1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện trong vụ án dân sự

92 763 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 753,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà nước khi mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật và tư tố hoạt động tố tụng đối với các vụ án xảy ra do sự vi phạm đến lợi ích riêng của ai đó; còn ở thời La Mã

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 37 (2011-2015)

Đề tài

QUYỀN KHỞI KIỆN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

Giảng viên hướng dẫn:

Trương Thanh Hùng

Bộ môn: Luật Tư Pháp

Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Quốc Huy MSSV: 5118677 Lớp: Luật Tư Pháp – K37

Cần Thơ, 11/2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên em xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô của trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, cung cấp lượng kiến thức vô cùng quý báu cho em trong chương trình Đại học Giúp em nắm vững những vốn lý thuyết để có thể tự tin vận dụng vào thực tiễn, làm hành trang vững chắc bước vào cuộc sống, cải thiện kinh tế và có thể góp một phần nhỏ của mình vào việc xây dựng xã hội phát triển

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Giảng viên hướng dẫn - thầy Trương Thanh Hùng, em cảm ơn Thầy đã giúp đỡ em trong thời gian em làm luận văn vừa qua Cảm ơn Thầy đã tận tình sửa chữa, hướng dẫn em để em có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp cử nhân luật như hôm nay

Em gửi lời cảm ơn đến các Cô, Chú làm việc tại Tòa án nhân dân huyện Lấp

Vò, tỉnh Đồng Tháp đã giải đáp những thắc mắc về những vấn đề trên thực tế, cũng như cung cấp những tài liệu quý báu giúp em có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, Cô trong Hội đồng bảo vệ luận văn tốt nghiệp đã cung cấp thêm những kiến thức mới để em có thể sửa chữa những chỗ còn sai sót, cũng như bổ sung để vốn kiến thức của em được vững vàng hơn Cảm ơn các thầy cô đã nhiệt tình góp ý giúp em có thể hoàn thiện hơn luận văn tốt nghiệp của mình

Em xin gửi lời chúc sức khỏe và thành công đến các Thầy, Cô và các Cô, Chú công tác tại Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp Em xin chân thành cảm ơn

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA THẦY CÔ TRONG HỘI ĐỒNG

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Cấu trúc đề tài 3

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN VÀ CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN KHỞI KIỆN 1.1.Lý luận chung về quyền khởi kiện 4

1.1.1 Khái niệm quyền khởi kiện 4

1.1.2 Điều kiện thực hiện quyền khởi kiện 10

1.1.3 Ý nghĩa của quyền khởi kiện 15

1.2 Lý luận chung về cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện 16

1.2.1 Khái niệm bảo đảm quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện 17

1.2.2 Chủ thể có quyền khởi kiện và chủ thể bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện 17 1.2.3 Ý nghĩa nghiên cứu quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN VÀ CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN KHỞI KIỆN 2.1 Quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền khởi kiện vụ án dân sự 22

2.1.1 Điều kiện thực hiện quyền khởi kiện 22

2.1.1.1 Chủ thể thực hiện quyền khởi kiện 22

2.1.1.2 Vụ việc phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án 30

2.1.1.3 Vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật 31

2.1.1.4 Vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện 33

2.1.2 Thực hiện việc khởi kiện vụ án dân sự 34

2.1.2.1 Phạm vi khởi kiện 34

2.1.2.2 Hình thức của đơn khởi kiện 35

2.1.2.3 Nội dung của đơn khởi kiện 36

2.1.2.4 Cách thức gửi đơn khởi kiện 37

Trang 6

2.2 Quy định của pháp luật về cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện vụ án dân sự 38

2.2.1 Chủ thể bảo đảm quyền khởi kiện vụ án dân sự 38

2.2.2 Những cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện vụ án dân sự 39

2.2.2.1 Các quy định bảo đảm việc thực hiện quyền khởi kiện 39

2.2.2.2 Các quy định về bảo đảm quyền khởi kiện sau khi nguyên đơn đã thực hiện việc khởi kiện 43

2.2.2.3 Bảo đảm quyền khởi kiện thông qua các quy định về hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng 48

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KHỞI KIỆNVÀ CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN KHỞI KIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 3.1 Thành tựu đạt được trong việc các quy định về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện 58

3.2 Việc thực hiện quyền khởi kiện của đương sự 60

3.2.1 Thực trạng chung 60

3.2.2 Giải pháp hoàn thiện chung 62

3.3 Tính hợp lý của điều kiện khởi kiện và thụ lý vụ án 62

3.3.1 Điều kiện về thủ tục hòa giải ở cơ sở 62

3.3.1.1 Thực trạng 62

3.3.1.2 Giải pháp hoàn thiện 63

3.3.2 Điều kiện về thời hiệu khởi kiện 63

3.3.2.1 Thực trạng 63

3.3.3.2 Giải pháp hoàn thiện 65

3.3.3 Điều kiện về nội dung đơn khởi kiện 66

3.3.3.1 Thực trạng 66

3.3.3.2 Giải pháp hoàn thiện 67

3.4 Cơ chế hỗ trợ, bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự 68

3.4.1 Sự hỗ trợ trong việc bảo vệ, thu thập chứng cứ, tài liệu 68

3.4.1.1 Thực trạng 68

3.4.1.2 Giải pháp hoàn thiện 68

3.4.2 Sự tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự 69

Trang 7

3.4.2.1 Thực trạng 69

3.4.2.2 Giải pháp hoàn thiện 69

3.4.3 Cơ chế chuyển hóa giữa việc dân sự và vụ án dân sự 70

3.4.3.1 Thực trạng 70

3.4.3.2 Giải pháp hoàn thiện 71

3.4.4 Chỉ định người đại diện trong tố tụng dân sự 71

3.4.4.1 Thực trạng 71

3.4.4.2 Giải pháp hoàn thiện 71

3.5 Bảo đảm quyền khởi kiện từ phía cơ quan, tổ chức Nhà nước 71

3.5.1 Bảo đảm quyền khởi kiện từ phía Tòa án 71

3.5.1.1 Thực trạng 71

3.5.1.2 Giải pháp hoàn thiện 74

3.5.2 Bảo đảm quyền khởi kiện từ phía Viện Kiểm sát 75

3.5.2.1 Thực trạng 75

3.5.2.2 Giải pháp hoàn thiện 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 75

KẾT LUẬN CHUNG 76

Trang 8

BẢNG VIẾT TẮT BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 15 tháng 06 năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng

01 năm 2005 Theo đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm

2011 Có thể nói, BLTTDS được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển của ba Pháp lệnh trước đó, bao gồm: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996, đồng thời tiếp thu những thành tựu lập pháp của nhiều nước trên thế giới BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 là văn bản có tính pháp lý cao nhất quy định

về trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án, trong đó có các quy định về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện

Vấn đề quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện là vấn đề luôn được các nhà nghiên cứu về tố tụng, cơ quan lập pháp của nhiều nước trên thế giới quan tâm Xét ở Việt Nam hiện nay, thì các quy định trong pháp luật tố tụng nước ta cơ bản đã phần nào thể hiện được vấn đề này Tuy nhiên, về phương diện lý luận thì còn nhiều vấn đề về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện chưa được giải quyết triệt để Thực tiễn tố tụng tại Tòa án cũng cho thấy, trong nhiều trường hợp, quyền khởi kiện của đương sự đã không được tôn trọng một cách đúng mức Một số quy định về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện trong BLTTDS còn chung chung, thiếu tính cụ thể dẫn tới những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng và dẫn tới những cách hiểu và vận dung khác nhau Đây chính là những nguyên nhân của việc áp dụng tùy tiện , làm cho quyền khởi kiện vụ án dân sự của đương sự không được thực thi hiệu quả trên thực tế Ngoài ra việc nghiên cứu đề tài này cũng cho thấy một số quy định của pháp luật hiện hành chưa thật sự đáp ứng yêu cầu của việc bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự Do vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện hơn về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện cả về phương diện lý luận

và thực tiễn là điều hết sức cần thiết, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự trên thực tế

Xuất phát từ những lý do trên, người viết lựa chon đề tài nghiên cứu luận văn tốt

nghiệp cử nhân là “Quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện trong vụ án dân sự”

Trang 10

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích ngiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ được những vần đề lý luận cũng như nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về quyền khởi kiện, chỉ ra những điểm còn thiếu sót hoặc chưa hợp lý trong các quy định hiện hành về quyền khởi kiện

và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng nhằm làm sáng tỏ việc bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện trên thực tế Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tổng hợp, luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện đồng thời nâng cao hiệu quả

của việc bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện trên thực tế

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm

quyền khởi kiện;

Thứ hai, nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam có liên quan

tới quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện và thực tiễn áp dụng chúng tại Tòa

án Từ đó chỉ ra những điểm bất cập, thiếu hợp lý trong các quy định của pháp luật về quyền khởi kiện cũng như bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện;

Thứ ba, đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt

Nam về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài luận văn về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện hướng tới nghiên cứu nội dung các quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và các quy định liên quan, cũng như thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm

quyền khởi kiện phục vụ việc làm rõ nội dung của đề tài này

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở một số vấn đề sau:

Thứ nhất, lý luận chung về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện

Thứ hai, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền khởi kiện và cơ chế bảo

đảm quyền khởi kiện

Trang 11

Thứ ba, tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền

khởi kiện thông qua các hoạt động tố tụng dân sự tại Tòa án

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của triết học Mác-Lênin, cơ sở đường lối của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, người viết còn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thực tiễn và cuối cùng là phương pháp loại trừ

Chương 3 Thực tiễn việc thực hiện pháp luật về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự và kiến nghị giải pháp hoàn thiện

Trang 12

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN

VÀ CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN KHỞI KIỆN

▬►☼◄▬

Lý luận chung về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện là cơ sở khoa học nghiên cứu quy định pháp luật về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện

Ở chương này, luận văn tập trung làm sáng tỏ một số khái niệm như “Quyền khởi kiện” và

“Bảo đảm quyền khởi kiện” làm cơ sở phân tích cho các quy định liên quan

Điều kiện gì để một chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung như quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, thương mại…trở thành chủ thể có quyền khởi kiện

vụ án dân sự đến Tòa án yêu cầu giải quyết khi quyền, lợi ích hợp pháp của họ bị vi phạm hay xâm hại?

Theo đó, những chủ thể nào có quyền khởi kiện vụ án dân sự đến Tòa án? Pháp luật tố tụng ngoài việc ghi nhận quyền khởi kiện của đương sự đồng thời ghi nhận cơ chế bảo đảm quyền đó được thực thi hiệu quả, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự khi quyền, lợi ích hợp pháp đó bị vi phạm hay xâm hại

1.1 Lý luận chung về quyền khởi kiện

Nội dung Mục 1.1 tập trung xây dựng khái niệm về quyền khởi kiện, điều kiện của quyền khởi kiện, ý nghĩa của quyền khởi kiện Khái niệm quyền khởi kiện được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa hẹp, là cơ sở lý luận quan trọng để nghiên cứu, xây dựng điều kiện khởi kiện Việc nghiên cứu quyền khởi kiện có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng dân sự Việt Nam nói chung, trong quá trình giải quyết VADS nói riêng

1.1.1 Khái niệm quyền khởi kiện

Cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật là việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng pháp luật của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nước thiết lập Theo đó, quyền khởi kiện của tổ chức, cá nhân được ghi nhận và khi chủ thể cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

So sánh lịch sử Tố tụng dân sự thế giới đã cho thấy, về cơ bản quyền khởi kiện đã được biết đến từ thời xa xưa của xã hội loài người Chẳng hạn, ở Nhà nước chiếm hữu nô lệ Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ V trước Công nguyên đã tồn tại hai hình thức tố tụng là công tố (hoạt động tố tụng đối với các vụ án mà trong đó động trạm trực tiếp hay gián tiếp đến lợi ích của

Trang 13

Nhà nước khi mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật) và tư tố (hoạt động tố tụng đối với các vụ án xảy ra do sự vi phạm đến lợi ích riêng của ai đó); còn ở thời

La Mã cổ đại trong thời kỳ tan rã của nền dân chủ quân sự và hình thành Nhà nước chiếm hữu nô lệ thì quyền khởi kiện cũng được ghi nhận trong các vụ án động chạm đến lợi ích cá nhân của tầng lớp trên trong xã hội, cụ thể là khi có hành vi xâm phạm quyền tư pháp của cá nhân thì người có quyền lợi bị xâm hại bên cạnh việc sử dụng hình thức tự trấn áp, họ còn có quyền khởi kiện đến Tòa án nhằm bảo vệ quyền lợi của mình Đến thời phong kiến Việt Nam, quyền khởi kiện cũng được thừa nhận và quy định cụ thể trong những Chiếu dụ của nhà vua, những quy định này được thể hiện mạnh mẽ và sâu sắc điển hình là trong Luật Gia Long và Luật Hồng Đức1

Trong xã hội hiện đại, quyền khởi kiện được ghi nhận là một quyền con người trong tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948 và các công ước quốc tế khác Quyền khởi kiện là một trong những nhóm quyền tố tụng thuộc quyền con người và suy cho cùng thì quyền khởi kiện là quyền của một chủ thể trong mối quan hệ xã hội được pháp luật ghi nhận nhằm đảm bảo tốt nhất cho những quyền, lợi ích hợp pháp của mình được thực hiện Điều này được thể hiện tại Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1984 Theo đó “Mọi người đều có quyền được bảo vệ bằng các Tòa án quốc gia có thẩm quyền với phương tiện pháp lý có hiệu lực chống lại những hành vi vi phạm các quyền căn bản đã được Hiến pháp và pháp luật công nhận” Như vậy, quyền khởi kiện được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và là cơ sở vững chắc cho việc ghi nhận quyền này trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia

Theo các nhà nghiên cứu về tố tụng của Pháp thì “tố quyền” là khả năng được thừa nhận đối với cá nhân được yêu cầu sự can thiệp của công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền và lợi ích chính đáng của mình Theo từ điển thuật ngữ luật học của Pháp thì tố quyền trước công lý là khả năng được thừa nhận đối với các chủ thể được cầu viện tới công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền lợi và lợi ích chính đáng Theo Điều 30 Bộ luật tố tụng dân

sự mới của Pháp thì thuật ngữ “action” – “tố quyền” được dịch là quyền tham gia tố tụng

theo đó “quyền tham gia tố tụng đối với người có yêu cầu là quyền được trình bày về nội

dung yêu cầu của mình để Thẩm phán quyết định xem xét yêu cầu như vậy là có căn cứ hay không có căn cứ; đối với bên bị kiện quyền tham gia tố tụng là quyền được tranh luận về căn

cứ của yêu cầu do bên kia đưa ra”2

1 Lê Thu Hà, Hoàn thiện chế định khởi kiện và thụ lý án dân sự trong Pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam, 2012, tr 05

2 Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hoà Pháp, Nxb Chính trị quốc gia, 1998

Trang 14

Ở Việt Nam, về phương diện lý luận thì nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh cho rằng “tố

quyền tức là có quyền đi kiện” Tố quyền đối vật, mục đích nhằm một vật gì, động sản hay

bất động sản Tố quyền đối nhân, nhằm vào một công việc phải làm, liên quan đến một người hay một trái vụ Tố quyền hỗn hợp vừa có tính cách đối vật, vừa có tính chất đối nhân3 TS Hoàng Ngọc Thỉnh đã khẳng định trong Giáo trình Luật tố tụng dân sự của

Trường Đại học Luật Hà Nội 1994 rằng “Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của

công dân, pháp nhân và các tổ chức xã hội yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, của tập thể, của Nhà nước hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm”4

Có thể thấy rằng, theo kết quả nghiên cứu về quyền khởi kiện trong luật thực định Việt Nam, mặc dù không được quy định trực tiếp về quyền khởi kiện nhưng được ghi nhận gián tiếp tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, các văn bản khác đã cụ thể hóa và ghi nhận quyền khởi kiện của đương sự Cụ thể là quyền khởi kiện được ghi nhận trong các văn bản pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng

Tiếp tục nghiên cứu về lý luận cho thấy, trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 ra đời thì quyền khởi kiện được hiểu theo nghĩa rất rộng Trên quan điểm đó, quyền khởi kiện đồng nhất với quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo BLTTDS hiện nay Theo đó, quyền khởi kiện được hiểu là khả năng Nhà nước cho phép công dân được yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi cho rằng quyền lợi hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp

lý, các quyền dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động…Tuy nhiên, BLTTDS năm 2004 ra đời đã tách thủ tục giải quyết vụ việc dân sự trước đây thành hai thủ tuc tố tụng riêng biệt là thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự nên khái niệm quyền khởi kiện được hiểu theo nghĩa hẹp hơn trước đây Có nghĩa là quyền khởi kiện không bao gồm cả quyền yêu cầu xem xét về việc công nhận hay không công nhận một

sự kiện pháp lý hoặc các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động như trước đây nữa mà quyền khởi kiện được hiểu là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp trong vụ án dân sự

3 Trần Thúc Linh, Danh từ pháp luật lược giải, Nhà sách Khai trí, Sài Gòn, 1964, tr 46

4 Hoàng Ngọc Thỉnh, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trường Đại hoc Luật Hà Nội, Nxb CAND, 1998, tr 08

Trang 15

Theo ThS Ngô Quang Liễn thì “Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng quan

trọng của các chủ thể Nó cho phép cá nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án” và “Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác” Theo đó, khởi kiện vụ án dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và

các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự 5 Từ góc nhìn này tiếp tục được khẳng định bởi TS

Phan Chí Hiếu trong giáo trình Luật tố tụng Dân sự của Học viện Tư pháp Theo đó, “quyền

khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, của tập thể hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm”

Khi có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chủ thể có thể bảo vệ bằng các phương thức khác nhau như yêu cầu người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi đó, yêu cầu cơ quan Nhà nước tổ chức có thẩm quyền bảo vệ hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ Tuy nhiên, một trong những phương pháp được xem là công cụ pháp lý hữu hiệu mà chủ thể dùng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong trường hợp bị xâm phạm hay tranh chấp là khởi kiện vụ án

dân sự Theo đó, TS Nguyễn Công Bình đã có khái niệm “khởi kiện vụ án dân sự là việc cá

nhân, cơ quan, tổ chức hoặc chủ thể khác theo quy định của pháp luật yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hay lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước khi bị xâm phạm hoặc tranh chấp”6

Như vậy, quyền khởi kiện là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi quyền

hạn của mình yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực cơ quan, tổ chức của mình phụ trách khi quyền, lợi ích đó bị xâm phạm hoặc có tranh chấp

Các phân tích ở trên cho thấy rằng xét về bản chất thì quyền khởi kiện là quyền yêu

cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi khi quyền lợi này bị tranh chấp hay vi phạm Một cách tổng quan nhất về quyền khởi kiện từ những kết quả nghiên cứu trên, thì bản chất của quyền khởi kiện chính là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ bảo vệ quyền, lợi ích của mình khi quyền, lợi ích

đó bị tranh chấp hay vi phạm Theo quan điểm này cần phát triển khái niệm quyền khởi kiện

5 Ngô Quang Liễn, Bình luận khoa học Bộ luật tố tung dân sự năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2011, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2012, tr 28

6 Nguyễn Công Bình, Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb GDVN, 2011, tr.195

Trang 16

ở hai góc độ, theo nghĩa hẹp quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn và theo nghĩa rộng thì quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn; quyền phản tố của bị đơn (kiện ngược lại nguyên đơn) và quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của người có quyền và nghĩa vụ liên quan, họ đã không thực hiện quyền yêu cầu của mình trước khi nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện vụ án

- Xét theo nghĩa hẹp thì quyền khởi kiện là quyền của nguyên đơn trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp hay bị vi phạm

Quyền khởi kiện của nguyên đơn là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của chủ thể

có quyền lợi hợp pháp bị tranh chấp hay bị vi phạm và việc thực hiện quyền này sẽ làm phát sinh vụ án dân sự tại Tòa án Xét về thực chất thì đây là quyền của chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm trong việc bắt đầu việc kiện để bảo vệ quyền lợi của mình, thông qua việc đệ đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết vụ án dân sự Đó là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng thuộc lĩnh vực mình phụ trách Chính việc khởi kiện của nguyên đơn là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, không có hành vi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự thì không có các giai đoạn tố tụng tiếp theo Như vậy, việc xác định quyền khởi kiện của nguyên đơn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tư cách pháp lý của các đương sự còn lại khi họ tham gia vào quá trình tố tụng tại Tòa án

- Xét theo nghĩa rộng thì quyền khởi kiện bao hàm cả quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn, quyền phản tố của bị đơn, quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của người có quyền và nghĩa vụ liên quan

Nguyên đơn có quyền khởi kiện và bị đơn có quyền phản bác lại việc khởi kiện của nguyên đơn Việc ghi nhận quyền của bị đơn được phản tố lại yêu cầu của nguyên đơn xuất phát từ đảm bảo sự bình đẳng quyền giữa các đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của mình Trong những vụ án có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp có mối liên quan đến nhau thì bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố của nguyên đơn và yêu cầu này có thể được Tòa

án xem xét giải quyết trong cùng vụ án với yêu cầu của nguyên đơn khi thỏa mãn những điều kiện nhất định Thực chất của phản tố là một việc kiện ngược lại của bị đơn đối với nguyên đơn nhưng được xét cùng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên có liên quan chặt chẽ với nhau Như vậy, xét theo nghĩa rộng về quyền khởi kiện và đảm bảo quyền khởi kiện thì có thể xem quyền phản tố cũng là quyền khởi kiện nhưng là quyền khởi kiện ngược lại của bị đơn đối với nguyên đơn do Tòa án xét thấy các yêu cầu này có mối quan hệ nhất định

Trang 17

Pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong cùng một vụ án được Tòa án giải quyết Theo đó, trong việc bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn, bị đơn hay phản lại cùng lúc cả yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn Bản chất của yêu cầu độc lập của người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án chính là một yêu cầu tố tụng của người thứ ba nhằm bảo vệ quyền lợi của của mình, người có quyền và nghĩa

vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập của mình trong vụ án đã được thiết lập giữa nguyên đơn và bị đơn Yêu cầu độc lập này có thể là phản lại yêu cầu mình đang bị tranh chấp hay vi phạm trong một vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn TS Nguyễn Công Bình khi nghiên cứu vần đề này cho rằng: “ Trong vụ án dân sự, lợi ích pháp lý của người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập luôn độc lập với lợi ích pháp

lý của nguyên đơn và bị đơn Thông thường người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia

tố tụng độc lập có đủ điều kiện pháp lý khởi kiện vụ án dân sự nhưng do vụ án dân sự đã xuất hiện giữa nguyên đơn và bị đơn nên họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nếu không việc bảo vệ quyền và lợi ích của họ sau đó sẽ gặp khó khăn”7 Tựu chung lại, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam ghi nhận sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong cùng một vụ án dân sự được Tòa án giải quyết có nghĩa là bên cạnh việc ghi nhận quyền khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án dân sự đó, pháp luật tố tụng dân sự còn ghi nhận bảo vệ quyền phản tố của bị đơn, quyền yêu cầu độc lập của người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong cùng vụ án đó, xét về bản chất thì quyền phản tố của bị đơn chính là quyền khởi kiện ngược lại của bị đơn, quyền yêu cầu độc lập của người có quyền và nghĩa vụ liên quan là quyền khởi kiện chống lại yêu cầu của cả nguyên đơn và bị đơn hay chỉ chống lại nguyên đơn hoặc bị đơn trong vụ án dân sự

Như vậy, theo nghĩa hẹp thì quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, cơ quan, tổ chức xã hội yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước Việc thực hiện quyền khởi kiện của các chủ thể này bằng cách nộp đơn khởi kiện làm phát sinh vụ án dân sự tại Tòa án Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì quyền khởi kiện còn bao gồm cả quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác sau khi vụ án đã phát sinh tại Tòa án Theo nghĩa này thì quyền khởi kiện còn thuộc về bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan dưới hình thức là quyền phản tố hoặc quyền đưa ra yêu cầu độc lập

Tất cả các cá nhân không phân biệt quốc tịch, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội đều được thừa nhận có quyền khởi kiện tại Tòa án Quyền khởi kiện của cá nhân được thừa nhận trong các lĩnh vực tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao

7 Nguyễn Công Bình, Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong Tố tụng dân sự Việt Nam, 2006, tr 108

Trang 18

động Quyền khởi kiện của cá nhân là một nội dung của năng lực pháp luật tố tụng dân sự Theo đó mọi cá nhân từ lúc sinh ra đã có quyền khởi kiện Tuy nhiên để tự mình bằng chính hành vi của mình định đoạt, quyết định và tiến hành việc khởi kiện tại Tòa án với tư cách là một chủ thể độc lập thì các cá nhân phải là người có năng lực hành vi tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Thông thường, cá nhân có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thực hiện quyền khởi kiện chủ yếu để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích cho mình Tuy nhiên, cũng có những trường hợp việc khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Như vậy, người khởi kiện trong trường hợp này đóng vai trò giúp sức cho người khác thực hiện quyền khởi kiện của mình do pháp luật cho phép

Cơ quan, tổ chức khởi kiện nhằm bảo vệ lợi ích của mình hoặc khởi kiện để bảo vệ lợi ích của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước Thông thường, là một chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung như quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, các cơ quan tổ chức có quyền khởi kiện VADS tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan tổ chức mình khi bị vi phạm hay phát sinh tranh chấp Tuy nhiên, bên cạnh quyền khởi kiện bảo vệ lợi ích cho chính mình, pháp luật còn cho phép một

số cơ quan, tổ chức được khởi kiện VADS bảo vệ lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước như Cơ quan dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ, Công đoàn cấp trên của Công đoàn cấp cơ sở…Cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện thông qua người đại diện hợp pháp của mình Tùy thuộc mô hình, cơ cấu tổ chức được pháp luật thừa nhận mà cơ quan, tổ chức đó có cách chọn lựa người đại diện hợp pháp khác nhau Trường hợp người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức không thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện thì pháp luật tố tụng còn ghi nhận việc ủy quyền cho người khác thay thế thực hiện quyền khởi kiện

Dưới góc nhìn về quyền khởi kiện vụ án dân sự này, bản luận văn sẽ đề cập tới việc bảo đảm quyền khởi kiện theo nghĩa rộng bao hàm cả quyền khởi kiện của nguyên đơn theo nghĩa đích thực của từ “khởi kiện” và quyền phản tố hay quyền khởi kiện ngược lại của bị đơn, quyền có yêu cầu độc lập hay quyền khởi kiện chống lại nguyên đơn, bị đơn hay chống

cả nguyên đơn, bị đơn của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập để bảo

vệ quyền lợi của mình khi mà vụ án giữa nguyên đơn và bị đơn đã được thiết lập trước đó

1.1.2 Điều kiện thực hiện quyền khởi kiện

Quyền khởi kiện được nghiên cứu trong mối liên hệ giữa quyền lợi và việc bảo vệ quyền lợi Pháp luật nội dung ghi nhận và bảo hộ quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của các chủ thể Để các quyền lợi hợp pháp trên được đảm bảo thực hiện trên thực tế thì pháp luật cần trao cho những chủ thể có quyền lợi bị xâm hại

Trang 19

hay tranh chấp này một phương tiện để bảo vệ quyền lợi của mình nhằm thiết lập lại trật tự các quan hệ pháp luật nội dung đang bị xáo trộn

Vấn đề đặt ra là tại sao cần phải ghi nhận cho các chủ thể nói trên có quyền khởi kiện

mà không trao quyền này cho các cơ quan công quyền như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát

Dễ thấy rằng từ bản chất của các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được thiết lập; các quan hệ pháp luật nội dung này được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, tự định đoạt của các chủ thể và chính bản thân họ là những chủ thể có lợi ích tài sản hoặc nhân thân trong các quan hệ này Quan hệ pháp luật nội dung là cơ sở để xác định có sự vi phạm thỏa thuận hay vi phạm các quy định của pháp luật, là căn cứ để xem xét chủ thể có hành vi vi phạm và chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại Do vậy, việc ghi nhận quyền khởi kiện thuộc về các chủ thể có quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp, vi phạm là hoàn toàn cần thiết và hợp lý Cũng xuất phát từ bản chất dân sự của các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động nên trong tố tụng dân sự thì các đương sự có quyền tự định đoạt về việc bảo vệ quyền lợi của mình Các đương sự được tự do trong việc quyết định lựa chọn các phương thức để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình như trung gian hòa giải, trọng tài hoặc yêu cầu sự can thiệp của Tòa án Do vậy, pháp luật đã ghi nhận việc khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình là quyền mà đương sự được tự do thực hiện Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm, bồi thường thiệt hại hoặc phải chịu các chế tài theo quy định của pháp luật theo thỏa thuận của các bên

Xuất phát từ việc coi việc khởi kiện là một quyền của đương sự nên việc có sử dụng quyền này hay không là do chính đương sự tự mình quyết định Mặt khác, Nhà nước có nghĩa vụ phải bảo đảm cho những quyền này có thể được thực hiện trên thực tế theo những thủ tục mà luật định

Việc xác định quyền khởi kiện được thực hiện đối với ai và khởi kiện vấn đề gì được xác định dưa trên cơ sở quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp cần phải giải quyết Việc giải quyết vụ án dân sự là nhằm giải quyết quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp, vi phạm Nên chủ thể có quyền khởi kiện được xác định là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp có quyền lợi cần được bảo vệ và chủ thể này có quyền thực hiện việc khởi kiện đối với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật nội dung đã vi phạm quyền lợi hoặc có tranh chấp với mình

Trang 20

Nói tóm lại, chủ thể có quyền khởi kiện có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của chủ thể có quyền lợi hợp pháp bị tranh chấp hay bị vi phạm và việc thực hiện quyền này sẽ làm phát sinh vụ án dân sự tại Tòa án Tuy nhiên, chủ thể trên muốn thực hiện quyền khởi kiện của mình thì các chủ thể của quyền này cần tuân thủ các điều kiện sau:

► Điều kiện về chủ thể khởi kiện - người khởi kiện phải có tư cách khởi kiện

Tư cách khởi kiện được thể hiện bằng việc người đó nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác Hành vi đệ đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết thể hiện ý chí của người có quyền khởi kiện khi quyền lợi hợp pháp của chính họ hay của người khác bị xâm hại Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án dân sự khi có đơn khởi kiện của các chủ thể Khởi kiện vụ án dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Không có việc khởi kiện của người có quyền khởi kiện bằng việc nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết thì không có các giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng dân sự

Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể Nó cho phép cá nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự bao gồm: cá nhân, cơ quan, tổ chức Đây

là các chủ thể đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy định được tham gia vào quan

hệ pháp luật tố tụng dân sự

Chủ thể muốn thực hiện quyền khởi kiện thì phải có năng lực năng lực pháp luật tố tụng và năng lực hành vi tố tụng dân sự, hai yếu tố này cấu thành năng lực chủ thể, đồng thời phải có quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm, quyền lợi này có thể là của chính chủ thể đó hoặc là lợi ích của một chủ thể khác

Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả năng pháp luật tố tụng ghi nhận cho đương sự

có các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự, là cơ sở tiền đề xác nhận một cá nhân hay tổ chức trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng đương sự bằng hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện thay mình khi cần thiết Năng lực hành vi của cá nhân phụ thuộc vào độ tuổi và khả năng nhận thức của cá nhân đó Tổ chức tham gia quan hệ tố tụng dân sự thông qua người đại diện hợp pháp

Trong một số trường hợp, pháp luật tố tụng dân sự cũng thừa nhận quyền khởi kiện đối với các chủ thể là cá nhân không có năng lực hành vi tố tụng dân sự về việc có thể tự mình khởi kiện VADS nhưng chưa đủ 18 tuổi Tuy nhiên, cũng có trường hợp tuy đã thỏa mãn điều kiện tư cách chủ thể, muốn thực hiện quyền khởi kiện VADS mà đương sự không được

Trang 21

thực hiện trong một số trường hợp (người chồng yêu cầu xin ly hôn vợ đang có thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, tranh chấp đất đai chưa qua thủ tục hòa giải ở UBND cấp xã…)

► Vụ kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Việc ghi nhận quyền khởi kiện trước Tòa án của đương sự và bảo đảm thực hiện quyền này theo quy định của pháp luật phù hợp với nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Khi phát sinh tranh chấp, các bên trong quan hệ pháp luật dân sự bình đẳng về địa vị pháp lý nên một trong các bên không thể tự mình cưỡng chế bên kia phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình để giải quyết tranh chấp Nhìn nhận khách quan, điều này khó có thể thực hiện được vì

ý chí chủ quan của các bên trong tranh chấp phần lớn cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm khi phát sinh Vì vậy họ cần tìm đến một chủ thể có địa vị pháp lý cao hơn, có quyền năng đặc biệt để can thiệp giúp họ khôi phục lại quyền và lợi ích bị xâm phạm – đó là Nhà nước; thông qua hệ thống các cơ quan tư pháp của mình

Để giải quyết tốt các vụ án dân sự, Tòa án có trách nhiệm hướng dẫn và giúp đỡ cho các chủ thể khởi kiện thực hiện hành vi khởi kiện vụ án đúng theo quy định của pháp luật Yêu cầu pháp luật đặt ra là việc khởi kiện phải đúng thẩm quyền xét xử về dân sự của Tòa

án Vụ án mà họ khởi kiện phải thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của Tòa án, phải đúng với cấp Tòa án có thẩm quyền giải quyết và phải đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ theo các quy định mà pháp luật tố tụng dân sự đã thiết lập Ngoài ra, đối với những việc mà pháp luật quy định phải yêu cầu cơ quan khác giải quyết trước khi chủ thể có quyền gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thì chủ thể khởi kiện chỉ được khởi kiện vụ án khi các cơ quan hữu quan đã giải quyết mà họ không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan đó8 Trên nguyên tắc, quyền khởi kiện là một quyền quan trọng của đương sự cần được bảo đảm thực hiện Tuy nhiên, vì những lý do khác nhau mà pháp luật quốc gia cũng có thể đặt ra những điều kiện bắt buộc chủ thể có quyền phải đưa sự việc tranh chấp ra giải quyết bằng con đường hòa giải tiền tố tụng trước khi thực hiện việc khởi kiện Để đảm bảo quyền khởi kiện của đương sự là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng thì pháp luật cần phải hạn chế một cách tối đa những trường hợp được coi là điều kiện tiên quyết này Do vậy, chỉ có thể coi là quyền khởi kiện không bị hạn chế nếu những điều kiện tiên quyết này là giải pháp cuối cùng để đảm bảo cho sự hoạt động bình thường của bộ máy tư pháp hoặc đáp ứng yêu cầu về tính nhân đạo của pháp luật hoặc yêu cầu về tôn trọng cam kết của các bên

8 Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2005, tr 234

Trang 22

► Vụ án chưa được Tòa án giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Theo khoa học lý luận thì về nguyên tắc một vụ án đã được Tòa án giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự không có quyền khởi kiện lại đối với các vụ án đó nữa Nhằm đảm bảo hiệu lực pháp lý của các bản án, quyết định mà Tòa án

đã ra, thông qua đó đảm bảo sự ổn định của các quan hệ xã hội, tránh tình trạng chồng chéo, cùng một sự việc mà có nhiều cơ quan cùng giải quyết và ra bản án, quyết định thì cách quy định trên hoàn toàn phù hợp Vấn đề đặt ra là khi Tòa án đã ra bản án, quyết định bác đơn xin ly hôn; yêu cầu xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại…v.v, mà người có quyền lợi bị vi phạm còn nhu cầu khởi kiện lại để bảo vệ đúng mức quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đối với trường hợp trên thì nguyên tắc một vụ án đã được Tòa án giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự không có quyền khởi kiện lại đối với các vụ án đó nữa tỏa ra khá cứng nhắc và thiếu tính mềm dẻo Do đó, quyền khởi kiện của đương sự được tôn trọng và đảm bảo đúng mức hơn khi pháp luật có những quy định về các trường hợp ngoại lệ mà người có quyền lợi bị vi phạm vẫn có thể có quyền khởi kiện lại Chính ngoại lệ này tạo điều kiện cho họ thực hiện tốt hơn quyền khởi kiện của mình và qua đó khả năng bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ bằng con đường tố tụng được nâng lên Việc ghi nhận quyền khởi kiện lại của đương

sự trong những trường hợp nhất định cũng chính là một trong những phương thức tốt nhất bảo đảm quyền khởi kiện hữu hiệu

► Vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện

Trong các giao dịch dân sự, chủ thể tham gia quan hệ dân sự được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ dân sự Sự ổn định của các quan hệ dân sự là một trong những mục đích điều chỉnh của pháp luật dân sự Xét về góc độ pháp luật tố tụng thì một sự việc xảy ra trên thực tế đã quá lâu, khi phát sinh tranh chấp, khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền để giải quyết thì vấn đề xác minh sự thật khách quan sau đó không hề đơn giản và việc giải quyết sẽ

vô cùng khó khăn và phức tạp Do vậy, không riêng gì pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định thời hiệu khởi kiện mà pháp luật của các nước khác đều có các quy định về thời hiệu này Nếu các quy định về thời hiệu khởi kiện có tính hợp lý thì quyền khởi kiện của đương sự cũng được đảm bảo Như vậy, việc ghi nhận thời hiệu khởi kiện không chỉ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm mà còn đòi hỏi các chủ thể này tự mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn nhất định Vấn đề đặt ra là đối với các trường hợp đã hết thời hiệu khởi kiện theo luật định nhưng người có quyền khởi kiện có lý do chính đáng được pháp luật thừa nhận hoặc theo sự thỏa

Trang 23

thuận của các bên thì thời hiệu khởi kiện của người có quyền khởi kiện trên có thể được kéo dài hoặc được bắt đầu lại Đây là những trường hợp thời hiệu khởi kiện bị gián đoạn khi xảy

ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc các bên có thỏa thuận lại Ngoài ra, trong một số trường hợp thì việc quy định về thời hiệu khởi kiện sẽ là một sự bất hợp lý, không đảm bảo được quyền khởi kiện của đương sự Do vậy, pháp luật tố tụng cần ghi nhận

mở rộng thời hiệu khởi kiện cho đương sự trong những trường hợp này, nâng cao hiệu quả của pháp luật tố tụng trong việc đảm bảo quyền khởi kiện Điển hình trong các vụ án liên quan đến quyền nhân thân như quyền khởi kiện ly hôn Điều này là hoàn toàn hợp lý, bởi vì các quyền nhân thân luôn tồn tại lâu dài và đôi khi gắn bó cả đời với một cá nhân Việc ghi nhận quyền khởi kiện tuyệt đối của đương sự, không giới hạn thời gian là một phương thức đảm bảo quyền khởi kiện một cách hợp lý và chặt chẽ Ghi nhận những ngoại lệ nói trên về thời hiệu khởi kiện sẽ giúp pháp luật tố tụng dân sự phát huy vai trò là công cụ hữu hiệu nhất đảm bảo quyền khởi kiện của đương sự

1.1.3 Ý nghĩa của quyền khởi kiện

Trong đời sống hằng ngày, sự tham gia vào các mối quan hệ xã hội giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức diễn ra liên tục và phức tạp, nhất là các quan hệ pháp luật dân sự Tranh chấp phát sinh khi quyền và lợi ích hợp pháp của một trong các bên tham gia vào quan hệ xã hội

đó là điều khó tránh khỏi Pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận việc khởi kiện đến Tòa án trở thành quyền của đương sự và kèm theo đó là cơ chế đảm bảo quyền này khi quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bị vi phạm là một phương thức văn minh thay thế cho việc tự do hành xử của các chủ thể trong quan hệ dân sự có phát sinh tranh chấp đã tồn tại trong lịch

sử Quyền khởi kiện chính là quyền mà pháp luật trao cho các bên trong quan hệ pháp luật nội dung sử dụng để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước sự xâm hại của các chủ thể khác

Khởi kiện vụ án dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Không có việc khởi kiện của người có quyền khởi kiện bằng việc nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết thì không có các giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng dân sự Chỉ khi có đơn khởi kiện của các chủ thể có quyền và lợi ích bị xâm hại gửi đến thì Tòa án mới thụ lý giải quyết Hành vi gửi đơn khởi kiện đến Tòa án của chủ thể

có quyền thể hiện ý chí tuyệt đối đòi lại quyền lợi hợp pháp vốn có của mình Đặc trưng của phương thức khởi kiện là trao cho đương sự quyền tự do hành động cùng với quyền tự định đoạt của các chủ thể khởi kiện làm cơ sở cho quá trình tố tụng tiếp theo Theo đó, khởi kiện

là phương thức để các chủ thể có thể hành động ngay tức khắc để tự bảo vệ quyền dân sự

Trang 24

của mình tránh nguy cơ xâm phạm xảy ra, như khởi kiện để đòi lại tài sản, khởi kiện để yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với thực hiện quyền dân sự hoặc kiện để yêu cầu bồi thường thiệt hại Cùng với hành vi khởi kiện kịp thời, các cơ quan tố tụng sẽ dùng sức mạnh pháp lý tương ứng, hành động nhằm can thiệp kịp thời, các quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ, thiệt hại sớm được khắc phục, ngăn chặn và chấm dứt hành vi trái pháp luật và sớm khôi phục lại mối quan hệ thiện chí, cởi mở giao hòa giữa các bên trong đời sống dân sự

Bằng công cụ pháp lý, Tòa án xét xử công bằng, minh bạch góp phần bảo vệ và củng

cố pháp chế xã hội chủ nghĩa đồng thời nâng cao hiệu quả xét xử, xác lập chế độ trách nhiệm cao đối với nhân dân và tạo môi trường pháp lý an toàn Qua đó, quyền công dân được đảm bảo góp phần phát triển an sinh xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào chế độ Khi hoạt động xét xử của Tòa án kết thúc bằng một bản án thì bản án đó phải được mọi người tuyệt đối tôn trọng, các bên liên quan phải có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp hành Có như vậy thì

kỷ cương phép nước mới được đề cao và phát huy hiệu quả Không những có ý nghĩa tác động pháp lý đến các đương sự trong vụ án mà thông qua phiên tòa công khai và bản án Tòa

án tuyên có căn cứ thiết phục mà còn có giá trị giáo dục rộng rãi trong toàn xã hội Với người thật, việc thật được bản án kết luận chính xác, khách quan, nó dễ di vào lòng người và

dễ được nhân dân chấp nhận hơn là việc thuyết giáo suông về pháp luật Lòng tin vào chế

độ, vào pháp luật thì pháp luật sẽ trở thành công cụ hữu hiệu nhất mà nhân dân sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một khi bị xâm hại hay vi phạm và chính pháp luật đã đi vào lòng người như vậy nó trở thành sức mạnh đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng, pháp chế xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố và tăng cường

1.2 Lý luận chung về cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện

Một số khái niệm liên quan đến việc bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện của đương sự như khái niệm bảo đảm quyền khởi kiện, cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện, làm cơ sở lý luận nghiên cứu những nội dung liên quan Việc khởi kiện của nguyên đơn làm phát sinh VADS tại Tòa án Theo đó, những chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết VADS nào là chủ thể

có quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện Hoạt động nghiên cứu quyền khởi kiện và

cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện có ý nghĩa quan trong trong hoạt động tiến hành tố tụng,

cũng như trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân

Trang 25

1.2.1 Khái niệm bảo đảm quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện

Theo từ điển Tiếng Việt, thì “bảo đảm” nghĩa là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”9 Như vậy, bảo đảm là làm cho vấn đề đó được thực thi trên thực tế Để làm cho một vấn đề nào đó có tính khả thi thì đòi hỏi phải có một cơ chế phù hợp và vận động hài hòa các cơ chế ấy với từng vấn đề cần thực hiện

Như vậy, bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự nghĩa là làm cho các chủ thể

có quyền khởi kiện có đủ những điều kiện cần thiết, chắc chắn thực hiện được quyền khởi kiện của mình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án khi bị xâm hại hay vi phạm bằng những cơ chế cụ thể được xác định

Cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự được hiểu là tổng thể các biện pháp, các giải pháp hỗ trợ hoặc tạo điều kiện cần thiết cho đương sự có thể thực hiện được quyền khởi kiện của mình như hoạt động trợ giúp pháp lý cho đương sự, đơn giản và minh bạch hóa về thủ tục khởi kiện, miễn, giảm án phí…Mặt khác, việc bảo đảm này còn đòi hỏi

sự vận động đồng thời bởi các hoạt động của cơ quan tư pháp tiến hành tố tụng như Tòa án, Viện kiểm sát Chính các biện pháp và cơ chế này là cơ sở bảo đảm tính khả thi của quyền khởi kiện, là cơ sở để quyền khởi kiện được thực hiện một cách có hiệu quả trên thực tế nhằm bảo vệ các quyền dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động đã được pháp luật ghi nhận và bảo hộ khi các quyền này bị xâm hại hay vi phạm

Như vậy, cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự là hệ thống các biện

pháp, các giải pháp hỗ trợ cụ thể được xác định hoặc tạo điều kiện cần thiết cho đương sự thực hiện quyền khởi kiện của mình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm hay tranh chấp được thực thi một cách có hiệu quả

1.2.2 Chủ thể có quyền khởi kiện và chủ thể bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện

► Các chủ thể có quyền khởi kiện

Việc xác định chủ thể nào có quyền khởi kiện là yêu cầu tất yếu đối với pháp luật tố tụng dân sự Một chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự mà quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại trong các mối quan hệ xã hội dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, thương mại…thì họ đều có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Vậy những chủ thể này có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức Quyền khởi kiện bao hàm cả quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn, quyền phản tố của bị đơn, quyền đưa ra yêu cầu độc lập của người thứ ba - người có quyền và nghĩa vụ liên quan

9 Hồ Ngọc Đức, Từ điển Tiếng Việt, http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/ , [ngày truy cập 12/09/2014]

Trang 26

Chủ thể có quyền khởi kiện là nguyên đơn: Khi tham gia vào quan hệ dân sự, hôn nhân

và gia đình, lao động, thương mại…khi quyền và lợi ích hợp pháp của một trong các bên bị xâm hại hay vi phạm thì người có quyền và lợi ích cần được bảo vệ nộp đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết Nguyên đơn là người đầu tiên nộp đơn khởi kiện đến Tòa

án, chính họ là người đệ đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết vụ án dân sự Đó có thể là

cá nhân khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách Tòa án chỉ thụ lý vụ án và giải quyết khi có đơn khởi kiện của chủ thể có quyền Việc khởi kiện vụ án dân sự của nguyên đơn làm phát sinh mối quan

hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở tiến hành các hoạt động tiếp theo của quá trình tố như luật định

Chủ thể có quyền khởi kiện ngược lại – quyền phản tố của bị đơn: Tham gia vào quan

hệ dân sự, chủ thể nào cũng được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Tuy nhiên, một trong các bên khởi kiện trước đến Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình vì cho rằng nó

bị xâm hại hoặc vi phạm, đó là nguyên đơn Các giai đoạn tố tụng tiếp theo được tiến hành sau khi thụ lý vụ án, khi đó người bị nguyên đơn kiện là bị đơn được pháp luật tố tụng dân

sự ghi nhận quyền phản tố Phản tố là quyền của bị đơn trong vụ án dân sự, đó là việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn Bản chất yêu cầu phản tố của bị đơn là yêu cầu độc lập và bị đơn trong vụ án này hoàn toàn có thể dùng yêu cầu đó khởi kiện nguyên đơn thành một vụ án độc lập Nhưng vì xét thấy yêu cầu của bị đơn có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên có thể giải quyết chung trong cùng một vụ án Mục đích của bị đơn có yêu cầu phản tố là để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn như trường hợp bị đơn có yêu cầu với nguyên đơn và nguyên đơn cũng có yêu cầu với bị đơn Bị đơn phản tố để khấu trừ việc thực hiện nghĩa vụ với nguyên đơn hoặc cũng có thể phản tố để loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình cho nguyên đơn

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập: Người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vào quan hệ dân sự cùng nguyên đơn và bị đơn với tư cách là người thứ ba Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có quyền khởi kiện một vụ án dân sự độc lập Tuy nhiên, trong vụ án dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn, sự tham gia vào vụ án của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi đưa ra yêu cầu độc lập sẽ đảm bảo cho họ tốt hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, nếu xét thấy việc này làm cho vụ án dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn được giải quyết chính xác

và nhanh chóng hơn, yêu cầu đó của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên quan đến vụ

Trang 27

án đang được giải quyết, việc giải quyết vụ án có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Ngoài ra, pháp luật tố tụng còn ghi nhận một số chủ thể có quyền khởi kiện vì lợi ích của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước: Đó chính là quyền khởi kiện của các

chủ thể không có quyền lợi trong vụ kiện hay quyền khởi kiện của người đại diện của đương

sự Pháp luật ghi nhận cơ chế khởi kiện thông qua người đại diện là một đảm bảo quyền khởi kiện của đương sự được thực thi một cách gián tiếp thông qua người đại diện của họ Người đại diện của đương sự không phải là chủ thể tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật nội dung, khi quan hệ này có tranh chấp phát sinh thì chủ thể này không phải là đương sự trong

vụ án dân sự Họ khởi kiện hoàn toàn không vì lợi ích của mình mà vì lợi ích của đương sự, tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho đương sự theo pháp luật hoặc được đương

sự đưa ra yêu cầu độc lập chống lại cả nguyên đơn và bị đơn

► Các chủ thể bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện

Cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện của công dân là hệ thống các phương pháp hỗ trợ, tạo điều kiện cần thiết cho đương sự có thể thực hiện được quyền khởi kiện của mình như các thiết lập quy định pháp lý bảo đảm quyền khởi kiện, hoạt động trợ giúp pháp lý cho đương

sự, hoạt động tố tụng của các cơ quan tư pháp trong việc xét xử vụ án dân sự…Như vậy, những chủ thể bảo đảm quyền khởi kiện có thể là Quốc hội, Tòa án hay Viện kiểm sát

Quốc hội – Cơ quan lập pháp Nhà nước với vai trò là chủ thể thiết lập các quy định pháp lý, thừa nhận việc khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị vi phạm hay tranh chấp trở thành quyền của đương sự, kèm theo đó là hệ thống các quy định pháp lý bảo đảm việc thực hiện quyền của đương sự được thực thi hiệu quả Việc đệ đơn yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại Tòa án làm phát sinh vụ án dân sự, quá trình tố tụng được tiến hành khi Tòa án có quyết định thụ lý VADS Hoạt động tố tụng giải quyết vụ án được tiến hành bởi các cơ quan tiến hành tố tụng như Tòa án, Viện kiểm sát;

Trang 28

bằng quyền lực pháp định, các cơ quan này tiến hành giải quyết vụ án bảo vệ sự công bằng, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự được thực thi

1.2.3 Ý nghĩa nghiên cứu quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện

Khởi kiện vụ án dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Không có hoạt động khởi kiện thì không có các hoạt động của quá trình

tố tụng dân sự tiếp theo Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án dân sự khi có một trong số các chủ thể trên nộp đơn yêu cầu giải quyết vụ án dân sự Khởi kiện vụ án dân sự là phương thức trao quyền tự do hành động cùng quyền tự định đoạt của chủ thể khởi kiện, làm cơ sở tố tụng dân sự

Thứ nhất, quyền khởi kiện là một trong những phương thức để đảm bảo quyền con

người, cụ thể là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi bị chủ thể khác có hành vi xâm phạm

Cá nhân, cơ quan, tổ chức cho rằng bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp bởi chủ thể khác thì có quyền lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp và một trong những phương thức được xem là hiệu quả là khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc quy định quyền khởi kiện tạo điều kiện để các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích bị xâm phạm lựa chọn cho mình phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất

Thứ hai, quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp vừa là tiền

đề, vừa là cơ sở pháp lý để Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm khôi phục những quyền, lợi ích hợp pháp của những chủ thể bị xâm hại

Thứ ba, việc ghi nhận quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của các chủ thể và sự bảo đảm của Nhà nước trong việc thực hiện quyền này cũng nâng cao ý thức pháp luật của người dân Qua đó, hạn chế tình trạng xâm phạm quyền lợi hợp pháp của các chủ thể khác khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự Quy định về quyền khởi kiện sẽ góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, thương mại…đồng thời có ý nghĩa răn đe, ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền lợi của các chủ thể với nhau, tránh được việc tranh chấp, kiện tụng gây phiền hà, tồn kém tiền bạc và thời gian cho các chủ thể, giảm bớt công việc trong việc giải quyết kiện tụng cho các chủ thể của các cơ quan hoạt động tư pháp

Thứ tư, việc bảo đảm quyền khởi kiện có ý nghĩa thiết thực và rất quan trọng đối với

quyền lợi của công dân mà trực tiếp là những chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm

Trang 29

phạm, đảm bảo tính khả thi trong quá trình thực thi quyền này của công dân Chính thông qua cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện như một quy định hợp lý các điều kiện khởi kiện, thiết lập cơ chế hỗ trợ hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự thực hiện quyền khởi kiện, bảo đảm thông qua các quy định về thể chế và thủ tục liên quan đến hoạt động tố tụng dân

sự của các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát mà quyền khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức

sẽ được thực thi hiệu quả trên thực tế

Như vậy, hoạt động nghiên cứu quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện là

cơ sở lý luận vững chắc cho pháp luật tố tụng dân sự đặc biệt là đối với những quy định về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện, góp phần bảo vệ hiệu quả quyền công dân, tạo dựng và củng cố lòng tin của nhân dân vào Nhà nước và pháp luật, để pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất giúp người dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi chúng bị

vi phạm hay xâm hại

Ngoài ra, nghiên cứu quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện thiết lập cơ

sở lý luận pháp lý vững chắc về quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện tạo tiền

đề phát triển cho các công trình nghiên cứu khoa học sau này Góp phần hoàn thiện pháp luật, bảo đảm quyền con người và tăng cường hoạt động bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước đối với công dân

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nhằm xây dựng cơ sở lý luận khách quan, khoa học về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong pháp luật tố tụng dân sự, ở Chương 1 này, luận văn đã cố gắng phân tích, xây dựng trên cơ sở tiếp thu và kế thừa các khái niệm có liên quan của các công trình khoa học trước đó để xây dựng các khái niệm cơ bản về “Quyền khởi kiện” và “Bảo đảm quyền khởi kiện”

Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi chúng bị vi phạm Quyền này được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Để quyền khởi kiện vụ án dân sự của đương sự thực thi hiệu quả thì cùng với việc ghi nhận khởi kiện vụ án dân sự là quyền của đương sự thì pháp luật tố tụng dân sự còn ghi nhận cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự

Trang 30

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN VÀ CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN KHỞI KIỆN

▬►☼◄▬

Khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, các bên trong quan hệ này luôn mong muốn được tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, vì lợi ích cá nhân của một trong các bên mà có thể làm xâm hại đến quyền và lợi ích của bên còn lại Khi có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chủ thể có thể bảo vệ bằng các phương thức khác nhau như yêu cầu người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi đó, yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ Tuy vậy, khởi kiện vụ án dân sự là một trong các phương thức được đương sự sử dụng như công cụ hữu hiệu nhất trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp bị xâm phạm hoặc tranh chấp

Pháp luật tố tụng ghi nhận quyền khởi kiện của người có quyền lợi ích cần được bảo

vệ, kèm theo đó còn ghi nhận một hệ thống các thiết chế bảo đảm chủ thể có quyền khởi kiện thực hiện tốt nhất quyền này Nội dung Chương xoay quanh những quy định của pháp luật về quyền khởi kiện như quy định về chủ thể có quyền, phạm vi khởi kiện, chủ thể có thể

bị kiện… Bên canh đó, nội dung chương còn đề cập đến những quy định về cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện như các quy định nhằm đảm bảo cho đương sự thực hiện có hiệu quả quyền khởi kiện, bảo đảm quyền khởi kiện thông qua các quy định về hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng…; làm cơ sở pháp lý cho nội dung liên quan đến đề tài trong các phần tiếp theo của luận văn

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền khởi kiện vụ án dân sự

Khi khởi kiện vụ án dân sự, không phải mọi chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung có quyền và lợi ích bị xâm phạm hay tranh chấp đều có thể thực hiện được quyền khởi kiện VADS để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình Theo đó, pháp luật TTDS quy định chủ thể thực hiện quyền khởi kiện phải thỏa mãn điều kiện thực hiện quyền khởi kiện, phạm vi khởi kiện và hình thức của đơn khởi kiện…

2.1.1 Điều kiện thực hiện quyền khởi kiện

2.1.1.1 Chủ thể thực hiện quyền khởi kiện

Một trong các bên tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung như quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại hay phát sinh tranh chấp Do vậy, chỉ những chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung có quyền lợi hợp pháp bị xâm hại

Trang 31

hay tranh chấp mới có quyền khởi kiện VADS Để xác định tư cách pháp lý của chủ thể thực hiện quyền khởi kiện VADS, chủ thể đó phải có lợi ích cần được bảo vệ Nói cách khác, nếu không có lợi ích cần bảo vệ thì không có tư cách khởi kiện Điều 161 BLTTDS quy định “

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”10 Như vậy, pháp luật TTDS cũng đòi hỏi nguyên đơn khi khởi kiện vụ án dân sự phải là người có quyền và lợi ích bị xâm phạm hay tranh chấp Tuy nhiên, nhằm xử lý triệt để những hành vi vi phạm pháp luật, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác bị xâm phạm được bảo vệ, pháp luật tố tụng còn ghi nhận quyền khởi kiện đối với một số chủ thể khác trong một số trường

hợp Điều 162 BLTTDS quy định “1.Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp

phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân

và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định 2 Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định 3 Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.”11 Theo đó, cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi, nhiệm

vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp

do luật hôn nhân và gia đình quy định; Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định và cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách

Như vậy, chủ thể có quyền khởi kiện VADS có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

► Đối với cá nhân

Quyền khởi kiện là một nội dung của năng lực pháp luật tố tụng dân sự Quyền khởi kiện của đương sự là quyền công dân về dân sự được thừa nhận và tôn trọng Tại Điều 4, Hiến pháp 2013 ghi nhận “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn

10 Điều 161, Bộ luật tố tụng dân sự

11 Điều 162, Bộ luật tố tụng dân sự

Trang 32

trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.”12 Theo đó, mọi cá nhân đều có quyền khởi kiện, được xuất hiện từ lúc sinh ra đã có quyền khởi kiện và chấm dứt khi cá nhân đó chết, tổ chức có năng lực pháp khi khi tổ chức đăng ký thành lập và kết thúc khi tổ chức chấm dứt hoạt động13 Tuy nhiên, để tự mình bằng chính hành vi của mình định đoạt, quyết định và tiến hành việc khởi kiện tại Tòa án với tư cách là một chủ thể độc lập thì chủ thể muốn thực hiện quyền khởi kiện thì phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự đồng thời phải

có quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm Quyền lợi này có thể là của chính chủ thể đó hoặc là lợi ích của một chủ thể khác Năng lực hành vi tố tụng dân sự là một phạm trù có liên quan đến yếu tố chủ quan như khả năng nhận thức, khả năng hành động, ý chí và lý chí; là khả năng của đương sự trong quá trình tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng

Theo quy định của BLTTDS thì “Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự”14 Như vậy, năng lực hành vi tố tụng được xác định dựa trên độ tuổi và khả năng nhận thức của cá nhân và được phân chia thành các nhóm chủ thể như sau:

- Thứ nhất, đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng

dân sự, trừ người bị mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

hoặc pháp luật có quy định khác

Như vậy, ngoài việc trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi tố tụng dân sự, nếu trong trường hợp pháp luật có quy định khác thì người chưa đủ

18 tuổi vẫn có thể là người có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự hoặc đã đủ 18 tuổi trở lên vẫn có thể không có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Do đó, để xác định đúng năng lực hành vi tố tụng dân sự của một người cụ thể, ngoài quy định của BLTTDS , khi giải quyết yêu cầu khởi kiện thì Tòa án cần xem xét có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định khác về năng lực hành vi tố tụng dân sự hay không?

Quy định trên còn nảy sinh bất cập về kỹ thuật lập pháp, dễ gây nhằm lần nghĩa trong phân tích luật dẫn đến việc áp dụng chủ quan sai với ý chí của nhà làm luật Dễ thấy, phân tích cấu trúc câu trong Tiếng Việt, từ “trừ” dùng để ngăn cách hai vế ý nghĩa đối lập nhau Như vậy vế sau từ “trừ” có nghĩa bao gồm các trường hợp người từ đủ 18 tuổi trở lên không

có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Kế đến từ “hoặc” dùng để ngăn cách hai vế có nghĩa tương đối có cùng loại Có nghĩa là “pháp luật có quy định khác” cũng được hiểu là

12

Điều 4, Hiến pháp 2013

13 Nguyễn Công Bình, Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb GDVN, 2011, tr 80

14 Điều 57, Bộ luật tố tụng dân sự

Trang 33

bao gồm các trường hợp người từ đủ 18 tuổi trở lên không có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Tuy nhiên, trên thực tế có tồn tại quy định người chưa đủ 18 tuổi nhưng có đầy

đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, tiến hành khởi kiện VADS với tư cách là một chủ thể độc lập Thiết nghĩ rằng, trong tương lai những quy định của pháp luật trong những trường hợp tương tự cần chú trọng kỹ thuật lập pháp, quy định rõ ràng và chính xác hơn về thành phần ngữ nghĩa tránh hiểu nhằm và áp dụng sai

Ví dụ 1: Về trường hợp người chưa đủ 18 tuổi nhưng có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010 quy định quy định nữ từ 18 tuổi trở lên được kết hôn và theo hướng dẫn tại Nghi quyết số 02/2000/NQ – HĐTP ngày 23-12-2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ( điểm a Mục I) thì nữ bước sang tuổi 18 mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn; do đó, khi có yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình thì họ có thể tự mình tham gia tố tụng dân sự với tư cách là một chủ thể độc lập

Đây là trường hợp người chưa đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự nhưng có quyền khởi kiện với tư cách là một chủ thể độc lập Dễ thấy, quy định về độ tuổi kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010 đã phần nào mâu thuẫn với quy định pháp luật tố tụng dân sự, khiến điều này trở thành ngoại lệ của quy định năng lực hành vi tố tụng dân sự được quy định tại Khoản 3, Điều 4, BLTTDS Đây có thể được xem là bất cập trong việc quy định điều kiện tư cách chủ thể khi có sự không đồng nhất về độ tuổi giữa hai ngành luật khác nhau có liên quan Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành vào ngày 01 tháng 01 năm 2015 quy định điều kiện độ tuổi kết hôn như sau nam

từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên Như vậy, việc nâng độ tuổi kết hôn của nữ từ

“từ 18 tuổi trở lên” lên thành “từ đủ 18 tuổi” đã giải quyết được bất cập trên

Ví dụ 2: Về trường hợp người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng không có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Theo quy định tại Điều 41 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010, thì cha, mẹ có thể bị Tòa án ra quyết định không cho chăm nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con; do đó, trong thời hạn bị cấm làm người đại diện theo pháp luật cho con, thì cha mẹ không được tham gia tố tụng dân sự với tư cách là người đại diện theo pháp luật cho con trong VADS

- Thứ hai, cá nhân là người chưa đủ 6 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi tố tụng dân

sự thì không có hành vi tố tụng dân sự Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những

người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện

Trang 34

Như vậy, người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự bao gồm người chưa đủ 6 tuổi và người mất năng lực hành vi dân sự Khi quyền và lợi ích của những người này bị vi phạm hay có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền và lợi ích của họ phải do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện Vấn đề đặt ra là trong trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự

có quyền và lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ Tuy nhiên, họ không thể tự mình khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình vì theo quy định của pháp luật thì người mất năng lực hành vi dân sự không có năng lực hành vi tố tụng dân sự Việc khởi kiện bảo vệ quyền và lợi ích của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện Có thể vì một số lý do cá nhân mà người đại diện của người mất năng lực hành vi dân sự không thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người mất năng lực hành vi dân sự Vì vậy, trong trường hợp này việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người mất năng lực hành vi dân sự bị hạn chế, đôi khi không thực hiện được

- Thứ ba, cá nhân là người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thì việc bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện

Có thể thấy rằng kỹ thuật lập pháp Việt Nam còn yếu kém, tồn tại nhiều hạn chế và mâu thuẫn Đơn cử đối với hai quy định trên được quy định tại Điều 57, BLTTDS năm 2004

sửa đổi, bổ sung năm 2011, Khoản 4và Khoản 5 quy định như sau: “4 Đương sự là người

chưa đủ 6 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi tố tụng dân sự thì không có hành vi tố tụng dân sự Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện 5 Đương sự là người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.” Tuy nhiên, theo Khoản 3 thì “Đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người bị mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác” Như vậy tại

Khoản 4 và Khoản 5 sử dụng danh từ “Đương sự” để quy định cho các chủ thể là những

trường hợp người chưa đủ 18 tuổi Cùng một Điều luật nhưng quy định có sự sai lầm về mặt

chủ thể Cần có những quy định chuẩn xác hơn, hoàn thiện kỹ thuật lập pháp Việt Nam trong tương lai

- Thứ tư, cá nhân là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động theo

hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia

tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động và quan hệ dân sự đó Trong trường hợp này, Tòa án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng Đối với

Trang 35

những việc khác, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện

Cá nhân có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thực hiện quyền khởi kiện chủ yếu để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích cho mình Tuy nhiên, cũng có những trường hợp việc khởi kiện nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của người khác Trong trường hợp này người thực hiện hành vi khởi kiện không phải là người có quyền khởi kiện mà chỉ là người giúp người khác thực hiện quyền khởi kiện mà pháp luật cho phép

Việc khởi kiện của cá nhân có thể thông qua người đại diện để thay mình thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Pháp luật thừa nhận hai hình thức đại diện hợp pháp trong tố tụng dân sự là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền15 Đối với những cá nhân không có năng lực hành vi TTDS như người chưa thành niên, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì khi lợi ích bị xâm phạm hoặc tranh chấp thì việc thực hiện quyền này phải do người đại diện của họ thay mặt thực hiện Cá nhân có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì việc khởi kiện có thể do họ thực hiện trực tiếp hoặc thông qua người đại diện được ủy quyền, trừ việc ly hôn

► Đối với cơ quan, tổ chức

Pháp luật tố tụng dân sự thừa nhận quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức để họ thực hiện quyền khởi kiện bảo vệ quyền lợi của chính cơ quan, tổ chức mình Bên cạnh đó, pháp luật tố tụng còn thừa nhận quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức, khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước

- Cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ lợi ích của chính mình

Là một chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động; các cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cơ quan tổ chức mình khi bị vi phạm hoặc có tranh chấp Cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện thông qua người đại diện hợp pháp của mình Tùy thuộc mô hình, cơ cấu tổ chức được pháp luật thừa nhận mà mỗi loại hình cơ quan, tổ chức lựa chọn người đại diện khác nhau Người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức không thể tự mình tham gia tố tụng có thể ủy quyền cho người khác thay mình thực hiện việc khởi kiện

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức

So với cá nhân, phạm vi khởi kiện của cơ quan, tổ chức hẹp hơn, bởi đối với lĩnh vực tranh chấp về quan hệ hôn nhân và gia đình thì cơ quan, tổ chức không phải là một bên chủ thể của quan hệ này nên không có quyền khởi kiện trong lĩnh vực đó Một số tranh chấp

15 Điều 139, Bộ luật dân sự

Trang 36

trong quan hệ về dân sự như tranh chấp về quốc tịch, tranh chấp về bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe cũng chỉ thuộc quyền khởi kiện của cá nhân mà cơ quan, tổ chức không có quyền khởi kiện…Tuy nhiên, dù không trở thành nguyên đơn, bị đơn trong các vụ kiện về quan hệ hôn nhân và gia đình song các cơ quan, tổ chức cũng có thể trở thành đương sự với

tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong các vụ án đó tại Tòa án

- Cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước

Bên cạnh quyền khởi kiện bảo vệ lợi ích cho chính mình, pháp luật tố tụng còn ghi nhận quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước Cụ thể là:

Thứ nhất, Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi

nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về quan hệ hôn nhân và gia đình trong các trường hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định như các vụ kiện về cấp dưỡng, xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha mẹ trong trường hợp cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự

Trong trường hợp này cơ quan, tổ chức khởi kiện có tư cách là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và tư cách nguyên đơn thuộc về các chủ thể sau đây:

- Người được cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ khởi kiện vụ

án để yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại khoản 3, Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình

- Người con được cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em , Hội liện hiệp phụ nữ khởi kiện vụ án để yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Khoản 3, Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình

- Cha, mẹ được cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ khởi kiện

vụ án để yêu cầu Tòa án xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình

Thứ hai, Công đoàn cấp trên của công đoàn cấp cơ sở có quyền khởi kiện vụ án về lao

động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích của tập thể người lao động

Trong trường hợp này nguyên đơn là tập thể người lao động có quyền, lợi ích hợp pháp được yêu cầu Tòa án bảo vệ và tổ chức khởi kiện có tư cách là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn

Trang 37

Thứ ba, Cơ quan, tổ chức trong phạm vi quyền hạn của mình có quyền khởi kiện

VADS để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách

Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước;

Cơ quan, tổ chức đó phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

Một là, Cơ quan, tổ chức đó phải có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc thực hiện chức

năng quản lý Nhà nước, quản lý xã hội về một lĩnh vực nhất định;

Hai là, lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng cần yêu cầu Tòa án bảo vệ phải thuộc lĩnh

vực do cơ quan tổ chức đó phụ trách Ví dụ, cơ quan Tài Nguyên và Môi trường có quyền khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi gây ô nhiễm môi trường phải bồi thường thiệt hại, khắc phục sự cố gây ô nhiễm môi trường công cộng; hoặc cơ quan Văn hóa - Thông tin có quyền khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm di sản văn hóa thuộc sở hữu toàn dân phải bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra Trong trường hợp này cơ quan, tổ chức khởi kiện được xác định là nguyên đơn của vụ án

Tóm lại, chủ thể thực hiện quyền khởi kiện VADS có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

Theo đó, chủ thể có thể bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào các quan hệ pháp luật nội dung như quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, lao động, thương mại… bị nguyên đơn cho rằng đã có hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hoặc tranh chấp với nguyên đơn Những người này rất có thể bị khởi kiện ra Tòa án và tham gia tố tụng với tư cách bị đơn Ngoài ra, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì chủ thể khởi kiện có thể là nguyên đơn trong trường hợp họ bị bị đơn thực hiện quyền phản

tố hoặc kiện ngược lại Theo quy định tại khoản 3 Điều 56 BLTTDS thì “Bị đơn trong vụ án

dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”16

Pháp luật tố tụng ghi nhận quyền phản tố của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn Theo đó, hiểu theo nghĩa rộng thì chủ thể có thể bị kiện là một bên tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung như quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và có thể là bị đơn hoặc nguyên đơn trong vụ án dân sự khi bị đơn thực hiện quyền

16 Điều 56, Bộ luật tố tụng dân sự

Trang 38

phản tố của mình Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chỉ cho phép bị đơn có quyền phản tố đối với nguyên đơn, trong khi đó người có quyền và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thể đưa ra yêu cầu chống lại cả nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong VADS Đây là hạn chế của pháp luật, do vậy cần mở rộng thêm quyền phản tố của bị đơn đối với yêu cầu của người có quyền và nghĩa vụ liên quan, đảm bảo tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung

2.1.1.2 Vụ việc phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Việc khởi kiện vụ án dân sự phải được thực hiện theo đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án Để tạo điều kiện cho cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện đúng quyền khởi kiện VADS, Tòa án có trách nhiệm hướng dẫn và giúp đỡ cho các chủ thể thực hiện việc khởi kiện vụ án theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử về dân sự của Tòa án Tòa án chỉ thụ lý các VADS đối với các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại các Điều 25, 27, 29, 31 BLTTDS Ngoài ra, khi thụ lý vụ án, Tòa

án cũng phải xem xét vụ án đó có thuộc thẩm quyền của mình theo cấp theo quy định tại Điều 33, 34 BLTTDS và vụ việc khởi kiện theo đúng thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ theo quy định tại Điều 35 BLTTDS Việc xác định và quy định cụ thể, rõ ràng những tranh chấp thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa án và xây dựng các tiêu chí trong luật thực định nhằm phân định rạch ròi giữa thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án các cấp và Tòa án cùng cấp là

cơ sở quan trọng trong việc đảm bảo quyền khởi kiện Một mặt, quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự trong việc chủ động xác định Tòa án có thẩm quyền để thực hiện quyền khởi kiện của mình yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án Mặc khác, là cơ sở để xác định trách nhiệm của Tòa án trong việc thụ lý vụ án, tránh việc từ chối thiếu căn cứ hoặc đùn đẩy thụ lý Tòa án vì lý do thẩm quyền

Ngoài ra, trong một số trường hợp pháp luật tố tụng dân sự hiện hành đã ghi nhận quyền của đương sự trong việc thỏa thuận hoặc lựa chọn Tòa án để yêu cầu giải quyết, bảo

vệ quyền lợi của mình Việc BLTTDS ghi nhận các bên trong tranh chấp được quyền thỏa thuận, lựa chọn Tòa án gải quyết tranh chấp trong một số trường hợp nhất định đã tạo điều kiện cho các bên chủ động thực hiện tốt hơn quyền khởi kiện của mình Trong trường hợp nhiều Tòa án cùng gải quyết một vụ án dân sự thì pháp luật hiện hành đã tạo điều kiện cho nguyên đơn có quyền lựa chọn một trong các Tòa án mà họ cho là phù hợp nhất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình17 Đây là quy định tạo điều kiện cho các chủ thể tham

17 Điều 36, Bộ luật tố tụng dân sự

Trang 39

gia vào quan hệ pháp luật nội dung thực hiện tốt hơn quyền đi kiện, đảm bảo quyền khởi kiện của công dân

Tuy nhiên, như đã phân tích ở Chương 1 thì có một số trường hợp nhất định thì pháp luật cũng đặt ra những điều kiện tiên quyết về sự việc phải được một cơ quan, tổ chức nào

đó hỏa giải trước khi khởi kiện ra Tòa án Quy định này chỉ được coi là không cản trở quyền khởi kiện của chủ thể nếu có những lý do hợp lý để có thể chấp nhận

Theo quy định hiện hành thì đối với các tranh chấp về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra phải được tiến hành trên cơ sở thương lượng trước, nếu người bị oan và thân nhân người bị oan không đồng ý với quyết định bồi thường thì lúc đó họ mới có quyền khởi kiện ra Tòa án Đối với các tranh chấp lao động thì trước hết các tranh chấp này phải được giải quyết thông qua hòa giải tại Hội đồng hòa giải lao động hoặc hòa giải viên lao động, trừ một số trường hợp đặc biệt được quy định tại Điều 31 BLTTDS Về cơ bản các quy định này có những cơ sở là bảo đảm uy tín của cơ quan tư pháp, vì lợi ích lâu dài của người lao động hay bảo đảm cho Tòa án không quá tải về công việc như đã lập luận tại Chương 1 Đây có thể coi là một trong những lý do hợp lý mà quyền khởi kiện của đương sự có thể bị giới hạn

Riêng đối với các tranh chấp về quyền sử dụng đất thì theo khoản 1 Điều 202 Luật đất

đai năm 2013 thì “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải

quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở”18 Như vậy, theo quy định này thì Nhà nước khuyến khích giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở chứ không coi hỏa giải ở cơ sở là thủ tục bắt buộc trước khi đương sự khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì mọi tranh chấp đất đai đều phải thông qua thủ tục hòa giải tại UBND xã, phường trước khi khởi kiện ra Tòa

án Theo đó, Tòa án chỉ thụ lý các tranh chấp về quyền sử dụng đất đã được hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nhưng đương sự không thỏa thuận được (thỏa thuận không thành) Hướng dẫn này có phần phiến diện không hợp lý, đâu đó quyền khởi kiện của công

dân có thể bị giới hạn vì hạn chế quyền tiếp cận công lý của công dân

2.1.1.3 Vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật

Về nguyên tắc, để tránh tình trạng một vụ án giải quyết nhiều lần, có nhiều bản án hoặc quyết định cùng giải quyết một vụ án và nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định , sự

ổn định của các quan hệ xã hội, Điều 168 BLTTDS quy định nếu một vụ án đã được Tòa án

18 Điều 202, Luật đất đai 2013

Trang 40

của Việt Nam giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự không được khởi kiện lại đối với vụ án đó nữa Tuy nhiên, để đảm bảo quyền khởi kiện của đương sự, Điều 168 BLTTDS cũng quy định quyền khởi kiện lại của đương sự trong một số trường hợp:

Thứ nhất, bản án, quyết định của Tòa án bác đơn xin ly hôn

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành, Tòa án sẽ ra quyết định bác đơn xin ly hôn của người chồng xin ly hôn vợ đang có thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi Như vậy, Tòa án chỉ thụ lý đơn ly hôn của người chồng khi người chồng có ý chí tiếp tục theo đuổi việc ly hôn và đã đáp ứng đủ điều kiện khởi kiện tại khoản 2 Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình Có nghĩa là sau khi con của họ được sinh ra 1 năm sau đó hoặc đủ 12 tháng tuổi thì người chồng mới có quyền yêu cầu xin ly hôn

Thứ hai, yêu cầu xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại

Bản án, quyết định của Tòa án tuyên có hiệu lực ràng buộc các chủ thể liên quan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình Trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên về quyền nuôi con, mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại có hiệu lực thi hành rồi

và được các chủ thể liên quan thực hiện đúng với bản án, quyết định đó Tuy nhiên, trường hợp chủ thể có quyền nuôi con không muốn tiếp tục việc nuôi con nữa, từ bỏ quyền nuôi con của mình; mức cấp dưỡng hoặc mức bồi thường thiệt hại theo thời gian không còn phù hợp với vật giá hiện tại nữa, cần thay đổi hoặc ngay khi bản án, quyết định ban đầu mà Tòa án tuyên đã không phù hợp ; khi đó người có nhu cầu liên quan có quyền khởi kiện lại đối với những vụ án, quyết định được tuyên

Thứ ba, yêu cầu đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ

mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu đó do chưa đủ điều kiện

Trường hợp khi Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ do chưa đủ điều kiện Khi đương sự thực hiện việc thu thập chứng cứ, chứng minh, điều kiện cho yêu cầu mình là có căn cứ và hợp pháp thì đương

sự có quyền khởi kiện lại yêu cầu Tòa án giải quyết việc cầu đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ của mình

Ngoài ra, đương sự còn có quyền khởi kiện lại đối với các trường hợp Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c, e, g khoản 1 Điều 192 BLTTDS19; cụ thể trong các trường hợp sau: người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa

19 Điểm c,e,g Khoản 1 Điều 192, Bộ luật tố tụng dân sự quy định:

“c) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện;

Ngày đăng: 03/10/2015, 23:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG VIẾT TẮT - Quyền khởi kiện và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện trong vụ án dân sự
BẢNG VIẾT TẮT (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w