1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự việt nam

73 513 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm người bị thiệt hại do tội phạm gây ra Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại hoặc đe dọa bị thiệt hại về thể ch

Trang 1

Cần Thơ, 11/2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên em xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô của Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, cung cấp lượng kiến thức vô cùng quý báu cho em trong chương trình Đại học Giúp em nắm vững những vốn lý thuyết để có thể tự tin vận dụng vào thực tiễn, làm hành trang vững chắc bước vào cuộc sống, cải thiện kinh tế và có thể góp một phần nhỏ của mình vào việc xây dựng xã hội phát triển

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn – Cô Trần Hồng Ca, em cảm ơn Cô đã giúp đỡ em trong thời gian em làm luận văn vừa qua Cảm ơn Cô đã tận tình sửa chữa, hướng dẫn em để em có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật như hôm nay

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, Cô trong Hội đồng bảo

vệ luận văn tốt nghiệp đã cung cấp thêm những kiến thức mới để em có thể sửa chữa những chỗ còn sai sót, cũng như bổ sung để vốn kiến thức của em được vững vàng hơn Cảm ơn các Thầy, Cô đã nhiệt tình góp ý giúp em có thể hoàn thiện hơn luận văn tốt nghiệp của mình

Em xin gửi lời chúc sức khỏe và thành công đến các Thầy, Cô!

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……… ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI DO TỘI PHẠM GÂY RA 3

1.1 Khái niệm và đặc điểm của thiệt hại do tội phạm gây ra 3

1.1.1 Khái niệm thiệt hại do tội phạm gây ra 3

1.1.2 Đặc điểm của thiệt hại do tội phạm gây ra 4

1.2 Khái niệm, đặc điểm của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra và phân biệt với một số khái niệm khác có liên quan 5

1.2.1 Khái niệm người bị thiệt hại do tội phạm gây ra 5

1.2.2 Phân biệt khái niệm người bị thiệt hại do tội phạm gây ra với một số khái niệm có liên quan 6

1.2.3 Đặc điểm của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra 8

1.2.3.1 Thiệt hại họ gánh chịu là thiệt hại do tội phạm gây ra 8

1.2.3.2 Được tham gia tố tụng khi có sự công nhận của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng 9

1.3 Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 10

1.3.1 Người bị hại 10

1.3.2 Nguyên đơn dân sự 11

1.3.3 Phân biệt giữa người bị hại và nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự 12

1.4 Vị trí, vai trò của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra 14

1.5 Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong lịch sử tố tụng hình sự 16

1.5.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1988 16

1.5.2 Giai đoạn 1988 đến trước 2003 17

1.5.3 Giai đoạn 2003 đến nay 17

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI DO TỘI PHẠM GÂY RA 19

2.1 Quyền của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra 19

2.1.1 Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu 19

2.1.2 Quyền được thông báo về kết quả điều tra 21

2.1.3 Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch 22

2.1.4 Quyền đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường 24

2.1.5 Quyền được tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình 26

Trang 6

2.1.6 Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm

quyền tiến hành tố tụng 28

2.1.7 Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại cũng như hình phạt đối với bị cáo 31

2.1.8 Quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và trình bày lời buộc tội tại phiên tòa 35

2.1.9 Quyền được nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bảo vệ quyền lợi cho mình 36

2.2 Nghĩa vụ của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra 38

2.2.1 Nghĩa vụ có mặt khi được triệu tập 38

2.2.2 Không được từ chối khai báo 39

2.2.3 Tuân thủ nội quy phiên tòa 40

2.3 Vấn đề liên quan đến đại diện hợp pháp của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra 41

2.3.1 Đại diện đương nhiên theo pháp luật của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra 41

2.3.2 Người đại diện theo ủy quyền của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra 43

CHƯƠNG 3 NHỮNG HẠN CHẾ, GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI DO TỘI PHẠM GÂY RA 45

3.1 Khái niệm người bị hại và nguyên đơn dân sự 45

3.1.1 Khái niệm người bị hại 45

3.1.1.1 Thực trạng và những tồn tại của khái niệm người bị hại 45

3.1.1.2 Hướng đề xuất hoàn thiện khái niệm người bị hại 48

3.1.2 Khái niệm nguyên đơn dân sự 49

3.1.2.1 Những tồn tại của khái niệm nguyên đơn dân sự 49

3.1.2.2 Đề xuất hướng hoàn thiện khái niệm nguyên đơn dân sự 50

3.2 Quyền, nghĩa vụ của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra 51

3.2.1 Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu 51

3.2.1.1 Những tồn tại của quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra 51

3.2.1.2 Đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra 52

3.2.2 Quyền được thông báo kết quả điều tra 52

3.2.2.1 Những tồn tại của quyền được thông báo kết quả điều tra 52

3.2.2.2 Giải pháp góp phần hoàn thiện quyền được thông báo về kết quả điều tra 54

3.2.3 Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án 55

3.2.3.1 Những tồn tại của quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án 55

Trang 7

3.2.3.2 Giải pháp góp phần hoàn thiện quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án 56

3.2.4 Nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập 56

3.2.4.1 Những hạn chế của nghĩa có mặt theo giấy triệu tập của người bị thiệt hại

do tội phạm gây ra 56 3.2.4.2 Những giải pháp góp phần hoàn thiện quy định về nghĩa vụ có mặt theo

giấy triệu tập của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra 57

3.2.5 Nghĩa vụ khai báo của người bị hại 58

3.2.5.1 Những hạn chế về nghĩa vụ khai báo của người bị hại 58 3.2.5.2 Giải pháp góp phần hoàn thiện quy định về nghĩa vụ khai báo của người bị hại 58

PHẦN KẾT LUẬN 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta ngày càng mở rộng hợp tác quốc tế nhằm nắm bắt, tận dụng thời cơ phát triển kinh tế về mọi mặt Bên cạnh những lợi ích của việc hội nhập kinh tế thế giới thì cũng có không ích những thử thách đặt ra đối với nước ta, mà đặc biệt đó là tình hình tội phạm ngày càng gia tăng và phức tạp với những thủ đoạn tinh vi Đối mặt với những khó khăn đó đòi hỏi pháp luật nước ta phải hoàn thiện hơn để phù hợp với tình hình thực tế, để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra vì người bị thiệt hại do tội phạm gây ra là chủ thể chịu thiệt thòi nhất trong vụ án hình sự

Theo Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 thì người bị thiệt hại do tội phạm gây ra gồm có người bị hại và nguyên đơn dân sự So với Bộ luật tố tụng hình sự năm

1988 thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã bổ sung quy định thêm một số quyền của người bị hại và nguyên đơn dân sự theo hướng nâng cao vai trò của họ trong tố tụng hình

sự

Tuy nhiên bên cạnh những đổi mới thì cũng còn tồn tại những hạn chế trong nhận thức và pháp luật thực định, thực tiễn áp dụng pháp luật cũng gặp không ít khó khăn Sai lầm trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị hại và nguyên đơn dân sự

mà nguyên nhân là do khái niệm người bị hại và nguyên đơn dân sự còn nhiều hạn chế Tình trạng vi phạm quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra không được đảm bảo Ví dụ tình trạng người bị hại không được thông báo về kết quả điều tra…

Vì vậy cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến người bị thiệt hại do tội phạm gây ra nhằm nâng cao vị trí, vai trò của chủ thể này trong tố tụng hình sự Có như vậy sẽ đảm bảo được quyền của người bị hại và nguyên đơn dân sự, mặt khác đảm bảo tranh tụng công khai, dân chủ khi có sự thực hiện đầy đủ quyền tố tụng của các bên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

về người bị thiệt hại do tội phạm gây ra là một việc làm quan trọng mang tính cấp thiết,

đây cũng chính là lý do người viết chọn đề tài Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong

tố tụng hình sự Việt Nam làm luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về người bị

thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự, cùng với những bất cập của pháp luật

và thực tiễn giải quyết vụ án hình sự, từ đó đưa ra kiến nghị với hoạt động lập pháp và hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Luận văn tập trung nghiên cứu về người bị thiệt hại do tội phạm gây ra, bao gồm người bị hại và nguyên đơn dân sự

Trang 9

Nhiệm vụ nghiên cứu nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là tập trung làm rõ những

vấn đề sau:

- Phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề nhận thức về người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự ở khía cạnh lý luận và pháp lý

- Phân tích các quyền và nghĩa vụ của người bị hại và nguyên đơn dân sự

- Đánh giá thực trạng áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam để tìm hiểu mức độ đảm bảo thực hiện quyền, nghĩa vụ của người bị hại và nguyên đơn dân sự

- Đưa ra kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 2003 về người bị hại và nguyên đơn dân sự

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu đề tài này tập trung nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến

người bị thiệt hại do tội phạm gây ra như: Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ, người đại diện hợp pháp của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành Qua quá trình nghiên cứu người viết cũng đưa ra một số tồn tại và hướng đề xuất góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm đảm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp tham khảo các tư liệu trong các công trình đã công bố

5 Cấu trúc luận văn

Trong nội dung nghiên cứu của đề tài thì ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài gồm có ba chương cụ thể như sau:

Chương 1 Lý luận chung về người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

Chương 2 Quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

Chương 3 Những hạn chế, giải pháp góp phần hoàn thiện quy đinh liên quan đến người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

Trang 10

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI DO TỘI PHẠM GÂY RA

Khi một chủ thể tham gia vào một quan hệ pháp luật nhất định thì vấn đề xác định đúng tư cách chủ thể, cũng như quyền và nghĩa vụ của chủ thể ấy là vấn đề rất cần thiết nhằm đảm bảo quyền lợi của họ Bởi vì nếu không xác định được tư cách tham gia tố tụng của họ thì cũng không xác định được họ có quyền và nghĩa vụ gì theo quy định của pháp luật Trong tố tụng hình sự cũng vậy, việc xác định đúng tư cách tham gia tố tụng cũng rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho việc giải quyết đúng đắn vụ án Vì mỗi chủ thể đều có quyền và nghĩa vụ khác nhau, nếu xác định sai tư cách tham gia tố tụng không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của họ mà còn có thể dẫn đến bản án, quyết định không phù hợp thực tế khách quan hoặc nghiêm trọng hơn còn có thể dẫn đến oan sai trong quá trình tố tụng

Do đó chương này tập trung làm rõ khái niệm người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

và các khái niệm pháp lý có liên quan, giúp người đọc nắm vững các lý luận liên quan đến người bị thiệt hại do tội phạm gây ra và đặc điểm của họ Làm tiền đề để dễ dàng tìm hiểu các chương sau, bên cạnh đó còn giúp tìm hiểu người bị thiệt hại do tội phạm gây ra gồm những ai Đặc điểm của từng nhóm người và cách thức phận biệt họ Và cuối cùng

là quá trình hình thành của nhóm người bị thiệt hại do tội phạm gây ra, vị trí, vai trò của

họ trong tố tụng hình sự

1.1 Khái niệm và đặc điểm của thiệt hại do tội phạm gây ra

1.1.1 Khái niệm thiệt hại do tội phạm gây ra

Khi tội phạm xuất hiện xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, trong đó có quyền và lợi ích hợp pháp của con người Khi này xuất hiện người bị thiệt hại

do tội phạm gây ra Trước hết cần tìm hiểu thiệt hại do tội phạm gây ra là gì

Thiệt hại do tội phạm gây ra là những tổn thất, mất mát trực tiếp hoặc gián tiếp do

tội phạm xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ về thể chất, tinh thần, tài sản, tình trạng mất trật tự an toàn xã hội, trật tự pháp luật Đó là những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội bị xâm hại

Các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ là những quan hệ xã hội quan trọng đồng thời cũng là khách thể bảo vệ của luật hình sự, những quan hệ xã hội đó đã được quy định rất cụ thể tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành, bao gồm: độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp

Trang 11

khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Đây là các quan hệ xã hội gắn liền với lợi ích của Nhà nước, mọi công dân và toàn xã hội; và khi bị xâm hại có thể làm ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các quan hệ xã hội.1

Thiệt hại gây ra cho các khách thể được thể hiện qua sự biến đổi tình trạng bình thường cho các bộ phận cấu thành quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm Sự biến đổi

có thể là sự biến đổi tình trạng bình thường của thực thể tự nhiên của con người thường được gọi là thiệt hại về thể chất Các thiệt hại này bao gồm thiệt hại về tính mạng (hậu quả chết người như tội giết người), thiệt hại về sức khoẻ (hậu quả thương tích hoặc các tổn hại cho sức khoẻ) như ở tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác Ngoài thiệt hại về thể chất, hành vi phạm tội còn có thể gây ra những thiệt hại tinh thần Đó là những thiệt hại gây ra cho nhân phẩm, danh dự, tự do của con người Sự biến đổi tình trạng bình thường của các đối tượng vật chất là khách thể của quan hệ xã hội được gọi là thiệt hại vật chất Các thiệt hại này có thể dưới dạng tài sản bị phá hoại, bị huỷ hoại, hoặc dưới dạng tài sản bị chiếm đoạt, bị chiếm giữ trái phép 2

1.1.2 Đặc điểm của thiệt hại do tội phạm gây ra

Thứ nhất, thiệt hại do tội phạm gây ra phải là những thiệt hại đáng kể xét tính gây

nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội về mặt khách quan nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho các quan hệ xã hội Một hành vi vi phạm chuẩn mực chung của xã hội nào cũng có tính nguy hiểm và có khả năng trực tiếp hoặc gián tiếp gây

ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội Tuy nhiên để xác định hành vi gây nguy hiểm (nghĩa

là khả năng gây thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại) có “đáng kể” hay không thì phải thông qua việc đánh giá tổng thể các yếu tố khác nhau: Tính chất và tầm quan trọng của khách thể bị xâm hại, tính chất của hành vi khách quan, tính chất và mức độ lỗi, động cơ, mục đích phạm tội, thời gian, địa điểm, mục đích thực hiện tội phạm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự Ví dụ: Hành vi chửi mắng ông bà, cha mẹ… bị xem là hành vi vi phạm đạo đức Hành vi này về bản chất có tính nguy hiểm nhất định cho xã hội Tuy nhiên so với các hành vi vi phạm khác thì mức

độ nguy hiểm vẫn còn hạn chế chưa “đáng kể”.3

Thứ hai, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và thiệt hại để xác

định một thiệt hại có phải là do hành vi phạm tội gây ra hay không thì điều kiện tất yếu là giữa hành vi phạm tội và thiệt hại đó phải có mối quan hệ nhân quả với nhau, nghĩa là từ nguyên nhân là hành vi tội phạm xảy ra thì mới dẫn đến hậu quả bị thiệt hại cho các

khách thể bị xâm hại

1 Phạm Văn Beo, Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần chung, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.115

2

Luật học, daitudien.net: Hậu quả của tội phạm,

http://daitudien.net/luat-hoc/luat-hoc-ve-hau-qua-cua-toi-pham.html, [truy cập ngày 18-07-2014]

3 Phạm Văn Beo, Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần chung, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.115

Trang 12

Để xác định được mối quan hệ nhân quả này trước hết cần dựa vào mặt thời gian, hành vi phạm tội phải là hành vi xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian Khi nguyên nhân xảy ra thì khi này hậu quả mới được phát sinh, vì vậy quá trình này cần một khoảng thời gian nhất định mà nguyên nhân là cái phải diễn ra trước Ví dụ, người dân phát hiện A đang thực hiện hành vi giao cấu với C lúc này C đã chết Sau khi khám nghiệm biết được

C đã chết trước khi A thực hiện hành vi giao cấu, C chết là do bị A dùng thắt lưng xiết cổ trước đó Như vậy hành vi giao cấu xảy ra sau hậu quả chết người, hành vi xiết cổ có mối quan hệ nhân quả với hậu quả này

Không chỉ vậy, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả còn thể hiện qua tính tất yếu và nội tại trong mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả, nghĩa là trong điều kiện nhất định hành vi đó phải tất yếu dẫn đến kết quả nhất định chứ không thể có kết quả khác Cần xem xét hậu quả nguy hiểm xảy ra phải là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi trái pháp luật.4 Ví dụ chị A đến phẩu thuật thẩm mỹ tại thẩm mỹ viện không có giấy phép phẫu thuật thẩm mỹ, trong quá trình thẩm

mỹ do không có trình độ chuyên môn nên ca phẫu thuật đã không có kết quả như mong đợi mà còn làm cho A bất tỉnh, do hoảng sợ và tưởng rằng A đã chết nên nhóm người này đem A vứt xuống sông Sau khi thi thể được phát hiện và khám nghiệm thì kết quả là A chết do ngạc nước, nghĩa là khi bị nhóm người này ném xuống sông thì A vẫn còn sống

Do đó A chết không phải do phẫu thuật thẩm mỹ mà là do bị ném xuống sông Hành vi ném xuống sông có mối quan hệ nhân quả với hậu quả chết người mặc dù hành vi phẫu thuật thẩm mỹ trái phép vẫn có khả năng dẫn đến hậu quả tử vong

1.2 Khái niệm, đặc điểm của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra và phân biệt với một số khái niệm khác có liên quan

1.2.1 Khái niệm người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự là cá nhân, cơ quan, tổ

chức bị thiệt hại hoặc đe dọa bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng công nhận.5 Để làm

rõ khái niệm người bị thiệt hại do tội phạm gây ra, cần làm rõ một số khái niệm sau liên quan đến đối tượng là chủ thể bị thiệt hại do tội phạm gây ra gồm có:

Đầu tiên phải nói đến đó là cá nhân, đây là chủ thể trung tâm, phổ biến nhất của

quan hệ pháp luật trong một quốc gia.6 Cá nhân dùng để chỉ một con người cụ thể của một cộng đồng, thành viên của xã hội Cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, người nước

4 Phạm Văn Beo, Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần chung, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.186

5 Lê Nguyên Thanh, Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam, tp.Hồ Chí Minh, 2012,

tr.9

6 Phan Trung Hiền, Lý luận về Nhà nước và pháp luật, tập 2, Nxb.Chính trị Quốc gia-sự thật, Hà Nội, 2009,

tr.101-102

Trang 13

ngoài, người không quốc tịch Cá nhân tồn tại độc lập và có thể phân biệt với cá nhân khác, tập thể hoặc một xã hội Ví dụ: Giấy khai sinh, chứng minh nhân dân…

Chủ thể cũng khá phổ biến trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự đó là tổ chức,

thuật ngữ tổ chức được nhiều ngành khoa học qsử dụng với nghĩa không giống nhau, theo

đó khoa học tổ chức và quản lý định nghĩa tổ chức với nghĩa hẹp là tập thể của con người tập hợp lại với nhau để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó.7

Trên phương diện ngôn ngữ tùy theo ngữ cảnh, tính chất, yêu cầu, mục đích,… có thể sử dụng các thuật ngữ: Cơ quan, đơn vị, pháp nhân, đơn vị, công ty,… thay thế thuật ngữ tổ chức.8 Theo luật học thì tổ chức là chủ thể của quan hệ pháp

luật, theo khoa học luật dân sự thì tổ chức sẽ được công nhận là pháp nhân khi đáp ứng

được các điều kiện quy định tại Điều 84 Bộ luật dân sự: Được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Ở Việt Nam tổ chức bao gồm: Nhà nước nói chung, Cơ quan Nhà nước, Tổ chức xã hội, các loại hình doanh nghiệp So với cá nhân thì tổ chức không thể tham gia một số quan hệ pháp luật đặc thù.9 Tổ chức ở nước ta khá đa dạng, hình thành bằng những con đường khác nhau, với mục đích hoạt động khác nhau song vẫn là chủ thể của quan hệ pháp luật 1.2.2 Phân biệt khái niệm người bị thiệt hại do tội phạm gây ra với một số khái niệm

có liên quan

Bên cạnh việc làm rõ chủ thể của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra gồm đối tượng nào thì cần so sánh với một số khái niệm có liên quan để nhận thức rõ và chính xác hơn về người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra khi tham gia vào tố tụng hình sự sẽ được gọi chung là nhóm người tham gia tố tụng, nhưng ngoài người bị thiệt hại do tội phạm gây ra thì nhóm người tham gia tố tụng còn có các chủ thể khác Thông qua việc tìm hiểu khái niệm người tham gia tố tụng sẽ giúp nhận thức rõ hơn về người bị thiệt hại do tội phạm

gây ra trong tố tụng hình sự Người tham gia tố tụng là những chủ thể có quyền và lợi ích

của bản thân cần được bảo vệ trước pháp luật, những người có nghĩa vụ pháp lý phải tham gia vào việc giải quyết các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình

sự và những người tham gia tố tụng để hỗ trợ pháp lý cho những người tham gia tố tụng

7 Khoa học tổ chức quản lý – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb.Thống kê, Hà Nội, 1999, tr.25

8 Tạ Ngọc Hải, Viện khoa học tổ chức Nhà nước, Khái niệm, phân loại và các đặc trưng cơ bản của tổ chức từ giác

độ khoa học tổ chức nhà nước,

http://isos.gov.vn/Thongtinchitiet/tabid/84/ArticleId/779/language/vi-VN/Khai-ni-m-phan-lo-i-va-cac-d-c-tr-ng-c-b-n-c-a-t-ch-c-t-giac-d-khoa-h-c-t-ch-c-nha-n-c.aspx, 2014, [Truy cập ngày

15/11/2014]

9 Phan Trung Hiền, Lý luận về nhà nước và pháp luật, tập 2, Nxb.Chính trị Quốc gia-sự thật, Hà Nội, 209, tr.104

Trang 14

khác.10 Khi tham gia vào quan hệ tố tụng nhóm người tham gia tố tụng sẽ thực hiện nghĩa

vụ của mình với tư cách cá nhân hoặc tổ chức không mang quyền lực Nhà nước Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì người tham gia tố tụng bao gồm: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự Pháp luật quy định các quyền và nghĩa vụ tương ứng với từng chủ thể Các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của những người tham gia

tố tụng Có thể thấy mối quan hệ giữa người tham gia tố tụng và người bị thiệt hại do tội phạm gây ra là khái niệm người tham gia tố tụng sẽ rộng hơn và bao gồm cả người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

Một chủ thể có rất nhiều điểm tương đồng với người bị thiệt hại do tội phạm gây ra, tuy nhiên họ chỉ khác nhau ở việc có được pháp luật công nhận tư cách tham gia tố tụng

hay không đó là nạn nhân của tội phạm Theo từ điển luật học thì nạn nhân của tội phạm

là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do hành vi phạm tội gây ra Cá nhân có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không quốc tịch Đối với cơ quan, tổ chức phải được thành lập hợp pháp và đồng thời các

cơ quan, tổ chức này phải tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra Ở nạn nhân của tội phạm và người bị thiệt hại do tội phạm gây ra có những nét tương đồng nhau, đều là

cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác Tuy nhiên điểm khác nhau cơ bản giữa nạn nhân của tội phạm và người bị thiệt hại do tội phạm gây ra là ở người bị thiệt hại do tội phạm gây ra phải được cơ quan

có thẩm quyền công nhận tư cách tham gia tố tụng

Trường hợp 1: Hành vi phạm tội tác động đến nạn nhân của tội phạm gây ra thiệt hại, ví dụ: A đánh B gây thương tích 30% B đã bị hành vi cố tình gây thương tích của A xâm hại trực tiếp sức khỏe Trường hợp này nếu tham gia vào tố tụng thì nạn nhân của tội phạm sẽ được tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại thông qua sự thừa nhận của cơ quan tiến hành tố tụng

Trường hợp 2: Hành vi phạm tội tác động đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo

vệ đồng thời gián tiếp gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức Ví dụ: A thực hiện hành vi cướp tài sản trên đường, sau đó bỏ chạy vô tình đâm vào xe bán hàng của anh C gây thiệt hại về tài sản cho C Trong trường hợp này nạn nhân của tội phạm là anh C nếu được tham gia tố tụng thì sẽ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự

Việc phân biệt người bị thiệt hại do tội phạm gây ra với nạn nhân của tội phạm có ý

10 Mạc Giáng Châu-Nguyễn Chí Hiếu, Giáo trình luật tố tụng hình sự, phần 1 – Những vấn đề chung của luật tố

tụng hình sự, 2010, tr.49

Trang 15

nghĩa rất quan trọng vì quyền của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra và nạn nhân của tội phạm có sự khác biệt cơ bản Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra, nếu tội phạm không được phát hiện họ sẽ không được tham gia vào quá trình tố tụng Không được cơ quan tiến hành tố tụng công nhận là người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự thì họ không được hưởng các quyền của người bị hại và nguyên đơn dân sự

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, Điều 54 Bộ luật tố tụng hình sự

năm 2003 quy định người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không khái niệm thế nào là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự Trong một số tài liệu bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, có tác giả đưa ra định nghĩa “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự được hiểu là người không tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc có tham gia vào việc thực hiện tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc được miễn trách nhiệm hình sự nhưng vẫn phải tham gia vào tố tụng để xử lý theo pháp luật về quyền hoặc nghĩa vụ về tài sản của họ có liên quan đến tội phạm” Hoặc “người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người có quyền lợi nghĩa vụ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định của Tòa án” Nhìn chung các quan điểm này đều khẳng định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không phải là bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự….11 Bên cạnh đó tham khảo

Bộ luật tố tụng dân sự thì người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có thể hiểu là:

“Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc xét xử vụ án hình sự của Tòa án và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự”. 12 Họ có thể liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cũng có thể chỉ liên quan đến vật chứng, tài sản, đến trách nhiệm dân sự trong

vụ án hình sự

1.2.3 Đặc điểm của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

1.2.3.1 Thiệt hại họ gánh chịu là thiệt hại do tội phạm gây ra

Tội phạm là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,

do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài

11 Phan Thanh Tùng, Tòa án nhân dân tối cao, Một số vấn đề về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự,

http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=1&p_cateid=1751909&item_id=67187074&article _details=1, [truy cập ngày 21/09/2014]

12 Đinh Văn Quế, Tòa án nhân dân tối cao, Một số quy định của pháp luật về người tiến hành tố tụng và người tham

gia tố tụng,

http://www.toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&article_details

=1&item_id=9522874, [Truy cập ngày 21/09/2014]

Trang 16

sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.13 Dù tội phạm có hoàn thành hay chưa thì tội phạm cũng đã xâm phạm đến khách thể và gây thiệt hại trên thực tế Một người chưa bị hành vi phạm tội xâm hại thì không thể gọi họ là người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra phải gánh chịu những thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành vi phạm tội gây ra, những thiệt hại này bao gồm thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác Thiệt hại về thể chất tức là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe Thiệt hại về tinh thần là thiệt hại về danh dự, nhân phẩm Thiệt hại về tài sản là trường hợp tài sản của người bị hại bị mất, bị chiếm đoạt,

bị hủy hoại hoặc bị làm hư hỏng Ngoài ra người bị hại có thể bị xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp khác như: Xâm phạm chổ ở, bị bắt trái pháp luật…

Đối với người bị hại chịu thiệt hại trực tiếp từ tội phạm nghĩa là thiệt hại do tội phạm trực tiếp gây ra hoặc đe dọa gây ra Ngoài ra người bị hại còn có thể có thiệt hại gián tiếp Nhưng điều kiện tối thiểu là họ phải có một thiệt hại trực tiếp từ hành vi phạm tội

Đối với nguyên đơn dân sự hành vi phạm tội không trực tiếp tác động, không cố ý nhằm gây thiệt hại cho nguyên đơn dân sự Nói cách khác, thiệt hại của nguyên đơn dân

sự không phải là đối tượng của tội phạm Thiệt hại của nguyên đơn dân sự là hậu quả gián tiếp do tội phạm gây ra Những thiệt hại này có thể là thiệt hại về tài sản hoặc những thiệt hại khác dẫn đến những tổn thất về vật chất những thiệt hại do uy tín, danh dự bị xâm hại…

Ví dụ: A đánh B gây thương tích cho B làm B phải nghỉ việc không thể tiếp tục đi làm Trong trường hợp này B bị hành vi phạm tội cố ý gây thương tích của A gây thiệt hại về sức khỏe (thể chất) đây là thiệt hại trực tiếp do A gây ra Ngoài ra, do không đủ sức khỏe đi làm B phải nghỉ việc là mất thu nhập, đây là thiệt hại gián tiếp mà B phải gánh chịu vì hành vi phạm tội cố ý gây thương tích của A

1.2.3.2 Được tham gia tố tụng khi có sự công nhận của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra phải được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng công nhận tư cách tham gia tố tụng thông qua các văn bản của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án: 14

Đối với Cơ quan điều tra, trong giai đoạn khởi tố, điều tra, tư cách của những người

13

Điều 8, Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

14 Thái Chí Bình, Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong trường hợp xác định không đúng người tham gia tố

tụng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2, 1/2011

Trang 17

tham gia tố tụng trong đó có người bị thiệt hại do tội phạm gây ra được thể hiện ở các quyết định, biên bản liên quan đến hoạt động khởi tố, điều tra như: Quyết định khởi tố vụ

án hình sự, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản kết luận điều tra… Trong các hình thức thể hiện này, tư cách của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra được thể hiện trong các quyết định, biên bản trước khi kết thúc điều tra có thể thay đổi, nhưng tư cách của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra thể hiện trong bản kết luận điều tra là kết quả chính thức, không thay đổi Bởi vì, bản kết luận điều tra thể hiện sự đánh giá toàn diện của Cơ quan điều tra về các vấn đề liên quan đến vụ án, tư cách người tham gia tố tụng trong đó có người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong vụ án là văn bản đánh dấu việc kết thúc quá trình điều tra để chuyển sang giai đoạn truy tố

Đối với Viện kiểm sát, cũng như Cơ quan điều tra, khi vụ án chuyển sang giai đoạn

truy tố, hình thức công nhận tư cách của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra được thể hiện qua biên bản ghi lời khai, các quyết định truy tố có liên quan, cáo trạng hoặc quyết định truy tố và danh sách những người cần triệu tập tham gia phiên tòa… Trong số các hình thức trên thì cáo trạng hoặc quyết định truy tố là hình thức xác định cuối cùng tư cách người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trước khi chuyển hồ sơ cho Tòa án xét xử Ngoài ra người bị thiệt hại do tội phạm gây ra còn được xác định trong danh sách những người cần triệu tập ra trước phiên tòa

Đối với Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, tư cách người bị thiệt hại do tội

phạm gây ra được thể hiện trong các quyết định, lệnh có liên quan; trong đó quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản án là hình thức thể hiện tư cách của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra rõ nhất Trong các văn bản tố tụng được Tòa án ban hành, nếu quyết định đưa vụ án ra xét xử được xem là văn bản khởi đầu của sự thể hiện tư cách tham gia tố tụng của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra thì bản án được xem là nơi xác định chính thức tư cách của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra, vì đây là văn bản quan trọng nhất

và đánh dấu kết quả của toàn bộ giai đoạn xét xử sơ thẩm

1.3 Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

2003

1.3.1 Người bị hại

Người bị hại là một thuật ngữ quen thuộc trong khoa học pháp lý tố tụng hình sự Tuy nhiên pháp luật tố tụng hình sự các nước không thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ người bị hại Chẳng hạn luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga hay Việt Nam dùng thuật ngữ “người bị hại”, trong khi đó pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì dùng thuật ngữ “người tố cáo” Ngoài ra người bị hại còn được gọi là

Trang 18

“người bị thiệt hại”, hay gọi là “nạn nhân”, hay “dân sự nguyên cáo”.15

Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam sử dụng thuật ngữ người bị hại, theo ngôn ngữ pháp lý thì người bị hại

là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra Người bị thiệt hại chỉ có thể là thể nhân bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản chứ không thể là pháp nhân.16 Tại điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đã định nghĩa cụ thể người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra” Theo thuật ngữ này thì người bị hại trong tố tụng hình sự chỉ có thể là một con người cụ thể, bị hành vi phạm tội gây thiệt hại về thể chất, tính mạng, sức khỏe), tinh thần (danh dự, nhân phẩm) hoặc tài sản.17

Trong lý luận cũng như trong thực tiễn không phải vụ án nào, tội phạm nào cũng có người bị hại Ví dụ như tội gây rối trật tự công cộng thì hành vi xâm hại hướng tới là trật

tự công cộng, hay nói cách khác đối tượng tác động của tội phạm này là trật tự công cộng Do vậy vụ án có tội danh này không có người bị hại Nếu hành vi gây rối trật tự công cộng gây thiệt hại nghiêm trọng cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người nào đó thì tùy trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị truy cứu với tội danh tương ứng hoặc là yếu tố định tội hoặc tăng nặng của tội gây rối trật tự công cộng

Ví dụ: Tại sân vận động có một trận bóng đá đang diễn ra, có một nhóm thanh niên

có hành vi quá khích gây rối trật tự công cộng làm mọi người hoản loạn bỏ chạy, họ giẫm đạp lên nhau gây hậu quả chết người Trong trường hợp này họ chỉ bị truy cứu về tội gây rối trật tự công cộng, hậu quả trên không thể truy cứu thành tội phạm độc lập

Người bị hại tham gia tố tụng với tư cách là người tham gia tố tụng và họ không mang quyền lực Nhà nước Việc thừa nhận người nào đó là người bị hại phải theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.18 Việc tham gia tố tụng của người

bị hại không chỉ góp phần khôi phục, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã bị tội phạm xâm hại mà còn góp phần quan trọng vào việc xác định sự thật khách quan của vụ

án

1.3.2 Nguyên đơn dân sự

Theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành thì “Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại”, theo quy định trên thì điều kiện để xác định nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự đó là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và phải

có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại Thiếu một trong hai tiêu chí trên thì không thể trở

15 Lê Tiến Châu, Người bị hại trong tố tụng hình sự, Tạp chí khoa học pháp lý, số 1/2007

16 Trường Đại học luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb.CAND 1999, tr.198

Trang 19

thành nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự

Nguyên đơn dân sự có thể là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây

ra, những thiệt hại này có thể là thiệt hại về tài sản hoặc những thiệt hại khác dẫn đến những tổn thất về vật chất như những thiệt hại do danh dự, uy tín bị xâm hại… Nguyên đơn dân sự cũng có thể là cá nhân bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do hành vi phạm tội gây ra

Tuy nhiên khác với người bị hại, nguyên đơn dân sự (trong trường hợp là cá nhân) không phải là nạn nhân trực tiếp của tội phạm, mặc dù bị thiệt hại nhưng thể chất, tinh thần, tài sản của họ không phải là đối tượng của tội phạm

Nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự khác với nguyên đơn trong vụ án dân sự: Trong vụ án dân sự người khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là nguyên đơn dân sự nhưng không phải người yêu cầu khởi kiện nào cũng bị thiệt hại Thiệt hại không chỉ là thiệt hại về vật chất mà còn có những thiệt hại khác, và nhất thiết không phải là thiệt hại do tội phạm gây ra Còn nguyên đơn dân sự trong vụ án hình

sự chỉ có một loại thiệt hại đó là thiệt hại về vật chất và thiệt hại đó chỉ do tội phạm gây

1.3.3 Phân biệt giữa người bị hại và nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự

Cùng giống nhau đều là người bị thiệt hại do tội phạm gây ra, tuy nhiên giữa người

bị hại và nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự có những điểm khác biệt cơ bản sau:

Thứ nhất về thiệt hại, người bị hại là chủ thể gánh chịu thiệt hại trực tiếp từ hành vi

phạm tội gây ra, nghĩa là thiệt hại do tội phạm trực tiếp gây ra hoặc đe dọa gây ra Ngoài

ra người bị hại còn có thể có thiệt hại gián tiếp Nhưng điều kiện tối thiểu là họ phải có một thiệt hại trực tiếp từ hành vi phạm tội Những thiệt hại họ phải gánh chịu là những

19 Đinh Văn Quế, Điều kiện trở thành nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự, Báo pháp luật tp.HCM, 2014,

http://plo.vn/thoi-su/dieu-kien-nao-thanh-nguyen-don-trong-an-hinh-su-447437.html, [truy cập ngày 26-7-2014]

Trang 20

thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản, hoặc xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp khác Còn đối với nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự thì hành vi phạm tội không trực tiếp tác động, không cố ý nhằm gây thiệt hại cho nguyên đơn dân sự Nói cách khác, thiệt hại của nguyên đơn dân sự không phải là đối tượng của tội phạm Thiệt hại của nguyên đơn dân sự là hậu quả gián tiếp do tội phạm gây ra Những thiệt hại này có thể là thiệt hại

về tài sản hoặc những thiệt hại khác dẫn đến những tổn thất về vật chất những thiệt hại do

uy tín, danh dự bị xâm hại…nhưng thiệt hại thường thấy nhất ở nguyên đơn dân sự đó là thiệt hại về tài sản

Thứ hai về chủ thể chịu thiệt hại, đối với người bị hại chủ thể chịu thiệt hại là con

người cụ thể bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại, thể chất, tinh thần, tài sản là đối tượng của tội phạm Còn đối với nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự gồm có cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Nguyên đơn dân sự cũng có thể là

cá nhân bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do hành vi phạm tội gây ra

Thứ ba về điều kiện chủ thể, đối với người bị hại thì trong vụ án hình sự thì khi họ bị

thiệt hại do tội phạm gây ra thì đương nhiên sẽ được công nhận tư cách tham gia tố tụng

là người bị hại Còn đối với nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự thì ngoài bị thiệt hại

do tội phạm gây ra họ phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại thì mới được công nhận

tư cách tham gia tố tụng là nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự

Thứ tư về quyền lợi của người bị hại và nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật, sự khác biệt cơ bản về quyền của người bị hại và nguyên đơn dân

sự là người bị hại sẽ được kháng cáo nội dung bản án về phần hình phạt đối với bị cáo, còn nguyên đơn dân sự thì không Bên cạnh đó trong một số trường hợp người bị hại được quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự thì khi này người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp họ được trình bày lời buộc tội tại phiên tòa Quyền này chỉ có ở người bị hại còn nguyên đơn dân sự thì không Về phần này sẽ được phân tích rõ hơn ở chương 2 quy định của pháp luật về người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự

Thứ năm về nghĩa vụ của người bị hại và nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật, đối với người bị hại có nghĩa vụ khai báo, nếu từ chối mà

không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều 308 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 Riêng đối với nguyên đơn dân sự họ có nghĩa vụ trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc đòi bồi thường thiệt hại

Bảng tóm tắt so sánh giữa người bị hại và nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự

Tư cách tham

gia tố tụng

Trang 21

Thiệt hại Thiệt hại họ phải gánh chịu là

đối tượng trực tiếp của tội phạm

Thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản

Thiệt hại họ gánh chịu không là đối tượng trực tiếp của tội phạm

Thường là thiệt hại về tài sản

Điều kiện chủ

thể

Chỉ cần có thiệt hại Có thiệt hại và phải có đơn yêu

cầu bồi thường thiệt hại đó

Quyền Có quyền kháng cáo về phần

hình phạt đối với bị cáo

Không có quyền đó

Nghĩa vụ Nghĩa vụ khai báo, nếu từ

chối mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều

308 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Nghĩa vụ trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc đòi bồi thường thiệt hại

Quy định khác Trường hợp vụ án được khởi

kiện theo yêu cầu của người

bị hại thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của

họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa

Không được trình bày lời buộc tội tại phiên tòa

Có trường hợp người bị hại có thể đồng thời là nguyên đơn dân sự trong vụ án hình

sự, trong trường hợp này họ đồng thời có quyền của người bị hại và nguyên đơn dân sự Tuy nhiên họ chỉ cần sử dụng quyền của người bị hại là đủ Thực tiễn xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ cần xác định họ tham gia tố tụng với tư cách người bị hại là đủ, không cần phải xác định họ là nguyên đơn dân sự vì không cần thiết.20

1.4 Vị trí, vai trò của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam thì người bị thiệt hại do tội

20

Đinh Văn Quế, Điều kiện trở thành nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự, Báo pháp luật tp.HCM, 2014,

http://plo.vn/thoi-su/dieu-kien-nao-thanh-nguyen-don-trong-an-hinh-su-447437.html, [truy cập ngày 26-7-2014]

Trang 22

phạm gây ra tham gia vào quá trình tố tụng hình sự với tư cách là người tham gia tố tụng,

họ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân liên quan đến vụ

án Họ có một vị trí quan trọng trong công cuộc đấu tranh và phòng chống tội phạm với mục đích góp phần làm sáng tỏ vụ án, truy cứu đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra có vị trí quan trọng trong tố tụng hình sự là còn vì xuất phát từ lời khai của họ, lời khai của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra là nguồn cung cấp chứng cứ quan trọng cho cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Lời khai của người bị thiệt hại như dựng lại hiện trường của vụ án đã xảy, với tư cách là chủ thể bị thiệt hại thì lời khai của họ cung cấp cơ bản chính xác hơn những tình tiết đã xảy ra của vụ án Đặc biệt pháp luật tố tụng hình sự cho phép người bị hại thực hiện chức năng buộc tội đối với trường hợp yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và tiền đề thực hiện chức năng buộc tội đó cũng xuất phát từ lời khai của người bị hại Tuy nhiên, lời khai buộc tội của người bị hại chỉ có sức thuyết phục khi lời khai đó phản ánh một cách trung thực, chính xác những gì xảy ra trong vụ án là có tội phạm xảy ra và đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đại diện của họ khi tham gia tố tụng là một bên trong tranh tụng, góp phần vào quá trình đi tìm sự thật của vụ án, công lý và sự công bằng của pháp luật Khi thực hiện hành vi phạm tội, một mặt người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự với tính chất là một chế tài được áp dụng đối với người gây thiệt hại không chỉ làm tăng khả năng trừng trị mà còn có ý nghĩa giáo dục đối với bản thân họ và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung Do vậy, vị trí của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra càng được khẳng định hơn nữa

Việc xác định vai trò của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra là rất quan trọng Được thể hiện như sau:

Thứ nhất: Cung cấp chứng cứ làm rõ sự thật khách quan của vụ án hình sự Do

người bị thiệt hại do tội phạm gây ra là đối tượng chịu thiệt hại từ tội phạm (người bị hại chịu thiệt hại trực tiếp từ tội phạm) Họ biết rất rõ về những tình tiết của vụ án, họ có thể cung cấp các tài liệu mà các cơ quan chức năng cũng như các chủ thể khác không thể có được Từ những tài liệu chứng cứ này mà các cơ quan có thể thực hiện một số hoạt động nghiệp vụ, để tìm ra sự thật khách quan của vụ án, đồng thời giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác, đúng đắn và thuyết phục Ngoài ra còn giúp các cơ quan chức năng phát hiện những thiếu sót, từ đó có những giải pháp hữu hiệu hơn để phòng ngừa tội phạm Vì vậy khi tham gia tố tụng người bị thiệt hại do tội phạm gây ra có nghĩa vụ phải khai báo trung thực

Trang 23

Thứ hai: Việc tham gia tố tụng của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra giúp xác

định chính xác, đầy đủ thiệt hại do tội phạm gây ra, là điều kiện cần thiết giúp giải quyết

vụ án hình sự Việc xác định thiệt hại do tội phạm gây ra có ý nghĩa rất quan trọng có thể làm thay đổi quyền và nghĩa vụ cũng như tư cách tố tụng của các bên

Ví dụ: Trước đây Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã phạt nguyên Tổng giám đốc Tổng công ty Dâu tằm tơ Việt Nam (VISERI) Dương Xuân Túy 10 năm tù về tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng Tòa án căn cứ vào kết quả của Hội đồng giám định tài chính từ tháng 1 đến tháng 4/2005, hành

vi sai phạm của bị cáo đã làm VISERI thua lỗ gần 4,3 tỷ đồng

Xét xử phúc thẩm, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã hủy bản án này để điều tra xét xử lại từ đầu Theo tòa, số tiền VISERI thua lỗ

mà bản án sơ thẩm quy kết chỉ dựa vào số liệu kế toán 2005 mà chưa tách bạch trong thời gian VISERI có chủ trương giảm giá sản phẩm gây thiệt hại bao nhiêu; chưa làm rõ hành

vi của bị cáo là trái quy định nào; án sơ thẩm không đưa đại diện VISREI tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.21

Qua vụ án ta thấy việc xác định chưa chính xác thiệt hại mà bị cáo gây ra đã làm ảnh hưởng đến kết quả vụ án Vì vậy việc xác định mức thiệt hại cũng như vai trò của người

bị thiệt hại do tội phạm gây ra có thể xem là rất quan trọng và cần thiết trong vụ án hình

sự

1.5 Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong lịch sử tố tụng hình sự

1.5.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1988

Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, có ba Bộ luật tố tụng hình sự khác nhau áp dụng tại Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ Trong đó theo Điều 20 và 31 Bộ luật tố tụng hình

sự Bắc kỳ đã phân loại người tham gia tố tụng thành: Bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị hại Chưa có quy định nào đề cập đến nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự Tại Thông tư số 16/TATC ngày 27/9/1974 của Tòa án nhân dân tối cao thì lần đầu tiên khái niệm người bị hại được ghi nhận như sau “công dân đã bị kẻ phạm pháp xâm hại đến thể chất, tài sản hoặc xâm phạm về tinh thần (như bị lăng nhục, đánh, giết, trộm cắp, lừa đảo…) Riêng về vấn đề nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự cũng đã được đề cập đến trong thông tư này, nhưng quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn dân sự chưa được quy định một cách cụ thể Thông tư chỉ ghi nhận nguyên đơn dân sự có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

21 Hoàng Yến, án kéo rê vì xác định thiệt hại không rõ, Báo mới, 2012,

http://www.baomoi.com/An-keo-re-vi-xac-dinh-thiet-hai-khong-ro/58/9504503.epi , [06/8/2014]

Trang 24

1.5.2 Giai đoạn 1988 đến trước 2003

Thời kỳ này đánh dấu sự pháp điển hóa pháp luật tố tụng hình sự với việc ra đời Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây được xem là “bước nhảy” trong lịch sử phát triển pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988 (Quốc hội thông qua ngày 28/6/1988,

có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1989) là kết quả tổng hợp hơn 40 năm hoạt động tư pháp hình sự, là sự thể chế hóa đường lối đổi mới trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm Sự ra đời của Bộ luật đã đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nước ta, nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, người tham gia tố tụng nói chung và người bị thiệt hại do tội phạm gây ra nói riêng

Ngoài Hiến pháp năm 1992 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, quyền của người

bị thiệt hại do tội phạm gây ra còn được ghi nhận trong các văn bản như: Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 1989, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự ngày 30/6/1990, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự ngày 22/12/1992, Pháp lệnh thi hành án hình phạt tù 1993, Nghị định 06-CP ngày 16/9/1993 của Chính phủ ban hành quy chế trại giam, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2000.22

Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003 khái niệm những người thuộc nhóm người bị thiệt hại do tội phạm gây ra cũng đã được ghi nhận Tại khoản 1 Điều 39 và khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định “người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra”, “Nguyên đơn dân

sự là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức bị thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại” Bên cạnh đó quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra cũng được ghi nhận, tuy giai đoạn này đã dánh dấu và ghi nhận bước phát triển vược bậc trong việc ghi nhận và tôn trọng quyền của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra Nhưng một thực tế phải thừa nhận là người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

và quyền lợi của họ không được ghi nhận trong Hiến pháp Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra và quyền lợi của họ được nhắc đến rất khiêm tốn và mờ nhạt trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988, quy định mới chỉ được ghi nhận mang tính chất thừa nhận

mà chưa có các quy định vê thủ tục, quy trình cũng như các biện pháp nhằm đảm bảo cho các quy định được thực thi trên thực tế

1.5.3 Giai đoạn 2003 đến nay

Các văn bản pháp luật liên quan đến người bị thiệt hại do tội phạm gây ra và quyền của họ trong hệ thống pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam giai đoạn từ 2003

22 Đinh Thị Mai, Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam, Hà Nội, 2014, tr.91

Trang 25

đến nay hầu hết là các văn bản còn hiệu lực thi hành

Hiện tại người bị thiệt hại do tội phạm gây ra và quyền lợi của họ vẫn chưa được ghi nhận trong Hiếp pháp Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 là văn bản pháp luật quan trọng nhất, quy định tập trung các khái niệm của nhóm người bị thiệt hại do tội phạm gây ra: Người bị hại, nguyên đơn dân sự, quyền và nghĩa vụ của họ Bộ luật tố tụng hình sự 2003

ra đời thay thế Bộ luật tố tụng hình sự 1988, bên cạnh đó cũng đã khắc phục được những hạn chế của Bộ luật tố tụng hình sự 1988 Cụ thể tại Điều 51 và 52 Bộ luật đã quy định

về người bị hại và nguyên đơn dân sự như sau “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”, “Nguyên đơn dân sự là cơ quan, cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại” Ngoài ra còn

có các văn bản khác: Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009, Pháp lệnh điều tra hình sự năm 2004…

Tóm lại, từ việc tìm hiểu về khái niệm, đặc điểm của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra cũng như việc xác định người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự gồm có người bị hại và nguyên đơn dân sự; đồng thời nhận thức được vị trí, vai trò của

họ trong tố tụng hình sự giúp ta thấy được tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi của nhóm người này trong tố tụng hình sự Thông qua việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽ góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm Việc nghiên cứu sẽ là nền tảng đễ hiểu hơn về người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trang 26

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ

CỦA NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI DO TỘI PHẠM GÂY RA

Khi nghiên cứu, tìm hiểu về một chủ thể nhất định thì dù ở bất kỳ ngành luật nào việc xác định chủ thể đó có quyền và nghĩa vụ gì luôn là vấn đề cốt lõi cần được quan tâm Hơn thế nữa khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự người bị thiệt hại do tội phạm gây ra là những chủ thể gánh chịu hậu quả nặng nề nhất từ hành vi phạm tội, vì vậy mà hơn ai hết bản thân họ quan tâm đáng kể đến quyền và nghĩa vụ mà họ có được theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Bên cạnh đó, đối với các chủ thể tiến hành tố tụng cũng cần phải biết rõ về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này để đảm bảo các hoạt động tố tụng được đúng đắn nhằm đảm bảo được các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, vừa đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa Chính vì lẽ đó mà quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra chính là nội dung trọng tâm của việc nghiên cứu, bên cạnh đó vấn đề đại diện hợp pháp cũng được đề cập đến trong nội dung chương này

2.1 Quyền của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

2.1.1 Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu

Tại điểm a khoản 2 Điều 51 và điểm a khoản 2 Điều 52 Bộ luật tố tụng hình sự năm

2003 quy định người bị hại và nguyên đơn dân sự hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền “đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu” Mặc dù tại Điều 10 Bộ luật này cũng đã quy định việc làm rõ chứng cứ và tìm ra sự thật khách quan của vụ án thuộc về cơ quan tiến hành

tố tụng và người tiến hành tố tụng Tuy nhiên để chứng cứ trong vụ án được thu thập đầy

đủ và chính xác hơn thì pháp luật cũng quy định người bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu để chứng minh hành vi phạm tội, chứng minh cho những thiệt hại mà họ phải gánh chịu do tội phạm gây

ra

Các tài liệu, đồ vật mà người bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền cung cấp có thể sẽ trở thành chứng cứ trong vụ án, những tài liệu, đồ vật

đó có thể là những vật là công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật

là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm

và người phạm tội,23 hoặc các tài liệu, đồ vật khác … Bên cạnh đó họ còn có quyền đưa

ra những yêu cầu như yêu cầu triệu tập thêm người người làm chứng, yêu cầu người giám định lại, giám định bổ sung (giám định tỉ lệ thương tật hoặc những giám định khác) và những yêu cầu có liên quan đến vụ án Ví dụ, trường hợp người bị thiệt hại do tội phạm

23 Điều 74, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Trang 27

gây ra có quyền yêu cầu trưng cầu giám định lại khi có nghi ngờ kết quả giám định là không đúng với thiệt hại thực tế mà tội phạm đã gây ra cho mình quy định tại khoản 1 Điều 158 Bộ luật tố tụng hình sự

Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đại diện hợp pháp của họ có thể thực hiện quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu ở những giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng như giai đoạn điều tra truy tố hoặc xét xử tại phiên tòa Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có trách nhiệm tiến hành kiểm tra, đánh giá một cách khách quan để xác định tài liệu, đồ vật đó có phải là chứng cứ mà vụ án cần đến hay không, có giá trị hay không để góp phần xem xét giải quyết vụ án Việc xem xét còn tránh trường hợp bỏ sót tài liệu, đồ vật, yêu cầu có ý nghĩa là sáng tỏ sự thật vụ án

Bên cạnh đó quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra còn được quy định tại khoản 2 Điều 65 và Điều 205 Bộ luật tố tụng hình sự Cụ thể như sau trong giai đoạn thu thập chứng cứ, khoản 2 điều 65 quy định “Những người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án” còn trong giai đoạn xét xử tại phiên tòa thì Điều 205 quy định “Chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem ai có yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay không…” Pháp luật quy định để người bị thiệt hại do tội phạm gây ra có thể phát huy tối đa quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của mình trong nhiều giai đoạn tố tụng, đặc biệt tại phiên tòa người bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đại diện hợp pháp của họ còn có quyền triệu tập thêm người làm chứng để chứng minh cho sự thiệt hại của mình, các yêu cầu này sẽ được Tòa án xem xét giải quyết đúng pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

Ví dụ thực tế về quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra: Quyền yêu cầu trưng cầu giám định lại của người bị hại Trong vụ án cố ý gây thương tích diễn ra ở Phương Mai (Hà Nội), bị cáo Dương Hồng Dũng dùng búa tạ đập nhiều lần vào đầu anh Vũ Hồng Phong khiến nạn nhân bị thương Theo kết quả giám định của tổ chức giám định pháp y Trung ương, anh Phong bị tổn hại 44% sức khỏe Người bị hại yêu cầu được giám định lại lần nữa và tổ chức giám định pháp y Quân đội kết luận là 76% Căn cứ vào kết quả giám định lần 2, Tòa tuyên phạt Dương Hồng Dũng

15 năm tù.24 Qua vụ án ta thấy nếu như người bị hại không yêu cầu giám định lại tỉ lệ vết thương do tội phạm gây ra thì tổ chức giám định pháp y Trung ương đã kết luận người bị hại bị tổn hại 44% sức khỏe, rõ ràng không đúng với mức thiệt hại thực tế mà người bị

24 Pháp luật,„Khoảng trống‟ trong giám định thương tật, Báo Vnexpress, 2004,

http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/khoang-trong-trong-giam-dinh-phap-thuong-tat-2007708.html, [Ngày truy cập 22/9/2014]

Trang 28

hại phải gánh chịu Do đó việc yêu cầu giám định lại tỉ lệ thương tật của người bị hại trong vụ án này là chính xác đảm bảo cho vụ án được giải quyết đúng đắn tránh bỏ lọt tội phạm Theo quy định tại điều 104 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 nếu nạn nhân bị thương tật 44% thì bị cáo chỉ nhận khung hình phạt từ 2 đến 7 năm tù, còn tỉ lệ thương tật là 76% thì mức án tăng lên 5 đến 15 năm tù Nếu quyền yêu cầu trưng cầu giám định lại của người vị hại không được phát huy thì kết quả vụ án đã khác, quyền lợi của người bị hại bị ảnh hưởng Chính vì lẽ đó mà các cơ quan tiến hành tố tụng cần thận trọng trong việc xác định tỉ lệ thương tật do tội phạm gây ra để tránh oan sai cho người

vô tội và bỏ lọt tội phạm

2.1.2 Quyền được thông báo về kết quả điều tra

Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến

vụ án, các thông tin liên quan đến vụ án ảnh hưởng rất lớn đến họ vì vậy mà tại điểm b khoản 2 Điều 51 và điểm b khoản 2 Điều 52 Bộ luật tố tụng hình sự quy định người bị hại và nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự có quyền “Được thông báo về kết quả điều tra” Từ những thông báo về kết quả điều tra, người bị thiệt hại do tội phạm gây ra có thể biết những vấn đề thuộc về nội dung vụ án, trên cơ sở đó họ có thể chuẩn bị tài liệu, chứng cứ, lý lẽ để chứng minh thiệt hại mà tội phạm đã gây ra cho mình Nếu cơ quan có thẩm quyền không thông báo về kết quả điều tra thì người bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đại diện hợp pháp của họ khó có thể hiểu hết cụ thể về nội dung vụ án mà cơ quan tiến hành tố tụng đã tiến hành điều tra do đó sẽ rất khó khăn khi họ tham gia tố tụng, dẫn đến vụ án sẽ không được xét xử khách quan công bằng

Việc người bị thiệt hại do tội phạm gây ra được thông báo về kết quả điều tra không chỉ đem lại nhiều thuận lợi cho chính họ mà đối với vụ án còn giúp thực hiện được tính công bằng, dân chủ, chính xác, khách quan Bởi vì lúc này người bị thiệt hại do tội phạm gây ra có thể cung cấp những chứng cứ khác giúp cơ quan tiến hành tố tụng có thể biết được thêm các tình tiết của vụ án, đảm bảo vụ án được xét xử khách quan đúng người đúng tội

Ví dụ trường hợp người bị thiệt hại được thông báo về kết quả điều tra vụ án Vụ án hiếp dâm bé Nguyễn Thị T (sinh năm 2000, học sinh lớp 8 huyện Chương Mỹ-Hà Nội) là một học sinh ngoan, ít nói, trầm tính Ngày 17, 18/04/2014 T liên tục nghỉ học không phép Đến ngày 19/04/2014 mẹ T đến trường xin cho T nghỉ học vài ngày và liền sau đó

mẹ T xin cho con bảo lưu kết quả vì lý do “tế nhị, khó nói” Khi được cô giáo tới nhà hỏi thăm tình trạng của T thì mẹ T lúc này nói thật là T đang mang thai ở tuần 25 Thông tin

về tình trạng của T được cô giáo báo cáo Ban Giám Hiệu nhà trường Ban Giám hiệu nhà trường Trung học cơ sở Hữu Văn đã có công văn báo cáo sự việc lên Uỷ ban nhân dân xã Hữu Văn từ đây vụ việc có sự vào cuộc của công an huyện Chương Mỹ - Hà Nội Được

Trang 29

hỏi về tác giả của bào thai bé T thừa nhận là do bố ruột của mình là Nguyễn Văn Bộ gây

ra Tuy nhiên lúc này không thể xét nghiệm chính xác vì lý do sức khỏe của bé T và đứa

bé trong bụng Đến 12/7 bé T đã sinh được bé trai 2,5kg, sau khi gửi kết quả giám định tại Viện khoa học hình sự, Bộ công an ngày 22/8 bản kết luận giám định cho kết quả con trai do cháu T sinh ra là con đẻ của Nguyễn Văn Bộ với xác suất 99,99% Căn cứ vào kết quả điều tra ngày 12/9 Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Chương Mỹ đã quyết định khởi

tố vụ án khởi tố bị can, tạm giữ Nguyễn Văn Bộ về hành vi hiếp dâm trẻ em.25 Với thông báo kết quả điều tra của Cơ quan điều tra đã giúp người bị hại và đại diện hợp pháp của

họ có thể nắm bắt được thông tin cụ thể Thể hiện được tính dân chủ, khách quan của quá trình giải quyết vụ án

2.1.3 Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch

Người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch là các chủ thể góp phần quan trọng trong hoạt động tố tụng Người tiến hành tố tụng tiến hành các hoạt động của mình nhằm mục đích chứng minh sự thật vụ án, còn đối với người giám định, người phiên dịch vai trò của họ cũng không kém phần quan trọng họ góp phần vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án, tạo điều kiện cho vụ án được xét xử thuận lợi nhanh chóng Do đó để vụ án được xét xử công bằng chính xác, khách quan không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội thì đòi hỏi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch phải đảm bảo sự vô tư trong khi làm nhiệm vụ của mình Phải tôn trọng pháp luật, tôn trọng sự thật vụ án, sự vô tư của họ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết vụ án Tuy nhiên trong những trường hợp có lý do cho rằng họ không vô tư hoặc không khách quan trong khi làm nhiệm vụ thì người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định người phiên dịch, được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 51 và điểm c khoản 2 Điều 52 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Tại khoản 2 Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định người tiến hành tố tụng bao gồm: “Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án” Thấy được vai trò, tầm quan trọng của các chủ thể này cùng người giám định, người phiên dịch Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định đảm bảo sự vô tư của họ thành một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố tụng cụ thể như sau:

“Người tiến hành tố tụng không được tiến hành tố tụng hoặc người giám định, người phiên dịch không được tham gia tố tụng nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể

25

Du Du, Vụ ông bố đồi bại: làng quê chấn động với kết quả giám định AND, Tin247.com, 2014,

http://www.tin247.com/vu_ong_bo_doi_bai_lang_que_chan_dong_voi_ket_qua_giam_dinh_adn-6-23091649.html, [Ngày truy cập 22/9/2014]

Trang 30

không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình” Theo quy định này thì các chủ thể nêu trên sẽ không được tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng, bản thân họ sẽ phải từ chối tiến hành tham gia tố tụng hoặc bị đề nghị thay đổi

Để đảm bảo thực thi quyền thay đổi người tiến hành tố tụng của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra Điều 42 Bộ luật tố tụng hình sự quy định các trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng Theo đó người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu họ đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo; Họ đã tham gia với tư cách

là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó;

Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ Đồng thời để giải thích rõ hơn cho quy định này Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định chung trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tại khoản 4 mục 1 Nghị quyết quy định như sau: “Theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu họ là người thân thích của một trong những người sau đây trong vụ án hình sự mà họ được phân công xét xử: Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Bị can, bị cáo

Người thân thích của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị can, bị cáo là người có quan hệ sau đây với một trong những người này: Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; Là cụ nội, cụ ngoại của một trong những người trên đây; là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; là cháu ruột mà họ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột

Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ

là ngoài các trường hợp được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì trong các trường hợp khác (như trong quan hệ tình cảm, quan hệ thông gia, quan hệ công tác, quan hệ kinh tế ) có căn cứ rõ ràng để có thể khẳng định là Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án không thể vô tư trong khi làm nhiệm vụ Ví dụ: Hội thẩm là anh em kết nghĩa của bị can, bị cáo; Thẩm phán là con rể của bị cáo; người bị hại

là Thủ trưởng cơ quan, nơi vợ của Thẩm phán làm việc mà có căn cứ rõ ràng chứng

minh là trong cuộc sống giữa họ có mối quan hệ tình cảm thân thiết với nhau, có mối

quan hệ về kinh tế Cũng được coi là có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ nếu trong cùng một phiên tòa xét xử vụ án hình sự, Kiểm sát viên, thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án là người thân thích với nhau”

Trang 31

Bên cạnh đó luật cũng đã quy định những đối tượng có quyền thay đổi người tiến hành tố tụng và các trường hợp cụ thể của từng người tiến hành tố tụng phải từ chối hoặc

bị thay đổi tiến hành tố tụng được quy định từ Điều 43 đến Điều 47 Bộ luật tố tụng hình

sự Ngoài ra nếu người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định không vô tư khách quan trong quá trình giải quyết vụ án mà họ không từ chối cũng không bị thay đổi thì người bị thiệt hại do tội phạm gây ra có quyền đề nghị thay đổi để vụ án được xét xử khách quan, đảm bảo quyền lợi của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra.26

Nếu quyền đề nghị thay đổi này không được đảm bảo thì quyền và nghĩa vụ của những người bị thiệt hại và các bên tham gia tố tụng sẽ không được đảm bảo, người giám định, người phiên dịch nếu không đảm bảo được sự khách quan thì có thể dẫn đến sai lệch kết quả vụ án, có thể có những ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình giải quyết vụ án

Tóm lại quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra nhằm bảo vệ quyền lợi của họ góp phần đảm bảo sự thật khách quan của vụ án Đây là một nguyên tắc quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói riêng và pháp luật tố tụng hình sự nói chung

2.1.4 Quyền đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường

Quyền đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường là quyền thể hiện bản chất dân sự trong vụ án hình sự, đây là quyền mà người bị thiệt hại do tội phạm gây ra được bày tỏ ý chí, nguyện vọng của mình với mong muốn với những thiệt hại mà

họ phải gánh chịu được người phạm tội bù đắp một khoản giá trị tương xứng với những thiệt hại mà người bị thiệt hại phải gánh chịu

Tại điểm d khoản 2 Điều 51 và điểm d khoản 2 Điều 52 Bộ luật tố tụng hình sự quy định người bị hại và nguyên đơn dân sự được quyền đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường Bởi lẽ, họ là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp do hành vi phạm tội gây ra, vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra, bù đắp những thiệt hại mà họ phải gánh chịu nên pháp luật tố tụng hình sự nước ta đã quy định họ được quyền đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường Ngoài ra thông qua quyền này còn thể hiện được tính khách quan công bằng trong việc giải quyết vụ án, góp phần ngăn chặn việc tội phạm có thể tẩu tán tài sản để không phải bồi thường thiệt hại

Quyền này của nguời bị thiệt hại do tội phạm gây ra được đảm bảo bởi nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự Bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự cũng tương tự như bồi thường thiệt hại trong dân sự, chúng chỉ khác nhau ở cơ sở phát

26 Nguyễn Ngọc Chí, Đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định trong tố

tụng hình sự, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 08, 2008, tr.53

Trang 32

sinh và chủ thể gây thiệt hại Thiệt hại trong vụ án dân sự phát sinh chủ yếu do vi phạm hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng, còn thiệt hại trong vụ án hình sự phát sinh là do hành vi phạm tội mà ra Chính vì vậy vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự có phần đặc biệt hơn so với bồi thường thiệt hại trong dân sự Vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có thể được tiến hành đồng thời với việc giải quyết trách nhiệm hình sự hoặc tách ra thành

vụ án dân sự thông thường Nếu vấn đề dân sự được tách ra thành vụ án dân sự thông thường, cách thức bồi thường sẽ được tiến hành theo thủ tục tố tụng dân sự Nếu nó được giải quyết đồng thời với trách nhiệm hình sự thì phải được quyết định cùng với bản án hình sự

Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra ngoài việc góp phần chứng minh tội phạm thì

họ tham gia tố tụng hình sự còn với mục đích là yêu cầu người gây thiệt hại bồi thường

và khắc phục những thiệt hại mà họ phải gánh chịu Về nguyên tắc thì “Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời”.27

Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền đề nghị mức bồi thường dựa trên thiệt hại thực tế mà họ phải gánh chịu Đối với tài sản bị xâm hại thì người bị thiệt hại có quyền được bồi thường: Tài sản bị mất; tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.28 Đối với thiệt hại về sức khỏe bị xâm hại thì mức đề nghị sẽ dựa trên: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất 29 Trong trường hợp thiệt hại do tính mạng bị xâm hại thì mức đề nghị sẽ dựa trên: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết, chi phí hợp lý cho việc mai táng…30

Đối với loại thiệt hại về tinh thần thì khó có thể xác định được mức độ thiệt hại để bồi thường cho hợp lý Tuy nhiên vẫn phải tính toán thành những khoản giá trị tương ứng để bồi thường cho người bị thiệt hại Có thể là bồi thường một khoản chi phí để công khai xin lỗi trên các phương tiện thông tin đại chúng, chi phí hợp lý để khắc phục, hạn chế thiệt hại…31

Tuy nhiên không phải lúc nào mức đề nghị bồi thường mà người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ đưa ra đều được chấp nhận Bởi vì người bị thiệt hại do tội phạm gây ra và người gây ra thiệt hại không được phép thỏa thuận mức bồi thường như trong dân sự, cho nên nếu người bị thiệt hại và người gây ra thiệt hại đã thỏa thuận một mức bồi thường và người bị thiệt hại đề nghị bồi thường như đã thỏa thuận trước đó, nhưng mức thỏa thuận này không giống thiệt hại trên thực tế thì Hội đồng xét xử có thể không đồng ý Bởi vì Tòa án thường căn cứ vào kết quả điều tra và xác minh của Cơ quan điều tra cũng như kết quả xét xử tại phiên tòa để xác định mức bồi thường

27 Điều 605, Bộ luật dân sự 2005

28 Điều 608, Bộ luật dân sự 2005

29

Điều 609, Bộ luật dân sự 2005

30 Điều 610, Bộ luật dân sự 2005

31 Điều 611, Bộ luật tố tụng dân sự 2005

Trang 33

Ngoài việc được đề nghị mức bồi thường thì pháp luật cũng quy định người bị thiệt hại do tội phạm gây còn có quyền đề nghị các biện pháp bảo đảm bồi thường, người bị thiệt hại được quyền đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thực tế bị cáo hoặc người dại diện hợp pháp của bị cáo không có khả năng thực hiện hết nghĩa vụ bồi thường

2.1.5 Quyền được tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Quyền được tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến tranh luận tại phiên tòa được hiểu

là quyền mà người bị thiệt hại do tội phạm gây ra được quyền có mặt tại phiên tòa để theo dõi quá trình xét xử vụ án hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Sự có mặt của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra tại phiên tòa nhằm bày tỏ ý chí,

ý kiến tranh luận của mình đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng họ

là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vì vậy phán quyết của Tòa án có ảnh hưởng rất quan trọng với họ Quy định việc người bị thiệt hại do tội phạm gây ra có mặt tại phiên tòa nhằm xác minh sự thật vụ án, tạo điều kiện để họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Vì vậy tại điểm đ khoản 2 Điều 51 và điểm đ khoản 2 Điều 52 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định sự có mặt của người bị hại và nguyên đơn dân sự tại phiên tòa để tham gia phiên tòa và trình bày ý kiến tranh luận tại phiên tòa Ngoài ra tại Điều 191 Bộ luật tố tụng hình sự cũng quy định về sự có mặt của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra, việc có mặt tại phiên tòa vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra Khi người bị thiệt hại do tội phạm gây ra vắng mặt tại phiên tòa thì tùy trường hợp Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn có thể tiến hành xét xử Nếu sự vắng mặt của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đại diện hợp pháp của họ gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án và không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử vẫn có thể tiến hành xét xử khi họ vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa Các trường hợp người bị thiệt hại do tội phạm gây ra vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử:

Sự vắng mặt của những người nêu trên không trở ngại cho việc xét xử vụ án, tức là

không trở ngại cho Hội đồng xét xử xác định: Có hành vi phạm tội xảy ra, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; có người thực hiện hành vi phạm tội;

có lỗi; có năng lực trách nhiệm hình sự; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại của hành vi gây ra

Trang 34

Sự vắng mặt của những người nêu trên chỉ trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường, nhưng có thể tách việc bồi thường thành một vụ án khác để xét xử theo thủ tục tố tụng dân sự Trong trường hợp này, Hội đồng xét xử phải quyết định tách vấn đề bồi

thường và chỉ xét xử phần hình sự Việc khởi kiện vụ án dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thuộc thẩm quyền của các đương sự và thực hiện theo thủ tục tố tụng dân

sự 32

Ví dụ trường hợp vắng mặt người bị hại vẫn tiến hành xét xử Vụ án mua bán 24h vắng mặt 98 bị hại Ngày 25/06/2014 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội diễn ra phiên tòa xét xử vụ án mua bán 24h lừa đảo Các bị cáo bị đưa ra xét xử gồm: Ngô Văn Huy,

Lê Văn, và Nguyễn Mạnh Hà Cả 3 người này bị truy tố về hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Ngoài 3 thành phần chủ chốt trên còn có Tổng giám đốc Công ty là Nguyễn Tuấn Minh

do đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên Cơ quan điều tra quyết định tạm đình chỉ điều tra, khi nào bắt được sẽ xử lý sau

Trước khi bước vào phần xét xử, các luật sư tham gia bào chữa cho các bị cáo đều kiến nghị hoãn phiên toà do chỉ có 9 bị hại đến tham dự phiên toà trên tổng số 107 bị hại Các luật sư cho rằng các bị hại là người trực tiếp tố cáo, việc xác định số tiền bị chiếm đoạt cần thiết phải có mặt đầy đủ các bị hại Tuy nhiên, đại diện phía viện kiểm sát cho biết, 107 bị hại đều đã được cơ quan điều tra lấy lời khai đầy đủ nên hoàn toàn có thể xét

xử vắng mặt Sau khi hội ý, HĐXX quyết định vẫn tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.33

Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra có mặt tại phiên tòa để thực hiện các quyền của mình Tại phiên tòa họ có thể đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; được trình bày ý kiến tham gia tranh luận để bảo vệ quyền và lơi ích hợp pháp của mình Họ có thể theo dõi diễn biến toàn bộ quá trình vụ án

Ví dụ hoãn phiên tòa xét xử vụ án xâm con rết lên mặt nhân viên Hai bị cáo trong

vụ án là Nguyễn Thị Anh, Nguyễn Thị Hương bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 2 điều 104 Bộ luật hình

sự Bị hại là Nguyễn Thị Giang Theo hồ sơ vụ án, do nghi ngờ chị Giang có quan hệ với chồng mình là Phạm Thế Phong nên trong các ngày 26, 27/11/2011 Trâm Anh đã chửi bới, tát chị Giang, rồi dùng kéo cắt trọc tóc chị này, chưa hả cơn ghen ngày 28/11/2011 Trâm Anh lệnh cho chị Hương đưa Giang đến tiệm xăm hình con rết lên má và 2 con lên

32 Nguyễn Ngọc Anh, Bình luận khoa học bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Nxb.chính trị quốc gia, Hà Nội 2009,

tr.413

33 Lê Tú, Xét xử vụ Muaban24, Vắng mặt 98 bị hại, Báo dân trí, 2014,

http://dantri.com.vn/kinh-doanh/xet-xu-vu-muaban24-vang-mat-98-bi-hai-892482.htm, [Ngày truy cập 03/10/2014]

Trang 35

ngực nạn nhân với giá 1,1 triệu đồng Hậu quả chị Giang bị thương tích tạm thời 28% tại thời điểm giám định Một cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu cho biết, phiên xét xử vụ án xăm con rết lên mặt nhân viên đã bị hoãn do vắng mặt người bị hại.34

Ngoài ra khi tham gia phiên tòa người bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đại diệp hợp pháp của họ còn có quyền trình bày ý kiến tranh luận tại phiên tòa, đây là một phần quan trọng trong quá trình xét xử vụ án sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành ngay sau khi kết thúc thủ tục xét hỏi tại phiên tòa Theo quy định tại điều 127 Bộ luật tố tụng hình

sự thì khi tranh luận tại phiên tòa người tranh luận bày tỏ quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án: Phân tích, đánh giá chứng cứ vụ án; đề nghị áp dụng pháp luật và giải quyết vấn đề vụ án Trên cơ sở các ý kiến phát biểu tranh luận, Hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết các vấn đề của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đúng đắn Bên cạnh đó người bị thiệt hại do tội phạm gây ra còn có quyền trình bày ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nếu có người bảo vệ quyền lợi cho họ thì người này

có quyền trình bày ý kiến bổ sung Hoặc họ có thể đề nghị chủ tọa phiên tòa cho phép người bảo vệ quyền lợi của họ phát biểu trước sau đó họ phát biểu bổ sung.35

Bên cạnh đó Điều 218 Bộ luật tố tụng hình sự cũng quy định người bị thiệt hại do tội phạm gây ra có quyền trình bày ý kiến của mình về phần luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình, tham gia tranh luận đáp lại ý kiến của người khác

Quyền tranh luận tại phiên tòa không chỉ giúp người bị thiệt hại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân họ thông qua việc thể hiện các quyền tố tụng trong giai đoạn xét xử vụ án, mà còn giúp vụ án được xét xử công bằng thông qua các phần tranh luận Tòa án có thể đưa ra các phán quyết đúng người đúng tội

2.1.6 Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật nước ta công nhận Quyền khiếu nại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là quyền mà người bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đại diện hợp pháp của họ được khiếu nại những quyết định được ban hành theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, hoặc những hành vi được thực hiện trong hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền thuộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân Người khiếu nại có căn cứ cho rằng hành vi và quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình

34 Nguyễn Anh, Hoãn phiên tòa xét xử vụ án xâm rết lên mặt nhân viên, Báo Bà Rịa-Vũng Tàu, 2014,

vien-500513/, [Ngày truy cập 03/10/2014]

http://www.baobariavungtau.com.vn/phap-luat/201406/hoan-phien-toa-xet-xu-vu-an-xam-con-ret-len-mat-nhan-35 Nguyễn Ngọc Anh, Bình luận khoa học luật tố tụng hình sự 2003, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2009, tr.454

Trang 36

Để hiểu hơn về quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của người bị thiệt hại trước hết cần tìm hiểu Chương XXXV quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự của Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên tìm hiểu về các quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại Vấn đề này có thể tham khảo tại thông tư 02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BTP ngày 10/8/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo Thông tư có đề cập đến đối tượng mà người bị thiệt hại do tội phạm gây ra có thể khiếu nại là quyết định

tố tụng và hành vi tố tụng

Quyết định tố tụng bị khiếu nại là quyết định được ban hành theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó chánh án, Thẩm phán Tòa án được phân công chủ tọa phiên tòa trước khi mở phiên tòa, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, mà người khiếu nại cho rằng hành vi đó là trái pháp luật xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Hành vi tố tụng bị khiếu nại là hành vi được thực hiện trong hoạt động tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó chánh án, Thẩm phán Tòa án được phân công chủ tọa phiên tòa trước khi mở phiên tòa, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành một số hoạt động điều tra, mà người khiếu nại cho rằng hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Ví dụ trường hợp hành vi khám nhà do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện khi chủ nhà đi vắng, không có sự tham gia của chính quyền địa phương nên việc khám nhà là không khách quan, có thể gây thiệt hại cho chủ nhà nên họ có quyền khiếu nại trong trường hợp này

Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại do tội phạm gây

ra, vì vậy những quyết định, hành vi tố tụng này nếu không có căn cứ trái pháp luật thì quyền, lợi ích của người bị thiệt hại sẽ không được đảm bảo Chính vì vậy để lợi ích của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra và đại diện hợp pháp của họ được đảm bảo thì pháp luật nước ta đã quy định cho họ có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng gây ra theo điểm e khoản 2 Điều 51 và điểm e khoản 2 Điều 52 Bộ luật

tố tụng hình sự Khi một quyết định hoặc hành vi tố tụng bị coi là trái pháp luật khi quyết định hoặc hành vi đó được ban hành hoặc thực hiện không đúng theo các quy định của

Bộ luật tố tụng hình sự hoặc có những mâu thuẫn với những giải thích thống nhất trong các văn bản chỉ đạo của cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời quyết định hoặc hành vi này xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Ngày đăng: 03/10/2015, 23:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình phạt đối với bị cáo - người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự việt nam
Hình ph ạt đối với bị cáo (Trang 21)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm