1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của việc thay đổi độ mặn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của sõ huyết anadara granosa ở hai kích cỡ khác nhau

32 424 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 559,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc nghiên cứu “Ảnh hưởng của việc thay đổi độ mặn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của sò huyết Anadara granosa” là cần thiết.. 1.2 Mục tiêu Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đ

Trang 2

2013

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Cô PGs Ts Ngô Thị Thu Thảo đã dành nhiều thời gian quan tâm, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin chuyển lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ và các bạn lớp Sinh học biển khóa 36 đã khích lệ, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp

Xin gởi lời cảm ơn chân thành đến anh chị và các bạn trong trại thực nghiệm Động vật thân mềm đã cho tôi những lời khuyên, những ý kiến đóng góp quý báu, đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi về dụng cụ thí nghiệm trong suốt quá trình làm thí nghiệm

Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, những người thân đã luôn động viên và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Trang 4

TÓM TẮT

Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc thay đổi

độ mặn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của sò huyết ở 2 kích cỡ khác nhau là loại nhỏ (10,98±0,58mm) và loại lớn (13,72±0,33mm) Thí nghiệm gồm có 3 nghiệm thức và mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần là NT1: giữ nguyên độ mặn 20‰ trong quá trình nuôi; NT2: Từ độ mặn 20‰ giảm 5‰ mỗi 5 ngày xuống đến 0‰; NT3: Từ độ mặn 20‰ tăng 5‰ mỗi 5 ngày lên đến 30‰ Sò huyết được bố trí vào bể Composite 100 lít với mật độ tương ứng là 20 con/rổ

và được cho ăn tảo Chlorella Kết quả sau 60 ngày thí nghiệm, tỉ lệ sống của

sò huyết đạt cao nhất khi giữ nguyên độ mặn 20‰ (loại nhỏ: 41,6% và loại lớn: 55,0%) Khi giảm xuống 0‰, sò chết hoàn toàn sau 40 ngày Ở nghiệm thức tăng độ mặn lên 30‰, tỉ lệ sống của giảm đáng kể (10% và 18,3% tương ứng với loại nhỏ và lớn) Sò huyết ở nghiệm thức giữ nguyên độ mặn 20‰ đạt chiều dài vỏ (loại nhỏ: 11,74±0,23 mm; loại lớn:14,38±0,5mm) cao hơn hơn

so với 2 nghiệm thức còn lại Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở cho việc khuyến cáo kích cỡ thả giống phù hợp với điều kiện điều kiện môi trường (đặc biệt là độ mặn) nhằm đạt hiệu quả sản xuất cao hơn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm tạ i

Tóm tắt ii

Mục lục iii

Danh mục hình, bảng v

Chương I: Mở đầu 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu 3

1.3 Nội dung 3

Chương II: Lược khảo tài liêu 4

2.1 Đặc điểm sinh học của sò huyết (Anadara granosa Linnaeus, 1758) 4

2.1.1 Đặc điểm hình thái và phân loại 4

2.1.2 Cấu tạo 4

2.1.3 Phân bố 5

2.1.4 Dinh dưỡng 5

2.1.5 Sinh trưởng 6

2.1.6 Đặc điểm sinh sản 6

2.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển nghề nuôi sò huyết 7

2.3 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn đến động vật thân mềm 9 Chương III: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 11

a Thời gian và địa điểm 11

3.1.1 Thời gian 11

3.1.2 Địa điểm 11

3.2 Đối tượng nghiên cứu 11

3.3 Vật liệu nghiên cứu 11

3.3.1 Dụng cụ và hóa chất thí nghiệm 11

3.3.2 Nguồn nước thí nghiệm 11

3.3.3 Nuôi tảo 12

3.4 Phương pháp nghiên cứu 12

3.5 Phương pháp thu và xử lý số liệu 13

3.5.1 Các chỉ tiêu lý hóa học của môi trường 13

Trang 6

3.5.2 Tăng trưởng của sò huyết 14

3.5.3 Tỷ lệ sống của sò huyết 14

3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 14

Chương IV: Kết quả và thảo luận 15

4.1 Các yếu tố lý hóa học 15

4.2 Tăng trưởng và tỷ lệ sống 16

4.2.1 Tăng trưởng của sò huyết 16

4.2.2 Tốc độ tăng trưởng chiều dài của sò huyết 17

4.2.3 Tốc độ tăng trưởng khối lượng của sò huyết 18

4.2.4 Tỷ lệ sống của sò huyết 19

Chương V: Kết luận và đề xuất 21

Tài liệu tham khảo 22

Phụ lục 26

Trang 7

DANH MỤC HÌNH, BẢNG

Hình 2.1.1: Anadara granosa (Linnaeus, 1758) 4

Hình 3.4: Độ mặn thay đổi trong quá trình thí nghiệm 12

Hình 4.1: Biến động nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm 15

Hình 4.2.4: Tỷ lệ sống của sò huyết (a): sò nhỏ; (b): sò lớn 20

Bảng 3.5.1: Phương pháp và chu kỳ thu mẫu các chỉ tiêu lý hóa học 13

Bảng 4.1: Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 16

Bảng 4.2.1: Chiều dài và khối lượng của sò huyết trong quá trình thí nghiệm16 Bảng 4.2.2: Tốc độ tăng trưởng chiều dài của sò huyết 17

Bảng 4.2.3: Tốc độ tăng trưởng khối lượng của sò huyết 18

Trang 8

so với năm 2011 nhưng chỉ bằng 94,2% so với kế hoạch Điều này có thể ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu năm 2013 Trên cơ sở xác định những khó khăn mà ngành thủy sản phải đối mặt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác định thủy sản vẫn là lĩnh vực mũi nhọn tập trung đầu tư phát triển cơ

sở hạ tầng để khai thác lợi thế của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và các vùng ven biển với các đối tượng thủy sản như: cá tra, tôm và nhuyễn thể Nguồn lợi Động vật thân mềm mang lại giá trị kinh tế rất quan trọng

Trong đó sò huyết (Anadara granosa) là đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế

bởi chất lượng thịt ngon và hàm lượng dinh dưỡng cao Đây là đối tượng động vật thân mềm chủ yếu và cũng là thế mạnh của ĐBSCL Sò huyết phân bố ở các bãi bùn mềm, ít sóng gió và thủy triều lên xuống gần cửa sông có dòng nước ngọt đổ vào và độ mặn tương đối thấp, sò có khả năng thích nghi với biến đổi độ mặn rộng 10 – 35‰ khoảng thích hợp là từ 20 – 25‰ Các yếu tố môi trường đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và tỉ lệ sống của động vật thân mềm hai mảnh vỏ (Littlewood, 1988) (trích dẫn bởi Ngô Thị Thu

Thảo và Lâm Thị Quang Mẫn, 2012) Theo Tang et al (2005) độ mặn tác động đáng kể đến tỷ lệ hô hấp và bài tiết của nghêu (Meretrix lyrata) Marta et

al (2007) đã chứng minh độ mặn 34‰ ảnh hưởng đến các chức năng hoạt

động của tế bào máu và giảm sức đề kháng của nghêu Chamelea gallina

Malouf và Bricelj (1989) lưu ý rằng những yêu cầu về độ mặn của nghêu – sò nên được cân nhắc một cách cẩn thận khi chọn lựa địa điểm nuôi (trích dẫn bởi Ngô Thị Thu Thảo và Trương Trọng Nghĩa, 2003) Bên cạnh đó, hiện nay, việc đối mặt với biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, các yếu tố lý hóa học của nước biến đổi thường xuyên (đặc biệt là độ mặn) đã gây ra nhiều khó khăn

Trang 9

cho nghề nuôi sò huyết Vì vậy, việc nghiên cứu “Ảnh hưởng của việc thay

đổi độ mặn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của sò huyết (Anadara granosa)” là

cần thiết

1.2 Mục tiêu

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc thay

đổi độ mặn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của sò huyết giống (Anadara

granosa), làm cơ sở cho việc đưa ra khuyến cáo lựa chọn kích thước và thời

điểm thả giống để giảm tỷ lệ hao hụt trong quá trình nuôi

1.3 Nội dung

Thử nghiệm ảnh hưởng của độ mặn với sò huyết bằng việc nuôi sò trong điều kiện giữ nguyên 20‰ trong suốt quá trình nuôi; từ 20‰ giảm 5‰ mỗi 7 ngày xuống đến 0‰ và từ 20‰ tăng 5‰ mỗi 7 ngày lên đến 30‰

Trang 10

Chương II:

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm sinh học của sò huyết (Anadara granosa Linnaeus, 1758) 2.1.1 Đặc điểm hình thái và phân loại

Theo NCBI (National Center for Biotechnology) phân loại của sò huyết như sau:

Ngành : Mollusca

Lớp: Bivalvia Bộ: Arcoida Họ: Arcacea

Giống: Anadara Loài: Anadara granosa (Linnaeus, 1758)

Hình 2.1.1: Anadara granosa (Linnaeus, 1758)

(http://www.seashellhub.com/Arcidae.html)

2.1.2 Cấu tạo

Sò huyết có vỏ dày, hình trứng, hai vỏ đối xứng, viền bụng tròn Trên mặt ngoài của vỏ có các gờ phóng xạ phát triển, mỗi vỏ có từ 18 – 21 gờ Trên mỗi gờ phóng xạ có nhiều hạt hình chữ nhật, đối với những cá thế già ở xung quanh mép vỏ những hạt này không rõ lắm Mặt vỏ có màu nâu Mặt trong của

vỏ có màu trắng sứ, mép vỏ có nhiều mương sâu tương ứng với đường phóng

xạ của mặt ngoài Mặt khớp thẳng, có nhiều răng nhỏ, vết cơ khép vỏ sau lớn

Trang 11

hình tứ giác; vết cơ khép vỏ trước nhỏ hơn, hình tam giác (Nguyễn Chính, 1996) Là loài có máu đỏ Cá thể lớn vỏ dài 50 – 60 mm, cao 40 – 50 mm

2.1.3 Phân bố

Sò huyết phân bố ở nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Thái Lan,

Ấn Độ, Malaysia, Úc, Myanma Ở Việt Nam, sò huyết phân bố nhiều ở vùng triều Quảng Ninh, Hải Phòng, đầm Thị Nại (Bình Định), Đầm Nại (Ninh Thuận), Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau Trong đó, Kiên Giang là nơi có sản lượng sò lớn nhất cả nước (Hoàng Thị Bích Đào, 2003) Chúng thường phân bố ở vùng trung triều độ sâu 1 – 2 m nước Theo Ngô Trọng Lư (2004) sò huyết thích sống ở nơi ít sóng gió, thủy triều lên xuống gần cửa sông có dòng nước ngọt chảy vào (độ mặn 15 – 25‰) Chúng sống theo kiểu vùi mình trong bùn cát, sò non sống ở mặt bùn, sò lớn sống sâu dưới bùn từ 1 – 3 cm Các bãi bùn mà sò huyết phân bố thường có độ dày khoảng

15 cm

2.1.4 Dinh dưỡng

Ở giai đoạn ấu trùng, thức ăn của lớp hai mảnh vỏ là vi khuẩn, tảo Silic, mùn bã hữu cơ, nguyên sinh động vật có kích thước ≤ 10μm (Thái Trần Bái, 1978) Tuy nhiên theo Quayle & Newkirk (1989), động vật thân mềm hai mảnh vỏ nói chung sử dụng các loại tảo có kích thước hiển vi, vi khuẩn, ngành nguyên sinh động vật và các hạt hữu cơ có kích thước nhỏ hơn 150μm

Sò huyết là loài bắt mồi thụ động bằng cách tạo ra dòng nước nhờ hoạt động của mang Thức ăn đi qua xoang mang, các tia mang và được lọc ở đó Sau 1 – 2 phút sò lại khép kín vỏ một lần để đưa thức ăn không thích hợp cùng với nước trong xoang áo ra ngoài (Ngô Trọng Lư, 2004)

Theo Lê Trung Kỳ và ctv (2007), tỷ lệ sống của sò huyết giai đoạn sống

trôi nổi cao nhất là 52,34% khi cho ăn tảo Nanochloropsis với mật độ 3.000 tế

bào/ml Ở giai đoạn sống đáy, tỷ lệ sống cao nhất (26,1%) khi cho ăn hỗn hợp

tảo đơn bào Nanochloropsis sp., Chaetoceros sp và Isochrysis sp với mật độ

10.000 tế bào/ml Tỷ lệ sống của sò thấp hơn khi sử dụng thức ăn tổng hợp hay tảo đáy

Trang 12

Giai đoạn trưởng thành, thức ăn của loài hai mảnh vỏ nói chung và sò huyết nói riêng là mùn bã hữu cơ Nghiên cứu dinh dưỡng của sò huyết cho thấy mùn bã hữu cơ chiếm 93% và tảo chiếm 7%, trong đó tảo Silic chiếm 92% so với các ngành tảo khác (Nguyễn Ngọc Lâm và Đoàn Như Hải, 1998) (trích dẫn bởi Lê Thị Thu Anh, 2012) Ngoài ra, nguyên sinh động vật như

Tintinnopsis và Cocliella cũng được tìm thấy trong ruột sò (trích dẫn bởi

Trương Quốc Phú, 1999)

2.1.5 Sinh trưởng

Sò ở vùng hạ triều sinh trưởng nhanh hơn vùng trung triều, do vùng hạ triều sò vùi mình trong đáy lâu hơn, thời gian ăn dài hơn Sò nhỏ tăng trưởng nhanh hơn sò lớn Nhiệt độ càng cao thì lượng bắt mồi càng lớn Kết luận của Lebesnerais (1985) cho rằng sinh trưởng của nghêu phụ thuộc vào điều kiện môi trường và thức ăn, trong đó nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý, ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ vận chuyển thức ăn, nhiệt độ làm tăng tần suất và

cường độ vận chuyển của các tiêm mao Pincebourde et al (2008) chỉ ra rằng khi vẹm Mytilus californiaus tiếp xúc đột ngột với nhiệt độ cao làm cho nhiệt

độ cơ thể tăng dẫn đến tốc độ lọc tăng (~ 60%) nhưng khi nhiệt độ cao liên tục thì tốc độ thức ăn sẽ giảm xuống Theo Angell (1986) nghiên cứu sinh trưởng

của Crassostrea paraibanensis cho thấy trong điều kiện đủ thức ăn, tốc độ

sinh trưởng nhanh khi nhiệt độ tăng Tốc độ tăng trưởng càng nhanh thể hiện qua các đường gân của vỏ sò Sò 1, 2, 3 tuổi bình quân chiều dài lần lượt là 2 cm; 2,8 cm và 3,2 cm Sò 3 tuổi là đạt kích thước thương phẩm Chúng tăng trưởng nhanh vào hai năm đầu và chậm dần khi qua năm thứ ba (Ngô Trọng

Lư, 2004)

2.1.6 Đặc điểm sinh sản

Sò huyết thuộc loại đẻ trứng, nhìn bên ngoài khó phân biệt đực cái, chỉ phân biệt được qua quan sát tuyến sinh dục vào mùa sinh sản Tuyến sinh dục con đực màu trắng sữa còn con cái màu đỏ đậm Theo Ngô Thị Thu Thảo và Trương Quốc Phú (2009), sò 1 – 2 năm tuổi có thể thành thục sinh dục và tham gia sinh sản lần đầu tiên Quayle và Newkirk (1989) cho rằng, việc thay đổi một số yếu tố môi trường như nhiệt độ nước, độ mặn sẽ kích thích chín

Trang 13

sinh dục của hai mảnh vỏ Đối với sò thành thục, khi nhiệt độ và tỷ trọng giảm đột ngột sẽ kích thích sò sinh sản (Ngô Trọng Lư, 2004)

Sò thành thục sinh dục lần đầu có chiều dài từ 15 – 25 mm Chúng có khả năng thành thục quanh năm, tuy nhiên, tỷ lệ thành thục cao nhất vào tháng

4 (100%) và tháng 9 (93%) Sò huyết có thể sinh sản 4 – 5 lần/năm Ở sò huyết, tỷ lệ cá thể cái thường lớn hơn cá thể đực Tỷ lệ giới tính của sò hyết thay đổi theo thời gian và nhóm kích thước, sò có kích thước càng lớn thì tỷ lệ

cá thể cái càng cao

Sức sinh sản tuyệt đối của một cá thể là 800 x 103

trứng/gam; sức sinh sản tương đối là 35,9 x 103

trứng/gam (cả vỏ) hoặc 164 x 103 trứng/gam (phần mềm) Trứng được thụ tinh trong môi trường nước Sau 5 – 7 giờ phát triển

thành ấu trùng quay (Trochophore) Ấu trùng chia làm các giai đoạn: ấu trùng quay (Trochophore), ấu trùng chữ D (Veliger), ấu trùng đỉnh vỏ (Umbo), ấu trùng sống đáy (spat) và sò giống (jnvenile) Thời gian phát triển từ trứng tới

sò huyết giống là 36 ngày và kích thước tăng từ 45 – 50 µm tới 300,48 µm (La

Xuân Thảo và ctv., 2003)

Theo Hoàng Thị Bích Đào (2003) sò có thể sinh sản quanh năm nhưng màu vụ tập trung chủ yếu từ tháng 2 – 9, cao điểm nhất là tháng 3 – 5 và tháng

8 – 9 Sò càng lớn sức sinh sản càng cao Sức sinh sản của sò huyết A

nodifera tại Đầm Nại (Ninh Thuận) là 350.300 – 3.788.00 trứng/ cá thể

2.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển nghề nuôi sò huyết

Sò huyết có giá trị kinh tế do thịt thơm ngon và hàm lượng dinh dưỡng cao (Nguyễn Chính, 1996) Nghề nuôi sò huyết sử dụng kỹ thuật đơn giản, đầu

tư ít nhưng mang lại lợi nhuận lớn cho người nuôi (Ngô Trọng Lư, 2004) Điều này làm gia tăng diện tích nuôi sò huyết trong thời gian qua Ở Việt Nam, sò huyết được thử nghiệm nuôi với nhiều mô hình khác nhau với diện tích nuôi khá lớn Theo kết luận của Võ Minh Thế và Ngô Thị Thu Thảo (2013) về đặc điểm kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi sò huyết

(Anadara granosa) ở hai tỉnh Kiên Giang và Cà Mau cho thấy mô hình nuôi

sò huyết trên bãi triều có diện tích lớn nhất (62466 m2), kế đến là mô hình nuôi

Trang 14

dưới tán rừng (60359 m2) và diện tích nuôi nhỏ nhất là mô hình nuôi trong ao (30359 m2)

Tạ Văn Phương và Trương Quốc Phú (2006) thử nghiệm nuôi sò huyết

(Anadara granosa) trong ao nước tĩnh Kết quả sò tăng trưởng không khác

biệt so với mô hình kênh nước chảy Sau 6 tháng nuôi không có sự khác biệt

về khối lượng Tuy nhiên, hàm lượng đạm, chất béo trong thịt sò khi thu hoạch đạt giá trị (63,34 – 68,91% và 10,18 – 14,13%) cao hơn so với lúc đầu Mô hình kết hợp sò – tôm hứa hẹn làm tăng thu nhập hơn 22 triệu đồng/ha/năm và

có khả năng làm sạch môi trường, hấp thu vật chất hữu cơ rất lớn (198 kg/ha/năm) Sau khi thử nghiệm nuôi sò huyết trong ao nước tĩnh, Tạ Văn

Phương và ctv đã đề xuất hoàn chỉnh mô hình nuôi kết hợp sò – tôm sú theo

các hình thức khác nhau là quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh (trích dẫn bởi Võ Minh Thế và Ngô Thị Thu Thảo) Theo thực tế cho thấy, mô hình nuôi kết hợp sò – tôm sú đang là mô hình phát triển bền vững về kinh tế (theo báo Cà Mau online – Hiệu quả mô hình nuôi sò huyết trong vuông tôm Cập nhận ngày 11/11/2012)

Nghiên cứu nuôi thử nghiệm sò Huyết theo hai hình thức nuôi ao đất và bãi triều tại Đầm Nại (Ninh Thuận) Hình thức nuôi ở bãi triều cho hiệu quả cao hơn so với nuôi ao (Nguyễn Khắc Lâm, 2003) Trọng lượng sò khi thu hoạch ở bãi triều 12,5 gam/con, tỷ lệ sống 95% và năng suất đạt 3500 kg/ha Trong khi đó, nuôi theo hình thức ao cho trọng lượng sò khi thu hoạch là 10 gam/con, tỷ lệ sống 75% và năng suất là 1300 kg/ha

Thử nghiệm nuôi kết hợp ốc len (Cerithidea obtusa) và sò huyết (Anadara granosa) trong rừng ngập mặn với các mật độ ốc len khác nhau do Ngô Thị Thu Thảo và ctv (2011) thực hiện Kết quả sau 6 tháng nuôi cho thấy,

tỷ lệ sống của sò huyết khác biệt giữa các nghiệm thức, cao nhất ở nghiệm thức mật độ ốc len là 20 con/m2 (32%) và thấp nhất ở nghiệm thức mật đọ ốc len 30 con/m2 (17%) Tuy nhiên không có sự khác biệt về tăng trưởng khối lượng, chiều dài của sò huyết ở các nghiệm thức khác nhau Nghiên cứu cho thấy mô hình nuôi kết hợp sò huyết (10 con/m2) và ốc len (20 con/m2) trong

Trang 15

rừng ngập mặn cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn so với môi hình nuôi kết hợp ở các mật độ ốc len khác

Bên cạnh những thuận lợi từ các mô hình nuôi mang lại, thì người nuôi

sò huyết vẫn gặp một số khó khăn như: hộ nuôi chưa nắm vững kỹ thuật nuôi, chưa xử lí, cải tạo tốt nền đáy, chất lượng con giống Trong những năm qua có những nghiên cứu về sinh sản nhân tạo giống sò huyết nhưng tỷ lệ sống chưa cao (2,28%) và quy trình sản xuất chưa ổn định (La Xuân Thảo, 2003)

2.3 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn đến động vật thân mềm

Livingstone et al (1979) nghiên cứu trên vẹm Mytilus edulis tiếp xúc đột

ngột với độ mặn 30‰ →15‰,15‰→ 30‰ và 30‰ →15‰→ 30‰ biến động theo chu kỳ 12h Kết quả thu được là thay đổi độ mặn đã làm thay đổi thẩm thấu của máu Sự thay đổi nồng độ thẩm thấu ngoại bào xuất hiện khi độ mặn thay đổi, vẹm tăng bài tiết ammonia và acid amin cùng với sự thay đổi đột ngột của độ mặn (Trích dẫn bởi Ngô Thị Thu Thảo và Lâm Thị Quang

Mẫn, 2012) Nakamura et al (2005) nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên

hoạt động đào hang cát, tăng trưởng và tốc độ lọc trên các loài hai mảnh vỏ

Mactra veniriformis, Ruditapes philipinarum và Meretrix lusoria, kết quả cho

thấy nghêu R philipinarum lọc nước tốt ở độ mặn 11,8 – 34,6‰ nhưng tốc độ sinh trưởng chậm ở 11,8‰ Ở độ mặn 6,1‰, M veniriformis vùi vào cát sau vài ngày thuần dưỡng, M lusoria không chết trong khi R philipinarum thì

chết, điều này chứng tỏ các loài khác nhau thì đáp ứng với biến động của độ mặn khác nhau

Ngô Thị Thu Thảo (2011) nghiên cứu ảnh hưởng của việc giảm độ mặn

đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của hàu (Grassostrea sp.) và tôm chân trắng (Penaeus vannamei) trong hệ thống nuôi kết hợp Sau thời gian thí nghiệm, tỷ

lệ sống của hàu đạt cao nhất khi giảm độ mặn xuống 5‰ (86,7%) và thấp nhất khi giữ nguyên độ mặn 15‰ (41,7%) Tăng trưởng của hàu ở các điều kiện độ mặn khác nhau không có sự khác biệt (P>0,05) Một nghiên cứu khác về ảnh hưởng của độ mặn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của hàu rừng đước

(Crassostrea sp.) thu tại huyện Ngọc Hiển, Cà Mau của Ngô Thị Thu Thảo và

Trang 16

Trần Tuấn Phong (2011) kết luận rằng tỷ lệ sống của hàu đạt cao nhất ở độ mặn 10‰ (87,8%) sau đó là 15‰ (76,7%) và cao hơn các nghiệm thức khác

Hàu rừng đước Crassostrea sp có khả năng sinh trưởng ở độ mặn 5 – 30‰,

tốt nhất là từ 10 – 15‰

Lê Trung Kì và La Xuân Thảo (2004) nghiên cứu ảnh hưởng độ mặn đến

sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trung sò huyết (Anadara granosa) từ giai

đoạn ấu trùng chữ D đến giai đoạn giống (1 – 2 mm) Ấu trùng được nuôi ở các độ mặn 10; 15; 20; 25; và 30‰ Độ mặn thích hợp cho ấu trùng sò huyết thay đổi theo từng giai đoạn: giai đoạn ấu trùng chữ D - ấu trùng đỉnh vỏ là 25‰ và giai đoạn hậu ấu trùng đỉnh vỏ - giai đoạn giống là 20‰ Kết quả này phù hợp với thí nghiệm của Ngô Thị Thu Thảo và ctv (2009) về ảnh hưởng

của độ mặn lên sò huyết (Anadara granosa) nuôi vỗ trong hệ thống nước xanh

– cá rô phi ở các độ mặn khác nhau là 10‰, 20‰ và 30‰ Kết quả sau 40 ngày nuôi cho thấy tỷ lệ sống của sò huyết đạt cao ở 20‰ (82,2%) và 10‰ (71,1%) trong khi đó tỷ lệ sống ở độ mặn 30‰ chỉ đạt 28,9% Bên cạnh đó, nghiên cứu ảnh hưởng của các nồng độ muối khác nhau đến tốc độ lọc thức

ăn, sự sinh trưởng, tỷ lệ sống và khả năng chịu đựng stress của sò huyết giống

Anadara granosa do Ngô Thị Thu Thảo và Trương Trọng Nghĩa thực hiện

năm 2003 Thí nghiệm được tiến hành bằng việc nuôi sò huyết với 3 nồng độ muối khác nhau (5, 10 và 15‰) trong thời gian 04 tuần Kết quả cho thấy, sò nuôi ở độ mặn 15‰ có tốc độ lọc thức ăn, tốc độ tăng trưởng hàng ngày và tỷ

lệ sống cao nhất, kế đến là ở độ mặn 10‰ và 5‰

Ngày đăng: 04/10/2015, 12:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1.1: Anadara granosa (Linnaeus, 1758) - ảnh hưởng của việc thay đổi độ mặn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của sõ huyết anadara granosa ở hai kích cỡ khác nhau
Hình 2.1.1 Anadara granosa (Linnaeus, 1758) (Trang 10)
Hình 3.4: Độ mặn thay đổi trong quá trình thí nghiệm - ảnh hưởng của việc thay đổi độ mặn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của sõ huyết anadara granosa ở hai kích cỡ khác nhau
Hình 3.4 Độ mặn thay đổi trong quá trình thí nghiệm (Trang 18)
Bảng 3.5.1: Phương pháp và chu kỳ thu mẫu các chỉ tiêu lý hóa học - ảnh hưởng của việc thay đổi độ mặn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của sõ huyết anadara granosa ở hai kích cỡ khác nhau
Bảng 3.5.1 Phương pháp và chu kỳ thu mẫu các chỉ tiêu lý hóa học (Trang 19)
Hình 4.1: Biến động nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm - ảnh hưởng của việc thay đổi độ mặn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của sõ huyết anadara granosa ở hai kích cỡ khác nhau
Hình 4.1 Biến động nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm (Trang 21)
Bảng 4.2.1: Chiều dài và khối lƣợng của sò huyết sau trong quá trình thí nghiệm - ảnh hưởng của việc thay đổi độ mặn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của sõ huyết anadara granosa ở hai kích cỡ khác nhau
Bảng 4.2.1 Chiều dài và khối lƣợng của sò huyết sau trong quá trình thí nghiệm (Trang 22)
Bảng 4.1: Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm - ảnh hưởng của việc thay đổi độ mặn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của sõ huyết anadara granosa ở hai kích cỡ khác nhau
Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm (Trang 22)
Bảng 4.2.2: Tốc độ tăng trưởng chiều dài của sò huyết (%/ngày) - ảnh hưởng của việc thay đổi độ mặn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của sõ huyết anadara granosa ở hai kích cỡ khác nhau
Bảng 4.2.2 Tốc độ tăng trưởng chiều dài của sò huyết (%/ngày) (Trang 23)
Hình 4.2.4: Tỷ lệ sống của sò huyết (a): sò nhỏ; (b): sò lớn - ảnh hưởng của việc thay đổi độ mặn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của sõ huyết anadara granosa ở hai kích cỡ khác nhau
Hình 4.2.4 Tỷ lệ sống của sò huyết (a): sò nhỏ; (b): sò lớn (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w