1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tên dề tài: quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

109 670 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, khác với tài sản theo nghĩa thông dụng, tài sản theo nghĩa pháp lý là những thứ mà khi đó nó đáp ứng được một số điều kiện nhất định thì nó mới được xem là tài sản, cũng như l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

tốt nghiệp

Trang 2

Ngoài ra, tôi còn đặc biệt gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Giảng viên hướng dẫn

Luận văn của tôi là cô: “Huỳnh Thị Trúc Giang” –

một trong những Giảng viên của khoa Luật, trường Đại học Cần Thơ Cô chính là người đã hỗ trợ tôi hết mình và người đã hướng dẫn nhiệt tình trong suốt quá trình làm Luận văn của tôi nhằm giúp tôi hoàn thành tốt bài Luận văn của mình một cách tốt nhất Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn cô và gửi những lời chúc tốt đẹp nhất đến với cô Chúc cô

có nhiều sức khỏe và luôn thành công trên những lĩnh vực mà mình đã chọn!

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến cha, mẹ

và những người thân yêu trong gia đình của tôi Họ luôn là nguồn động lực to lớn của tôi trong suốt quá trình học tập của mình Đặc biệt là dành lời cảm ơn đến người em trai của mình: Cảm ơn em vì tất cả những điều tốt đẹp mà em đã mang lại Chúc những người thân yêu của tôi luôn có nhiều sức khỏe và làm được những điều mà mình mơ ước!

Trân trọng cảm ơn tất cả mọi người!

Cần Thơ, ngày 20 tháng 11 năm 2014

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Cần Thơ, ngày … tháng … năm …

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Cần Thơ, ngày … tháng … năm …

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do nghiên cứu đề tài 2

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu đề tài 2

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Bố cục của đề tài 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI SẢN 4

1.1 Một số khái niệm có liên quan 4

1.1.1 Khái niệm tài sản 4

1.1.1.1 Khái niệm tài sản theo quy định của pháp luật dân sự Philippines 5

1.1.1.2 Khái niệm tài sản theo quy định của pháp luật dân sự một số quốc gia khác 8

1.1.2 Khái niệm tài sản hữu hình 11

1.1.3 Khái niệm tài sản vô hình 12

1.2 Đặc điểm của tài sản 12

1.3 Sự cần thiết quy định của pháp luật về tài sản 13

1.4 Lược sử quy định của pháp luật Dân sự Việt Nam về tài sản 14

1.4.1 Trong luật cổ và tục lệ ở Việt Nam 14

1.4.1.1 Trong luật nhà Lê 16

1.4.1.2 Trong Bộ luật Gia Long 17

1.4.2 Luật cận đại 18

1.4.3 Luật hiện đại 19

1.4.3.1 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 19

1.4.3.2 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 21

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ TÀI SẢN 23

2.1 Quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về tài sản 23

2.1.1 Vật 23

2.1.1.1 Vật chính và vật phụ 26

2.1.1.2 Vật chia được và vật không chia được 27

2.1.1.3 Vật tiêu hao và vật không tiêu hao 28

2.1.1.4 Vật cùng loại và vật đặc định 29

2.1.1.5 Vật đồng bộ và vật không đồng bộ 31

Trang 8

2.1.2 Tiền 35

2.1.3 Giấy tờ có giá 28

2.1.4 Quyền tài sản 38

2.2 Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về phân loại tài sản 39

2.2.1 Bất động sản và động sản 39

2.2.1.1 Bất động sản 39

2.2.1.2 Động sản 41

2.2.2 Một số trường hợp đặc biệt 41

2.2.2.1 Bất động sản trở thành động sản do đặc điểm của công dụng tương lai 42

2.2.2.2 Động sản trở thành bất động sản do công dụng 42

2.2.3 Một số cách phân loại tài sản khác 45

2.2.3.1 Tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức 45

2.2.3.2 Tài sản vô hình và tài sản hữu hình 48

2.2.3.3 Tài sản có đăng ký quyền sở hữu, tài sản không đăng ký quyền sở hữu 51

2.2.3.4 Tài sản cấm lưu thông, tài sản hạn chế lưu thông và tài sản tự do lưu thông 58

2.2.3.5 Tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai 59

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ TÀI SẢN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 62

3.1 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản 62

3.1.1 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về khái niệm tài sản 62

3.1.1.1 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản là vật được hình thành trong tương lai 64

3.1.1.2 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản là tiền 68

3.1.1.3 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản là Giấy tờ có giá 72

3.1.1.4 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản là quyền tài sản 75

3.1.2 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về phân loại tài sản 78

3.2 Nguyên nhân của thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản và phân loại tài sản 84

3.2.1 Nguyên nhân của thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản 84 3.2.1.1 Nguyên nhân của thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự

Trang 9

hiện hành về tài sản là vật được hình thành trong tương lai 84

3.2.1.2 Nguyên nhân của thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản là tiền 85

3.2.1.3 Nguyên nhân của thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản là Giấy tờ có giá 87

3.2.1.4 Nguyên nhân của thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự về tài sản là quyền tài sản 88

3.2.2 Nguyên nhân của thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự về phân loại tài sản 89

3.2.2.1 Nguyên nhân khách quan 89

3.2.2.2 Nguyên nhân chủ quan 89

3.3 Một số giải pháp về tài sản và phân loại tài sản 90

3.3.1 Một số giải pháp về tài sản 90

3.3.1.1 Một số giải pháp về tài sản là vật 90

3.3.1.2 Một số giải pháp về tài sản là tiền 92

3.3.1.3 Một số giải pháp về tài sản là Giấy tờ có giá 93

3.3.1.4 Một số giải pháp về tài sản là quyền tài sản 94

3.3.2 Giải pháp về phân loại tài sản 94

KẾT LUẬN 96

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu đề tài

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Bộ luật dân sự giữ một vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng Nó là cơ sở pháp lý nhằm để điều chỉnh các mối quan hệ dân sự phát sinh trong đời sống xã hội liên quan chủ yếu đến các vấn đề nhân thân và tài sản Đặc biệt, vấn đề về tài sản luôn là vấn đề trung tâm cốt lõi và là đối tượng chú ý đặc biệt của toàn

xã hội

Có thể nói: tài sản luôn là vấn đề “muôn thuở”, là đề tài khi mang ra bàn luận thì chỉ

có thể xác định được thời điểm bắt đầu mà không thể xác định được thời điểm kết thúc Tài sản đã xuất hiện và được tồn tại cách đây một khoảng thời gian rất dài và có thể nói

nó bắt đầu xuất hiện và tồn tại song song với sự xuất hiện của loài người Tuy nhiên, ở nước ta, khái niệm tài sản mới chỉ thực sự được xuất hiện và được ghi nhận khi Bộ luật dân sự đầu tiên của nước ta đã được ban hành Đó chính là Bộ luật dân sự Việt Nam năm

1995, nó đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lập pháp của nước ta Nó đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta Nhưng, sẽ không có vấn đề gì xảy ra nếu Bộ luật dân sự năm 1995 của nước ta không tồn tại những hạn chế, vướng mắc và bất cập xung quanh những quy định có liên quan đến tài sản Chính vì như vậy, sau gần 10 năm áp dụng và đi sâu vào thực tiễn áp dụng thì Bộ luật dân sự năm 1995 càng tỏ ra nhiều mặt hạn chế như: các quy định chưa rõ ràng, cụ thể, quy định của pháp luật chưa phù hợp với thực tiễn,… Vì thế, ngày 14-6-2005 Quốc hội khóa XI đã ban hành Bộ luật dân sự năm 2005, cũng chính là Bộ luật dân sự hiện hành của nước ta, nó có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2006, với mục đích thay thế Bộ luật dân sự năm 1995 đã có nhiều bất cập ấy thì Bộ luật dân sự hiện hành của nước ta đã khắc phục không ít những nhược điểm, những hạn chế mà Bộ luật dân sự năm 1995 quy định

về tài sản đã để lại Tuy nhiên, trong suốt gần 10 năm vận dụng và áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến tài sản thì Bộ luật dân sự năm 2005 cũng lại tỏ ra không ít những hạn chế tồn tại riêng của mình

Với một số nhược điểm và bất cập về một số quy định của pháp luật hiện hành về tài sản như hiện nay thì đã làm cho vấn đề tranh chấp về tài sản phát sinh ngày càng trở nên phổ biến, với tính chất ngày càng phức tạp dẫn đến việc áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp đó ngày càng trở nên khó khăn Qua đó, nó không chỉ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ về tài sản

mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc quản lý trật tự về kinh tế của các cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước Vì vậy, cần có một số biện pháp để khắc phục tình trạng trên nhằm giảm thiểu tối đa những thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về tài sản như hiện nay Tuy nhiên, để làm được điều đó thì trước tiên phải tìm hiểu quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản Đồng thời, tìm hiểu được thực tiễn áp dụng các quy

Trang 11

định hiện hành về tài sản như thế nào, sau đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục

Chính vì như vậy, người viết đã chọn đề tài: Quy định của pháp luật dân sự hiện hành

về tài sản – thực tiễn áp dụng và một số giải pháp để làm đề tài nghiên cứu cho bài luận

văn của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài chủ yếu là nắm được một số quy định cơ bản của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản và cách phân loại tài sản Tìm hiểu vấn đề thực tiễn

áp dụng các quy định của pháp luật về tài sản và phân loại tài sản, qua đó nêu lên một số giải pháp nhằm khắc phục hoặc hạn chế một số thực trạng về việc áp dụng các quy định của pháp luật về tài sản và phân loại tài sản để giải quyết vấn đề đang diễn ra

3 Đối tượng nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài chủ yếu là xoay quanh một số vấn đề về tài sản và phân loại tài sản theo quy định hiện hành của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành và một số thực tiễn áp dụng các quy định trên

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong phạm vi nghiên cứu về đề tài của mình, người viết sẽ chỉ tập trung nghiên cứu chủ yếu là một số vấn đề liên quan mật thiết đến tài sản theo quy định của pháp luật dân

sự Việt Nam hiện hành Chẳng hạn như khái niệm về tài sản theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, một số cách phân loại tài sản, phân loại vật, ý nghĩa của việc phân loại tài sản và phân loại vật, thực tiễn áp dụng và nêu lên một số giải pháp Một số vấn đề khác có liên quan đến tài sản như: khái niệm tài sản theo quy định của pháp luật nước ngoài, sự cần thiết của việc quy định về tài sản trong pháp luật dân sự, lược sử quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về tài sản, thì người viết sẽ phân tích, trình bày một cách khái quát theo sự hiểu biết dựa trên kiến thức có được và tham khảo từ các nguồn tài liệu của mình

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của người viết chủ yếu là phương pháp nghiên cứu lý luận

và thực tiễn dựa trên các nguồn tài liệu, sách vở, báo chí, tạp chí, Phân tích, so sánh, đối chiếu xen kẽ giữa các quy định của pháp luật với thực tế áp dụng Sau đó, người viết

sẽ dựa trên những gì đã trình bày, phân tích mà tổng hợp lại, đưa ra một số suy luận, quan điểm cá nhân

Trong quá trình giải quyết các vấn đề đã đặt ra thì người viết cố gắng liên hệ và gắn kết với các quy định có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu bằng cách đưa một số quy định của Bộ luật dân sự trước (Bộ luật dân sự năm 1995) để so sánh, đối chiếu với pháp luật hiện hành và sau đó sẽ kết hợp với việc suy luận và rút ra kết luận

6 Bố cục của đề tài

Trang 12

Bố cục của đề tài nghiên cứu có kết cấu gồm ba phần, tương ứng với ba chương Đó là:

Chương 1: Khái quát chung về tài sản Trong phần này chủ yếu tìm hiểu chung về khái niệm của tài sản theo pháp luật dân sự của Việt Nam và theo pháp luật dân sự của một số quốc gia khác Qua đó, rút ra đặc điểm chung của tài sản, sự cần thiết quy định về tài sản Ngoài ra, còn tìm hiểu về lược sử ra đời của tài sản theo pháp luật dân sự Việt Nam

Chương 2: Một số quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản Trong phần này đề cập đến vấn đề quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản, phân loại tài sản và phân loại vật

Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản

và một số giải pháp Trong phần này sẽ đề cập chủ yếu đến vấn đề thực trạng áp dụng

một số quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản ở Việt Nam hiện nay Qua đó

sẽ nêu lên nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết hoặc hạn chế tình trạng này

Trang 13

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI SẢN 1.1 Một số khái niệm có liên quan

1.1.1 Khái niệm tài sản

Tài sản được coi là một điều kiện vật chất nhằm duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội Khái niệm về tài sản đã được hình thành từ rất lâu, gần như song song với lịch sử hình thành loài người Tài sản là một công cụ của đời sống xã hội nên khái niệm về tài sản không phải là một khái niệm thuần túy có tính học thuật mà là một khái niệm có tính định hướng cao Bởi vì: khái niệm này đòi hỏi phải đáp ứng được các nhu cầu cần thiết và thiết thực của xã hội Tài sản không thể được xem xét khi nó tách rời các giá trị của đời sống xã hội

Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nói về khái niệm tài sản Nhưng “tài sản” (biens – property) có thể được hiểu theo hai cách sau:

Thứ nhất, theo ngôn ngữ thông dụng hằng ngày của con người thì “tài sản chính là

những gì được con người sử dụng, nó là một vật thể cụ thể, có thể nhận biết được bằng các giác quan của con người và con người có thể thực hiện được các hành động như cầm, nắm, sờ, ” Chẳng hạn: bàn ghế, xe máy, tivi, tủ lạnh, bàn ủi1, Trên thực tế thì chỉ cần

là những thứ mà mang lại lợi ích cho con người thì họ sẽ xem nó là tài sản Chính vì như vậy mà “tài sản” theo nghĩa này chỉ được hiểu theo ngôn ngữ thông dụng hằng ngày của con người

Thứ hai, theo phương diện pháp lý thì “tài sản chính là của cải được con người sử dụng” Trong đó, “của cải” là một khái niệm luôn luôn có xu hướng biến đổi và tự hoàn thiện cùng với sự phát triển của quan niệm về giá trị vật chất Chẳng hạn, ở xã hội La Mã

cổ xưa, khi nhắc đến tài sản là người ta sẽ liên tưởng đến ngay những của cải trong gia đình như ruộng đất, nhà cửa, gia súc,… Còn ở trong xã hội hiện đại như ngày nay, ngoài những của cải trong gia đình như trên, thì còn có một số loại tài sản khác như: năng lượng mặt trời, thủy năng, sóng vô tuyến, phần mềm máy tính, không khí, và một số tài sản khác2 Tuy nhiên, khác với tài sản theo nghĩa thông dụng, tài sản theo nghĩa pháp lý

là những thứ mà khi đó nó đáp ứng được một số điều kiện nhất định thì nó mới được xem

là tài sản, cũng như là chịu sự chi phối và điều chỉnh theo cơ chế của pháp luật Để xem xét cụ thể hơn về khái niệm tài sản thì trước hết nên khảo sát lần lượt quy định của pháp luật một số quốc gia trên thế giới để đưa ra nhận xét Chẳng hạn, khái niệm tài sản theo

Trang 14

quy định của Bộ luật dân sự Philippines, khái niệm tài sản theo quy định của Bộ luật dân

sự Việt Nam và khái niệm tài sản theo quy định của một số quốc gia khác

1.1.1.1 Khái niệm tài sản theo quy định của pháp luật dân sự Philippines

Vấn đề về tài sản ở Philippines được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự Philippines, nó được ban hành vào năm 1949 và có hiệu lực năm 1950 Trong đó, bao gồm 5 phần lớn với 2270 điều luật Trong Bộ luật dân sự này thì chế định tài sản, quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản được quy định tại quyển 2 từ Điều 414 đến Điều 711 của Bộ luật Tuy vậy, nhưng xét về mặt tổng quan thì pháp luật Philippines cũng không định nghĩa tài sản là gì, cũng như nêu lên khái niệm thế nào là tài sản3 Tuy nhiên, để tìm hiểu được khái niệm về tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự Philippines thì phải tìm hiểu

về cách phân loại tài sản

Theo quy định của pháp luật dân sự Philippines thì những nhà lập pháp của họ không nêu lên được một cách chính thức khái niệm về tài sản mà phải thông qua việc phân loại tài sản để nêu lên khái niệm thế nào là tài sản

Theo quy định của Bộ luật Dân sự Philippines thì tài sản được chia làm hai loại Đó

là động sản và bất động sản

Căn cứ theo quy định tại Điều 415 của Bộ luật dân sự Philippines thì bất động sản bao gồm các tài sản sau:

“1) Đất đai, nhà, đường sá, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

2) Cây cối, hoa lợi gắn liền với đất đai hoặc các bất động sản khác;

3) Những tài sản gắn liền với bất động sản không thể tách rời, nếu tách rời thì sẽ làm hư hỏng hoặc xấu đi tình trạng của tài sản;

4) Những bức tượng, những tác phẩm điêu khắc, tranh hoặc những vật phẩm trang trí khác được đặt ở trong các toà nhà hoặc trên đất của các chủ sở hữu bất động sản với ý định gắn liền một cách vĩnh viễn với bất động sản đó;

5) Máy móc, dụng cụ chứa, công cụ hoặc những vật dụng khác mà chủ sở hữu bất động sản sử dụng trong toà nhà hoặc đất và để đáp ứng nhu cầu sử dụng đó;

6) Chuồng nuôi gia súc, gia cầm, nuôi ong, bể cá hoặc những nơi nuôi động vật khác tương tự trong trường hợp chủ sở hữu đặt chúng hoặc giữ chúng với ý định gắn kết chúng với đất hoặc là một phần vĩnh viễn của đất thì những động vật được nuôi trong đó cũng là bất động sản;

7) Phân bón được sử dụng trên một phần đất đai;

8) Mỏ khoáng, đá, kim loại, những vật chất khác dưới mặt đất, mặt nước và nguồn nước chảy, nước ngầm;

3

Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,

http://tranhtung.com.vn/phap-luat-ve-tai-san-cua-philippines-so-sanh-voi-phap-luat-viet-nam_n58111_g749.aspx , [truy cập ngày 24-6-2014]

Trang 15

9) Thực vật và công trình xây dựng trên mặt nước mà bản chất tự nhiên và mục đích tồn tại là phải được đặt trên sông, hồ hoặc đại dương;

10) Những hợp đồng về việc công, quyền địa dịch và các quyền thực tế khác trên các bất động sản 4 ”

Sở dĩ, Bộ luật Dân sự Philippines quy định tài sản là bất động sản như trên chủ yếu là do các nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, do đặc tính về vật lý của tài sản Đó là những tài sản về bản chất là không thể di dời hoặc khó có thể di dời được5 Theo đó thì cứ những gì là đất đai và các thứ gắn liền với đất đai như: nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; cây cối, hoa lợi; tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất (mỏ khoáng, đá, kim loại, những vật chất khác dưới mặt đất, mặt nước và nguồn chảy nước ngầm), thực vật gắn liền với đất đều được xem là bất động sản

Thứ hai, do đặc tính về công dụng của tài sản6 Đó là: ngay cả những công cụ, máy móc hay một số vật dụng khác mà có liên quan đến việc chủ sở hữu của bất động sản sử dụng trong tòa nhà hoặc đất và nhằm mục đích để đáp ứng nhu cầu sử dụng đó; hoặc quy định rằng phân bón mà được sử dụng trên một phần đất đai cũng được xem là bất động sản theo cách xác định của Bộ luật dân sự Philippines

Thứ ba, do mục đích sử dụng về tài sản của chủ sở hữu7 Đó là các tài sản như: tranh, tượng, tác phẩm điêu khắc hoặc những vật phẩm trang trí khác được đặt ở trong các toà nhà hoặc trên đất của các chủ sở hữu bất động sản với ý định gắn liền một cách vĩnh viễn với bất động sản đó; động vật nuôi trong chuồng mà chủ sở hữu đặt hoặc giữ chúng với ý định gắn kết chúng với đất hoặc là một phần vĩnh viễn của đất

Căn cứ theo Điều 416 Bộ luật dân sự Philippines thì động sản bao gồm:

“1) Những tài sản có thể dịch chuyển được mà không bao gồm những tài sản được quy định là bất động sản ở Điều 415;

2) Những bất động sản mà theo quy định riêng của pháp luật được coi là động sản;

3) Năng lượng tự nhiên được mang lại theo sự điều khiển của khoa học

4

Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,

http://tranhtung.com.vn/phap-luat-ve-tai-san-cua-philippines-so-sanh-voi-phap-luat-viet-nam_n58111_g749.aspx , [truy cập ngày 24-6-2014]

5

Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,

http://tranhtung.com.vn/phap-luat-ve-tai-san-cua-philippines-so-sanh-voi-phap-luat-viet-nam_n58111_g749.aspx , [truy cập ngày 24-6-2014]

6

Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,

http://tranhtung.com.vn/phap-luat-ve-tai-san-cua-philippines-so-sanh-voi-phap-luat-viet-nam_n58111_g749.aspx , [truy cập ngày 24-6-2014]

7

Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,

http://tranhtung.com.vn/phap-luat-ve-tai-san-cua-philippines-so-sanh-voi-phap-luat-viet-nam_n58111_g749.aspx , [truy cập ngày 24-6-2014]

Trang 16

4) Nhìn chung, tất cả những vật mà khi được dịch chuyển được từ nơi này đến nơi khác không làm hư hỏng bất động sản nơi chúng được đặt

Ngoài quy định ở Điều 416 thì theo quy định tại Điều 417 Bộ luật dân sự Philippines những tài sản sau cũng được xem là động sản:

Nghĩa vụ và sử xự có đối tượng là động sản hoặc một khoản tiền theo yêu cầu;

Cổ phần của các công ti công nghiệp, nông nghiệp và thương mại mặc dù công ti

đó có thể có bất động sản 8 ”

Như vậy, Bộ luật Dân sự của Philippines lại tiếp tục định nghĩa động sản theo hướng liệt kê tương tự như việc định nghĩa ở bất động sản Theo đó thì những tài sản được coi là động sản dựa trên hai tiêu chí chủ yếu Đó là:

Thứ nhất, theo đặc tính vật lí Đó là các tài sản về bản chất cơ bản có thể di dời được Chẳng hạn như: những tài sản có thể dịch chuyển được nhưng không bao gồm những tài sản đã được quy định ở Điều 415 của Bộ luật dân sự Philippines, năng lượng tự nhiên được mang lại theo sự điều khiển của khoa học hoặc tất cả những vật mà khi được dịch chuyển được từ nơi này đến nơi khác không làm hư hỏng bất động sản nơi chúng được đặt

Thứ hai, theo quy định riêng của pháp luật Đó là những bất động sản mà theo quy định riêng của pháp luật Philippines được coi là động sản

Ngoài ra, Bộ luật dân sự của Philippines cũng thừa nhận cả nghĩa vụ và xử sự có đối tượng là động sản hoặc một khoản tiền theo yêu cầu cũng đều được coi là động sản

Thực chất, “theo quy định tại Điều 414 Bộ luật dân sự Philippines thì tất cả những

gì đang hoặc có thể là đối tượng của sự chiếm giữ đều được công nhận là một trong hai loại: Bất động sản hoặc động sản 9 ” Và ngay sau khi quy định về động sản, theo quy

định tại Điều 418 của Bộ luật dân sự Philippines, động sản lại có thể được phân thành hai loại là tài sản tiêu hao hoặc không tiêu hao Tài sản tiêu hao là tài sản mà khi được sử dụng sẽ làm cho tài sản bị tiêu hao theo bản chất tự nhiên của nó Tài sản không tiêu hao

là tất cả các loại động sản còn lại khác Ngoài ra, bên cạnh chương quy định về các loại tài sản nói chung, Bộ luật dân sự Philippines còn có một phần quy định về các loại tài sản đặc biệt tại mục IV bao gồm có 3 chương quy định về quy chế pháp lý của 3 loại tài sản đặc biệt là nước, khoáng sản, nhãn hiệu hàng hoá và tên thương mại Đối với tài sản đặc biệt là nước, pháp luật Philippines chủ yếu quy định về tư cách chủ sở hữu, cách thức sử dụng và quản lí loại tài sản này Đối với khoáng sản, nhãn hiệu hàng hoá và tên thương

8

Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,

http://tranhtung.com.vn/phap-luat-ve-tai-san-cua-philippines-so-sanh-voi-phap-luat-viet-nam_n58111_g749.aspx , [truy cập ngày 24-6-2014]

9

Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,

http://tranhtung.com.vn/phap-luat-ve-tai-san-cua-philippines-so-sanh-voi-phap-luat-viet-nam_n58111_g749.aspx , [truy cập ngày 24-6-2014]

Trang 17

mại, Bộ luật dân sự Philippines dẫn chiếu đến văn bản quy phạm pháp luật khác sẽ quy định và điều chỉnh10

Như vậy, xét một cách tổng quan thì pháp luật Philippines không đưa ra được định nghĩa về tài sản, cũng như khái niệm thế nào là tài sản mà chỉ đưa ra định nghĩa về tài sản

là động sản và bất động sản Theo đó thì tất cả những gì đang là đối tượng hoặc có thể là đối tượng của sự chiếm giữ đều được công nhận hoặc là động sản, hoặc là bất động sản

1.1.1.2 Khái niệm tài sản theo quy định của pháp luật dân sự một số quốc gia khác

Cũng như Bộ luật dân sự của Philippines, Bộ luật dân sự một số quốc gia khác như:

Bộ luật dân sự Liên Bang Nga, Bộ luật dân sự của Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ), Bộ luật dân sự Québec (Canada), Bộ luật dân sự Pháp,… cũng không định nghĩa một cách dứt khoát được như thế nào là tài sản, cũng như nêu lên khái niệm tài sản là gì? mà các nhà luật gia của họ cũng chỉ nêu khái niệm tài sản qua việc phân loại tài sản Nghĩa là, họ cũng thông qua cách phân loại tài sản để khái niệm tài sản Chẳng hạn, Bộ luật dân sự Liên Bang Nga quy định tài sản thông qua các loại đối tượng của các quyền dân sự:

“Thuộc về đối tượng của các quyền dân sự phải được nhắc đến là vật, trong số đó bao gồm tiền và giấy tờ có giá và cũng bao gồm các loại tài sản khác, như các quyền tài sản; công việc và dịch vụ; thông tin; kết quả của hoạt động trí tuệ, bao gồm quyền loại trừ đối với chúng (quyền sở hữu trí tuệ); những giá trị phi vật chất 11 ” - Điều 128 Bộ luật

dân sự Liên Bang Nga Theo như quy định tại Điều 128 của Bộ luật dân sự Liên Bang Nga thì những nhà lập pháp của nước họ đã khái niệm tài sản dựa trên đối tượng của các quyền dân sự Nhìn chung, qua cách quy định trên thì có thể hiểu tài sản theo quy định của pháp luật dân sự Liên Bang Nga là bao gồm: tài sản hữu và tài sản vô hình Tuy nhiên, Bộ luật này lại không quy định một cách dứt khoác rằng: tài sản hữu hình và tài sản vô hình mà chỉ quy định chung chung bằng cách liệt kê hàng loạt những thứ được xem là đối tượng của quyền dân sự Theo đó: tài sản hữu hình sẽ bao gồm vật Trong đó, tiền và giấy tờ có giá cũng được Bộ luật dân sự xem như là vật Còn quyền sở hữu trí tuệ

và những giá trị phi vật chất có thể được xem là tài sản vô hình Ngoài ra, cũng theo quy định trên đã cho thấy pháp luật Liên Bang Nga cũng thừa nhận rằng: quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự cũng được xem là tài sản chẳng hạn như: các loại tài sản khác bao gồm các quyền tài sản, công việc và dịch vụ, thông tin

Có thể hiểu tài sản là một khái niệm động và phụ thuộc vào giá trị kinh tế của nó, bởi vì tài sản là một công cụ phục vụ cho nhu cầu của đời sống con người Trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội loài người, tài sản có một phạm vi khác nhau,

10

Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,

http://tranhtung.com.vn/phap-luat-ve-tai-san-cua-philippines-so-sanh-voi-phap-luat-viet-nam_n58111_g749.aspx , [truy cập ngày 24-6-2014]

11

Ngô Huy Cương, Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của Bộ luật Dân sự 2005 và định hướng

cải cách, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, NXB chính trị Quốc gia Hà Nội, số 03 (212), năm 2012

Trang 18

nhưng đều là công cụ đáp ứng các nhu cầu cuộc sống của con người Vì vậy, nó được nhận thức không mấy khác nhau ở các hệ thống pháp luật, bởi con người rất nhạy bén với

sự đáp ứng nhu cầu của mình Tuy nhiên, người ta chỉ có thể nhận thức đầy đủ về nó qua phân loại12 Chính vì thế, có thể nói các định nghĩa về tài sản đều sử dụng cách thức liệt

kê các phân loại tài sản để nêu lên định nghĩa mà không đưa ra một phạm vi cụ thể của tài sản Có thể nói cách phân loại tài sản theo quy định của pháp luật dân sự của mỗi quốc gia khác nhau thì cơ bản là không giống nhau Chẳng hạn, Bộ luật dân sự của Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ) và Bộ luật dân sự Québec (Canada) phân loại tài sản như sau:

“Tài sản được phân chia thành tài sản chung, tài sản công và tài sản tư; tài sản hữu hình và tài sản vô hình; và động sản và bất động sản 13 ” - Điều 448 Bộ luật dân sự của

Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ)

Có thể nói: cách phân loại tài sản này chủ yếu dựa trên 3 căn cứ khác nhau Đó là: Thứ nhất, nếu căn cứ vào chủ sở hữu thì tài sản sẽ được chia thành tài sản chung, tài sản công và tài sản tư Trong đó, các loại tài sản này sẽ được pháp luật dân sự của Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ) quy định bằng những chế độ pháp lý riêng

Thứ hai, nếu căn cứ vào việc có hay không có đặc tính vật lý thì tài sản sẽ được chia thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình Chẳng hạn như những tài sản mà con người có thể nhìn thấy được, cầm nắm được, đo lường được,… thì những tài sản đó sẽ được xem là tài sản hữu hình Ngược lại, những tài sản mà không thể dùng các giác quan của con người để nhận biết được, đo lường được nhưng thỏa mãn một số điều kiện nhất định do pháp luật của Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ) quy định thì những tài sản đó được xem là tài sản vô hình

Thứ ba, nếu căn cứ vào đặc tính có di dời được hay không di dời được của tài sản thì tài sản sẽ được chia thành động sản và bất động sản Mỗi phân loại tài sản như vậy sẽ

có các quy chế pháp lý tương ứng theo quy định của Bộ luật dân sự

Nhìn chung, cách phân loại tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự Québec (Canada) đơn giản hơn so với cách phân loại tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ):

“Tài sản, dù hữu hình hay vô hình, được phân chia thành bất động sản và động sản 14 ” - Điều 899 Bộ luật dân sự Québec (Canada)

Như vậy, khác với Bộ luật dân sự của Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ), Bộ luật dân sự Québec (Canada) chỉ phân loại tài sản thành động sản và bất động sản Trong đó, tài sản

12

Ngô Huy Cương, Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của Bộ luật Dân sự 2005 và định hướng

cải cách, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, NXB chính trị Quốc gia Hà Nội, số 03 (212), năm 2012

13

Ngô Huy Cương, Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của Bộ luật Dân sự 2005 và định hướng

cải cách, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, NXB chính trị Quốc gia Hà Nội, số 03 (212), năm 2012

14

Ngô Huy Cương, Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của Bộ luật Dân sự 2005 và định hướng

cải cách, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, NXB chính trị Quốc gia Hà Nội, số 03 (212), năm 2012

Trang 19

hữu hình hay tài sản vô hình cũng được xếp vào tài sản là động sản hoặc là bất động sản Nghĩa là, tài sản:

Thứ nhất, có lẽ tài sản là bất động sản có thể chỉ bao gồm tài sản hữu hình hay chỉ bao gồm tài sản vô hình; hoặc tài sản là bất động sản bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình tùy theo quy định của Bộ luật dân sự Québec (Canada)

Thứ hai, có lẽ tài sản là động sản có thể chỉ bao gồm tài sản hữu hình hay chỉ bao gồm tài sản vô hình; hoặc tài sản là động sản bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình tùy theo quy định của Bộ luật dân sự Québec (Canada)

Ngoài ra, “Luật La Mã phân chia tài sản thành vật chất liệu và tài sản phi chất liệu –

đó là các quyền Và bản thân các quyền này được phân chia thành hai loại là các quyền

thiết lập trên vật chất liệu (rights in rem) và các quyền có giá trị kinh tế đối với người khác (rights in personam) Bản thân vật chất liệu cũng được phân chia thành hai loại là

bất động sản và động sản Việc phân chia vật thành bất động sản và động sản dẫn tới nhiều hệ quả pháp lý khác nhau Chẳng hạn, các vật quyền được phân biệt thành hai loại:

có loại chỉ thiết lập trên bất động sản và có loại thiết lập trên cả bất động sản và động sản Các quyền thiết lập trên bất động sản và các quyền được thiết lập trên động sản có sự khác nhau về chi tiết, ví dụ: chủ nợ dễ dàng sai áp và bán động sản để lấy nợ hơn đối với bất động sản; hệ thống đăng ký bất động sản dễ dàng được thiết lập hơn so với đăng ký động sản, đặc biệt đối với các quyền mà không bao gồm việc chiếm hữu tài sản15”

Khác với Bộ luật dân sự của Philippines và Bộ luật dân sự của một số quốc gia khác,

Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 đã có một quy định ngắn gọn, cụ thể nhằm định nghĩa

về tài sản Đó là: “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Trong

đó, không phải tất cả mọi thứ tồn tại như trên đều được xem là tài sản mà nó phải được xem xét trên một số phương diện, một số khía cạnh nhất định để được xem là tài sản theo

ý nghĩa pháp lý riêng theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam

Chính vì như vậy, có thể khẳng định cách phân loại tài sản theo quy định của các quốc gia khác nhau là hoàn toàn không giống nhau Phân loại tài sản là một nhu cầu khách quan, là cách nêu lên khái niệm về tài sản và nó thể hiện một trong những kỹ thuật pháp lý quan trọng trong pháp luật dân sự nói chung và cũng như luật tài sản nói riêng Qua cách phân loại tài sản thì những nhà lập pháp của các quốc gia đã định nghĩa một cách gián tiếp về khái niệm của tài sản theo quy định của quốc gia họ Nghĩa là, thông qua việc quy định phân loại tài sản kèm theo một số quy định nhất định thì họ sẽ đưa ra định nghĩa về tài sản theo quan điểm của quốc gia mình

Nói tóm lại, qua một số phân tích trên thì ta có thể rút ra kết luận là tài sản dù được hiểu ở cách thứ nhất hay cách thứ hai Nghĩa là, dù nó được hiểu theo ý nghĩa thông dụng

15

Ngô Huy Cương, Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của Bộ luật Dân sự 2005 và định hướng

cải cách, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, NXB chính trị Quốc gia Hà Nội, số 03 (212), năm 2012

Trang 20

hay được hiểu theo ý nghĩa pháp lý thì tài sản cũng chỉ tồn tại dưới một trong hai hình thức cơ bản Đó là, tài sản có thể hoặc là tồn tại dưới dạng hữu hình hoặc là tồn tại dưới dạng hữu hình hóa - hữu hình hóa thông qua các quyền vô hình và quyền vô hình đó chính là quyền gắn với tài sản (tài sản vô hình) Chẳng hạn như quyền đòi nợ, quyền sử dụng đất16 Trong đó, “tài sản” theo ý nghĩa pháp lý có thể được hiểu là những của cải vật chất được pháp luật điều chỉnh Chúng tồn tại rất đa dạng, có thể được tồn tại dưới dạng là những vật chất hữu hình và cũng có thể chúng được tồn tại dưới dạng hữu hình hóa (tài sản vô hình) Những của cải vật chất ấy có thể được sử dụng nhằm phục vụ nhu cầu của con người hoặc cũng có thể được con người đưa vào trong giao lưu dân sự để hướng đến lợi ích và mục tiêu của mình

1.1.2 Khái niệm tài sản hữu hình

Khi nhắc đến “hữu hình” thì chắc chắn một điều rằng có thể hình dung là nó sẽ được thể hiện ra bên ngoài dưới một dạng vật chất cụ thể Chẳng hạn như nhìn thấy được, cảm nhận được, sờ được, cầm nắm được, cân, đo, đong, đếm được như tiền, tivi, máy tính, tủ lạnh, … Trong đó, tiền, tivi, máy tính, tủ lạnh chính là những vật chất hữu hình mà khi đó chúng được tồn tại và con người có thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình như cầm được, nắm được, sờ được, dùng các đại lượng cụ thể để tính Ví dụ như: tiền có thể được đo bằng chính giá trị của đồng tiền đó (VNĐ - nếu là tiền Việt Nam), nó có thể đếm được; còn tivi, tủ lạnh hoặc máy tính có thể được cân bằng khối lượng (gam, kilogam,…) hoặc đo được kích thước (mét, milimét, centimét, decimét,…) của chúng hoặc có thể đếm được thông qua số lượng của chúng,

Có thể nói rằng, hiện nay hầu hết các Bộ luật dân sự của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Bộ luật dân sự Việt Nam thì vẫn chưa có điều luật nào định nghĩa thế nào là

“tài sản hữu hình”, cũng như là khái niệm của nó Tuy nhiên, qua việc phân tích thế nào

là “hữu hình” như trên thì ta có thể rút ra kết luận rằng: “Tài sản hữu hình” (tangible property - thuật ngữ tiếng anh) là những tài sản được tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể

mà khi đó con người có thể nhìn thấy được, sờ được, cầm nắm được Nó bao gồm tất cả những tài sản mà con người có thể cảm nhận được bằng một hoặc tất cả các giác quan của mình và có thể dùng một trong các đơn vị đại lượng để tính

1.1.3 Khái niệm tài sản vô hình

“Vô hình” là những gì được tồn tại dưới dạng phi vật chất mà khi đó con người không thể nhìn thấy được, không thể sờ được không thể cầm nắm và không thể dùng các đơn vị đại lượng để tính được Tuy nhiên, thông qua một số cách nào đó có thể xác định được sự tồn tại của nó

16

Nguyễn Ngọc Điện, Nghiên cứu về tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1999,

tr 5

Trang 21

Như vậy, tài sản vô hình có thể hiểu là những tài sản phi vật thể mà con người không thể dùng giác quan để thấy được và không thể dùng các đơn vị đại lượng để tính được Thông thường, nếu xét theo nghĩa rộng thì tài sản vô hình có thể được hiểu thông qua các quyền tài sản và thông thường là sẽ liên tưởng ngay đến tài sản trí tuệ như quyền tác giả

và các quyền liên quan đến quyền tác giả chẳng hạn

Đối với Bộ luật dân sự Việt Nam thì hiện tại chưa có điều luật nào định nghĩa về tài sản vô hình Tuy nhiên, nếu căn cứ theo quy định tại “tiêu chuẩn thẩm định giá số 13 thẩm định giá tài sản vô hình (được ban hành kèm theo Thông tư số 06/2014/TT-BTC

ngày 07/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) thì: “Tài sản vô hình là tài sản không có

hình thái vật chất và có khả năng tạo ra các quyền, lợi ích kinh tế”

1.2 Đặc điểm của tài sản

Qua một số phân tích về tài sản trong pháp luật dân sự của một số quốc gia, trong đó

có Việt Nam thì tài sản có một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, tài sản theo ý nghĩa pháp lý có đôi chút khác biệt so với tài sản theo ý nghĩa thông thường Bởi lẽ, pháp luật là công cụ thực hiện quyền lực, ý chí của một nhà nước với các quan hệ xã hội cụ thể Bởi vậy, nếu như pháp luật quy định những thứ được xem là tài sản thì nó là tài sản; ngược lại, nếu pháp luật không công nhận một thứ là tài sản thì nó sẽ không được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật và không được xem là tài sản Như vậy, sự quy định như thế nào là tài sản dựa vào ý chí của nhà nước và được quy định trong Bộ luật dân sự Hay nói cách khác, tài sản theo ý nghĩa pháp lý là những đối tượng được các quy phạm pháp luật điều chỉnh và được quy định trong bộ luật dân sự

là tài sản Chẳng hạn, Điều 163 của bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành có quy định “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Hoặc một trường hợp khác ở

thời kì nhà nước phong kiến thì nô lệ được coi là một loại tài sản, có thể được mua bán, trao đổi qua lại giữa các chủ nô, quan lại, nhà vua và nô lệ được xem như là một công cụ hái ra tiền của chúng Đến khi nhà nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện cùng với chính sách tôn trọng và đảm bảo nhân quyền cho con người thì con người không bao giờ bị coi là tài sản cả mà họ đã trở thành chủ của tài sản

Thứ hai, tài sản là đối tượng trong lưu thông dân sự Chính bởi như thế, khái niệm

về tài sản được mở rộng hay thu hẹp hơn là tùy theo từng thời kì do pháp luật quy định để phù hợp với điều kiện giao lưu dân sự trong xã hội ở thời kỳ đó Chẳng hạn, Điều 172

của bộ luật dân sự năm 1995 quy định “tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”; trong khi đó, Bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành tại Điều 163 quy định “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”

Như vậy, bộ luật dân sự hiện hành của nước ta quy định các đối tượng trong lưu thông dân sự đã được mở rộng và khái quát hơn so với quy định của bộ luật dân sự trước kia

Cụ thể, tại Điều 172 của bộ luật dân sự năm 1995 quy định chỉ có vật có thực mới được

Trang 22

xem là tài sản Điều này có nghĩa là những vật được hình thành trong tương lai như: ngôi nhà, công trình đang được xây dựng và những thứ khác như: hoa lợi hoặc lợi tức thì không được xem là tài sản và không được đưa vào lưu thông trong giao dịch dân sự Chính vì vậy, tại Điều 163 của bộ luật dân sự hiện hành đã mở rộng đối tượng, yêu cầu là vật thì có thể sẽ được đưa vào lưu thông trong giao dịch dân sự, hay nói cách khác là đối tượng của giao dịch dân sự

Thứ ba, tiền là thước đo giá trị của các loại tài sản khác Vì vậy, tài sản có giá trị thể hiện ở việc chúng được trị giá thành tiền, các loại tài sản khác như vật, quyền tài sản,… đều có thể quy đổi ra thành tiền

Thứ tư, tài sản tồn tại rất đa dạng Tuy nhiên, mặc dù như thế nào đi nữa thì tài sản cũng chỉ có thể là tài sản hữu hình hoặc có thể là tài sản hữu hình hóa (tài sản vô hình) Thứ năm, tài sản mang lại lợi ích cho con người Lợi ích đó có thể là lợi ích về vật chất hoặc lợi ích về tinh thần cho chủ thể

1.3 Sự cần thiết quy định của pháp luật về tài sản

Để hiểu được tại sao quy định của pháp luật về tài sản lại cần thiết đối với mọi người

và đối với toàn xã hội thì cần phải tìm hiểu tại sao pháp luật lại quan trọng đối với con người và xã hội

Trước tiên, pháp luật thể hiện vai trò to lớn và giá trị xã hội của pháp luật Pháp luật được đặt ra nhằm hướng tới sự hoàn thiện của việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện chủ yếu theo hai hướng

Đó là, một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội và mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội Như vậy, pháp luật đã thiết lập “trật tự” đối với các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo chiều hướng nhất định phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội

Thứ hai, pháp luật là công cụ hữu hiệu để bảo vệ các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Chẳng hạn, một khi có các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành áp dụng các biện pháp cưỡng chế đã được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật tương ứng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật Chẳng hạn: hành vi xâm phạm tính mạng sức khoẻ của con người thì bị xử lý theo Luật hình sự, còn hành vi gây thiệt hại tài sản thì buộc phải bồi thường thiệt hại theo pháp luật dân sự,

Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, nó thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ

Trang 23

xã hội Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực Nhà nước và là cơ sở pháp lý quan trọng để điều chỉnh cho đời sống xã hội có Nhà nước

Qua một số phân tích trên cho thấy, việc quy định của pháp luật nói chung và quy định của pháp luật dân sự về tài sản nói riêng thì chúng đều là công cụ pháp lý quan trọng để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội Đặc biệt là đối với quy định của pháp luật dân

sự về tài sản thì nó điều chỉnh mối quan hệ về mặt tài sản giữa con người với tài sản hoặc giữa con người với con người thông qua tài sản Việc hiểu biết và nhận thức đúng về tài sản và cách phân loại tài sản sẽ có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và giải quyết các tranh chấp pháp lý về tài sản phát sinh trong đời sống xã hội Ngoài ra, khi xác định đúng về tài sản thì sẽ có căn cứ pháp lý chính xác để xác định các quyền và nghĩa vụ về tài sản của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Từ việc xác định đó là loại tài sản

gì thì sẽ xác định được phương thức khởi kiện yêu cầu chủ thể có hành vi vi phạm chấm dứt các hành vi xâm phạm đến các tài sản của chủ thể khác, còn chủ thể bị xâm phạm đến tài sản đó có thể kiện chủ thể có hành vi xâm phạm để đòi lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại về tài sản nếu tài sản bị hư hại hoặc bị mất

Nói tóm lại, những quy định của pháp luật về tài sản như hiện nay là nhằm giúp cho người dân hiểu biết thế nào là tài sản, nhận thức đúng đắn về tài sản nhằm tránh cho người dân nhằm lẫn về tài sản chỉ vì dựa theo ý nghĩa thông dụng hằng ngày Ngoài ra, những quy định của pháp luật về tài sản còn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể là chủ sở hữu tài sản một khi bị các chủ thể khác tác động tiêu cực vào tài sản

và ngược lại, nó cũng là căn cứ để truy cứu trách nhiệm dân sự liên quan đến bồi thường thiệt hại về tài sản hoặc buộc phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản của mình

1.4 Lược sử quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về tài sản

1.4.1 Trong luật cổ và tục lệ ở Việt Nam

Trong thời kỳ luật cổ và tục lệ ở Việt Nam, họ không biết đến sản nghiệp như là một tập hợp các tài sản có và tài sản nợ thuộc về một chủ thể hoặc nó tồn tại với mục đích nào

đó Trong đó “sản nghiệp” trong tiếng La tinh được gọi là “patrimonium”, nó là một

phạm trù kỹ thuật của khoa học luật, được hiểu là một tập hợp bao gồm tất cả các tài sản

có và một tài sản nợ17:

Tài sản có thuộc sản nghiệp có thể được hiểu là tập hợp tất cả những tài sản thuộc về một chủ sở hữu nào đó hoặc nói cách khác, tài sản có thuộc sản nghiệp chính là tập hợp tất cả những quyền về tài sản có cùng một chủ thể Tuy nhiên, cần lưu ý rằng: sản nghiệp

17

Nguyễn Ngọc Điện, Nghiên cứu về tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1999,

tr 6-8, tr 6

Trang 24

không chỉ bao gồm các tài sản hiện có mà chúng còn có thể bao gồm cả tài sản sẽ có của chủ sở hữu18

Tài sản nợ thuộc sản nghiệp có thể được hiểu là tập hợp tất cả các nghĩa vụ tài sản của một người nào đó (một chủ thể nào đó) hoặc được xác lập nhằm đạt tới một mục đích nào đó Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng: sản nghiệp chỉ là một khối tài sản còn lại sau khi được chủ sở hữu thanh toán các nghĩa vụ tài sản của mình đối với chủ thể khác Như vậy, khối tài sản còn lại đó ta có thể coi là tài sản có ròng (actif net)19 của sản nghiệp Vì vậy, giá trị tài sản có ròng của sản nghiệp có thể được thể hiện là một con số dương thì khi đó

ta nói rằng sản nghiệp ban đầu có khả năng thanh toán nghĩa vụ tài sản Ngược lại, nếu tài sản có ròng được thể hiện là một con số âm thì khi đó ta nói rằng sản nghiệp đó không có

đủ khả năng thanh toán nghĩa vụ tài sản Nhưng, dù có khả năng thanh toán hay không thì sản nghiệp vẫn luôn luôn tồn tại20

Chính vì như vậy, ta có thể nói: giữa tài sản có và tài sản nợ có một mối liên hệ tương

hỗ với nhau Nghĩa là, bất kỳ một yếu tố nào của tài sản nợ cũng đều được bảo đảm bằng toàn bộ số tài sản có và ngược lại, bất kỳ yếu tố nào của tài sản có cũng đều có thể được dùng để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ tài sản của chủ sở hữu (tài sản nợ)21

Ngoài ra, các tài sản tư trong luật cổ và tục lệ ngày xưa thuộc về gia đình Trong đó, các quyền đối với tài sản tư của gia đình sẽ do người chủ gia đình thực hiện và các nghĩa

vụ tài sản cũng chỉ có thể do người chủ của gia đình xác lập, thực hiện một cách trực tiếp hoặc thông qua các thành viên trong gia đình Điển hình trong luật cổ và tục lệ Việt Nam

là không thể không nhắc đến luật nhà Lê và trong Bộ luật Gia Long

1.4.1.1 Trong luật nhà Lê

Luật Hồng Đức là tên gọi thông dụng của bộ Quốc triều hình luật thời Lê sơ hiện còn được lưu giữ đầy đủ Nó có thể coi là bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau: Luật hình sự, Luật dân sự, Luật tố tụng, Luật hôn nhân - gia đình, Luật hành chính,… Văn bản của Bộ luật này là một trong những thư tịch cổ nhất hiện còn được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán-Nôm (Hà Nội) Tại đây có hai bản in ván khắc đều có tên là Quốc triều hình luật Ngoài ra còn có một bộ sách chép tay tuy có tên gọi là Lê triều hình luật, nhưng nội dung của nó lại là bản sao lại của Quốc triều hình luật (nhà Hậu Lê) và chép vào thời gian sau này Trong đó, bản Quốc triều hình luật mang ký hiệu A.341 là bản in ván khắc hoàn chỉnh hơn cả và được coi là văn bản có

Trang 25

giá trị nhất Bộ luật trong sách này gồm 6 quyển, in ván khắc trên giấy bản, tổng cộng gồm 129 tờ đóng chung thành một cuốn Sách không ghi tên tác giả, không có dấu hiệu niên đại soạn thảo hay niên đại in ấn và cũng không có lời tựa hoặc các chú dẫn khác Bìa nguyên bản cuốn sách đã mất, được thay thế bằng một tờ bìa viết 4 chữ Hán là Quốc triều hình luật bằng bút lông Nội dung của bộ luật này đã được Phan Huy Chú ghi chép lại trong phần Hình luật chí của Lịch triều hiến chương loại chí, nhưng thiếu so với cuốn sách này 143 điều trong tổng số 722 điều Quốc triều hình luật trong cuốn sách A.341 có

13 chương, ghi chép trong 6 quyển (5 quyển có 2 chương/quyển và 1 quyển có 3 chương), gồm 722 điều Trong Bộ luật này chưa đề cập đến thế nào là tài sản mà chủ yếu

đề cập đến các vấn đề liên quan đến sở hữu ruộng đất trong thời kỳ phong kiến quy định trong chương Điền sản: 59 điều, trong đó 32 điều ban đầu và 27 điều bổ sung sau (14 điều về điền sản mới tăng thêm, 4 điều về luật hương hỏa, 9 điều về châm chước bổ sung luật hương hỏa) quy định về ruộng đất, thừa kế, hương hỏa và các tội phạm trong lĩnh vực này22

Trong luật nhà Lê, gia đình được hiểu như là tập hợp những người có quan hệ thân thuộc về trực hệ hoặc quan hệ hôn nhân Dưới góc độ tài sản thì tài sản thuộc về tất cả những người trong gia đình Tuy nhiên, việc quản lý tài sản thì được giao cho cha, mẹ, ông, bà hay nói cách khác, việc quản lý tài sản được giao cho những người đứng đầu trong gia đình Nếu như những người đứng đầu trong gia đình này chết thì tài sản sẽ được giao lại cho con, cháu của họ Ngoài ra, họ cũng có khi quyết định chia tài sản của gia đình cho con, cháu của họ để đặt các cơ sở kinh tế cho việc thành lập các hộ gia đình mới

và tài sản mà con, cháu của họ nhận được sau khi được chia tài sản sẽ trở thành tài sản mới và thuộc về con, cháu của họ Tuy nhiên, cần lưu ý rằng: Khi nào còn sống thì cha,

mẹ, ông, bà vẫn luôn có quyền lấy lại tài sản mà họ đã chia Tuy nhiên, một khi mà con

đã ra riêng và có tài sản do bản thân mình tạo lập thì cha, mẹ, ông, bà không có quyền lấy lại tài sản đó Còn các tài sản do con tạo lập cũng như các tài sản mà được cha, mẹ chuyển giao mà không lấy lại thì tất cả đều thuộc về gia đình của con chứ không phải là của riêng con Còn nếu cha, mẹ, ông, bà không lấy lại tài sản, nếu như con chết thì tài sản

sẽ được chuyển giao cho cháu và cũng vẫn ở trong tình trạng là ông, bà có thể được lấy lại tài sản cho đến khi ông, bà đều chết

Nếu như chồng hoặc vợ chết mà không để lại tài sản cho con cái thì tài sản của gia đình sẽ được phân thành nhiều khối:

Khối thứ nhất, ruộng đất của cha, mẹ giao cho vợ, chồng;

Khối thứ hai, ruộng đất do vợ, chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và các bất động sản khác (kể cả nhà ở), nói chung là các điền sản mới được tạo lập;

22

Tài liệu học tập, Quốc triều hình luật chi tiết, phap-luat/777110-quoc-trieu-hinh-luat-chi-tiet , [truy cập ngày 19-11-2014]

Trang 26

http://tailieuhoctap.vn/chi-tiet-sach/2472-nganh-luat/nha-nuoc-Khối thứ ba, các động sản

Mỗi khối tài sản ở trên sẽ được di chuyển theo chế độ riêng được thiết lập tại các Điều từ 374 đến 376 của Bộ Quốc triều hình luật, cũng như tại một số quy định khác có liên quan của các luật về điền sản ban hành vào năm 1464 Các khoản nợ của gia đình (nghĩa vụ về tài sản của gia đình) được thanh toán trước hết là các động sản, nghĩa là khối thứ ba trong khối tài sản, còn các bất động sản (khối thứ nhất và khối thứ hai trong khối tài sản) chỉ được bán để trả nợ khi và chỉ khi trường hợp trong gia đình không còn động sản Cuối cùng, chính ruộng đất còn lại sau khi thực hiện nghĩa vụ tài sản mới được phân chia tài sản (chia gia tài)23

1.4.1.2 Trong Bộ luật Gia Long

Cũng như các vương triều khác, nhà Nguyễn ngay sau khi thành lập liền lo việc soạn thảo luật lệ Cụ thể là vua Gia Long đã sai Tiền quân Bắc thành Tổng trấn Nguyễn Văn Thành biên soạn bộ Hoàng Việt Luật Lệ (hay còn gọi là Luật Gia Long) Công việc biên soạn luật được tiến hành dưới sự chỉ đạo trực tiếp của vua Gia Long Bộ luật bao gồm

398 điều, chia thành 22 quyển Các điều luật được phân loại và sắp xếp theo 6 lĩnh vực, tương ứng với nhiệm vụ của 6 bộ, bao gồm các nội dung chính như: Lại luật (quy định về

tổ chức nhà nước và hệ thống quan lại); Hình luật (quy định về các tội danh và hình phạt); Hộ luật (quy định về quản lý dân cư và đất đai); Lễ luật (quy định về ngoại giao và nghi lễ cung đình); Binh luật (quy định về tổ chức quân đội và quốc phòng); Công luật (quy định về xây dựng, bảo vệ đê điều, lăng tẩm) Bộ luật được xây dựng trên cơ sở tham khảo đối chiếu bộ luật Hồng Đức và Đại Thanh luật lệ của Trung Quốc, tuy nhiên có căn

cứ vào tình hình trong nước và dân tộc Việt Nam để chọn lọc và biên soạn Vì vậy nên nó mang bản sắc của riêng và chiếm vai trò quan trọng trong lịch sử pháp luật Việt Nam24 Trong Bộ luật Gia Long, gia đình được hiểu như tập hợp những người ở chung quanh một người đàn ông nào đó và người đàn ông này được gọi là gia trưởng, họ gắn bó với nhau do có quan hệ thân thuộc về trực hệ, bàng hệ, quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng Dưới góc độ tài sản thì tài sản thuộc về tất cả những người đó, nhưng vấn đề

về việc thực hiện quyền sở hữu lại là việc của gia trưởng Nếu như trường hợp gia trưởng chết thì người vợ của gia trưởng chết đó (vợ góa) không kết hôn lại mà sẽ cùng với các con và trưởng tộc bên chồng sẽ thực hiện việc quản lý tài sản Còn nếu như cha, mẹ đều chết hết thì các con, trong đó đứng đầu là con trai trưởng sẽ cùng nhau quản lý tài sản của

Khoa văn học và ngôn ngữ - trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hoàng Việt luật lệ trong mối quan hệ

so sánh với Đại Thanh luật lệ, Phạm Ngọc Hường, ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=2402:hoang-vit-lut-l-trong-mi-quan-h-so- sanh-vi-i-thanh-lut-l-&catid=121:ht-vit-nam-trung-quc-nhng-quan-h-vn-hoa-vn&Itemid=187 , [truy cập ngày 19-11- 2014]

Trang 27

http://www.khoavanhoc-gia đình cho đến khi được phép của trưởng tộc bên nội mới được tiến hành phân chia tài sản25

1.4.2 Luật cận đại

Thời kỳ nước ta còn là thuộc địa của Pháp, các nhà nghiên cứu luật học và thực hành luật đã nỗ lực xây dựng hệ thống pháp luật về tài sản ở Việt Nam trên cơ sở lý thuyết sản nghiệp của luật học Pháp Tuy nhiên, do hạn chế về đặc điểm của trình độ phát triển kinh

tế xã hội thời kỳ đó (sở hữu tư nhân mang tính chất cá nhân vẫn chưa thay thế được sở hữu gia đình đã trở nên phổ biến) nên việc vận dụng lý thuyết sản nghiệp của luật học Pháp thành lý thuyết sản nghiệp của luật Việt Nam có nhiều cải biên cho phù hợp Theo

đó, mỗi gia đình chỉ có một sản nghiệp; bất kỳ sản nghiệp nào cũng thuộc về một gia đình; mỗi yếu tố của tài sản có thuộc về sản nghiệp gia đình đều được dùng để thanh toán toàn bộ tài sản nợ của gia đình và mỗi yếu tố của tài sản nợ thuộc sản nghiệp gia đình đều được bảo đảm thanh toán bằng toàn bộ tài sản có của gia đình

Sắc lệnh ngày 21/7/1925 thiết lập chế độ điền thổ mới theo khuôn mẫu Lorraine về đăng ký đất đai của Pháp Chế độ điền thổ này thừa nhận rằng có những bất động sản thuộc sở hữu tư nhân mang tính chất cá nhân mà không phải thuộc sở hữu gia đình Như vậy, một cá nhân có tài sản riêng sẽ phải tự mình chịu trách nhiệm đối với những nghĩa vụ tài sản do mình xác lập Chế độ điền sản mới đã góp phần định hình cho

Alsace-lý thuyết về sản nghiệp cá nhân ở Việt Nam

Trong luật cổ và tục lệ, di sản thờ cúng là một phần của khối tài sản gia đình, đặt ngoài lưu thông để phục vụ cho các mục đích tín ngưỡng Trong luật cận đại, di sản thờ cúng là khối tài sản không có chủ sở hữu theo luật chung đặt dưới sự quản lý của tất cả những người có liên quan đến việc thờ cúng tổ tiên Bên cạnh di sản thờ cúng, gia đình còn có một khối sản nghiệp khác Hai khối sản nghiệp này hoàn toàn độc lập với nhau, trong đó

di sản thờ cúng là một sản nghiệp đặc biệt vì không có tài sản nợ26

1.4.3 Luật hiện đại

Ngay từ những ngày đầu giành được độc lập, Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

đã chú trọng thiết lập các chế độ pháp lý của nhà nước dân chủ nhân dân Quyền sở hữu

tư nhân được thừa nhận ngay trong các văn bản pháp luật đầu tiên của nhà nước ta, trong

đó ghi nhận quyền sở hữu về tài sản của cá nhân nói chung cũng như quyền để lại di sản thừa kế nói riêng Mặc dù vậy, luật học thời kỳ này chưa xây dựng khái niệm sản nghiệp

Từ năm 1986, với chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, việc tích lũy của cải của tư nhân được khuyến khích Chính điều này đã góp phần tạo điều kiện cho các giao dịch về tài sản được xác lập đa dạng và phong phú hơn, là cơ sở để xây

Trang 28

dựng lý thuyết về sản nghiệp của luật học Việt Nam trên cơ sở vận dụng có chọn lọc những thành tựu của các hệ thống luật tiên tiến và kế thừa có sáng tạo tinh thần luật học

cổ điển của nước nhà27

Nhờ sự kế thừa, phát huy có tính chọn lọc những điều sẵn có và tìm ra những điểm mới mà cho đến thời điểm hiện tại, nước ta đã chính thức cho ra đời hai Bộ luật dân sự nhằm điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội Đặc biệt là vấn đề về tài sản, vấn đề có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống của nhân dân và nền kinh tế quốc gia

1.4.3.1 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995

“Với chính sách kinh tế thị trường, bắt đầu từ năm 1987, việc tích lũy của cải trong khu vực tư nhân được khuyến khích và, như là một hệ quả tất yếu, lưu thông dân sự phát triển nhanh Nhằm kịp thời điều chỉnh các quan hệ tài sản càng lúc càng trở nên rất phong phú và đa dạng trong dân cư, trong thời gian ngắn, Nhà nước đã xây dựng hàng loạt quy phạm pháp luật dân sự, được ghi nhận trong nhiều văn bản lập pháp và lập quy: Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Luật Đất đai năm 1987; Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987; Luật quốc tịch năm 1988; các Nghị định số 27, 28, 29 ngày 9/3/1998 và

số 170 ngày 14/11/1988 về kinh tế ngoài quốc doanh; các Nghị định số 85 ngày 13/5/1988, số 200 và 201 ngày 28/12/1988 về sở hữu công nghiệp; Pháp lệnh về chuyển giao công nghệ năm 1988; Pháp lệnh sở hữu công nghiệp năm 1989; Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989; Pháp lệnh thừa kế năm 1990; Pháp lệnh nhà ở và Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991; Luật Đất đai năm 1993; Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994;… Tuy các pháp lệnh có nhiều nhưng đôi khi chồng chéo và mâu thuẫn với nhau nên đã gây

ra nhiều khó khăn cho việc áp dụng pháp luật

Những kinh nghiệm từ việc áp dụng các văn bản nói trên đã được đúc kết; những nghiên cứu mang tính học thuật về di sản pháp luật dân sự Việt Nam, về tục lệ truyền thống… đặc biệt nghiên cứu luật so sánh cũng được thực hiện một cách nghiêm túc và khẩn trương, song song với việc áp dụng các văn bản này Toàn bộ kết quả của những việc đó, cùng với các dự báo về khả năng phát triển của các quan hệ dân sự trong xã hội Việt Nam, đã đặt cơ sở cho việc xây dựng dự án Bộ luật dân sự Việt Nam năm 199528” Với sự phát triển của nền kinh tế thời đại thì vấn đề trao đổi, mua bán và lưu thông hàng hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ, đa dạng và phức tạp Vì vậy mà nước ta cần phải

có một hệ thống pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ diễn ra trong đời sống xã hội Chính vì như vậy, trong lịch sử lập pháp của nước ta lần đầu tiên đã ban hành ra một Bộ luật có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống của toàn thể nhân dân và đặc biệt là ảnh

27

Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam - tập 1, NXB Đại học Cần Thơ, 2008, tr 102

28

Thông tin pháp luật dân sự, Ứng dụng của Luật so sánh trong xây dựng Bộ luật dân sự của Việt Nam., Phạm Trí

Hùng,, http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/07/08/327/ , [truy cập ngày 11-11-2014]

Trang 29

hưởng to lớn đến việc quản lý nền kinh tế đất nước Đó là việc Bộ luật dân sự năm 1995 được ban hành

Ngày 28 tháng 10 năm 1995, Quốc hội thứ IX tại kỳ họp thứ 8 đã thông qua Bộ luật dân sự và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 1996 Nó đã đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử lập pháp của đất nước Sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 1995 là công trình pháp điển hóa pháp luật dân sự đầu tiên từ khi đất nước Việt Nam thống nhất, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thay đổi nhận thức về mối quan hệ Nhà nước và đời sống dân sự Bộ luật dân sự năm 1995 được xem như là một trong những Bộ luật lớn nhất của nước ta từ trước đến nay, có thể nói Bộ luật này có tầm quan trọng đứng

thứ hai sau Hiến pháp Theo đó, Bộ luật dân sự góp phần bảo đảm cuộc sống cộng đồng

ổn định, lành mạnh, giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hoá dân tộc hình thành trong lịch sử lâu dài xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, góp phần xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh 29 Bộ luật dân sự năm 1995 được ban hành có tổng cộng là 838 điều, trong đó có 7 phần, 35 chương

và 54 mục Trong đó, chế định về tài sản và quyền sở hữu được quy định tại phần thứ hai của Bộ luật dân sự năm 1995

Có thể nói, Bộ luật dân sự năm 1995 đã xác định được trọng tâm của vấn đề nhằm bắt kịp với xu hướng của thời đại mới Đó là việc xác định đúng tính cấp thiết của nhu cầu thực tế về đời sống của con người thông qua việc ban hành ra các quy định về tài sản Đây chính là một bước tiến rất có ý nghĩa và rất quan trọng trong việc mở ra một trang mới cho kỹ năng lập pháp của nước ta Tuy nhiên, do việc phát triển nền kinh tế xã hội trong đời sống của con người ngày càng tăng cao, khoa học và công nghệ phát triển một cách nhanh chóng Ngoài ra, do Bộ luật dân sự năm 1995 là một Bộ luật có tầm vĩ mô nhưng cũng là Bộ luật dân sự lần đầu tiên được Nhà nước ta ban hành nên không thể tránh khỏi việc có một số vấn đề bất cập đáng kể mà Bộ luật không quy định Chính vì như thế mà Nhà nước ta lại tiếp tục ban hành ra Bộ luật dân sự thứ hai, đó chính là Bộ luật dân sự năm 2005

1.4.3.2 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005

Qua gần 10 năm thi hành các quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 thì với sự phát triển của các quan hệ xã hội ngày càng đa dạng, phức tạp nên dẫn đến việc áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự đã bộc lộ ra nhiều vướng mắc cần phải khắc phục Chính vì như vậy, Bộ luật dân sự năm 2005 đã được ra đời nhằm kế thừa và phát huy những quy định còn phù hợp với thực tiễn hiện tại thời bấy giờ của Bộ luật dân sự năm 1995 Đồng

29

Bộ luật dân sự năm 1995

Trang 30

thời, Quốc hội còn tiến hành sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật dân sự năm

1995 mà không còn phù hợp với quy luật của thực tiễn

Bộ luật dân sự năm 2005 đã được Quốc hội khóa XI ban hành vào ngày 14 tháng 6 năm 2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 với mục đích là thay thế

Bộ luật năm 1995, với định hướng chung là Bộ luật dân sự năm 2005 trở thành luật chung, là cơ sở để các luật chuyên ngành khác lấy làm căn cứ để điều chỉnh các mối quan

hệ dân sự, tạo thành một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, bảo đảm tính liên kết, đồng bộ khi áp dụng pháp luật vào việc điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng30 Bộ luật dân sự năm 2005 được ban hành với bề dày 777 Điều gồm bảy phần, 36 chương Trong

đó, tài sản và phân loại tài sản được quy định tại phần thứ hai, từ chương X đến chương

XI, từ Điều 163 đến Điều 181 của Bộ luật dân sự hiện hành Có thể nói những quy định

về tài sản của Bộ luật dân sự hiện hành có nhiều điểm tiến bộ hơn so với những quy định

về tài sản của Bộ luật dân sự năm 1995 Chẳng hạn như các quy định về tài sản và phân loại tài sản từ Điều 163 đến Điều 181 của Bộ luật dân sự năm 2005 là kết quả một phần của sự kế thừa những quy định còn phù hợp của luật, còn một phần là việc rút ra những bài học kinh nghiệm về thực tiễn áp dụng của luật trong gần 10 năm qua nhằm sửa đổi,

bổ sung những quy định nhằm hạn chế và giải quyết những bất cập của luật Cụ thể, theo

quy định tại Điều 172 của Bộ luật dân sự năm 1995 thì: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”

Tuy nhiên, theo Điều 163 của Bộ luật dân sự năm 2005 (Bộ luật dân sự hiện hành)

thì: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”

Như vậy, Bộ luật dân sự năm 2005 đã loại bỏ hoàn toàn quy định để được xem là tài

sản thì bắt buộc vật đó phải là vật có thực mà chỉ quy định đơn giản là vật Với cách quy

định này thì Bộ luật dân sự hiện hành đã quy định một cách khái quát hơn so với Bộ luật dân sự năm 1995 theo kiểu mở rộng cách quy định về tài sản (vật) Bởi lẽ, ngoài vật có thực có thể được xem là tài sản thì còn có những vật sẽ được hình thành trong tương lai cũng có thể được xem là tài sản,…

Ngoài ra, Bộ luật dân sự năm 2005 lại tiếp tục duy trì cách phân loại tài sản và phân loại vật như cách phân loại tài sản và phân loại vật của Bộ luật dân sự năm 1995 Theo

đó, tài sản và vật được phân loại thành: Động sản và bất động sản; hoa lợi, lợi tức; vật chính và vật phụ; vật tiêu hao và vật không tiêu hao; vật cùng loại và vật đặc định; vật đồng bộ; vật chia được và vật không chia được

Do đặc điểm kinh tế - xã hội ở từng giai đoạn, từng thời kỳ khác nhau thì cơ bản là khác nhau Như vậy, yêu cầu về pháp luật ở từng thời kỳ, từng giai đoạn đó để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội cũng khác nhau Chính vì như vậy, một số quy định của Bộ

30

Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 - Tập 1, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013

Trang 31

luật dân sự năm 2005 đã dần dần bộc lộ ra nhiều bất cập, nhiều vướng mắc khi những quy định của pháp luật hiện hành dường như không đủ để áp dụng vào việc giải quyết một số vấn đề thực tiễn đã và đang diễn ra Đặc biệt là một số vấn đề phát sinh trên thực

tế không có quy định của pháp luật để áp dụng nhằm giải quyết được vấn đề phát sinh Vì vậy, không dừng lại ở đó thì mới đây (tháng 6 năm 2014), Nhà nước ta đã tiến hành dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều luật cho Bộ luật dân sự năm 2005 và trong đó có dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều luật quy định về tài sản

Nói tóm lại, sự ra đời của các Bộ luật dân sự của nước ta đã khẳng định sự tiến bộ vượt trội trong kỹ năng lập pháp của Nhà nước ta, đưa nước ta bước vào một thời kỳ mới

- thời kỳ hội nhập với sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Đặc biệt là các quy định về tài sản, các quy định này đã góp phần ổn định trật tự nền kinh tế của nước nhà

Trang 32

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ TÀI SẢN 2.1 Quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về tài sản

Theo quy định tại Điều 163 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Trong đó, mỗi loại tài sản sẽ có những quy chế

pháp lý riêng Chẳng hạn:

2.1.1 Vật

Tuy Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995, cũng như Bộ luật dân sự năm 2005 chưa định nghĩa thế nào là vật Nhưng theo lý luận chung thì vật là một bộ phận của thế giới vật chất, chúng tồn tại một cách khách quan xung quanh con người Vật được tồn tại trong đời sống của con người rất đa dạng nhưng không phải là mọi vật hay tất cả các vật của thế giới vật chất đều là tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự Vật được xét theo những

phương diện, những tiêu chuẩn khác nhau thì tương đối khác nhau:

Trước tiên, nếu xét theo tiêu chuẩn lý học thì vật trước hết là một vật thể tồn tại xác định được bằng các đơn vị đo lường Chẳng hạn như về khối lượng, về hình thức, về tính chất hóa, lý, sinh và một số thuộc tính khác của vật trong mối tương quan với thế giới khách quan, cả về mặt tự nhiên và xã hội…

Thứ hai, nếu như vật được xét theo tiêu chuẩn của pháp luật dân sự thì vật phải tồn tại có thực hoặc vật được hình thành trong tương lai mà khi đó con người phải chiếm hữu được, chi phối được, xác định được và phải sử dụng được vì mục đích kinh doanh hoặc trong sinh hoạt tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người Thư ba, nếu vật được xét theo phương diện chế độ pháp lý thì theo quy định của pháp luật, vật đó có thể là vật cấm không được lưu thông, vật hạn chế lưu thông hoặc là vật được tự do lưu thông dân sự Chẳng hạn, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện

nay thì pháp luật cấm người dân trồng cây có chứa chất ma túy; Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, bảo quản, mua bán, phân phối, giám định, xử lý, trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, nghiên cứu trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần 31 ,… Trong đó, chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần

được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành; chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng; chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng; tiền chất là các hóa chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành32 Những vật đó chính là những vật mà theo quy định của pháp luật được xem là vật cấm lưu thông Ngoài ra, chế độ pháp lý đối với vật thì không phải là bất

Trang 33

biến mà là nó có tính chất khả biến Bởi vì, có thể một mặt vật phụ thuộc vào sự phát triển chung của kinh tế xã hội trong từng giai đoạn nhất định và có thể mặt khác thì vật còn phụ thuộc vào quan điểm lập pháp của mỗi quốc gia trong một giai đoạn lịch sử nhất định

Thứ tư, theo quan niệm xã hội thì vật được nhiều người sử dụng và vật được một số

ít người sử dụng Nghĩa là, vật được sử dụng phổ biến và vật được sử dụng ít phổ biến Ngoài ra, còn có vật mang giá trị kinh tế lớn, giá trị tinh thần cao và vật mang giá trị kinh tế thấp, giá trị tinh thần không cao,…

Ngoài ra, vật cũng còn có thể được xét theo nhiều tiêu chuẩn khác, nó phụ thuộc vào tâm lý, thẩm mỹ và cách sử dụng của mỗi một cá nhân và của toàn xã hội trong từng thời

kỳ phát triển lịch sử nhất định,…

Không phải lúc nào vật cũng được xem là tài sản, mà phải căn cứ vào những tiêu chí của quan hệ pháp luật dân sự cụ thể để xác định nhằm tránh sự hiểu biết một cách máy móc, xem bất kỳ vật nào cũng là tài sản vì nếu chỉ hiểu vật theo một chiều mà không hiểu được bản chất của vật trong quan hệ pháp luật dân sự sẽ dễ dẫn đến những sai lầm không mong muốn trong việc xác định vật là tài sản hoặc vật không phải là tài sản Chẳng hạn, xét theo quan hệ này thì một vật nhất định được coi là tài sản, nhưng nếu xét theo một quan hệ cụ thể khác thì vật đó không thể được coi là tài sản Chẳng hạn, một hạt cát, một hòn đá hoặc một cọng rác,… chúng đều là vật Bởi vì chúng tồn tại khách quan, con người cũng có thể chiếm hữu được Tuy nhiên, không phải là mọi trường hợp chúng đều

là tài sản Vì trên thực tế chúng không mang giá trị trao đổi với bất kỳ một loại tài sản nào hoặc tự bản thân nó cũng không chứa đựng giá trị kinh tế nào, dù cho chúng cũng là vật Tuy nhiên, nếu trong trường hợp nó là một bãi cát, đá dùng trong việc mua, bán để xây dựng nhà cửa và các công trình kiến trúc khác,… thì trong trường hợp này cát, đá chính là tài sản

Tuy cho đến thời điểm hiện tại thì Bộ luật dân sự Việt Nam vẫn chưa định nghĩa thế nào là một vật, cũng như điều kiện để một vật được xem là tài sản Nhưng, căn cứ theo

Lý luận chung thì một vật để được xem là tài sản theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam khi và chỉ khi vật đó thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu sau:

Thứ nhất, vật đó phải tồn tại khách quan hoặc vật đó phải chắc chắn được hình thành trong tương lai mà khi đó nó có thể xác định được

Thứ hai, vật đó phải được con người chi phối được, kiểm soát được và phải chiếm hữu được

Thứ ba, vật đó phải xác định được giá trị thanh toán hoặc giá trị trao đổi, vật đó phải khai thác được về tài sản nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người

Trang 34

Thứ tư, vật đó là vật được phép lưu thông trong giao dịch dân sự và có thể trao đổi được cho nhau dưới dạng vật chất cụ thể hoặc quy đổi được bằng tiền33

Như vậy, để được xem là tài sản theo pháp luật dân sự Việt Nam thì vật phải đáp ứng đồng thời bốn điều kiện trên, nếu như thiếu đi một trong bốn điều kiện đó thì vật sẽ không được xem là tài sản Chẳng hạn như: quyền hiến các bộ phận bên trong cơ thể con người (nội tạng) theo quy định tại Điều 33 của Bộ luật dân sự năm 2005 Một khi nội tạng (tim, gan, phổi,… ) được tách rời khỏi cơ thể con người thì nó được xác định là một vật độc lập Tuy nhiên, nó không được xem là tài sản Bởi lẽ, tuy nó tồn tại khách quan, được con người kiểm soát và chi phối, đáp ứng được nhu cầu về tinh thần của con người nhưng nó là vật không được phép lưu thông trong giao lưu dân sự, vì tuy pháp luật cho phép cá nhân có quyền nhận bộ phận cơ thể của người khác, trong đó có nội tạng nhưng chỉ là vì mục đích chữa bệnh cho mình Đồng thời, pháp luật cũng nghiêm cấm việc nhận hoặc sử dụng bộ phận cơ thể của người khác vì mục đích thương mại theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật dân sự năm 2005 Điều này cũng đồng nghĩa với việc pháp luật nghiêm cấm việc mua bán nội tạng của con người Chính vì như vậy, nội tạng không thể được xem là tài sản theo quy định của pháp luật dân sự vì nó không được phép lưu thông trong giao dịch dân sự

Trong các loại tài sản được quy định tại Điều 163 của Bộ luật dân sự Việt Nam năm

2005 thì: vật được xem là tài sản phổ biến nhất, thông dụng nhất, dễ đưa vào trong giao dịch dân sự nhất và cũng được đưa vào trong giao dịch dân sự nhiều nhất Tuy nhiên, cần lưu ý rằng là mỗi loại vật lại có những đặc tính khác nhau và một khi nó đã trở thành đối tượng trong các giao dịch dân sự thì nó lại phải cần đến những quy chế để điều chỉnh và

áp dụng riêng Tuy cho đến thời điểm hiện tại, Bộ luật dân sự năm 2005 vẫn chưa đưa ra định nghĩa và cách xác định như thế nào là một vật được xem là tài sản Tuy nhiên, dựa vào những giá trị, những đặc tính tự nhiên riêng, ý nghĩa của chúng khi tham gia vào giao lưu dân sự thì Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định cụ thể cách phân loại vật Theo đó, vật được chia thành vật chính và vật phụ, vật chia được và vật không chia được, vật tiêu hao và vật không tiêu hao, vật cùng loại và vật đặc định, vật đồng bộ và vật không đồng

bộ

2.1.1.1 Vật chính và vật phụ

Dựa vào mối liên hệ và sự phụ thuộc về công dụng của các vật đối với nhau mà vật được phân thành vật chính và vật phụ Trong đó:

“Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng34” Nghĩa là,

vật chính được sử dụng mà không cần phải có vật khác đi kèm theo nhưng vẫn khai thác

Trang 35

được công dụng của nó Chẳng hạn như tivi, máy điều hòa, máy ảnh, Như vậy, vật chính là vật có thể được nhận biết với đầy đủ các tính năng, cấu tạo mà không cần bất cứ một vật nào khác (vật phụ) hỗ trợ

“Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một

bộ phận của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính35” Chẳng hạn như nếu xem máy

ảnh là vật chính thì vỏ máy ảnh sẽ được xem như vật phụ, hoặc nếu như xem ngôi nhà là vật chính thì những cánh cửa sẽ được xem như là vật phụ, Như vậy, vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho vật chính nhằm khai thác các công dụng và tính năng của vật chính mà thông thường là nó sẽ làm giá trị của vật chính được tăng lên nhưng không hẳn nó là một yếu không thể thiếu được với vật chính Ngoài ra, một khi nó được tách ra khỏi vật chính thì nó có thể trở thành một tài sản độc lập và có những công dụng đặc thù riêng của mình Với công dụng là phục vụ trực tiếp cho việc khai thác công dụng của vật chính nên

về nguyên tắc cơ bản thì vật chính và vật phụ có thể được xem là đối tượng thống nhất, thuộc về cùng một chủ sở hữu Căn cứ theo Điều 176, khoản 2 của Bộ luật dân sự hiện

hành: “Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì phải chuyển giao cả vật phụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”, thì nếu như một khi các bên không có thỏa thuận gì

khác thì vật phụ sẽ được đi kèm với vật chính khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính Chẳng hạn như trong ví dụ trên, một khi ngôi nhà được bán thì những cánh cửa cũng sẽ được chuyển giao cho người mua, nếu như các bên không có thỏa thuận khác Còn nếu như các bên có thỏa thuận khác như chỉ cần giao vật chính mà không cần giao ra vật phụ thì các bên có thể tuân theo thỏa thuận đó do vật chính và vật phụ có thể tồn tại độc lập với nhau mà không cần phụ thuộc vào nhau Cũng cần lưu ý rằng một khi vật chính được mua bán, tặng cho, trao đổi, thì mặc nhiên vật phụ cũng sẽ được đi theo, ngoại trừ việc các bên có thỏa thuận khác

Về phương diện vật lý thì vật chính và vật phụ là hai vật có thể hoàn toàn tách rời nhau được Tuy nhiên, trên thực tế, do giá trị và ý nghĩa về kinh tế thì vật này và vật kia (vật chính và vật phụ) một khi chúng đi kèm với nhau thì sẽ làm cho giá trị của chúng được tăng lên Chính vì như vậy, trong nền kinh tế thị trường như hiện nay thì do với mong muốn tăng giá trị cạnh tranh và thu hút khách hàng nên ngoài việc ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm (xem như là vật chính) của mình, các nhà doanh nghiệp hoặc các nhà phân phối sản phẩm cũng đã cải tiến một số mẫu mã bên ngoài như hình dáng và màu sắc cho các hộp xốp, túi ni lông, bao bì (xem như là vật phụ) với hình thức đẹp mắt hơn Vì thế, ngày nay vật phụ cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp ở trên thị trường

35

Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, Điều 176, khoản 2

Trang 36

Ngoài ra, việc phân loại thành vật chính và vật phụ có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định đúng nghĩa vụ giao vật Bởi lẽ vật phụ được tạo ra là nhằm mục đích để phục vụ cho việc khai thác các công dụng, tính năng của vật chính và luôn đi kèm với vật chính nên một khi bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì phải chuyển giao cả vật phụ nếu như không có thỏa thuận khác giữa các bên36

2.1.1.2 Vật chia được và vật không chia được

Dựa vào việc xác định tính chất vật lý, tính năng, giá trị sử dụng của một vật khi nó được chia ra thành nhiều phần nhỏ mà Bộ luật dân sự hiện hành của nước ta quy định vật được chia thành vật chia được và vật không chia được Trong đó:

“Vật chia được là vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử dụng ban đầu37” Chẳng hạn như gạo, xăng, dầu, là một số vật có thể bị phân chia

thành nhiều phần mà chúng vẫn giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng ban đầu của mình

“Vật không chia được là vật khi bị phân chia thì không giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng ban đầu38” Chẳng hạn như giường, tủ, tivi, đồng hồ, là một số vật

khi phân chia thành nhiều phần nhỏ thì khi được chia ra chúng không thể có được tính chất cũng như tính năng sử dụng ban đầu của mình

Trên thực tế, cách thức phân chia thành vật chia được thì đơn giản hơn rất nhiều so với việc phân chia vật không chia được Đối với vật chia được thì người ta sẽ tiến hành chia vật thành những phần bằng nhau hoặc theo những tỉ lệ nhất định tùy theo sự thỏa thuận của các bên Tuy nhiên, khi muốn phân chia những vật không chia được thì ta không thể nào tiến hành chia chúng thành những phần bằng nhau hoặc những tỉ lệ nhất định được, vì như thế chúng sẽ chẳng thể nào giữ được công dụng và tính năng sử dụng ban đầu vốn có của mình Chính vì như thế, Bộ luật dân sự hiện hành của nước ta đã quy

định: “Khi cần phân chia vật không chia được thì phải trị giá thành tiền để chia39” và như vậy, một hoặc một số chủ thể còn lại mà không nhận được vật không chia được thì chắc chắn rằng chủ thể sẽ có quyền nhận được phần tiền tương ứng với phần giá trị của vật mà mình đáng được hưởng

Như vậy, việc phân loại vật thành vật chia được và vật không chia được này có ý nghĩa đặc biệt khi cần phân chia tài sản là vật Nếu như cần phân chia tài sản là vật chia được thì người ta sẽ tiến hành chia luôn bằng hiện vật để tạo thuận tiện và và đảm bảo cho sự khách quan và công bằng Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp rơi vào việc nếu một khi chia bằng hiện vật thì tài sản sẽ mất đi giá trị vốn có của mình và không thể sử

Trang 37

dụng được nên chính vì như vậy, đối với vật không chia được thì phải được trị giá ra thành tiền để chia

2.1.1.3 Vật tiêu hao và vật không tiêu hao

Dựa vào việc xác định đặc tính vật lý và giá trị sử dụng của tài sản là vật thì Bộ luật dân sự hiện hành đã quy định việc phân loại vật thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao Trong đó:

“Vật tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu40” Chẳng hạn như gạo, thực phẩm, là

những vật mà sau khi sử dụng qua một lần thì chúng sẽ mất đi về mặt vật chất hoặc không còn giữ nguyên được hình dáng, tính chất vật lý và tính năng sử dụng như ban đầu Ngoài ra, một số vật có thể bị giảm sút về số lượng, chất lượng, trọng lượng, hoặc thậm chí bị biến đổi thành vật khác, tồn tại ở một trạng thái khác thì chúng cũng được gọi là vật tiêu hao Chẳng hạn như xà phòng sau khi được qua một lần sử dụng thì nó sẽ bị giảm trọng lượng hoặc biến đổi thành một dạng vật chất khác, xi măng sau khi sử dụng chúng

sẽ biến thành một vật khác, hoặc thực phẩm một khi được sử dụng chắc chắn nó sẽ bị biến dạng hoặc mất đi, Chính vì như vậy, theo Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy

định tại Điều 178, khoản 1: “Vật tiêu hao không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng cho mượn” Thật vậy, bởi lẽ chắc chắn một điều rằng nếu một vật mà là

đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc cho mượn tài sản, cũng đồng nghĩa với việc chuyển quyền sử dụng tài sản cho bên thuê hoặc bên mượn tài sản trong một thời hạn nhất định thì khi đó, một khi hết thời hạn hợp đồng thì bên thuê hoặc bên mượn tài sản phải trả lại tài sản đó cho bên cho thuê hoặc bên cho mượn tài sản đúng như hình dạng, kích thước và trạng thái ban đầu vốn có Tuy nhiên, do đây là một vật tiêu hao cho nên bên thuê hoặc bên mượn tài sản chắc chắn không thể thực hiện được đúng nghĩa vụ trả lại vật đó Vì thế, vật tiêu hao không thể trở thành đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc cho mượn tài sản mà chúng có thể trở thành đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản

“Vật không tiêu hao là vật khi đã qua sử dụng nhiều lần mà cơ bản vẫn giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu41” Chẳng hạn như xe máy, quạt gió,

bàn ghế, điện thoại, là những vật mà khi sử dụng chúng qua nhiều lần mà cơ bản nó vẫn giữ được đặc tính, hình dáng và trạng thái ban đầu vốn có của mình

Như vậy, Bộ luật dân sự hiện hành của nước ta phân loại tài sản là vật thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định đối tượng của hợp đồng dân sự Chẳng hạn như vật tiêu hao thì không thể trở thành đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc cho mượn (vay) tài sản mà nó có thể trở thành đối tượng của hợp

Trang 38

đồng mua bán tài sản hoặc ngược lại, tài sản là vật không tiêu hao thì có thể trở thành đối tượng của tất cả các loại hợp đồng dân sự nói trên

2.1.1.4 Vật cùng loại và vật đặc định

Dựa vào các dấu hiệu phân biệt của vật mà Bộ luật dân sự của nước ta đã phân loại vật thành vật cùng loại và vật đặc định Trong đó:

“Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường42” Nghĩa là, một vật để được xem là vật cùng

loại của một vật khác thì vật đó phải có cùng một hình dáng, tính chất (vật lý), tính năng

sử dụng, đơn vị đo lường, với vật đó Chẳng hạn như những cái chén có cùng mẫu mã, hình dáng, kích thước, trọng lượng với nhau và cùng một xuất xứ thì được xem là vật

cùng loại với nhau Trong Bộ luật dân sự có quy định rằng “vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau 43 ” Như vậy, nên một khi bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa

vụ giao vật cùng loại thì bên có nghĩa vụ chỉ cần giao vật cùng loại với một chất lượng chỉ tầm trung bình thì đã được xem là bên có nghĩa vụ đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định tại khoản 2, Điều 289 của Bộ luật dân sự năm 2005 Chẳng hạn như: Một người đến một cửa hàng điện tử mua một chiếc tivi hiệu samsung, đời mới Khi đó,

cả cửa hàng đó có thể có hàng trăm chiếc tivi thỏa mãn được hai tiêu chí đó Vì vậy, nếu người mua không đưa thêm thông tin hoặc yêu cầu nào khác (vị trí đặt chiếc tivi trên giá, ) thì người bán chỉ cần giao bất kỳ một chiếc tivi nào trong số hàng trăm chiếc tivi

đó mà nó thỏa yêu cầu là chiếc tivi samsung, đời mới mà thôi

Thực chất, khái niệm vật cùng loại chỉ là một khái niệm mang tính chất tương đối Bởi vì: một vật được xem là vật cùng loại khi nó là đối tượng của giao dịch này nhưng nó cũng có thể trở thành một vật đặc định trong quá trình thực hiện một giao dịch dân sự khác Chẳng hạn như: Có một thương nhân mua của một nông trường 100 tấn gạo loại 1 Khi đó, tại thời điểm giao kết hợp đồng thì 100 tấn gạo loại 1 là vật cùng loại nằm trong kho của nông trường Tuy nhiên, sau đó số gạo bị tách ra khỏi khối thương phẩm của nông trường và được đem giao cho thương nhân thì nó sẽ trở thành vật đặc định khi nhập vào kho của thương nhân để trở thành nguồn hàng bán lẻ Cần lưu ý rằng, không phải lúc nào cũng xem nó là vật đặc định Bởi lẽ, nó có thể trở lại là vật cùng loại nếu như trong kho của thương nhân cũng có gạo loại 1 này Chính vì như vậy mà khái niệm vật cùng loại chỉ mang tính chất tương đối mà không phải là tuyệt đối

“Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về

ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí44” Nghĩa là, một vật để được xem

là vật đặc định đối với những vật khác thì nó phải có những đặc điểm riêng như về ký

Trang 39

hiệu, hình dáng, màu sắc, so với những vật khác Chẳng hạn như ví dụ trên, việc một người mua chiếc tivi Một khi chiếc tivi được mua về, nó được đặt trong ngôi nhà của người mua thì nó sẽ trở thành một vật đặc định Bởi lẽ, nó là chiếc tivi samsung đời mới duy nhất mà không có chiếc tivi samsung đời mới nào khác, hoặc thậm chí là không có bất cứ một chiếc tivi nào khác trong ngôi nhà của người đó

Thực tế, có thể xem vật đặc định được phân biệt thành hai loại sau:

Thứ nhất là vật đặc định độc nhất45 Vật đặc định độc nhất có thể được hiểu là vật chỉ tồn tại duy nhất một cái mà không bao giờ tồn tại cái thứ hai Chẳng hạn như: cầu Long Biên, Tháp Rùa, Sở dĩ, chúng được xem là vật đặc định độc nhất là do tên gọi, ký hiệu, màu sắc, của chúng là duy nhất mà không hề có vật thứ hai có những thứ riêng đó Thứ hai là vật được đặc định hóa46 Vật được đặc định hóa có thể được hiểu là vật

mà trước đó nó là một vật cùng loại nhưng vì một số nguyên nhân khác nhau thì con người đã đặc định hóa nó bằng các ký hiệu hoặc những dấu hiệu riêng Chẳng hạn như: Hai người cùng mua những cái chén cùng loại với nhau, được xem là vật cùng loại Tuy nhiên, sau đó hai người đã tự làm những ký hiệu riêng lên những cái chén cùng loại mà mình đã mua về, chẳng hạn như tên của mình để làm dấu là nó thuộc quyền sở hữu của mình Như vậy, những cái chén thuộc về hai người đó không còn được xem là vật cùng loại với nhau nữa mà những cái chén thuộc về cùng một chủ sở hữu thì có thể được xem

là vật cùng loại, nhưng đối với cái chén của chủ sở hữu này so với cái chén của chủ sở hữu kia thì chúng không được xem là vật cùng loại của nhau nữa mà chúng là từng vật đặc định riêng Ngoài ra, các loại giấy tờ như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc các loại giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản khác có thể được xem là vật đặc định hóa, bởi vì: cùng là tờ giấy có kích thước như nhau, loại giấy chứng nhận là như nhau; tuy nhiên, dấu hiệu nhận biết dùng để phân biệt chủ sở hữu của các loại giấy tờ này là khác nhau, do con người tác động vào và làm cho nó có ký hiệu khác nhau ví dụ như: tên chủ sở hữu, mã số chứng nhận, mã số thuế,… của mỗi chủ sở hữu khác nhau thì cơ bản là khác nhau Như vậy, giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu cũng có thể được xem là vật đặc định hóa

Chính vì như vậy mà đối với vật đặc định, nếu một khi bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật thì bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó Còn nếu như bên có nghĩa vụ mà giao vật khác mặc dù đúng với số lượng, chất lượng thì vẫn bị xem là

vi phạm nghĩa vụ và bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự của mình

45

Lê Đình Nghị - Nguyễn Thị Ánh Vân – Vương Thanh Thúy – Vũ Thị Hồng Yến, Giáo trình Luật dân sự Việt

Nam - tập 1, NXB giáo dục Việt Nam

46

Lê Đình Nghị - Nguyễn Thị Ánh Vân – Vương Thanh Thúy – Vũ Thị Hồng Yến, Giáo trình Luật dân sự Việt

Nam - tập 1, NXB giáo dục Việt Nam

Trang 40

Như vậy, Bộ luật dân sự của nước ta quy định tài sản là vật được phân loại thành vật cùng loại và vật đặc định là nhằm xác định đúng nghĩa vụ chuyển giao vật của bên có nghĩa vụ khi thực nghĩa vụ dân sự Căn cứ theo khoản 2, Điều 289 của Bộ luật dân sự

năm 2005 thì: Khi vật phải giao là vật đặc định thì bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó

và đúng tình trạng như đã cam kết; nếu là vật cùng loại thì phải giao đúng số lượng và chất lượng như đã thỏa thuận và nếu không có thỏa thuận về chất lượng thì phải giao vật

đó với chất lượng trung bình Vì vậy, nếu như trong hợp đồng dân sự không có thỏa

thuận khác thì bên có nghĩa vụ có quyền thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật của mình là vật cùng loại Ngược lại, nếu như trong hợp đồng có thỏa thuận là bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật phải là vật đặc định thì bên có nghĩa vụ phải chuyển giao đúng vật đó cho bên có quyền Nếu như vi phạm nghĩa vụ chuyển giao vật thì bên có nghĩa vụ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm dân sự theo như thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, nếu như vật cần phân chia là vật không chia được thì phải trị giá thành tiền để chia47 Vấn đề đặt ra ở đây là: nếu như một khi mà vật được xem là vật đặc định mà chủ sở hữu phải thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định nhưng vật đó không còn và một khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến vấn đề này thì pháp luật sẽ giải quyết như thế nào khi Bộ luật dân sự năm 2005 không hề đề cập đến vấn đề này? phải chăng pháp luật sẽ giải quyết rằng: buộc người có nghĩa vụ thực hiện việc chuyển giao vật đặc định phải bồi thường cho bên có quyền một khoản tiền nào đó? Tuy nhiên, nếu là như vậy thì vấn đề tiếp tục lại được đặt ra là: nếu vật đặc định đó có liên quan đến giá trị tinh thần của chủ sở hữu nó thì có phải chỉ dùng tiền để bồi thường là có thể giải quyết được vấn đề chăng? Như vậy, có thể nhận thấy rằng: trên thực tế áp dụng các quy định về tài sản liên quan đến vật đặc định không hề đơn giản tí nào, nhất là các vấn đề liên quan

đến giá trị tinh thần của con người

2.1.1.5 Vật đồng bộ và vật không đồng bộ

Dựa vào sự ăn khớp và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau giữa các bộ phận của một vật thì Bộ luật dân sự hiện hành của nước ta cũng đã phân loại tài sản là vật thành vật đồng bộ và vật không đồng bộ Trong đó:

“Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút48” Nghĩa là, nó là một vật bao gồm những phần hoặc những bộ phận

hợp thành để tạo ra được một chỉnh thể (vật) hoàn chỉnh, nhưng những phần đó hoặc những bộ phận đó phải được ăn khớp với nhau Nếu như một khi một trong những phần hoặc một trong những bộ phận đó mà bị thiếu đi hoặc nó không đúng quy cách, chủng

Ngày đăng: 03/10/2015, 23:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w