1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

pháp luật về kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

67 378 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 912,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tìm năng là một trong những quốc gia sở hữu số lượng lớn về khoáng sản có nguồn gốc phi kim loại dùng làm vật liệu xây dựng, cụ thể theo kết quả địa chất và thăm dò khoáng sản cho th

Trang 1

PHI KIM LOẠI

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

MSSV: 5118691 Lớp: Luật Thương mại (HG1164A1)

Cần Thơ, ngày 05 tháng 12 năm 2014

Trang 2

  

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài Luận Văn và trong những năm học tại Trường Đại học Cần Thơ người viết xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến:

- Giảng viên hướng dẫn: Tiến sĩ Cao Nhất Linh, em rất cảm ơn Thầy vì

dù rất bận rộn với công việc nhưng Thầy vẫn tận tình hướng dẫn chúng em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

- Các Thầy, Cô trong khoa Luật và các Thầy, Cô ở những khoa khác đã tận tình giảng dạy, truyền đạt lại những kiến thức quý báo cho em không chỉ là những kiến thức trong bài học mà còn là cách sống, cách làm người

- Cha, Mẹ và những người thân trong gia đình em, đã nuôi dưỡng em khôn lớn, động viên em lúc gặp khó khăn và tạo mọi điều kiện tốt nhất để

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

  

Cần Thơ, ngày tháng năm

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG

  

Cần Thơ, ngày tháng năm

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 2

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI 3

1.1 TỔNG QUAN VỀ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG 3

1.1.1 Khái niệm về vật liệu xây dựng và khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng 3

1.1.1.1 Định nghĩa vật liệu xây dựng 3

1.1.1.2 Một số khái niệm về khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng 3

1.1.2 Phân loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 5

1.1.2.1 Phân loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại theo bản chất 5

1.1.2.2 Phân loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại theo nguồn gốc 6

1.2 KHÁI QUÁT VỀ KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI 7

1.2.1 Khái niệm về kinh doanh, các hoạt động trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 7

1.2.1.1 Định nghĩa kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 7

1.2.1.2 Khái niệm về các hoạt động trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 7

1.2.2 Loại hình và hoạt động trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 8

1.2.2.1 Loại hình kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 8

1.2.2.2 Một số hoạt động chính trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 9

Trang 6

1.3 VAI TRÕ CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM

TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI 10 1.3.1 Vai trò trong đời sống của hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 10 1.3.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại trong nền kinh tế Quốc dân 11 1.4 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI 13 1.4.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về kinh doanh vật liệu xây dựng từ giai đoạn năm 1990 trở về trước 13 1.4.2 Quá trình phát triển của pháp luật về kinh doanh vật liệu xây dựng từ giai đoạn năm 1990 trở về sau 14 CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI 16 2.1 ĐIỀU KIỆN KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI 16 2.1.1 Điều kiện kinh doanh trong nước 16 2.1.2 Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 21

2.1.2.1 Những loại loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại được phép xuất khẩu, nhập khẩu 21 2.1.2.2 Điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 23

2.2 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI 27 2.2.1 Quyền và Nghĩa vụ đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại trong nước 27 2.2.2 Quyền, Nghĩa vụ đối với tổ chức, cá nhân trong hoạt động xuất, nhập khẩu vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 29 2.3 HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, THANH TRA KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI 31 2.3.1 Kiểm tra, thanh tra trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 31 2.3.2 Cơ quan thực hiện hoạt động kiểm tra, thanh tra kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 32

Trang 7

2.4 VI PHẠM, CHẾ TÀI TRONG KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM

TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI 33 2.4.1 Những hành vi vi phạm trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 33

2.4.1.1 Vi phạm trong quá trình quản lý vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 33 2.4.1.2 Vi phạm chất lượng vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 34

2.4.2 Biện pháp chế tài trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 34

2.4.2.1 Chế tài trong vi phạm hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 34 2.4.2.2 Thời hiệu và hình thức chế tài 36

CHƯƠNG 3 BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI 39 3.1 THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI 39 3.1.1 Thực trạng về địa điểm kinh doanh, lưu trữ vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 39 3.1.2 Thực trạng về chất lượng vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 41 3.1.3 Thực trạng về chế tài trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 42 3.2 MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT TRONG KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI 43 3.2.1 Một số hạn chế trong quy định của pháp luật về địa điểm kinh doanh, lưu trữ vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 43 3.2.2 Một số hạn chế trong quy định của pháp luật về chất lượng vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 46 3.2.3 Hạn chế của pháp luật về chế tài trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm

từ khoáng sản phi kim loại 47 3.3 HƯỚNG HOÀN THIỆN VỀ PHÁP LUẬT KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI 49 3.3.1 Đề xuất giải pháp hoàn thiện về địa điểm kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 49

Trang 8

3.3.1.1 Hướng hoàn thiện về pháp luật trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ

khoáng sản phi kim loại 49

3.3.1.2 Một số giải pháp hoàn thiện khác 51

3.3.2 Đề xuất giải pháp hoàn thiện về chất lƣợng vật liệu xây dựng từ khoáng sản phi kim loại 52

3.3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chất lượng vật liệu xây dựng từ khoáng sản phi kim loại 52

3.3.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện khác về chất lượng vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 52

3.3.3 Đề xuất giải pháp hoàn thiện về chế tài trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 53

3.3.3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế tài trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại 53

3.3.3.2 Một số giải pháp hoàn thiện khác về chế tài 53

KẾT LUẬN 55

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Có thể nói vật liệu xây dựng nói chung và vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại nói riêng là một trong những sản phẩm có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài trên thế giới, bên cạnh đó đây cũng là sản phẩm có tầm ảnh hưởng bật nhất trong cuộc sống con người Không chỉ giúp con người tạo ra những công trình phục vụ cho nhu cầu cuộc sống như: Nhà cửa, đường xá, các trung tâm thương mại, giải trí… vật liệu xây dựng còn tạo nên các công trình bảo vệ con người tránh khỏi những hiểm họa

từ tự nhiên

Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế các hoạt động về vật liệu xây dựng cũng không ngừng tăng cao, nổi bật nhất trong số đó là hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại Với tìm năng là một trong những quốc gia sở hữu số lượng lớn về khoáng sản có nguồn gốc phi kim loại dùng làm vật liệu xây dựng,

cụ thể theo kết quả địa chất và thăm dò khoáng sản cho thấy Việt Nam sở hữu “tổng

tiềm năng đá vôi là 1.754 tỷ tấn, trong đó đá vôi để sản xuất xi măng đã được khảo sát

có trữ lượng 44.738 triệu tấn, đất sét xi măng là 7.601 triệu tấn, phụ gia hoạt tính cho

xi măng có trữ lượng 3.947 triệu tấn, cao lanh 849 triệu tấn”,1 cùng với điều kiện kinh doanh không yêu cầu cao về vốn, kỹ thuật, công nghệ và luôn là một trong những sản

phẩm có sức tiêu thụ lớn trên thị trường, theo một số nghiên cứu “thông thường chi phí

về vật liệu xây dựng chiếm một tỷ lệ tương đối lớn trong tổng giá thành xây dựng: 75 - 80% đối với các công trình dân dụng và công nghiệp, 70-75% đối với các công trình giao thông, 50 - 55% đối với các công trình thủy lợi”.2 Từ những tìm năng trên, mà hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại luôn là một trong những ngành nghề có sức hút đối với các nhà đầu tư và nắm giữ những vai trò quan trọng trong tiến trình thúc đẩy phát triển nền kinh tế Tuy nhiên trong quá trình phát triển thì hoạt động này cũng xảy ra nhiều vấn đề, trong đó một số vấn đề xuất phát

từ ý thức của người kinh doanh, một số xuất phát từ các quy định của pháp luật và hệ quả của những vấn đề này là lợi ích của người kinh doanh nói riêng và xã hội nói chung điều bị ảnh hưởng Vì những lý do trên mà người viết lựa chọn thực hiện đề tài: Pháp luật về hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

1 Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nam, Khoáng sản vật liệu xây dựng: Thất thoát nhiều do buông lỏng quản lý,

do-buong-long-quan-ly-1222/ , [Ngày truy cập 24/10/2014]

http://tnmthanam.gov.vn/index.php/vi/news/Dia-chat-Khoang-san/Khoang-san-vat-lieu-xay-dung-That-thoat-nhieu-2 Tự Hào Hàng Việt, Tầm quan trọng của vật liệu xây dựng, dung/vat-lieu-xay-dung/67-tam-quan-trong-cua-vat-lieu-xay-dung#.VDzcBCPCvmN , [Ngày truy cập 14/10/2014]

Trang 10

http://www.tuhaoviet.vn/index.php/vat-lieu-xay-2 Mục đích nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, mục đích mà người viết hướng đến là làm rõ về cơ chế hoạt động của hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại Cũng như tìm hiểu về thực trạng và các quy định của pháp luật trong hoạt động này ở hai góc độ bao gồm: Trên lý thuyết và áp dụng vào thực tiễn Từ đó tìm ra những vấn đề còn vướng mắc, tồn tại trong hoạt động này và đề xuất những giải pháp góp phần giải quyết những vấn đề trên

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu được người viết hướng đến trong quá trình thực hiện đề tài là những quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng thuộc nhóm vật liệu xây dựng có nguồn gốc từ khoáng sản phi kim loại như: Pháp luật về đăng ký kinh doanh, điều kiện kinh doanh, các hoạt động mua, bán, xuất khẩu, nhập khẩu trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại và các hoạt động về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm…

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu người viết sử dụng một số phương pháp chủ yếu như: Phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn để làm rõ những vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Pháp luật về hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại Trong phần này người viết sẽ trình bày cụ thể hơn về hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại thông qua một số vấn đề chính như: Điều kiện kinh doanh, xuất nhập khẩu; Quyền, Nghĩa vụ của tổ chức cá nhân trong kinh doanh; Kiểm tra, Thanh tra và cuối cùng là xử lý vi phạm

Chương 3: Bất cập và Giải pháp hoàn thiện trong hoạt động vật liệu xây dựng làm

từ khoáng sản phi kim loại Trong Chương này người viết sẽ trình bày về một số vấn đề

mà hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại đang gặp phải bao gồm những hạn chế của pháp luật hiện nay và các vấn đề khác để từ đó đề xuất những giải pháp góp phần giải quyết những vấn đề này

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VẬT LIỆU

XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI

1.1 TỔNG QUAN VỀ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG

1.1.1 Khái niệm về vật liệu xây dựng và khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng

1.1.1.1 Định nghĩa vật liệu xây dựng

Vật liệu xây dựng là một phạm trù rộng lớn dùng để chỉ tất cả những loại vật chất có khả năng đáp ứng được hoạt động xây dựng của con người Những loại vật liệu này có thể được tạo thành từ quá trình khai thác, chế biến các loại khoáng sản

có nguồn gốc từ tự nhiên; Khai thác, chế biến các loại thực vật như: Gỗ, tre, nứa hoặc những loại vật liệu mới do con người chế tạo ra như: Vật liệu composite, vật liệu nano… Trong phần mở đầu Thông tư 19/BXD-VLXD ngày 01/7/1995 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 02-CP ngày 5-1-1995 của Chính phủ đối với mặt hàng vật liệu xây dựng kinh doanh có điều kiện ở đô thị thì vật liệu

xây dựng từng được hiểu là “nguyên vật liệu chủ yếu tạo thành công trình xây dựng

Trong quá trình lưu thông trên thị trường, vật liệu xây dựng phần lớn là loại hàng hoá có khối lượng lớn, cồng kềnh khi vận chuyển, trong quá trình tồn trữ, mua bán; một số loại dễ gây bụi bẩn, dễ cháy, ảnh hưởng đến môi trường và trật tự quản lý xã hội đặc biệt là ở các đô thị”.3 Tuy nhiên định nghĩa về vật liệu xây dựng mà Thông

tư này đưa ra dường như chưa thể hiện đúng bản chất của vật liệu xây dựng vì ngày nay cùng với sự phát triển của ngành, các loại vật liệu xây dựng mới dần xuất hiện đặc biệt là những loại vật liệu do con người chế tạo ra không còn nhiều hiện tượng như: Gây bụi bẩn, dễ cháy, hay ảnh hưởng đến môi trường Và hiện nay, theo Nghị định số 124/2007/NĐ-CP ngày 31/7/2007 của Chính phủ về quản lý vật liệu xây

dựng thì vật liệu xây dựng được hiểu là “sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ, vô cơ, kim

loại được sử dụng để tạo nên công trình xây dựng, trừ các trang thiết bị điện”.4

1.1.1.2 Một số khái niệm về khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng

Trong phần này có 3 khái niệm chính được sử dụng trong bài viết bao gồm: Khái niệm về khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng; Khái niệm về khai thác; Chế biến khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng

Trang 12

Khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng Theo quy định của pháp luật

hiện hành thì khoáng sản làm vật liệu xây dựng được hiểu là “Khoáng sản dùng để

sản xuất vật liệu xây dựng, khoáng sản làm nguyên liệu sản xuất xi măng”.5

Như vậy, từ định nghĩa này có thể hiểu một cách cơ bản là tất cả những loại khoáng sản không phải là kim loại và có thể được chế tạo thành vật liệu xây dựng, nguyên liệu sản xuất xi măng thì được xem là khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng Tuy nhiên, người viết cũng cho rằng định nghĩa này vẫn còn những hạn chế và chưa thể hiện đúng bản chất về “khoáng sản làm vật liệu xây dựng”, ví dụ đất sét, vôi và một số vật liệu khác là những khoáng sản phi kim loại có nguồn gốc từ tự nhiên sau quá trình chế biến của con người thì trở thành những vật liệu đa năng, những loại vật liệu này không chỉ phục vụ cho hoạt động xây dựng mà còn phục vụ cho các hoạt động khác như: Sản xuất đồ gia dụng, đồ trang trí Như vậy, nhìn chung những loại khoáng sản này nếu chỉ được xem là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thì hoàn toàn không thể hiện đúng những tính năng và công dụng của những loại vật liệu này

Khai thác khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng Hiện nay pháp luật chưa có định nghĩa về hoạt động này nhưng dựa vào khái niệm về khai thác khoáng

sản theo Luật Khoáng Sản 2010 thì “Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu

hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan”.6

Và từ định nghĩa này có thể suy luận rằng hoạt động khai thác khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng là: Hoạt động thu hồi những khoáng sản không phải là kim loại và được dùng sản xuất vật liệu xây dựng, làm nguyên liệu sản xuất xi măng thông qua các hoạt động xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan Trong đó, khai đào là hoạt động sử dụng sức lực của con người cùng các thiết bị máy móc phục vụ cho hoạt động đào xới các lớp đất đá trên bề mặt vỏ trái đất để thu hồi khoáng sản Xây dựng mỏ cơ bản là hoạt động khoanh vùng những khu vực được xem là có khoáng sản và xây dựng các công trình phục vụ cho hoạt động khai thác Làm giàu

là hoạt động tách những những hợp chất chứa khoáng sản để thu hồi khoáng sản có ích

Chế biến khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng hay còn gọi là hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng từ khoáng sản phi kim loại Cũng là một trong những khái niệm chưa được quy định trong các văn bản luật Tuy nhiên, dựa vào khái niệm

về chế biến khoáng khoáng sản được quy định tại Thông tư số 04/2012/TT-BXD

ngày 20 tháng 9 năm 2012 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản làm

5 Nghị định số 124/2007/NĐ-CP ngày 31/7/2007 của Chính phủ về Quản lý vật liệu xây dựng, Điều 3, Khoản 2

6 Khoản 7, Điều 2, Luật Khoáng Sản năm 2010

Trang 13

vật liệu xây dựng thì “Chế biến khoáng sản là quá trình hoạt động phân loại, làm

giàu khoáng sản hoặc hoạt động khác nhằm đạt các chỉ tiêu của nguyên liệu hoặc sản phẩm cho các lĩnh vực sử dụng”.7

Như vậy dựa vào định nghĩa trên thì hoạt động chế biến khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng có thể hiểu là: Quá trình hoạt động phân loại, làm giàu hoặc hoạt động khác từ khoáng sản là phi kim loại nhằm đạt các chỉ tiêu của nguyên liệu hoặc sản phẩm được sử dụng trong hoạt động xây dựng

1.1.2 Phân loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

Vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại được hình thành trong hoạt động khai thác, chế biến là tập hợp của nhiều loại khoáng vật khác nhau Trong đó, có những khoáng vật vừa khai thác xong đã có thể sử dụng như: Cát, đá… Tuy nhiên, cũng có nhiều loại khoáng vật sau quá trình khai thác còn phải trải qua nhiều công đoạn như: Gia công, chế biến để tạo nên những loại vật liệu nhân tạo như: Xi măng, gạch, ngói Vì vậy, nhìn chung thì tất cả những vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại không qua chế biến và đã qua chế biến đa phần có nguồn gốc xuất sứ cũng như thành phần cấu tạo khác nhau Tuy nhiên, khi dựa vào nguồn gốc hình thành

và đặc tính vật liệu thì chúng có thể được xếp vào 2 nhóm gồm: Phân loại vật liệu xây dựng dựa vào bản chất và phân loại vật liệu xây dựng dựa vào nguồn gốc

1.1.2.1 Phân loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại theo bản chất

Phân loại theo bản chất là việc phân loại dựa vào thành phần, cấu tạo của từng loại vật liệu mà xếp chúng vào từng nhóm khác nhau Đối với những loại vật liệu xây dựng được tạo thành từ khoáng sản phi kim loại thì việc phân loại này có thể chia làm 2 nhóm nhỏ bao gồm: Nhóm vật liệu xây dựng có đặc tính cấu tạo là các chất vô cơ và nhóm vật liệu có đặc tính cấu tạo là các hợp chất hữu cơ gọi chung là nhóm vật liệu xây dựng vô cơ và nhóm vật liệu xây dựng hữu cơ

Trong đó, vật liệu xây dựng vô cơ là loại vật liệu được tạo thành từ các hợp chất hoá học của nguyên tố kim loại kết hợp với các nguyên tố khác không phải là kim loại hoặc được tạo thành từ các hợp chất hoá học của các nguyên tố không phải là kim loại kết hợp với nhau Theo đó, thì những loại vật liệu xây dựng vô cơ được làm

từ khoáng sản phi kim loại hiện nay bao gồm: “Các loại vật liệu đá thiên nhiên, các

loại vật liệu nung, các chất kết dính vô cơ, bê tông, vữa và các loại vật liệu đá nhân tạo không nung khác”.8

Điển hình của những loại vật liệu thuộc các nhóm này hiện nay như: Đá xây dựng, sỏi, cát, gạch, ngói… và đa phần thì những loại vật liệu xây

Trang 14

http://www.phudien.vn/kien-thuc/kien-thuc-xay-dung/lich-dựng vô cơ thường được áp dụng để xây http://www.phudien.vn/kien-thuc/kien-thuc-xay-dung/lich-dựng các công trình như nhà cửa, các trung tâm…

Vật liệu xây dựng hữu cơ là loại vật liệu mà cấu tạo của nó có sự liên kết giữa các hợp chất cacbon-hiđrô Trong đó, các loại vật liệu xây dựng hữu cơ có nguồn

gốc từ khoáng sản phi kim loại hiện nay bao gồm “các loại nhựa bitum và guđrông,

các loại chất dẻo, sơn, vecni ”.9

So với nhóm vật liệu vô cơ thì đa phần công dụng của những loại vật liệu xây dựng thuộc nhóm hữu cơ hiện nay được sử dụng như những loại nhựa đường, ví dụ như nhựa bitum, guđrông

1.1.2.2 Phân loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại theo nguồn gốc

Cũng tương tự như việc phân loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại dựa vào bản chất, tuy nhiên đối tượng trong phân loại vật liệu xây dựng theo nguồn gốc là việc dựa vào quá trình hình thành của từng loại vật liệu mà xếp chúng vào các nhóm khác nhau Trong đó, những loại vật liệu làm từ khoáng sản phi kim loại có thể được phân ra 2 nhóm chính là: Vật liệu nhân tạo và vật liệu thiên nhiên

- Vật liệu nhân tạo là một nhóm vật liệu rất phong phú và đa dạng, chúng được phân thành 2 nhóm phụ: Vật liệu nhân tạo không nung và vật liệu nhân tạo nung.10

Vật liệu nhân tạo không nung: Là nhóm vật liệu mà sự rắn chắc của chúng xảy ra

ở nhiệt độ không cao lắm và sự hình thành cấu trúc là kết quả của sự biến đổi hóa học và hóa lý của chất kết dính, ở trạng thái dung dịch (phân tử, keo, lỏng và rắn, pha loãng và đậm đặc) Hiện nay có một số loại vật liệu nhân tạo không nung phổ biến như: Gạch không nung, ngói không nung, đá nhân tạo không nung…

Vật liệu nhân tạo nung là nhóm vật liệu mà sự rắn chắc của nó xảy ra chủ yếu là quá trình làm nguội dung dịch nóng chảy và dung dịch đó đóng vai trò là chất kết dính Đây cũng là một trong những loại vật liệu xây dựng được sử dụng phổ biến ở

nước ta khi mà hiện nay tỷ lệ sử dụng “vật liệu xây dựng nhân tạo không nung chỉ

chiếm khoảng 10% thị trường”.11 Trong đó, những mặt hàng vật liệu nhân tạo nung chủ yếu hiện nay như: Gạch nung, ngói nung…

- Vật liệu thiên nhiên: Là những loại vật liệu được hình thành không thông qua quá trình gia công hay chế biến của con người, đa phần những loại vật liệu thiên nhiên này có ở hầu hết mọi nơi trong vỏ trái đất, đó là một khối khoáng chất chứa

Trang 15

http://baodatviet.vn/khoa-hoc/vat-một hay nhiều khoáng vật khác nhau Vật liệu thiên thiên được sử dụng hiện nay chủ yếu là cát, đá…

1.2 KHÁI QUÁT VỀ KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI

1.2.1 Khái niệm về kinh doanh, các hoạt động trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

1.2.1.1 Định nghĩa kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú nhất của loài người Hoạt động kinh doanh thường được thông qua các thể chế kinh doanh như: Công ty, Doanh nghiệp, Hợp tác xã… và cũng có thể là hoạt động kinh doanh của tư nhân

Theo định nghĩa của Luật Doanh nghiệp 2005, kinh doanh là “việc thực hiện liên

tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhầm mục đích sinh lợi”.12 Như vậy kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại có thể hiểu là việc thực hiện liên tục một số hoặc tất cả các công đoạn của hoạt động vật liệu xây dựng bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhầm mục đích sinh lợi Tuy nhiên, vì phạm vi của bài viết chỉ nằm trong hoạt động cung ứng vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại đến với người tiêu dùng do đó hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng ở đây được xem là động mua, bán, xuất khẩu, nhập khẩu đối với các loại khoáng sản và sản phẩm vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại được gọi chung là vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

1.2.1.2 Khái niệm về các hoạt động trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

Trong phần khái niệm về các hoạt động trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm

từ khoáng sản phi kim loại, có 3 khái niệm chính được sử dụng trong bài viết bao gồm: Khái niệm về mua, bán hàng hóa; Khái niệm về hoạt động xuất, nhập khẩu

Mua, bán hàng hóa Theo định nghĩa của Luật Thương mại 2005 “là hoạt động

thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”.13

Cụ thể hơn định nghĩa này

có thể hiểu là sự trao đổi trong mối quan hệ “hàng – tiền” giữa các chủ thể với nhau, khi bên có nhu cầu mua sẽ nhận hàng, quyền sở hữu, trả tiền cho bên bán và bên có nhu cầu bán sẽ giao hàng, chuyển quyền sở hữu và nhận tiền từ bên mua, trong đó

12 Khoản 2, Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2005

13 Khoản 8, Điều 3, Luật Thương mại 2005

Trang 16

hàng hóa có thể là vật vô hình hoặc hữu hình Tuy nhiên, trong hoạt động mua, bán vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại thì đối tượng hàng hóa là vật hữu hình

Xuất khẩu, dưới góc nhìn kinh tế là hoạt động bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho một đối tượng là cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương thức thanh toán Trong xuất khẩu, luồng tiền tệ dịch chuyển từ nước nhập khẩu sang nước xuất khẩu và có một luồng hàng hoá dịch chuyển theo hướng ngược

lại từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu Dưới góc độ pháp luật “Xuất khẩu hàng

hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.14

Nhập khẩu, ở khía cạnh kinh tế là hoạt động mua hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái xuất nhằm phục vụ mục đích thu lợi

nhuận Ở khía cạnh pháp luật “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào

lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.15

1.2.2 Loại hình và hoạt động trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

1.2.2.1 Loại hình kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp 2005 thì những loại hình kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại hiện nay sẽ có một số hình thức chính như: Công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty Cổ phần, Doanh nghiệp Tư nhân, Doanh nghiệp liên doanh, Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã, Hộ kinh doanh và Cá nhân kinh doanh

Và để có một cách nhìn khái quát hơn về những loại hình kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại hiện nay Người viết đã thực hiện một khảo sát lấy thông tin về loại hình đăng ký kinh doanh của các cơ sở kinh doanh vật

liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại trên trang “Danh bạ doanh nghiệp

Vietask.com” với mục đích tìm hiểu số lượng từng loại hình đăng ký kinh doanh mà

các cơ sở kinh doanh vật liệu xây dựng lựa chọn Trong đó, những loại hình kinh doanh vật liệu xây dựng được lựa chọn khảo sát gồm: Doanh nghiệp Tư nhân (DNTN); Công ty Cổ phần (CTCP); Công ty Trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH) và cuối cùng là Hợp tác xã (HTX) Kết quả khảo sát được lấy ngẫu nhiên từ 60 cơ sở

14 Khoản 1, Điều 28, Luật Thương mại 2005

15 Khoản 2, Điều 28, Luật Thương mại 2005

Trang 17

kinh doanh vật liệu xây dựng đầu tiên của 3 tỉnh là Cần Thơ, Tiền Giang và Vĩnh Long

Bảng khảo sát loại hình doanh nghiệp đăng ký kinh doanh vật liệu xây dựng

làm từ khoáng sản phi kim loại

tỷ lệ đăng ký cao nhất là 4.54% và thấp nhất là 1,67% Và cuối cùng là loại hình hợp tác xã, loại hình này chiếm tỷ lệ 0% ở cả 3 tỉnh

Như vậy, nhìn chung qua kết quả khảo sát này thì hiện nay số lượng các cơ sở là

cá nhân và hộ kinh doanh chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng số các cơ sở kinh doanh vật liệu xây dựng hiện nay, so với các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và hợp tác xã

1.2.2.2 Một số hoạt động chính trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

Trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại có một số hoạt động chính như:

Thứ nhất, tự khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng để kinh doanh.16 Đây là hoạt động mà tổ chức, cá nhân kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ

16 Thông tư số 04/2012/TT-BXD ngày 20 tháng 9 năm 2012 của Bộ Xây dựng, Điều 5, Khoản 3, Điểm a

Trang 18

khoáng sản phi kim loại sẽ thực hiện hầu như hoàn toàn các công đoạn của quá trình kinh doanh bao gồm: Khai thác, chế biến cho đến việc cung ứng những sản phẩm của mình ra thị trường

Thứ hai, mua lại khoáng sản làm vật liệu xây dựng để chế biến và kinh doanh.17

Trong đó, hoạt động chủ yếu mà tổ chức, cá nhân trong hoạt động này thực hiện là việc mua lại những nguồn nguyên liệu khoáng sản phi kim loại thô từ các cơ sở khai thác để chế biến và kinh doanh

Thứ ba, mua lại sản phẩm vật liệu xây dựng để kinh doanh.18 Hoạt động này bao gồm việc mua lại những loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại dùng làm vật liệu xây dựng như: Cát, đá, hoặc các sản phẩm vật liệu xây dựng đã được chế biến từ khoáng sản phi kim loại như: Xi măng, gạch, ngói

1.3 VAI TRÕ CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM

TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI

Là một trong những nền kinh tế mới nổi, ngày nay Việt Nam với xu thế mới bước vào tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, do đó việc đầu tư vào hệ thống cơ

sở hạ tầng nhầm đáp ứng nhu cầu phát triển luôn được nhà nước đặc biệt quan tâm Bên cạnh đó, mức sống của người dân cũng không ngừng tăng cao vì vậy nhu cầu về nhà ở

và các công trình công cộng nhầm phục vụ nhu cầu cuộc sống là không thể thiếu Từ những nhu cầu thực tế trên mà hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng nói chung và kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại nói riêng ngày càng phát triển và trở thành một trong những hoạt động có vai trò thiết yếu trong cuộc sống con người, không chỉ cung cấp nguồn vật liệu phục vụ cho cuộc sống hàng ngày mà hoạt động này còn đóng góp một phần không nhỏ vào nguồn ngân sách nhà nước… Và để

có thể hiểu rõ hơn về những vai trò mà hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại mang lại người viết xin trình bày trong phần nội dung sau đây

1.3.1 Vai trò trong đời sống của hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

Trong đời sống hàng ngày hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại chiếm một số vai trò chủ đạo như:

Thứ nhất, là nguồn cung ứng chính vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại Đây là một trong những vai trò dễ nhận thấy nhất của hoạt động này Nếu trong thời bao cấp hoạt động mua, bán vật liệu xây dựng nói chung và vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại nói riêng đa phần được cung ứng từ nhà nước và hoạt động kinh doanh của tư nhân không có nhiều điều kiện phát triển thì ngày nay cùng

17 Thông tư số 04/2012/TT-BXD ngày 20 tháng 9 năm 2012 của Bộ Xây dựng, Điều 5, Khoản 3, Điểm b

18 Thông tư số 04/2012/TT-BXD ngày 20 tháng 9 năm 2012 của Bộ Xây dựng, Điều 5, Khoản 3, Điểm c

Trang 19

với xu thế tư nhân hóa và nhu cầu xây dựng xây dựng ngày một tăng đã làm cho hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại nói riêng ngày càng phát triển và đa dạng hơn cả về hình thức lẫn số, lượng, chủng loại… Theo đó,

đa phần số lượng vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại được người dân và Chính phủ sử dụng hiện nay để xây dựng các công trình trên cả nước (trừ những loại vật liệu được tài trợ hoặc nhà nước cung ứng) thì điều xuất phát từ nguồn cung ứng chính là hoạt động mua, bán vật liệu liệu xây dựng Thống kê từ Vụ Vật liệu xây dựng

chỉ ra rằng chỉ tính riêng trên mặt hàng xi măng “trong 8 tháng đầu năm 2014 các cơ

sở kinh doanh vật liệu xây dựng trên cả nước đã cung ứng tới người tiêu dùng là 42,53 triệu tấn, bằng 108% so với cùng kỳ và đạt 68,6% kế hoạch năm 2014”.19

Từ những con số trên có thể nhận thấy rằng vai trò là nguồn cung ứng vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại của hoạt động này ngày càng chứng tỏ tầm quan trọng của mình và khó có thể thay thế trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước Thứ hai, là cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng tạo thành mối quan hệ cung - cầu Cụ thể hơn trong trong vai trò này hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại sẽ giúp các nhà đầu tư khai thác, chế biến vật liệu xây dựng tìm được nguồn tiêu thụ sản phẩm trên thị trường và giúp người tiêu dùng lựa chọn được những mặt hàng vật liệu xây dựng phù hợp từ những nhà cung ứng khác nhau Qua đó, trở thành cầu nối giữa doanh nghiệp kinh doanh và người tiêu dùng

1.3.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại trong nền kinh tế Quốc dân

Trong nền kinh tế Quốc dân hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại luôn có tầm quan trọng nhất định và nắm giữ những vai trò quan trọng như:

Thứ nhất, là một trong những nguồn thu lớn đóng góp vào ngân sách nhà nước

Theo thống kê từ Chính phủ “trong năm 2010 tỷ trọng trong GDP của công

nghiệp-xây dựng đạt 41,64%, từ năm 2011 đến nay tốc độ tăng trưởng GDP do nhóm ngành công nghiệp-xây dựng vẫn giữ được tốc độ cao hơn tốc độ tăng GDP của toàn bộ nền kinh tế (năm 2011 tăng 6,68% so với tăng 6,24%, năm 2012 tăng 5,75% so với tăng 5,25%, 6 tháng 2013 tăng 5,18% so với 4,9%, dự báo cả năm tăng 5,5% so với 5,4%, bình quân trong 3 năm tăng 6% so với tăng 5,4%)”.20 Tuy hiện nay vẫn chưa có những con số thống kê cụ thể về những khoản thu mà hoạt động kinh doanh vật liệu

19 Phương Linh, Tiêu thụ VLXD 8 tháng đầu năm: Xi măng tiến, thép lùi, Báo điện tử Xây Dựng,

http://www.baoxaydung.com.vn/news/vn/vat-lieu/tieu-thu-vlxd-8-thang-dau-nam-xi-mang-tien-thep-lui.html , [Ngày truy cập 4/11/2012]

20

Minh Ngọc, Nhóm ngành Công Nghiệp-Xây Dựng qua nữa chặng đường, Báo điện tử Chính Phủ Nước Cộng Hòa

Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, xay-dung-qua-nua-chang-duong/178862.vgp , [Ngày truy cập 22/10/2014]

Trang 20

http://baodientu.chinhphu.vn/Dau-moc-nua-chang-duong/Nhom-nganh-cong-nghiep-xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại nói riêng nộp vào ngân sách nhà nước, nhưng nếu làm một phép tính nhỏ sẽ thấy rằng khoảng thu mà hoạt động này nộp vào ngân sách nhà nước là không hề ít Với tỷ lệ thuế giá trị gia tăng hiện nay trung bình

là 10% đối với các loại mặt hàng vật liệu xây dựng như Cát, Đá, Xi măng… và cùng với một số loại thuế khác như: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Nếu như chỉ tính

riêng trên mặt hàng hàng xi măng với giá thành trung bình hiện nay là “80 ngàn/bao

50kg”,21 áp dụng thuế giá trị gia tăng thì trung bình mỗi bao sẽ nộp vào ngân sách nhà

nước 8 ngàn Theo dự tính từ Bộ Xây dựng thì “tổng lượng xi măng tiêu thụ nội địa

cả năm 2014 đạt 49-50 triệu tấn”22, như vậy dự tính trong năm 2014 tổng nguồn thu vào ngân sách nhà nước từ hoạt động kinh doanh Xi măng là 8000 tỷ, nếu con số này kết hợp với những loại thuế khác như: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp và những loại thuế suất khác áp dụng cho vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại thì khoảng thu từ hoạt động này là rất lớn

Thứ hai, là thúc đẩy sự phát triển kinh tế thông qua hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ, vùng kinh tế Đây là một trong những vai trò đã và đang ngày càng chứng tỏ được vị thế của mình trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh

tế thông qua hoạt động cung ứng những loại vật liệu dư thừa trong nước ra các thị trường nước ngoài và nhập các sản phẩm vật liệu xây dựng từ thị trường nước ngoài

về thị trường nội địa góp phần làm bình ổn giá và số lượng vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại trên thị trường cũng như tạo nguồn thu cho doanh nghiệp Tính từ năm 2001 đến năm 2007 tổng kim ngạch xuất khẩu nguồn vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại đối với một số mặt hàng ở nước ta sẽ được thể hiện sau:

Bảng Tổng hợp kim ngạch xuất khẩu một số loại mặt hàng Vật liệu xây dựng

PH, Giá thép bắt đầu tăng theo giá điện, Báo điện tử Thời báo kinh tế Sài Gòn,

http://www.thesaigontimes.vn/Home/kinhdoanh/dautu/100807/Gia-thep-bat-dau-tang-theo-gia-dien.html , Ngày truy cập 13/11/2014]

22 Vũ Trọng, Tiêu thụ Xi măng, Thép điều tăng, Báo điện tử Chính Phủ Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, http://baodientu.chinhphu.vn/Thi-truong/Tieu-thu-xi-mang-thep-deu-tang/202262.vgp , [Ngày truy cập 22/10/2014]

23 Trần Văn Huynh, Tổng quan về sự phát triển của ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Việt Nam, 2008, Tr.5

Trang 21

3 Thủy tinh xây

1.4 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI

Cùng với sự phát triển của hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng vật làm từ khoáng sản phi kim loại Pháp luật về kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại cũng dần phát triển và hoàn thiện hơn góp phần tạo ra cơ chế thống nhất về quản lý trong hoạt động này Bên cạnh đó, điều chỉnh hoạt động này đi theo đúng đường lối phát triển của đảng và nhà nước, tạo nguồn thu cho đất nước, đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành

1.4.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về kinh doanh vật liệu xây dựng từ giai đoạn năm 1990 trở về trước

Trong giai đoạn từ năm 1990 trở về trước thì pháp luật về hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại nhìn chung chưa có sự hoàn thiện nhất định, bộ máy và cơ cấu quản lý trong hoạt động này còn tương đối cồng kềnh và phức tạp, ví dụ việc ban hành Nghị quyết số 136-CP ngày 05 tháng 08 năm 1976 của Chính phủ ban hành về tăng cường tổ chức, phân công quản lý và cải tiến vật liệu xây dựng đã làm cơ cấu quản lý vật liệu xây dựng lúc bấy giờ trở nên phức tạp hơn khi Chính phủ giao từng mặt hàng vật liệu xây dựng cho từng Bộ theo chức năng của mỗi Bộ (gỗ do

Bộ Lâm nghiệp; thép do Bộ Cơ khí và luyện kim; sơn do Tổng cục Hóa chất; xi măng, gạch, ngói, đá vôi, cát, sỏi, sành, sứ xây dựng, đồ điện, nước, tiểu ngũ kim cho xây dựng v.v… địa phương Bộ Xây dựng kinh doanh)

Bên cạnh đó thì số lượng văn bản được ban hành cũng như phạm vi điều chỉnh của các văn bản trong giai đoạn này còn rất hạn chế, chưa tạo ra một hệ thống pháp lý hoàn chỉnh trong việc quản lý hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng nói chung và kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại nói riêng

Trang 22

1.4.2 Quá trình phát triển của pháp luật về kinh doanh vật liệu xây dựng từ giai đoạn năm 1990 trở về sau

Trong giai đoạn từ những năm 1990 trở về sau thì pháp luật về kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại đã có những sự chuyển biến tích cực, với số lượng văn bản phong phú hơn và phạm vi điều chỉnh rộng tạo thành một hệ thống pháp

lý tương đối hoàn chỉnh cho hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng nói chung và kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại nói riêng

Về điều kiện kinh doanh có một số văn bản như: Thông tư số 19/BXD-VLXD ngày

1 tháng 7 năm 1995 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện nghị định số 02-CP NGÀY 5-1-1995 của chính phủ đối với mặt hàng vật liệu xây dựng kinh doanh có điều kiện ở

đô thị Thông tư số 04/1999/TT-BXD ngày 15 tháng 7 năm 1999 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện nghị định số 11/1999/NĐ-CP ngày 3/3/1999 của chính phủ đối với mặt hàng vật liệu xây dựng kinh doanh có điều kiện, tuy nhiên thì cả hai văn bản này điều đã hết hiệu lực và được thay thế bằng Nghị định số 124/2007/TT-BXD ngày 31 tháng 7 năm 2007 của Chính Phủ về quản lý về vật liệu xây dựng và Thông tư 11/2007/TT-BXD ngày 11 tháng 12 năm 2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện Nghị định 124/2007/NĐ-CP về quản lý vật liệu xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành

Về quản lý chất lượng sản phẩm có một số văn bản như: Thông tư số BXD ngày 4 tháng 7 năm 2000 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện nghị định số 178/1999/QĐ-Ttg ngày 30/8/1999 của thủ tướng chính phủ ban hành quy chế ghi nhãn hàng hoá lưu thông trong nước và hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đối với mặt hàng vật liệu xây dựng

06/2000/TT-Về giá cả vật liệu xây dựng có những văn bản như: Thông tư liên tịch 38/2004/TTLT-BTC-BXD thông báo và kiểm soát giá vật liệu xây dựng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng do Bộ Tài chính

Về thanh tra, kiểm tra có một số văn bản như: Nghị định 26/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 03 năm 2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Xây dựng

Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh vật liệu xây dựng: Nghị định 23/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở Nghị định 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ quy định

xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai

Trang 23

thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản

lý phát triển nhà và công sở

Tóm lại, nhìn chung thì pháp luật về kinh doanh vật liệu xây dựng nói chung và kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại nói riêng đã đã có một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh và đang tiếp tục phát triển nhầm phục vụ trong công tác quản lý ngày một hiệu quả hơn

TÓM LƯỢC NỘI DUNG CHƯƠNG 1

Nhìn chung trong phần nội dung Chương 1, người viết đã giới thiệu sơ lược về hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại thông qua một số vấn

đề như:

Thứ nhất, khái niệm về vật liệu xây dựng, khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng, kinh doanh và các hoạt động trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

Thứ hai, các loại hình kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại hiện nay sẽ được quy định theo Luật Doanh nghiệp 2005 và có 3 hoạt động chính trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

Thứ ba, là vai trò và quá trình phát triển của pháp luật về hoạt động này

Trang 24

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY

DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI

2.1 ĐIỀU KIỆN KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG LÀM TỪ KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI

2.1.1 Điều kiện kinh doanh trong nước

Điều kiện về kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại là tập hợp các quy định của pháp luật về: Chủ thể kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chất lượng sản phẩm, nguồn gốc vật liệu, địa điểm kinh doanh, các biện pháp đảm bảo an toàn trong quá trình kinh doanh Và trong phần nội dung của bài người viết xin trình bày về 4 nhóm điều kiện chủ yếu trong hoạt động này bao gồm: Chủ thể kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, địa điểm kinh doanh và chất lượng sản phẩm

 Thứ nhất, điều kiện về chủ thể kinh doanh

Chủ thể là một trong những điều kiện bắt buộc trong hoạt động kinh doanh, theo

đó pháp luật sẽ quy định cụ thể đối với từng nhóm đối tượng tương ứng với từng lĩnh vực kinh doanh Và trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại những chủ thể này được quy định như sau:

Căn cứ vào Nghị định số 124/2007/NĐ-CP thì những đối tượng được phép tham gia vào hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại bao gồm: Cá nhân, pháp nhân trong nước hoặc nước ngoài được thành lập hợp pháp theo pháp luật Việt Nam.24 Như vậy, dựa vào quy định này có thể hiểu rằng mọi đối tượng không phân biệt nam, nữ, tôn giáo hay quốc tịch chỉ cần có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam thì có thể được phép tham gia vào hoạt động này, tuy nhiên phải đảm bảo là hoạt động kinh doanh này được thành lập hợp pháp theo quy định của Luật Doanh nghiệp

2005

Bên cạnh đó, khi so sánh quy định về đối tượng được phép hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại ở Nghị định này với quy định tương tự tại Thông tư 04/1999/TT-BXD ngày 15 tháng 7 năm 1999 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện Nghị định số 11/1999/NĐ-CP ngày 3/3/1999 của Chính phủ đối với mặt hàng vật liệu xây dựng kinh doanh có điều kiện là văn bản được Nghị định 124/2007/NĐ-CP thay thế thì nhóm đối tượng này cũng không

24 Nghị định số 124/2007/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2007 của Chính Phủ vế quản lý vật liệu xây dựng, Điều 2

Trang 25

có sự thay đổi khi quy định chủ thể là thương nhân và không phân biệt thành phần kinh tế là của Việt Nam hay nước ngoài nhưng phải có đăng ký kinh doanh.25

Nhìn chung, thì đây cũng là một trong những quy luật tất yếu trong tiến trình phát nền triển kinh tế ở Việt Nam, với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài vào thị trường nội địa

 Thứ hai, điều kiện về Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Là một trong những loại giấy tờ không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được xem là giấy “khai sinh” của một doanh nghiệp Loại giấy tờ này giúp các cơ quan có chức năng quản lý doanh nghiệp, xác định được các nội dung cơ bản của doanh nghiệp như: Tên, địa chỉ, số vốn, ngành nghề kinh doanh, người đại diện Và trong hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại nói riêng thì tổ chức, cá nhân kinh doanh cũng cần đáp ứng một số vấn đề cơ bản trong quá trình đăng ký giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như:

Thứ nhất, điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp 2005 thì một số điều kiện mà tổ chức, cá nhân kinh doanh cần đáp ứng là: Ngành nghề phải phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành, phải có tên Công ty, Doanh nghiệp, có trụ sở, có hồ sơ đăng ký, và phải nộp lệ phí đăng ký kinh doanh.26

Thứ hai, điều kiện về nội dung giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Trong quá trình thực hiện giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì tổ chức, cá nhân kinh doanh cần đảm bảo một số nội dung cơ bản như sau: Thông tin về doanh nghiệp: Tên, địa chỉ, trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc chi nhánh (nếu có); Thông tin về người đăng ký: Họ tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân…; Thông tin về một số thành viên khác; Thông tin về vốn và cuối cùng là thông tin về ngành nghề đăng ký kinh doanh.27

Thứ ba, Cơ quan đăng ký kinh doanh Những cơ quan có chức năng thực hiện việc đăng ký giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh bao gồm:

Ở cấp tỉnh: Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư (sau đây gọi chung là Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh).28

Trong đó, Phòng Đăng ký kinh

25

Thông tư số 04/1999/TT-BXD ngày 15 tháng 7 năm 1999 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện nghị định số 11/1999/NĐ-CP ngày 3/3/1999 của Chính phủ đối với mặt hàng vật liệu xây dựng kinh doanh có điều kiện, Mục I, Khoản 1

26 Điều 24, Luật Doanh nghiệp 2005

27

Điều 25, Luật Doanh nghiệp 2005

28 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 04 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, Điều 9, Khoản 1

Trang 26

doanh cấp tỉnh sẽ thực hiện việc đăng ký và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho đối tượng là Doanh nghiệp

Ở cấp huyện: Phòng Đăng ký kinh doanh tại các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc Trường hợp không thành lập Phòng Đăng ký kinh doanh cấp huyện thì Phòng Tài chính - Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ đăng ký hộ kinh doanh.29 Phòng Đăng ký kinh doanh cấp huyện sẽ thực hiện hoạt động đăng ký và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho đối tượng là hộ kinh doanh cá thể

 Thứ ba, điều kiện về địa điểm kinh doanh, lưu trữ vật liệu xây dựng

Kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại là một trong những hoạt động kinh doanh với sản phẩm phong phú và đa dạng, tuy nhiên một phần trong số những sản phẩm đó trong quá trình kinh doanh nếu không được bảo quản tốt, không có những quy định về địa điểm bày bán, lưu trữ thì rất dễ ảnh hưởng đến

an toàn, trật tự công cộng Vì vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành thì hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại cần đảm bảo những quy định về địa điểm bày bán, lưu trữ với một số nội dung sau:

Căn cứ vào Thông tư số 11/2007/TT-BXD ngày 11 tháng 12 năm 2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 124/2007/NĐ-CP ngày 31 tháng 07 năm 2007 của Chính phủ về quản lý vật liệu xây dựng, thì địa điểm kinh doanh vật liệu xây dựng phải phù hợp với quy định của chính quyền địa phương do Uỷ ban nhân dân các cấp theo sự phân cấp của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định khu vực, đường phố, địa điểm kinh doanh vật liệu xây dựng; Có đủ diện tích cho việc xuất, nhập hàng hoá, đảm bảo không lấn chiếm vỉa hè, lòng đường gây ùn tắc giao thông; Có biển ghi rõ tên cửa hàng, tên doanh nghiệp, tên tổ hợp tác hoặc tên hộ kinh doanh.30

Như vậy, quy định này có thể được hiểu là tùy theo quy hoạch và địa lý của từng vùng miền mà pháp luật cho phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của từng địa phương sẽ có những văn bản điều chỉnh cụ thể

về địa điểm kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại sao cho phù hợp và tiện lợi nhất Tuy nhiên, thì hoạt động này cần đáp ứng được những điều kiện chung như: Địa điểm kinh doanh phải đảm bảo có đủ độ rộng và nằm ở khu vực an toàn sao cho việc thực hiện di chuyển hàng hóa vật liệu từ nơi này sang nơi khác không ảnh hưởng đến an toàn trật tự công cộng, không gây ô nhiễm môi trường Việc bày, bán, kho chứa hàng hóa vật liệu xây dựng không được lấn chiếm vỉa hè, lòng đường gây ảnh hưởng đến sự di chuyển của các phương tiện giao thông

Trang 27

và người đi bộ Cùng với đó là các cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng cần phải

có biển hiệu ghi tên Cửa hàng, Doanh nghiệp, Công ty

Bên cạnh đó, đối với những vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại thuộc nhóm vật liệu kinh doanh có điều kiện thì ngoài việc tuân thủ những quy định trên còn phải tuân thủ thêm những quy định sau:

Đối với nhóm loại vật liệu xây dựng cồng kềnh, khối lượng lớn, dễ gây bụi gồm: Gạch xây, cát, đá, sỏi, vôi cục, vôi tôi, tấm lợp, kết cấu thép xây dựng, bê tông thương phẩm, bê tông đúc sẵn, tre, nứa, lá, đà giáo, cốp pha, cừ tràm, kính tấm xây dựng, đá ốp lát có tạo hình cắt, mài thì không được phép bài bán ở các cửa hàng nằm ở các khu vực trung tâm của thành phố thị xã.31

Đối với nhóm loại vật liệu xây dựng dễ cháy gồm: gỗ xây dựng, tre, nứa, lá, vật liệu nhựa, các loại sơn dầu, giấy dầu, cót, cót ép phải có đủ phương tiện, thiết bị để chữa cháy, biển báo an toàn tại nơi bán hàng vật liệu xây dựng.32

Đối với nhóm vật liệu xây dựng có mùi, hoá chất độc hại, gây bụi: Sơn dầu, giấy dầu, cót ép, hắc ín, vôi tôi, vôi cục, vôi tôi trong bể phải có ngăn cách đảm bảo an toàn cho người tại nơi bán hàng vật liệu xây dựng Hố, bể vôi tôi phải có rào che chắn và biển báo nguy hiểm Không được cắt, mài cạnh đá ốp lát ở vỉa hè, đường phố; không để nước, bụi bẩn bắn vương vãi ra nơi công cộng.33

Đối với nhóm vật liệu xây dựng bị hư hỏng, kém phẩm chất, phế thải trong quá trình vận chuyển, lưu chứa, kinh doanh phải được chở về nơi sản xuất hoặc đổ đúng nơi quy định của chính quyền địa phương.34

Tóm lại, thì những quy định về địa điểm kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại hiện nay cũng đã có nhiều sự thay đổi so với những quy định trước đó, cụ thể là Thông tư số 04/1999/TT-BXD Trong đó, những đổi mới mà Thông tư số 11/2007/TT-BXD mang lại là việc những loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại thuộc nhóm vật liệu kinh doanh có điều kiện đã được sắp xếp thành từng nhóm dựa vào đặt tính của vật liệu như đã trình bày, như vậy có thể xếp nhiều loại vật liệu có cùng đặc tính vào chung nhóm và thuận tiện trong quá trình quản lý so với quy định tại Thông tư số 04/1999/TT-BXD thì vật liệu xây dựng

sẽ được phân thành từng loại mặt hàng như: Xi măng, Vôi, Gạch, Gỗ, Phụ gia và tùy

từ từng mặt hàng sẽ có những quy định cụ thể về địa điểm kinh doanh, bày bán, lưu

Trang 28

trữ.35 Cùng với đó, thì Thông tư số 11/2007/TT-BXD cũng đưa nhiều loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản ra khỏi danh sách vật liệu kinh doanh có điều kiện như:

Xi măng, chất phụ gia, có thể nói đây cũng là một trong những quy định mang lại sự phù hợp về đặc điểm và tính chất của vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại ngày nay Tuy nhiên, bên cạnh những sự đổi mới mà Thông tư số 11/2007/TT-BXD mang lại thì nhược điểm của Thông tư này là những quy định về địa điểm kinh doanh, bày bán, lưu trữ vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại lại không được quy định cụ thể và chi tiết như những quy định tại Thông tư số 04/1999/TT-BXD

 Thứ tư , điều kiện về chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là một trong những điều kiện thiết yếu mà tổ chức, cá nhân kinh doanh cần đảm bảo trong hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại nói riêng Và trong kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại, căn cứ vào Nghị định số 124/2007/NĐ-CP thì chất lượng vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại khi đưa ra thị trường cần đảm bảo những tiêu chuẩn sau:

Thứ nhất, sản phẩm vật liệu xây dựng phải đạt tiêu chuẩn đã công bố Đối với sản phẩm thuộc danh mục phải tuân theo quy chuẩn kỹ thuật thì phải bảo đảm chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật.36

Hiện nay thì quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng đối với vật liệu xây dựng là bảng QCVN 16:2011/BXD do Viện Vật liệu xây dựng biên soạn, Vụ Khoa học Công nghệ & Môi trường trình duyệt và được ban hành theo Thông tư số 11/2011/TT-BXD ngày 30 tháng 8 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, trong bảng quy chuẩn này sẽ chia thành từng nhóm nhỏ áp dụng cho từng loại vật liệu như: QCVN 16-3:2011/BXD Nhóm sản phẩm phụ gia cho xi măng và bê tông, QCVN 16-6:2011/BXD Nhóm sản phẩm gạch ốp lát…

Thứ hai, những sản phẩm vật liệu xây dựng chưa có tiêu chuẩn quốc gia thì nhà sản xuất phải có trách nhiệm công bố tiêu chuẩn áp dụng và phải chịu trách nhiệm

về chất lượng sản phẩm do mình sản xuất.37

Thứ ba, sản phẩm vật liệu xây dựng có nhãn và nhãn phải bảo đảm ghi đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hoá.38 Cụ thể thì những quy định

35 Thông tư số 04/1999/TT-BXD ngày 15 tháng 7 năm 1999 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện nghị định số 11/1999/NĐ-CP ngày 3/3/1999 của Chính phủ đối với mặt hàng vật liệu xây dựng kinh doanh có điều kiện, Mục I, Khoản 3

36 Nghị định số 124/2007/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2007 của Chính Phủ vế quản lý vật liệu xây dựng, Điều 32, Khoản 1, Điểm a

37 Nghị định số 124/2007/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2007 của Chính Phủ vế quản lý vật liệu xây dựng, Điều 32, Khoản 1, Điểm b

38 Nghị định số 124/2007/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2007 của Chính Phủ vế quản lý vật liệu xây dựng, Điều 32, Khoản 1, Điểm c

Trang 29

về nhãn hàng hóa hiện nay sẽ được căn cứ theo Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định về nhãn hàng hóa Tuy nhiên đối với một

số loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại thì không áp dụng quy định

về nhãn hàng hóa bao gồm: gạch, ngói, vôi, cát, đá, sỏi, xi măng, đất màu, vữa, hỗn hợp bê tông thương phẩm.39

2.1.2 Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

Trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại, bài viết tập trung vào 2 nội dung chính bao gồm: Những loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại được phép xuất, nhập khẩu và điều kiện xuất, nhập khẩu đối với những loại vật liệu này

2.1.2.1 Những loại loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại được phép xuất khẩu, nhập khẩu

 Những loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại được phép xuất khẩu

Trong nhóm vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại được phép xuất khẩu, người viết phân thành 2 nhóm chính bao gồm: Nhóm sản phẩm vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại và nhóm khoáng sản phi kim loại dùng làm vật liệu xây dựng

Đối với nhóm sản phẩm vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại, căn

cứ vào Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại 2005 về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài, được quy định tại phụ lục I, mục 1 Danh mục hàng hóa vật liệu cấm xuất khẩu, thì các mặt hàng vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại điều được phép xuất khẩu, tuy nhiên những sản phẩm này phải đảm bảo điều kiện về chất lượng hàng hóa, bao bì, nhãn mác có nguồn gốc xuất sứ rõ ràng

Đối với nhóm khoáng sản phi kim loại dùng làm vật liệu xây dựng Căn cứ Thông tư số 04/2012/TT-BXD phụ lục I Danh mục tiêu chuẩn và điều kiện xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng, thì hiện nay có 10 nhóm khoáng sản phi kim loại làm vật liệu được phép xuất khẩu bao gồm: Cát, đá vôi, đá ốp lát, đá hạt,

đá phiến lợp, đá phiến cháy, đá xây dựng, đolomit, thạch anh (quarzit), cao lanh, cao lanh Pyrophyllite Tuy nhiên, đối với những loại khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng không thuộc danh mục được phép xuất khẩu thì vẫn có thể xuất

39 Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2006 của Chính Phủ về Nhãn hàng hóa, Điều 5, Khoản 2, Điểm b

Trang 30

khẩu nhưng phải nằm trong những trường hợp đặc biệt cần thiết có nhu cầu xuất khẩu được Bộ Xây dựng báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định.40

Nhìn chung, thì những quy định về các loại khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng thuộc diện xuất khẩu ngày nay cũng đã có nhiều sự thay đổi Nếu như Thông tư số 18/2009/TT-BXD ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Bộ Xây dựng hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng đã bị Thông tư số 04/2012/TT-BXD thay thế cho phép xuất khẩu gần như toàn bộ khoáng sản chỉ trừ một số loại khoáng sản nằm trong diện hạn chế xuất khẩu,41 thì số lượng vật liệu nằm trong diện xuất khẩu của Thông tư số 04/2012/TT-BXD đã giảm đi rất nhiều khi chỉ có 10 nhóm khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng được phép xuất khẩu Tuy nhiên, đây cũng là một trong những định hướng tích cực mà nhà nước ban hành nhầm bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản làm vật liệu xây dựng trong nước trước thực trạng các nguồn tài nguyên khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng trên thế giới cũng đang dần cạn kiệt

 Những loại vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại được phép nhập khẩu

Trong hoạt động nhập khẩu vật liệu xây dựng, căn cứ vào Nghị định số 187/2013/NĐ-CP phụ lục II Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu thì hiện nay đa phần tất cả những loại vật liệu xây dựng bao gồm cả nhóm vật liệu xây dựng làm

từ khoáng sản phi kim loại và nhóm khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng điều được phép nhập khẩu Tuy nhiên, thì Nghị định này cũng cấm việc nhập khẩu đối với các loại sản phẩm vật liệu xây dựng có nguồn gốc từ amiăng thuộc nhóm amfibole Theo Thông tư số 03/2012/TT-BXD của Bộ Xây dựng về việc công bố danh mục và mã số HS vật liệu amiăng thuộc nhóm amfibole cấm nhập khẩu thì một số amiăng thuộc nhóm amfibole gồm: Crocidolite (amiăng xanh): Dạng sợi, màu xanh, công thức hoá học: 3H2O.2Na2O.6(Fe2Mg)O.2Fe2O3.17SiO2; Amosite (amiăng nâu): Dạng sợi, màu nâu, công thức hoá học: 5,5FeO.1,5MgO.8SiO2.H2O; Anthophilite: Dạng sợi, có màu, công thức hoá học: 7(Mg,Fe)O.8SiO2(OH)2; Actinolite: Dạng sợi, có màu, công thức hoá học: 2CaO.4MgO.FeO.8SiO2.H2O; Tremolite: Dạng sợi, có màu, công thức hoá học: 2CaO.5MgO.8SiO2.H2O và Amiăng thô ở dạng đá, sợi thô, sợi đã được đập nhỏ, hạt mỏng, bột hay amiăng phế liệu thuộc các mã số nêu trên Khi amiăng đã được gia công quá mức (nhuộm, chải…), đã qua xử lý và đã

Trang 31

làm thành các thành phẩm của amiăng thì tùy theo mặt hàng cụ thể để phân loại vào các mã số tương ứng.42

2.1.2.2 Điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

Là tập hợp những quy định của pháp luật về xuất khẩu, nhập khẩu như: Chất lượng sản phẩm, nguồn gốc vật liệu, hồ sơ, thủ tục… gọi chung là những điều kiện

về xuất, nhập khẩu Và trong phần nội dung về điều kiện xuất, nhập khẩu vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại bài viết có 3 nội dung chính bao gồm: Điều kiện về chất lượng vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại, điều kiện

về nguồn gốc vật liệu và điều kiện hồ sơ xuất, nhập khẩu

 Điều kiện xuất khẩu vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

- Chất lượng vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

Đối với nhóm sản phẩm vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại, căn cứ vào Luật Chất lượng Sản phẩm, Hàng hóa 2007 thì sản phẩm vật liệu xây

dựng khi xuất khẩu cần đảm bảo một số tiêu chuẩn sau: “Người xuất khẩu hàng

hóa phải bảo đảm hàng hóa xuất khẩu phù hợp với quy định của nước nhập khẩu, hợp đồng hoặc điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế thừa nhận lẫn nhau

về kết quả đánh giá sự phù hợp với nước, vùng lãnh thổ có liên quan; Áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật tương ứng trong quá trình sản xuất hoặc tự xây dựng và

áp dụng các hệ thống quản lý nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm do mình sản xuất”.43

Tuy nhiên, thì hiện nay Việt Nam chưa ký kết những điều ước quốc tế

và những thỏa thuận quốc tế thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp với nước, vùng lãnh thổ có liên quan trong hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại, do đó các điều kiện về chất lượng vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại hiện nay khi xuất khẩu chủ yếu được xây dựng trên hợp đồng thông qua thỏa thuận hoặc quy định của nước nhập khẩu

về chất lượng vật liệu xây dựng

Đối với xuất khẩu khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng, ngoài việc

tổ chức, cá nhân kinh doanh cần đảm bảo những tiêu chuẩn và điều kiện giống như sản phẩm vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại thì còn phải tuân thủ những quy định của pháp luật Việt Nam về tiêu chuẩn xuất khẩu Cụ thể tiêu chuẩn này được quy định tại Phụ lục I Thông tư số 04/2012/TT-BXD Ví dụ một

số tiêu chuẩn xuất khẩu đối với Cát xây dựng như: Cát trắng Hàm lượng SiO2 ≥

Trang 32

99 %; Cát vàng làm khuôn đúc, lọc nước Hàm lượng SiO2 ≥ 95 % và kích thước

cỡ hạt ≤ 2,5 mm.44

- Nguồn gốc vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

Căn cứ vào Thông tư số 04/2012/TT-BXD thì nguồn gốc vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại khi xuất khẩu được xác định như sau:

Khoáng sản được khai thác từ các mỏ có giấy phép khai thác còn hiệu lực tại thời điểm khai thác do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyển cấp phép.45

Khoáng sản do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tịch thu và phát mại

có chứng từ hợp lệ mua hoặc đấu giá.46

Khoáng sản tạm nhập, tái xuất hoặc nhập khẩu để chế biến và xuất khẩu thực hiện theo quy định tại Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành Trường hợp này, doanh nghiệp phải có Tờ khai nhập khẩu chứng minh khoáng sản đã chế biến để xuất khẩu được sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu.47

- Hồ sơ xuất khẩu vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

Hồ sơ xuất khẩu vật liệu xây dựng là điều kiện không thể thiếu trong hoạt động xuất khẩu vật liệu xây dựng, hồ sơ này có thể được xem là bảng thông tin vật liệu xây dựng, hồ sơ thể hiện tất cả các thông tin liên quan về vật liệu xây dựng như chất lượng sản phẩm, nguồn gốc vật liệu và các giấy tờ khác liên quan Được quy định tại thông tư 04/2012/TT-BXD hồ sơ xuất khẩu khoáng sản gồm các nội dung như: Hồ sơ xuất khẩu hàng hóa theo quy định của Luật Hải quan, kết quả thí nghiệm phân tích các chỉ tiêu cơ, lý, hoá của khoáng sản phù hợp với các quy định về tiêu chuẩn xuất khẩu phải được các phòng thí nghiệm LAS-XD hoặc tương đương trở lên xác nhận (trừ đá ốp lát, đá phiến lợp, phiến cháy), các giấy tờ chứng minh nguồn gốc khoáng sản.48

Trong đó, dựa vào hoạt động của tổ chức, cá nhân kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại mà sẽ có các loại giấy tờ chứng minh nguồn gốc khác nhau như:

Đối với doanh nghiệp tự khai thác và chế biến khoáng sản hoặc được ủy quyền khai thác, chế biến và xuất khẩu khoáng sản thì doanh nghiệp phải có

Trang 33

những giấy tờ chứng minh về nguồn gốc sản phẩm hoặc khoáng sản phi kim loại

làm vật liệu xây dựng như: “Doanh nghiệp phải có bản sao công chứng giấy

phép khai thác khoáng sản và giấy chứng nhận đầu tư dự án chế biến khoáng sản Trường hợp, đơn vị khai thác khoáng sản chưa có nhà máy chế biến phải bổ sung giấy chứng nhận đầu tư dự án chế biến của đơn vị đã được thuê chế biến khoáng sản và hợp đồng thuê chế biến khoáng sản”.49

Đối với doanh nghiệp mua khoáng sản để chế biến xuất khẩu: “Doanh nghiệp

phải có bản sao công chứng các giấy phép khai thác khoáng sản, hoá đơn thuế giá trị gia tăng và giấy chứng nhận đầu tư dự án chế biến khoáng sản của bên bán”.50

Đối với doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hoạt động xuất khẩu khoáng

sản mua khoáng sản đã qua chế biến để xuất khẩu: “Doanh nghiệp phải có hợp

đồng mua bán, bản sao công chứng các giấy phép khai thác khoáng sản, hoá đơn thuế giá trị gia tăng và giấy chứng nhận đầu tư dự án chế biến khoáng sản của bên bán”.51

Đối với doanh nghiệp nhập khẩu khoáng sản để chế biến và xuất khẩu:

“Doanh nghiệp phải có Tờ khai nhập khẩu chứng minh khoáng sản đã chế biến

để xuất khẩu được sản xuất từ nguồn nguyên liệu nhập khẩu”.52

 Điều kiện nhập khẩu vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

- Chất lượng sản phẩm vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại

Căn cứ vào Nghị định số 124/2007/NĐ-CP thì chất lượng vật liệu xây dựng khi nhập khẩu bao gồm sản phẩm vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại và khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng cần đảm bảo có nhãn và nhãn phải bảo đảm ghi đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hoá.53

Cụ thể hơn khi căn cứ theo Luật Chất lượng Sản phẩm, Hàng hóa 2007 thì vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại khi nhập khẩu sẽ được chia làm 2 nhóm bao gồm: Nhóm sản phẩm, hàng hoá không có khả năng gây mất an toàn và nhóm sản phẩm, hàng hoá có khả năng gây mất an toàn.54

Ngày đăng: 03/10/2015, 23:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng khảo sát loại hình doanh nghiệp đăng ký kinh doanh vật liệu xây dựng - pháp luật về kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại
Bảng kh ảo sát loại hình doanh nghiệp đăng ký kinh doanh vật liệu xây dựng (Trang 17)
Bảng Tổng hợp kim ngạch xuất khẩu một số loại mặt hàng Vật liệu xây dựng - pháp luật về kinh doanh vật liệu xây dựng làm từ khoáng sản phi kim loại
ng Tổng hợp kim ngạch xuất khẩu một số loại mặt hàng Vật liệu xây dựng (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w