thước kẹp
- Số trái (trái/cây): Đếm tất cả các trái trên cây thời điểm có 50% trái chín
- Kích thước trái (cm): Đo chiều dài, đường kính ngẫu nhiên của 10 trái/cây
- Đường kính tán (cm): Chọn một lá bìa cùng của tán kéo thước từ đó qua lá bìa cùng đối diện được đường kính thứ nhất, thực hiện tương tự cho đường kính thứ hai nhưng phải vuông góc với đường kính thứ nhất Trung bình của hai đường kính
là đường kính tán của cây ghép Đo thời điểm cây ghép có 50% trái chín
* Đánh giá cảm quan: Đánh giá cảm quan của 20 người với nhiều thành phần khác nhau; lập phiếu có thang đánh giá về kiểu dáng cây, cân đối cành nhánh, xen kẽ dạng trái và màu sắc trái, vị trí trưng bày của 3 tổ hợp ghép
Bảng 2.3 Thang đánh giá cảm quan tổng thể (kiểu dáng cây, cân đối cành nhánh, xen
kẽ dạng trái và màu sắc) của các tổ hợp ớt ghép làm kiểng
Bảng 2.4 Thang đánh giá cảm quan về vị trí trưng bày của các tổ hợp ớt ghép làm
kiểng
2.2.4 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm ứng dụng Excel, SPSS
Rất đẹp, rất lạ, rất bắt mắt, rất độc đáo, ấn tượng ++++
Trang 32* Giai đoạn vườn ươm: Hạt nảy mầm tốt, tuy nhiên thời gian nảy mầm không đồng đều giữa các giống, tỷ lệ nảy mầm cao trên 80%, gốc ghép ớt Hiểm Xanh có thời gian nảy mầm nhanh hơn các giống ớt Kiểng Gốc ghép ớt Hiểm Xanh lớn rất nhanh, lá xanh tốt, cây được 30-33 ngày tuổi (cao 8-10 cm) chồi bên xuất hiện, giai đoạn sau cắt ngọn, chồi bên phát triển tốt, to khỏe Các giống ớt Kiểng phát triển tương đối đồng đều, xanh tốt
* Giai đoạn từ khi ghép trở về sau: Tỷ lệ sống sau ghép của các tổ hợp ghép trong vườn ươm khá cao (trung bình là 95%), sau 2 tuần cây ghép đã hồi phục hoàn toàn
Từ tuần thứ 3, sinh trưởng của cây bắt đầu có sự khác biệt, các ngọn ghép phát triển không đồng đều ở tất cả 5 giống và 3 tổ hợp của 5 giống Giống ớt Cà phát triển nhanh nhất, kế đến là Tròn Tím và Dài Trắng, 2 giống Dài Tím và Thiên Ngọc phát triển tương đương nhau Thời gian cây có nụ 50% của 5 giống ớt Kiểng ghép trên cùng 1 loại gốc ớt Hiểm Xanh là 27 NSKGh, hoa nở 37-38 NSKGh, đậu trái 47-49 NSKGh và có trái chín 77-81 NSKGh Tròn Tím có thời gian hoa nở 37 NSKGh và đậu trái 47 NSKGh sớm nhất, trễ nhất ở giống Dài Tím và Dài Trắng (38-50 NSKGh, tương ứng) Thời gian cho trái chín của 5 giống biến thiên từ 77-81 NSKGh, Tròn Tím và Thiên Ngọc cho trái chín sớm nhất, trễ nhất là giống Dài Tím (Phụ bảng 2.1) Cây trưởng thành đang mang trái với nhiều màu sắc (tím, xanh, cam, đỏ…), hình dạng trái (trái tròn, trái thon dài, trái to, trái nhỏ, trái chỉ thiên, trái chỉ địa) xuất hiện bên trên một cây làm cây ớt kiểng trở nên khác biệt và thu hút Giai đoạn này có thể nói là giai đoạn có giá trị nhất để chọn trưng bày làm kiểng
Trang 333.2 Điều kiện ngoại cảnh
3.2.1 Nhiệt độ, ẩm độ không khí và cường độ ánh sáng trong phòng phục hồi sau ghép
Nhiệt độ từ 7:00-17:00 giờ biến thiên từ trong khoảng 27-30oC; ẩm độ 80-94% Qua đây cho thấy nhiệt độ, ẩm độ không khí và cường độ ánh sáng trong phòng phục hồi sau ghép tương đối ổn định, thuận lợi cho sự phục hồi sau khi ghép của cây ớt (Hình 3.1 và Phụ bảng 1.1), giúp ớt ghép sinh trưởng và phát triển bình thường
Hình 3.1 Nhiệt độ và ẩm độ không khí trong phòng phục hồi sau ghép ngày 20/8/2012
3.2.2 Cường độ ánh sáng trong và ngoài nhà lưới
Cường độ ánh sáng trong và ngoài nhà lưới vào lúc 7:00 giờ (80.000-85.000 lux, tương ứng) tăng dần 11:00 giờ (82.500-83.750 lux, tương ứng), cao nhất vào lúc 13:00 giờ (90.000-92.500 lux, tương ứng) sau đó giảm dần 15:00 giờ (72.500-75.000 lux, tương ứng) và thấp nhất lúc 17:00 giờ (55.000-60.000 lux, tương ứng) Cường độ ánh sáng ở đây có sự chênh lệch nhưng không lớn ở các thời điểm trong ngày (Hình 3.2 và Phụ bảng 1.2), cường độ ánh sáng bên trong nhà lưới luôn thấp hơn bên ngoài nhà lưới do lợp nóc ni lông đã làm giảm bớt 1 phần ánh sáng, tuy nhiên vẫn còn cao so với nhu cầu của cây rau nói chung Theo Tạ Thu Cúc (2005), trong quá trình sinh trưởng phát triển với cường độ ánh sáng từ 10.000-20.000 lux,
cây rau sẽ cho năng suất cao và chất lượng tốt, và Trần Thị Ba và ctv (1999) cho
Trang 34
rằng, nếu nắng gay gắt vào buổi trưa có cường độ ánh sáng từ 80.000-100.000 lux vào thời điểm 11:00-13:00 giờ sẽ làm cây cà chua héo, lá và trái bị cháy nắng Trên cây ớt Kiểng ghép cũng có hiện tượng cây bị mất nước dẫn đến tình trạng lá bị héo
và cụp xuống, nhưng không ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng và phát triển của cây
bởi vì theo Mai Văn Quyền và ctv (2007), ớt có thể chịu được nóng và chịu hạn
trung bình, mặt khác thí nghiệm ở đây luôn được theo dõi thường xuyên nên cây ớt
ở đây luôn được cung cấp đầy đủ nước thường xuyên nên tình trạng trên đã được khắc phục hoàn toàn
Thời gian trong ngày (giờ)
Cường độ ánh sáng trong nhà lưới Cường độ ánh sáng ngoài nhà lưới
Hình 3.2 Cường độ ánh sáng trong và ngoài nhà lưới trong ngày nắng 14/09/2012
3.2.3 Nhiệt độ và ẩm độ không khí trong và ngoài nhà lưới
* Nhiệt độ
Ở các thời điểm khác nhau trong ngày nhiệt độ không khí trong và ngoài nhà lưới luôn cao, sự chênh lệch nhiệt độ bên trong và bên ngoài là không cao (Hình 3.3 và Phụ bảng 1.2) Nhiệt độ thấp nhất vào lúc 7:00 giờ (24,5-25oC, tương ứng) và tăng dần đến 11:00 giờ (31-29oC, tương ứng), cao nhất vào lúc 13:00 giờ (34-33oC, tương ứng), sau đó giảm dần 15:00 giờ (30,5-31oC, tương ứng) và thấp vào lúc 17:00 giờ (27,5-28oC, tương ứng) Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005), nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của ớt là 25-28oC ban ngày
Do vậy vào buổi trưa nắng nóng ở thời điểm khảo sát nhiệt độ trong và ngoài nhà
Trang 35Nhiệt độ trong nhà lưới Nhiệt độ ngoài nhà lưới
Ẩm độ trong nhà lưới Ẩm độ ngoài nhà lưới
lưới luôn cao hơn so với nhiệt độ thích hợp của ớt điều này đã gây bất lợi đến sự sinh trưởng và phát triển của ớt, cây dễ bị héo do sự mất nước Ở đây do ớt đã được cung cấp nước đầy đủ nên cây luôn sinh trưởng tốt, hoa nhiều, tỷ lệ đậu trái ở đây là không bị hạn chế
Hình 3.3 Nhiệt độ và ẩm độ không khí trong và ngoài nhà lưới trong ngày nắng 14/09/2012
* Ẩm độ
Ẩm độ không khí tương đối phù hợp với cây ớt, bên trong nhà lưới dao động 82% (Hình 3.3 và Phụ bảng 1.2), bên ngoài 76-86%, vào buổi trưa nhiệt độ tăng dần, ẩm độ bắt đầu giảm Theo Đường Hồng Dật (2003), độ ẩm thấp (dưới 70%) vào thời kì này trái hay bị cong và vỏ trái không mịn, ẩm độ cao (trên 80%) bộ rễ phát triển kém, cây còi cọc, ngoài ra còn tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển và lây lan nhanh Để hạn chế yếu tố bất lợi đó, vào mỗi buổi sáng cây được cung cấp nước đầy đủ và phun mưa môi trường xung quanh để nhiệt độ không tăng quá cao
75-và ẩm độ không quá thấp 75-vào buổi trưa, cho nên cây ít sâu bệnh hại, ra hoa 75-và đậu trái nhiều mà vẫn giữ được hình dạng, màu sắc trái ổn định
Trang 36
3.3 Tỷ lệ sống sau ghép
Tỷ lệ sống sau ghép trung bình của các tổ hợp ớt Kiểng ghép trong vườn ươm là 95% vào thời điểm 15 NSKGh (Bảng 3.1 và Hình 3.4), qua đó cho thấy có sự tương thích tốt giữa các ngọn ớt Kiểng và gốc ớt Hiểm Xanh, thời gian phục hồi của 3 tổ hợp rất đồng đều
Bảng 3.1 Tỷ lệ sống sau ghép của 3 tổ hợp ghép trong vườn ươm
Tỷ lệ sống (%) qua các ngày sau khi ghép
DT: Dài Tím, TT: Tròn Tím, TN: Thiên Ngọc, OC: Ớt Cà, DTr:Dài Trắng (Số liệu tính trung bình)
Hình 3.4 Các tổ hợp ớt Kiểng ghép thời điểm 15 NSKGh (a) tổ hợp DT+TT+TN, (b) tổ hợp
DT+TT+OC và (c) tổ hợp DT+TT+DTr
Trang 37
3.4 Một số chỉ tiêu trong vườn ươm
3.4.1 Chiều cao cây, đường kính gốc và số lá của 5 giống ớt Kiểng trước khi ghép Chiều cao cây, đường kính gốc và số lá của 5 giống ớt Kiểng trước khi ghép khác
biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% (Bảng 3.2), chiều cao cây
ớt kiểng cao nhất là giống ớt Dài Trắng (19,20 cm) và ớt Dài Tím (19,00 cm) , thấp nhất là giống ớt Thiên Ngọc (14,80 cm)
Đường kính gốc lớn nhất là giống ớt Cà (0,38 cm), nhỏ nhất là giống Thiên Ngọc (0,26 cm) Số lá nhiều nhất là giống ớt Cà (13,20 lá), ít nhất là giống Tròn Tím (9,20 lá) Kết quả cho thấy các ngọn ớt Kiểng phát triển tốt và sự thay đổi này có thể là do giống quyết định
Bảng 3.2 Chiều cao cây, đường kính gốc và số lá của 5 giống ớt Kiểng trước khi ghép
Giống ớt Chiều cao cây
(cm)
Đường kính gốc (cm)
Số lá (lá/ngọn)
3.4.2 Chiều cao cây, đường kính gốc và số lá của 5 giống ớt Kiểng sau ghép
Chiều cao cây, đường kính gốc và số lá của 5 giống ớt Kiểng sau ghép khác biệt có
ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% (Bảng 3.3) Chiều cao cây ớt sau ghép cao nhất là giống ớt Dài Trắng (24,10 cm) và giống ớt Cà (24,00 cm), thấp nhất là giống ớt Thiên Ngọc (16,40 cm) Đường kính gốc ớt lớn nhất là giống ớt Cà (0,42 cm), nhỏ nhất là giống ớt Thiên Ngọc (0,33 cm) Lá ớt nhiều nhất là giống ớt Tròn Tím (12,00 lá), ít nhất là giống ớt Thiên Ngọc (6,00 lá)
Chiều cao cây, đường kính gốc và số lá của 5 giống ớt Kiểng khác nhau là do cách chọn vị trí ghép trên cây khác nhau Ba chồi của gốc ghép không đều nhau, do đó chọn giống có đường kính ngọn phù hợp từng chồi ghép giúp cho sự tiếp hợp của cây tốt hơn
Trang 38
Bảng 3.3 Chiều cao cây, đường kính gốc và số lá của 5 giống ớt Kiểng sau ghép
Giống ớt Chiều cao cây
(cm)
Đường kính gốc (cm)
Số lá (lá/ngọn)
3.5 Chiều cao thân
3.5.1 Chiều cao cây
Chiều cao cây ớt ghép trung bình của 3 tổ hợp qua các thời điểm khảo sát khác biệt
có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% (Hình 3.5 và Phụ bảng 3.1a), cao nhất là tổ hợp DT+TT+OC (25,23- 54,60 cm; tương ứng 15-90 NSKGh), và tổ hợp DT+TT+DTr (23,40-50,10 cm); thấp nhất là tổ hợp DT+TT+TN (20,63-42,23 cm; tương ứng 15-90 NSKGh)
Giai đoạn 1-15 NSKGh, chiều cao cây khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê
là do chênh lệch về vị trí ghép trên gốc ghép và vị trí ghép của ngọn ghép cũng khác nhau tùy giống Thời điểm 15-50 NSKGh, tốc độ tăng trưởng chiều cao cây trung bình của 3 tổ hợp ớt ghép tăng nhanh, nhanh nhất vào giai đoạn 15-30 NSKGh đây
là giai đoạn cây ghép đã hồi phục nên phát triển mạnh về thân, lá Giai đoạn 50-90 NSKGh, chiều cao cây tăng chậm dần do đây là giai đoạn cây ra hoa, kết trái nên sự sinh trưởng chậm lại (Hình 3.5)
Trang 39Hình 3.5 Chiều cao cây trung bình của 3 tổ hợp ớt ghép qua các thời điểm khảo sát
Chiều cao cây của giống Dài Tím và Tròn Tím không khác biệt có ý nghĩa (Phụ bảng 3.1b) Qua đó cho thấy chiều cao cây của tổ hợp bị ảnh hưởng bởi chiều cao cây của 3 giống khác nhau trong 3 tổ hợp Tổ hợp DT+TT+OC cao nhất do giống ớt
Cà có đặc điểm cao to Giống Thiên Ngọc có dáng cây thấp bé nên tổ hợp
DT+TT+TN có chiều cao cây thấp nhất Trong cùng điều kiện canh tác sự khác biệt
về chiều cao cây là do đặc tính di truyền của giống Sự tương hợp giữa ngọn và gốc cũng tác động đến sự tăng trưởng chiều cao cây, điều này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Lý Hương Thanh (2010)
3.5.2 Chiều cao gốc ghép
Chiều cao gốc chồi ghép trung bình của 3 tổ hợp qua các thời điểm khảo sát khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% (Hình 3.6 và Phụ bảng 3.2a), cao nhất là tổ hợp DT+TT+OC (11,73-13,57 cm; tương ứng 15-90 NSKGh); thấp nhất là tổ hợp DT+TT+TN (10,17-12 cm; tương ứng), và tổ hợp DT+TT+DTr
Trang 40Hình 3.6 Chiều cao gốc chồi ghép trung bình của 3 tổ hợp ớt ghép qua các thời điểm khảo sát
Chiều cao gốc chồi ghép qua các giai đoạn khảo sát tăng Cao gốc có khác biệt là do chênh lệch về vị trí ghép trên gốc ghép và ảnh hưởng của ngọn ghép Chiều cao gốc khác nhau là do cách chọn vị trí ghép trên cây Ba chồi của gốc ghép thường không đều nhau, do đó những chồi có đường kính to thường chọn vị trí ghép cao đường kính nhỏ hơn, tỷ số gốc/ngọn bằng nhau giúp cho sự tiếp hợp của cây tốt hơn
3.5.3 Chiều cao ngọn ghép
Chiều cao ngọn ớt Kiểng trung bình của 3 tổ hợp qua các thời điểm khảo sát khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% (Hình 3.7 và Phụ bảng 3.3a), cao nhất là tổ hợp DT+TT+OC (41,03 cm) và tổ hợp DT+TT+DTr (37,97 cm), thấp nhất là tổ hợp DT+TT+TN (30,23 cm thời điểm 90 NSKGh) Sự khác biệt về chiều cao ngọn được giải thích tương tự chiều cao cây