1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi

64 415 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 2.5: Nồng độ tối đa của một số chất khí trong chuồng nuôi gà Chỉ tiêu Đơn vị tính Giới hạn tối đa Ghi chú Barnwell and Wilson 2005 2.2 Giới thiệu chế phẩm sinh học Balasa N01 2.2.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

HUỲNH NGỌC DIỄM HƯƠNG

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NGUYÊN LIỆU LÀM ĐỆM LÓT SINH HỌC LÊN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ FCR Ở GÀ TÀU VÀNG

GIAI ĐOẠN 1-5 TUẦN TUỔI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: CHĂN NUÔI - THÚ Y

2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

HUỲNH NGỌC DIỄM HƯƠNG

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NGUYÊN LIỆU LÀM ĐỆM LÓT SINH HỌC LÊN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ FCR Ở GÀ TÀU VÀNG

GIAI ĐOẠN 1-5 TUẦN TUỔI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: CHĂN NUÔI - THÚ Y

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Ts NGUYỄN THỊ HỒNG NHÂN Ths NGUYỄN THIẾT

2013

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NGUYÊN LIỆU LÀM ĐỆM LÓT SINH HỌC LÊN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ FCR Ở GÀ TÀU VÀNG

GIAI ĐOẠN 1-5 TUẦN TUỔI

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2013 Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2013

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN DUYỆT BỘ MÔN

Ts NGUYỄN THỊ HỒNG NHÂN

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013

DUYỆT KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trải qua những năm tháng ngồi trên ghế giảng đường đại học, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm cũng như học hỏi được rất nhiều kiến thức và những kinh nghiệm quý báu

Xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Cha Mẹ, người đã sinh thành, nuôi dưỡng con thành người, luôn bên cạnh chăm sóc, động viên con trong suốt quá trình khôn lớn

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Nguyễn Thị Hồng Nhân, giáo viên hướng dẫn, đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn và truyền đạt những kiến thức Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Nguyễn Thiết, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài

Xin cảm ơn Quý Thầy cô bộ môn Chăn nuôi, bộ môn Thú y đã truyền đạt những kiến thức cho tôi trong suốt những năm tháng qua

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Trương Chí Sơn, cố vấn học tập,

đã luôn quan tâm, giúp đỡ con từ những ngày đầu còn bỡ ngỡ khi mới bước chân vào đại học

Xin gửi lời cảm ơn đến các chú và các anh tại trại Hòa An đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành thí nghiệm

Xin cảm ơn các bạn lớp CNTY K36 và các anh chị khóa trước đã luôn ủng hộ, giúp đỡ và bên cạnh tôi những lúc vui buồn, khó khăn trong những năm qua

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

TÓM TẮT

Một thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng gà Tàu Vàng giai đoạn 1-5 tuần tuổi nhằm đánh giá hiệu quả các loại nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng gà Tàu Vàng Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 3 nghiệm thức và 4 lần lặp lại Đối tượng thí nghiệm gồm 240 gà Tàu Vàng Các chỉ tiêu theo dõi gồm khối lượng, tăng trọng, tiêu tốn thức ăn, hệ số chuyển hóa thức ăn và nhiệt độ, ẩm độ,

CO 2 chuồng nuôi Kết quả thí nghiệm được ghi nhận như sau:

Khối lượng gà thí nghiệm ở 3 nghiệm thức tăng theo tuần tuổi Khối lượng của gà ở nghiệm thức Bã mía cao hơn so với nghiệm thức Trấu và ĐC Trọng lượng trung bình của gà ở các nghiệm thức ĐC, Trấu và Bã mía lần lượt là 228,80 g/con; 234,10 g/con và 241,20 g/con Tương tự, tăng trọng trung bình của gà ở nghiệm thức

Bã mía (11,80 g/con/ngày) cao hơn nghiệm thức Trấu (11,66 g/con/ngày) và nghiệm thức ĐC (11,19 g/con/ngày) Trong khi đó, hệ số chuyển hóa thức ăn trung bình của

gà ở nghiệm thức Bã mía (1,79) thấp hơn nghiệm thức Trấu (1,89) và nghiệm thức

ĐC (1,94) Ngược lại, tiêu tốn thức ăn trung bình của gà ở 3 nghiệm thức là như nhau, trong khoảng 25,86-26,12 g/con/ngày Hàm lượng CO 2 cao nhất ở nghiệm thức ĐC (327,50 ppm), thấp nhất ở nghiệm thức Trấu (307,50 ppm) Nhiệt độ và ẩm

độ không có sự ảnh hưởng giữa các nghiệm thức

Tóm lại, khối lượng và tăng trọng của gà ở nghiệm thức Bã mía cao hơn nghiệm thức Trấu và nghiệm thức ĐC Bên cạnh đó thì hệ số chuyển hóa thức ăn của

gà ở nghiệm thức Bã mía thấp hơn 2 nghiệm thức còn lại Nhiệt độ, ẩm độ và tiêu tốn thức ăn không có ảnh hưởng giữa các nghiệm thức Hàm lượng CO 2 trong mức cho phép

Từ khóa: gà Tàu Vàng, đệm lót sinh học, Bã mía, Trấu

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Các số liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực

Huỳnh Ngọc Diễm Hương

Trang 7

MỤC LỤC

Tóm tắt ii

Chương 1: Giới thiệu 1

Chương 2: Tổng quan tài liệu 2

2.1 Tiểu khí hậu chuồng nuôi 2

2.1.1 Nhiệt độ chuồng nuôi 2

2.1.2 Độ ẩm chuồng nuôi 3

2.1.3 Ánh sáng chuồng nuôi 4

2.1.4 Thành phần không khí chuồng nuôi 5

2.2 Giới thiệu chế phẩm sinh học Balasa N01 9

2.2.1 Đệm lót sinh thái 9

2.2.2 Vai trò của vi sinh vật trong xử lý chất thải chăn nuôi 12

2.2.3 Nguyên liệu làm đệm lót 14

2.2.4 Chế phẩm sinh học Balasa N01 15

2.3 Giới thiệu giống gà Tàu Vàng 16

2.3.1 Giới thiệu giống gà Tàu Vàng 16

2.3.2 Kỹ thuật nuôi úm gà con 17

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 21

3.1 Phương tiện thí nghiệm 21

3.1.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm 21

3.1.2 Đối tượng thí nghiệm 21

3.1.3 Chuồng trại 21

3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm 21

3.1.5 Thức ăn, nước uống dùng trong thí nghiệm 22

3.1.6 Thuốc thú y dùng trong thí nghiệm 23

3.2 Phương pháp thí nghiệm 23

3.2.1 Bố trí thí nghiệm 23

3.2.2 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 24

3.2.3 Phương pháp làm đệm lót lên men vi sinh vật 24

3.2.4 Phương pháp bảo dưỡng và sử dụng đệm lót lên men 25

Trang 8

3.2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 26

3.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 26

Chương 4: Kết quả và thảo luận 27

4.1 Khối lượng 27

4.2 Tăng trọng 28

4.3 Tiêu tốn thức ăn 29

4.4 Hệ số chuyển hóa thức ăn 30

4.5 Nhiệt độ, ẩm độ, CO2 31

Chương 5: Kết luận và đề xuất 33

5.1 Kết luận 33

5.2 Đề xuất 33

Tài liệu tham khảo 34

Phụ lục 37

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Nhiệt độ úm gà con theo tuần tuổi 2

Bảng 2.2: Tiêu chuẩn đánh giá nồng độ một số khí độc trong không khí và chuồng nuôi 7

Bảng 2.3: Yêu cầu vệ sinh thú y không khí chuồng nuôi 8

Bảng 2.4: Nồng độ một số chất khí trong chuồng nuôi gà theo tiêu chuẩn của Cộng đồng chung Châu Âu (EU) 8

Bảng 2.5: Nồng độ tối đa của một số chất khí trong chuồng nuôi gà 9

Bảng 2.6: Phân biệt trống mái dựa vào đặc điểm ngoại hình 18

Bảng 3.1: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn 22

Bảng 3.2: Quy trình phòng bệnh 23

Bảng 3.3: Bố trí thí nghiệm 24

Bảng 4.1: Khối lượng qua các tuần tuổi, g/con 27

Bảng 4.2: Tăng trọng bình quân, g/con/ngày 28

Bảng 4.3: Tiêu tốn thức ăn, g/con/ngày 29

Bảng 4.4: Hệ số chuyển hóa thức ăn 30

Bảng 4.5: Nhiệt độ, ẩm độ, CO2 31

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Chế phẩm sinh học Balasa N01 16

Hình 2.2: Gà Tàu Vàng 16

Hình 3.1: Một số hình ảnh của lô úm gà con 21

Hình 3.2: Một số dụng cụ ở trại 22

Hình 3.3: Quy trình ủ men Balasa N01 25

Hình 4.1: Khối lượng gà qua các tuần tuổi, g/con 27

Hình 4.2: Tăng trọng qua các tuần tuổi, g/con/ngày 29

Hình 4.3: Hệ số chuyển hóa thức ăn 31

Hình 4.4: Nhiệt độ, ẩm độ, CO2 32

Trang 11

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

BW Khối lượng của gà

Trang 12

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta phát triển rất nhanh, nhiều giống gia súc, gia cầm được lai tạo, du nhập và sản xuất đã đem lại nhiều lợi nhuận cho người chăn nuôi Trong đó, chăn nuôi gia cầm có nhiều

ưu thế vì vòng đời nhanh, vốn đầu tư ban đầu thấp, dễ nuôi Và gà Tàu Vàng

là giống gà thích nghi tốt với điều kiện môi trường ở Đồng bằng sông Cửu Long, dễ nuôi, nhanh nhẹn, khả năng tự kiếm mồi trong vườn tốt, màu sắc và chất lượng thịt hợp thị hiếu người tiêu dùng (Đỗ Võ Anh Khoa, 2012) Bên cạnh những lợi ích về kinh tế thì vấn đề vệ sinh môi trường cũng là vấn đề cần được quan tâm Theo thống kê của Cục Chăn nuôi (2010), cả nước có khoảng 8,5 triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình và 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung Với tổng đàn 300 triệu con gia cầm và hơn 37 triệu con gia súc, nguồn chất thải từ chăn nuôi ra môi trường lên tới 84,45 triệu tấn Trong đó, nhiều nhất là chất thải từ heo (24,96 triệu tấn), tiếp đến là gia cầm (21,96 triệu tấn) Nếu các chất thải thải ra không được xử lý sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của gia cầm và người chăn nuôi Hiện nay, có rất nhiều biện pháp để giải quyết vấn đề gây ô nhiễm môi trường của các loại chất thải Việc sử dụng các chế phẩm sinh học để làm đệm lót sinh thái trong chăn nuôi gia cầm đang được ứng dụng nhiều và mang lại hiệu quả cao

Nuôi gia cầm bằng đệm lót sinh học đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng để tăng năng suất, góp phần bảo vệ môi trường và ở Việt Nam đã chế tạo

ra loại men vi sinh mang tên "Chế phẩm sinh học Balasa N01" Chế phẩm này

hỗ trợ cho chăn nuôi để hướng chăn nuôi theo phát triển bền vững, thân thiện với môi trường Bên cạnh đó, nguyên liệu sử dụng để làm đệm lót là những nguyên liệu dễ tìm, gần gũi với người dân như trấu, bã mía, mùn cưa … Mỗi loại nguyên liệu khi trộn với men vi sinh làm đệm lót sẽ có những hiệu quả khác nhau đối với khả năng sinh trưởng của gà Vì vậy, việc đánh giá ảnh hưởng của các loại nguyên liệu khác nhau khi được sử dụng làm đệm lót là điều cần thiết

Với mục tiêu trên, đề tài “Ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót

sinh học lên khả năng sinh trưởng và FCR ở gà Tàu Vàng giai đoạn 1-5 tuần tuổi” được thực hiện tại trại thực nghiệm khu Hòa An, trường Đại học

Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang

Trang 13

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tiểu khí hậu chuồng nuôi

Tiểu khí hậu chuồng nuôi là yếu tố quan trọng quyết định trong việc tạo điều kiện môi trường thuận lợi để phù hợp với đặc điểm sinh lý của gà Việc tạo ra những điều kiện tiểu khí hậu phù hợp trong chuồng nuôi được xem là cơ

sở của sức khỏe và năng suất của gà

2.1.1 Nhiệt độ chuồng nuôi

Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng của chuồng nuôi Nếu nhiệt độ giảm, gà sẽ sử dụng năng lượng thức ăn để duy trì nhiệt độ cơ thể dẫn đến tiêu thụ thức ăn nhiều hơn Nếu nhiệt độ tăng cao thì gà không tự giảm bớt được nhiệt của cơ thể

Theo Hulzebosch (2004) khuyến cáo, nhiệt độ thích hợp cho gà đẻ là

20oC Ở mỗi mức nhiệt độ thấp hơn 1oC thì mỗi con gà sẽ cần thêm 1,5 g thức

ăn mỗi ngày Mức nhiệt độ sản xuất cho gà đẻ là 20-24oC Khi nhiệt độ cao hơn 24oC thì chất lượng vỏ trứng và trọng lượng trứng giảm Đối với gà thịt mức nhiệt độ thích hợp phụ thuộc vào lứa tuổi

Theo Sử An Ninh (1999), nhiệt độ thích hợp để úm gà con trong giai đoạn đầu được thể hiện trong Bảng 2.1

Bảng 2.1: Nhiệt độ úm gà con theo tuần tuổi

Tuần tuổi Nhiệt độ (oC)

Tùy theo hiện trạng đàn gà mà điều chỉnh nhiệt sưởi cho thích hợp Nếu

gà tụm lại xung quanh nguồn nhiệt, kêu chiêm chíp không ăn là thiếu nhiệt

Gà tản xa nguồn nhiệt, há miệng thở là thừa nhiệt Gà đi lại nhanh nhẹn ăn uống bình thường là nhiệt thích hợp Nếu gà tụm lại một góc thì phải quan sát

có gió lùa hay không

Ở giai đoạn dưới 3 tuần tuổi, nếu gà không đủ ấm thì gà sẽ túm lại không

ăn hoặc ăn rất ít dẫn đến gà chậm lớn và gây chết nhiều (Bùi Đức Lũng và Lê

Trang 14

Hồng Mận, 1992) Nếu để gà con mới nở trong những tuần đầu thiếu nhiệt, gà

sẽ yếu dần, tỷ lệ chết cao (Sử An Ninh, 1999)

Gà con 1 ngày tuổi chưa thể tự giữ ấm bằng bộ lông nhung của chúng và nhiệt độ cơ thể phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường nuôi Khi gà được 7 ngày tuổi thì lông cánh phần nào giúp cơ thể chúng không bị lạnh Đến 21 ngày tuổi lông trên lưng đã mọc nên khả năng giữ ấm tăng dần lên Lúc 30 ngày tuổi cơ thể được bảo vệ hoàn toàn (Bùi Đức Lũng, 2004)

Theo Bùi Xuân Mến (2007), gà con rất nhạy cảm với biến động nhiệt độ Nếu thay đổi nhiệt độ đột ngột sẽ làm cho gà giảm sức đề kháng, dễ chết Khi nhiệt độ cao gà sẽ tiêu thụ thức ăn ít hơn và năng suất chăn nuôi sẽ giảm Vào mùa nắng, nhiệt độ môi trường thay đổi nên cần chú ý quan sát các phản ứng của gà đối với nhiệt độ để điều chỉnh nhiệt độ úm cho thích hợp

Theo Hulzebosch (2004), nhiệt độ không khí trong chuồng nuôi phụ thuộc rất nhiều vào: lứa tuổi, khối lượng cơ thể, phương thức nuôi, thức ăn, độ

ẩm, mức độ thoáng khí, Nhiệt độ gây chết phụ thuộc vào giống gà, giới tính, thời gian trong năm và sự thuần hóa trước đó

Khả năng chống lại khí nóng phụ thuộc vào giống gà Độ nhiệt của môi trường giảm làm tăng sự thoát nhiệt của động vật, gà điều tiết bằng cách tăng hoạt động của tuyến giáp trạng và cường độ trao đổi chất Gà chịu đựng khí lạnh tương đối tốt Điều kiện tiểu khí hậu thuận lợi sẽ giúp khả năng sản xuất tăng cao, gà đạt chất lượng, đem lại lợi nhuận cao

Da gà không có tuyến mồ hôi nên khi gặp điều kiện quá nóng, sự thoát nhiệt hầu như chỉ qua đường hô hấp Vì vậy, những ngày nắng quá nóng, nhiệt

độ cao có thể làm chết gà Cho nên cần lưu ý sự phân bố của gà trong chuồng nuôi để có biện pháp chống nóng/lạnh hợp lý

2.1.2 Độ ẩm chuồng nuôi

Độ ẩm trong chuồng nuôi phụ thuộc vào nhiệt độ Ở nhiệt độ thấp thì gà

ăn nhiều hơn, uống nước nhiều hơn và nước sẽ thải ra theo phân nhiều hơn làm độ ẩm chuồng tăng lên Ở nhiệt độ cao thì sự bốc hơi nước diễn ra mạnh hơn, dẫn đến không khí trong chuồng nuôi nóng và khô

Độ ẩm quá cao sẽ làm lớp đệm chuồng bị ẩm ướt, điều kiện vệ sinh chuồng nuôi thấp Độ ẩm cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật trong chuồng phát triển và có thể sẽ đạt đến giới hạn nguy hiểm, gà dễ bị nhiễm bệnh, nhất là bệnh kí sinh trùng

Trang 15

Độ ẩm thấp thì bụi sinh ra nhiều làm hỏng màng nhầy niêm mạc, không khí làm khô da, có thể dẫn đến mổ cắn nhau và ăn lông Bụi sinh ra nhiều cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh hô hấp ở gà

Độ ẩm trong chuồng úm gà con là một vấn đề quan trọng So với gia súc

có sừng, thì cứ 1 kg khối lượng cơ thể, gà tiết ra một lượng hơi nước gấp 10 lần Độ ẩm thích hợp của chuồng nuôi gà con là 65% Cần quan tâm giữa chất đệm chuồng khô ráo và phòng nuôi thông thoáng (Sử An Ninh, 1999)

Ẩm độ cao sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển Nếu độ ẩm quá thấp, không khí khô quá sẽ dẫn đến nhiều bụi – làm tổn thương đến màng nhầy của đường hô hấp – vi trùng dễ dàng xâm nhập, cũng là một nguyên

nhân gây ra cắn nhau và ăn lông lẫn nhau (Nguyễn Thị Thủy, 2012)

2.1.3 Ánh sáng chuồng nuôi

Thời gian chiếu sáng và cường độ ánh sáng rất quan trọng đối với gà con Nếu sử dụng được nguồn chiếu sáng sẽ có tác dụng làm tăng đòi hỏi về thức ăn, kích thích cơ thể phát triển mà không làm giảm hiệu quả sử dụng thức

ăn Thời gian chiếu sáng trong 1-2 tuần lễ đầu là 24/24 giờ Sau đó cứ một tuần giảm đi 20-30 phút (Sử An Ninh, 1999)

Nếu chiếu sáng quá nhiều thì gà sẽ chạy nhảy, cắn nhau và giảm lượng

ăn Đối với gà thịt thường sử dụng ánh sáng nhân tạo để tăng thời gian chiếu sáng (Nguyễn Thị Thủy, 2012)

Đối với gà hậu bị thì giảm thời gian chiếu sáng xuống, không thắp đèn ban đêm để gà không ăn đêm, đồng thời ngăn chặn sự phát dục sớm của gà (Nguyễn Thị Thủy, 2012)

Ánh sáng chiếu đến võng mạc mắt kích thích thần kinh truyền về vùng dưới đồi thị giác, lên vỏ não rồi đến các cơ quan Theo Võ Văn Sơn (2002), ánh sáng ảnh hưởng gián tiếp đến tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục từ đó ảnh hưởng đến sinh trưởng và sinh sản

Nên sử dụng ánh sáng nhẹ khi nuôi gà thịt, khi trời nắng cần che bớt nhưng phải đảm bảo độ thông thoáng để tránh gà hoạt động nhiều, tăng trọng kém Chế độ ánh sáng: tuần đầu 24 giờ/ngày đêm, tuần 2: 23 giờ/ngày đêm, tuần 3 trở đi: 22 giờ/ngày đêm Công suất chiếu sáng: 1-3 tuần tuổi: 3,5-4,0 W/m2 chuồng, 4-5 tuần tuổi: 2 W/m2, sau 5 tuần tuổi: 0,2-0,5 W/m2 (Lê Hồng Mận, 1999)

Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002), quá sáng sẽ làm gà thịt bị stress

ánh sáng, chạy nhảy nhiều làm giảm tăng trọng

Trang 16

2.1.4 Thành phần không khí chuồng nuôi

Sự thông khí cùng với nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến trạng thái chung và khả năng sản xuất của gà Sự thông khí đảm bảo sự cung cấp oxy cho gà, đẩy khí độc và hơi nước ra bên ngoài mà không làm giảm nhiệt độ của chuồng nuôi xuống giới hạn cho phép

Sự chuyển động không khí còn làm giảm mật độ vi sinh vật Tốc độ chuyển động của không khí không nên quá cao để tránh gió lùa gây nguy hại cho gà, làm gà bị lạnh đột ngột

Tốc độ đối lưu không khí thích hợp cho gà ở nhiệt độ 20oC là 0,2 m/s Theo Hulzebosch (2004), nhiệt độ bên ngoài chuồng nuôi cao thì tốc độ thông thoáng khí cao sẽ giúp giảm nhiệt độ trong chuồng nuôi Về mùa nóng, nếu tốc độ lưu thông không khí trong chuồng nuôi quá thấp dẫn đến giảm nồng độ oxy và tăng sự tích tụ khí độc

Trong chuồng nuôi tập trung với mật độ cao thì cường độ không khí và

sự chuyển động của nó cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe của gà

Yêu cầu về dưỡng khí của gia cầm cao gấp hai lần so với động vật có vú

Cứ 1 kg thể trọng gà con cần 2-3 m3 không khí thay đổi trong 1 giờ về mùa đông và 4-6 m3 về mùa hè (Sử An Ninh, 1999)

Hàm lượng các khí độc trên được sản sinh ra trong quá trình bài tiết phân

và nước tiểu của vật nuôi Với hàm lượng quá cao thì sẽ gây bất lợi cho gia súc, gia cầm và người chăn nuôi, có thể gây trúng độc ở hàm lượng cao trong không khí chuồng nuôi

Nếu để gà nuôi trong chuồng suốt 24h với hàm lượng CO2 cao thì gà sẽ ủ

rũ và hoạt động kém, ăn uống kém, giảm năng suất Nên tránh bụi nhiều trong chuồng vì bụi bay trong không khí làm phát tán vi sinh vật gây bệnh, đồng thời chui vào đường hô hấp của gà (Nguyễn Thị Thủy, 2012) Nồng độ CO2

trong chuồng nuôi thường được dùng để đánh giá hiệu quả mức độ thông thoáng trong chuồng hay hệ thống thông gió

Trong chuồng nuôi, lượng CO2 thường tăng gấp 10 lần so với lượng CO2

của không khí Đặc biệt trong các chuồng nuôi kém thông thoáng, mật độ cao thì lượng CO2 càng tăng lên nhiều Thể tích lớn nhất của khí CO2 trong chuồng nuôi chỉ được là 0,25% theo tiêu chuẩn vệ sinh thú y (Đỗ Ngọc Hòe, Nguyễn Thị Minh Tâm, 2005)

Ngoài CO2 thì trong chuồng nuôi còn có khí NH3 Khí NH3 là loại khí thải do sự phân giải của phân gia súc, gia cầm Nếu gia cầm tiếp xúc với khí

Trang 17

NH3 trong một thời gian dài sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh đường hô hấp

Theo Nagaraja et al (1984), gia cầm tiếp xúc với khí NH3 ở nồng độ 20-25 ppm trong 8 giờ dẫn đến làm mất lớp lông nhung ở khí quản và làm biến đổi lớp tế bào biểu mô của đường hô hấp

Khi nuôi gà ở chuồng nuôi có hàm lượng khí NH3 là 25 ppm sẽ làm giảm hàm lượng hemoglobin, giảm trao đổi khí và hấp thu các chất dinh dưỡng nên thể trọng gà sẽ giảm Theo Lại Thị Cúc (1994), khi hàm lượng khí NH3 từ 75-

100 ppm sẽ gây những biến đổi trong biểu mô đường hô hấp, mất lớp vi mao

và tăng số lượng tiết màng nhầy, nhịp tim và hô hấp ảnh hưởng, có thể gây chảy máu trong các túi khí phế quản

Theo Nagaraja et al (1984), ảnh hưởng có hại của NH3 trong các chuồng nuôi thường gây tress mãn tính, chúng cũng là nguyên nhân trong các tiến trình dịch bệnh Nồng độ NH3 trong chuồng nuôi gà không vượt quá 25 ppm, mức giới hạn cho gia cầm là 15 ppm

Lượng NH3 ≥ 100 ppm có thể gây loét niêm mạc, gây mù mắt với các dấu hiệu của sự tăng tích nước mắt, thở nông và những tổn thương ở mũi

(Hulzebosch, 2004; Blanes-Vidal et al., 2008) Nồng độ này cũng làm tỷ lệ

tăng trọng, khả năng thu nhận thức ăn, tỷ lệ đẻ, khối lượng trứng của gà đẻ

giảm (Amer et al., 2004)

Ngoài ra, trong chuồng nuôi còn có khí H2S Các khí thải H2S sinh ra được giữ lại trong chất lỏng của nơi lưu trữ phân Không khí chứa trên 1mg/l

H2S sẽ làm cho con vật chết ở trạng thái liệt trung khu hô hấp và hệ mạch Tác động gây kích ứng của H2S ít hay nhiều đều giống nhau qua đường

hô hấp mặc dù cấu trúc của lớp phổi dễ bị ảnh hưởng nhất H2S có thể nhanh chóng được hấp thu qua phổi và gây nhiễm độc hệ thống hô hấp con vật (Hoàng Thu Hằng, 1997)

Nồng độ H2S cao hay thấp phụ thuộc việc quét dọn chuồng trại có thường xuyên hay không, chuồng có khô ráo, thoáng khí hay không Chuồng trại càng ẩm ướt thì nồng độ H2S càng tăng Chỉ tiêu cho phép về hàm lượng khí H2S trong chuồng nuôi là 0,015mg/l (Đỗ Ngọc Hòe, 1995)

Khí CH4 được sinh ra do quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ như lipid, protein, carbohydrate, … CH4 là một trong những khí gây hiệu ứng nhà kính Theo Sommer and Moller (2000), sự có mặt của CH4 trong không khí liên quan chặt chẽ tới sự biến đổi của khí hậu, chúng đóng góp 9-20% nguy cơ làm khí hậu toàn cầu nóng lên Lượng khí CH4 thải ra phụ thuộc vào phương pháp xử lý phân, nhiệt độ và khối lượng chất rắn bay hơi trong phân

Trang 18

Theo Takai et al (1998), sự tạo thành bụi trên lớp đệm chuồng phụ thuộc

nhiệt độ, độ ẩm, nguyên liệu được dùng làm đệm lót, thời gian sử dụng đệm lót và sự hoạt động của gà

Bụi vận chuyển nhiều vi sinh vật gây bệnh, tạo ra bụi vi khuẩn do dòng chuyển động của không khí được tạo nên bởi hoạt động của con người hoặc gà nuôi trong chuồng Trong một thời gian, các hạt bụi khuẩn trở thành hạt bụi sương vi khuẩn và tiếp tục lắng đọng xuống (Hoàng Thu Hằng, 1997)

Khi giảm nhiệt độ hoặc tăng độ ẩm của không khí thì quá trình ngưng tụ hơi nước lên các hạt bụi tăng làm trọng lượng hạt tăng, dẫn đến tăng quá trình lắng đọng của bụi Khi các vi sinh vật tồn tại với mật độ cao thì vật nuôi sẽ hít không khí nhiễm vi khuẩn Khi đó không khí là yếu tố lan truyền mầm bệnh

Đa số vi sinh vật gây bệnh đường hô hấp có thể tồn tại lâu, độc tính kéo dài trong môi trường không khí và đất

Ngoài các vi khuẩn gây bệnh thì trong chuồng nuôi còn có các bào tử nấm mốc mà nguồn gốc của chúng thường từ thức ăn rơi vãi nhiễm nấm Theo

Seedorf et al (1998), khí hậu nóng ấm của nước ta rất thuận lợi cho vi khuẩn

gây bệnh và nấm mốc phát triển

Tóm lại, cần tạo một môi trường sống sạch sẽ, thoáng mát cho vật nuôi

để giúp vật nuôi phát triển tốt và giảm thiểu các khí độc và bụi bẩn trong chuồng nuôi Để đánh giá mức độ vệ sinh không khí chuồng nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành một số tiêu chuẩn như sau:

- Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 875-2006 về yêu cầu vệ sinh đối với cơ sở chăn nuôi gia cầm: chất lượng vệ sinh không khí chuồng nuôi được đánh giá theo mục 3.4 TCN 679-2006 và 3.1 TCN 681-2006

Bảng 2.2: Tiêu chuẩn đánh giá nồng độ một số khí độc trong không khí và chuồng nuôi

Chỉ tiêu Đơn vị Tiêu chuẩn không khí

Tiêu chuẩn không khí

chuồng nuôi TCVN 5938-1995 TCN 679-2006

NH3 mg/m3 0,0002 0,0075

CO2 % 0,3-0,4 2,5-3,0

- Theo tiêu chuẩn môi trường Việt Nam (TCVN 5937/5938-1995), nồng

độ NH3 và H2S cho phép ở khu dân cư là 0,2 mg/m3 và 0,008 mg/m3 (0,262 ppm và 0,0052 ppm), ở khu sản xuất là 10 mg/m3 và 2 mg/m3 (13,176 ppm và

1,3 ppm)

Trang 19

- Theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN 01 – 15: 2010/BNNPTNT) được ban hành theo Thông tư số 04/2010/TT-BNNPTNT ngày 15/1/2010 về các điều kiện đảm bảo trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học, yêu cầu điều kiện vệ sinh thú y không khí chuồng nuôi phải đạt các chỉ tiêu quy định ở phụ

lục của quy chuẩn

Bảng 2.3: Yêu cầu vệ sinh thú y không khí chuồng nuôi

TT Chỉ tiêu Đơn vị tính Giới hạn tối

đa Phương pháp thử

1 Vi khuẩn hiếu khí VK/m3 106/m3

TCVN 6187-1996 (ISO 9308-1990)

độ NH3 và CO2 trong chuồng gà không được vượt quá 10 ppm (NH3) và 3.000 ppm (CO2)

Trang 20

Bảng 2.5: Nồng độ tối đa của một số chất khí trong chuồng nuôi gà

Chỉ tiêu Đơn vị tính Giới hạn tối đa Ghi chú

Barnwell and Wilson (2005)

2.2 Giới thiệu chế phẩm sinh học Balasa N01

2.2.1 Đệm lót sinh thái

Đệm lót lên men là đệm lót trên nền chuồng chăn nuôi Nguyên liệu sử dụng làm đệm lót nền chuồng nuôi gia cầm phải thỏa mãn các điều kiện như khả năng hút ẩm tốt, không bị nát vụn, không tạo nhiều bụi, không bị phân hủy bởi vi sinh vật, giá rẻ, dễ kiếm Một số nguyên liệu thường được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm như mùn cưa, lõi ngô nghiền, rơm rạ, trấu Tuy nhiên lõi ngô, rơm rạ thường dễ bị nhiễm nấm mốc (Nguyễn Đức Hưng, 2006) Phương pháp chăn nuôi trên đệm lót lên men là phương pháp nuôi dưỡng vật nuôi trên đệm lót chuồng có chứa một quần thể các vi sinh vật có thể tồn tại cùng nhau lâu dài trong đệm lót, có khả năng phân giải mạnh các chất hữu

cơ và làm ức chế các vi sinh vật có hại và gây bệnh

Các vi sinh vật này có tác dụng lên men tiêu hủy phân, nước tiểu làm giảm các khí độc và mùi hôi trong chuồng nuôi, tạo môi trường trong sạch không ô nhiễm, ít ruồi muỗi và vi sinh vật gây hại, do đó con vật sống thoải mái, giảm căng thẳng, tăng sinh trưởng và có sức đề kháng cao Do nuôi trên đệm lót lên men, phân và nước tiểu hầu như bị tiêu hủy nên người ta còn gọi là phương pháp chăn nuôi không chất thải

Khi chất đệm chuồng quá ẩm sẽ làm cho vi sinh vật phát triển với tốc độ nhanh, dẫn đến dễ gây ra bệnh chân sưng tấy, nứt chân, gây dị dạng ngón chân, viêm khớp,… cho gà

Khi gà bị bệnh về đường tiêu hóa thì lớp đệm chuồng cũng sẽ bị ô nhiễm, từ đó gây nên nhiều bệnh khác

Trang 21

Nếu lớp đệm chuồng quá khô thì trong không khí sẽ chứa nhiều loại gây viêm đường hô hấp và nhiễm khuẩn, gây giảm sức đề kháng

Các vi sinh vật trong chế phẩm được chọn lọc rất nghiêm ngặt theo các tiêu chí về đặc điểm sinh hóa học cụ thể Một trong những tiêu chí quan trọng

là giữa chúng phải có được mối quan hệ cộng sinh và hỗ sinh để từ đó tạo ra

sự cân bằng sinh thái trong môi trường mà chúng tồn tại

Nếu giữa các chủng vi sinh vật không có được mối quan hệ tương hỗ thì chắc chắn tổ hợp vi sinh vật được chọn lọc và tập hợp sẽ bị phá vỡ trong một thời gian ngắn Bởi lẽ sự phát triển độc lập của từng chủng trong môi trường nhiều chất thải sẽ chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có cả sự cạnh tranh ngay trong các chủng của tổ hợp với nhau và sự cạnh tranh của nhiều vi khuẩn có hại có mặt trong chất thải Sự cân bằng sinh thái vi sinh vật trong chuồng nuôi sẽ ức chế các vi khuẩn gây thối, vi khuẩn gây bệnh trong chuồng

nuôi, làm giảm mùi hôi trong chuồng và giảm bệnh cho gia súc (Thaxton et al., 2003)

Đệm lót lên men đã tạo ra một môi trường mà ở đó vật nuôi có thể khôi phục bản năng sống tự nhiên của chúng là được tự do đi lại, chạy nhảy, tìm kiếm, đào bới,… nên phương pháp chăn nuôi trên đệm lót lên men còn được gọi là phương pháp chăn nuôi tự nhiên

Khi sử dụng, đệm lót vi sinh vật sẽ tạo ra vòng tuần hoàn sinh vật Con vật ăn ở, đi lại và thải phân trên đệm lót sẽ cung cấp dinh dưỡng cho vi sinh vật sử dụng Đồng thời, vi sinh vật phân giải phân và nước tiểu tạo thành các chất trao đổi và protein cho bản thân chúng, cung cấp dinh dưỡng làm tăng dinh dưỡng cho con vật; trợ giúp quá trình tiêu hóa, nâng cao miễn dịch cho con vật sử dụng Vi sinh vật sinh trưởng, phát triển ở mức độ nhất định đảm bảo sinh ra một nhiệt lượng nhất định để tránh sinh nhiệt lớn trong mùa hè, nhưng cũng đảm bảo nhiệt cung cấp đủ ấm cho vật nuôi trong mùa đông Vòng tuần hoàn được luân chuyển trong thời gian dài tạo ra một môi trường

không chất thải (Tiquia et al., 1998; Correa et al., 2000; Honeyman et al.,

2003)

Lớp đệm chuồng có độ ẩm khoảng 25-30% là phù hợp nhất Độ ẩm này

sẽ giúp không khí trong chuồng nuôi không bị quá khô, đồng thời duy trì được quá trình lên men chậm trong lớp đệm chuồng và hạn chế được sự phát triển

của noãn nang cầu trùng (Nguyễn Thị Mai và ctv, 2009) Theo các tác giả,

cách kiểm tra độ ẩm của đệm lót đơn giản nhất là nắm đệm lót thật chặt trong bàn tay, nếu đệm lót tạo thành khối kết dính chắc thì quá ướt; đệm lót không

Trang 22

dính thành khối, mà rời ra hoàn toàn là quá khô Đệm lót chỉ dính nhẹ đủ tạo thành khối, bóp nhẹ là tan ra là độ ẩm vừa đủ

Độ ẩm của lớp đệm lót nền cao kết hợp với các yếu tố khác như kích thước của nguyên vật liệu làm đệm lót nhỏ, nồng độ oxy trong chuồng nuôi thấp, nhiệt độ không khí chuồng nuôi cao,… sẽ tạo điều kiện cho các vi sinh vật yếm khí phát triển, phân giải các hợp chất hữu cơ có trong phân giải phóng các khí độc hại gây mùi khó chịu (Briggs G., 2004)

Sử dụng chế phẩm sinh học chứa các chủng vi sinh vật như Lactobacillus acidophilus, Streptococcus faecium, Bacillus subtilis, trộn vào chất đệm

chuồng, các chủng vi sinh vật này khi phát triển sẽ tạo cho đệm lót chuồng có

độ pH axit (pH dưới 7) làm bất hoạt vi khuẩn phân giải chất hữu cơ chứa nito

để phát thải amoniac (NH3) và amoniac sẽ tồn tại ở dạng ion amoni (NH4+), không tạo thành dạng khí amoniac (NH3) bay hơi gây ô nhiễm môi trường

Theo Trịnh Văn Thịnh và ctv (1986), khi chất đệm lót được sử dụng

không đúng cách, không đúng quy định, các quá trình lên men và thối rữa sẽ xảy ra mạnh có thể làm tăng lượng nhiệt tích tụ trong chuồng

- Đệm lót sinh thái giúp môi trường chăn nuôi không bị ô nhiễm vì: Không có chất thải từ chăn nuôi ra môi trường (phân, nước thải của vật nuôi được hệ vi sinh vật trong đệm lót phân giải thành thức ăn lẫn với đệm lót)

Không có mùi hôi thối từ phân, nước tiểu của vật nuôi do hệ men vi sinh vật trong chế phẩm sử dụng đã cạnh tranh và diệt hết các vi sinh vật có hại và các vi sinh vật sinh mùi khó chịu Không ảnh hưởng tới sức khỏe của gà và người chăn nuôi

Hạn chế ruồi, muỗi (vì không có nước để muỗi sinh sản, không có phân

để ruồi đẻ trứng)

Các mầm bệnh là nguyên nhân lây lan dịch bệnh bị tiêu diệt hoặc hạn chế tới mức thấp nhất

- Đệm lót sinh thái giúp tiết kiệm 80% nước trong chăn nuôi vì:

Không sử dụng nước rửa chuồng

Không sử dụng nước để tắm, rửa cho vật nuôi

Nước chỉ sử dụng cho vật nuôi uống và phun giữ độ ẩm cho nền chuồng (đệm lót chuồng nên có độ ẩm 25-30%)

- Đệm lót sinh thái giúp tiết kiệm 60% nhân lực vì:

Không sử dụng nhân lực dọn, rửa chuồng hàng ngày

Không sử dụng nhân lực để tắm rửa cho vật nuôi

Trang 23

Chỉ sử dụng nhân lực để cho vật ăn, quan sát diễn biến trạng thái của vật nuôi

- Đệm lót sinh thái giúp tiết kiệm 10% thức ăn vì:

Vật nuôi không bị stress từ môi trường và hoạt động tự do

Vật nuôi thu nhận được một số chất từ nền đệm lót sinh thái do sự lên men phân giải phân, nước tiểu, nguyên liệu làm đệm lót

Khả năng tiêu hóa hấp thụ của vật nuôi tốt hơn do con vật ăn, hít được một số vi sinh vật có lợi, vật nuôi hoạt động nhiều hơn

- Thời gian sử dụng đệm lót phụ thuộc các yếu tố:

Nguyên liệu dùng làm đệm lót: tùy vào nguyên liệu làm đệm lót mà thời gian sử dụng sẽ khác nhau

Độ dầy của đệm lót: nếu đệm lót mỏng sẽ có thời gian sử dụng ngắn hơn đệm lót dầy

Chế độ bảo dưỡng, định kỳ bảo dưỡng đệm lót

Độ tơi xốp của đệm lót: sau vài ngày cào trên bề mặt đệm lót một lần để giúp cho đệm lót được tơi xốp, phân sẽ phân hủy nhanh hơn

Tránh làm ướt đệm lót: đệm lót bị ướt chỗ nào thì nên thay ngay bằng lớp đệm lót mới

2.2.2 Vai trò của vi sinh vật trong xử lý chất thải chăn nuôi

2.2.2.1 Sự lên men tiêu hóa phân

Các vi sinh vật có ích trong lớp đệm lót sẽ bám quanh phân và tiết ra các enzyme ngoại bào để thực hiện quá trình phân giải tạo năng lượng, giải phóng

ra CO2, nước và một số hợp chất hữu cơ khác nhau

Có thể thấy một lượng nhỏ chất dinh dưỡng trong phân cần cho quá trình trao đổi chất sẽ được vi sinh vật hấp thu làm chất dinh dưỡng cho sự phát triển của chúng, còn phần lớn các chất dinh dưỡng bị phân giải thành năng lượng, giải phóng CO2, nước và một số hợp chất hữu cơ khác

Các chất khí mà trong đó chủ yếu là khí CO2 và nước sẽ bị phát tán vào không khí Một lượng nhỏ hợp chất hữu cơ như các axit hữu cơ, rượu, aldehid, este… và một số chất khoáng hữu cơ sẽ tích tụ lại trong đệm lót và dần dần cũng bị phân hủy

2.2.2.2 Sự khử mùi hôi và khí độc

Trong chuồng nuôi tích tụ nhiều khí độc như NH3, CH4, N2O, H2S,

CO2 làm cho vật nuôi dễ sinh các bệnh đường hô hấp, ảnh hưởng đến sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn lớn, gây tổn thất về kinh tế, làm ảnh hưởng đến sức

Trang 24

khỏe của người chăn nuôi và những người xung quanh (Blanes-Vidal et al.,

Sự lên men oxy hóa của vi sinh vật để phân giải phân thành các chất không có mùi Đó là sự oxy hóa triệt để các chất dinh dưỡng trong phân để thu năng lượng và tạo ra CO2 và nước

2.2.2.3 Tiêu diệt vi khuẩn có hại và gây bệnh

Tăng cường sức đề kháng và khả năng miễn dịch của vật nuôi do môi trường sạch sẽ, không bị các phản ứng stress, con vật có môi trường sống tự nhiên, khôi phục được bản năng sống nguyên thủy,…

Các vi sinh vật hữu ích tạo môi trường thiên về axit, pH thấp làm cho các

vi sinh vật có hại khó phát triển được Vi sinh vật có ích được thuần hóa thích nghi với môi trường đệm lót có độ pH thấp, nhiệt độ cao nên khó bị tiêu diệt

(Casey et al., 2009)

Bên cạnh đó, cần tăng số lượng vi sinh vật có ích vượt trội so với các vi sinh vật có hại Ngoài ra, trong quá trình sử dụng đệm lót còn bổ sung thêm chế phẩm lên men nên đệm lót bảo tồn được một số lượng lớn các vi sinh vật

có ích Trong quá trình lên men, vi sinh vật sẽ trải qua những giai đoạn phát triển của chúng từ giai đoạn thích ứng đến tăng logarit, sau đó chuyển sang giai đoạn ổn định, già và thoái hóa

Ở giai đoạn tăng logarit, sự phát triển số lượng tế bào sẽ đạt đến giá trị lớn nhất, bởi vậy có sự lên men tăng nhiệt mạnh, làm nhiệt độ của đệm lót tăng cao có thể đạt tới 40-60oC Tuy rằng quá trình lên men sinh nhiệt vượt quá 60oC chỉ duy trì trong thời gian là không dài, chỉ có mấy giờ có thể xác định được nhiệt độ này nhưng hầu như các vi sinh vật có hại và gây bệnh đều

bị tiêu diệt Theo đúng nguyên lý khử trùng ở nhiệt độ thấp của Pasteur thì ở nhiệt độ 50-80oC duy trì trong thời gian từ 4-12 giờ, các vi sinh vật có thể bị

tiêu diệt (Tiqua et al., 1998; Correa et al., 2000)

Trang 25

Khi lên men phân giải phân mạnh, một lượng CO2 sinh ra đọng lại ở giữa

tầng đệm lót gây ức chế một số vi khuẩn có hại (Burton et al., 1998)

Theo Thaxton et al (2003), trong quá trình lên men, các vi sinh vật có

ích đã hình thành các axit hữu cơ làm tăng độ axit của môi trường, sự hình thành các chất có hoạt tính kháng sinh (bacterioxin), sự hình thành ethylic,

H2O2 ,… đã tiêu diệt hầu như toàn bộ vi khuẩn có hại Đây chính là cơ chế của lên men diệt các vi khuẩn có hại, mà chỉ có thông qua sự lên men này mới có thể diệt được các nha bào của các vi khuẩn gây bệnh khó bị tiêu diệt

Ngoài ra, không sợ vật nuôi trên đệm lót lên men bị các bệnh vi khuẩn hay virut do chúng có sức đề kháng tự nhiên và sức đề kháng này được tăng lên khi sống trong môi trường thoải mái, hơn nữa do tăng số lượng vi sinh vật

có ích lên rất nhiều lần vi khuẩn có hại nên có sự tiêu diệt vi khuẩn có hại do tác dụng đối kháng giữa chúng

2.2.3 Nguyên liệu làm đệm lót

Nguyên liệu sử dụng làm chất đệm lót nền chuồng nuôi gia cầm phải thỏa mãn các điều kiện sau: khả năng hút ẩm tốt (khả năng hút ẩm từ 140-1.200% so với khối lượng ban đầu của nó); không bị nát vụn, không tạo nhiều bụi, không bị phân hủy bởi vi sinh vật; giá rẻ, dễ kiếm (Nguyễn Đức Hưng, 2006)

Nguyên liệu dùng làm đệm lót chuồng là các nguyên liệu có độ xơ cao,

có độ trơ cứng, không dễ bị làm mềm nhũn, không dễ phân giải, không độc, không gây kích thích và có lượng chất dinh dưỡng nhất định

Có thể kết hợp nhiều loại nguyên liệu để có một lớp đệm chuồng tốt hơn khi dùng riêng lẻ từng loại

Một số nguyên liệu thường được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm như mùn cưa (khả năng hút ẩm đến 420%), lõi ngô nghiền (hút ẩm 140-150%), rơm rạ, trấu (hút ẩm 240%), tuy nhiên rơm rạ, lõi ngô thường dễ bị nhiễm nấm mốc Trong thực tế, nguyên liệu sử dụng làm đệm lót lên men vi sinh vật tốt

nhất là mùn cưa hoặc dăm bào (Tiquia et al., 1998; Honeyman et al., 2003) vì

chúng thỏa mãn tất cả điều kiện trên và ít bị mốc Hoặc có thể sử dụng hỗn hợp các nguyên liệu gồm mùn cưa + trấu hoặc dăm bào với tỷ lệ thích hợp Tuy nhiên, khi sử dụng mùn cưa phải đặc biệt lưu ý lựa chọn loại mùn cưa có kích thước hạt lớn từ 10mm để tránh ảnh hưởng đến hô hấp của gà

Trấu là lớp vỏ ngoài cùng của hạt lúa và được tách ra trong quá trình xay xát Trong vỏ trấu chứa khoảng 75% chất hữu cơ dễ bay hơi sẽ cháy trong quá trình đốt và khoảng 25% còn lại chuyển thành tro Chất hữu cơ chứa chủ yếu

Trang 26

cellulose, lignin và Hemi-cellulose (90%), ngoài ra có thêm thành phần khác như hợp chất nitơ và vô cơ Lignin chiếm khoảng 25-30% và cellulose chiếm khoảng 35-40% Vỏ trấu được sử dụng làm chất đốt trong gia đình, trong sản xuất gạch, trong nấu thức ăn nuôi heo Có thể sử dụng nhiệt lượng của trấu để sản xuất điện năng, sử dụng làm vật liệu xây dựng, sản suất oxy silic Ngoài ra trấu còn được dùng làm đệm lót trong chăn nuôi heo và gà

Bã mía là một trong những phụ phẩm chính của mía Bã mía chiếm khoảng 25-30% trọng lượng mía đem ép Trong bã mía chứa trung bình 49%

là nước, 48% là xơ, 2,5% là chất hòa tan Bã mía có thể dùng làm nguyên liệu đốt lò, hoặc làm bột giấy, ép thành ván dùng trong kiến trúc, làm thức ăn cho trâu bò, làm chất đốt Bên cạnh đó bã mía còn được dùng làm đệm lót trong chăn nuôi

Mùn cưa là lớp gỗ thừa để lại trong quá trình cưa gỗ Mùn cưa được sử dụng làm đệm lót chuồng vì mùn cưa hút ẩm tốt, có khả năng khử mùi, giá thành rẻ

Chế phẩm sinh học Balasa N01 được bổ sung vào thức ăn và nước uống nhằm mục đích thay thế các chất kích thích tăng trưởng kháng sinh Các chủng

vi sinh vật trong chế phẩm này giúp ức chế sự phát triển của hệ vi sinh vật có hại trong đường tiêu hóa của gà và tăng cường sức đề kháng của cơ thể với bệnh tật do tăng cường hệ miễn dịch

Bên cạnh đó, sử dụng chế phẩm Balasa N01 còn giúp phân hủy phân, giảm mùi hôi thối và khí độc chuồng nuôi Việc này không chỉ góp phần giúp môi trường trong lành cho vật nuôi phát triển mà còn tránh việc ô nhiễm môi trường tại khu dân cư

Khi sử dụng chế phẩm này, có thể thấy vật nuôi trở nên khỏe mạnh hơn, tránh được các bệnh thông thường Chính vì lẽ đó, chi phí thuốc chữa bệnh sẽ

Trang 27

giảm một cách rõ rệt Vật nuôi tốt sẽ tạo ra được những sản phẩm chất lượng cao cho người tiêu dùng

Đây chính là những ứng dụng từ khoa học thiết thực, góp phần trực tiếp vào đổi mới cách chăn nuôi truyền thống, giảm chi phí đầu vào, nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân

Hình 2.1: Chế phẩm sinh học Balasa N01

2.3 Giới thiệu giống gà Tàu Vàng

2.3.1 Giới thiệu giống gà Tàu Vàng

Gà Tàu Vàng là giống nội địa hiện đang được nuôi phổ biến và chủ yếu tại một số tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long Tại Hậu Giang cũng đã có nghiên cứu về giống gà này thông qua việc chọn lọc đàn gà Tàu Vàng có năng suất, chất lượng cao và sau đó đã được nuôi dưỡng, nhân rộng tại Trung tâm Giống Nông Nghiệp Hậu Giang (Đỗ Võ Anh Khoa, 2012)

Hình 2.2: Gà Tàu Vàng

http://aptrungga.com/uploads/news/2013_09/ga-tau-vang.jpg

Trang 28

Gà Tàu Vàng có ưu điểm là thích nghi tốt với điều kiện môi trường sinh thái Đồng bằng sông Cửu Long, gà rất nhanh nhẹn, khả năng tự tìm kiếm mồi trong vườn tốt, màu sắc và chất lượng thịt hợp thị hiếu người tiêu dùng (Đỗ

Võ Anh Khoa, 2012)

Tuy nhiên, giống gà này đã và đang bị lai tạp nhiều do công tác giống chưa được chú ý nghiên cứu đúng mức Nhiều đặc điểm quý và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của gà Tàu Vàng chưa được nghiên cứu đầy đủ

Phần lớn gà Tàu Vàng có lông màu vàng rơm, vàng sẫm, có đốm đen ở

cổ, cánh và đuôi Chân gà màu vàng, chân cao có lông, da vàng Thịt gà rắn chắc, thơm ngon Gà mọc lông chậm, 3 tháng tuổi gà trống lông còn lơ thơ (Lê Hồng Mận, 2002) Đặc điểm của gà là dọc bàn chân có hàng lông nhỏ mọc phía ngoài chân và hướng xuống dưới (Bùi Xuân Mến, 2007)

Gà có sức đề kháng cao, thích ứng với điều kiện chăn thả địa phương

Gà Tàu Vàng có tốc độ tăng trưởng nhanh, nuôi khoảng 4 tháng có thể xuất bán, trong khi gà nòi phải nuôi trên 4 tháng đến 5 tháng mới bán được

Có thể nuôi gà Tàu Vàng theo hình thức bán công nghiệp: nuôi nhốt kết hợp với thả vườn, cho ăn cám công nghiệp, lúa, gạo và rau

Trọng lượng lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh, bán được giá cao nên gà Tàu Vàng mang lại giá trị kinh tế cao cho các trang trại và hộ nuôi nhỏ lẻ

Gà có tập quán ấp trứng và nuôi con, số lượng trứng đẻ/chu kỳ từ 10-12 trứng Sản lượng trứng từ 80-120 quả/năm, trứng có màu vàng nhạt đến vàng sậm, trọng lượng trứng 40-50 g/quả

Gà thành thục và đẻ trứng từ 20-21 tuần tuổi, thời gian cho trứng từ

50-55 tuần Trọng lượng trưởng thành của con mái nặng từ 1,8-2,0 kg/con, con trống nặng từ 2,5-3,0 kg/con Gà nuôi đến 12 tuần tuổi có thể cho trọng lượng 1,1-1,2 kg đối với con mái và 1,4-1,5 kg đối với con trống Tuổi trưởng thành của chúng là 5,5-6 tháng, năng suất trứng 100 trứng/mái/năm, trứng nặng khoảng 45-55 gam, gà mái ấp và nuôi con giỏi (Lã Thị Thu Minh, 2000)

2.3.2 Kỹ thuật nuôi úm gà con

Kỹ thuật nuôi úm gà con là một yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi Theo Lê Minh Hoàng (2002), các giống gà nội, gà thả vườn nhập nội, gà công nghiệp nuôi theo phương thức này tốt

2.3.2.1 Phân biệt trống mái

Soi lỗ huyệt: gà con được cầm ở tay trái, lưng gà áp vào lòng bàn tay, đầu trút xuống dưới Khi quan sát cần bóp nhẹ vào bụng để cho phân ra ngoài,

Trang 29

dùng ngón tay cái và ngón trỏ tay phải mở lỗ huyệt ra Nếu là con trống thì có mấu lồi nhô lên, khi kéo căng mấu lồi không mất đi, đó là mấu giao cấu

Phân biệt trống mái dựa vào đặc điểm ngoại hình được thể hiện qua Bảng 2.6 như sau:

Bảng 2.6: Phân biệt trống mái dựa vào đặc điểm ngoại hình

Chân To, dài Ngắn, bé

Đầu To, thô Bé, ít thô

Lông Lông đuôi thường mọc chậm Lông đuôi mọc sớm

Tiếng kêu Đục Thanh

Hành vi Khi ăn thường bới ngang Ít bới ngang

Nguyễn Thị Mai et al., 2009

Tốc độ mọc lông cánh: theo Nguyễn Thị Mai et al (2009) thì gà trống có

tốc độ mọc lông cánh chậm hơn gà mái

2.3.2.2 Chọn gà con

Chọn gà là công việc quan trọng, quyết định năng suất của đàn và ảnh hưởng đến đời sau Khi chọn gà nên biết rõ nguồn gốc cha mẹ, tính năng sản xuất và sức khỏe của đàn bố mẹ, từ đó có thể dự đoán được năng suất của đàn

gà con trong tương lai Theo Nguyễn Đức Hiền (1999), biết được khả năng sản xuất của giống gà dự kiến nuôi để dự đoán sức sản xuất của đàn con

Khi mua gà về nuôi nên bắt gà càng sớm càng tốt, vì để lâu gà sẽ bị lạnh, mất nước, tỷ lệ chết cao Nên chọn những con khỏe mạnh, lông khô và không dính bết vào thân, đặc biệt là lỗ huyệt, lông tơ mềm mại phủ toàn thân, không

hở rốn, gà con nhanh nhẹn, mỏ chắc, luôn thể hiện những đặc điểm mạnh khỏe, không dị tật, đặc biệt là mỏ và chân (Lã Thị Thu Minh, 2000)

Không nên chọn những con quá to hoặc quá nhỏ, yếu ớt, khoèo chân, vẹo đầu, mù mắt,…

2.3.2.3 Vận chuyển gà

Vận chuyển gà bằng xe chuyên dụng hoặc xe thường nhưng phải kín gió

và thông thoáng, tránh gà bị ngạt thở Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002),

vào mùa hè nên vận chuyển gà vào lúc trời mát, tránh nắng gắt

Trang 30

2.3.2.4 Mật độ

Ở giai đoạn nuôi úm, mật độ gà thường cao hơn các giai đoạn sau, do lúc này gà còn nhỏ, tiết kiệm năng lượng sưởi ấm Theo Bùi Xuân Mến (2007), giai đoạn úm gà tùy theo phương thức nuôi, kiểu chuồng, tiểu khí hậu hoặc hệ thống điều hòa trong chuồng nuôi và tuổi của gà mà bố trí thích hợp

Theo Lã Thị Thu Minh (2000), từ tuần tuổi 2, 3 có thể nuôi với mật độ

50 con/m2 đến hết giai đoạn hoặc có thể nâng mật độ nuôi lên 70 con/m2 đến hết giai đoạn khi thời tiết mát mẻ

Mật độ nuôi cao hay thấp do nhiều yếu tố quyết định nhưng chủ yếu vẫn

là phương pháp nuôi, trang thiết bị kỹ thuật của cơ sở chăn nuôi và sự lựa chọn con giống Muốn thu được kết quả cao thì chuồng nuôi phải có hệ thống điều chỉnh được điều kiện tiểu khí hậu thích hợp và thức ăn phải có đầy đủ chất dinh dưỡng

2.3.2.5 Chăm sóc, nuôi dưỡng

Sát trùng chuồng trại trước khi thả gà nuôi

Luôn theo dõi tình trạng sức khỏe của gà, mức độ hoạt động để kịp thời

xử lý những trường hợp bất thường

Theo Lã Thị Thu Minh (2000), giai đoạn nuôi úm gà con từ 0-4 tuần tuổi, thành phần và chất lượng thức ăn ảnh hưởng trực tiếp đến gà con, vì vậy cần cung cấp đầy đủ các dưỡng chất cần thiết đáp ứng nhu cầu của gà con

Gà mới nở nên cho uống nước, không nên cho gà ăn ngay

Nên cho gà ăn nhiều lần, mỗi lần một ít vì gà có tính tìm kiếm thức ăn mới Để tránh lãng phí ta nên gom thức ăn cũ trong máng ăn lại, trộn với cám mới và cho gà ăn theo nguyên tắc ít một nhiều lần (Lê Hồng Mận, 1999) Không được thay đổi thức ăn cho gà một cách đột ngột Thức ăn cho gà con phải đảm bảo về chất lượng và số lượng, thành phần dinh dưỡng Sau phẩm chất con giống, thức ăn là yếu tố quyết định thành công trong chăn nuôi, nó vừa là nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể vừa tạo ra sản phẩm tiêu biểu cho mọi loài, mọi giống Theo Lê Hồng Mận và Hoàng Hoa Cương (1999), về kinh tế thì thức ăn bao giờ cũng chiếm một tỷ lệ 70-80% trong giá thành sản phẩm

Cho gà uống nước 24/24 giờ và nước cho gà uống phải sạch Cho gà uống bằng máng uống nhỏ để trong chuồng, khi gà được 1 tuần tuổi chuyển từ những máng nhỏ sang máng bình thường, nên giữ lại các máng uống nhỏ đầu

Trang 31

tiên trong khoảng 5-7 ngày cho đến khi tất cả gà con đều quen với máng thứ hai (Nguyễn Đức Hiền, 1999)

Máng uống nuôi nền thường dùng máng dài dọc chuồng có máng chảy liên tục bình quân 5cm/gà Nuôi lồng sử dụng máng dài có miệng rộng 5-7 cm, cao 5 cm được đặt phía trên và cách máng ăn 9-10 cm (Bùi Xuân Mến, 2007) Khi gà mới sinh ra, khả năng điều tiết nhiệt độ trong những ngày đầu chưa có, vì thế hai tuần đầu nếu gà con không được sống trong điều kiện thích hợp thì sẽ có hại rất nhiều (Lã Thị Thu Minh, 2000) Cần đảm bảo nhiệt độ úm thích hợp với gà để gà phát triển tốt

Theo Nguyễn Đức Hiền (1999), đối với gà thịt thương phẩm do tốc độ lớn nhanh người ta thường úm gà ở nền trấu rộng rãi, bố trí đèn úm tạo nhiệt

độ thích hợp toàn ô chuồng nuôi

Trang 32

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Phương tiện thí nghiệm

3.1.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm

Thí nghiệm được tiến hành ở Trại thực nghiệm khu Hòa An, trường Đại học Cần Thơ, xã Hòa An, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang

Thời gian từ ngày 11/09/2013 đến ngày 15/10/2013

3.1.2 Đối tượng thí nghiệm

Thí nghiệm được thực hiện trên 240 gà Tàu vàng 1 ngày tuổi

Giai đoạn 0-7 ngày tuổi, gà được úm trên chuồng nền bằng xi măng và

sử dụng chất đệm lót từ trấu và bã mía Lô úm cho gà con có diện tích 1 m2

với 20 con/lô

Hình 3.1: Một số hình ảnh của lô úm gà con

3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm

Máng ăn, máng uống ở mỗi ô được treo lên để tránh gà làm rơi vãi thức

ăn và đổ nước uống Mỗi ô sử dụng một máng ăn và một máng uống 4 lít Đèn chiếu sáng là bóng đèn tròn có công suất 60W, mỗi ô úm sử dụng 1 bóng đèn

Ngày đăng: 04/10/2015, 12:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.5: Nồng độ tối đa của một số chất khí trong chuồng nuôi gà - ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi
Bảng 2.5 Nồng độ tối đa của một số chất khí trong chuồng nuôi gà (Trang 20)
Hình 2.1: Chế phẩm sinh học Balasa N01 - ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi
Hình 2.1 Chế phẩm sinh học Balasa N01 (Trang 27)
Hình 2.2: Gà Tàu Vàng  http://aptrungga.com/uploads/news/2013_09/ga-tau-vang.jpg - ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi
Hình 2.2 Gà Tàu Vàng http://aptrungga.com/uploads/news/2013_09/ga-tau-vang.jpg (Trang 27)
Bảng 2.6: Phân biệt trống mái dựa vào đặc điểm ngoại hình - ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi
Bảng 2.6 Phân biệt trống mái dựa vào đặc điểm ngoại hình (Trang 29)
Hình 3.1: Một số hình ảnh của lô úm gà con - ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi
Hình 3.1 Một số hình ảnh của lô úm gà con (Trang 32)
Hình 3.2: Một số dụng cụ ở trại - ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi
Hình 3.2 Một số dụng cụ ở trại (Trang 33)
Bảng 3.3: Bố trí thí nghiệm - ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi
Bảng 3.3 Bố trí thí nghiệm (Trang 35)
Hình 3.3: Quy trình ủ men Balasa N01 - ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi
Hình 3.3 Quy trình ủ men Balasa N01 (Trang 36)
Bảng 4.1: Khối lượng gà qua các tuần tuổi, g/con - ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi
Bảng 4.1 Khối lượng gà qua các tuần tuổi, g/con (Trang 38)
Hình 4.1: Khối lượng gà qua các tuần tuổi, g/con - ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi
Hình 4.1 Khối lượng gà qua các tuần tuổi, g/con (Trang 38)
Hình 4.2: Tăng trọng qua các tuần tuổi, g/con/ngày - ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi
Hình 4.2 Tăng trọng qua các tuần tuổi, g/con/ngày (Trang 40)
Bảng 4.4: Hệ số chuyển hóa thức ăn - ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi
Bảng 4.4 Hệ số chuyển hóa thức ăn (Trang 41)
Hình 4.3: Hệ số chuyển hóa thức ăn - ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi
Hình 4.3 Hệ số chuyển hóa thức ăn (Trang 42)
Hình 4.4: Nhiệt độ, ẩm độ, CO 2 - ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi
Hình 4.4 Nhiệt độ, ẩm độ, CO 2 (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm