1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại điều 70 bộ luật hình sự

88 799 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì điểm đặc trưng của lứa tuổi này là phát triển chưa đầy đủ về mặt tâm, sinh lý, đang ở giai đoạn phát triển, hình thành nhân cách và chưa có suy nghĩ chính chắn trong khi quyết định hà

Trang 1

KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 37 (2011-2015)

Đề tài:

CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Giảng viên hướng dẫn:

Nguyễn Thu Hương

Sinh viên thực hiện:

Trần Vân Quỳnh MSSV: 5117424 Lớp: Luật Tư Pháp – K37

Hậu Giang, 12/2014

Trang 2

GVHD: Nguyễn Thu Hương SVTH: Trần Vân Quỳnh

LỜI CẢM ƠN Trước tiên em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô của Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, cung cấp lượng kiến thức vô cùng quý báu cho em trong chương trình Đại học Giúp em nắm vững những vốn lý thuyết để có thể tự tin vận dụng vào thực tiễn, làm hành trang vững chắc bước vào cuộc sống, cải thiện kinh tế và

có thể góp một phần nhỏ của mình vào việc xây dựng xã hội phát triển

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn – Cô Nguyễn Thu Hương, em cảm ơn Cô đã giúp đỡ em trong thời gian

em làm luận văn vừa qua Cảm ơn Cô đã tận tình sửa chữa, hướng dẫn em để em có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật như hôm nay

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, Cô trong Hội đồng bảo vệ luận văn tốt nghiệp đã cung cấp thêm những kiến thức mới để em có thể sửa chữa những chỗ còn sai sót, cũng như bổ sung để vốn kiến thức của em được vững vàng hơn Cảm ơn các Thầy, Cô đã nhiệt tình góp ý giúp em có thể hoàn thiện hơn luận văn tốt nghiệp của mình

Em xin gửi lời chúc sức khỏe và thành công đến các Thầy, Cô!

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

GVHD: Nguyễn Thu Hương SVTH: Trần Vân Quỳnh

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

GVHD: Nguyễn Thu Hương SVTH: Trần Vân Quỳnh

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

GVHD: Nguyễn Thu Hương SVTH: Trần Vân Quỳnh

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ 5

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 5

1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội và đặc điểm tâm lí người chưa thành niên phạm tội 5

1.1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội 5

1.1.1.2 Đặc điểm tâm lí của người chưa thành niên phạm tội 7

1.1.2 Nguyên tắc xử lí người chưa thành niên phạm tội 11

1.2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ 14

1.2.1 Khái niệm biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội 14

1.2.2 Các đặc điểm của biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự 16

1.3 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ 17

1.3.1 Giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 17

1.3.2 Các biện pháp tư pháp theo Bộ luật hình sự năm 1985 18

1.3.3 Các biện pháp tư pháp theo Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay 20

1.4 Ý NGHĨA CỦA CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ 21

Trang 6

GVHD: Nguyễn Thu Hương SVTH: Trần Vân Quỳnh

NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT

HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 23

2.1 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TẠI XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN 23

2.1.1 Điều kiện áp dụng 24

2.1.2 Thủ tục thi hành 24

2.1.3 Quyền của người được giáo dục 27

2.1.4 Nghĩa vụ của người được giáo dục 28

2.1.5 Việc chấm dứt chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn 30

2.1.6 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình trong thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn 32

2.1.6.1 Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân, cơ quan thi hành án hình sự Công an các cấp 32

2.1.6.2 Trách nhiệm của cơ quan tổ chức, cá nhân, và gia đình trong giám sát, giáo dục người được giáo dục 35

2.2 BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG 39

2.2.1 Điều kiện áp dụng 39

2.2.2 Thủ tục thi hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng 40

2.2.3 Quyền của người được đưa vào trường giáo dưỡng 42

2.2.4 Nghĩa vụ của người được đưa vào trường giáo dưỡng 46

2.2.5 Việc chấm dứt chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng 46

2.2.6 Trách nhiệm của các cơ quan trong việc thi hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng 48

2.2.6.1 Trách nhiệm của nhà trường 48

2.2.6.2 Trách nhiệm của Bộ công an 49

2.2.6.3 Trách nhiệm của Bộ y tế, Bộ giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ tài chính 50

2.2.6.4 Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 50

Trang 7

GVHD: Nguyễn Thu Hương SVTH: Trần Vân Quỳnh

ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI, MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 57 3.1 TÌNH HÌNH ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TẠI ĐIỀU 70 ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 57 3.2 NHỮNG HẠN CHẾ VỀ MẶT PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 63 3.2.1 Hạn chế trong quy định của pháp luật hình sự 63

3.2.1.1 Tên gọi của các biện pháp tư pháp không phản ánh đúng bản chất

thực tế 63 3.2.1.2 Phạm vi áp dụng của biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn còn hạn chế 64 3.2.1.3 Không quy định quyền và lợi ích được hưởng của gia đình trong việc giám sát người chưa thành niên phạm tội 64 3.2.1.4 Điều kiện miễn, giảm chấp hành các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội còn hạn chế 65

3.2.2 Một số hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng 66

3.2.2.1 Ít được áp dụng và hiệu quả áp dụng không cao 66 3.2.2.2 Không xác định được tiêu chí đánh giá tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội để áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng 68 3.2.2.3 Lúng túng trong áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên cho đến khi đã thành niên 69

3.3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ MẶT PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ 70 3.3.1 Hoàn thiện những quy định của pháp luật 70

người chưa thành niên phạm tội 70 3.3.1.2 Mở rộng phạm vi áp dụng của biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn 70

Trang 8

GVHD: Nguyễn Thu Hương SVTH: Trần Vân Quỳnh

3.3.1.3 Bổ sung quyền và lợi ích của gia đình trong việc giám sát giáo dục người chưa thành niên phạm tội 71 3.3.1.4 Kiến nghị bổ sung tiêu chí miễn, giảm chấp hành các biện pháp tư pháp

áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội 71 3.3.1.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội 72 3.3.1.6 Cần có văn bản hướng dẫn cụ thể hóa tiêu chí đánh giá tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội 73 3.3.1.7 Cần có quy định hướng dẫn việc áp dụng biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên cho đến khi đã thành niên 74

PHẦN KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Thế hệ trẻ, thế hệ thanh thiếu niên hay cụ thể hơn là người chưa thành niên chính là chủ nhân tương lai của đất nước Họ nắm giữ vận mệnh của đất nước trong tay, hành động của họ quyết định sự phát triển hay suy thoái của một quốc gia Để một quốc gia phát triển giàu mạnh với một nền xã hội văn minh thì ngay từ đầu phải phải tạo cho người chưa thành niên có những suy nghĩ, hướng đi và mục tiêu đúng đắn Cho nên việc chăm sóc và bảo vệ người chưa thành niên là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại không

có sự phân biệt giữa các quốc gia có chế độ xã hội và bản sắc dân tộc khác nhau Với người Việt Nam, việc chăm sóc và bảo vệ người chưa thành niên không chỉ là nhiệm vụ

mà còn là một truyền thống tốt đẹp, lâu đời của dân tộc Quyền và lợi ích của người chưa thành niên không chỉ được nghi nhận trong các văn bản pháp luật trong nước như Hiến pháp, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em,…mà còn thể hiện ở những cam kết, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Và với quan điểm bảo vệ và chăm sóc trẻ em chưa thành niên một cách toàn diện, từ việc dành cho các em những điều kiện tốt nhất về giáo dục, kinh tế, xã hội, y tế,… để các

em phát triển toàn diện đến việc áp dụng các biện pháp xử lí phù hợp khi các em vi phạm pháp luật để tạo điều kiện cho các em nhận thức đúng đắn hơn với hành vi của mình, pháp luật Việt Nam đã có những quy định tương đối toàn diện đối với quyền và nghĩa vụ của các em Các quy định của Bộ luật hình sự cũng không nằm ngoài mục đích trên Người chưa thành niên tham gia các quan hệ được luật hình sự bảo vệ với hai tư cách: một là chủ thể của tội phạm, hai là đối tượng tác động của tội phạm Trong luận văn này chỉ nghiên cứu người chưa thành niên với tư cách là chủ thể của tội phạm Người chưa thành niên là những người còn non nớt về thể chất và trí tuệ, nên việc nghiên cứu chính sách pháp luật áp dụng khi họ có hành vi vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật hình sự nói riêng là một việc làm cần thiết Những kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở quan trọng của việc hoàn thiện pháp luật, từ đó đưa ra những quy định phù hợp nhất đối với người chưa thành niên vì chính những quy định của pháp luật sẽ có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển toàn diện, ổn định của người chưa thành niên, chủ nhân tương lai của đất nước Bên cạnh đó, với đặc điểm non nớt của người chưa thành niên nên đòi hỏi

hệ thống tư pháp áp dụng với người chưa thành niên phải đảm bảo những yêu cầu khắt khe trong khi áp dụng như vấn đề quy định của pháp luật phải phù hợp với hoàn cảnh của người phạm tội, đặc điểm tâm lý của người phạm tội cũng như tính chất của tội phạm, trong đó đặc biệt chú trọng đến hạnh phúc của người chưa thành niên Đây là những yêu cầu tối thiểu của tư pháp người chưa thành niên thể hiện trong các văn kiện quốc tế về tư

Trang 10

pháp người chưa thành niên và quy định của Bộ luật hình sự nước Việt Nam Điều 69 Bộ luật hình sự quy định nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội đã thể hiện rõ mục đích của việc xử lý đối với người chưa thành niên, nhằm giáo dục, giúp đỡ

họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Nguyên tắc này đã thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nước ta Xuất phát từ những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt đó, các quy định áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự nước ta đều nhằm mục đích giáo dục, uốn nắn, răn đe những hành vi lệch lạc, làm cho họ thấy được sai phạm của mình và tự giác sửa chữa với sự giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội Thể hiện điều này, về nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội sẽ ưu tiên áp dụng các quy định riêng quy định tại Chương X - Những quy định đối với người chưa thành niên, đồng thời có thể áp dụng những quy định khác trong phần chung của Bộ luật nếu không trái với những quy định của chương này Điều này có nghĩa là, trong trường hợp nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên, Tòa án ưu tiên áp dụng một trong các biện pháp tư pháp quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự 1999 Biện pháp tư pháp mang ý nghĩa lớn trong việc xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, thể hiện tính giáo dục cao, đồng thời thể hiện được đường lối xử lý mang tính nhân đạo, có sự cân nhắc tới đặc điểm tâm lý của người phạm tội

Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật, biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội còn tồn tại một số điểm hạn chế như hiệu quả áp dụng của biện pháp không cao, cơ chế phân công, theo dõi không chặt chẽ, việc tái hòa nhập của người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng còn khó khăn, phạm vi áp dụng còn hạn chế…, chưa tương thích với các chuẩn mực quốc tế Xuất phát từ những điểm hạn chế trên cho thấy cần phải nâng cao hiệu quả của các biện pháp

tư pháp đang được quy định trong Bộ luật hình sự Đồng thời, cần nghiên cứu để đưa ra giải pháp hoàn thiện các biện pháp tư pháp nhằm có những biện pháp áp dụng hiệu quả nhất đối với người chưa thành niên phạm tội Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về biện pháp tư pháp là một việc làm quan trọng và

mang tính cấp thiết, đây cũng chính là lý do người viết lựa chọn đề tài "Các biện pháp tư

pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự " làm luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.1 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như những nội dung cơ bản của hệ thống biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo

Trang 11

luật hình sự Việt Nam trên cơ sở đánh giá thực tiễn áp dụng các biện pháp này để kiến nghị việc hoàn thiện các quy định về biện pháp tư pháp trong luật hình sự nước ta

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu về lý luận để làm rõ khái niệm, đặc điểm cơ bản của biện pháp tư pháp

áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

- Phân tích các nguyên tắc áp dụng biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội Từ đó chỉ ra những mặt hạn chế trong quy định của pháp luật về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

- Đánh giá việc áp dụng các biện pháp tư pháp được áp dụng đối với người chưa thành niên trong thực tiễn áp dụng pháp luật

3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như trên, luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

- Lí luận chung về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

- Quy định của pháp luật về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

- Các hạn chế trong quy định của pháp luật và hạn chế trong thực tiễn khi áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội,

- Các giải pháp mang lại lợi ích nhằm nâng cao hiệu quả cho việc áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu đề tài này tập trung nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến

các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội như: cơ sở lí luận của các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, nội dung các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại điều 70

Bộ luật hình sự hiện hành Qua quá trình nghiên cứu người viết cũng đưa ra một số tồn

Trang 12

tại và hướng đề xuất góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm đạt được mục đích của việc xử lí người chưa thành niên phạm tội

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của triết học Mác-Lênin, cơ sở Đường lối của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, về cải cách tư pháp trong thời kỳ mới

Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể để làm rõ những nội dung cần nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp thống kê

5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: cơ sở lí luận của các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự

Chương 2: nội dung các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại điều 70 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành

Chương 3: thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, một số hạn chế và giải pháp hoàn thiện

Trang 13

đó là những hình phạt và mang tính ít nghiêm khác hơn hình phạt đó là các biện pháp tư pháp được pháp luật hình sự điều chỉnh bằng những quy định riêng Những quy định riêng đó như thế nào mà chỉ người chưa thành niên phạm tội mới được áp dụng, để thể

hiện rõ hơn trước tiên phải tiềm hiểu về nền móng cơ bản đó là “Cơ sở lí luận của các

biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội”

1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội và đặc điểm tâm lí người chưa thành niên phạm tội

1.1.1.1.Khái niệm người chưa thành niên phạm tội

Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, chưa

có khả năng nhận thức, kiểm soát được suy nghĩ, hành vi của mình, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được

Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 cũng có quy định: “Trong phạm

vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”… Các văn bản trên đều quy

định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên cũng được xác định thống nhất trong Hiến Pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự hiện hành, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, và một số văn bản quy phạm pháp luật khác Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể

Trang 14

Tóm lại, khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong

các văn bản pháp luật của từng quốc gia Qua đó, có thể khái niệm: Người chưa thành

niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên.1

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Về nguyên tắc, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc tín ngưỡng tôn giáo, thành phần địa vị xã hội Tuy nhiên đối với trường hợp người phạm tội là người chưa thành niên, Nhà nước có chính sách riêng, căn cứ vào đặc điểm đặc thù của sự phát triển tâm sinh lí con người ở

độ tuổi này cũng như đường lối chính sách, pháp luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ

em

Không phải hành vi nào của người chưa thành niên vi phạm pháp luật thì đều được xem là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ có những người chưa thành niên thỏa điều kiện được quy định tại Điều 68 Bộ luật hình sự hiện hành thì mới xem xét là

người phạm tội hay không Theo quy định tại Điều 68 Bộ luật hình sự hiện hành: “ Người

chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của chương này, đồng thời theo quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này”

Vì vậy, để một người chưa thành niên được xem là người phạm tội thì trước hết họ phải là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi và thực hiện ít nhất một hành vi mà hành vi

đó là hành vi trái với pháp luật hình sự thì mới xem xét vấn đề họ có phải là người phạm tội hay không theo như quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung

năm 2009 : “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu

trách nhiệm hình sự”

Từ quy định trên, người chưa thành niên phạm tội là người thỏa các điều kiện sau đây:

- Họ là người chưa thành niên, có độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi;

- Đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự;

1 Bùi Thành Trung, Trường Đại Học Cảnh Sát Nhân Dân, Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm tội phạm

do người chưa thành niên gây ra - cơ sở có tính pháp lí quan trọng để phòng ngừa, điều tra tội phạm và xử lí người chưa thành niên phạm tội, http://www.pup.edu.vn/vi/Dien-dan-phap-luat/Khai-niem-nguoi-chua-thanh-nien-va- khai-niem-toi-pham-do-nguoi-chua-thanh-nien-gay-ra -co-so-co-tin -394 , [truy cập ngày 18-7-2014]

Trang 15

- Đã thực hiện hành vi mà pháp luật hình sự quy định là tội phạm;

- Có lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội;

Như thế, người viết có thể đúc kết khái niệm về người chưa thành niên phạm tội như

sau: người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực

trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm một cách cố ý hoặc vô ý

Khái niệm người chưa thành niên phạm tội không đồng nhất với khái niệm khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra nhưng hai khái niệm đó có mối liên hệ

chặt chẽ với nhau Như ông Bùi Thành Trung đã đưa ra khái niệm “Tội phạm do người

chưa thành niên gây ra là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bởi người dưới

18 tuổi và người đó phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi và lỗi của mình theo phán xét của cơ quan tiến hành tố tụng ” 2 Có thể thấy khái niệm người chưa thành

niên phạm tội là khái niệm dùng để chỉ một dạng chủ thể đặc biệt (người chưa thành niên) thực hiện hành vi phạm tội, còn khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây

ra là khái niệm dùng để chỉ tội phạm đã được thực hiện bởi một dạng chủ thể đặc biệt (người chưa thành niên)

1.1.1.2 Đặc điểm tâm lí của người chưa thành niên phạm tội

Thực tế cho thấy lối sống, đạo đức và nhân cách của con người được hình thành từ tuổi thơ ấu và định hình rõ nét từ tuổi chưa thành niên Người chưa thành niên sẽ dần dần phát triển về mặt tâm lí, mặt sinh lí, mặt nhận thức Đó là khuôn mẫu cho nhân cách của chính người đó trong cuộc sống sau này Trong giai đoạn phát triển, nếu người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội thì hành vi phạm tội đó luôn chịu sự chi phối bởi những yếu tố đời sống tâm lí và đặc điểm cá nhân trong hoàn cảnh xã hội của họ….Vậy đặc điểm tâm lí nào của người chưa thành niên là nguyên nhân dẫn tới đối tượng này thực hiện hành vi phạm tội Người viết sẽ phân tích một số đặc điểm tâm lí của người chưa thành niên phạm tội như sau:

- Về trạng thái cảm xúc:

Người chưa thành niên là người đang trong quá trình phát triển về cả sinh lí lẫn tâm

lí, ý thức mà trong nhiều trường hợp chính sự thay đổi đó còn gây sóc cho bản thân lứa

2 Bùi Thành Chung, Trường Đại học cảnh sát nhân dân,Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra - cơ sở có tính pháp lí quan trọng để phòng ngừa, điều tra tội phạm và xử lí người chưa thành niên phạm tội, http://www.pup.edu.vn/vi/Dien-dan-phap-luat/Khai-niem-nguoi-chua-thanh-nien-va-

Trang 16

tuổi này Đây là giai đoạn diễn ra những biến cố đặc biệt đó là sự phát triển về cơ thể mất cân bằng nên đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng trong cảm xúc của người chưa thành niên Sự phát triển không cân bằng của hệ tim và mạch Tim phát triển nhanh hơn các mạch máu đã gây ra sự thiếu máu trong từng bộ phận trên vỏ não đôi khi còn làm rối loạn chức năng trong hoạt động của hệ tim mạch Do đó người chưa thành niên có cảm giác mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu, sức làm việc suy giảm, dễ bị kích động, dễ nỗi nóng… Đồng thời, tuyến nội tiết ở người chưa thành niên hoạt động mạnh (đặc biệt là tuyến sinh dục và tuyến giáp trạng) gây ra mất cân bằng trong hệ thống thần kinh trung ương, dễ đưa

họ đến những cảm xúc mạnh, những phản ứng nóng nảy vô cớ, những hành vi bất thường.3 Theo số liệu điều tra, phần lớn người chưa thành niên có hành vi phạm tội cố ý gây thương tích (81,82%), giết người (75%) đều cho rằng, việc các em phạm tội trong nhiều trường hợp là do nóng nảy, bị kích động và không kiềm chế được bản thân Ví dụ :

vụ án của Trần Văn D và Nguyễn Văn T (trú ở xã Xuân Thành, Nghi Xuân, Hà Tỉnh) phạm tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự hiện hành Tối ngày 12/8/2012, trong khi đang uống cà phê, D nói với T chuyện ban chiều có xô xát với

K và bị bọn K dọa tối nay sẽ đánh trả thù Thấy bạn bị bắt nạt T nỗi máu anh hùng trả thù cho bạn D và T đã lấy trộm chiếc kéo của chủ quán mang theo để phòng thân rồi đi tìm K “nói chuyện” Bằng chiếc kéo đó D và T đã đâm K gây thương tích 56% Với hành

vi phạm tội này D và T đã phải nhận bản án 4 năm tù.4 Hay trường hợp của em T.Đ.P sự việc bắt đầu trong lần đi học, một cậu bạn ngổ ngáo cùng lớp đã gây gổ với P Sẵn lúc đó đang cằm con dao rọc giấy trên tay, P đã đâm bạn một nhát vào bụng làm bạn chết Trước

đó hai người không có mâu thuẫn gì Do chỉ trong lúc nóng nảy, không kiềm chế mà T.Đ.P đã phạm tội giết người Như vậy sự mất cân bằng tạm thời về trạng thái cảm xúc của người chưa thành niên là một nguyên nhân có thể dẫn tới hành vi phạm tội khi họ không làm chủ được bản thân mình

- Về nhu cầu khám phá cái mới:

Tìm hiểu, khám phá cái mới là một trong những nhu cầu của các em ở lứa tuổi chưa thành niên Các em muốn khám phá mọi thứ xung quanh mình, muốn tiếp thu, học hỏi những kinh nghiệm trong cuộc sống, những kiến thức của người lớn tuổi…Thêm vào đó, trong bối cảnh phương tiện thông tin đại chúng đang phát triển mạnh mẽ và hiện đại như ngày nay thì khát khao hiểu biết của các em không chỉ trong phạm vi cuộc sống xung quanh mình, đất nước mình mà các em còn khám phá cuộc sống trên nhiều quốc gia khác Nhu cầu tìm tòi, khám phá cái mới giúp cho các em nâng cao được nhận thức và

3 Ủy ban chăm sóc bảo vệ trẻ en Việt Nam, tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển (RADDA BARNEN), tài liệu tham

khảo về công tác với trẻ em làm trái pháp luật, Hà Nội,1996, tr.62

4Đặng Thanh Nga, Một số đặc điểm tâm lí của người chưa thành niên phạm tội, tạp chí Luật học, số 1, 2008, tr 40

Trang 17

hiểu biết của mình Đây là điều quan trọng đối với việc phát triển nhân cách, đạo đức, lối sống của lứa tuổi chưa thành niên Tuy nhiên cần lưu ý rằng, các em không chỉ có nhu cầu khám phá cái mới mà bên cạnh đó các em còn tìm tòi, thử nghiệm cái mới trong đó

có cả những cái thiếu lành mạnh, trái chuẩn mực chung của xã hội Các em rất hiếu động,

tò mò, hay bắt chước nên rất dễ bị dụ dỗ, dễ bị lôi cuốn vào những hoạt động tiêu cực Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của các em Vấn đề này được lí giải như sau: Với người chưa thành niên, thì đây là độ tuổi mới lớn nên chưa định hình về tính cách, chúng dễ dàng hành động bộc phát hay tò mò bắt chước Khả năng học đòi, bắt chước của các em rất lớn và mau chóng Các em bắt chước theo những

gì mình cho là hay, lạ và hấp dẫn, các em còn bắt chước hình mẫu trong cả đời sống thực

và trong phim ảnh, sách, báo… Do kinh nghiệm sống còn non nớt, các em lại khó phân biệt được cái nào tốt cái nào xấu nên các em có thể bắt chước cái xấu mà không biết lâu dài sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các em

Như vậy, nhu cầu khám phá cái mới của người chưa thành niên là nhân tố cần thiết đối với sự phát triển về nhân cách và nhận thức Tuy nhiên sự tò mò và khám phá cái mới cũng có thể trở thành nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của các em, nếu các em thiếu

sự hướng dẫn, giám sát của gia đình và xã hội, nếu các em không phân biệt được đâu là cái tốt đâu là cái xấu

- Về nhu cầu độc lập:

Đặc điểm tâm lí nổi bậc, đặc trưng nhất mà ta thấy ở lứa tuổi này là sự biểu hiện của nhu cầu độc lập Nhu cầu độc lập là mong muốn tự hành động, tự đưa ra quyết định theo cách phù hợp với nhận thức của bản thân hơn là để thỏa mãn đòi hỏi của xã hội, môi trường hay của người khác Nhu cầu độc lập có thể được hiểu là việc cá nhân tự hành động và tự đưa ra quyết định theo ý kiến riêng mà không muốn bị ảnh hưởng của người khác.5 Có thể nói nhu cầu độc lập là sự phát triển tất yếu và cần thiết ở lứa tuổi chưa thành niên Tuy vậy, vấn đề đặt ra là không phải nhu cầu độc lập nào của lứa tuổi chưa thành niên cũng đều là mặt tích cực mà bên cạnh những mặt tích cực đó bao giờ cũng có mặt tiêu cực kèm theo một khi nhu cầu độc lập đó phát triển theo hướng thái quá Nhu cầu độc lập có tính chất tiêu cực sẽ trở thành nguyên nhân dẫn tới các hành vi phạm tội của người chưa thành niên, cụ thể:

Ở lứa tuổi chưa thành niên, nhu cầu độc lập thái quá thường biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các hành vi ngang bướng, cố chấp, bảo thủ, dễ tự ái, khoe khoang, hành động bộc phát, mang tính phiêu lưu mạo hiểm Nhiều em muốn hành động như các anh hùng

5 Đặng Thanh Nga, Một số đặc điểm tâm lí của người chưa thành niên phạm tội, tạp chí Luật học, số 1, 2008, tr 40

Trang 18

trong các bộ phim… đôi khi còn sử dụng hành vi bạo lực để khẳng định mình… Do có ý thức tự trọng và mong muốn được tôn trọng như người lớn, người chưa thành niên thường có tâm lí “phóng đại” khả năng của mình, đánh giá chúng quá cao so với hiện thực Ví dụ, các em cho rằng hành vi đua xe trái phép là những màn biểu diễn độc đáo, phô diễn năng lực bản thân mà ít có ai làm được…

- Về nhận thức pháp luật:

Có thể nói, lứa tuổi chưa thành niên là giai đoạn phát triển như “vũ bảo” về mặt sinh học nhưng lại thiếu cân đối về mặt trí tuệ Các em thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống, đặc biệt là khả năng nhận thức về mặt pháp luật còn hạn chế Nhận thức và quan niệm về pháp luật chưa đầy đủ hoặc bị hiểu lệch lạc theo hướng chủ quan của các em Khi các em không có ý thức pháp luật đúng đắn thì xu hướng dẫn tới các hành vi phạm tội là rất cao Thực tế cho thấy rằng, nhiều người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng lại không biết rằng mình đã phạm tội, không thấy được hết tính nguy hiểm của hành vi đó Các em chỉ suy nghĩ đơn giản rằng đó là hành vi hợp pháp, là tự vệ hoặc đang bảo vệ quyền lợi của mình Một phần không nhỏ người chưa thành niên lại thực hiện hành vi phạm tội chỉ để thỏa mãn nhu cầu, hứng thú không đúng đắn của cá nhân, không quan tâm đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội Một số khác lại cho rằng, hành

vi phạm tội như trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cố ý gây thương tích… là đúng đắn và cần thiết để góp phần tạo công bằng trong xã hội.6

Như vậy, ý thức pháp luật là nhân tố rất quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của người chưa thành niên Tuy nhiên cần lưu ý rằng các em không có được ý thức pháp luật đúng đắn thì nguy cơ dẫn tới hành vi phạm tội là rất cao

Nhìn chung ở lứa tuổi này, người chưa thành niên chịu sự tác động chủ yếu của môi trường sống Sự pháp triển về nhân cách và sự hình thành các phẩm chất thuộc về nhân thân của họ chịu sự chi phối có tính chất quyết định của nền giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội Sống trong môi trường sống lành mạnh, được chăm sóc bởi nền giáo dục khoa học, tiến bộ, người chưa thành niên sẽ có điều kiện phát triển thể lực, hình thành nhân sinh quan và thế giới quan phù hợp với những giá trị xã hội đương đại Ngược lại, trong một môi trường xấu, không lành mạnh, người chưa thành niên dễ bị tiêm nhiễm bởi những thói hư tật xấu, bị tha hóa dần về nhân cách, nghiêm trọng hơn là trở thành người phạm tội.7

Trang 19

1.1.2 Nguyên tắc xử lí người chưa thành niên phạm tội

Như chúng ta đã biết, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước ta được coi là sự nghiệp lớn của đất nước, của dân tộc Ngoài ra, một trong những quan điểm xuyên suốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là - coi con người vừa

là mục tiêu và là động lực của sự phát triển đất nước, trong đó trẻ em – người chưa thành niên được ví như là búp măng non, tương lai của dân tộc, chủ nhân tương lai, kế tục sự nghiệp phát triển của đất nước Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá độ lên

chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhấn mạnh: “…Chú trọng cải thiện

điều kiện sống, lao động và học tập của thanh niên, thiếu niên, giáo dục và bảo vệ trẻ em…”.8 Do đó, xét riêng trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta thì Hiến pháp và pháp luật luôn coi trẻ em, người chưa thành niên là đối tượng cần được bảo vệ và chăm sóc khi họ là chủ thể của tội phạm hoặc khi họ là đối tượng tác động của tội phạm Xuất phát từ đường lối vận động, giáo dục thanh thiếu niên của Đảng và Nhà nước ta, từ những đặc điểm tâm, sinh lí của người chưa thành niên phạm tội (đã phân tích ở mục 1.1.1.3) nên đường lối xử lí hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội cũng phải tuân theo những quy định riêng và nguyên tắc riêng Chương X Phần chung của Bộ luật hình sự được quy định thành các nguyên tắc cơ bản có tính chất chỉ đạo, xuyên suốt quá trình khi xử lí người chưa thành niên phạm tội Trong đó, Điều 69 của Bộ luật hình sự hiện hành quy định nội dung sáu nguyên tắc xử lí người chưa thành phạm tội Đây là những nguyên tắc không chỉ thể hiện chính sách hình sự nhân đạo và khoan hồng của nước ta mà còn đảm bảo mục đích chủ yếu trong xử lí người chưa thành niên phạm tội là

“ giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên sửa chữa sai lầm”…mà còn mang tính định

hướng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình xử lí đối với người chưa thành niên phạm tội.9

Cụ thể như sau:

- Nguyên tắc thứ nhất – việc xử lí người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm vào

giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội 10 Nguyên tắc này đặt ra mục đích chủ yếu và trước hết của việc xử lí

người chưa thành niên phạm tội là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, tạo điều kiện cho họ phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Vì vậy, việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội phải hướng tới mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, tạo điều kiện cho họ hòa nhập với cộng đồng, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội mà không nhằm mục đích trừng trị họ

8 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà

Nội, 2011, tr.79-80

9 Nguyễn Đức Mai, Bình luận khoa học BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 phần chung, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.220

10 Khoản 1, Điều 69, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

Trang 20

Trong điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm Ngoài

ra cần phải là rõ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm để từ đó có thể áp dụng những biện pháp đấu tranh, phòng ngừa chung và phòng ngừa cá biệt đối với người chưa thành niên phạm tội Mặc khác, giúp người chưa thành niên nhận thức rõ lỗi của mình và sửa chữa để thành công dân có ích cho gia đình và xã hội trong tương lai

- Nguyên tắc thứ hai – Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách

nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan tổ chức nhận giám sát giáo dục.11 Đây là nguyên tắc thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo đặc biệt – miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội Ở độ tuổi này người chưa thành niên vẫn chưa phát triển đầy đủ về cả thể lực và trí lực, pháp luật hình sự không coi người chưa thành niên có năng lực trách nhiệm hình sự như người đã thành niên Do vậy, ngoài những điều kiện chung để có thể xem xét, miễn trách nhiệm hình sự như đã quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự hiện hành, người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu thỏa các điều kiện sau:

+ Tội phạm người chưa thành niên thực hiện phải là tội ít nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn cho xã hội;

+ Người chưa thành niên phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tức là

có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên được quy định trong luật (khoản 1 Điều 46 BLHS hiện hành), trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật ( Nghị quyết

số 01/HĐTP ngày 08-4-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao);

+ Người chưa thành niên được gia đình hoặc cơ quan tổ chức nhận giám sát, giáo dục: quy định này nhằm xác định trách nhiệm phối hợp giữa gia đình, cơ quan, tổ chức và

xã hội trong việc giáo dục người chưa thành niên phạm tội

- Nguyên tắc thứ ba – việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên

phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết

và phải căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.12 Theo nguyên tắc này, chỉ trong trường hợp cần thiết mới truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Ngay cả khi cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa

11 Khoản 2, Điều 69, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

12 Khoản 3, Điều 69, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

Trang 21

thành niên phạm tội thì không có nghĩa là phải áp dụng hình phạt đối với họ mà có thể áp dụng các biện pháp tư pháp thậm chí miễn hình phạt nếu có căn cứ Để xác định trường hợp nào cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, phải căn cứ vào loại tội phạm mà họ thực hiện, tính chất, mức

độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm cùng với những yếu

tố khác (như nhân thân, sự ăn năn hối cải của người phạm tội…) và các tình tiết khác của

vụ án Việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ là biện pháp cuối cùng khi áp dụng các biện pháp tư pháp không đạt được mục đích, giáo dục cải tạo.13

- Nguyên tắc thứ tư – nếu thấy không cần thiết áp dụng hình phạt đối với người

chưa thành niên phạm tội, thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp là giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng.14 Việc xử lí người chưa thành niên phạm tội được tiến hành theo những nguyên tắc đặc biệt, trên tinh thần lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, chỉ đưa những người này ra xét xử và áp dụng hình phạt đối với họ trong những trường hợp thật cần thiết Nếu thấy không cần thiết – nếu có căn

cứ để Tòa án không cần áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội (căn

cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi, nhân thân, yêu cầu của việc phòng ngừa…) thì Tòa án có thể phải áp dụng một trong các biện pháp tư pháp là giáo dục tại

xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng Hai biện pháp tư pháp này được quy định cụ thể tại Điều 70 của Bộ luật hình sự hiện hành

- Nguyên tắc thứ năm – không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người

chưa thành niên phạm tội.15

Việc áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với

người chưa thành niên phạm tội không chỉ trái với nguyên tắc nhân đạo mà còn không đạt được mục đích chủ yếu đặt ra đối với việc xử lí người chưa thành niên phạm tội Phải nói rằng, mặc dù không tước bỏ cuộc sống của người phạm tội như hình phạt tử hình, nhưng hình phạt tù chung thân cũng là loại hình phạt mang tính trừng trị nhiều hơn là giáo dục, cải tạo người phạm tội Vì vậy không được phép áp dụng hai loại hình phạt này đối với họ Trong trường hợp cần thiết phải áp dụng hình phạt, thì mức án mà người chưa thành niên phạm tội chịu phải nhẹ hơn mức án có thể áp dụng đối với người đã thành niên phạm một tội có cùng tính chất và mức độ nguy hiểm Hình phạt được áp dụng cũng cần phải phù hợp với đặc điểm nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm đối với lứa tuổi đang trong quá trình phát triển và hình thành nhân cách này Ngoài ra, thể

13 Nguyễn Đức Mai, Bình luận khoa học BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (phần chung), Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr 222

14

Khoản 4, Điều 69, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

15 Khoản 5, Điều 69, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

Trang 22

hiện nội dung nhân đạo, Bộ luật hình sự cũng quy định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội

- Nguyên tắc thứ sáu – án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi

chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm.16 Đây là nguyên tắc không những thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của nhà nước trong chính sách hình sự của nhà nước ta đối với nguời chưa thành niên phạm tội mà còn nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để người chưa thành niên sớm hòa nhập với cộng đồng xã hội, phát triển lành mạnh về thể chất lẫn tinh thần, tránh sự thành kiến của xã hội và sự mặc cảm của bản thân người chưa thành niên

1.2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Mục đích chủ yếu của các nguyên tắc xử lí người chưa thành niên có hành vi nguy hiểm cho xã hội17

là nhằm giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội Đây là các nguyên tắc bao trùm, mang tính chỉ đạo của Đảng và nhà nước ta trong quá trình xử lí vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên Vì điểm đặc trưng của lứa tuổi này là phát triển chưa đầy đủ về mặt tâm, sinh lý, đang ở giai đoạn phát triển, hình thành nhân cách và chưa có suy nghĩ chính chắn trong khi quyết định hành vi của mình dẫn đến có những hành vi sai phạm, lệch chuẩn, thậm chí nguy hiểm cho xã hội đến mức phải xử lí về hình

sự nên Bộ luật hình sự đã dành riêng Điều 70 để quy định về các biện pháp tư pháp áp

dụng riêng đối với người chưa thành niên phạm tội để thay thế cho hình phạt “nếu thấy

không cần thiết áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp là giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng”,18 thể hiện đường lối, chính sách nhân đạo và khoan hồng của Đảng

và Nhà nước ta Để làm rõ lí luận chung về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, người viết sẽ đưa ra khái niệm và các đặc điểm của các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

1.2.1 Khái niệm biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Hiện nay chưa có một khái niệm chính thức nào định nghĩa về biện pháp tư pháp Theo giáo trình luật hình sự Việt Nam của trường Đại Học Luật Hà Nội, biện pháp tư

16 Khoản 6, Điều 69, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

17

Mục 1.1.2, Nguyên tắc xử lí người chưa thành niên phạm tội, tr 12

18 Khoản 4, Điều 69, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

Trang 23

pháp được hiểu là “các biện pháp được Bộ luật hình sự quy định, do cơ quan tư pháp áp

dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt”.19

Theo GS Lê Cảm biện pháp tư pháp được hiểu đầy đủ hơn, đó là: “Biện pháp cưỡng

chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt do pháp luật hình sự quy định

và được cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể áp dụng đối với người phạm tội nhằm hạn chế quyền, tự do của người

đó hoặc hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt”.20

Như vậy qua hai khái niệm trên có thể hiểu một cách tương đối cụ thể về biện pháp tư pháp với những dấu hiệu sau:

- Đây là một biện pháp thể hiện trách nhiệm hình sự của một cá nhân khi người đó

có hành vi phạm tội;

- Là một chế tài ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, do pháp luật hình sự quy định;

- Có thể áp dụng trong những giai đoạn tố tụng khác nhau;

- Là biện pháp mang tính thay thế hoặc hỗ trợ hình phạt

Từ những khái niệm khoa học trên về biên pháp tư pháp, có thể đưa ra cách hiểu đơn

giản về biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội như sau: “biện

pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, được cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng nhằm hỗ trợ hay thay thế hình phạt”.21

Theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành thì ngoài hai biện pháp được quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự, bao gồm: biện pháp giáo dục tại xã phường thị trấn và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được áp dụng riêng đối với người chưa thành niên phạm tội với mục đích thay thế hình phạt thì các biện pháp khác bao gồm các biện pháp tư pháp

- Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 41), Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi (Điều 42), Bắt buộc chữa bệnh (Điều 43) cũng được áp dụng Đây là các biện pháp tư pháp áp dụng chung đối với người chưa thành niên và người đã thành niên có mục đích (hay tính chất) là hỗ trợ hay thay thế hình phạt Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của bài viết này người viết chỉ đề cập đến hai biện pháp quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự (biện pháp giáo dục tại xã,

19

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003, Tr 196

20Lê Cảm, Sách chuyên khảo Sau đại học, Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), Nxb

Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2005

21Nguyễn Thị Tố Nga, Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của

pháp luật hình sự, http://dl.vnu.edu.vn/bitstream/11126/1574/1/00050001039.pdf , [ngày truy cập 9-9- 2014].

Trang 24

phường, thị trấn và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng), cho nên người viết sẽ đưa cách hiểu đơn giản về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự này Cụ thể: đây là biện pháp thể hiện trách nhiệm hình sự của một cá nhân khi người đó có hành vi phạm tội; là một chế tài ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, do pháp luật hình sự quy định; các biện pháp tư pháp

áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ do duy nhất một chủ thể áp dụng , đó

là cơ quan có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự - Tòa án; Là biện pháp mang tính thay thế hình phạt

1.2.2 Các đặc điểm của biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự

Xuất phát từ khái niệm đã nêu trên và phân tích các quy định có liên quan trong Bộ luật hình sự có thể thấy được một số đặc điểm của biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội như sau:

Thứ nhất, biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là những biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt, do

Bộ luật hình sự quy định Bộ luật hình sự quy định “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế

nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội” 22 cho nên so sánh về mức độ nghiêm khắc của hình phạt với các biện

pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội thì các biện pháp tư pháp

áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội có mức độ nghiêm khắc ít hơn hình phạt

vì hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước

Thứ hai, cũng với tính chất là một dạng của trách nhiệm hình sự và là một hình thức

để thực hiện trách nhiệm hình sự, các biện pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ xuất hiện khi có sự việc phạm tội do người chưa thành niên thực hiện

Thứ ba, mục đích áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội là nhằm thay thế cho hình phạt Khi xét thấy việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là không cần thiết, mà việc áp dụng các biện pháp tư pháp là đủ sức giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm, cũng như căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người chưa thành niên và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ áp dụng các biện pháp này đối với người chưa thành niên phạm tội để thay thế cho hình phạt thể hiện chính sách hình sự nhân đạo và khoan hồng của nước ta mà còn đảm bảo mục đích chủ yếu

22 Điều 26, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

Trang 25

trong xử lí người chưa thành niên phạm tội là “giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên

sữa chữa sai lầm”

Thứ tư, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội không để lại hậu quả án tích cho người chưa thành niên phạm tội Theo khoản 2 Điều 77

Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “Người chưa thành niên phạm tội nếu được áp dụng

các biện pháp tư pháp quy định tại điều 70 Bộ luật này thì không bị coi là có án tích”

Như vậy, khi người chưa thành niên phạm tội được cơ quan tiến hành tố tụng quyết định

áp dụng một trong hai biện pháp tư pháp quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự hiện hành (biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng hoặc biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn) thì người chưa thành niên phạm tội sẽ không bị coi là có án tích

Thứ năm, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ

do duy nhất một chủ thể áp dụng, đó là cơ quan có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự - Tòa

án Theo khoản 1 Điều 70 Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “Đối với người chưa

thành niên phạm tội, Tòa án có thể quyết định áp dụng một trong các biện pháp tư pháp

có tính giáo, dục phòng ngừa sau đây: a Giáo dục tại xã phường thị trấn; b Đưa vào trường giáo dưỡng” Từ quy định này có thể thấy cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết

định áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ có thể là Tòa án

Cuối cùng, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

có tính độc lập tương đối và có tính cưỡng chế cần thiết, vì ở một chừng mực nào đó các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 70

Bộ luật hình sự còn cao hơn so với việc áp dụng hình phạt bổ sung, vì ngay cả hình phạt

bổ sung còn không được áp dụng độc lập mà phải áp dụng kèm theo hình phạt chính.23

1.3 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ

1.3.1 Giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985

Trước những năm đầu thế kỷ XX thì vấn đề về xử lí người chưa thành niên phạm tội bằng các biện pháp giáo dục, phòng ngừa chỉ xuất hiện một cách mờ nhạt chưa được quy định trong một văn bản cụ thể nào

Đến năm 1912, các biện pháp giáo dục, phòng ngừa (trong giai đoạn này còn được gọi là biện pháp giáo hóa) đã được quy định trong Bộ Hình luật canh cải ra đời áp dụng

23

Trịnh Tiến Việt, Hoàn thiện các quy định của phần chung Bộ luật hình sự trước yêu cầu đổi mới đất nước, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.304

Trang 26

cho Nam phần Việt Nam Theo Bộ luật này muốn quy định trách nhiệm của thiếu nhi từ

đủ 13 tuổi đến 18 tuổi, Tòa án thụ lí trước hết phải đặt câu hỏi lương tri để biết bị can đã hành động có tri thức hay thiếu tri thức Tất cả phụ thuộc vào câu hỏi này nếu Tòa án đã xác nhận bị can đã hành động vô lương tri Tòa án sẽ miễn nghị và chỉ áp dụng biện pháp giáo hóa như: giao trả cha mẹ hay giao cho một trại giáo hóa không vượt qua tuổi thành niên dân sự của bị can (Điều 60)

Đến năm 1958 thì vấn đề về các biện pháp giáo hóa được cũng được đề cập tới Đạo luật ngày 3/7/1958 lập ra các Tòa án thiếu nhi đã quy định một thủ tục xét xử có nhiều đặc điểm khác thủ tục thường, nhằm mục đích bảo vệ bị can thiếu nhi Giai đoạn này, nếu người dưới 13 tuổi phạm tội trong tất cả trường hợp, dù họ phạm trọng tội Tòa án cũng chỉ áp dụng các biện pháp giáo hóa mà không thể phạt tù Theo luật ngày 3/7/1958 Điều

3 quy định “Những người dưới 13 tuổi được coi là vô trách nhiệm hoàn toàn về phương

diện hình sự” Đối với người từ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu họ phạm tội thì có thể bị áp

dụng biện pháp giáo hóa, Điều 15 luật 1958 có nêu: “Nếu xét thiếu nhi có tội, Tòa án sẽ

phán quyết có viện dẫn lí do áp dụng một trong những biện pháp sau đây: giao cho cha

mẹ hay người giám hộ, giao cho một hội phước thiện, giao cho cơ quan giáo hóa hay đưa vào một trại hướng nghiệp”

Vấn đề về các biện pháp giáo dục phòng ngừa cũng đã được quy định trong hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao số 329-HS2 ngày 11 tháng 2 năm 1967, hình phạt áp

dụng đối với người chưa thành niên ở thời kỳ này "chỉ vào khoảng một phần hai mức án

đối với người lớn" Đối với trẻ em từ 9 đến 17 tuổi, đi lang thang, trộm cắp nhiều lần, có

lối sống sa đọa, trụy lạc đã được gia đình, đoàn thể, nhà trường và chính quyền tận tình giúp đỡ nhiều lần, nhưng không chịu sửa chữa sẽ bị đưa vào trường phổ thông công nông nghiệp trong thời gian 02 năm Đây là những trường giáo dục thiếu niên hư.24

1.3.2 Các biện pháp tƣ pháp theo Bộ luật hình sự năm 1985

Bộ luât Hình sự năm 1985 ra đời trong hoàn cảnh đất nước thống nhất cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Trước tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải có một Bộ luật hình

sự hoàn chỉnh để đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng mới “Đó là xây dựng

chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Thực tiễn của

công tác xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự nói chung cũng như các quy định về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội nói riêng, từ Cách mạng tháng Tám thành công cho đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985, cho thấy các văn

24

Nguyễn Thị Tố Nga, Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của

pháp luật hình sự, http://dl.vnu.edu.vn/bitstream/11126/1574/1/00050001039.pdf, [ngày truy cập 9-9- 2014]

Trang 27

bản pháp luật hình sự do chính quyền cách mạng ban hành trước đó thường chỉ là những văn bản riêng lẽ, quy định một nhóm tội hoặc trong một lĩnh vực cụ thể nào đó

Ngày 27 tháng 6 năm 1985, Bộ luật hình sự đã được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tại kì họp thứ 9 Quốc Hội khóa 6 chính thức thông qua Bộ luật hình sự năm 1985, đã dành hẳn một chương quy định trách nhiệm của người chưa thành niên phạm tội (Chương 7) Trong Chương 7, Bộ luật hình sự năm 1985 đã dành một điều quy định hệ thống các biện pháp tư pháp và hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội Điều đáng lưu ý là Bộ luật đã quy định hệ thống các biện pháp tư pháp lên trước sau đó quy định đến hệ thống hình phạt chính có thể được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, điều này thể hiện cụ thể nguyên tắc lấy giáo dục, phòng ngừa

là chính việc áp dụng hình phạt chỉ là biện pháp cuối cùng Khác với người đã thành niên phạm tội người chưa thành niên phạm tội chỉ có thể bị áp dụng một trong hai biện pháp

tư pháp đó là Biện pháp buộc phải chịu thử thách hoặc đưa vào trường giáo dưỡng Hai biện pháp này được quy định tại khoản 1 Điều 60 và được quy định chi tiết tại Điều 61 và

62 của Bộ luật hình sự năm 1985 Theo đó, biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội bao gồm:

1 Biện pháp buộc phải chịu thử thách;

2 Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

Biện pháp buộc phải chịu thử thách được áp dụng trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, thời gian phải chịu thử thách từ một đến hai năm Trong quá trình chấp hành biện pháp buộc phải chịu thử thách người chưa thành niên phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân thủ kỷ luật xã hội và pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền cơ sở và tổ chức xã hội được Tòa

án giao trách nhiệm Trong trường hợp người chịu thử thách đã chấp hành một nửa thời hạn do Tòa án quyết định và tỏ ra nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của tổ chức được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án quyết định chấm dứt thời hạn thử thách

Theo Điều 62 quy định, Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được áp dụng khi tính chất của hành vi phạm tội nghiêm trọng, do nhân thân và môi trường sống của họ cần đưa họ vào một tổ chức giáo dục của kỷ luật chặt chẽ Thời hạn ở trường giáo dưỡng là từ một năm đến ba năm Cũng như biện pháp buộc phải chịu thử thách, nếu người chưa thành niên phạm tội đã chấp hành được một nửa thời hạn do Tòa án quyết định, có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của người phụ trách trường, Tòa án có thể quyết định chấm dứt thời hạn ở trường giáo dưỡng

Trang 28

Đây là biện pháp tư pháp được áp dụng có tính chất thay thế hình phạt, nội dung của các biện pháp này thể hiện tính chất nhân đạo sâu sắc, nó thuộc biện pháp tác động không phải là hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, các biện pháp này nhằm để nâng cao nguyên tắc lấy giáo dục là chính nhằm giúp đỡ người chưa thành niên phạm tội sớm dễ tái hòa nhập cộng đồng

1.3.3 Các biện pháp tƣ pháp theo Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay

Sau 14 năm thi hành Bộ luật Hình sự 1985, do tình hình kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, Bộ luật Hình sự 1985 đã bộc lộ những bất cập và hạn chế, đến năm 1999, Bộ luật Hình sự mới được ban hành Theo đó, các quy định về biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên cũng được sửa đổi, bổ sung Theo quy định Bộ luật Hình sự 1999, biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên bao gồm:

1 Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

2 Đưa vào trường giáo dưỡng

Như vậy, biện pháp buộc phải chịu thử thách quy định tại Bộ luật Hình sự 1985 đã

bị bãi bỏ, thay thế bởi biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn Tuy nhiên, Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định trong Bộ luật Hình sự 1999 lại là sự kế thừa của biện pháp tư pháp buộc phải chịu thử thách quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1985 Về bản chất, hai biện pháp này không khác nhau nhưng về điều kiện áp dụng lại có điểm khác nhau Điều 61 Bộ luật Hình sự

1985 quy định biện pháp tư pháp buộc phải chịu thử thách trong trường hợp sau: "Đối với

người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, tòa án có thể quyết định buộc phải chịu thử thách từ một năm đến hai năm" Như vậy, theo quy định của thì biện pháp buộc phải

chịu thử thách chỉ áp dụng trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm

trọng Và căn cứ vào Điều 8 Bộ luật Hình sự 1985 quy định "tội phạm nghiêm trọng là

tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội

ấy là trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Những tội phạm khác là tội phạm ít nghiêm trọng", thì biện pháp buộc phải chịu thử thách cũng chỉ áp dụng đối với những

hành vi gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức hình phạt cao nhất có thể là 5 năm Xét về đối tượng bị áp dụng thì biện pháp buộc phải chịu thử thách cũng chỉ áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vì người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý Như vậy, nếu căn cứ theo loại tội phạm thì điều kiện áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được mở rộng hơn, biện pháp này được áp dụng khi người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng Và theo

Trang 29

quy định phân loại của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì biện pháp này được áp dụng đối với tội phạm có mức khung hình phạt cao nhất là bảy năm tù Tuy nhiên, nếu căn cứ theo đối tượng bị áp dụng thì phạm vi đối tượng là không đổi, cả hai biện pháp này cũng chỉ áp

dụng đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi

Như vậy, việc mở rộng phạm vi này góp phần nâng cao hiệu quả và hạn chế áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội đúng với chính sách hình sự của Nhà nước trong việc xử lí đối tượng này

Cho đến nay (qua lần sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định của pháp luật hình sự về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tôi với ý nghĩa thay thế hình phạt không có thay đổi, vẫn giữ nguyên giá trị quy định cho đến ngày nay

1.4 Ý NGHĨA CỦA CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Việc quy định các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn rất quan trọng, thể hiện nội dung khoan hồng và nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội Sau đây là một số ý nghĩa về mặt pháp lí, về mặt chính trị, về mặt thực tiển của các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Ý nghĩa về mặt pháp lý: các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là các biện pháp tư pháp chỉ áp dụng riêng đối với người chưa thành niên

phạm tội được quy định trong Bộ Luật hình sự nhằm thay thế hình phạt “nếu thấy không

cần thiết áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp là giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng” 25

với ý nghĩa giáo dục, cải tạo người chưa thành niên phạm tội và phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện Bên cạnh đó, các biện pháp tư pháp giúp việc xử lí tội phạm được triệt để và toàn diện Trong Bộ luật hình sự quy định các biện pháp tư pháp còn góp phần giúp cho các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền vận dụng linh hoạt, mềm dẻo và đúng đắn chính sách hình sự của nhà nước Chính sách

hình sự của nhà nước, đúng như một tác giả đã viết: “là một bộ phận của chính sách

pháp luật, bởi vì đó là những định hướng, những chủ trương trong việc sử dụng pháp luật hình sự vào lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa tội phạm”.26

Trang 30

nghiêm khắc nhất của Nhà nước do Bộ Luật hình sự quy định không phải là phương tiện duy nhất trong cuộc đấu tranh và phòng ngừa và chống tội phạm Bởi lẽ, để nâng cao hiệu quả công tác này, đòi hỏi Nhà nước và xã hội phải áp dụng đồng bộ, có hệ thống và toàn diện các biện pháp khác nhau với mức độ cưỡng chế phù hợp, đa dạng và uyển chuyển thì mới có khả năng ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng nói phạm tội nói chung và tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện nói riêng trong xã hội

Ý nghĩa về mặt chính trị: các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội thể hiện đường lối, chính sách nhân đạo và khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta Tại khoản 1 Điều 69 Bộ Luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy

định “ việc xử lí người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm vào giáo dục, giúp đỡ họ

sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội” Từ quy

định này đã thấy rõ đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước là nhằm vào giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội

Ý nghĩ về mặt thực tiễn: phòng ngừa chung đối với người chưa thành niên Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự hiện hành nhằm góp phần cảnh báo trước cho mọi người là người chưa thành niên, không để người chưa thành niên phạm tội, tăng cường hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm ở lứa tuổi chưa thành niên nói riêng Tóm lại, những cơ sở lí luận về các biện pháp tư pháp áp dụng đối người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn các vấn đề xoay quanh các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội như định nghĩa, các đặc điểm để có thể phân biệt được với các thuật ngữ pháp lí khác Việc nắm rõ lịch sử hình thành và phát triển cũng như ý nghĩa của sự tồn tại các biện pháp tư pháp này trong Luật hình sự là cơ sở để phân tích được những quy định của pháp luật về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, từ đó phát hiện những điểm còn thiếu sót qua đó sẽ bổ sung và khắc phục kịp thời

Trang 31

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ

VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Các biện pháp tư pháp cũng là biện pháp cưỡng chế về hình sự, do Bộ luật hình sự quy định Nếu các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 41, 42, 43 Bộ luật hình sự

có mục đích (hay tính chất) là hỗ trợ hay thay thế hình phạt, thì biện pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự lại có mục đích thay thế cho hình phạt với ý nghĩa giáo dục, cải tạo người chưa thành niên phạm tội và phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện Với nội dung bảo vệ người chưa thành niên phạm tội cũng như mục đích, khả năng áp dụng các biện pháp tư pháp, từ nội dung, tính chất, vai trò cuả mỗi biện pháp tư pháp, theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành thì Tòa án có thể áp dụng một trong các biện pháp sau đây:

- Các biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự hiện hành, gồm hai biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng

- Các biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa áp dụng chung đối với người chưa thành niên phạm tội và người đã thành niên phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự hiện hành, bao gồm các biện biện pháp - Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 41), Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi (Điều 42), Bắt buộc chữa bệnh (Điều 43)

Căn cứ vào từng vụ án cụ thể, nếu thấy cần thiết thì các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sẽ áp dụng một trong các biện pháp tư pháp trên đối với người chưa thành niên phạm tội Hai biện pháp tư pháp áp dụng riêng đối với người chưa thành niên phạm tội,

đó là hai biện pháp quy định tại Điều 70 của bộ luật hình sự hiện hành (biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng) sẽ được người viết làm rõ trong phạm vi bài viết này

2.1 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TẠI XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN

Biện pháp “giáo dục tại xã, phường, thị trấn” là một biện pháp mang tính khuyến khích, giáo dục cao Biện pháp này không buộc người chưa thành niên phạm tội phải tách rời khỏi môi trường gia đình, bạn bè và xã hội mà ngược lại họ được giáo dục, uốn nắn trong môi trường bình thường nhằm hạn chế đến mức tối đa thái độ mặc cảm về tội lỗi và qua đó, động viên họ tự giác tu dưỡng, rèn luyện, sửa chữa lỗi lầm Người bị Tòa án áp dụng biện pháp tư pháp này còn được gọi là người được giáo dục

Trang 32

2.1.1 Điều kiện áp dụng

Để người chưa thành niên phạm tội được xem xét áp dụng biện pháp Giáo dục tại

xã, phường, thị trấn thì phải thỏa các điều kiện sau:

Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ

luật hình sự hiện hành: “Tòa án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị

trấn từ một năm đến hai năm đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng” Như vậy, theo quy định này thì điều kiện để áp dụng biện pháp

giáo dục tại xã, phường, thị trấn là căn cứ vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, người chưa thành niên phải phạm vào tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng

do Bộ luật hình sự quy định Theo khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự hiện hành quy định thì

“tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao

nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù”

Về độ tuổi áp dụng, xét theo Điều 12 Bộ luật hình sự quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm Như vậy, biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn chỉ áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi Biện pháp này còn được quyết định trên cơ sở cân nhắc các yếu tố khác như tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của người thực hiện hành vi phạm tội (như: hoàn cảnh gia đình, lí lịch bản thân, độ tuổi, giới tính, tiền án, tiền sự,…), thái độ ăn năn, hối cải sau khi phạm tội hoặc điều kiện có nơi thường trú ổn định và môi trường sống của họ thuận lợi cho việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn

2.1.2 Thủ tục thi hành

Thủ tục thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được hướng dẫn tại Điều 121 Luật thi hành án năm 2010 và Chương II Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2012.27 Theo đó, thủ tục thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn gồm các bước sau:

Thứ nhất, “Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết

định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải chuyển bản sao bản án,

27

Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết về thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội

Trang 33

quyết định của Tòa án cho Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức xã hội, nhà trường được chỉ định giám sát, giáo dục người được giáo dục Trường hợp tổ chức xã hội hoặc nhà trường được chỉ định giám sát, giáo dục người được giáo dục, thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải đồng gửi bản sao bản án, quyết định của Tòa án cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giáo dục cư trú để quản lý, theo dõi, chỉ đạo thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội” Theo quy định này thì kể từ khi nhận được bản án, quyết định áp dụng biện pháp

giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội, trong thời hạn

ba ngày làm việc, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải chuyển bản sao bản án, quyết định của Tòa án cho Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức xã hội, nhà trường được Tòa án chỉ định giám sát, giáo dục người được giáo dục Nếu tổ chức xã hội hoặc nhà trường được chỉ định giám sát, giáo dục người được giáo dục, thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải gửi bản sao bản án, quyết định của Tòa án cho tổ chức

xã hội hoặc nhà trường được chỉ định giám sát, giáo dục người được giáo dục đồng thời cũng phải gửi bản sao bản án, quyết định của Tòa án đó cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giáo dục cư trú để thuận tiện cho việc quản lý, theo dõi, chỉ đạo thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội

Trong trường hợp người được giáo dục đã thay đổi nơi cư trú thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giáo dục cư trú phải kiểm tra, xác minh, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện làm thủ tục để chuyển bản án, quyết định của Tòa

án áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đến nơi cư trú mới của người được giáo dục để tổ chức thi hành biện pháp giáo dục đối với người được giáo dục Theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 11 của Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 có quy định việc thay đổi cư trú của người được giáo dục Cụ thể, nếu người được giáo dục thay đổi nơi cư trú trong phạm vi hành chính cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giáo dục đến thường trú hoặc tạm trú trong thời gian học tập, làm việc để tiếp tục thi hành, nếu người được giáo dục thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi hành chính cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được giáo dục đến

Trang 34

thường trú hoặc tạm trú để tiếp tục thi hành và thông báo cho Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp.28

Thứ hai, “Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết

định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp

xã hoặc người đứng đầu tổ chức xã hội hoặc Hiệu trưởng nhà trường được Tòa án chỉ định giám sát, giáo dục phải triệu tập người được giáo dục và mời cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, người được giao trực tiếp giám sát, giáo dục đến trụ sở để thông báo việc thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, xã hội, nhà trường, người được giao giám sát, giáo dục; quyền và nghĩa vụ của người được giáo dục, đồng thời yêu cầu người được giáo dục làm bản cam kết việc chấp hành” Qua quy định này cho thấy, kể từ khi nhận được bản án, quyết định

của Tòa án áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người được giáo dục, thì trong năm ngày làm việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu

tổ chức xã hội hoặc Hiệu trưởng nhà trường được Tòa án chỉ định giám sát, giáo dục phải triệu tập người được giáo dục và mời cha, mẹ hoặc người giám hộ của người được giáo dục, người được giao trực tiếp giám sát, giáo dục đến trụ sở để thông báo việc thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và thông báo trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, xã hội, nhà trường, người được giao giám sát, giáo dục và thông báo quyền

và nghĩa vụ của người được giáo dục, đồng thời yêu cầu người được giáo dục làm bản cam kết việc chấp hành biện pháp giáo dục Trường hợp người được giáo dục không biết chữ để viết bản cam kết việc chấp hành biện pháp giáo dục thì cha, mẹ hoặc người giám

hộ của người được giáo dục sẽ viết thay Bản cam kết của người được giáo dục phải có ý kiến xác nhận của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó Việc thông báo được lập thành biên bản, lưu hồ sơ thi hành và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện

Trường hợp người được giáo dục bỏ trốn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo

cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện ra quyết định truy tìm và tổ chức truy tìm Khi phát hiện người được giáo dục bỏ trốn đang bị truy tìm, cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình có trách nhiệm báo cho cơ quan Công an hoặc chính quyền nơi gần nhất Khi tiếp nhận người được giáo dục, cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và đưa ngay người được giáo dục đến cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được giáo dục bỏ trốn để thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện

28

Khoản 3, khoản 4, Điều 11 của Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết về thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội

Trang 35

đã ra quyết định truy tìm đến nhận, đưa người được giáo dục trở về nơi cư trú để tiếp tục chấp hành

So với Nghị định 59/2000/NĐ-CP hướng thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội thì Nghị định số 10/2012/NĐ-

CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ đã bổ sung thủ tục thi hành biện giáo dục tại xã, phường, thị trấn, vì trước đây Nghị định 59/2000/NĐ-CP hướng thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội không quy định về thủ tục thi hành biện giáo dục tại xã, phường, thị trấn Đây là điểm tiến bộ rõ rệt của Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ nhằm giúp việc áp dụng biện pháp này dễ dàng và có hiệu quả hơn trong thực tiễn

2.1.3 Quyền của người được giáo dục

Trước đây, theo quy định của Nghị định 59/2000/NĐ-CP hướng thi hành biện pháp giáo dục tại xã, thị trấn thì quyền của người chưa thành niên phạm tội được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn chỉ được quy định có ba quyền Đó là: Không bị phân biệt đối xử vì lỗi lầm đã phạm; được giúp đỡ để tham gia lao động, học tập tại nơi

cư trú; được tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí tại cộng đồng như mọi công dân khác và được đề nghị Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc tổ chức xã hội được giao giám sát, giáo dục làm thủ tục đề nghị Toà án nhân dân cấp huyện nơi mình cư trú ra quyết định chấm dứt thời hạn chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn Quy định như thế đã làm mất nhiều quyền lợi của người chưa thành niên được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thị trấn Vì thế để đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của của người được giáo dục trong thời chấp hành án, Chính phủ đã ban hành Nghị định mới (Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết về thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội) để bổ sung thêm các quyền cho người chưa thành niên phạm tội được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn Cụ thể, Điều 14 Nghị định số 10/2012/NĐ-

CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết về thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội đã quy định các quyền của người được giáo dục Bao gồm các quyền:

Không bị phân biệt, đối xử; được tạo điều kiện lao động, học tập, sinh hoạt tại nơi

cư trú, được hướng dẫn thực hiện thủ tục khai báo tạm vắng, thông báo lưu trú, đăng ký thường trú, tạm trú, cấp Giấy chứng minh nhân dân, khám, chữa bệnh, trợ giúp pháp lý Khi tham gia lao động, người được giáo dục được hưởng quyền và lợi ích theo quy định của pháp luật lao động và pháp luật khác có liên quan

Trang 36

Người được giáo dục chưa biết chữ hoặc chưa hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học, trung học cơ sở có quyền đề nghị và các cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân có trách nhiệm tiếp nhận người được giáo dục vào học tập, đào tạo

Được tạo điều kiện tìm việc làm; được xem xét hỗ trợ cho vay vốn từ các ngân hàng chính sách xã hội, các quỹ xã hội, quỹ từ thiện, nhân đạo ở địa phương; người được giáo dục có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, được xét hỗ trợ một phần vốn để học văn hóa, học nghề, tạo việc làm, sản xuất, kinh doanh

Được đề bạt nguyện vọng, kiến nghị của mình đối với Ủy ban nhân dân, Công an cấp xã, tổ chức xã hội, nhà trường và người được giao giám sát, giáo dục về việc chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được vắng mặt tại nơi cư trú hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định tại Điều 10, 11 Nghị định số số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ Theo tinh thần chung của hai điều luật này thì: người được giáo dục có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lí do chính đáng và người được giáo dục cũng có thể thay đổi nơi đăng kí thường trú Lí do chính đáng có thể là đi học tập, có việc làm ổn định mà phải tạm trú ở địa phương khác từ 3 tháng trở lên…

Có quyền đề nghị xem xét chấm dứt thời hạn chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn Khi đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật thì được xem xét, quyết định chấm dứt thời hạn chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn Điều kiện, tiêu chuẩn để đề nghị xem xét chấm dứt thời hạn chấp hành biện pháp giáo

dục tại xã, phường, thị trấn là “đã chấp hành một phần hai thời hạn áp dụng biện pháp

giáo dục tại xã, phường, thị trấn và có nhiều tiến bộ”.29

Như vậy, quyền của người được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

đã được Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ bổ sung thêm nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được giáo dục

2.1.4 Nghĩa vụ của người được giáo dục

Thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một đến hai năm do Tòa án quyết định Trong thời gian chấp hành biện pháp này, người chưa thành niên phạm tội không bị cách

li khỏi cuộc sống xã hội, nhưng do đây là biện pháp mang nét đặc trưng phòng ngừa có

vai trò thay thế cho hình phạt nên “người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải

chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân theo pháp luật dưới sự giám

29

Khoản 1, Điều 12, Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết về thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội.

Trang 37

sát, giáo dục của chính quyền xã, phường, thị trấn và tổ chức xã hội được Tòa án giao trách nhiệm”.30

Điều 123 Luật thi hành án hình sự năm 2010 đã quy định nghĩa vụ của người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn Theo đó người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn có 4 loại nghĩa vụ sau:

Phải cam kết bằng văn bản với Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan tổ chức xã hội, nhà trường được giao giám sát, giáo dục về việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; tích cực thực hiện nghĩa vụ học tập, sửa chữa sai lầm, tu dưỡng, rèn luyện, tham gia lao động Cam kết phải có ý kiến của người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên; phải chịu

sự giám sát, giáo dục của người được phân công trực tiếp giám sát, giáo dục; ba tháng một lần làm bản tự kiểm điểm về việc thực hiện cam kết gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu tổ chức xã hội, Hiệu trưởng nhà trường được chỉ định giám sát, giáo dục Bản tự kiểm điểm phải có nhận xét của người trực tiếp được giao giám sát, giáo dục

Bên cạnh những nghĩa vụ nên trên, theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ, người được giáo dục còn có

những nghĩa vụ sau:

Người được giáo dục phải chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia lao động, học tập, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy định của địa phương nơi cư trú; phải chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền, cơ quan, tổ chức xã hội, nhà trường và người được phân công trực tiếp, giáo dục Đồng thời phải làm bản cam kết sửa chữa sai phạm của mình, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tích cực thực hiện nghĩa vụ học tập, tu dưỡng, rèn luyện, tham gia lao động trực tiếp gửi

Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức xã hội, nhà trường nơi được giao giám sát, giáo dục và phải nghiêm chỉnh thực hiện cam kết của mình;

Bên cạnh đó, người được giáo dục phải báo cáo bằng văn bản với người được phân công trực tiếp giám sát, giáo dục, giúp đỡ về tình hình học tập, lao động, rèn luyện, tu dưỡng, kết quả sửa chữa sai phạm và sự tiến bộ của mình hàng tháng và ba tháng một lần phải làm bản tự kiểm điểm về việc thực hiện cam kết gửi Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức xã hội, nhà trường được chỉ định giám sát, giáo dục Bản tự kiểm điểm phải có ý kiến nhận xét của người trực tiếp được giao giám sát, giáo dục;

Trường hợp vắng mặt tại nơi cư trú phải thực hiện đầy đủ các quy định tại Điều 10 của Nghị định số 10/2012/NĐ-CP và phải có nhận xét của Công an cấp xã nơi người được giáo dục lưu trú hoặc tạm trú để báo cáo với Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức xã

30 Khoản 2, Điều 70, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

Trang 38

hội và người được giao giám sát giáo dục Cụ thể là phải thực hiện một số quy định khi vắng mặt tại nơi cư trú như: người được giáo dục phải báo cáo với người trực tiếp giám sát, giáo dục về lí do, thời gian vắng mặt tại nơi cư trú và nơi đến cư trú Người được giáo dục còn phải làm đơn xin phép ghi rõ lí do, thời gian vắng mặt tại nơi cư trú, nơi đến tạm trú nếu vắng mặt tại nơi cư trú từ trên ba mươi ngày đến dưới ba tháng Người được giáo dục phải khai báo vắng mặt tại Công an tại xã, phường, thị trấn nơi mình cư trú trước khi đi khỏi nơi cư trú và phải thực hiện việc thông báo lưu trú, đăng kí tạm trú tại Công an cấp xã nơi mình đến lưu trú hoặc tạm trú ngay sau khi đến nơi lưu trú hoặc tạm trú…

2.1.5 Việc chấm dứt chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Người được giáo dục sẽ được chấm dứt việc chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong hai trường hợp: người được giáo dục đã chấp hành được một phần hai thời hạn do Tòa án quyết định và có nhiều tiến bộ; hết thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội

Thứ nhất, người được giáo dục đã chấp hành được một phần hai thời hạn do Tòa án

quyết định và có nhiều tiến bộ Theo khoản 4 Điều 70 Bộ luật hình sự hiện hành quy định

thì: “Người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã chấp hành được một phần hai thời

hạn do Tòa án quyết định và có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của tổ chức, cơ quan, nhà trường được giao trách nhiệm giám sát giáo dục, Tòa án có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn” Qua nội dung quy định này ta có thể chỉ ra điều

kiện để người được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn có thể chấm dứt việc chấp hành như sau:

- Người được giáo dục đã chấp hành được một phần hai thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn Trong điều kiện này cần phải xét đến thời gian mà Tòa

án áp dụng đối với người được áp dụng, cụ thể: “Tòa án có thể áp dụng biện pháp giáo

dục tại xã, phường, thị trấn từ một đến hai năm đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiệm trọng”31 Ví dụ, Tòa án áp dụng thời hạn là một năm (12

tháng) đối với người được giáo dục thì một phần hai thời hạn áp dụng mà người được giáo dục đã chấp hành là nửa năm (6 tháng), nếu Tòa án áp dụng thời hạn là hai năm (24 tháng) đối với người được giáo dục thì một phần hai thời hạn áp dụng mà người được giáo dục đã chấp hành là một năm (12 tháng)

- Có nhiều tiến bộ Tại Điều 7 của Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2

năm 2012 của Chính phủ có quy định việc “Lập và quản lí hồ sơ thi hành và theo giỏi sự

31 Khoản 2, Điều 70, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

Trang 39

tiến bộ của người được giáo dục” Theo đó, cơ sở để xác định sự tiến bộ của người được

giáo dục đó là các báo cáo hàng tháng của người được giáo dục về tình hình học tập, lao động, rèn luyện, tu dưỡng và sự tiến bộ của mình; các bản báo cáo, nhận xét hàng tháng của người trực tiếp giám sát, giáo dục giúp đỡ về việc chấp hành pháp luật và nghĩa vụ của người được giáo dục; các bản tự kiểm của người được giáo dục, có ý kiến nhận xét của người được giao trực tiếp giám sát giáo dục… Thông qua các biên bản, báo cáo nếu xét thấy người được giáo dục có những tiến bộ rõ rệt so với lúc ban đầu thì sẽ được công nhận là có nhiều sự tiến bộ

Nếu người được giáo dục đã có đủ hai điều kiện trên thì theo đề nghị của tổ chức, cơ quan, nhà trường được giao trách nhiệm giám sát giáo dục, Tòa án có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người được giáo dục

Ngay sau khi quyết định của Tòa án có thẩm quyền về chấm dứt thời hạn chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn cho người được giáo dục và gửi cho người được giáo dục, Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức xã hội, nhà trường được chỉ định giám sát, giáo dục, Tòa án đã áp dụng biện pháp giáo dục tại

xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội.32

Thứ hai, hết thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên

phạm tội Điều 13 Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 của Chính

phủ có quy định về việc “hết thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người

chưa thành niên phạm tội” Theo đó, trong thời hạn 5 ngày làm việc trước khi hết thời

hạn chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu tổ chức xã hội, Hiệu trưởng nhà trường được chỉ định giám sát, giáo dục phải có văn bản thông báo, kèm theo hồ sơ thi hành và theo dõi sự tiến bộ của người được giáo dục bàn giao cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn cho người được giáo dục Việc giao, nhận hồ sơ được lập thành biên bản và lưu hồ sơ thi hành

Đúng ngày hết thời hạn chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn cho người được giáo dục và gửi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định

32 Khoản 4, 5, Điều 12, Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết về thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Trang 40

(người được giáo dục, Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức xã hội, nhà trường được chỉ định giám sát giáo dục, Tòa án đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội)

2.1.6 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình trong thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Để góp phần giúp người được giáo dục chấp hành tốt biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, giúp người được giáo dục sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội, Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm

2012 của Chính phủ đã quy định trách nhiệm của Cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình người được giáo dục trong thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn Nếu so với Nghị định 59/2000/NĐ-CP hướng thi hành biện pháp giáo dục tại xã, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội trước đây thì trách nhiệm Cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình người được giáo dục trong thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được quy định trong Nghị định 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ có nhiều điểm tiến bộ hơn, quy định trách nhiệm cụ thể hơn

2.1.6.1 Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân, cơ quan thi hành án hình sự Công an các cấp

Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Theo quy định tại Điều 16 của Nghị

định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm như sau:

Thứ nhất: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải chỉ đạo, kiểm tra công tác thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội trong phạm

vi địa phương mình quản lý Bên cạnh đó còn phải xây dựng kế hoạch phân công các cấp chính quyền, cơ quan, ban ngành, tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng trong việc thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; quan tâm đời sống tinh thần, giúp đỡ về vật chất, đảm bảo thực hiện tốt quyền trẻ em và giúp đỡ người được giáo dục tái hòa nhập cộng đồng

Thứ hai: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải chỉ đạo tổ chức truyền thông, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội; phổ biến kinh nghiệm, mô hình điển hình trong việc thi hành án và giám sát, giáo dục, giúp đỡ người được giáo dục

Thứ ba: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải bố trí ngân sách cấp tỉnh theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trực thuộc và Ủy ban

Ngày đăng: 03/10/2015, 23:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình sự - các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại điều 70 bộ luật hình sự
Hình s ự (Trang 60)
Hình sự - các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại điều 70 bộ luật hình sự
Hình s ự (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm