1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng trong luật hôn nhân gia đình năm 2014 và một số giải pháp đề xuất

47 819 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 684,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài Người viết nghiên cứu đề tài này là mong muốn tạo cho người đọc một cách hiểu cơ bản và khái quát những quy định của pháp luật để người đọc nhân biế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Huỳnh Thị Trúc Giang Trần Thị Kiều

MSSV: 5117396

Lớp: Luật Hành Chính HG – K37

Cần Thơ, 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô và các bạn đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu và nhiệt tình nhất và đã giúp đỡ tác giả hoàn thành đề tài này Đặc biệt là sự giúp

đỡ và hướng dẫn tận tình của cô Huỳnh Thị Trúc Giang đã giúp tác giả hoàn thành tốt đề tài luận văn này

Đề tài “ Tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng trong Luật hôn nhân gia

đình năm 2014 và một số giải pháp đề xuất” là một đề tài mang tính thực tiễn đang được

xã hội quan tâm nói chung và hôn nhân gia đình nói riêng Tác giả chỉ xem tính khách quan và tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình nghiên cứu sẽ không thể tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp nhiều ý kiến của quý thầy cô và các bạn để hiểu rõ thêm về nội dung mà đề tài mình đang nghiên cứu

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN



Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN



Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài 1

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Cơ cấu luận văn 2

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI SẢN CHUNG VÀ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 3

1.1 Khái niệm về tài sản 3

1.2 Khái niệm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng 5

1.2.1 Khái niệm tài sản chung 5

1.2.2 Khái niệm tài sản riêng 7

1.3 Ý nghĩa việc quy định của pháp luật về tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng 9

1.4 Lịch sử phát triển quy định pháp luật về tài sản chung và tài sản riêng 10

1.4.1 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 10

1.4.2 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 11

1.4.3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 12

1.4.4 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 13

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VỀ CĂN CỨ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG VÀ CĂN CỨ XÁC ĐỊNH 15

2.1 Căn cứ xác định tài sản chung của vợ, chồng 15

2.1.1 Tài sản chung của vợ chồng có được do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kì hôn nhân 15

2.1.2 Tài sản chung của vợ chồng có được do hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân 17

2.1.3 Tài sản chung của vợ, chồng có được từ những thu nhập khác trong thời kì hôn nhân 18

Trang 6

2.1.4 Tài sản chung của vợ, chồng có đựơc do thừa kế chung hoặc được tặng cho chung………

… 18

2.1.5 Tài sản chung của vợ, chồng còn bao gồm quyền sử dụng đất mà vợ, chồng

có được sau khi kết hôn 19 2.1.6 Tài sản chung của vợ, chồng bao gồm những tài sản mà vợ, chồng thỏa

thuận là tài sản chung 21 2.1.7 Tài sản chung của vợ, chồng còn bao gồm những tài sản không đủ căn cứ

xác định là tài sản riêng 22

2.2 Quy định về căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng 25

2.2.1 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có trước

khi kết hôn… 26 2.2.2 Tài sản riêng của vợ chồng bao gồm tài sản thừa kế, tặng cho riêng trong

thời kì hôn nhân 27 2.2.3 Tài sản riêng của vợ chồng là tài sản vợ, chồng có được do chia tài sản

chung trong thời kì hôn nhân 28 2.2.4 Tài sản riêng của vợ chồng bao gồm đồ dùng tư trang phục vụ cho nhu cầu

thiết yếu của vợ, chồng 29 2.2.5 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà vợ, chồng thỏa thuận là tài

sản riêng 30

Chương 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA

ĐÌNH NĂM 2014 VỀ CĂN CỨ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG VÀ CĂN CỨ

XÁC ĐỊNH 34 3.1 Các căn cứ xác định tài sản chung của vợ, chồng 34 3.2 Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng 37 KẾT

LUẬN………40

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Gia đình là tế bào của xã hội trong đó quan hệ vợ chồng là quan hệ nền tảng có

vai trò quan trọng trong đời sống Vì vậy, Hôn nhân và gia đình là một lĩnh vực quan trọng cần được nhà nước cũng như toàn xã hội quan tâm hàng đầu, bởi gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người cả nhân cách và thể chất Chính vì thế, nhà nước ta đã có rất nhiều những quy định để đảm bảo sự bình đẳng trong hôn nhân và gia đình, đặc biệt là quan hệ giữa vợ và chồng Xét trong mối quan hệ giữa vợ và chồng, chúng ta không thể không nói đến vấn đề tài sản Từ đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời và

đi vào thực tiễn đã tạo sự thuận lợi trong việc áp dụng pháp luật khi thay thế cho luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 Tuy nhiên, thực tiễn pháp luật về hôn nhân vẫn còn nhiều điểm hạn chế về các căn cứ xác định tài sản chung và các căn cứ xác định tài sản riêng của vợ chồng Hơn thế nữa, thời kì kinh tế hiện nay đang phát triển mạnh mẽ đã tác động rất lớn đến gia đình, đặc biệt là trước sự đổ vỡ ngày càng nhiều của các đôi

vợ chồng, người ta càng quan tâm đến việc xác định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng của vợ chồng Do đó, việc quy định các căn cứ xác định tài sản chung và tài sản riêng giúp cho việc áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn Với những lý do nêu trên mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có hướng mở mới về các căn cứ xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng Vì vậy, mà em chọn đề tài “ Tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và một số giải pháp đề xuất” để nghiên cứu Với mong

muốn em sẽ đóng góp ý kiến của mình về vấn đề trên

2 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài

Người viết nghiên cứu đề tài này là mong muốn tạo cho người đọc một cách hiểu

cơ bản và khái quát những quy định của pháp luật để người đọc nhân biết cách xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng, hiểu được tầm quan trọng về căn cứ xác định tài sản chung và tài sản riêng là như thế nào, đồng thời giúp người đọc hiểu được tầm quan trọng của sự nhận biết đó Tìm ra những vướng mắc khi áp dụng pháp luật về tài sản chung và tài sản riêng, từ đó nêu lên ý kiến của mình đối với những vướng mắc đó

Trang 8

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài “Tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Một số giải pháp đề xuất ” là một đề tài tương đối mới nên khi phân tích vấn đề chủ yếu dựa vào Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Do đây là văn bản mới nên chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể Vì vậy, người viết dựa trên tinh thần của các văn bản hướng dẫn trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 giúp người viết phân tích vấn đề được dễ dàng hơn, cùng với các văn bản khác, các tài liệu liên quan trong phạm vi Pháp luật Việt Nam quy định Việc nghiên cứu đề tài với mong muốn

có thể đưa ra về những điểm chưa hợp lý của trong Luật hôn nhân và gia đình năm

2014 à các đề xuất mang tính chất cá nhân với hy vọng sẽ góp phần hoàn thiện Luật này

4 Phương pháp nghiên cứu

Để tiếp cận và làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu của đề tài, người viết

đã sử dụng một số phương pháp như: phương pháp phân tích tổng hợp, sưu tầm tài liệu, đọc, thống kê, so sánh… để phục vụ cho công tác nghiên cứu của người viết

5 Cơ cấu luận văn

Ngoài lời cám ơn, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo thì cơ cấu đề tài bao gồm: Lời nói đầu, phần nội dung và kết luận Trong đó phần nội dung của đề tài được trình bài trong ba chương:

Chương 1:Khái quát chung về tài sản chung và tài sản riêng theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Trong chương một nêu lên khái niệm như thế nào là tài sản, tài sản chung là như thế nào, tài sản riêng được hiểu như thế nào và nói lên ý nghĩa quan trọng, sự cần thiết

mà quy định pháp luật đưa ra đối với tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng

Chương 2: Quy định Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về căn cứ xác định tài sản chung và căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng

Phần này người viết muốn tập trung làm rõ các quy định của pháp luật về các căn

cứ xác định tài sản chung và các căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng Trong quá trình phân tích các quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ, chồng có thể làm sáng tỏ những nội dung phù hợp với thực tiễn hiện nay và giúp chúng ta thấy được những quy định của pháp luật về tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng còn gặp những khó khăn hay vướng mắc gì

Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về căn cứ xác định tài sản chung và căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng

Trang 9

Trong chương sau cùng này người viết muốn đóng góp ý kiến của bản thân mình cho quá trình xây dựng luật, đưa ra một số vướng mắc mà bản thân người viết trong khi phân tích luật đã thấy được đang gặp khó khăn hay vấn đề đó vẫn chưa được luật

đề cập đến Từ đó, người viết đưa ra một số ý kiến, đề xuất và những hướng nhằm thiện thêm về quy định của pháp luật về vấn đề tài sản chung và tài sản riêng của vợ,

chồng

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI SẢN CHUNG VÀ TÀI SẢN RIÊNG CỦA

VỢ, CHỒNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

1.1 Khái niệm về tài sản

Tài sản là vấn đề trung tâm cốt lỗi của quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng, khái niệm tài sản đã được đề cập từ rất lâu đời trong thực tiễn cũng như khoa học pháp lý nhưng thực tế hiện nay trong quá trình áp dụng luật vấn đề này chưa

có sự thống nhất Để tìm hiểu như thế nào là tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng thì chúng ta cần biết tài sản là gì Có nhiều cách hiểu đưa ra khái niệm về tài sản, nhưng nhìn tổng quan có thể hiểu khái niệm tài sản theo hai cách:

Cách thứ nhất, nếu hiểu theo cách thông dụng thì tài sản là của cải được con người sử dụng, một vật cụ thể mà con người có thể nhận biết được bằng các giác quan hay tiếp xúc Như vậy, ở chừng mực nào đó ta có thể nói tất cả các tài sản đều hữu hình

Cách thứ hai, theo thuật ngữ pháp lý thông dụng thì tài sản bao gồm vật có thực, tiền giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản,1

với khía cạnh này thì tài sản được hiểu một cách thông dụng hơn, tài sản bao gồm bất động sản và động sản

Tuy nhiên, khái niệm tài sản chỉ được hiểu rõ khi Bộ luật dân sự ra đời Tại Điều

172 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định như sau: “vật có thực tài sản bao gồm, tiền,

giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền về tài sản” và khái niệm này được sửa đổi

tại Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau: “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có

giá và các quyền về tài sản” Theo quy định của luật 2005 thì vật ở đây có thể là vật có

thật, vật hữu hình như nhà ở, đất và các thứ thông dụng nhưng cũng có thể là vật được hình thành trong tương lai như cây ăn trái sẽ thu hoạch trong tháng tới, một căn nhà sẽ hình thành trong tương lai

Tóm lại, khái niệm tài sản được quy định cụ thể tại điều 163 Bộ luật dân sự 2005

“tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Để hiểu rõ khái niệm

tài sản qua cách phân tích sau:

Vật: vật là một bộ phận vật chất có thể đáp ứng nhu cầu nào đó của con người

Ngoài yếu tố đáp ứng trên vật còn có tính chất là tài sản nằm trong sự chiếm hữu của con người phải có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao dịch dân sự Chính

vì vậy, vật trong Bộ luật dân sự 2005 đã thay thế cho cụm từ “ vật có thực” Bộ luật dân sự 1995 là phù hợp và đầy đủ về vấn đề khái niệm “vật” sẽ hiểu rộng hơn bao gồm

1

Nguyễn Duy Lãm, Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nxb Giáo dục, 1996

Trang 11

vật đang có và vật sẽ hình thành trong tương lai Quy định này làm cho đối tượng của tài sản trở nên đa dạng và phù hợp với thực tiễn hiện nay hơn

Tiền: Theo Mác “ Tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt được tách ra khỏi thế giới

hàng hóa dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác” Theo cách định nghĩa của các nhà kinh tế thì tiền tệ được hiểu là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hóa, dịch vụ trong việc trả nợ Bộ luật dân sự 2005 không có những quy định để làm rõ bản chất của tiền tệ Từ các quan niệm khác nhau về tiền ta có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về tiền: “ Tiền được

sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác và nó phải có giá trị lưu hành trên thị trường” Do vậy, chỉ có các loại tiền được pháp luật thừa nhận thì mới được coi là một loại tài sản

Giấy tờ có giá : cụm từ “giấy tờ có giá” trong bộ luật dân sự 2005 đã thay thế

cho cụm từ “ giấy tờ có giá bằng tiền” trong bộ luật dân sự năm 1995 phù hợp với thực

tế hơn Theo nghĩa rộng, giấy tờ được coi là một tài sản chuẩn hóa về tên gọi cũng như tính chất, các loại giấy tờ này chuẩn hóa bằng tiền và được đưa và giao dịch dân sự như: cổ phiếu, trái phiếu và tấm séc… quy định như vậy sẽ làm cho khái niệm tài sản rộng hơn và chính xác hơn về đối tượng Theo nghĩa hẹp, tại khoản 1 Điều 4 Quyết định số 02/2005/QĐ-NHNN quyết định của thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt nam

số 02/2004/QĐ-NHNN ngày 04 tháng 01 năm 2005 về việc ban hành quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tính dụng để huy động vốn trong nước: “1 Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác định nghĩa vụ trả nợ một khoảng tiền trong một khoản thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi

và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua” Mặt khác, nó cũng ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trường và giai đoạn hội nhập nước ta hiện nay

Quyền tài sản: Theo Điều 181 Bộ luật dân sự năm 2005 đưa ra khái niệm về quyền tài sản là “quyền giá trị được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” Từ khái niệm trên, quyền tài sản là xử sự của chủ thể được phép mang quyền Quyền ở đây chính là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, các nhà lập pháp đã giải thích rằng các quyền tài sản là các các quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiện các quyền đó chủ

sở hữu sẽ có được một tài sản như quyền đòi nợ, quyền sở hữu đối với phát minh, sáng chế kiểu dáng công nghiệp…Mặt khác, quyền tài sản còn được hiểu theo một cách khác là quyền của chủ thể được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yều cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình Theo đó quyền sở hữu cũng là quyền tài sản và quyền yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ tài sản cũng là quyền tài sản Tuy nhiên, quyền tài sản thì có

Trang 12

rất nhiều những quyền tài sản nào có thể trở thành đối tượng trong các giao dịch dân

sự thì mới là tài sản theo Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 Hiện nay, pháp luật Việt nam công nhận một số quyền tài sản như quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ, quyền sở hữu công nghiệp…

1.2 Khái niệm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng

1.2.1 Khái niệm tài sản chung

Qua cách tìm hiểu khái niệm về tài sản có thể đưa ra khái niệm về tài sản chung

của vợ chồng: “ Tài sản chung bao gồm tài sản tạo ra, thu nhập hợp pháp trong thời kì hôn nhân, tài sản được tặng cho chung, thừa kế tài sản chung, tài sản vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Tài sản chung của hai vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, hai bên có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong chiếm hữu, sử dụng và định

đoạt.”

Để tìm hiểu rõ thêm cơ sở pháp lý xác định tài sản chung của vợ chồng Theo quy định tại Điều 27 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản chung bao gồm: tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, tài sản

mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Đó là căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng Từ điều luật này, có thể nhận thấy khối tài sản chung gồm các tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra bằng sức lao động hoặc thông qua các hoạt động chuyển nhượng tài sản có đền bù; các thu nhập do động hoặc thu nhập không do lao động; các tài sản có được do được chuyển dịch chung,2

đó là một khái niệm theo TS Nguyễn Ngọc Điện Còn theo giáo trình Đại học Luật Hà Nội, việc xác định tài sản chung của vợ, chồng phải dựa vào nguồn gốc phát sinh tài sản Tài sản chung của vợ chồng bao gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kì hôn nhân; thu nhập hợp pháp của vợ, chồng trong hôn nhân có thể là: tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng xổ số mà vợ, chồng có được hoặc tài sản mà

vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định Bộ luật dân sự như xác lập quyề

sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu (Điều 247), xác lập quyền sở hữu đối vật chôn giấu chìm đắm tìm thấy(248) xác lập quyền sở hữu đối với vật do người khác đánh rơi, bỏ quên (Điều 249), xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc (Điều 250), xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc (Điều 251), xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước (Điều 252); Tài sản mà vợ chồng được tặng, cho chung hoặc thừa kế chung; Tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết

2 TS Nguyễn Ngọc Điện: Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam , Tập 2, Nxb Tủ sách Đại học Cần

Thơ, 2005

Trang 13

hôn hoặc những tài sản mà vợ hoặc chồng thừa kế riêng hay tặng cho riêng trong thời

kì hôn nhân nhƣng vợ chồng đã thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung hoặc theo pháp luật quy định là tài sản chung.3

Theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật thì luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định tài sản chung của vợ, chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất

có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không đƣợc xác định đối với tài sản chung So với luật hôn nhân và gia đình 2014 về khái niệm tài sản chung của vợ chồng đƣợc luật cụ thể hơn, tiến bộ hơn luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về vấn đề hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kì hôn nhân là thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Về câu chữ và điều luật hôn nhân và gia đình 2014 rõ ràng và đã bổ sung, sửa đổi một số vấn

đề về tài sản chung của vợ chồng mà theo luật hôn nhân gia đình hiện hành quy định trong quá trình áp dụng giải quyết tranh chấp đã gặp phải những khó khăn

Nay luật hôn nhân và gia đình 2014 đã khái quát, cụ thể hơn tại Điều 33 là:

“ 1.Tài sản chung của vợ, chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập

do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng

và những thu nhập hợp pháp khác trong thời kì hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế hoặc được tặng ho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ, chồng được tặng cho riêng được thừa kế riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng

2 Tài sản chung của vợ chòng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng

3 Trong trường hợp không có căn cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”

Theo luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định rõ ràng hơn là phần hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kì hôn nhân là tài sản chung của vợ, chồng và những tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất đƣợc dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ, chồng Do vậy, việc xây dựng khối tài sản chung không căn cứ vào công sức đóng góp mà quyền sở hữu của hai vợ chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung đó

1.2.2 Khái niệm tài sản riêng

3 ThS Nguyễn Văn Cừ (chủ biên): Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, Hà

Nội, 2002

Trang 14

Quy định vợ chồng có tài sản riêng là rất cần thiết nó bảo vệ quyền lợi chính đáng của hai vợ chồng đối với tài sản riêng của họ phù hợp cuộc sống thực tại và ngày nay vai trò của kinh tế của người phụ nữ trong gia đình, trong xã hội rất lớn và bình đẳng với nam giới Vì vậy, pháp luật quy định vợ chồng có quyền sở hữu tài sản riêng không ảnh hưởng đến lợi ích của vợ chồng và lợi ích của các thành viên khác trong gia đình thể hiện rõ trong hiến pháp năm 2013 về quyền bình đẳng công dân trước pháp luật Tài sản riêng theo giáo trình luật hôn nhân và gia đình Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì Luật hôn nhân và gia đình đã khẳng định vợ chồng có quyền tài sản và xác định rõ nguồn gốc phát sinh tài sản riêng Chỉ những tài sản mà vợ hoặc chồng có từ trước khi kết hôn, tài sản mà vợ hoặc chồng được thừa kế, tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân, tài sản mà vợ hoặc chồng được chia từ khối tài sản chung của

vợ chồng trong thời kì hôn nhân và những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó, đồ dùng tư trang cá nhân mới được coi là tài sản riêng của vợ hoặc chồng.4 Việc quy định

vợ chồng có tài riêng như vậy rõ ràng chúng ta nhận thấy những tài sản mà vợ chồng

có trước khi kết hôn hay được tặng cho, thừa kế riêng kể cả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là tài sản riêng của vợ hoặc chồng và họ có quyền định đoạt, sử dụng

phần tài sản riêng của họ

Theo TS Nguyễn Ngọc Điện nói rằng: “ Một khi đã có định nghĩa tài sản chung, chỉ cần nói rằng những tài sản nào không được luật coi là tài sản chung, thì là tài sản riêng của vợ hoặc chồng Thế nhưng, ngoài việc thừa nhận những tài sản riêng do tính chất, luật viết lại xây dựng định nghĩa tài sản riêng bên cạnh định nghĩa tài sản chung Cuối cùng, có những tài sản không ghi nhận tại bất kì định nghĩa nào và cũng không hẳn có tính chất riêng nào, do đó, được biết thuộc về cả vợ và chồng chỉ thuộc về riêng một người”.5

Từ những khái niệm về tài sản riêng được đưa ra ở trên theo khoản 1 Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản riêng của vợ,chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời

kì hôn nhân; tài được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng tư trang cá nhân Việc quy định vợ chồng có quyền có tài sản riêng không làm ảnh hưởng tới tính chất quan hệ hôn nhân và cũng không làm ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình, do trước đây luật hôn nhân và gia đình năm 1959 không quy định vợ chồng có quyền có tài sản riêng Vì vậy, tất cả những tài sản mà

vợ, chồng có trước và trong thời kì hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng, đều

Trang 15

đó đã làm hạn chế việc tham gia vào các quan hệ xã hội khác Vì thế, luật hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng có tài sản riêng là phù hợp với chế định tài sản riêng về tài sản của công dân đã được hiến pháp thừa nhận Tài sản riêng của vợ, chồng thì chồng

có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt độc lập không phụ thuộc vào ý chí của bên còn lại Vợ, chồng tự quản lý tài sản riêng của mình, trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia

có quyền quản lý tài sản riêng và nghĩa vụ về tài sản riêng của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó Nhưng trong việc sử dụng tài sản riêng, luật hôn nhân và gia đình trong thời kì hôn nhân có những trường hợp xảy ra thì việc định đoạt tài sản riêng sẽ bị hạn chế

Tóm lại, từ những cách hiểu khác nhau và dựa trên khái niệm đó có thể đưa ra khái niệm tài riêng của vợ chồng là: Tài sản riêng được hiểu là tài sản của mỗi bên có trước thời hôn nhân hoặc có trong thời kì hôn nhân do được tặng cho riêng, thừa kế riêng hay những đồ dùng phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và thuộc phạm trù tài sản riêng của vợ chồng đựơc ghi nhận trong Điều 32 hiến pháp năm 2013 và Bộ luật dân sự 2005

1.3 Ý nghĩa việc quy định của pháp luật về tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng

Đối với tài sản chung quy định căn cứ xác định tài sản chung của vợ, chồng tạo

cơ sở pháp lý để vợ chồng thực hiện dân chủ, bình đẳng trong các quan hệ về tài sản Đồng thời qua đó có thể tạo được điều kiện để khuyến khích vợ, chồng có trách nhiệm đối với gia đình của mình, cùng sát cánh xây dựng gia đình ấm cúng, bình đẳng, tiến

bộ, hạnh phúc, bền vững Việc phân định các tiêu chí xác định tài sản chung của vợ, chồng còn nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên đối với các tài sản của

vợ, chồng Vợ, chồng là đồng sở hữu đối với tài sản chung của họ Vì vậy, một bên vợ chồng không thể tự ý định đoạt tài sản chung nếu không có sự thỏa thuận của bên kia, đặc biệt liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng có giá trị lớn như nhà ở, quyền sử dụng đất…các cơ sở pháp lý xác định tài sản chung của vợ, chồng là các cơ sở pháp lý

để giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ, chồng với nhau hoặc với người khác Trong thực tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng về tài sản cho các bên

vợ, chồng hoặc người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng Vì vậy, mỗi bên vợ hoặc chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt và

Trang 16

quyết định sáp nhập hay không sáp nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào khối tài

sản chung của vợ chồng

Đối với tài sản riêng việc quy định rõ ràng các căn cứ xác định như vậy nhằm đảm bảo quyền lợi riêng của vợ chồng, những tài sản riêng mà một bên vợ hoặc chồng không muốn bên còn lại có bất cứ xâm hại nào đến phần tài sản riêng của mình và tâm

lý của mỗi bên trong quan hệ tài sản sẽ thoải mái hơn Quy định này bảo đảm cho mỗi người trước tiên có những quyền tối thiểu nhất Đồng thời, việc quy định các tiêu chí xác định tài sản riêng của vợ hoặc chồng sẽ thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau, tình cảm gia đình sẽ trở nên tốt đẹp hơn, qua đó thể hiện được nhân cách, đạo đức của mình đối với chính người vợ hoặc người chồng của mình Khi xác định rõ các tiêu chí phân định tài sản riêng của vơ, chồng đặc biệt là những tài sản có giá trị như đất đai nhằm thể hiện quyền lợi riêng của mỗi bên và có một lí do nào đó mà họ chưa thể sáp nhập tài sản riêng vào tài sản chung được, điều đó sẽ ít gây khó khăn khi vợ, chồng có quyền

có tài sản tạo cơ sở pháo lý để vợ, chồng chủ động tham gia vào các giao dịch dân sự của mỗi cá nhân vợ, chồng Qua đó, có thể phân định rõ ràng trách nhiệm của các bên

vợ, chồng trong quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản, từ đó giúp các giao dịch dân sự

mà mỗi bên chủ thể là vợ, chồng được minh bạch hơn, tạo căn cứ pháp lý trong giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ, chồng, giúp cho người thứ ba xác định được nghĩa vụ mà vợ, chồng thực hiện được đảm bảo bằng tài sản chung hay bằng tài sản riêng, tức là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba khi vợ chồng là người có nghĩa vụ, lợi ích của cộng đồng và xã hội vì thế cũng được đảm bảo Việc xác định tài sản riêng của vợ chồng còn góp phần hạn chế các quan hệ hôn nhân được thiết lập không dựa trên yếu tố tình cảm chân thành mà được dựa trên yếu tố vật chất hôn nhân thực dụng

Tóm lại, pháp luật về hôn nhân và gia đình quy định tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng là chế định trong pháp luật hôn nhân và gia đình được nhà nước quy định dựa trên sự phát triển của điều kiện kinh tế- xã hội, thể hiện được tính giai cấp, bản chất của chế độ chính trị - xã hội cụ thể Nhìn vào chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật của Nhà nước ta có thể nhận biết được trình độ phát triển của điều kiện kinh tế- xã hội và ý chí của Nhà nước thể hiện bản chất của chế độ

xã hội đó; bên cạnh đó việc quy định tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng nhằm xác định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng và gia đình, khi hai bên nam nữ kết hôn với nhau trở thành vợ chồng Dù vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản ước định hay chế độ tài sản pháp định thì các loại tài sản của vợ, chồng được pháp luật quy định rõ; việc quy định này còn nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng đối với các loại tài sản của vợ chồng

1.4 Lịch sử phát triển quy định pháp luật về tài sản chung và tài sản riêng

Trang 17

1.4.1 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959

Trên cơ sở hiến pháp đầu tiên 1946 Nhà nước đã ban hành hai sắc lệnh 97 - SL ngày 25 tháng 05 năm 1950 và sắc lệnh 159 - SL ngày 17 tháng 11 năm 1950 thừa nhận địa vị giữa nam và nữ xóa bỏ hủ tục phong kiến trong hôn nhân và gia đình, giữa con gái và con trai, giữa vợ đối với chồng, giữa con cái đối với cha mẹ Chín năm sau, luật hôn nhân và gia đình đầu tiên ra đời (do quốc hội khóa 1 thông qua ngày 29 tháng

12 năm 1959) là nền tảng xây dựng chế độ hôn nhân gia đình xã hội chủ nghĩa Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đã khẳng định pháp luật của nước ta phục vụ lợi ích của nhân dân lao động, xóa bỏ được những quan niệm, phong tục tập quán cũ do ảnh hưởng của chế độ phong kiến Tuy nhiên, luật hôn nhân và gia đình chỉ được thực hiện tại miền Bắc, còn ở miền Nam do vẫn còn dưới sự cai trị của chế độ Ngụy Sài Gòn và

sự thống trị của Ngô Đình Diệm Dưới thời Ngô Đình Diệm có luật Gia đình ngày 02/ 01/ 1959, Sắc luật 15/ 64 ngày 23/ 07/ 1964 và Bộ dân luật ngày 20/ 12/ 1972 của chính quyền ngụy Sài gòn Cả ba văn bản pháp luật điều quy định bãi bỏ chế độ đa thê, song vẫn bảo vệ quyền gia trưởng, thực hiện nguyên tắc bất bình đẳng, người vợ hoàn toàn phụ thuộc vào người chồng, người vợ chỉ được hành xử riêng biệt trừ phi chồng phản kháng theo như quy định tại Điều 142 Bộ dân luật 1972 quy con kết hôn phải được sự đồng ý của cha mẹ, cho phép ly hôn dựa vào những duyên cớ lỗi của vợ, chồng Như vậy, chế độ hôn nhân và gia đình ở miền Nam nước ta trước ngày giải phóng là chế độ hôn nhân gia đình phong kiến, tư sản nên những quy định của nó chỉ

nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp địa chủ phong kiến, tư sản

Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 gồm 6 chương với 35 điều quy định những nguyên tắc chung; kết hôn; nghĩa vụ và quyền lợi của vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ

và con cái và về ly hôn Luật hôn nhân và gia đình đầu tiên được Quốc hội nước ta thông qua ngày 29/ 12/1959, được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 13/ 01/ 1960 theo Sắc lệnh 02–SL Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 là công cụ pháp lý của Nhà nước ta được xây dựng và thực hiện hai nhiệm vụ: Xóa bỏ những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu; xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới

xã hội chủ nghĩa Luật này xây dựng dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc hôn nhân tự do và tiến bộ; nguyên tắc hôn nhân một vợ, một nhân; nguyên tắc nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền của người phụ nữ trong gia đình và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái

1.4.2 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986

Sự ra đời luật hôn nhân và gia đình 1959 đã đạt được những thành tựu to lớn, đã phần nào xóa bỏ những tàn tích của chế độ hôn nhân gia đình phong kiến, những ảnh hưởng phóng đãng, lãng mạn của chế độ tư sản Tuy nhiên, do tình hình kinh tế chính trị và

xã hội nước ta có nhiều thay đổi, hơn thế nữa luật hôn nhân và gia đình năm 1959

Trang 18

chưa làm rõ hay chưa thể hiện được đầy đủ phong tục tập quán của miền Nam, nên luật hôn nhân và gia đình năm 1959 cần được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với cả nước Đó chính là nguyên nhân hay động lực thúc đẩy việc ban hành luật hôn nhân và gia đình mới là một tất yếu khách quan để thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước Ngày 25 tháng 10 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng đã quyết định thành lập Ban dự thảo luật hôn nhân và gia đình mới; Dự thảo đã được Quốc hội khóa VII kỳ hợp thứ 12 thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1986 và được Hội đồng nhà

nước công bố ngày 03 tháng 01 năm 1987

Luật hôn nhân và gia đình 1986 gồm 10 chương, 57 điều được xây dựng và thực hiện trên các nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ; nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng; nguyên tắc vợ chồng bình đẳng; bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con; bảo

vệ bà mẹ và trẻ em So với luật 1959, luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã quy định chi tiết thêm và cụ thể hóa hơn chế độ hôn nhân và gia đình Xóa bỏ hoàn toàn những tàn dư lạc hậu của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, ảnh hưởng của chế độ tư sản, góp phần giải phóng phụ nữ, xây dựng một gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận, bền vững, mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp nhau cùng tiến bộ, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.4.3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Do Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời vào nhưng năm đầu của thời kì đổi mới, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước với các điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội không ngừng phát triển đã tác động tới tình hình thực tế của quan hệ hôn nhân và gia đình, mặt khác đầu những năm 1980 cho đến nay có nhiều văn bản liên quan đến lĩnh vực hôn nhân được Nhà nước ta ban hành như những quy định trong Luật đất đai, Luật hợp tác xã, Bộ luật dân sự….Hơn mười năm, luật hôn nhân và gia đình năm 1986, bên cạnh những thành tựu đạt được, thực tế áp dụng cho thấy được những quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 1986 còn mang tính khái quát chung, định khung, chưa cụ thể, việc áp dụng luật giải quyết các tranh chấp từ các quan hệ hôn nhân và gia đình gặp nhiều vướng mắc Trước tình hình đó đòi hỏi Nhà nước ta cần phải sửa đổi sung Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 một cách toàn diện Năm 1994, Ban dự thảo sửa đổi bổ sung luật năm 1986 thành lập Sau quá trình soạn thảo, lấy ý kiến đống góp của toàn dân, dự luật đã được Quốc hội khóa X kỳ hợp thứ 7 chính thức thông qua ngày 09 tháng 06 năm 2000 và được Chủ tịch nước ký lệnh

công bố ngày 22 tháng 06 năm 2000 ( Theo lệnh số 08L/CTN)

Theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 06 năm 2000 của Quốc hội Luật này có tên gọi là luật hôn nhân và gia đình năm 2000, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2000, Luật 2000 đã kế thừa và phát triển hệ thống Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 gồm 13 chương, 110

Trang 19

điều được xây dựng và thực hiện trên nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng; hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình; cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà, các thành viên trong gia đình phải có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc nhau, giúp đỡ nhau; Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai với con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú; nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ và trẻ em

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định vợ chồng có quyền có tài sản riêng là phù hợp với chế định quyền sở hữu riêng về tài sản của công dân được Hiến pháp thừa nhận (Điều 32 Hiến pháp 2013), phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt về tài sản của công dân Đồng thời, luật hôn nhân gia đình còn quy định “vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”- Điều 32 khoản 2 Nếu vợ chồng nếu không muốn có sự phân biệt “ của anh, của tôi” nên đã tự nguyện nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung thì pháp luật cũng thừa nhận sự tự nguyện của họ Do vậy, việc quy định vợ chồng có quyền có tài sản riêng không làm ảnh hưởng tới tính chất của quan hệ hôn nhân và cũng không làm ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình Trước đây, luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 không quy định vợ chồng có quyền

có tài sản riêng Vì vậy, tất cả những tài sản mà vợ chồng có trước và trong thời kì hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng Điều này đã làm hạn chế việc tham gia vào các quan hệ xã hội khác Bên cạnh đó, Luật hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng

có tài sản riêng là phù hợp với chế định quyền sở hữu riêng về tài sản của công dân đã được hiến pháp thừa nhận Tài sản riêng của vợ hoặc chồng thì vợ hoặc chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt độc lập không phụ thuộc vào ý chí của bên còn lại (khoản 1 Điều 33 luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Vợ, chồng tự quản lý tài sản riêng của mình, trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó ( khoản 2 Điều 33 luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Nghĩa vụ về tài sản riêng của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó Nhưng trong việc

sử dụng tài sản riêng, luật hôn nhân và gia đình trong thời kì hôn nhân có những trường hợp xảy ra thì việc định đoạt tài sản riêng sẽ bị hạn chế

1.4.4 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 Sau hơn mười hai năm thi hành, luật hôn nhân đã góp phần trong việc bảo

Trang 20

vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức Đảm bảo đời sống gia đình nói chung và đời sống hôn nhân nói riêng ổn định và phát triển trong xã hội đồng thời phát huy được truyền thống về phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, nâng cao vai trò trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc tôn trọng và chấp hành tốt các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình quy định Tuy nhiên, qua một thời gian thực hiện trong quá trình giải quyết các vụ việc tranh chấp trong hôn nhân của các nghành Tòa án cho thấy, một số quy định của luật hôn nhân và gia đình không phù hợp với thực tiễn, có những quy định chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn có những cách hiểu khác nhau, có những quy định chưa đảm bảo được quyề và lợi ích hợp pháp của đương sự, có những vấn đề mới phát sinh trong xã hội chưa được pháp luật hôn nhân và gia đình năm 2000 điều chỉnh Một số quy định của luật con chưa tạo ra cơ chế pháp lý hiệu quả trong điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình vốn có nhiều đặc thù so với các quan hệ dân sự khác, Luật chưa thực sự phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của các quan hệ dân sự - quan hệ tư Do đó, trong một số quan

hệ các thành viên trong hôn nhân và gia đình chưa được quyền lựa chọn phương án ứng xử tốt nhất cho gia đình và bản thân.6

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa 13, kỳ họp thứ lần 7 thông qua vào ngày 19 tháng 06 năm 2014, gồm 9 chương, 133 điều và thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 So với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ít hơn 04 chương, nhưng tăng lên 23 điều Với những nội dung sửa đổi bổ sung mới như: Tăng độ tuổi kết hôn của nam và nữ; không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính; cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, quy định chế độ tài sản của vợ chồng…những quy định mới này đã đáp ứng kịp thời các yêu cầu khách quan của cuộc sống hôn nhân và gia đình trong tình hình mới, đảm bảo thực hiện tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực hôn nhân

và gia đình; bình đẳng giới, kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam

6

Theo TTXVN Quỳnh Hoa, Luật hôn nhân và gia đình còn nhiều hạn chế và bất cập, Dự thảo online, 2014,

duthaoonline.quochoi.vn/Du thao/Lists/TT_TINLAPPHAP/View-Detail aspx?ItemID=1211, [ ngày truy cập 22-10-2014]

Trang 21

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VỀ CĂN CỨ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG VÀ CĂN CỨ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN RIÊNG

CỦA VỢ, CHỒNG

2.1 Căn cứ xác định tài sản chung của vợ, chồng

Luật hôn nhân và gia đình là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để xác định tài sản chung của vợ chồng và các quy phạm về tài sản chung được sử dụng để điều chỉnh quan hệ vợ chồng liên quan đến tài sản chung của vợ chồng khi xảy ra tranh chấp Cụ thể các căn cứ để xác định tài sản chung của vợ, chồng được quy định tại Điều 33 Luật

hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

“ Điều 33 Tài sản chung của vợ, chồng

1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kì hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ, chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ, chồng thỏa thuận là tài sản chung

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng

2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ, chồng

3 Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Từ điều luật trên, ta thấy tài sản chung của vợ, chồng được xác định từ những căn cứ sau đây:

2.1.1 Tài sản chung của vợ chồng có được do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao

động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kì hôn nhân

Tài sản do vợ, chồng tạo ra được hiểu là vợ chồng dựa theo công việc, chuyên môn của mình đã trực tiếp tạo ra tài sản đó bằng chính sức lao động của mình như xây dựng nhà ở, mua sắm đồ vật dụng trang trí nội thất trong nhà…hay thuê, mướn người khác tạo ra tài sản theo yêu cầu và mong muốn của vợ, chồng sau đó bằng việc trả công lao động các hợp đồng cụ thể cho các tổ chức sản xuất, kinh doanh đã làm Tài sản có thể

do công sức đóng góp của hai vợ, chồng hoặc chỉ do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kì

Trang 22

hôn nhân bằng cách trực tiếp như lao động sản xuất, tiền lương…hay gián tiếp có được qua các giao dịch dân sự như buôn bán, đầu tư kiếm lợi nhuận Theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 lao động mà tài sản chỉ do một người tạo ra thì vẫn coi như vợ, chồng cùng đóng góp công sức vào việc tạo lập khối tài sản chung Dù

vợ chồng làm việc ở những nghành nghề khác nhau với mức thu nhập cũng khác nhau song mọi thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh của vợ chồng đều là tài sản chung của vợ chồng Điều này phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và phù hợp hơn với quy định về quyền nhân thân của vợ chồng là quyền tự do lựa chọn việc làm của chính mình Cũng chính công việc và công sức lao động của mỗi người đều góp phần vào tài sản chung của vợ chồng Trong đời sống hiện nay nguồn thu nhập chính yếu là thu nhập từ tiền lương, tiền công lao động, những nguồn thu nhập và tài sản do vợ chồng làm kinh tế gia đình như: chăn nuôi, trồng trọt…hoặc lợi nhuận thu được khi kinh doanh

Thu nhập do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh là khoản thu nhập từ các khoản tiền lương cơ bản, các loại phụ cấp như chức vụ, trách nhiệm, làm việc tại vùng xa, vùng sâu, chất độc hại và một số khoản thu nhập từ tiền nhuận bút, công tác chi phí, trợ cấp thường xuyên, định kỳ hoặc bất thường, trợ cấp lễ, tết, trợ cấp sinh hoạt theo chức vụ cũng là thu nhập do lao động tạo ra thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng chỉ là thu nhập bao gồm cả lợi nhuận thu được từ việc bán sản phẩm, hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ, cung như các khoản thu được từ hoạt động nghề nghiệp như săn bắn, đánh bắt…lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh có thể mang tính chất vụ việc, thời vụ hoặc thường xuyên, có thể mang tính chất hoạt động chân tay đơn giản hoặc hoạt động của trí tuệ thu nhập hợp pháp của vợ chồng

do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh được coi là loại tài sản chủ yếu thuộc tài sản chung của vợ chồng, thu nhập của vợ chồng thuộc khối tài sản chung của vợ chồng

là những giá trị vật chất mà vợ, chồng có được do tham gia lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh Tính chất nghề nghiệp, chuyên môn chuyên nghiệp công việc mà vợ chồng thực hiện, vợ chồng được hưởng thành quả lao động hoặc lợi nhuận kinh doanh mang lại, hoa lợi, lợi tức thu được từ các loại tài sản của vợ chồng do kinh doanh do

vợ chồng mang lại Thu nhập của vợ chồng gồm nhiều loại nhưng thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh là loại thu nhập ổn định và thiết yếu nhất trong phần tài sản chung của vợ chồng

Ví dụ: vợ, chồng anh A và chị B hai bên cùng nhau bỏ ra mỗi người bỏ ra 500 triệu và hai vợ, chồng thuê công ty xây dựng C thiết kế và xây dựng cho vợ, chồng anh

A và chị B một căn nhà hai tầng dùng để ở và phuc vụ nhu cầu sinh hoạt trong gia đình hằng ngày Hay nói cách khác vợ chồng cũng có thể tạo ra tài sản bằng cách sử dụng tiền của chung để thông qua các hợp đồng để mua sắm tài sản chung như tivi, tủ lạnh,

Trang 23

xe máy, xe môtô…hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản từ người khác sang quyền sở hữu của mình hay để đầu tư kinh doanh thu lợi nhuận Như vậy, những tài sản đó là tài sản tạo ra trong thời kì hôn nhân và những tài sản đó đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng

2.1.2 Tài sản chung của vợ chồng có được do hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định rõ ràng về phần hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng trong thời kì hôn nhân đều thuộc về khối tài sản chung của vợ chồng Đây chính là điểm mới do các nhà làm luật đã tìm ra sau một khoảng thời gian Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thực thi còn gặp khó khăn nay Luật hôn nhân và gia đình 2014 đã đưa ra được quy định phù hợp với cuộc sống hiện

nay

Ví dụ, A và B là vợ chồng hợp pháp có tài sản chung là 500 triệu đồng A có tài sản riêng là 300 triệu đồng, A đã dùng phần tài riêng của mình vào việc đầu tư sản xuất, kinh doanh từ đó hàng tháng A thu lợi nhuận là 30 triệu đồng, B có tài sản riêng

là một mảnh đất và B dùng vào mục đích trồng trọt, chăn nuôi hàng tháng B thu được

10 triệu đồng Sau đó, hai vợ chồng muốn phát triển việc đầu sản xuất kinh doanh riêng của mình nên đã thỏa thuận chia phần tài sản chung là 500 triệu đồng và mỗi bên được 250 triệu đồng, việc thỏa thuận chia tài sản chung là do hai vợ, chồng muốn tránh rủi ro cho gia đình khi dùng tiền đó để đầu tư sản xuất thêm Vì vậy, đối với phần hoa lợi, lợi tức mà A thu được 30 triệu đồng hàng tháng từ khoản tiền 300 triệu đồng và B thu được 10 triệu đồng từ mảnh đất riêng của B đều thuộc khối tài sản chung của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân Còn khoản hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản mà hai bên có được do thỏa thuận chia tài sản chung thì thuộc tài sản riêng của mỗi bên

Từ ví dụ trên, kết luận được là các khoản hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, và đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản mà vợ, chồng có được do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là: “Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận khác Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ, chồng.”

2.1.3 Tài sản chung của vợ, chồng có được từ những thu nhập khác trong thời kì hôn nhâ

Ngày đăng: 03/10/2015, 23:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ThS. Nguyễn Văn Cừ (chủ biên): Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Tác giả: ThS. Nguyễn Văn Cừ
Nhà XB: Nxb. Công an Nhân dân
Năm: 2002
2. TS. Nguyễn Ngọc Điện: Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam , Tập 2, Nxb. Tủ sách Đại học Cần Thơ, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Tủ sách Đại học Cần Thơ
3. TS. Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật hôn nhân gia đình Việt Nam, Tập 2- Các quan hệ tài sản giữa vợ chồng, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, năm 2004, trang 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật hôn nhân gia đình Việt Nam, Tập 2- Các quan hệ tài sản giữa vợ chồng
Nhà XB: Nxb Trẻ
1. Theo TTXVN Quỳnh Hoa, Luật hôn nhân và gia đình còn nhiều hạn chế và bất cập, Dự thảoonline,2014,duthaoonline.quochoi.vn/Duthao/Lists/TT_TINLAPPHAP/ViewDetail.aspx?ItemID=1211,[ ngày truy cập 22-10-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và gia đình còn nhiều hạn chế và bất cập
Tác giả: Theo TTXVN Quỳnh Hoa
Nhà XB: Dự thảoonline
Năm: 2014
2. Nguyễn Hồng Hải, xác định tài sản của vợ chồng một số lí luận và thực tiễn, Trường Đại học luật Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ luật học, năm 2002,trang 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: xác định tài sản của vợ chồng một số lí luận và thực tiễn
4. Kim Phụng, Tài sản vợ, chồng sẽ rạch ròi chung và riêng, Báo người đưa tin, 2013,www.nguoi.dua.tin.vn/tai-san-vo-chong-se-rach-roi-chung-rieng-a90052.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài sản vợ, chồng sẽ rạch ròi chung và riêng
5. Phạm Thanh Trà, Hôn sản ước định- cơ sở pháp lý bảo vệ tài sản riêng, Báo điện tử Đại biểu nhân dân, 2013,daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=279904 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn sản ước định- cơ sở pháp lý bảo vệ tài sản riêng
6. Tạ Đình Tuyên, Bàn về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận theo dự thảo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi): so sánh với Đạo luật Gia đình Úc, Bộ Tƣ Pháp,2013,www.moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=5974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận theo dự thảo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi): so sánh với Đạo luật Gia đình Úc
Tác giả: Tạ Đình Tuyên
Nhà XB: Bộ Tƣ Pháp
Năm: 2013
8. Nghị Quyết 02/2000/NQ- HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Khác
9. Quyết định 02/2005/QĐ- NHNN quyết định của thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 02/2004/QĐ-NHNN ngày 04 tháng 01 năm 2005 về việc ban hành quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong nước Danh mục sách, báo, tạp chí Khác
3. LS Nguyễn Văn Hậu, Quy định về tài sản là đồ dùng, tƣ trang cá nhân, Báo phụ nữ Thành phố, năm 2012, phunuonline.com.vn/xa-hoi/phap-luat/quy-dinh-ve-tai-san-la-do-dung-tu-trang-ca-nhan/a78475.html, ngày truy cập 8/10/2014 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w