Việc xây dựng một đội ngũ công chức bao gồm những người có trình độ chuyên môn, có năng lực quản lý và có phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc vì trách nhiệm của mình trước công vụ
Trang 1KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS.Diệp Thành Nguyên Nguyễn Thị Ngọc Nhi
MSSV: 5117417 Lớp: Luật hành chính k37
Hậu Giang, 11/2014
Trang 2
Ngày… Tháng … năm 2014
Trang 3NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Ngày……tháng……năm 2014
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.1.1 Khái niệm về công chức 4
1.1.2 Khái niệm về tuyển dụng 6
1.1.3 Khái niệm về tuyển dụng công chức hành chính 7
1.2 Nguyên tắc tuyển dụng công chức 8
1.2.1 Đảm bảo công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật 8
1.2.2 Đảm bảo tính cạnh tranh 9
1.2.3 Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm 10
1.2.4 Ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân tộc thiểu số 10
1.3 Vai trò của việc tuyển dụng công chức hành chính 11
1.4 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tuyển dụng công chức 12
1.4.1 Giai đoạn 1945- 1954 12
1.4.2 Giai đoạn 1954- 1975 13
1.4.3 Giai đoạn 1976- 1986 15
1.4.4 Giai đoạn 1987 đến 2000 16
Trang 5CHƯƠNG 2:
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TUYỂN DỤNG
CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC 20
2.1 Căn cứ tuyển dụng công chức 20
2.2 Điều kiện đăng ký dự tuyển 20
2.3 Hồ sơ đăng ký dự tuyển 22
2.5 Chủ thể có quyền đăng ký dự tuyển công chức 25
2.6 Phương thức tuyển dụng 25
2.6.1.Phương thức thi tuyển 25
2.6.2 Phương thức xét tuyển 26
2.7 Nội dung tuyển dụng 27
2.7.1 Nội dung thi tuyển 27
2.7.1.1 Các môn thi và hình thức thi 27
2.7.1.2 Thời gian các môn thi trong kỳ thi tuyển 28
2.7.1.3 Điều kiện miễn thi một số môn 29
2.7.1.4 Cách tính điểm 30
2.7.1.5 Xác định người trúng tuyển 30
2.7.2 Nội dung xét tuyển 31
2.7.2.1 Nội dung xét tuyển 31
2.7.2.2 Cách tính điểm 31
2.7.2.3 Xác định người trúng tuyển 34
2.8 Quy trình tuyển dụng công chức 35
2.8.1 sơ đồ sơ lược về quá trình tuyển dụng công chức 35
2.8.2 Thông báo tuyển dụng và tiếp nhận hồ sơ dự tuyển 36
2.8.4 Thông báo kết quả tuyển dụng 38
Trang 62.9 Ưu tiên trong tuyển dụng công chức 46
2.9.1 Ưu tiên trong thi tuyển công chức 46
2.9.2 Ưu tiên trong xét tuyển công chức 47
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN ĐỐI VỚI VIỆC TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH HẬU GIANG 50
3.1 Thực tiễn thực hiện việc tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước tại tỉnh Hậu Giang năm 2011, năm 2013 50
3.1.1 Công tác tuyển dụng công chức hành chính nhà nước tại tỉnh Hậu Giang năm 2011 51
3.1.2 Công tác tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước tại tỉnh Hậu Giang năm 2013 52
3.1.3 Đánh giá công tác tuyển dụng công chức hành chính tại tỉnh Hậu Giang năm 2011 và năm 2013 53
3.1.3 Hạn chế trong công tác tuyển dụng công chức hành chính nhà nước tại tỉnh Hậu Giang trong năm 2011 và 2013 54
3.1.3 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trên 55
3.2 Hướng hoàn thiện đối với việc tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước tại tỉnh Hậu Giang 56
3.2.1 Về mặt pháp luật 56
3.2.2 Về mặt thực tiễn 58
KẾT LUẬN 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việc đổi mới công tác quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
là một trong những nội dung cơ bản của công cuộc cải cách hành chính, được Đảng
và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và đã thực hiện nhiều hoạt động cải cách trong công
tác quản lý đội ngũ công chức Vì vậy, việc đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ
công chức không chỉ góp phần xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh,
thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả mà còn có tác động tích cực đến nhiều mặt
của đời sống kinh tế – xã hội
Trong hoạt động của nền hành chính, vấn đề xây dựng đội ngũ công chức luôn là
vấn đề quan tâm hàng đầu của nhiều nước trên thế giới Đội ngũ công chức trực tiếp
thực hiện quyền lực Nhà nước trong quản lý xã hội, đảm bảo thực thi pháp luật và là
nhân tố quyết định hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính Ở nước ta, những thành tựu
đạt được trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới có phần đóng góp quan trọng
của đội ngũ công chức Trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa trong xu hướng hội nhập
quốc tế thì vấn đề cấp bách đặt ra là phải xây dựng và phát triển đội ngũ công chức
Việc xây dựng một đội ngũ công chức bao gồm những người có trình độ chuyên môn,
có năng lực quản lý và có phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc vì trách nhiệm
của mình trước công vụ là yêu cầu cấp thiết trước tình hình đổi mới đất nước để xây
dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, do đó cần làm tốt công tác tuyển
dụng
Hoạt động tuyển dụng mang tính quyết định, là bước đầu tiên của công tác xây
dựng đội ngũ công chức Việc tổ chức tuyển dụng công chức những năm gần đây mặc
dù có nhiều cải tiến và đổi mới, nhưng trong thời gian qua do chưa được quan tâm
đúng mức nên chúng ta chưa phát hiện ra những lổ hỏng trong công tác tuyển dụng
công chức nên vẫn còn không ít hạn chế, bất cập mà dư luận xã hội quan tâm như
thiếu khách quan, công bằng, minh bạch và nghiêm túc trong thi tuyển Điều này đã
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và gây nên sự bất bình
đẳng trong xã hội khi mà người có đủ năng lực và phẩm chất đạo đức lại không được
tuyển dụng, để khắc phục những tồn tại hiện nay và đáp ứng được yêu cầu của công
Trang 8cuộc đổi mới, vấn đề cấp bách là phải có chiến lược về con người, trong đó, để xây
dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, thì việc tổ chức tuyển dụng để lựa
chọn những người có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, bổ sung vào đội ngũ công
chức là một trong các giải pháp quan trọng và cần thiết, một nhiệm vụ quan trọng của
mọi cơ quan hành chính Nhà nước, được thực hiện bởi nhiều giải pháp và chính sách
Việc quản lý, phát triển đội ngũ công chức không phải một sớm một chiều mà có
được một đội ngũ công chức đủ năng lực, phẩm chất phục vụ nhân dân mà là cả một
quá trình bền bỉ, lâu dài, liên tục đổi mới có kế thừa Bên cạnh việc đổi mới công tác
tuyển dụng, đánh giá công chức, cần phải kết hợp hài hòa, thích đáng các nội dung
khác trong công tác quản lý công chức như việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, luân
chuyển, các chế độ phúc lợi, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức
Trong điều kiện cải cách hành chính, hướng tới xây dựng một nền hành chính
dân chủ, trong sạch và từng bước hiện đại hóa thì vấn đề tuyển dụng và xây dựng đội
ngũ công chức hành chính càng có ý nghĩa quyết định hơn bao giờ hết, nó cần được
nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn Từ những căn cứ lý luận và sự đòi hỏi của
thực tiễn mà người viết muốn nghiên cứu đề tài “Tuyển dụng công chức hành chính
Nhà nước - lý luận và thực tiễn tại tỉnh Hậu Giang” để làm luận văn cho ngành học
Tuy nhiên về nội dung bài viết người viết chỉ đề cập đến tuyển dụng công chức hành
chính cấp tỉnh do Sở Nội vụ tổ chức còn tuyển dụng công chức hành chính cấp xã do
Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức người viết không đề cấp đến do hạn chế về nguồn
tài liệu tham khảo
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài này là đề làm sáng tỏ một cách hệ thống về lý luận và
thực tiễn trong công tác tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước tại tỉnh Hậu
Giang trong giai đoạn hiện nay Bên cạnh đó, tìm ra một hướng đi mới để công tác
tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước ngày càng hiệu quả hơn Qua lần nghiên
cứu này người viết muốn truyền đạt đền người đọc hiểu biết sâu hơn về tuyển dụng
công chức hành chính Nhà nước
3 Phạm vi nghiên cứu
Công chức có nội hàm rất rộng nhưng ở phạm vi đề tài này người viết chỉ
nghiên cứu ở khía cạnh nhỏ về công chức, đó là nghiên cứu về: “Tuyển dụng công
Trang 9chức hành chính Nhà nước tại tỉnh Hậu Giang” Với đề tài này người viết chủ yếu
nghiên cứu về những quy định trong Luật cán bộ, công chức năm 2008 và một số
Nghị định, Thông tư và một số tài liệu có liên quan khác về tuyển dụng công chức
hành chính Nhà nước Có thể nói đây là vấn đề quan trọng trong giai đoạn hiện nay để
xây dựng đội ngũ công chức vững mạnh, góp phần đổi mới hệ thống chính trị trong
điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển
đất nước thì công tác tuyển dụng phải chặc chẽ, công khai , minh bạch, khách quan và
đúng pháp luật Về thực tiễn người viết nghiên cứu công tác tuyển dụng công chức
hành chính Nhà nước ở phạm vi tỉnh Hậu Giang trong 2 năm (năm 2011 và năm
2013)
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Các quy định của pháp luật
hiện hành, các báo cáo tổng hợp của cơ quan chức năng về tình hình tuyển dụng công
chức hành chính Nhà nước trong những năm qua Trong quá trình nghiên cứu, người
viết đã sử dụng các phương pháp so sánh pháp luật, quy nạp và diễn dịch, phân tích
và tổng hợp, bên cạnh đó, người viết còn lý giải vấn đề tuyển dụng công chức hành
chính Nhà nước theo quan điểm: hệ thống, lịch sử, thực tiễn và các hiện tượng pháp
lý khác
5 Bố cục đề tài
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung đề tài bao
gồm ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước
Chương 2: Những quy định của pháp luật hiện hành về tuyển dụng công chức
Nhà nước
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện đối với việc tuyển dụng công
chức hành chính Nhà nước tại tỉnh Hậu Giang
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm về công chức
Khái niệm công chức mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc vào tính chất
đặc thù của mỗi quốc gia cũng như từng giai đoạn lịch sử của từng nước Trong thực
tế rất khó có một khái niệm chung về công chức cho tất cả các quốc gia do tính chất
đặc thù của mỗi quốc gia khác nhau, có nước xem công chức chỉ là những người làm
việc trong bộ máy hành chính Nhà nước, nhưng có nước bao gồm cả những người
làm việc trong bộ máy hành chính và cả trong các tổ chức dịch vụ công
Ở Việt Nam, do phù hợp với thể chế chính trị và tổ chức bộ máy Nhà nước, Đảng,
Đoàn thể Khái niệm công chức được hiểu là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ
nhiệm giữ một chức vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước hoặc một tổ
chức xã hội ở trung ương hoặc địa phương, những người làm việc trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách Nhà nước
Qua từng thời kỳ, khái niệm công chức ở nước ta ngày càng phát triển và hoàn
thiện và lần đầu tiên được định nghĩa trong một đạo luật đó là luật cán bộ, công chức
năm 2008, được Quốc hội khóa XII, kỳ hợp thứ tư thông qua ngày 13/11/2008 Luật
này đã phân biệt công chức với cán bộ, viên chức bằng một định nghĩa độc lập về
công chức, cụ thể: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị
thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công
nhân
quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
(sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 11theo quy định của pháp luật.” 1
“Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh
chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước.”2
Để cụ thể những người là công chức, Chính phủ đã ban hành nghị định 06/2010/
NĐ-CP quy định những người là công chức, cụ thể bao gồm những công chức sau:
- Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công chức trong Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán
Nhà nước
- Công chức trong Bộ, cơ quan Ngang bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ thành lập
- Công chức trong cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện
- Công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân
- Công chức trong hệ thống Viên Kiểm sát nhân dân
- Công chức trong cơ quan của tổ chức chính trị-xã hội
- Công chức trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân
- Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập
Công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau:3
- Trưởng Công an
- Chỉ huy trưởng Quân sự
- Văn phòng- thống kê
- Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa
chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã)
Trang 12Phân loại công chức:
Trước đây theo Nghị định 117/2003 NĐ-CP ngày 10/10/2003 về việc tuyển dụng,
sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước thì việc phân loại
công chức phải căn cứ vào trình độ đào tạo, ngạch công chức và vị trí công tác nhưng
sau khi Luật cán bộ, công chức được ban hành thì việc phân loại công chức được nhẹ
nhàng hơn, hay nói cách khác là Luật cán bộ, công chức năm 2008 đã hợp nhất khoản
1 và khoản 2, Điều 4, Nghị định 117/2003/NĐ-CP thành một khoản và được quy định
tại khoản 1, Điều 34, Luật cán bộ, công chức So với trước đây, việc phân loại công
chức theo Luật cán bộ, công chức hiện nay chỉ căn cứ vào ngạch công chức và vị trí
công tác,4 cụ thể:
Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân loại như sau:
Thứ nhất là: Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên
cao cấp hoặc tương đương
Thứ hai là: Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên
chính hoặc tương đương
Thứ ba là: Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên
hoặc tương đương
Thứ tư là: Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc
tương đương và ngạch nhân viên
Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại thành: Công chức giữ chức
vụ lãnh đạo, quản lý và công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý
1.1.2 Khái niệm về tuyển dụng
Thành tựu đạt được của một cơ quan Nhà nước phụ thuộc vào nguồn nhân sự mà
cơ quan Nhà nước đó có Trong đó nguồn nhân sự là một trong những nguồn lực đóng
vai trò hết sức quan trọng, xét cho cùng nguồn nhân sự là nguồn lực quan trọng nhất
của mọi cơ quan Nhà nước bởi yếu tố con người là tác nhân tạo ra những thành tựu để
phát triển đất nước Chất lượng nguồn nhân sự sẽ quyết định năng suất, chất lượng
công việc mà cơ quan, tổ chức đặt ra Vì vậy, điều kiện để có được đội ngũ nhân sự
đủ năng lực và có phẩm chất đạo đức tốt đáp ứng các yêu cầu công việc, các mục tiêu
chiến lược của cơ quan Nhà nước là phải làm tốt công tác tuyển dụng
4
Trang 13Tuyển dụng được hiểu một cách đơn giản là quá trình sàn lọc và tuyển chọn ra
những người có đủ năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt và đủ điều kiện vào trong cơ
quan, tồ chức đáp ứng một công việc cho một cơ quan, tổ chức
Tuyển dụng là hoạt động rất quan trọng nhằm bổ sung nhân lực cho cơ quan Nhà
nước Tuyển dụng phải theo nguyên tắc cạnh tranh nhưng phải đảm bảo công khai,
minh bạch, khách quan và đúng pháp luật để lựa chọn ra những người ưu tú nhất đảm
nhiệm những vị trí mà cơ quan, tổ chức cần tuyển Tùy theo tính chất, chức năng,
nhiệm vụ của từng loại cơ quan mà tiêu chuẩn điều kiện, hình thức tuyển dụng khác
nhau
Quá trình tuyển dụng bao gồm năm giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Xác định nhu cầu nhân sự mới cần đưa vào trong tổ chức
Giai đoạn 2: Thu hút người lao động tham gia dự tuyển
Giai đoạn 3: Tuyển chọn ra những người đáp ứng được các yêu cầu do tổ chức
đặt ra
Giai đoạn 4: Tập sự cho người mới để họ “hành chính hóa” bản thân họ
Giai đoạn 5: Bổ nhiệm chính thức sau tập sự vào danh sách nhân sự tổ chức
Quá trình tuyển dụng tuy diễn ra trong thời gian ngắn nhưng lại ảnh hưởng lâu
dài đến sự tồn tại và phát triển của một đơn vị Có thể xem hoạt động này giống như
việc người nông dân chọn những hạt giống tốt nhất để gieo trồng trên mảnh ruộng của
mình Nếu việc tuyển dụng được thực hiện có hiệu quả sẽ là cơ sở để xây dựng một
đội ngũ nhân sự có trình độ, năng lực và để xây dựng sự phát triển của đơn vị, ngược
lại nếu tuyển dụng không được tiến hành một cách nghiêm túc sẽ làm giảm hoạt động
chung, thậm chí còn mang tới những nguy cơ cho sự sa sút hoặc sụp đổ của một đơn
vị
1.1.3 Khái niệm về tuyển dụng công chức hành chính
Tuyển dụng công chức hành chính là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý công
chức hành chính, có tính quyết định cho một cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước
Trong quá trình vận hành của nền công vụ, nếu việc tuyển dụng, tuyển được những
công chức giỏi thì nhất định nền công vụ sẽ hoạt động tốt và đạt kết quả cao vì công
chức nhà nước là nhân tố quyết định đến sự vận hành của một nền công vụ Năm
1998 Pháp lệnh cán bộ, công chức ra đời là văn bản pháp lý cao nhất của nước ta về
Trang 14cán bộ, công chức, dưới Pháp lệnh là nghị định 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về
tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, nghị định đã cụ thể hóa khái niệm về
tuyển dụng công chức tại khoản 5, Điều 2: “Tuyển dụng là việc tuyển người vào cơ
quan Nhà nước sau khi đạt kết quả của kỳ thi tuyển.” Đây được xem là khái niệm về
tuyển dụng công chức đầu tiên ở nước ta Đến năm 2003 do không còn phù hợp nên
khái niệm này được thay thế bởi khái niệm quy định tại nghị định 117/2003/NĐ-CP
ngày 10/10/2003 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ
quan Nhà nước, cụ thể tại khoản 5, Điều 3 nghị định 117/2003/NĐ-CP như sau:
“Tuyển dụng là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan Nhà nước
thông qua thi hoặc xét tuyển.”
Năm 2008, Luật cán bộ, công chức ra đời đã đổi mới căn bản việc quản lý công
chức về nội dung tuyển dụng công chức, đó là việc tuyển dụng phải căn cứ vào yêu
cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế và thông qua thi tuyển theo nguyên
tắc công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật, đảm bảo tính cạnh tranh
Tuy khái niệm về tuyển dụng công chức hành chính không được tìm thấy trong Luật
này kể cả trong các văn bản hướng dẫn Luật Nhưng trên cơ sở các nghị định trước,
có thể hiểu khái niệm về Tuyển dụng công chức hành chính trong thời gian này là
việc tuyển dụng thêm người, bổ sung nhu cầu nhân sự cho cơ quan, tổ chức hành
chính Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể, đảm bảo nguồn nhân lực đáp ứng nhu
cầu phát triển đất nước thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển
1.2 Nguyên tắc tuyển dụng công chức
Tuyển dụng là khâu có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng đội ngũ công chức do đó
cần phải tuân thủ những nguyên tắc chung nhất định và quy trình khoa học từ hình
thức đến nội dung thi tuyển Sau đây là một số nguyên tắc trong tuyển dụng công
chức.5
1.2.1 Đảm bảo công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật
Trong quá trình tuyển dụng cơ quan, tổ chức tiến hành tuyển dụng phải thông
báo công khai cho người tham gia dự tuyển về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng cần
tuyển tại trụ sở cơ quan và các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đảm bảo tính
công khai trong công tác tuyển dụng
5
Trang 15Khi tiến hành tuyển dụng, phải đảm bảo tính minh bạch, chống tình trạng tùy
tiện, lạm dụng chức quyền để đưa người thân vào làm việc mà không tính đến tiêu
chuẩn, hoặc dùng tiền hối lộ cho người có trách nhiệm để được vào làm việc mà
không cần qua quá trình thi tuyển
Thái độ của cơ quan, tổ chức tiến hành tuyển dụng phải nghiêm túc, cẩn trọng và
tỉ mĩ để xem xét quá trình tuyển dụng một cách thấu đáu và đánh giá quá trình tuyển
dụng được khách quan, nhằm tuyển dụng được những người giỏi, phù hợp, đáp ứng
tốt nhất các yêu cầu của nền công vụ
Công tác tuyển dụng phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng cộng sản
Việt Nam, đảm bảo nguyên tắc tập thể, dân chủ đi đôi với phát huy trách nhiệm của
người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị Vì vậy, trong công tác tuyển dụng, từ khâu
chuẩn bị đến quá trình thi và đến khi kết thúc điều phải thực hiện theo đúng các điều
kiện, nguyên tắc, thẩm quyền và trình tự, thủ tục tuyển dụng của hệ thống pháp luật
Việt Nam một cách nghiêm chỉnh, cụ thể là phải tuân thủ theo Luật cán bộ, công chức
2008, Nghị định 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/03/2010 quy định về tuyển
dụng, sử dụng, quản lý công chức và Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010
của Bộ Nội vụ Quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức
của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/03/2010 của Chính phủ quy định về tuyển
dụng, sử dụng và quản lý công chức
Ví dụ: Theo quy định tại Điều 15 Nghị định 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ
ngày 15/03/2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý công chức thì việc tuyển
dụng công chức phải được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thông báo công khai trên
các phương tiện thông tin đại chúng như Đài phát thanh, Đài truyền hình, trên báo,
trên trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức đó và phải niêm yết công khai tại trụ
sở làm việc về các tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng cần tuyển, thời hạn và địa điểm tiếp
nhận hồ sơ của người đăng kí dự tuyển
1.2.2 Đảm bảo tính cạnh tranh
Cạnh tranh là hành động ranh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm
vì mục đích giành được lợi nhuận, địa vị, sự kêu hãnh, các phần thưởng hay những
thứ khác Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó
có ngành luật, cụ thể được thể hiện trong quá trình thi tuyển công chức Nhà nước
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải thừa nhận mọi hoạt động điều
Trang 16phải có tính cạnh tranh và coi cạnh tranh là động lực để tồn tại và phát triển
Ở nước ta, tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước nghĩa là tất cả các công
dân có đủ điều kiện tuyển dụng công chức đều có cơ hội như nhau trong việc đăng kí
dự tuyển công chức Việc thi tuyển công chức hành chính công khai sẽ đảm bảo mọi
công dân đều có thể cạnh tranh lành mạnh với nhau và để cơ quan, tổ chức có thể lựa
chọn được những người xứng đáng nhất vào vị trí cần tuyển dụng Cạnh tranh trong
thi tuyển công chức hành chính là việc có nhiều thí sinh thi với nhau để vào làm việc
tại một vị trí trong bộ máy hành chính Nhà nước Để có cơ hội làm việc trong cơ quan
nhà nước, các thí sinh phải có bài thi với số điểm cao, tức là phải đạt từ 50 điểm trở
lên cho mỗi bài thi Có như vậy, mới đánh giá được tài năng thực sự của mỗi thí sinh
và đảm bảo được tính công bằng
1.2.3 Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm
Tùy theo yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm mà việc tuyển chọn công chức phải
dựa trên trình độ nghiệp vụ, kinh nghiệm, khả năng làm việc, sức khỏe, kiến thức xã
hội, phẩm chất đạo đức để có thể lựa chọn đúng người vào làm việc Không được dựa
trên sự áp đặt ý chí của bất kì chủ thể nào, các mối quan hệ quen biết, người nhà hay
người thân
Trong kỳ thi tuyển công chức, nguyên tắc chủ đạo là mọi người đều phải cạnh
tranh với nhau một cách bình đẳng, công bằng và kết quả đánh giá là dựa trên năng
lực của thí sinh Để đảm bảo chọn được người có năng lực tốt, đáp ứng yêu cầu vị trí
việc làm, mỗi thí sinh phải trải qua 5 bài thi: thi viết môn kiến thức chung về quản lý
Nhà nước; thi viết và trắc nghiệm môn nghiệp vụ chuyên ngành; thi viết hoặc thi vấn
đáp môn ngoại ngữ và thi trắc nghiệm hoặc thực hành trên máy môn tin học văn
phòng Khả năng của thí sinh được đánh giá qua nhiều bài thi như vậy sẽ là điều kiện
sàng lọc và lựa chọn ra những người nổi trội nhất Như vậy, sẽ chọn được người thực
sự có trình độ vào làm việc
1.2.4 Ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân
tộc thiểu số
Việc tuyển dụng công chức phải ưu tiên cho người thực sự có năng lực, các cơ
quan Nhà nước phải tuyển dụng được những người giỏi, phù hợp, đáp ứng tốt nhất
các yêu cầu của nền công vụ Quan niệm chất lượng công chức không chỉ nằm ở bằng
cấp, trình độ đào tạo mà chủ yếu là năng lực thực hiện công việc Bằng cấp không
Trang 17phải là tiêu chí duy nhất phản ánh đúng năng lực tác nghiệp của công chức Tránh
tình trạng quá coi trọng bằng cấp mà đặt nó lên hàng tiêu chuẩn trong quá trình tuyển
dụng mà làm giảm chất lượng tuyển dụng Bên cạnh đó các nhà tuyển dụng chỉ đóng
cữa xem hồ sơ lý lịch, xem ứng viên có bao nhiêu bằng, bao nhiêu giấy chứng nhận,
có lý lịch trong sáng không Mà không quan tâm đến việc xã hội hiện nay có nhiều kẻ
hở nên bằng gì cũng có thể mua được kể cả bằng tiến sĩ Vì vậy, việc ưu tiên chọn
người thực sự có tài năng để góp phần xây dựng bộ máy Nhà nước phát triển hơn là
đều cần thiết
Để đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử trong phát triển giữa các nhóm
dân tộc hay nhằm mục đích trả ơn cho những người đã hi sinh hoặc cống hiến cho
Đảng, Nhà nước ta có một số chế độ ưu tiên cho những người có công, người dân tộc thiểu số trong tuyển dụng công chức và một số lĩnh vực khác Bởi
những người dân tộc thiểu số đa số sống ở vùng núi khó khăn nên họ thường không
có điều kiện làm việc và tìm kiếm cho mình một công việc ổn định Chế độ ưu tiên
cho người có công với nước, người dân tộc thiểu số được quy định riêng ở một số văn
bản.7
1.3 Vai trò của việc tuyển dụng công chức hành chính
Đội ngũ công chức có vị trí trụ cột trong tổ chức, hoạt động của cơ quan hành
chính, có vai trò quyết định đến sự phát triển của đất nước, là người trực tiếp tham gia
vào quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế -
xã hội, tham mưu, hoạch định, tổ chức thực hiện và thanh tra, kiểm tra việc thực thi
đường lối chính sách
Tuyển dụng công chức hành chính là điều kiện tiên quyết cho sự thắng lợi của
bất kỳ cơ quan, tổ chức hành chính Nhà nước nào bởi vì mọi hoạt động điều do con
người thực hiện và chỉ con người mới có thể hoàn thành mục tiêu của cơ quan, tổ
chức hành chính Nhà nước khi đáp ứng được nhu cầu công việc, góp công vào việc
xây dựng một xã hội giàu đẹp, văn minh và nhằm giảm tỉ lệ thất nghiệp, cải thiện đời
sống con người, tiến tới xây dựng một nền hành chính vững mạnh Hoạt động tuyển
dụng tốt thì cơ quan, tổ chức sẽ có một đội ngũ nhân viên có trình độ, khinh nghiệm
để giúp tổ chức tồn tại và phát triển tốt, có tính cạnh tranh cao
6
Khoản 2, Điều 5, Hiến pháp năm 2013
7
Chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng – pháp lệnh số 04/2012/ UBTVQH13 sửa đổi một
số điều của pháp lệnh số 26/2005/UBTVQH11 về ưu đãi người có công với cách mạng
Trang 181.4 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tuyển dụng công chức
Ở nước ta, tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước được hình thành và gắn
với sự phát triển của nền hành chính nhà nước qua từng giai đoạn:
1.4.1 Giai đoạn 1945- 1954
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, sự xuất hiện nhà nước dân chủ nhân
dân mới đã mở đầu cho việc hình thành chế độ công chức mới Hiến pháp 1946 ra đời
làm cơ sở cho việc hình thành các văn bản quy phạm pháp luật về công chức Trên cơ
sở đó Sắc lệnh 188/SL ngày 9/5/1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng
hòa đã được ban hành quy định về chế độ công chức mới với một thang lương chung
cho các ngạch và các hạng công chức Việt Nam phù hợp với chính thể dân chủ Cộng
hòa
Trong thời kỳ thực hiện kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bộ máy nhà
nước đã dần ổn định và hoạt động hiệu quả Từ đó nhu cầu tuyển dụng công chức làm
việc trong bộ máy ngày càng tăng Trước tình hình đó, Sắc lệnh 188/SL đã không còn
phù hợp với thực tế Vì vậy, ngày 22 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký
Sắc lệnh 76/SL ban hành quy chế công chức nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Sắc lệnh 76/SL đã dành một chương quy định về tuyển dụng công chức Đây là
một văn bản pháp luật về công chức mang tính khoa học, dân chủ, có hiệu lực cao và
nội dung hoàn chỉnh, có nhiều quy định mang tính tiến bộ so với một số nước trên thế
giới cùng thời kỳ Chỉ tiếc rằng do hoàn cảnh kháng chiến nên việc tuyển dụng công
chức theo Quy chế này đã không được triển khai đầy đủ Năm 1951, Bộ Nội vụ đã tổ
chức được một kỳ thi tuyển ngạch cán sự, đây cũng là kỳ thi tuyển công chức đầu tiên
ở nước ta Bộ Nội vụ cũng đã ban hành Nghị định 97/NV-2 ngày 14/3/1950 về quy
chế cho kỳ thi tuyển ngạch cán sự hành chính, Nghị định 98/NV-2 ngày 14/3/1950
quy định về quy chế cho kỳ thi tuyển ngạch tham sự hành chính
Nội dung điều chỉnh pháp luật về tuyển dụng công chức trong giai đoạn này thể
hiện ở một số nội dung sau:
Thứ nhất là: Quan niệm về công chức: Quan niệm về công chức đã được xác
định lần đầu tiên trong tại Sắc lệnh 76/SL năm 1950 Lời nói đầu của Sắc lệnh 76 đã
quan niệm công chức là “những công dân giữ một nhiệm vụ trong bộ máy Nhà nước
của chính quyền nhân dân, dưới sự lãnh đạo tối cao của Chính phủ” Điều 1 Sắc lệnh
76 đã đưa ra định nghĩa về công chức như sau: “Những công dân Việt Nam được
Trang 19chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan
Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những
trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” có thể nhận thấy thời kỳ này chủ yếu
phân loại công chức theo ngạch và trật Các ngạch công chức đều theo một thang
lương chung gồm 30 bậc Mỗi ngạch chia ra nhiều trật Những trật liền nhau trong
một ngạch phải đối chiếu với những bậc liền nhau trong thang lương chung
Về tổ chức các ngạch công chức, thì các ngạch công chức bao gồm: ngạch hạng
A, hạng B, hạng C, hạng D, hạng E Mỗi ngạch sẽ tương ứng với chức vụ, bật lương
Thứ hai là: Điều kiện tuyển dụng : việc tuyển dụng công chức vào làm việc
trong cơ quan nhà nước phụ thuộc vào hai điều kiện:
+ Điều kiện về năng lực: Việc tuyển bổ công chức chỉ căn cứ vào năng lực
(thành tích kinh nghiệm, trình độ văn hóa)
+ Điều kiện khác: ngoài điều kiện năng lực; những người muốn được tuyển vào
một ngạch công chức phải đủ những điều kiện dưới đây: Có quốc tịch Việt Nam; Đủ
18 tuổi (đối với một vài ngạch đặc biệt, quy tắc có thể ấn định một hạn tuổi cao hơn);
Hạnh kiểm tốt; Có quyền công dân; Có đủ sức khỏe theo giấy chứng nhận của một y
sĩ công
Thứ ba là: Hình thức tuyển dụng : được xét theo ba cách sau: xét qua kỳ thi,
theo học bạ hay văn bằng và theo đề nghị của Hội đồng truyển trạch
Thứ tư là: Ưu tiên trong tuyển dụng: Theo Điều 16 Sắc lệnh 76/SL thì đồng
bào thiểu số, cựu binh thương binh, quân nhân có chiến công, sẽ được ưu đãi trong
Thứ năm là: Quy trình tuyển dụng: Ở giai đoạn này quá trình tuyển dụng được
thực hiện theo các bước sau: thực tập, tập sự và thực thụ, gia hạn tập sự, bãi chức
1.4.2 Giai đoạn 1954- 1975
Từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam chuyển sang một
thời kỳ mới, đây là thời kỳ đất nước bị chia cắt làm hai miền Cuộc kháng chiến do
8
Điều 3, Sắc lệnh 188/SL năm 1948
9
Sắc lệnh 20/SL năm 1947 ngày 16/02/1947 Sắc lệnh đặt ra hưu bổng thương tật và tiền tuất cho thân
nhân tu sĩ và được bổ khuyết bởi Sắc lệnh 242/SL năm 1948 ngày 12/10/1948 về bổ khuyết điều 2,
chương thứ nhất Sắc lệnh 20/SL năm 1947 ngày 16/02/1947
Trang 20thực dân pháp và can thiệp Mỹ do Đảng ta lãnh đạo đã giành được thắng lợi Tuy
nhiên, sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi cả nước vẫn chưa hoàn
thành Miền bắc được giải phóng, song miền nam vẫn còn dưới ách thống trị của thực
dân và tay sai Đứng trước sự biến đổi phức tạp này, một yêu cầu đặt ra cho Đảng ta
là phải vạch ra đường lối đúng đắng phù hợp với tình hình mới của đất nước và phù
hợp với xu thế phát triển chung của thời đại, giai đoạn này cách mạng Việt Nam có
nhiệm vụ củng cố, bảo vệ miền bắc, đưa miền bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục
đấu tranh để thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân trong cả nước
Trong giai đoạn mới của cách mạng, Nhà nước ta cần sửa đổi Hiến pháp năm
1946 cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới Ngày 31/12/1959 Quốc hội đã
thông qua Hiến pháp mới đễ ghi rõ những thắng lợi cách mạng to lớn đã giành được
trong thời gian qua và nêu rõ mục tiêu của nhân dân ta trong giai đoạn mới Sau khi
Hiến pháp năm 1959 ra đời, hoạt động lập pháp ở nước ta mới chỉ quan tâm đến lĩnh
vực tổ chức bộ máy nhà nước (thuộc lĩnh vực luật Hiến pháp), nghĩa vụ quân sự (huy
động thanh niên nhập ngũ tham gia chống Mỹ cứu nước) và pháp luật hình sự (như là
công cụ không thể thiếu để bảo vệ chế độ), các lĩnh vực khác ít được quan tâm điều
chỉnh hoặc được điều chỉnh bởi các văn bản dưới luật như nghị định, quyết định, nghị
quyết, chỉ thị, thông tư của Hội đồng Chính phủ, của các Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ
Hoạt động công vụ, công chức chủ yếu được điều chỉnh theo pháp luật nhưng
pháp luật quy định về tuyển dụng công chức hành chính Nhà nước ở giai đoạn này
không được quy định cụ thể Mặc dù, năm 1950 chủ tịch Hồ chí minh đã ký sắc lệnh
76/SL ngày 20/5/1950 về quy chế tuyển dụng công chức Việt Nam nhằm mục đích hỗ
trợ cho việc tuyển dụng công chức vào cơ quan hành chính Nhà nước được hiệu quả
hơn nhưng do điều kiện đất nước chiến tranh nên bản quy chế công chức này tuy
không có văn bản bãi bỏ nhưng cũng không được triển khai trong suốt thời gian dài
Công chức được vào làm việc trong cơ quan hành chính Nhà nước chủ yếu qua hình
thức bầu cử, do phân công sau khi tốt nghiệp, do tuyển dụng hay bổ nhiệm, văn bản
quy định về công tác tuyển dụng trong giai đoạn này là nghị định số 24/CP của Hội
đồng chính phủ ngày 13/3/1963 ban hành về điều lệ thi tuyển và cho thôi việc đối với
công nhân, viên chức Nhà nước, tuy nhiên, phải nhấn mạnh là trong nền công vụ
nước ta ở giai đoạn này không phân biệt rõ công chức hành chính và những người
Trang 21hoạt động trong lĩnh vực khác của khu vực công Tất cả những người làm việc trong
biên chế nhà nước từ cơ quan hành chính sự nghiệp đến doanh nghiệp và tổ chức xã
hội đều gọi chung là “ cán bộ, công nhân viên” nhà nước
Những hình thức như thi tuyển, chuyển ngạch, nâng bậc công chức thời kỳ này
không được thực hiện trong thực tế Bởi ở giai đoạn này nhiệm vụ chủ yếu của Đảng,
Nhà nước ta là tập trung đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa và khôi phục kinh tế ở
miền bắc, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam thực hiện thống
nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước, nên những hoạt động
này tạm thời bị gián đoạn
1.4.3 Giai đoạn 1976- 1986
Sau đại thắng mùa xuân 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước
thống nhất và bước vào kỷ nguyên hoà bình xây dựng, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa
xã hội Tuy đất nước đã thống nhất về mặt lãnh thổ nhưng ở mỗi miền lại tồn tại một
hình thức tổ chức nhà nước khác nhau Yêu cầu đặc ra đối với Đảng, Nhà nước ta lúc
này là không chỉ thống nhất về lãnh thổ mà thống nhất trên tất cả các mặt Công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước chỉ có thể được tiến hành có hiệu quả
khi đất nước đã thống nhất về mặt Nhà nước Do đó, trong bối cảnh cả nước tiến lên
chủ nghĩa xã hội Nhà nước ta cần có một bản Hiến pháp thể chế hóa đường lối của
Đảng cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới, đó là Hiến pháp của thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước, ngày 18/12/1980 bản Hiến pháp mới đã được
thông qua trên cơ sở kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp 1959
Sau khi Hiến pháp năm 1980 được thông qua thì hệ thống pháp luật Việt Nam
bước sang một giai đoạn phát triển mới rất đáng tự hào Tuy nhiên, thực tế hoạt động
xây dựng pháp luật trong giai đoạn này không có sự khởi sắc cần thiết Hoạt động lập
pháp ở giai đoạn này chủ yếu tập trung vào lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước (các
Luật về bẩu cử và các luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước như Quốc
hội, Hội đồng bộ trưởng, Tòa án nhân dân, Viện kiềm sát nhân dân, Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân), lĩnh vực hình sự (với việc ra đời của Bộ luật đầu tiên, Bộ
luật Hình sự năm 1985) và lĩnh vực quân sự (Luật về sĩ quan quân đội năm 1982,
Luật về nghĩa vụ quân sự năm 1982)
Từ sau năm 1954, miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, nền công vụ trước đây
không còn phù hợp nữa Nhưng việc tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt, sắp xếp công chức
Trang 22cũng như những quy định về hoạt động trong cơ quan hành chính nhà nước đều theo
mô hình xã hội chủ nghĩa trước đây Thêm vào đó, ngoài Hiến pháp ra nước ta chưa
xây dựng nhiều đạo luật, mọi hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước chủ yếu
được điều chỉnh bằng các văn bản pháp quy Trong giai đoạn này, văn bản thể hiện rõ
về hoạt động tuyển dụng là nghị định 24/CP của Hội đồng chính phủ ngày 13/3/1963
ban hành về điều lệ thi tuyển và cho thôi việc đối với công nhân, viên chức Nhà nước
và thông tư 14-LĐ/TT của Bộ Lao động ngày 21/6/1977 hướng dẫn việc tuyển dụng
và cho thôi việc đối với công nhân viên chức nhà nước trong tình hình mới Thuật
ngữ sử dụng cho những người làm việc trong cơ quan nhà nước, các xí nghiệp tổ chức
xã hội vẫn là “ cán bộ, công nhân viên” nhà nước
Cho đến giai đoạn này tuy trong điều kiện thời bình nhưng vẫn như những năm
trước hoạt động tuyển dụng công chức trong giai đoạn này vẫn không được tiến hành
trong thực tế, công chức được vào làm việc trong cơ quan hành chính Nhà nước chủ
yếu cũng do bầu cử hay do được phân công sau khi tốt nghiệp
1.4.4 Giai đoạn 1987 đến 2000
Giai đoạn này nước ta chính thức bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện, Hiến pháp
năm 1992 ra đời đánh đấu bước phát triển nhảy vọt trong hệ thống pháp luật Việt
Nam Để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, từng bước xây dựng một nền công
vụ mới với đội ngũ công chức giỏi, đòi hỏi phải có sự thay đổi cả về tổ chức và hoạt
động của công vụ Do đó, công tác tuyển dụng được chú trọng hơn, dựa trên sự ra đời
của Hiến pháp năm 1992 và Nghị quyết của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 2 về
chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 1998 Ngày 09/3/1998 Ủy ban thường vụ
Quốc hội 10 đã ban hành pháp lệnh cán bộ công chức, có hiệu lực ngày 01/5/1998,
Pháp lệnh cũng đã dành một chương để quy định về chế độ tuyển dụng công chức Có
thể nói đây là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất về cán bộ, công chức từ trước đến
thời điểm bây giờ, tạo cơ sở cho việc tuyển dụng cán bộ, công chức vào làm việc
trong cơ quan nhà nước được thuận lợi và có quy củ hơn, đảm bảo chọn đúng người,
sắp xếp đúng việc đáp ứng yêu cầu mới của nền hành chính quốc gia
Bên cạnh đó, một số văn bản quy định chế độ thi tuyển công chức được ban
hành như: Để cụ thể hóa Pháp lệnh cán bộ, công chức Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 95/1998/NĐ-CP, ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và
quản lý công chức, Quyết định số 466/1998/QĐ-TCCP-BCTL ngày 05/9/1998 của Bộ
trưởng, trưởng Ban tổ chức – cán bộ Chính phủ về việc ban hành quy chế thi tuyển,
Trang 23thi nâng ngạch công chức, nội quy thi tuyển, thi nâng ngạch công chức, Thông tư số
04/1999/TT-TCCP ngày 20/3/1999 của Ban tổ chức – cán bộ Chính phủ hướng dẫn
Nghị định số 95/1998/NĐ-CP, ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử
dụng và quản lý công chức Theo đó, các cơ quan hành chính sự nghiệp của Nhà nước
khi tuyển dụng công chức phải thực hiện chế độ thi tuyển, những người chưa qua thi
tuyển thì không được tuyển dụng vào biên chế trong các cơ quan hành chính sự
nghiệp của Nhà nước Bên cạnh đó, trong quá trình tuyển dụng cán bộ, công chức
thực tế vẫn còn nhiều vướn mắc:
Thứ nhất là vì vẫn còn ở giai đoạn đầu thực hiện Pháp lệnh nên hoạt động tuyển
dụng chưa được đồng loạt ở tất cả các cơ quan nhà nước
Thứ hai là việc tuyển dụng công chức mới chỉ áp dụng đối với sinh viên mới ra
trường, vào vị trí công việc ngạch thấp, mà chưa áp dụng đối với vị trí công việc
ngạch cao
Thứ ba là nội dung thi tuyển chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc tuyển
dụng
1.4.5 Giai đoạn 2000 đến 2008
Sau hai năm thực hiện theo Pháp lệnh năm 1998, Pháp lệnh đã bộc lộ những hạn
chế nên đã được sửa đổi vào năm 2000, các văn bản dưới pháp lệnh cũng được sửa
đổi như Nghị định số 56/2000/NĐ-CP ngày 12/10/2000 của Chính phủ sửa đổi khoản
2, Điều 6 Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển
dụng, sử dụng và quản lý công chức Tuy vậy ngay cả Pháp lệnh sửa đổi, Nghị định
sửa đổi vẫn không khắc phục được những hạn chế, vướn mắc thực tế Nhằm khắc
phục những hạn chế đó, Pháp lệnh được sửa đổi một lần nữa vào năm 2003 và ngày
10/10/2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003
của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ
quan Nhà nước để thực hiện các quy định về tuyển dụng công chức hành chính Nhà
nước Pháp lệnh sửa đổi đã bổ sung thêm chế độ xét tuyển nhằm đáp ứng yêu cầu xây
dựng đội ngũ công chức ở vùng dân tộc ít người, đối với những người tình nguyện
làm việc từ năm năm trở lên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Khi
sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức, Nhà nước cũng đã
Trang 24thực hiện việc phân định công chức hành chính với công chức sự nghiệp
Tuy nhiên, bên cạnh những bước tiến trong việc thực hiện cơ chế hợp đồng làm
việc trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước, cơ chế tuyển dụng công chức làm việc
suốt đời trong các cơ quan hành chính nhà nước hiện đang là lực cản, là sức ỳ trong
quá trình nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính, vì nó tạo ra tâm lý an
phận, thiếu ý chí phấn đấu trong đội ngũ công chức Bên cạnh đó, phương thức và nội
dung, hình thức thi tuyển công chức hiện nay chỉ chú trọng vào kiến thức, trình độ
đào tạo mà chưa chú trọng vào năng lực thực thi nhiệm vụ, công vụ dẫn đến xu hướng
tuyển dụng chỉ tập trung vào lực lượng tốt nghiệp đại học trở lên, tỷ lệ công chức thừa
hành ở các ngạch cán sự, nhân viên hiện nay so với công chức trong các cơ quan nhà
nước là rất thấp, dẫn đến tình trạng “thầy nhiều hơn thợ” Việc phân cấp cho nhiều cơ
quan được quyền tổ chức đánh giá, tuyển chọn người vào các cơ quan nhà nước dẫn
đến sự không thống nhất về nội dung, hình thức thi, tiêu chí đánh giá, bộ máy thực
hiện việc tuyển chọn công chức đều kiêm nhiệm, không chuyên nghiệp Điều đó ảnh
hưởng đến chất lượng toàn bộ đội ngũ công chức và tạo sự chênh lệch về chất lượng
đội ngũ công chức giữa các vùng, các cơ quan với nhau
1.4.6 Giai đoạn 2008 đến nay
Để khắc phục mặt hạn chế của các văn bản từ truớc đến nay, nhằm hoàn thiện và
đổi mới công tác tuyển dụng công chức, ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội
khoá XII, đã thông qua Luật cán bộ, công chức, đây là một văn bản có giá trị pháp lý
cao nhất từ trước đến nay Luật Cán bộ, công chức năm 2008 gồm có 10 chương và
87 điều đã quy định nhiều nội dung rõ ràng hơn về tuyển dụng công chức Nhà nước
và được quy định cụ thể tại mục 2, chương IV của văn bản Luật và theo đó Luật cán
bộ, công chức cũng dành một chương (chương V) để quy định về tuyển dụng công
chức cấp xã cán bộ, công chức cấp xã được quy định tại Khoản 2, Điều 63 Để thực
hiện các quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15-3-2010 về tuyển dụng, sử dụng và quản
lý công chức Trong đó, không còn quy định phải bắt buộc thành lập tổ chức Hội
đồng tuyển dụng khi tuyển dụng công chức Qua đó, phát huy và đề cao trách nhiệm
người đứng đầu cơ quan được giao thẩm quyền tuyển dụng công chức
Luật cán bộ, công chức năm 2008 được ban hành đã đánh đấu một giai đoạn phát
triển mới về công tác tuyển dụng công chức Theo tinh thần đổi mới, từ nay trở đi
việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên
Trang 25chế Những người có đủ các điều kiện, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần
xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo đều được đăng ký dự tuyển công chức, điều kiện đăng dự
tuyển được thể hiện ngay trong Luật mà không giao cho chính phủ hay cơ quan nào
quy định Ngoài các điều kiện nêu trên, theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, cơ quan có
thẩm quyền tuyển dụng còn có thể quy định thêm một số điều kiện khác, nhưng
không được trái với các quy định của pháp luật Bên cạnh đó, để thu hút người có tài
năng, có trình độ tham gia vào trong hoạt động công vụ, Chính phủ cũng đã quy định
cho phép người đứng đầu cơ quan quản lý công chức được xem xét, tiếp nhận không
qua thi tuyển
Tóm lại, Các quy định của Luật Cán bộ, công chức về công tác tuyển dụng, sử
dụng và quản lý công chức được đổi mới theo hướng dựa trên tiêu chuẩn chức danh,
vị trí việc làm và cơ cấu công chức Tiêu chuẩn năng lực cũng được nhấn mạnh trong
tuyển chọn và sử dụng công chức Cùng với việc giao thẩm quyền tuyển dụng cho các
bộ, ngành và địa phương, Luật quy định các bộ, ngành và địa phương có trách nhiệm
thực hiện việc phân cấp tuyển dụng công chức cho các cơ quan thuộc quyền quản lý
Từng bước gắn dần thẩm quyền sử dụng với thẩm quyền tuyển dụng, khắc phục tình
trạng người được giao quyền tuyển dụng không được giao quyền sử dụng, người được
giao quyền sử dụng thì lại không được giao quyền tuyển dụng, qua đó nâng cao công
tác tuyển dụng, lựa chọn được đúng người, đủ năng lực, tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu
công việc
Trang 26CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC 2.1 Căn cứ tuyển dụng công chức
Tuyển dụng là quá trình bổ sung những người đủ tiêu chuẩn, điều kiện vào đội
ngũ công chức, đây là quá trình thường xuyên và cần thiết để xây dựng và phát triển
đội ngũ công chức Theo tinh thần đổi mới, việc tuyển dụng công chức phải căn cứ
vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế của cơ quan sử dụng công
chức.10
Thời gian trước đây việc quản lý biên chế công chức còn mang những dấu ấn của
cơ chế kế hoạch hóa tập trung Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008, từ nay trở đi
việc quản lý công chức dựa trên cơ sở kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh với vị trí
việc làm và từ đó xác định biên chế, số lượng người làm việc trong từng cơ quan, tổ
chức Việc xác định biên chế công chức trong từng cơ quan, đơn vị trước tiên phải
dựa vào vị trí việc làm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
Để xác định vị trí việc làm, Chính phủ quy định và hướng dẫn các phương pháp thực hiện để
Cơ quan sử dụng công chức có trách nhiệm xác định, mô tả vị trí việc làm, báo
cáo cơ quan quản lý công chức phê duyệt để làm căn cứ tuyển dụng công chức
2.2 Điều kiện đăng ký dự tuyển
Những người có đủ các điều kiện, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần
Đó là các điều kiện sau:
- Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam
Trang 27- Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng
- Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp
- Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt
- Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ
Mặc dù Luật quốc tịch Việt Nam có quy định Nhà nước Việt Nam cho phép
công dân Việt Nam được phép mang quốc tịch của nước khác nhưng để tuyển dụng
vào công chức thì người đăng ký dự tuyển đều phải chỉ được mang một quốc tịch là
Bên cạnh đó, khác với trước đây, độ tuổi tuyển dụng được quy định có cả “sàn” và “trần”: từ đủ 18 tuổi đến 40 tuổi Nhưng đến nay, tuổi dự tuyển
công chức chỉ quy định từ đủ 18 tuổi trở lên mà không khống chế tuổi “trần” Đó là vì
pháp luật về bảo hiểm xã hội của Việt Nam đã quy định cả loại hình bảo hiểm tự
nguyện Như thế sẽ tạo điều kiện cho những người khi đến tuổi nghỉ hưu nhưng chưa
đủ điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm xã hội Những người mang quốc tịch Việt Nam
Ngoài các điều kiện nêu trên, theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, cơ quan có thẩm
quyền tuyển dụng còn có thể quy định thêm một số điều kiện khác, nhưng không
được trái với các quy định của pháp luật
Điều kiện, tiêu chuẩn về văn bằng, chứng chỉ:
Có bằng tốt nghiệp Đại học (cử nhân) hoặc sau Đại học
Chứng chỉ tin học
Chứng chỉ anh văn
Trình độ các chứng chỉ phụ thuộc vào yêu cầu vị trí tuyển dụng của cơ quan
tuyển dụng Khi quy định và thông báo các điều kiện đăng ký dự tuyển công chức, cơ
quan quản lý công chức không phân biệt loại hình đào tạo và văn bằng, chứng chỉ
(chính quy, tại chức, liên thông, chuyên tu, từ xa, theo niên hạn hoặc theo tín chỉ),
Đối với thí sinh mới tốt nghiệp nhưng chưa được cấp bằng tốt nghiệp có thể nộp giấy chứng nhận tốt nghiệp
do cơ sở đào tạo có thẩm quyền cấp để tham gia đăng ký nộp hồ sơ dự tuyển, khi
Trang 28trúng tuyển và nhận quyết định tuyển dụng, người được tuyển dụng phải xuất trình
bằng tốt nghiệp theo quy định
2.3 Hồ sơ đăng ký dự tuyển
Các thí sinh muốn tham gia dự tuyển công chức Nhà nước thì hồ sơ đăng ký dự
Một là: Đơn đăng ký dự tuyển công chức theo mẫu tại phụ lục số 01 ban hành
kèm theo thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ (theo mẫu
đính kèm)
Hai là: Bản sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền
trong thời hạn 30 ngày, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển
Ba là: Bản sao giấy khai sinh
Bốn là: Bản chụp các văn bằng, chứng chỉ và kết quả học tập theo yêu cầu của
vị trí dự tuyển
Năm là: Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp trong
thời hạn 30 ngày, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển
Sáu là: Giấy chứng nhận thuộc đối tượng ưu tiên trong tuyển dụng công chức
cụ thể
+ Đối với Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, thương binh,
người hưởng chính sách như thương binh, con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh,
con của người hưởng chính sách như thương binh, con của người hoạt động cách
mạng trước tổng khởi nghĩa (từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 trở về trước), con đẻ của
người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, con Anh hùng Lực lượng vũ
trang, con Anh hùng Lao động:
* Bản sao “ anh hùng lực lượng vũ trang”, “anh hùng lao động”; giấy chứng
nhận gia đình liệt sĩ; thẻ thương binh, bệnh binh; quyết định được hưởng chính sách
thương binh; quyết định trợ cấp đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất
độc hóa học
17
Điều 2, Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết một
số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm
2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức
18
Điểm 6, Mục I, Kế hoạch số 01/KH-HĐTTCC ngày 01/11/2012 của Hội đồng thi tuyển công chức về
thi tuyển công chức tỉnh Hậu Giang
Trang 29* Giấy xác nhận được hưởng chế độ ưu đãi do cơ quan có thẩm quyền cấp
+ Đối với sĩ quan quân đội, sĩ quan công an, quân nhân chuyên nghiệp, người
làm công tác cơ yếu chuyển ngành Người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ
phục vụ có thời hạn trong lực lượng công an nhân dân, đội viên thanh niên xung
phong đội viên trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn, miền núi từ đủ
24 tháng trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ thì phải có quyết định xuất ngũ hoặc các
giấy tờ xác nhận đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an nhân dân, trí thức
trẻ tham gia phát triển nông thôn, miền núi từ đủ 24 tháng đã hoàn thành nhiệm vụ
+ Đối với người dân tộc thiểu số thì phải có giấy khai sinh của thí sinh ghi rõ dân
tộc thiểu số Trong trường hợp thí sinh không ghi rõ thành phần dân tộc, đề nghị thí
sinh bổ sung sổ hộ khẩu và chứng minh thư nhân dân của thí sinh đăng ký dự tuyển
Bảy là: Bản cam kết phục vụ lâu dài thời gian 05 năm trở lên tại đơn vị đăng
ký dự tuyển (theo mẫu đính kèm) đối với thí sinh đăng ký xét tuyển
2.4 Chủ thể có thẩm quyền tổ chức tuyển dụng công chức
Cơ quan quản lý công chức thực hiện việc tuyển chọn công chức:
- Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà
nước;
- Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước;
- Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- Tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn
vị sự nghiệp công lập;
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã
hội;
- Tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương
Cơ quan, tổ chức, đơn vị được phân cấp thẩm quyền tuyển dụng công chức:
19
Điều 3, Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết một
số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm
2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức
Trang 30Cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc cơ quan quản lý công chức nếu được giao
biên chế công chức, kinh phí hoạt động, có con dấu và tài khoản riêng thì được phân
cấp thẩm quyền tuyển dụng công chức Cơ quan, tổ chức, đơn vị được phân cấp thẩm
quyền tuyển dụng công chức phải xây dựng kế hoạch tuyển dụng công chức báo cáo
cơ quan quản lý công chức phê duyệt Kế hoạch tuyển dụng công chức bao gồm nội
dung sau:
- Số lượng biên chế công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm
quyền giao;
- Số lượng vị trí việc làm cần tuyển theo từng ngạch công chức trong phạm vi
chỉ tiêu biên chế được giao;
- Điều kiện đăng ký dự tuyển, hình thức và nội dung thi tuyển hoặc xét tuyển;
- Các nội dung khác (nếu có) theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan quản lý
công chức
Các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc cơ quan quản lý công chức nếu chưa
được phân cấp thẩm quyền tuyển dụng thì cơ quan quản lý công chức trực tiếp thực
hiện việc tuyển dụng công chức vào làm việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực
thuộc.20
Căn cứ vào số lượng người đăng ký dự tuyển, người đứng đầu cơ quan có thẩm
quyền tuyển dụng quyết định việc thành lập Hội đồng thi tuyển khi tổ chức thi tuyển
và Hội đồng xét tuyển khi tổ chức xét tuyển (gọi chung là Hội đồng tuyển dụng)
Khi tổ chức tuyển dụng công chức, nếu số người đăng ký dự tuyển trong cùng
một kỳ tuyển dụng từ 30 người trở xuống thì người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền
Trong trường hợp này, bộ phận tham mưu về công tác tổ chức cán bộ của cơ quan có thẩm quyền tuyển
dụng giúp người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng thực hiện việc tuyển
dụng; đồng thời khi tổ chức tuyển dụng vẫn phải thành lập các bộ phận giúp việc
20
Khoản 2, Điều 2, Nghị định số 24/2010/NĐ-CP của Chính phù ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính
phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức
21
Điều 5, Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết về tuyển dụng
và nâng ngạch công chức của Nghị định 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về
Trang 312.5 Chủ thể có quyền đăng ký dự tuyển công chức
- Người không cư trú tại Việt Nam
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành
xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp
dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục
Những người đáp ứng đủ điều kiện quy định tại khoản 1, điều 36 Luật cán bộ, công
chức thì có quyền đăng ký dự tuyển công chức nhà nước
2.6 Phương thức tuyển dụng
Bên cạnh phương thức bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, đối với cán bộ,
công chức thì việc tuyển chọn nhân sự trong các cơ quan hành chính còn được thực
hiện dưới các phương thức sau:
2.6.1.Phương thức thi tuyển
Việc tuyển dụng công chức được thông qua thi tuyển, trừ trường hợp quy định
tại khoản 2 điều 37 của Luật cán bộ, công chức năm 2008 Hình thức, nội dung thi
tuyển công chức phải phù hợp với ngành nghề, bảo đảm lựa chọn được những người
Trong hình thức thi tuyển tùy theo yêu cầu đặt ra mà tiêu chuẩn cũng đòi hỏi
những điều kiện nhất định về đối tượng, trình độ đào tạo Thi tuyển có thể thực hiện
qua phần thi viết để đánh giá bằng chuyên môn, khả năng đáp ứng các yêu cầu về
nghiệp vụ trong từng ngành, lĩnh vực cụ thể Đồng thời có thể tiến hành tuyển dụng
cán bộ, công chức qua thi vấn đáp, thực hành đối với những ngành, lĩnh vực có yêu
cầu, đặc thù nhất định
Thi tuyển công chức là hình thức tuyển dụng công chức phổ biến nhất hiện nay
không những ở nước ta mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới, đóng vai trò rất quan
trọng để thiết lập đội ngũ công chức Hình thức, nội dung thi tuyển công chức phải
phù hợp với ngành, nghề, bảo đảm lựa chọn được những người có phẩm chất, trình độ
Trang 32và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng Tuy nhiên về bản chất, có thể phân biệt
thành hai hình thức thi tuyển như sau:
Thứ nhất, đó là hình thức thi tuyển để bổ sung biên chế trong hệ thống công
chức Đây là hình thức tuyển chọn, bổ sung lực lượng công chức dựa vào những chỉ
tiêu biên chế trong quy định của pháp luật hành chính
Thứ hai, đó là hình thức tuyển dụng làm thay đổi trạng thái công vụ của công
chức mà không làm thay đổi tổng biên chế Hình thức này thường để lựa chọn những
công chức đương nhiệm vào những vị trí có yêu cầu chuyên môn, kinh nghiệm cao
hơn vị trí mà người công chức đó đang đảm nhiệm Thực chất, hình thức này là việc
nhà nước tạo điều kiện để sự thăng tiến của công chức được thực hiện, đúng nguyện
vọng của các công chức, đồng thời phù hợp với các quy chế chặt chẽ của nhà nước
2.6.2 Phương thức xét tuyển
Xét tuyển là hình thức phổ biến trước đây để hình thành đội ngũ công chức, viên
chức Nay nó được áp dụng với phạm vi hẹp hơn nhiều so với thi tuyển, chủ yếu được
áp dụng để xây dựng đội ngũ công chức ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu,
vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn,
tình nguyện làm việc năm năm trở lên và áp dụng đối với trường hợp đặc biệt trong
Bên cạnh hai phương thức thi tuyển và xét tuyển còn có thức tiếp nhận không
qua thi tuyển,26
phương thức này áp dụng đối với các trường hợp: Người có kinh nghiệm công tác; người tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ sở đào tạo trình độ đại học ở
trong nước và người tốt; nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, loại xuất sắc ở nước
ngoài Để được tiếp nhận không qua thi tuyển, người tham gia dự tuyển phải đáp ứng
đủ điều kiện xem xét tiếp nhận vào công chức không qua thi tuyển quy định tại khoản
1, Điều 19 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng
và quản lý công chức và được hướng dẫn cụ thể tại khoản 1, Điều 10, Thông tư số
13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và
nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/ 2010 của Chính
phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức
25
Khoản 2, Điều 37, Luật cán bộ, công chức 2008
26
Khoản 2, Điều 1, Thông tư số 05/2012/TT-BNV ngày 24/10/2012 của Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung một
số điều của Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết
một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3
Trang 332.7 Nội dung tuyển dụng
2.7.1 Nội dung thi tuyển
Nghị định 24/2010/NĐ-CP của CP ngày 15/03/2010 quy định về tuyển dụng, sử
dụng, quản lý công chức quy định khá cụ thể yêu cầu về các môn thi, hình thức thi,
điều kiện miễn thi một số môn, cách tính điểm trong thi tuyển và nguyên tắc xác định
người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển công chức Những quy định trên là khung pháp
lý mà khi thi tuyển công chức, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tuân theo,
nhưng tất nhiên các quy định này cũng không hoàn toàn là những đảm bảo đầy đủ,
chắc chắn cho việc tuyển dụng công chức một cách khách quan, khoa học, mà còn tùy
thuộc vào việc tổ chức thi tuyển, hình thức thi tuyển bởi từng lĩnh vực đều có những
yêu cầu, tiêu chuẩn riêng, sau đây là một số quy định cụ thể khi thi tuyển công chức
2.7.1.1 Các môn thi và hình thức thi
Để vào làm việc trong cơ quan Nhà nước các thí sinh phải trải qua bốn môn thi và
5 bài thi sau:27
Một là môn kiến thức chung: thi viết 01 bài với nội dung thi viết về hệ thống
chính trị, tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; quản lý
hành chính nhà nước; chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước về ngành, lĩnh vực tuyển dụng
Hai là môn nghiệp vụ chuyên ngành: thi viết 01 bài và thi trắc nghiệm 01 bài về
nghiệp vụ chuyên ngành theo yêu cầu của vị trí việc làm
Nội dung thi môn nghiệp vụ chuyên ngành trong kỳ thi tuyển công chức phải căn
cứ vào tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch công chức phù hợp với vị trí việc làm cần
tuyển Trong cùng một kỳ thi tuyển, nếu có các vị trí việc làm yêu cầu chuyên môn,
nghiệp vụ khác nhau thì cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức tổ chức xây
dựng các đề thi môn nghiệp vụ chuyên ngành khác nhau bảo đảm phù hợp với yêu
cầu của vị trí việc làm cần tuyển
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức chưa xây dựng được
ngân hàng đề thi môn nghiệp vụ chuyên ngành thì người đứng đầu cơ quan có thẩm
quyền tuyển dụng công chức giao người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức xây
27
Điều 8, Nghị định 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và
quản lý công chức
Trang 34dựng các đề thi môn nghiệp vụ chuyên ngành bảo đảm phù hợp với yêu cầu của vị trí
việc làm cần tuyển, gửi cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức để xem xét,
quyết định đề thi chính thức
Ba là môn ngoại ngữ: thí sinh dự sẽ thi viết hoặc thi vấn đáp 01 bài một trong
năm thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc hoặc ngoại ngữ khác theo yêu cầu
của vị trí việc làm do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức
quyết định
Bốn là Môn tin học văn phòng: bài thi được thực hành trên máy hoặc thi trắc
nghiệm 01 bài theo yêu cầu của vị trí việc làm do người đứng đầu cơ quan có thẩm
quyền tuyển dụng công chức quyết định
Đối với vị trí việc làm yêu cầu chuyên môn là ngoại ngữ hoặc tin học, môn thi
nghiệp vụ chuyên ngành là ngoại ngữ hoặc tin học Người đứng đầu cơ quan có thẩm
quyền tuyển dụng công chức quyết định hình thức và nội dung thi môn nghiệp vụ
chuyên ngành là ngoại ngữ hoặc tin học phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần
tuyển dụng Trường hợp này, người dự tuyển không phải thi môn ngoại ngữ hoặc môn
tin học văn phòng
Nếu vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc thiểu số, việc thi môn ngoại ngữ
được thay thế bằng thi tiếng dân tộc thiểu số Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền
tuyển dụng công chức quyết định hình thức và nội dung thi tiếng dân tộc thiểu số
2.7.1.2 Thời gian các môn thi trong kỳ thi tuyển
Tùy vào trường hợp tuyển công chức loại nào và môn thi khác nhau mà các thi
cụ thể như sau:
* Đối với trường hợp thi tuyển công chức loại D:
Môn kiến thức chung: thi viết thời gian 120 phút;
Môn nghiệp vụ chuyên ngành: thi viết thời gian 120 phút và thi trắc nghiệm thời
gian 30 phút;
28
Điều 7, Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết một
số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm
2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức
Trang 35Môn ngoại ngữ: thi viết thời gian 60 phút hoặc thi vấn đáp thời gian từ 15 đến
30 phút (nếu tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch dự thi yêu cầu phải có trình độ ngoại
ngữ);
Môn tin học văn phòng: thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm, thời gian
30 phút (nếu tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch dự thi yêu cầu phải có trình độ tin học)
* Đối với trường hợp thi tuyển công chức loại C:
Môn kiến thức chung: thi viết thời gian 180 phút;
Môn nghiệp vụ chuyên ngành: thi viết thời gian 180 phút và thi trắc nghiệm thời
Đối với trường hợp thi tuyển công chức vào vị trí việc làm yêu cầu chuyên môn
là ngoại ngữ hoặc tin học thì môn thi nghiệp vụ chuyên ngành là ngoại ngữ hoặc tin
học Thời gian thi ngoại ngữ hoặc tin học do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền
tuyển dụng công chức quyết định bảo đảm phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần
tuyển Trường hợp thi tuyển công chức vào vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân
tộc thiểu số thì môn thi ngoại ngữ được thay thế bằng thi tiếng dân tộc thiểu số Thời
gian thi tiếng dân tộc thiểu số do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng
công chức quyết định bảo đảm phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển
2.7.1.3 Điều kiện miễn thi một số môn
Người đăng ký dự tuyển công chức được miễn thi một số môn trong kỳ thi tuyển công
chức như sau:
Miễn thi môn ngoại ngữ trong trường hợp môn nghiệp vụ chuyên ngành không
phải là ngoại ngữ nếu có một trong điều kiện sau:
- Có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học về ngoại ngữ
- Có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học ở nước ngoài hoặc tốt nghiệp đại học,
sau đại học tại cơ sở đào tạo bằng tiếng nước ngoài ở Việt Nam
Miễn thi môn tin học văn phòng trong trường hợp có bằng tốt nghiệp từ trung
Trang 36cấp chuyên ngành công nghệ thông tin trở lên.29
2.7.1.4 Cách tính điểm
Bài thi được chấm theo thang điểm 100
Điểm các môn thi được tính như sau:
- Môn kiến thức chung: tính hệ số 1;
- Môn nghiệp vụ chuyên ngành: bài thi viết tính hệ số 2; bài thi trắc nghiệm
tính hệ số 1
- Môn ngoại ngữ, tiếng dân tộc thiểu số, môn tin học văn phòng: tính hệ số 1
và không tính vào tổng số điểm thi
Kết quả thi tuyển là tổng số điểm của các bài thi môn kiến thức chung và môn
Kết quả thi được xác định như sau:
Tổng điểm chung = (điểm môn kiến thức chung +
(điểm bài thi nghiệp vụ chuyên ngành (thi viết) x hệ số 2)+
(điểm bài thi nghiệp vụ chuyên ngành (trắc nghiệm))+
2.7.1.5 Xác định người trúng tuyển
Người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển công chức phải có đủ các điều kiện sau
đây:31
Một là: Có đủ các bài thi của các môn thi
Hai là: Có điểm của mỗi bài thi đạt từ 50 điểm trở lên
Ba là: Có kết quả thi tuyển cao hơn lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp trong
phạm vi chỉ tiêu tuyển dụng của từng vị trí việc làm