1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tuyển dụng công chức hành chính nhà nước lý luận và thực tiễn tại tỉnh hậu giang

72 659 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xây dựng một đội ngũ công chức bao gồm những người có trình độ chuyên môn, có năng lực quản lý và có phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc vì trách nhiệm của mình trước công vụ

Trang 1

KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS.Diệp Thành Nguyên Nguyễn Thị Ngọc Nhi

MSSV: 5117417 Lớp: Luật hành chính k37

Hậu Giang, 11/2014

Trang 2



Ngày… Tháng … năm 2014

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN



Ngày……tháng……năm 2014

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.1.1 Khái niệm về công chức 4

1.1.2 Khái niệm về tuyển dụng 6

1.1.3 Khái niệm về tuyển dụng công chức hành chính 7

1.2 Nguyên tắc tuyển dụng công chức 8

1.2.1 Đảm bảo công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật 8

1.2.2 Đảm bảo tính cạnh tranh 9

1.2.3 Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm 10

1.2.4 Ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân tộc thiểu số 10

1.3 Vai trò của việc tuyển dụng công chức hành chính 11

1.4 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tuyển dụng công chức 12

1.4.1 Giai đoạn 1945- 1954 12

1.4.2 Giai đoạn 1954- 1975 13

1.4.3 Giai đoạn 1976- 1986 15

1.4.4 Giai đoạn 1987 đến 2000 16

Trang 5

CHƯƠNG 2:

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TUYỂN DỤNG

CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC 20

2.1 Căn cứ tuyển dụng công chức 20

2.2 Điều kiện đăng ký dự tuyển 20

2.3 Hồ sơ đăng ký dự tuyển 22

2.5 Chủ thể có quyền đăng ký dự tuyển công chức 25

2.6 Phương thức tuyển dụng 25

2.6.1.Phương thức thi tuyển 25

2.6.2 Phương thức xét tuyển 26

2.7 Nội dung tuyển dụng 27

2.7.1 Nội dung thi tuyển 27

2.7.1.1 Các môn thi và hình thức thi 27

2.7.1.2 Thời gian các môn thi trong kỳ thi tuyển 28

2.7.1.3 Điều kiện miễn thi một số môn 29

2.7.1.4 Cách tính điểm 30

2.7.1.5 Xác định người trúng tuyển 30

2.7.2 Nội dung xét tuyển 31

2.7.2.1 Nội dung xét tuyển 31

2.7.2.2 Cách tính điểm 31

2.7.2.3 Xác định người trúng tuyển 34

2.8 Quy trình tuyển dụng công chức 35

2.8.1 sơ đồ sơ lược về quá trình tuyển dụng công chức 35

2.8.2 Thông báo tuyển dụng và tiếp nhận hồ sơ dự tuyển 36

2.8.4 Thông báo kết quả tuyển dụng 38

Trang 6

2.9 Ưu tiên trong tuyển dụng công chức 46

2.9.1 Ưu tiên trong thi tuyển công chức 46

2.9.2 Ưu tiên trong xét tuyển công chức 47

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN ĐỐI VỚI VIỆC TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH HẬU GIANG 50

3.1 Thực tiễn thực hiện việc tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước tại tỉnh Hậu Giang năm 2011, năm 2013 50

3.1.1 Công tác tuyển dụng công chức hành chính nhà nước tại tỉnh Hậu Giang năm 2011 51

3.1.2 Công tác tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước tại tỉnh Hậu Giang năm 2013 52

3.1.3 Đánh giá công tác tuyển dụng công chức hành chính tại tỉnh Hậu Giang năm 2011 và năm 2013 53

3.1.3 Hạn chế trong công tác tuyển dụng công chức hành chính nhà nước tại tỉnh Hậu Giang trong năm 2011 và 2013 54

3.1.3 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trên 55

3.2 Hướng hoàn thiện đối với việc tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước tại tỉnh Hậu Giang 56

3.2.1 Về mặt pháp luật 56

3.2.2 Về mặt thực tiễn 58

KẾT LUẬN 61

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU



1 Lý do chọn đề tài

Việc đổi mới công tác quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

là một trong những nội dung cơ bản của công cuộc cải cách hành chính, được Đảng

và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và đã thực hiện nhiều hoạt động cải cách trong công

tác quản lý đội ngũ công chức Vì vậy, việc đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ

công chức không chỉ góp phần xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh,

thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả mà còn có tác động tích cực đến nhiều mặt

của đời sống kinh tế – xã hội

Trong hoạt động của nền hành chính, vấn đề xây dựng đội ngũ công chức luôn là

vấn đề quan tâm hàng đầu của nhiều nước trên thế giới Đội ngũ công chức trực tiếp

thực hiện quyền lực Nhà nước trong quản lý xã hội, đảm bảo thực thi pháp luật và là

nhân tố quyết định hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính Ở nước ta, những thành tựu

đạt được trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới có phần đóng góp quan trọng

của đội ngũ công chức Trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành

phần theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa trong xu hướng hội nhập

quốc tế thì vấn đề cấp bách đặt ra là phải xây dựng và phát triển đội ngũ công chức

Việc xây dựng một đội ngũ công chức bao gồm những người có trình độ chuyên môn,

có năng lực quản lý và có phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc vì trách nhiệm

của mình trước công vụ là yêu cầu cấp thiết trước tình hình đổi mới đất nước để xây

dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, do đó cần làm tốt công tác tuyển

dụng

Hoạt động tuyển dụng mang tính quyết định, là bước đầu tiên của công tác xây

dựng đội ngũ công chức Việc tổ chức tuyển dụng công chức những năm gần đây mặc

dù có nhiều cải tiến và đổi mới, nhưng trong thời gian qua do chưa được quan tâm

đúng mức nên chúng ta chưa phát hiện ra những lổ hỏng trong công tác tuyển dụng

công chức nên vẫn còn không ít hạn chế, bất cập mà dư luận xã hội quan tâm như

thiếu khách quan, công bằng, minh bạch và nghiêm túc trong thi tuyển Điều này đã

ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và gây nên sự bất bình

đẳng trong xã hội khi mà người có đủ năng lực và phẩm chất đạo đức lại không được

tuyển dụng, để khắc phục những tồn tại hiện nay và đáp ứng được yêu cầu của công

Trang 8

cuộc đổi mới, vấn đề cấp bách là phải có chiến lược về con người, trong đó, để xây

dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, thì việc tổ chức tuyển dụng để lựa

chọn những người có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, bổ sung vào đội ngũ công

chức là một trong các giải pháp quan trọng và cần thiết, một nhiệm vụ quan trọng của

mọi cơ quan hành chính Nhà nước, được thực hiện bởi nhiều giải pháp và chính sách

Việc quản lý, phát triển đội ngũ công chức không phải một sớm một chiều mà có

được một đội ngũ công chức đủ năng lực, phẩm chất phục vụ nhân dân mà là cả một

quá trình bền bỉ, lâu dài, liên tục đổi mới có kế thừa Bên cạnh việc đổi mới công tác

tuyển dụng, đánh giá công chức, cần phải kết hợp hài hòa, thích đáng các nội dung

khác trong công tác quản lý công chức như việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, luân

chuyển, các chế độ phúc lợi, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức

Trong điều kiện cải cách hành chính, hướng tới xây dựng một nền hành chính

dân chủ, trong sạch và từng bước hiện đại hóa thì vấn đề tuyển dụng và xây dựng đội

ngũ công chức hành chính càng có ý nghĩa quyết định hơn bao giờ hết, nó cần được

nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn Từ những căn cứ lý luận và sự đòi hỏi của

thực tiễn mà người viết muốn nghiên cứu đề tài “Tuyển dụng công chức hành chính

Nhà nước - lý luận và thực tiễn tại tỉnh Hậu Giang” để làm luận văn cho ngành học

Tuy nhiên về nội dung bài viết người viết chỉ đề cập đến tuyển dụng công chức hành

chính cấp tỉnh do Sở Nội vụ tổ chức còn tuyển dụng công chức hành chính cấp xã do

Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức người viết không đề cấp đến do hạn chế về nguồn

tài liệu tham khảo

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu đề tài này là đề làm sáng tỏ một cách hệ thống về lý luận và

thực tiễn trong công tác tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước tại tỉnh Hậu

Giang trong giai đoạn hiện nay Bên cạnh đó, tìm ra một hướng đi mới để công tác

tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước ngày càng hiệu quả hơn Qua lần nghiên

cứu này người viết muốn truyền đạt đền người đọc hiểu biết sâu hơn về tuyển dụng

công chức hành chính Nhà nước

3 Phạm vi nghiên cứu

Công chức có nội hàm rất rộng nhưng ở phạm vi đề tài này người viết chỉ

nghiên cứu ở khía cạnh nhỏ về công chức, đó là nghiên cứu về: “Tuyển dụng công

Trang 9

chức hành chính Nhà nước tại tỉnh Hậu Giang” Với đề tài này người viết chủ yếu

nghiên cứu về những quy định trong Luật cán bộ, công chức năm 2008 và một số

Nghị định, Thông tư và một số tài liệu có liên quan khác về tuyển dụng công chức

hành chính Nhà nước Có thể nói đây là vấn đề quan trọng trong giai đoạn hiện nay để

xây dựng đội ngũ công chức vững mạnh, góp phần đổi mới hệ thống chính trị trong

điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển

đất nước thì công tác tuyển dụng phải chặc chẽ, công khai , minh bạch, khách quan và

đúng pháp luật Về thực tiễn người viết nghiên cứu công tác tuyển dụng công chức

hành chính Nhà nước ở phạm vi tỉnh Hậu Giang trong 2 năm (năm 2011 và năm

2013)

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Các quy định của pháp luật

hiện hành, các báo cáo tổng hợp của cơ quan chức năng về tình hình tuyển dụng công

chức hành chính Nhà nước trong những năm qua Trong quá trình nghiên cứu, người

viết đã sử dụng các phương pháp so sánh pháp luật, quy nạp và diễn dịch, phân tích

và tổng hợp, bên cạnh đó, người viết còn lý giải vấn đề tuyển dụng công chức hành

chính Nhà nước theo quan điểm: hệ thống, lịch sử, thực tiễn và các hiện tượng pháp

lý khác

5 Bố cục đề tài

Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung đề tài bao

gồm ba chương

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước

Chương 2: Những quy định của pháp luật hiện hành về tuyển dụng công chức

Nhà nước

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện đối với việc tuyển dụng công

chức hành chính Nhà nước tại tỉnh Hậu Giang

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC

HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm về công chức

Khái niệm công chức mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc vào tính chất

đặc thù của mỗi quốc gia cũng như từng giai đoạn lịch sử của từng nước Trong thực

tế rất khó có một khái niệm chung về công chức cho tất cả các quốc gia do tính chất

đặc thù của mỗi quốc gia khác nhau, có nước xem công chức chỉ là những người làm

việc trong bộ máy hành chính Nhà nước, nhưng có nước bao gồm cả những người

làm việc trong bộ máy hành chính và cả trong các tổ chức dịch vụ công

Ở Việt Nam, do phù hợp với thể chế chính trị và tổ chức bộ máy Nhà nước, Đảng,

Đoàn thể Khái niệm công chức được hiểu là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ

nhiệm giữ một chức vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước hoặc một tổ

chức xã hội ở trung ương hoặc địa phương, những người làm việc trong biên chế và

hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Qua từng thời kỳ, khái niệm công chức ở nước ta ngày càng phát triển và hoàn

thiện và lần đầu tiên được định nghĩa trong một đạo luật đó là luật cán bộ, công chức

năm 2008, được Quốc hội khóa XII, kỳ hợp thứ tư thông qua ngày 13/11/2008 Luật

này đã phân biệt công chức với cán bộ, viên chức bằng một định nghĩa độc lập về

công chức, cụ thể: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào

ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,

tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị

thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công

nhân

quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ

quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự

nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội

(sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ

ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự

nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập

Trang 11

theo quy định của pháp luật.” 1

“Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh

chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng

lương từ ngân sách nhà nước.”2

Để cụ thể những người là công chức, Chính phủ đã ban hành nghị định 06/2010/

NĐ-CP quy định những người là công chức, cụ thể bao gồm những công chức sau:

- Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Công chức trong Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán

Nhà nước

- Công chức trong Bộ, cơ quan Ngang bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ

tướng Chính phủ thành lập

- Công chức trong cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện

- Công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân

- Công chức trong hệ thống Viên Kiểm sát nhân dân

- Công chức trong cơ quan của tổ chức chính trị-xã hội

- Công chức trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân

- Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập

Công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau:3

- Trưởng Công an

- Chỉ huy trưởng Quân sự

- Văn phòng- thống kê

- Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa

chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã)

Trang 12

Phân loại công chức:

Trước đây theo Nghị định 117/2003 NĐ-CP ngày 10/10/2003 về việc tuyển dụng,

sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước thì việc phân loại

công chức phải căn cứ vào trình độ đào tạo, ngạch công chức và vị trí công tác nhưng

sau khi Luật cán bộ, công chức được ban hành thì việc phân loại công chức được nhẹ

nhàng hơn, hay nói cách khác là Luật cán bộ, công chức năm 2008 đã hợp nhất khoản

1 và khoản 2, Điều 4, Nghị định 117/2003/NĐ-CP thành một khoản và được quy định

tại khoản 1, Điều 34, Luật cán bộ, công chức So với trước đây, việc phân loại công

chức theo Luật cán bộ, công chức hiện nay chỉ căn cứ vào ngạch công chức và vị trí

công tác,4 cụ thể:

Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân loại như sau:

Thứ nhất là: Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên

cao cấp hoặc tương đương

Thứ hai là: Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên

chính hoặc tương đương

Thứ ba là: Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên

hoặc tương đương

Thứ tư là: Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc

tương đương và ngạch nhân viên

Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại thành: Công chức giữ chức

vụ lãnh đạo, quản lý và công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý

1.1.2 Khái niệm về tuyển dụng

Thành tựu đạt được của một cơ quan Nhà nước phụ thuộc vào nguồn nhân sự mà

cơ quan Nhà nước đó có Trong đó nguồn nhân sự là một trong những nguồn lực đóng

vai trò hết sức quan trọng, xét cho cùng nguồn nhân sự là nguồn lực quan trọng nhất

của mọi cơ quan Nhà nước bởi yếu tố con người là tác nhân tạo ra những thành tựu để

phát triển đất nước Chất lượng nguồn nhân sự sẽ quyết định năng suất, chất lượng

công việc mà cơ quan, tổ chức đặt ra Vì vậy, điều kiện để có được đội ngũ nhân sự

đủ năng lực và có phẩm chất đạo đức tốt đáp ứng các yêu cầu công việc, các mục tiêu

chiến lược của cơ quan Nhà nước là phải làm tốt công tác tuyển dụng

4

Trang 13

Tuyển dụng được hiểu một cách đơn giản là quá trình sàn lọc và tuyển chọn ra

những người có đủ năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt và đủ điều kiện vào trong cơ

quan, tồ chức đáp ứng một công việc cho một cơ quan, tổ chức

Tuyển dụng là hoạt động rất quan trọng nhằm bổ sung nhân lực cho cơ quan Nhà

nước Tuyển dụng phải theo nguyên tắc cạnh tranh nhưng phải đảm bảo công khai,

minh bạch, khách quan và đúng pháp luật để lựa chọn ra những người ưu tú nhất đảm

nhiệm những vị trí mà cơ quan, tổ chức cần tuyển Tùy theo tính chất, chức năng,

nhiệm vụ của từng loại cơ quan mà tiêu chuẩn điều kiện, hình thức tuyển dụng khác

nhau

Quá trình tuyển dụng bao gồm năm giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Xác định nhu cầu nhân sự mới cần đưa vào trong tổ chức

Giai đoạn 2: Thu hút người lao động tham gia dự tuyển

Giai đoạn 3: Tuyển chọn ra những người đáp ứng được các yêu cầu do tổ chức

đặt ra

Giai đoạn 4: Tập sự cho người mới để họ “hành chính hóa” bản thân họ

Giai đoạn 5: Bổ nhiệm chính thức sau tập sự vào danh sách nhân sự tổ chức

Quá trình tuyển dụng tuy diễn ra trong thời gian ngắn nhưng lại ảnh hưởng lâu

dài đến sự tồn tại và phát triển của một đơn vị Có thể xem hoạt động này giống như

việc người nông dân chọn những hạt giống tốt nhất để gieo trồng trên mảnh ruộng của

mình Nếu việc tuyển dụng được thực hiện có hiệu quả sẽ là cơ sở để xây dựng một

đội ngũ nhân sự có trình độ, năng lực và để xây dựng sự phát triển của đơn vị, ngược

lại nếu tuyển dụng không được tiến hành một cách nghiêm túc sẽ làm giảm hoạt động

chung, thậm chí còn mang tới những nguy cơ cho sự sa sút hoặc sụp đổ của một đơn

vị

1.1.3 Khái niệm về tuyển dụng công chức hành chính

Tuyển dụng công chức hành chính là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý công

chức hành chính, có tính quyết định cho một cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước

Trong quá trình vận hành của nền công vụ, nếu việc tuyển dụng, tuyển được những

công chức giỏi thì nhất định nền công vụ sẽ hoạt động tốt và đạt kết quả cao vì công

chức nhà nước là nhân tố quyết định đến sự vận hành của một nền công vụ Năm

1998 Pháp lệnh cán bộ, công chức ra đời là văn bản pháp lý cao nhất của nước ta về

Trang 14

cán bộ, công chức, dưới Pháp lệnh là nghị định 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về

tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, nghị định đã cụ thể hóa khái niệm về

tuyển dụng công chức tại khoản 5, Điều 2: “Tuyển dụng là việc tuyển người vào cơ

quan Nhà nước sau khi đạt kết quả của kỳ thi tuyển.” Đây được xem là khái niệm về

tuyển dụng công chức đầu tiên ở nước ta Đến năm 2003 do không còn phù hợp nên

khái niệm này được thay thế bởi khái niệm quy định tại nghị định 117/2003/NĐ-CP

ngày 10/10/2003 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ

quan Nhà nước, cụ thể tại khoản 5, Điều 3 nghị định 117/2003/NĐ-CP như sau:

“Tuyển dụng là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan Nhà nước

thông qua thi hoặc xét tuyển.”

Năm 2008, Luật cán bộ, công chức ra đời đã đổi mới căn bản việc quản lý công

chức về nội dung tuyển dụng công chức, đó là việc tuyển dụng phải căn cứ vào yêu

cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế và thông qua thi tuyển theo nguyên

tắc công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật, đảm bảo tính cạnh tranh

Tuy khái niệm về tuyển dụng công chức hành chính không được tìm thấy trong Luật

này kể cả trong các văn bản hướng dẫn Luật Nhưng trên cơ sở các nghị định trước,

có thể hiểu khái niệm về Tuyển dụng công chức hành chính trong thời gian này là

việc tuyển dụng thêm người, bổ sung nhu cầu nhân sự cho cơ quan, tổ chức hành

chính Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể, đảm bảo nguồn nhân lực đáp ứng nhu

cầu phát triển đất nước thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển

1.2 Nguyên tắc tuyển dụng công chức

Tuyển dụng là khâu có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng đội ngũ công chức do đó

cần phải tuân thủ những nguyên tắc chung nhất định và quy trình khoa học từ hình

thức đến nội dung thi tuyển Sau đây là một số nguyên tắc trong tuyển dụng công

chức.5

1.2.1 Đảm bảo công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật

Trong quá trình tuyển dụng cơ quan, tổ chức tiến hành tuyển dụng phải thông

báo công khai cho người tham gia dự tuyển về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng cần

tuyển tại trụ sở cơ quan và các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đảm bảo tính

công khai trong công tác tuyển dụng

5

Trang 15

Khi tiến hành tuyển dụng, phải đảm bảo tính minh bạch, chống tình trạng tùy

tiện, lạm dụng chức quyền để đưa người thân vào làm việc mà không tính đến tiêu

chuẩn, hoặc dùng tiền hối lộ cho người có trách nhiệm để được vào làm việc mà

không cần qua quá trình thi tuyển

Thái độ của cơ quan, tổ chức tiến hành tuyển dụng phải nghiêm túc, cẩn trọng và

tỉ mĩ để xem xét quá trình tuyển dụng một cách thấu đáu và đánh giá quá trình tuyển

dụng được khách quan, nhằm tuyển dụng được những người giỏi, phù hợp, đáp ứng

tốt nhất các yêu cầu của nền công vụ

Công tác tuyển dụng phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng cộng sản

Việt Nam, đảm bảo nguyên tắc tập thể, dân chủ đi đôi với phát huy trách nhiệm của

người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị Vì vậy, trong công tác tuyển dụng, từ khâu

chuẩn bị đến quá trình thi và đến khi kết thúc điều phải thực hiện theo đúng các điều

kiện, nguyên tắc, thẩm quyền và trình tự, thủ tục tuyển dụng của hệ thống pháp luật

Việt Nam một cách nghiêm chỉnh, cụ thể là phải tuân thủ theo Luật cán bộ, công chức

2008, Nghị định 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/03/2010 quy định về tuyển

dụng, sử dụng, quản lý công chức và Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010

của Bộ Nội vụ Quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức

của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/03/2010 của Chính phủ quy định về tuyển

dụng, sử dụng và quản lý công chức

Ví dụ: Theo quy định tại Điều 15 Nghị định 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ

ngày 15/03/2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý công chức thì việc tuyển

dụng công chức phải được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thông báo công khai trên

các phương tiện thông tin đại chúng như Đài phát thanh, Đài truyền hình, trên báo,

trên trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức đó và phải niêm yết công khai tại trụ

sở làm việc về các tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng cần tuyển, thời hạn và địa điểm tiếp

nhận hồ sơ của người đăng kí dự tuyển

1.2.2 Đảm bảo tính cạnh tranh

Cạnh tranh là hành động ranh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm

vì mục đích giành được lợi nhuận, địa vị, sự kêu hãnh, các phần thưởng hay những

thứ khác Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó

có ngành luật, cụ thể được thể hiện trong quá trình thi tuyển công chức Nhà nước

Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải thừa nhận mọi hoạt động điều

Trang 16

phải có tính cạnh tranh và coi cạnh tranh là động lực để tồn tại và phát triển

Ở nước ta, tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước nghĩa là tất cả các công

dân có đủ điều kiện tuyển dụng công chức đều có cơ hội như nhau trong việc đăng kí

dự tuyển công chức Việc thi tuyển công chức hành chính công khai sẽ đảm bảo mọi

công dân đều có thể cạnh tranh lành mạnh với nhau và để cơ quan, tổ chức có thể lựa

chọn được những người xứng đáng nhất vào vị trí cần tuyển dụng Cạnh tranh trong

thi tuyển công chức hành chính là việc có nhiều thí sinh thi với nhau để vào làm việc

tại một vị trí trong bộ máy hành chính Nhà nước Để có cơ hội làm việc trong cơ quan

nhà nước, các thí sinh phải có bài thi với số điểm cao, tức là phải đạt từ 50 điểm trở

lên cho mỗi bài thi Có như vậy, mới đánh giá được tài năng thực sự của mỗi thí sinh

và đảm bảo được tính công bằng

1.2.3 Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm

Tùy theo yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm mà việc tuyển chọn công chức phải

dựa trên trình độ nghiệp vụ, kinh nghiệm, khả năng làm việc, sức khỏe, kiến thức xã

hội, phẩm chất đạo đức để có thể lựa chọn đúng người vào làm việc Không được dựa

trên sự áp đặt ý chí của bất kì chủ thể nào, các mối quan hệ quen biết, người nhà hay

người thân

Trong kỳ thi tuyển công chức, nguyên tắc chủ đạo là mọi người đều phải cạnh

tranh với nhau một cách bình đẳng, công bằng và kết quả đánh giá là dựa trên năng

lực của thí sinh Để đảm bảo chọn được người có năng lực tốt, đáp ứng yêu cầu vị trí

việc làm, mỗi thí sinh phải trải qua 5 bài thi: thi viết môn kiến thức chung về quản lý

Nhà nước; thi viết và trắc nghiệm môn nghiệp vụ chuyên ngành; thi viết hoặc thi vấn

đáp môn ngoại ngữ và thi trắc nghiệm hoặc thực hành trên máy môn tin học văn

phòng Khả năng của thí sinh được đánh giá qua nhiều bài thi như vậy sẽ là điều kiện

sàng lọc và lựa chọn ra những người nổi trội nhất Như vậy, sẽ chọn được người thực

sự có trình độ vào làm việc

1.2.4 Ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân

tộc thiểu số

Việc tuyển dụng công chức phải ưu tiên cho người thực sự có năng lực, các cơ

quan Nhà nước phải tuyển dụng được những người giỏi, phù hợp, đáp ứng tốt nhất

các yêu cầu của nền công vụ Quan niệm chất lượng công chức không chỉ nằm ở bằng

cấp, trình độ đào tạo mà chủ yếu là năng lực thực hiện công việc Bằng cấp không

Trang 17

phải là tiêu chí duy nhất phản ánh đúng năng lực tác nghiệp của công chức Tránh

tình trạng quá coi trọng bằng cấp mà đặt nó lên hàng tiêu chuẩn trong quá trình tuyển

dụng mà làm giảm chất lượng tuyển dụng Bên cạnh đó các nhà tuyển dụng chỉ đóng

cữa xem hồ sơ lý lịch, xem ứng viên có bao nhiêu bằng, bao nhiêu giấy chứng nhận,

có lý lịch trong sáng không Mà không quan tâm đến việc xã hội hiện nay có nhiều kẻ

hở nên bằng gì cũng có thể mua được kể cả bằng tiến sĩ Vì vậy, việc ưu tiên chọn

người thực sự có tài năng để góp phần xây dựng bộ máy Nhà nước phát triển hơn là

đều cần thiết

Để đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử trong phát triển giữa các nhóm

dân tộc hay nhằm mục đích trả ơn cho những người đã hi sinh hoặc cống hiến cho

Đảng, Nhà nước ta có một số chế độ ưu tiên cho những người có công, người dân tộc thiểu số trong tuyển dụng công chức và một số lĩnh vực khác Bởi

những người dân tộc thiểu số đa số sống ở vùng núi khó khăn nên họ thường không

có điều kiện làm việc và tìm kiếm cho mình một công việc ổn định Chế độ ưu tiên

cho người có công với nước, người dân tộc thiểu số được quy định riêng ở một số văn

bản.7

1.3 Vai trò của việc tuyển dụng công chức hành chính

Đội ngũ công chức có vị trí trụ cột trong tổ chức, hoạt động của cơ quan hành

chính, có vai trò quyết định đến sự phát triển của đất nước, là người trực tiếp tham gia

vào quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế -

xã hội, tham mưu, hoạch định, tổ chức thực hiện và thanh tra, kiểm tra việc thực thi

đường lối chính sách

Tuyển dụng công chức hành chính là điều kiện tiên quyết cho sự thắng lợi của

bất kỳ cơ quan, tổ chức hành chính Nhà nước nào bởi vì mọi hoạt động điều do con

người thực hiện và chỉ con người mới có thể hoàn thành mục tiêu của cơ quan, tổ

chức hành chính Nhà nước khi đáp ứng được nhu cầu công việc, góp công vào việc

xây dựng một xã hội giàu đẹp, văn minh và nhằm giảm tỉ lệ thất nghiệp, cải thiện đời

sống con người, tiến tới xây dựng một nền hành chính vững mạnh Hoạt động tuyển

dụng tốt thì cơ quan, tổ chức sẽ có một đội ngũ nhân viên có trình độ, khinh nghiệm

để giúp tổ chức tồn tại và phát triển tốt, có tính cạnh tranh cao

6

Khoản 2, Điều 5, Hiến pháp năm 2013

7

Chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng – pháp lệnh số 04/2012/ UBTVQH13 sửa đổi một

số điều của pháp lệnh số 26/2005/UBTVQH11 về ưu đãi người có công với cách mạng

Trang 18

1.4 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tuyển dụng công chức

Ở nước ta, tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước được hình thành và gắn

với sự phát triển của nền hành chính nhà nước qua từng giai đoạn:

1.4.1 Giai đoạn 1945- 1954

Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, sự xuất hiện nhà nước dân chủ nhân

dân mới đã mở đầu cho việc hình thành chế độ công chức mới Hiến pháp 1946 ra đời

làm cơ sở cho việc hình thành các văn bản quy phạm pháp luật về công chức Trên cơ

sở đó Sắc lệnh 188/SL ngày 9/5/1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng

hòa đã được ban hành quy định về chế độ công chức mới với một thang lương chung

cho các ngạch và các hạng công chức Việt Nam phù hợp với chính thể dân chủ Cộng

hòa

Trong thời kỳ thực hiện kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bộ máy nhà

nước đã dần ổn định và hoạt động hiệu quả Từ đó nhu cầu tuyển dụng công chức làm

việc trong bộ máy ngày càng tăng Trước tình hình đó, Sắc lệnh 188/SL đã không còn

phù hợp với thực tế Vì vậy, ngày 22 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký

Sắc lệnh 76/SL ban hành quy chế công chức nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Sắc lệnh 76/SL đã dành một chương quy định về tuyển dụng công chức Đây là

một văn bản pháp luật về công chức mang tính khoa học, dân chủ, có hiệu lực cao và

nội dung hoàn chỉnh, có nhiều quy định mang tính tiến bộ so với một số nước trên thế

giới cùng thời kỳ Chỉ tiếc rằng do hoàn cảnh kháng chiến nên việc tuyển dụng công

chức theo Quy chế này đã không được triển khai đầy đủ Năm 1951, Bộ Nội vụ đã tổ

chức được một kỳ thi tuyển ngạch cán sự, đây cũng là kỳ thi tuyển công chức đầu tiên

ở nước ta Bộ Nội vụ cũng đã ban hành Nghị định 97/NV-2 ngày 14/3/1950 về quy

chế cho kỳ thi tuyển ngạch cán sự hành chính, Nghị định 98/NV-2 ngày 14/3/1950

quy định về quy chế cho kỳ thi tuyển ngạch tham sự hành chính

Nội dung điều chỉnh pháp luật về tuyển dụng công chức trong giai đoạn này thể

hiện ở một số nội dung sau:

Thứ nhất là: Quan niệm về công chức: Quan niệm về công chức đã được xác

định lần đầu tiên trong tại Sắc lệnh 76/SL năm 1950 Lời nói đầu của Sắc lệnh 76 đã

quan niệm công chức là “những công dân giữ một nhiệm vụ trong bộ máy Nhà nước

của chính quyền nhân dân, dưới sự lãnh đạo tối cao của Chính phủ” Điều 1 Sắc lệnh

76 đã đưa ra định nghĩa về công chức như sau: “Những công dân Việt Nam được

Trang 19

chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan

Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những

trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” có thể nhận thấy thời kỳ này chủ yếu

phân loại công chức theo ngạch và trật Các ngạch công chức đều theo một thang

lương chung gồm 30 bậc Mỗi ngạch chia ra nhiều trật Những trật liền nhau trong

một ngạch phải đối chiếu với những bậc liền nhau trong thang lương chung

Về tổ chức các ngạch công chức, thì các ngạch công chức bao gồm: ngạch hạng

A, hạng B, hạng C, hạng D, hạng E Mỗi ngạch sẽ tương ứng với chức vụ, bật lương

Thứ hai là: Điều kiện tuyển dụng : việc tuyển dụng công chức vào làm việc

trong cơ quan nhà nước phụ thuộc vào hai điều kiện:

+ Điều kiện về năng lực: Việc tuyển bổ công chức chỉ căn cứ vào năng lực

(thành tích kinh nghiệm, trình độ văn hóa)

+ Điều kiện khác: ngoài điều kiện năng lực; những người muốn được tuyển vào

một ngạch công chức phải đủ những điều kiện dưới đây: Có quốc tịch Việt Nam; Đủ

18 tuổi (đối với một vài ngạch đặc biệt, quy tắc có thể ấn định một hạn tuổi cao hơn);

Hạnh kiểm tốt; Có quyền công dân; Có đủ sức khỏe theo giấy chứng nhận của một y

sĩ công

Thứ ba là: Hình thức tuyển dụng : được xét theo ba cách sau: xét qua kỳ thi,

theo học bạ hay văn bằng và theo đề nghị của Hội đồng truyển trạch

Thứ tư là: Ưu tiên trong tuyển dụng: Theo Điều 16 Sắc lệnh 76/SL thì đồng

bào thiểu số, cựu binh thương binh, quân nhân có chiến công, sẽ được ưu đãi trong

Thứ năm là: Quy trình tuyển dụng: Ở giai đoạn này quá trình tuyển dụng được

thực hiện theo các bước sau: thực tập, tập sự và thực thụ, gia hạn tập sự, bãi chức

1.4.2 Giai đoạn 1954- 1975

Từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam chuyển sang một

thời kỳ mới, đây là thời kỳ đất nước bị chia cắt làm hai miền Cuộc kháng chiến do

8

Điều 3, Sắc lệnh 188/SL năm 1948

9

Sắc lệnh 20/SL năm 1947 ngày 16/02/1947 Sắc lệnh đặt ra hưu bổng thương tật và tiền tuất cho thân

nhân tu sĩ và được bổ khuyết bởi Sắc lệnh 242/SL năm 1948 ngày 12/10/1948 về bổ khuyết điều 2,

chương thứ nhất Sắc lệnh 20/SL năm 1947 ngày 16/02/1947

Trang 20

thực dân pháp và can thiệp Mỹ do Đảng ta lãnh đạo đã giành được thắng lợi Tuy

nhiên, sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi cả nước vẫn chưa hoàn

thành Miền bắc được giải phóng, song miền nam vẫn còn dưới ách thống trị của thực

dân và tay sai Đứng trước sự biến đổi phức tạp này, một yêu cầu đặt ra cho Đảng ta

là phải vạch ra đường lối đúng đắng phù hợp với tình hình mới của đất nước và phù

hợp với xu thế phát triển chung của thời đại, giai đoạn này cách mạng Việt Nam có

nhiệm vụ củng cố, bảo vệ miền bắc, đưa miền bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục

đấu tranh để thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ

nhân dân trong cả nước

Trong giai đoạn mới của cách mạng, Nhà nước ta cần sửa đổi Hiến pháp năm

1946 cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới Ngày 31/12/1959 Quốc hội đã

thông qua Hiến pháp mới đễ ghi rõ những thắng lợi cách mạng to lớn đã giành được

trong thời gian qua và nêu rõ mục tiêu của nhân dân ta trong giai đoạn mới Sau khi

Hiến pháp năm 1959 ra đời, hoạt động lập pháp ở nước ta mới chỉ quan tâm đến lĩnh

vực tổ chức bộ máy nhà nước (thuộc lĩnh vực luật Hiến pháp), nghĩa vụ quân sự (huy

động thanh niên nhập ngũ tham gia chống Mỹ cứu nước) và pháp luật hình sự (như là

công cụ không thể thiếu để bảo vệ chế độ), các lĩnh vực khác ít được quan tâm điều

chỉnh hoặc được điều chỉnh bởi các văn bản dưới luật như nghị định, quyết định, nghị

quyết, chỉ thị, thông tư của Hội đồng Chính phủ, của các Bộ, cơ quan thuộc Chính

phủ

Hoạt động công vụ, công chức chủ yếu được điều chỉnh theo pháp luật nhưng

pháp luật quy định về tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước ở giai đoạn này

không được quy định cụ thể Mặc dù, năm 1950 chủ tịch Hồ chí minh đã ký sắc lệnh

76/SL ngày 20/5/1950 về quy chế tuyển dụng công chức Việt Nam nhằm mục đích hỗ

trợ cho việc tuyển dụng công chức vào cơ quan hành chính Nhà nước được hiệu quả

hơn nhưng do điều kiện đất nước chiến tranh nên bản quy chế công chức này tuy

không có văn bản bãi bỏ nhưng cũng không được triển khai trong suốt thời gian dài

Công chức được vào làm việc trong cơ quan hành chính Nhà nước chủ yếu qua hình

thức bầu cử, do phân công sau khi tốt nghiệp, do tuyển dụng hay bổ nhiệm, văn bản

quy định về công tác tuyển dụng trong giai đoạn này là nghị định số 24/CP của Hội

đồng chính phủ ngày 13/3/1963 ban hành về điều lệ thi tuyển và cho thôi việc đối với

công nhân, viên chức Nhà nước, tuy nhiên, phải nhấn mạnh là trong nền công vụ

nước ta ở giai đoạn này không phân biệt rõ công chức hành chính và những người

Trang 21

hoạt động trong lĩnh vực khác của khu vực công Tất cả những người làm việc trong

biên chế nhà nước từ cơ quan hành chính sự nghiệp đến doanh nghiệp và tổ chức xã

hội đều gọi chung là “ cán bộ, công nhân viên” nhà nước

Những hình thức như thi tuyển, chuyển ngạch, nâng bậc công chức thời kỳ này

không được thực hiện trong thực tế Bởi ở giai đoạn này nhiệm vụ chủ yếu của Đảng,

Nhà nước ta là tập trung đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa và khôi phục kinh tế ở

miền bắc, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam thực hiện thống

nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước, nên những hoạt động

này tạm thời bị gián đoạn

1.4.3 Giai đoạn 1976- 1986

Sau đại thắng mùa xuân 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước

thống nhất và bước vào kỷ nguyên hoà bình xây dựng, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa

xã hội Tuy đất nước đã thống nhất về mặt lãnh thổ nhưng ở mỗi miền lại tồn tại một

hình thức tổ chức nhà nước khác nhau Yêu cầu đặc ra đối với Đảng, Nhà nước ta lúc

này là không chỉ thống nhất về lãnh thổ mà thống nhất trên tất cả các mặt Công cuộc

xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước chỉ có thể được tiến hành có hiệu quả

khi đất nước đã thống nhất về mặt Nhà nước Do đó, trong bối cảnh cả nước tiến lên

chủ nghĩa xã hội Nhà nước ta cần có một bản Hiến pháp thể chế hóa đường lối của

Đảng cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới, đó là Hiến pháp của thời kỳ quá độ lên

chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước, ngày 18/12/1980 bản Hiến pháp mới đã được

thông qua trên cơ sở kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp 1959

Sau khi Hiến pháp năm 1980 được thông qua thì hệ thống pháp luật Việt Nam

bước sang một giai đoạn phát triển mới rất đáng tự hào Tuy nhiên, thực tế hoạt động

xây dựng pháp luật trong giai đoạn này không có sự khởi sắc cần thiết Hoạt động lập

pháp ở giai đoạn này chủ yếu tập trung vào lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước (các

Luật về bẩu cử và các luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước như Quốc

hội, Hội đồng bộ trưởng, Tòa án nhân dân, Viện kiềm sát nhân dân, Hội đồng nhân

dân và Ủy ban nhân dân), lĩnh vực hình sự (với việc ra đời của Bộ luật đầu tiên, Bộ

luật Hình sự năm 1985) và lĩnh vực quân sự (Luật về sĩ quan quân đội năm 1982,

Luật về nghĩa vụ quân sự năm 1982)

Từ sau năm 1954, miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, nền công vụ trước đây

không còn phù hợp nữa Nhưng việc tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt, sắp xếp công chức

Trang 22

cũng như những quy định về hoạt động trong cơ quan hành chính nhà nước đều theo

mô hình xã hội chủ nghĩa trước đây Thêm vào đó, ngoài Hiến pháp ra nước ta chưa

xây dựng nhiều đạo luật, mọi hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước chủ yếu

được điều chỉnh bằng các văn bản pháp quy Trong giai đoạn này, văn bản thể hiện rõ

về hoạt động tuyển dụng là nghị định 24/CP của Hội đồng chính phủ ngày 13/3/1963

ban hành về điều lệ thi tuyển và cho thôi việc đối với công nhân, viên chức Nhà nước

và thông tư 14-LĐ/TT của Bộ Lao động ngày 21/6/1977 hướng dẫn việc tuyển dụng

và cho thôi việc đối với công nhân viên chức nhà nước trong tình hình mới Thuật

ngữ sử dụng cho những người làm việc trong cơ quan nhà nước, các xí nghiệp tổ chức

xã hội vẫn là “ cán bộ, công nhân viên” nhà nước

Cho đến giai đoạn này tuy trong điều kiện thời bình nhưng vẫn như những năm

trước hoạt động tuyển dụng công chức trong giai đoạn này vẫn không được tiến hành

trong thực tế, công chức được vào làm việc trong cơ quan hành chính Nhà nước chủ

yếu cũng do bầu cử hay do được phân công sau khi tốt nghiệp

1.4.4 Giai đoạn 1987 đến 2000

Giai đoạn này nước ta chính thức bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện, Hiến pháp

năm 1992 ra đời đánh đấu bước phát triển nhảy vọt trong hệ thống pháp luật Việt

Nam Để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, từng bước xây dựng một nền công

vụ mới với đội ngũ công chức giỏi, đòi hỏi phải có sự thay đổi cả về tổ chức và hoạt

động của công vụ Do đó, công tác tuyển dụng được chú trọng hơn, dựa trên sự ra đời

của Hiến pháp năm 1992 và Nghị quyết của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 2 về

chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 1998 Ngày 09/3/1998 Ủy ban thường vụ

Quốc hội 10 đã ban hành pháp lệnh cán bộ công chức, có hiệu lực ngày 01/5/1998,

Pháp lệnh cũng đã dành một chương để quy định về chế độ tuyển dụng công chức Có

thể nói đây là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất về cán bộ, công chức từ trước đến

thời điểm bây giờ, tạo cơ sở cho việc tuyển dụng cán bộ, công chức vào làm việc

trong cơ quan nhà nước được thuận lợi và có quy củ hơn, đảm bảo chọn đúng người,

sắp xếp đúng việc đáp ứng yêu cầu mới của nền hành chính quốc gia

Bên cạnh đó, một số văn bản quy định chế độ thi tuyển công chức được ban

hành như: Để cụ thể hóa Pháp lệnh cán bộ, công chức Chính phủ đã ban hành Nghị

định số 95/1998/NĐ-CP, ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và

quản lý công chức, Quyết định số 466/1998/QĐ-TCCP-BCTL ngày 05/9/1998 của Bộ

trưởng, trưởng Ban tổ chức – cán bộ Chính phủ về việc ban hành quy chế thi tuyển,

Trang 23

thi nâng ngạch công chức, nội quy thi tuyển, thi nâng ngạch công chức, Thông tư số

04/1999/TT-TCCP ngày 20/3/1999 của Ban tổ chức – cán bộ Chính phủ hướng dẫn

Nghị định số 95/1998/NĐ-CP, ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử

dụng và quản lý công chức Theo đó, các cơ quan hành chính sự nghiệp của Nhà nước

khi tuyển dụng công chức phải thực hiện chế độ thi tuyển, những người chưa qua thi

tuyển thì không được tuyển dụng vào biên chế trong các cơ quan hành chính sự

nghiệp của Nhà nước Bên cạnh đó, trong quá trình tuyển dụng cán bộ, công chức

thực tế vẫn còn nhiều vướn mắc:

Thứ nhất là vì vẫn còn ở giai đoạn đầu thực hiện Pháp lệnh nên hoạt động tuyển

dụng chưa được đồng loạt ở tất cả các cơ quan nhà nước

Thứ hai là việc tuyển dụng công chức mới chỉ áp dụng đối với sinh viên mới ra

trường, vào vị trí công việc ngạch thấp, mà chưa áp dụng đối với vị trí công việc

ngạch cao

Thứ ba là nội dung thi tuyển chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc tuyển

dụng

1.4.5 Giai đoạn 2000 đến 2008

Sau hai năm thực hiện theo Pháp lệnh năm 1998, Pháp lệnh đã bộc lộ những hạn

chế nên đã được sửa đổi vào năm 2000, các văn bản dưới pháp lệnh cũng được sửa

đổi như Nghị định số 56/2000/NĐ-CP ngày 12/10/2000 của Chính phủ sửa đổi khoản

2, Điều 6 Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển

dụng, sử dụng và quản lý công chức Tuy vậy ngay cả Pháp lệnh sửa đổi, Nghị định

sửa đổi vẫn không khắc phục được những hạn chế, vướn mắc thực tế Nhằm khắc

phục những hạn chế đó, Pháp lệnh được sửa đổi một lần nữa vào năm 2003 và ngày

10/10/2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003

của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ

quan Nhà nước để thực hiện các quy định về tuyển dụng công chức hành chính Nhà

nước Pháp lệnh sửa đổi đã bổ sung thêm chế độ xét tuyển nhằm đáp ứng yêu cầu xây

dựng đội ngũ công chức ở vùng dân tộc ít người, đối với những người tình nguyện

làm việc từ năm năm trở lên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Khi

sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức, Nhà nước cũng đã

Trang 24

thực hiện việc phân định công chức hành chính với công chức sự nghiệp

Tuy nhiên, bên cạnh những bước tiến trong việc thực hiện cơ chế hợp đồng làm

việc trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước, cơ chế tuyển dụng công chức làm việc

suốt đời trong các cơ quan hành chính nhà nước hiện đang là lực cản, là sức ỳ trong

quá trình nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính, vì nó tạo ra tâm lý an

phận, thiếu ý chí phấn đấu trong đội ngũ công chức Bên cạnh đó, phương thức và nội

dung, hình thức thi tuyển công chức hiện nay chỉ chú trọng vào kiến thức, trình độ

đào tạo mà chưa chú trọng vào năng lực thực thi nhiệm vụ, công vụ dẫn đến xu hướng

tuyển dụng chỉ tập trung vào lực lượng tốt nghiệp đại học trở lên, tỷ lệ công chức thừa

hành ở các ngạch cán sự, nhân viên hiện nay so với công chức trong các cơ quan nhà

nước là rất thấp, dẫn đến tình trạng “thầy nhiều hơn thợ” Việc phân cấp cho nhiều cơ

quan được quyền tổ chức đánh giá, tuyển chọn người vào các cơ quan nhà nước dẫn

đến sự không thống nhất về nội dung, hình thức thi, tiêu chí đánh giá, bộ máy thực

hiện việc tuyển chọn công chức đều kiêm nhiệm, không chuyên nghiệp Điều đó ảnh

hưởng đến chất lượng toàn bộ đội ngũ công chức và tạo sự chênh lệch về chất lượng

đội ngũ công chức giữa các vùng, các cơ quan với nhau

1.4.6 Giai đoạn 2008 đến nay

Để khắc phục mặt hạn chế của các văn bản từ truớc đến nay, nhằm hoàn thiện và

đổi mới công tác tuyển dụng công chức, ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội

khoá XII, đã thông qua Luật cán bộ, công chức, đây là một văn bản có giá trị pháp lý

cao nhất từ trước đến nay Luật Cán bộ, công chức năm 2008 gồm có 10 chương và

87 điều đã quy định nhiều nội dung rõ ràng hơn về tuyển dụng công chức Nhà nước

và được quy định cụ thể tại mục 2, chương IV của văn bản Luật và theo đó Luật cán

bộ, công chức cũng dành một chương (chương V) để quy định về tuyển dụng công

chức cấp xã cán bộ, công chức cấp xã được quy định tại Khoản 2, Điều 63 Để thực

hiện các quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, Chính phủ đã ban

hành Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15-3-2010 về tuyển dụng, sử dụng và quản

lý công chức Trong đó, không còn quy định phải bắt buộc thành lập tổ chức Hội

đồng tuyển dụng khi tuyển dụng công chức Qua đó, phát huy và đề cao trách nhiệm

người đứng đầu cơ quan được giao thẩm quyền tuyển dụng công chức

Luật cán bộ, công chức năm 2008 được ban hành đã đánh đấu một giai đoạn phát

triển mới về công tác tuyển dụng công chức Theo tinh thần đổi mới, từ nay trở đi

việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên

Trang 25

chế Những người có đủ các điều kiện, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần

xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo đều được đăng ký dự tuyển công chức, điều kiện đăng dự

tuyển được thể hiện ngay trong Luật mà không giao cho chính phủ hay cơ quan nào

quy định Ngoài các điều kiện nêu trên, theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, cơ quan có

thẩm quyền tuyển dụng còn có thể quy định thêm một số điều kiện khác, nhưng

không được trái với các quy định của pháp luật Bên cạnh đó, để thu hút người có tài

năng, có trình độ tham gia vào trong hoạt động công vụ, Chính phủ cũng đã quy định

cho phép người đứng đầu cơ quan quản lý công chức được xem xét, tiếp nhận không

qua thi tuyển

Tóm lại, Các quy định của Luật Cán bộ, công chức về công tác tuyển dụng, sử

dụng và quản lý công chức được đổi mới theo hướng dựa trên tiêu chuẩn chức danh,

vị trí việc làm và cơ cấu công chức Tiêu chuẩn năng lực cũng được nhấn mạnh trong

tuyển chọn và sử dụng công chức Cùng với việc giao thẩm quyền tuyển dụng cho các

bộ, ngành và địa phương, Luật quy định các bộ, ngành và địa phương có trách nhiệm

thực hiện việc phân cấp tuyển dụng công chức cho các cơ quan thuộc quyền quản lý

Từng bước gắn dần thẩm quyền sử dụng với thẩm quyền tuyển dụng, khắc phục tình

trạng người được giao quyền tuyển dụng không được giao quyền sử dụng, người được

giao quyền sử dụng thì lại không được giao quyền tuyển dụng, qua đó nâng cao công

tác tuyển dụng, lựa chọn được đúng người, đủ năng lực, tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu

công việc

Trang 26

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC 2.1 Căn cứ tuyển dụng công chức

Tuyển dụng là quá trình bổ sung những người đủ tiêu chuẩn, điều kiện vào đội

ngũ công chức, đây là quá trình thường xuyên và cần thiết để xây dựng và phát triển

đội ngũ công chức Theo tinh thần đổi mới, việc tuyển dụng công chức phải căn cứ

vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế của cơ quan sử dụng công

chức.10

Thời gian trước đây việc quản lý biên chế công chức còn mang những dấu ấn của

cơ chế kế hoạch hóa tập trung Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008, từ nay trở đi

việc quản lý công chức dựa trên cơ sở kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh với vị trí

việc làm và từ đó xác định biên chế, số lượng người làm việc trong từng cơ quan, tổ

chức Việc xác định biên chế công chức trong từng cơ quan, đơn vị trước tiên phải

dựa vào vị trí việc làm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ

Để xác định vị trí việc làm, Chính phủ quy định và hướng dẫn các phương pháp thực hiện để

Cơ quan sử dụng công chức có trách nhiệm xác định, mô tả vị trí việc làm, báo

cáo cơ quan quản lý công chức phê duyệt để làm căn cứ tuyển dụng công chức

2.2 Điều kiện đăng ký dự tuyển

Những người có đủ các điều kiện, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần

Đó là các điều kiện sau:

- Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam

Trang 27

- Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng

- Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp

- Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt

- Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ

Mặc dù Luật quốc tịch Việt Nam có quy định Nhà nước Việt Nam cho phép

công dân Việt Nam được phép mang quốc tịch của nước khác nhưng để tuyển dụng

vào công chức thì người đăng ký dự tuyển đều phải chỉ được mang một quốc tịch là

Bên cạnh đó, khác với trước đây, độ tuổi tuyển dụng được quy định có cả “sàn” và “trần”: từ đủ 18 tuổi đến 40 tuổi Nhưng đến nay, tuổi dự tuyển

công chức chỉ quy định từ đủ 18 tuổi trở lên mà không khống chế tuổi “trần” Đó là vì

pháp luật về bảo hiểm xã hội của Việt Nam đã quy định cả loại hình bảo hiểm tự

nguyện Như thế sẽ tạo điều kiện cho những người khi đến tuổi nghỉ hưu nhưng chưa

đủ điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm xã hội Những người mang quốc tịch Việt Nam

Ngoài các điều kiện nêu trên, theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, cơ quan có thẩm

quyền tuyển dụng còn có thể quy định thêm một số điều kiện khác, nhưng không

được trái với các quy định của pháp luật

Điều kiện, tiêu chuẩn về văn bằng, chứng chỉ:

Có bằng tốt nghiệp Đại học (cử nhân) hoặc sau Đại học

Chứng chỉ tin học

Chứng chỉ anh văn

Trình độ các chứng chỉ phụ thuộc vào yêu cầu vị trí tuyển dụng của cơ quan

tuyển dụng Khi quy định và thông báo các điều kiện đăng ký dự tuyển công chức, cơ

quan quản lý công chức không phân biệt loại hình đào tạo và văn bằng, chứng chỉ

(chính quy, tại chức, liên thông, chuyên tu, từ xa, theo niên hạn hoặc theo tín chỉ),

Đối với thí sinh mới tốt nghiệp nhưng chưa được cấp bằng tốt nghiệp có thể nộp giấy chứng nhận tốt nghiệp

do cơ sở đào tạo có thẩm quyền cấp để tham gia đăng ký nộp hồ sơ dự tuyển, khi

Trang 28

trúng tuyển và nhận quyết định tuyển dụng, người được tuyển dụng phải xuất trình

bằng tốt nghiệp theo quy định

2.3 Hồ sơ đăng ký dự tuyển

Các thí sinh muốn tham gia dự tuyển công chức Nhà nước thì hồ sơ đăng ký dự

Một là: Đơn đăng ký dự tuyển công chức theo mẫu tại phụ lục số 01 ban hành

kèm theo thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ (theo mẫu

đính kèm)

Hai là: Bản sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền

trong thời hạn 30 ngày, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển

Ba là: Bản sao giấy khai sinh

Bốn là: Bản chụp các văn bằng, chứng chỉ và kết quả học tập theo yêu cầu của

vị trí dự tuyển

Năm là: Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp trong

thời hạn 30 ngày, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển

Sáu là: Giấy chứng nhận thuộc đối tượng ưu tiên trong tuyển dụng công chức

cụ thể

+ Đối với Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, thương binh,

người hưởng chính sách như thương binh, con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh,

con của người hưởng chính sách như thương binh, con của người hoạt động cách

mạng trước tổng khởi nghĩa (từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 trở về trước), con đẻ của

người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, con Anh hùng Lực lượng vũ

trang, con Anh hùng Lao động:

* Bản sao “ anh hùng lực lượng vũ trang”, “anh hùng lao động”; giấy chứng

nhận gia đình liệt sĩ; thẻ thương binh, bệnh binh; quyết định được hưởng chính sách

thương binh; quyết định trợ cấp đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất

độc hóa học

17

Điều 2, Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết một

số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm

2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức

18

Điểm 6, Mục I, Kế hoạch số 01/KH-HĐTTCC ngày 01/11/2012 của Hội đồng thi tuyển công chức về

thi tuyển công chức tỉnh Hậu Giang

Trang 29

* Giấy xác nhận được hưởng chế độ ưu đãi do cơ quan có thẩm quyền cấp

+ Đối với sĩ quan quân đội, sĩ quan công an, quân nhân chuyên nghiệp, người

làm công tác cơ yếu chuyển ngành Người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ

phục vụ có thời hạn trong lực lượng công an nhân dân, đội viên thanh niên xung

phong đội viên trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn, miền núi từ đủ

24 tháng trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ thì phải có quyết định xuất ngũ hoặc các

giấy tờ xác nhận đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an nhân dân, trí thức

trẻ tham gia phát triển nông thôn, miền núi từ đủ 24 tháng đã hoàn thành nhiệm vụ

+ Đối với người dân tộc thiểu số thì phải có giấy khai sinh của thí sinh ghi rõ dân

tộc thiểu số Trong trường hợp thí sinh không ghi rõ thành phần dân tộc, đề nghị thí

sinh bổ sung sổ hộ khẩu và chứng minh thư nhân dân của thí sinh đăng ký dự tuyển

Bảy là: Bản cam kết phục vụ lâu dài thời gian 05 năm trở lên tại đơn vị đăng

ký dự tuyển (theo mẫu đính kèm) đối với thí sinh đăng ký xét tuyển

2.4 Chủ thể có thẩm quyền tổ chức tuyển dụng công chức

Cơ quan quản lý công chức thực hiện việc tuyển chọn công chức:

- Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà

nước;

- Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước;

- Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

- Tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn

vị sự nghiệp công lập;

- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã

hội;

- Tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương

Cơ quan, tổ chức, đơn vị được phân cấp thẩm quyền tuyển dụng công chức:

19

Điều 3, Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết một

số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm

2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức

Trang 30

Cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc cơ quan quản lý công chức nếu được giao

biên chế công chức, kinh phí hoạt động, có con dấu và tài khoản riêng thì được phân

cấp thẩm quyền tuyển dụng công chức Cơ quan, tổ chức, đơn vị được phân cấp thẩm

quyền tuyển dụng công chức phải xây dựng kế hoạch tuyển dụng công chức báo cáo

cơ quan quản lý công chức phê duyệt Kế hoạch tuyển dụng công chức bao gồm nội

dung sau:

- Số lượng biên chế công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm

quyền giao;

- Số lượng vị trí việc làm cần tuyển theo từng ngạch công chức trong phạm vi

chỉ tiêu biên chế được giao;

- Điều kiện đăng ký dự tuyển, hình thức và nội dung thi tuyển hoặc xét tuyển;

- Các nội dung khác (nếu có) theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan quản lý

công chức

Các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc cơ quan quản lý công chức nếu chưa

được phân cấp thẩm quyền tuyển dụng thì cơ quan quản lý công chức trực tiếp thực

hiện việc tuyển dụng công chức vào làm việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực

thuộc.20

Căn cứ vào số lượng người đăng ký dự tuyển, người đứng đầu cơ quan có thẩm

quyền tuyển dụng quyết định việc thành lập Hội đồng thi tuyển khi tổ chức thi tuyển

và Hội đồng xét tuyển khi tổ chức xét tuyển (gọi chung là Hội đồng tuyển dụng)

Khi tổ chức tuyển dụng công chức, nếu số người đăng ký dự tuyển trong cùng

một kỳ tuyển dụng từ 30 người trở xuống thì người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền

Trong trường hợp này, bộ phận tham mưu về công tác tổ chức cán bộ của cơ quan có thẩm quyền tuyển

dụng giúp người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng thực hiện việc tuyển

dụng; đồng thời khi tổ chức tuyển dụng vẫn phải thành lập các bộ phận giúp việc

20

Khoản 2, Điều 2, Nghị định số 24/2010/NĐ-CP của Chính phù ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính

phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức

21

Điều 5, Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết về tuyển dụng

và nâng ngạch công chức của Nghị định 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về

Trang 31

2.5 Chủ thể có quyền đăng ký dự tuyển công chức

- Người không cư trú tại Việt Nam

- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành

xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp

dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục

Những người đáp ứng đủ điều kiện quy định tại khoản 1, điều 36 Luật cán bộ, công

chức thì có quyền đăng ký dự tuyển công chức nhà nước

2.6 Phương thức tuyển dụng

Bên cạnh phương thức bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, đối với cán bộ,

công chức thì việc tuyển chọn nhân sự trong các cơ quan hành chính còn được thực

hiện dưới các phương thức sau:

2.6.1.Phương thức thi tuyển

Việc tuyển dụng công chức được thông qua thi tuyển, trừ trường hợp quy định

tại khoản 2 điều 37 của Luật cán bộ, công chức năm 2008 Hình thức, nội dung thi

tuyển công chức phải phù hợp với ngành nghề, bảo đảm lựa chọn được những người

Trong hình thức thi tuyển tùy theo yêu cầu đặt ra mà tiêu chuẩn cũng đòi hỏi

những điều kiện nhất định về đối tượng, trình độ đào tạo Thi tuyển có thể thực hiện

qua phần thi viết để đánh giá bằng chuyên môn, khả năng đáp ứng các yêu cầu về

nghiệp vụ trong từng ngành, lĩnh vực cụ thể Đồng thời có thể tiến hành tuyển dụng

cán bộ, công chức qua thi vấn đáp, thực hành đối với những ngành, lĩnh vực có yêu

cầu, đặc thù nhất định

Thi tuyển công chức là hình thức tuyển dụng công chức phổ biến nhất hiện nay

không những ở nước ta mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới, đóng vai trò rất quan

trọng để thiết lập đội ngũ công chức Hình thức, nội dung thi tuyển công chức phải

phù hợp với ngành, nghề, bảo đảm lựa chọn được những người có phẩm chất, trình độ

Trang 32

và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng Tuy nhiên về bản chất, có thể phân biệt

thành hai hình thức thi tuyển như sau:

Thứ nhất, đó là hình thức thi tuyển để bổ sung biên chế trong hệ thống công

chức Đây là hình thức tuyển chọn, bổ sung lực lượng công chức dựa vào những chỉ

tiêu biên chế trong quy định của pháp luật hành chính

Thứ hai, đó là hình thức tuyển dụng làm thay đổi trạng thái công vụ của công

chức mà không làm thay đổi tổng biên chế Hình thức này thường để lựa chọn những

công chức đương nhiệm vào những vị trí có yêu cầu chuyên môn, kinh nghiệm cao

hơn vị trí mà người công chức đó đang đảm nhiệm Thực chất, hình thức này là việc

nhà nước tạo điều kiện để sự thăng tiến của công chức được thực hiện, đúng nguyện

vọng của các công chức, đồng thời phù hợp với các quy chế chặt chẽ của nhà nước

2.6.2 Phương thức xét tuyển

Xét tuyển là hình thức phổ biến trước đây để hình thành đội ngũ công chức, viên

chức Nay nó được áp dụng với phạm vi hẹp hơn nhiều so với thi tuyển, chủ yếu được

áp dụng để xây dựng đội ngũ công chức ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu,

vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn,

tình nguyện làm việc năm năm trở lên và áp dụng đối với trường hợp đặc biệt trong

Bên cạnh hai phương thức thi tuyển và xét tuyển còn có thức tiếp nhận không

qua thi tuyển,26

phương thức này áp dụng đối với các trường hợp: Người có kinh nghiệm công tác; người tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ sở đào tạo trình độ đại học ở

trong nước và người tốt; nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, loại xuất sắc ở nước

ngoài Để được tiếp nhận không qua thi tuyển, người tham gia dự tuyển phải đáp ứng

đủ điều kiện xem xét tiếp nhận vào công chức không qua thi tuyển quy định tại khoản

1, Điều 19 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng

và quản lý công chức và được hướng dẫn cụ thể tại khoản 1, Điều 10, Thông tư số

13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và

nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/ 2010 của Chính

phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức

25

Khoản 2, Điều 37, Luật cán bộ, công chức 2008

26

Khoản 2, Điều 1, Thông tư số 05/2012/TT-BNV ngày 24/10/2012 của Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung một

số điều của Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết

một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3

Trang 33

2.7 Nội dung tuyển dụng

2.7.1 Nội dung thi tuyển

Nghị định 24/2010/NĐ-CP của CP ngày 15/03/2010 quy định về tuyển dụng, sử

dụng, quản lý công chức quy định khá cụ thể yêu cầu về các môn thi, hình thức thi,

điều kiện miễn thi một số môn, cách tính điểm trong thi tuyển và nguyên tắc xác định

người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển công chức Những quy định trên là khung pháp

lý mà khi thi tuyển công chức, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tuân theo,

nhưng tất nhiên các quy định này cũng không hoàn toàn là những đảm bảo đầy đủ,

chắc chắn cho việc tuyển dụng công chức một cách khách quan, khoa học, mà còn tùy

thuộc vào việc tổ chức thi tuyển, hình thức thi tuyển bởi từng lĩnh vực đều có những

yêu cầu, tiêu chuẩn riêng, sau đây là một số quy định cụ thể khi thi tuyển công chức

2.7.1.1 Các môn thi và hình thức thi

Để vào làm việc trong cơ quan Nhà nước các thí sinh phải trải qua bốn môn thi và

5 bài thi sau:27

Một là môn kiến thức chung: thi viết 01 bài với nội dung thi viết về hệ thống

chính trị, tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; quản lý

hành chính nhà nước; chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà

nước về ngành, lĩnh vực tuyển dụng

Hai là môn nghiệp vụ chuyên ngành: thi viết 01 bài và thi trắc nghiệm 01 bài về

nghiệp vụ chuyên ngành theo yêu cầu của vị trí việc làm

Nội dung thi môn nghiệp vụ chuyên ngành trong kỳ thi tuyển công chức phải căn

cứ vào tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch công chức phù hợp với vị trí việc làm cần

tuyển Trong cùng một kỳ thi tuyển, nếu có các vị trí việc làm yêu cầu chuyên môn,

nghiệp vụ khác nhau thì cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức tổ chức xây

dựng các đề thi môn nghiệp vụ chuyên ngành khác nhau bảo đảm phù hợp với yêu

cầu của vị trí việc làm cần tuyển

Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức chưa xây dựng được

ngân hàng đề thi môn nghiệp vụ chuyên ngành thì người đứng đầu cơ quan có thẩm

quyền tuyển dụng công chức giao người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức xây

27

Điều 8, Nghị định 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và

quản lý công chức

Trang 34

dựng các đề thi môn nghiệp vụ chuyên ngành bảo đảm phù hợp với yêu cầu của vị trí

việc làm cần tuyển, gửi cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức để xem xét,

quyết định đề thi chính thức

Ba là môn ngoại ngữ: thí sinh dự sẽ thi viết hoặc thi vấn đáp 01 bài một trong

năm thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc hoặc ngoại ngữ khác theo yêu cầu

của vị trí việc làm do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức

quyết định

Bốn là Môn tin học văn phòng: bài thi được thực hành trên máy hoặc thi trắc

nghiệm 01 bài theo yêu cầu của vị trí việc làm do người đứng đầu cơ quan có thẩm

quyền tuyển dụng công chức quyết định

Đối với vị trí việc làm yêu cầu chuyên môn là ngoại ngữ hoặc tin học, môn thi

nghiệp vụ chuyên ngành là ngoại ngữ hoặc tin học Người đứng đầu cơ quan có thẩm

quyền tuyển dụng công chức quyết định hình thức và nội dung thi môn nghiệp vụ

chuyên ngành là ngoại ngữ hoặc tin học phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần

tuyển dụng Trường hợp này, người dự tuyển không phải thi môn ngoại ngữ hoặc môn

tin học văn phòng

Nếu vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc thiểu số, việc thi môn ngoại ngữ

được thay thế bằng thi tiếng dân tộc thiểu số Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền

tuyển dụng công chức quyết định hình thức và nội dung thi tiếng dân tộc thiểu số

2.7.1.2 Thời gian các môn thi trong kỳ thi tuyển

Tùy vào trường hợp tuyển công chức loại nào và môn thi khác nhau mà các thi

cụ thể như sau:

* Đối với trường hợp thi tuyển công chức loại D:

Môn kiến thức chung: thi viết thời gian 120 phút;

Môn nghiệp vụ chuyên ngành: thi viết thời gian 120 phút và thi trắc nghiệm thời

gian 30 phút;

28

Điều 7, Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết một

số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm

2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức

Trang 35

Môn ngoại ngữ: thi viết thời gian 60 phút hoặc thi vấn đáp thời gian từ 15 đến

30 phút (nếu tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch dự thi yêu cầu phải có trình độ ngoại

ngữ);

Môn tin học văn phòng: thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm, thời gian

30 phút (nếu tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch dự thi yêu cầu phải có trình độ tin học)

* Đối với trường hợp thi tuyển công chức loại C:

Môn kiến thức chung: thi viết thời gian 180 phút;

Môn nghiệp vụ chuyên ngành: thi viết thời gian 180 phút và thi trắc nghiệm thời

Đối với trường hợp thi tuyển công chức vào vị trí việc làm yêu cầu chuyên môn

là ngoại ngữ hoặc tin học thì môn thi nghiệp vụ chuyên ngành là ngoại ngữ hoặc tin

học Thời gian thi ngoại ngữ hoặc tin học do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền

tuyển dụng công chức quyết định bảo đảm phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần

tuyển Trường hợp thi tuyển công chức vào vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân

tộc thiểu số thì môn thi ngoại ngữ được thay thế bằng thi tiếng dân tộc thiểu số Thời

gian thi tiếng dân tộc thiểu số do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng

công chức quyết định bảo đảm phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển

2.7.1.3 Điều kiện miễn thi một số môn

Người đăng ký dự tuyển công chức được miễn thi một số môn trong kỳ thi tuyển công

chức như sau:

Miễn thi môn ngoại ngữ trong trường hợp môn nghiệp vụ chuyên ngành không

phải là ngoại ngữ nếu có một trong điều kiện sau:

- Có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học về ngoại ngữ

- Có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học ở nước ngoài hoặc tốt nghiệp đại học,

sau đại học tại cơ sở đào tạo bằng tiếng nước ngoài ở Việt Nam

Miễn thi môn tin học văn phòng trong trường hợp có bằng tốt nghiệp từ trung

Trang 36

cấp chuyên ngành công nghệ thông tin trở lên.29

2.7.1.4 Cách tính điểm

Bài thi được chấm theo thang điểm 100

Điểm các môn thi được tính như sau:

- Môn kiến thức chung: tính hệ số 1;

- Môn nghiệp vụ chuyên ngành: bài thi viết tính hệ số 2; bài thi trắc nghiệm

tính hệ số 1

- Môn ngoại ngữ, tiếng dân tộc thiểu số, môn tin học văn phòng: tính hệ số 1

và không tính vào tổng số điểm thi

Kết quả thi tuyển là tổng số điểm của các bài thi môn kiến thức chung và môn

Kết quả thi được xác định như sau:

Tổng điểm chung = (điểm môn kiến thức chung +

(điểm bài thi nghiệp vụ chuyên ngành (thi viết) x hệ số 2)+

(điểm bài thi nghiệp vụ chuyên ngành (trắc nghiệm))+

2.7.1.5 Xác định người trúng tuyển

Người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển công chức phải có đủ các điều kiện sau

đây:31

Một là: Có đủ các bài thi của các môn thi

Hai là: Có điểm của mỗi bài thi đạt từ 50 điểm trở lên

Ba là: Có kết quả thi tuyển cao hơn lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp trong

phạm vi chỉ tiêu tuyển dụng của từng vị trí việc làm

Ngày đăng: 03/10/2015, 22:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08/3/2010 của Chính Phủ về quản lý biên chế công chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 21/2010/NĐ-CP
Nhà XB: Chính Phủ
Năm: 2010
22. Thông tư số 07/2010/TT-BNV ngày 26/7/2010 của Bộ Nội vụ hướng dẫn một số điều quy định tại Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08/3/2010 của Chính Phủ về quản lý biên chế công chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/2010/TT-BNV
Nhà XB: Bộ Nội vụ
Năm: 2010
24. Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 13/2010/TT-BNV
Nhà XB: Bộ Nội vụ
Năm: 2010
27. Thông tư số 08/2011/TT-BNV ngày 02/6/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn một số điều của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định về những người là công chức. Văn bản hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 08/2011/TT-BNV
Nhà XB: Bộ Nội vụ
Năm: 2011
2. TS. Phạm Hồng Thái, TS. Đinh Văn Mậu, Luật hành chính Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hành chính Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
3. Đình Quang, Những lổ hỏng trong tuyển dụng công chức, Báo điện tử Giao thông vận tải, 2014, http://giaothongvantai.com.vn/chinh-tri-xa-hoi/xa-hoi/201403/nhung-lo-hong-trong-tuyen-chon-can-bo-cong-chuc-460201/ , [ngày truy cập 22/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lổ hỏng trong tuyển dụng công chức
Tác giả: Đình Quang
Nhà XB: Báo điện tử Giao thông vận tải
Năm: 2014
4. Kim Linh, Chạy chức, chạy quyền là lĩnh vực nhạy cảm, Báo đời sống và Pháp luật, 2013, http://www.doisongphapluat.com/tin-tuc/su-kien-hang-ngay/bo-truong-noi-vu-chay-chuc-chay-quyen-1a-1inh-vuc-nhay-cam-a9902.html, [ngày Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chạy chức, chạy quyền là lĩnh vực nhạy cảm
Tác giả: Kim Linh
Nhà XB: Báo đời sống và Pháp luật
Năm: 2013
5. Kiều Minh-Việt Lâm-Lao Động, Phải công khai trên báo chí những đợt tuyển dụng công chức, Báo điện tử Việt báo, 2006, http://vietbao.vn/Xa-hoi/Phai-cong-khai-tren-bao-chi-nhung-dot-tuyen-dung-cong-chuc/65048234/157/, [ngày truy cập 22/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải công khai trên báo chí những đợt tuyển dụng công chức
Tác giả: Kiều Minh-Việt Lâm-Lao Động
Nhà XB: Báo điện tử Việt báo
Năm: 2006
6. Nguyễn vũ, Tuyển dụng cán bộ, công chức, đổi mới vẫn bất cập, Báo điện tử Báo mới, 2012, http://www.baomoi.com/Tuyen-dung-can-bo-cong-chuc-doi-moi-van-bat-cap/144/8150324.epi,2012, [ngày truy cập 22/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển dụng cán bộ, công chức, đổi mới vẫn bất cập
Tác giả: Nguyễn vũ
Nhà XB: Báo điện tử Báo mới
Năm: 2012
7. Thu Phương, Minh bạch trong thi tuyển công chức, Báo điện tử Báo mới, 2014, http://www.baomoi.com/Minh-bach-trong-thi-tuyen-cong-chuc/59/14892640.epi, [ngày truy cập 22/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minh bạch trong thi tuyển công chức", Báo điện tử "Báo mới
8. Uyên San, Hiện tượng tiêu cực trong thi tuyển công chức có thể bị vi phạm pháp luật, Báo điện tử Pháp luật, 2014, http://www.baomoi.com/Hien-tuong-tieu-cuc-trong-thi-tuyen-cong-chuc-co-the-la-vi-pham-phap-luat/108/14647051.epi,[ngày truy cập 22/9/2014]. Trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng tiêu cực trong thi tuyển công chức có thể bị vi phạm pháp luật", Báo điện tử "Pháp luật
1. Bộ Nội vụ- Viện khoa học tổ chức Nhà nước, Đổi mới việc thi tuyển dụng công chức, http://isos.gov.vn/Thongtinchitiet/tabid/84/ArticleId/825/language/vi-VN/Ti-p-t-c-d-i-m-i-cong-tac-tuy-n-d-ng-va-danh-gia-d-i-ngu-cong-ch-c-n-c-ta-hi-n-nay.aspx, [ngày truy cập 22/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới việc thi tuyển dụng công chức
Tác giả: Bộ Nội vụ, Viện khoa học tổ chức Nhà nước
3. Sở Nội vụ tỉnh Hậu Giang, Thông báo kết quả thi tuyển công chức năm 2012, http://www.haugiang.gov.vn/Portal/HtmlView.aspx?pageid=1180&ItemID=12986&mid=2026&pageindex=3&siteid=34 , [ngày truy cập 22/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo kết quả thi tuyển công chức năm 2012
Tác giả: Sở Nội vụ tỉnh Hậu Giang
Năm: 2012
6. Sắc lệnh 188/SL năm 1948 ngày 29/5/1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về lập một chế độ chức mới và một thang lương chung cho các ngạch và các hạng công chức Việt Nam (hết hiệu lực) Khác
7. Sắc lệnh 76/SL năm 1950 ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về ban hành quy chế công chức (hết hiệu lực) Khác
8. Sắc lệnh 20/SL năm 1947 ngày 16/02/1947 Sắc lệnh đặt ra hưu bổng thương tật và tiền tuất cho thân nhân tu sĩ và được bổ khuyết bởi Sắc lệnh 242/SL năm 1948 ngày 12/10/1948 về bổ khuyết điều 2, chương thứ nhất Sắc lệnh 20/SL năm 1947 ngày 16/02/1947 (hết hiệu lực) Khác
9. Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, sửa đổi, bổ sung năm 2000 (hết hiệu lực) Khác
12. Pháp lệnh số 04/2012/ UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 13 sửa đổi một số điều của pháp lệnh số 26/2005/UBTVQH11 về ưu đãi người có công với cách mạng Khác
13. Nghị định số 95/1998/NĐ-CP, ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức (hết hiệu lực) Khác
14. Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước (hết hiệu lực) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w