1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cam kết bảo vệ môi trường thực trạng và giải pháp áp dụng trên địa bàn huyện phụng hiệp tỉnh hậu giang

65 410 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn dưới gốc độ pháp lý, lần đầu tiên khái niệm “môi trường” được ấn định trong Luật bảo vệ môi trường 1993 theo đó “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo quan hệ m

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

HUYỆN PHỤNG HIỆP - TỈNH HẬU GIANG

NGUYỄN ANH THƯ PHẠM MINH NGUYỀN

Bộ môn Luật Thương Mại MSSV: 5117416

Khoa Luật – ĐHCT Luật Thương Mại - K37

Cần Thơ, tháng 12/2014

Trang 2

Trước tiên em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô của trường

Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, cung cấp lượng kiến thức vô

cùng quý báu cho em trong chương trình Đại học Giúp em nắm

vững vốn lý thuyết để có thể tự tin vận dụng vào thực tiễn, làm hành

trang vững chắc bước vào cuộc sống, để có thể góp một phần nhỏ

công sức của mình vào việc xây dựng xã hội phát triển

Em xin gửi lời cảm ơn đến cô Nguyễn Anh Thư, người luôn

theo sát với em trong suốt thời gian vừa qua Cảm ơn Cô đã tận tình

sửa chữa, tận tình giúp đỡ và hướng dẫn để em có thể hoàn thành

luận văn tốt nghiệp cử nhân luật như hôm nay

Em gửi lời cảm ơn đến các anh làm việc tại Phòng tài nguyên

và môi trường Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp, đặc biệt là anh

Lê Văn Mến - Phó trưởng Phòng tài nguyên và môi trường đã tận

tình giúp đỡ trong việc thu thập số liệu và cung cấp thông tin về

những vấn đề trên thực tế, cũng như cung cấp những tài liệu quý báu

giúp em có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô

trong Hội đồng bảo vệ luận văn tốt nghiệp đã cung cấp thêm những

kiến thức mới, để em có thể sửa chữa những chỗ còn sai sót, cũng

như bổ sung để vốn kiến thức của em được vững vàng hơn Cảm ơn

các thầy cô đã nhiệt tình góp ý giúp em có thể hoàn thiện hơn luận

văn tốt nghiệp của mình

Cuối lời em xin chúc quý Thầy, Cô và các anh sức khỏe và

thành công trong cuộc sống!

Em xin chân thành cảm ơn!

Lời cảm ơn !

Trang 3

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……… ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……… ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Cấu trúc của đề tài 2

CHƯƠNG 1 4

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG 4

VÀ CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 4

1.1 Khái quát về môi trường 4

1.1.1 Khái niệm môi trường 4

1.1.2 Phân loại môi trường 5

1.1.3 Chức năng và vai trò của môi trường trong phát triển kinh tế - xã hội 6

1.2 Khái quát về ô nhiễm môi trường 8

1.2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường 8

1.2.2 Một số dạng của ô nhiễm môi trường 9

1.2.3 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường 10

1.3 Khái quát về hoạt động bảo vệ môi trường 12

1.3.1 Khái niệm hoạt động bảo vệ môi trường 12

1.3.2 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường 13

1.4 Khái quát chung về Cam kết bảo vệ môi trường 15

1.4.1 Lịch sử hình thành cam kết bảo vệ môi trường 15

1.4.2 Khái niệm cam kết bảo vệ môi trường 15

1.4.3 Tầm quan trọng của việc lập cam kết bảo vệ môi trường 17

CHƯƠNG 2 19

PHÁP LUẬT VỀ CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 19

2.1 Đối tượng và thời điểm lập cam kết bảo vệ môi trường 19

2.1.1 Đối tượng phải lập cam kết bảo vệ môi trường 19

2.1.2 Thời điểm lập cam kết bảo vệ môi trường 22

2.2 Chủ thể của Cam kết bảo vệ môi trường 22

2.2.1 Chủ thể lập cam kết bảo vệ môi trường 22

2.3 Cấu trúc nội dung và quy trình lập, đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường 24

2.3.1 Cấu trúc nội dung bản cam kết bảo vệ môi trường 24

2.3.2 Quy trình lập và đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường 27

2.4 Trách nhiệm pháp lý về vi phạm Cam kết bảo vệ môi trường 30

2.4.1 Trách nhiệm hành chính 31

2.4.2 Trách nhiệm hình sự 35

2.4.3 Trách nhiệm dân sự 38

2.4.4 Trách nhiệm kỷ luật 40

CHƯƠNG 3 43

THỰC TIỄN VIỆC THỰC HIỆN CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 43

VÀ GIẢI PHÁP ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHỤNG HIỆP 43

TỈNH HẬU GIANG 43

3.1 Tình hình thực hiện cam kết bảo vệ môi trường tại địa bàn huyện Phụng Hiệp – tỉnh Hậu Giang 43

3.1.1 Tình hình thực hiện công tác tổ chức đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường của Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp 43

Trang 6

3.2 Hạn chế, nguyên nhân tồn tại hạn chế trong thực hiện Cam kết bảo vệ môi trường

và Bài học kinh nghiệm trong công tác tổ chức đăng ký Cam kết bảo vệ môi trường 46

3.2.1 Hạn chế và nguyên nhân tồn tại hạn chế trong thực hiện Cam kết bảo vệ môi trường 46 3.2.2 Bài học kinh nghiệm trong công tác tổ chức đăng ký Cam kết bảo vệ môi trường 48

3.3 Giải pháp thực hiện Cam kết bảo vệ môi trường 49 KẾT LUẬN 53 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Dù trong mọi thời đại, môi trường vẫn luôn khẳng định được tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật, kể cả sự phát triển của kinh tế - văn hóa - xã hội và sự tiến bộ khoa học – kỹ thuật – công nghệ của một đất nước và của

cả nhân loại Việc thay đổi các thành tố của môi trường theo hướng bất lợi sẽ kéo theo nhiều hệ lụy khôn lường, có thể phá vỡ hoặc hủy hoại đi sự sống của loài người Vì thế, bảo vệ môi trường luôn là hoạt động trọng yếu và là vấn đề cấp bách của mỗi quốc gia Đặc biệt với xã hội ngày nay, vấn đề bảo vệ môi trường càng trở nên quan trọng Trong giai đoạn các nước bước vào thời kì toàn cầu hóa và lấy công nghiệp hóa – hiện đại hóa làm tiền đề cho sự phát triển, kéo theo đó là việc hàng loạt các ngành nghề, các

cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ được thành lập Và chúng ta không thể phủ nhận rằng trên thực tế con người chú trọng phát triển kinh tế hơn là bảo vệ môi trường Vì thế, nếu không có công cụ kiểm soát – ngăn ngừa tác động đến môi trường thì môi trường sẽ sớm

bị hủy hoại nhanh chóng

Để bảo vệ môi trường và kịp thời điều chỉnh thực trạng trên, Luật bảo vệ môi trường

2005 đã dành hẳn chương III để điều chỉnh các công cụ bảo vệ môi trường Đặc biệt là sự xuất hiện của công cụ Cam kết bảo vệ môi trường và được quy định tại các điều 24, 25,

26, 27 Luật bảo vệ môi trường 2005 Trong thời gian qua, các công cụ bảo vệ môi trường nói chung và cam kết bảo vệ môi trường nói riêng đã đạt được những kết quả đáng kể, góp phần quan trọng vào sự nghiệp chung tay bảo vệ môi trường Tuy nhiên, việc triển khai và áp dụng các công cụ này bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tồn tại những hạn chế, đặc biệt là việc tổ chức đăng ký và thực hiện Cam kết bảo vệ môi trường ở các huyện thị còn gặp nhiều khó khăn

Xuất phát từ tầm quan trọng của môi trường và tiếp tục nâng cao hiệu quả của công

cụ Cam kết bảo vệ môi trường tại địa phương, người viết đã lựa chọn tìm hiểu “Cam kết

bảo vệ môi trường – Thực trạng và giải pháp áp dụng trên địa bàn huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang” để làm đề tài cho quá trình nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Được biết Cam kết bảo vệ môi trường là một trong ba công cụ đắc lực của công cuộc bảo vệ môi trường Việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam về Cam kết bảo vệ môi trường nhằm tìm hiểu chi tiết hơn Cam kết bảo vệ môi trường và nhằm nâng cao hiểu biết về những chính sách, pháp luật mà Nhà nước đã đề ra nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác

Trang 8

bảo vệ môi trường nói chung và triển khai, áp dụng một cách có hiệu quả công cụ Cam kết bảo vệ môi trường nói riêng Tiếp đến là tìm hiểu vấn đề thực thi pháp luật và tình hình thực hiện Cam kết bảo vệ môi trường tại địa bàn huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang Mục đích cuối cùng của quá trình nghiên cứu là trang bị cho mình những kiến thức hữu ích trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Đồng thời, có một số đề xuất đóng góp nhằm phục vụ cho công tác xây dựng và hoàn thiện hơn pháp luật về Cam kết bảo vệ môi trường

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này được nghiên cứu trong phạm vi pháp luật Việt Nam về Cam kết bảo vệ

môi trường trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật về Cam kết bảo vệ môi trường và các văn bản pháp luật khác có liên quan Đồng thời tìm hiểu thực tiễn việc triển khai thực

hiện công cụ Cam kết bảo vệ môi trường tại địa bàn huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang

Trong bài viết ngoài vấn đề chính là tìm hiểu quy định của pháp luật về Cam kết bảo

vệ môi trường, người viết còn đề cập đến một số vấn đề môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường để làm nền tảng cho việc tìm hiểu nội dung của đề tài

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã sử dụng hai nhóm phương pháp chính Nhóm phương pháp lý luận phổ biến: người viết đã vận dụng phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách, báo cùng với phương pháp so sánh, phân tích luật viết Nhóm phương pháp thực tế phổ biến: người viết áp dụng phương pháp sưu tầm số liệu trên thực tế tại Phòng tài nguyên và môi trường Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp, đồng thời thống kê, tổng hợp số liệu từ đó đưa ra đánh giá về tình hình thực hiện Cam kết bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang Bên cạnh đó, người viết cũng áp dụng vào bài viết phương pháp phỏng vấn qua các câu hỏi dưới hình thức Phiếu khảo sát thông tin Đồng thời bài viết cũng vận dụng tư tưởng chỉ đạo của Đảng về bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa – hiện địa hóa đất nước nói chung và các văn bản pháp luật về Cam kết bảo vệ môi trường nói riêng vào bài viết, từ đó đề xuất một số biện pháp để hoàn thiện hơn chế định này

5 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần lời nói mở đầu và kết luận, bài viết gồm ba chương tương ứng với ba nội dung của đề tài:

Chương 1 Những vấn đề chung về Môi trường và Cam kết bảo vệ môi trường

Chương 2 Pháp luật về Cam kết bảo vệ môi trường

Trang 9

Chương 3 Thực tiễn việc thực hiện Cam kết bảo vệ môi trường và giải pháp áp dụng trên địa bàn huyện Phụng Hiêp - tỉnh Hậu Giang

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG

VÀ CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1.1 Khái quát về môi trường

1.1.1 Khái niệm môi trường

Tùy vào từng phương pháp và gốc độ nghiên cứu, thuật ngữ môi trường cũng được hiểu theo nhiều quan niệm khác nhau:

Hiểu theo nghĩa rộng, môi trường bao gồm tất cả các nhân tố tự nhiên và nhân tố xã hội cần thiết bao quanh con người, các nhân tố này ảnh hưởng và tác động đến sự sống cũng như mọi hoạt động sản xuất của con người Còn theo nghĩa hẹp, môi trường chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng cuộc sống của con người Ví dụ: Môi trường giáo dục của một học sinh – sinh viên là trường, lớp, các mối quan hệ thầy cô, bạn bè, nội quy trường, lớp, các tổ chức đoàn thể…

Theo định nghĩa của UNESCO (1981) khái niệm môi trường đối với con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, cầu đường, hồ nước…) và những cái vô hình (tập quán, văn hóa- nghệ thuật…) Trong đó con người sống bằng lao động, bằng sức lực của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình Như vậy môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là con người, mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động

và sự nghỉ ngơi của con người” Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc UNEP (United Nations Environment Programme) cũng đưa ra khái niệm môi trường với một cách hiểu hoàn toàn khác, theo tổ chức này “môi trường” là một tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế, xã hội, tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng

Còn dưới gốc độ pháp lý, lần đầu tiên khái niệm “môi trường” được ấn định trong Luật bảo vệ môi trường 1993 theo đó “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”.1 Đến quy định hiện hành, Luật bảo vệ môi trường 2005 đã phát triển khái niệm “môi trường” một cách chính xác hơn “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con

1

Luật Bảo vệ môi trường 1993, điều 1

Trang 11

người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.2 Với khái niệm này, hai yếu tố “tự nhiên và vật chất nhân tạo” không nhất thiết phải

đề cập đến mối quan hệ mật thiết với nhau và thuật ngữ “thiên nhiên” được sử dụng trong khái niệm của Luật bảo vệ môi trường 1993 cũng được thay thế bởi thuật ngữ “sinh vật”,

vì “thiên nhiên” vốn dĩ là một phạm trù rất rộng, con người và sinh vật sống mới chính là đối tượng chịu tác động trực tiếp của các yếu tố hình thành nên môi trường Luật bảo vệ môi trường 2005 sử dụng thuật ngữ “sinh vật” hợp lý hơn Luật bảo vệ môi trường 2014

sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015 cũng tiếp tục phát triển khái niệm môi

trường theo một góc nhìn hoàn toàn mới, theo khái niệm này “Môi trường là hệ thống các

yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” Luật bảo vệ môi trường 2014 vẫn nhìn nhận môi trường giống như tin thần của Luật bảo vệ môi trường 2005, nhưng khái niệm môi trường được nhìn nhận dưới gốc độ phát triển hơn, các yếu tố hình thành nên môi trường cũng được nâng lên thành một “hệ thống”

Tóm lại, dù khái niệm môi trường được hiểu theo nhiều gốc độ khác nhau nhưng vẫn

thống nhất ở một nhận thức chung “Môi trường là tất cả những gì có xung quanh chúng

ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển”.3

1.1.2 Phân loại môi trường

Tùy theo từng mục đích nghiên cứu và những dấu hiệu phân tích khác nhau, chúng ta

có nhiều cách để phân loại môi trường:

Nếu dựa vào chức năng, môi trường được phân chia thành ba loại: Thứ nhất là môi trường tự nhiên (bao gồm các nhân tố tự nhiên như vật lý, hóa học, sinh học tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người), thứ hai là môi trường xã hội (chính là các mối quan

hệ giữa người với người Môi trường xã hội sẽ định hướng hoạt động cho con người theo một khuôn khổ nhất định dựa trên luật lệ, thể chế, cam kết, quy định,… tạo nên sức mạnh tập thể để làm bước đệm cho sự phát triển chung và tạo sự khác biệt với các loài sinh vật khác) và thứ ba là môi trường nhân tạo (bao gồm các yếu tố do con người tạo nên để phục vụ cho cuộc sống của mình đó có thể là nhà máy, xí nghiệp, tàu hỏa, máy bay, xe máy, công viên, đô thị…)

Trang 12

Nếu phân loại theo sự sống thì môi trường bao gồm: Môi trường vật lý và môi trường sinh học Môi trường vật lý được hiểu là môi trường của các thành phần vô sinh như thạch quyển, thủy quyển, khí quyển và môi trường sinh học là môi trường của các thành phần hữu sinh như các hệ sinh thái, các quần thể động – thực vật, vi sinh vật và cả con người Hay nói theo cách khác, môi trường vật lý là môi trường không có sự sống, môi trường sinh học là môi trường mà ở đó có sự sống diễn ra

Nếu phân loại theo thành phần tự nhiên thì môi trường được phân chia thành ba loại:

Môi trường đất (là một vật thể tự nhiên được hình thành qua một thời gian dài do kết quả

tác động tổng hợp của năm yếu tố Đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian Đất đóng vai trò rất quan trọng, đất là môi trường nuôi dưỡng các loại cây, là nơi để các sinh vật sinh sống, là không gian thích hợp để con người xây dựng nhà ở và các công trình

khác), Môi trường nước (là phần nước của trái đất bao gồm nước đại dương, nước sông,

hồ, suối, nước ngầm, băng tuyết, hơi nước trong đất và không khí Nước là nơi sinh sống của các loài động - thực vật dưới nước và cung cấp cho hoạt động sản xuất cũng như sinh

hoạt của con người) và Môi trường không khí (là lớp không khí bao quanh trái đất Ảnh

hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của con người thông qua quá trình trao đổi chất)

1.1.3 Chức năng và vai trò của môi trường trong phát triển kinh tế - xã hội

Chức năng của môi trường:

Các thành tố của môi trường như đất, nước, không khí, ánh sáng, nhiệt độ, tài nguyên thiên nhiên chiếm vị trí rất quan trọng Các thành tố này được ví như chìa khóa của sự sống Không có đất thì con người không có khoảng không gian để sống, không có không khí thì con người và các loài động – thực vật không thể thực hiện được quá trình trao đổi chất để tồn tại và phát triển… Xuất phát từ tầm quan trọng đó, môi trường có các chức năng cơ bản sau:

Thứ nhất: Trong cuộc sống hàng ngày mỗi một người phải cần cho mình ít nhất một

khoảng không gian để sống, để xây dựng nhà cửa, nghỉ ngơi và để tham gia sản xuất Thực vật cũng thế, để có thể sống và phát triển thì điều kiện tối ưu nhất phải có đất để mọc rễ, ánh sáng và không khí để quang hợp Tất cả mọi thứ sẽ không tồn tại và không

có sự phát triển nếu như không có một môi trường sống

Chính vì thế, chức năng quan trọng đầu tiên của môi trường chính là khoảng không gian sống cho con người và thế giới sinh vật

Trang 13

Thứ hai: Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và

sản xuất của con người Theo Ph.Ăng ghen, “Điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người và xã hội loài vật là loài vật may lắm chỉ hái lượm trong khi con người lại sản xuất” Trong khi đó để vận động và sản xuất con người cần phải có các công cụ, nguyên – nhiên liệu… Với chức năng này môi trường chính là nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên vô giá cho con người, tài nguyên rừng giúp bảo vệ nguồn nước, cung cấp gỗ cho các ngành công nghiệp, bảo tồn đa dạng sinh học…; Động – thực vật cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người và nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến…; Các tài nguyên thiên nhiên như mỏ than, mỏ dầu, nguồn năng lượng gió, năng lượng mặt trời cung cấp nguyên liệu và nguồn năng lượng vô giá cho hoạt động sản xuất Con người sẽ

sử dụng nguồn tài nguyên sẵn có trong môi trường để làm ra của cải vật chất phục vụ lại cuộc sống của mình

Chính vì thế, môi trường là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú phục vụ cho con người

Thứ ba: Trong quá trình con người tạo ra của cải vật chất cũng đồng thời con người

tạo ra một lượng phế thải dư thừa trong sản xuất, thì môi trường lại là nơi chứa đựng các chất phế thải đó Với nhịp sống như ngày nay, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đang được đẩy mạnh làm cho số lượng phế thải tăng lên không ngừng Nếu không xử lý kịp thời và không có kế hoạch hợp lí sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng môi trường và môi trường sống sẽ bị ô nhiễm nghiêm trọng

Thứ tư: Bên cạnh đó môi trường còn là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cần thiết

cho con người Bởi, môi trường trái đất chính là nơi cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch

sử trái đất, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa loài người, nhờ đó con người mới biết được thời gian và các giai đoạn hình thành trái đất và biết được nguồn cội, lịch sử xuất hiện loài người cùng nét đẹp trong văn hóa mà con người gìn giữ cho đến ngày nay Không chỉ thế, môi trường còn cung cấp các chỉ thị không gian, các hiện tượng thiên nhiên để báo hiệu các hiểm họa sắp đến với loài người như: bão, động đất, núi lửa, sóng thần,…

Thứ năm: Môi trường không chỉ là nơi tạo điều kiện để con người và các loài sinh vật

có thể sống, mà còn có chức năng bảo vệ các cơ thể sống tránh được những tác động từ bên ngoài Các thành phần sẵn có trong môi trường có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ con người và các loài sinh vật tránh được các tác nhân gây hại từ bên ngoài

Ví dụ điển hình như tầng Ozon trong môi trường có thể hấp thụ và phản xạ trở lại các tia

Trang 14

cực tím từ năng lượng mặt trời, tránh tiếp xúc với con người, bảo vệ con người và các loài sinh vật tránh những tác nhân gây hại nghiêm trọng

Vai trò của môi trường trong phát triển kinh tế - xã hội:

Từ năm chức năng cơ bản của môi trường đã cho thấy môi trường cũng có vai trò rất quan trọng đối với đời sống, kinh tế và xã hội Môi trường không chỉ là nguồn sống của con người và các loài sinh vật mà còn là nguồn lực hết sức quan trọng trong phát triển và tăng trưởng kinh tế Nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm: Đất đai, sông núi, rừng biển, khoáng sản trong lòng đất… là các tài nguyên quan trọng của một số quốc gia, gắn liền với sự tăng trưởng của một nền kinh tế

Để chứng minh tầm quan trọng của môi trường đối với phát triển kinh tế - xã hội chúng ta cùng xét một ví dụ điển hình:

Tài nguyên rừng là một trong những phẩm vật mà môi trường đã ban tặng cho con người Theo sách Chuyên khảo pháp luật về quản lí và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam cho biết “Rừng là nơi chứa đựng ít nhất 80% đa dạng sinh học của thế giới, đóng góp vào đời sống của hơn 1,6 tỷ người Giải quyết lao động cho hơn 50 triệu người”.4 Giá trị sản phẩm rừng được giao dịch trên toàn cầu đạt 270 tỷ đôla Mỹ, trong số đó rừng của các nước đang phát triển chiếm trên 20% Chỉ xét riêng về rừng, tài nguyên thiên nhiên

đã mang lại cho ta những lợi ích rất đáng kể Xuất phát từ những chức năng và vai trò to lớn của môi trường đòi hỏi muốn giữ vững các giá trị trên chúng ta phải sử dụng hợp lý Tài nguyên thiên nhiên và tiến hành các biện pháp bảo vệ môi trường

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây với sự phát triển ồ ạt, bất chấp chạy theo lợi nhuận

đã gây nên hiện trạng “Ô nhiễm môi trường trên phạm vi toàn cầu”

1.2 Khái quát về ô nhiễm môi trường

1.2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường chính là sự thay đổi hàm lượng các chất có trong môi trường theo hướng bất lợi cho con người và sinh vật Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường

Tuy nhiên, hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân gây ô nhiễm đạt đến một mức độ nhất định và có khả năng tác động xấu đến con người và sinh vật thì mới bị coi là

4

Sách chuyên khảo pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Trang 13

Trang 15

ô nhiễm môi trường Ở Việt Nam, các hàm lượng, nồng độ trên được cụ thể hóa trong các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia để làm cơ sở cho việc xem xét tính chất và mức độ ô nhiễm của môi trường

Còn theo pháp luật Việt Nam, khái niệm Ô nhiễm môi trường được quy định tại

khoản 6 điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2005 theo đó: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật” Theo quy định này thì ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các thành phần môi trường, ví dụ điển hình là việc gia tăng hàm lượng các chất khí thải độc hại như O3, CO2, SO2… trong bầu không khí, làm cho nồng độ các chất này cao hơn mức cho phép trong tiêu chuẩn môi trường trong lành gây nên hiện tượng ô nhiễm không khí, gây hại cho sức khỏe của con người và các loài sinh vật sống

1.2.2 Một số dạng của ô nhiễm môi trường

Nhìn chung, ô nhiễm môi trường được biểu hiện qua các dạng sau:

 Ô nhiễm môi trường đất: Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện

tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất gây ô nhiễm.5

Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo nguồn gốc phát sinh, hoặc theo các tác nhân gây ra ô nhiễm Nếu dựa vào nguồn gốc phát sinh của sự ô nhiễm ta có ô nhiễm đất

do các chất thải sinh hoạt, ô nhiễm đất do các chất thải công nghiệp và cuối cùng là ô nhiễm đất do hoạt động sản xuất nông nghiệp Nếu phân loại theo các tác nhân gây ra ô nhiễm thì ô nhiễm đất được phân chia ra ba loại: Ô nhiễm do tác nhân hóa học, ô nhiễm

do tác nhân sinh học, ô nhiễm do tác nhân vật lý

 Ô nhiễm môi trường nước: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã".6

Để phân loại ô nhiễm nước ta có thể dựa vào các tác nhân gây ra ô nhiễm bao gồm: Ô nhiễm sinh học (là ô nhiễm do các nguồn thải đô thị hay kỹ nghệ có các chất thải sinh hoạt, phân, nước rữa của các nhà máy đường, giấy ); ô nhiễm hoá học do chất vô cơ (Do thải vào nước các chất nitrat, phosphat dùng trong nông nghiệp và các chất thải do luyện

Trang 16

kim và các công nghệ khác như Zn, Cr, Ni, Cd, Mn, Cu, Hg là những chất độc cho thủy sinh vật.); Ô nhiễm do các chất hữu cơ tổng hợp (Ô nhiễm này chủ yếu do hydrocarbon, nông dược, chất tẩy rửa ) và ô nhiễm vật lý (các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ lững, tức làm tăng độ đục của nước, chất thải công nghiệp

có chứa các chất có màu, hầu hết là màu hữu cơ, làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ)

 Ô nhiễm môi trường không khí: "Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bụi".7

Có hai nguồn gốc chính gây nên hiện tượng ô nhiễm không khí là nguồn gốc tự nhiên (các vật chất có trong vũ trụ, phấn hoa, khí độc…) và nguồn gốc nhân tạo (các khí thải từ giao thông vận tải, đốt cháy nhiên liệu, từ dây truyền công nghiệp, bãi chôn chất thải rắn….) Đây cũng được xem là hai nguyên nhân chính và cơ bản nhất gây nên ô nhiễm môi trường không khí

Dựa vào nguồn gốc phát sinh của ô nhiễm ta có chất ô nhiễm sơ cấp (NO2,SO2…) và chất ô nhiễm thứ cấp (H2SO4,HNO3,…) Nếu xét theo trạng thái vật lí của ô nhiễm thì ô nhiễm không khí bao gồm chất ô nhiễm dạng hạt và chất ô nhiễm dạng khí (khí vô cơ và hữu cơ)

1.2.3 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường làm chuyển phát nhanh quá trình biến đổi khí hậu trong khu vực

và toàn cầu, đẩy nguy cơ thảm họa thiên nhiên đến mức báo động

Tại một nghiên cứu, dự báo 10 nước có thể chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, dẫn đầu là Philipines với hiện tượng gần đây nhất vào tháng 11/2013 cơn bão Haiyan đã tràn vào Miền trung Philipines cướp đi mạng sống của hơn 6000 người dân, thiệt hại ước tính 12,9 tỷ USD và Việt Nam là nước đứng vị trí thứ 3 trong dự báo, giai đoạn 2001-2010 thiệt hại của lũ lụt, hạn hán và sạt lỡ đất đã khiến GDP giảm 1,5% Theo

dự báo nếu nước biển tiếp tục tăng lên 1m thì hơn 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh

bị lụt, 10-12% dân số Việt Nam bị ảnh hưởng thiệt hại lên đến 10% GDP.8

7

Bộ Tài nguyên và môi trường, Ô nhiễm không khí là gì?,

http://vea.gov.vn/vn/truyenthong/hoidapmt/Pages/%C3%94nhi%E1%BB%85mkh%C3%B4ngkh%C3%ADl%C3% A0g%C3%AC.aspx, [Truy cập ngày 22-9-2014]

8

Anh Quân, Hội Bảo Vệ Thiên Nhiên Việt Nam, 10 nước ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu,

http://moitruong.com.vn/Home/Default.aspx?portalid=33&tabid=19&distid=21058, [Truy cập ngày 23-9-2014]

Trang 17

Tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng và ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong cuộc sống Trong đó ảnh hưởng quan trọng nhất là đối với con người Tại một báo cáo của tổ chức liên minh toàn cầu về sức khỏe và ô nhiễm GAHP

(Global Alliance on Health and Pollution) đã công bố: Mỗi năm ô nhiễm môi trường gây

tử vong 8,4 triệu người, cao gấp 3 lần số ca tử vong của căn bệnh sốt huyết và gấp 14 lần mức độ tử vong của căn bệnh thế kỷ nguy hiểm nhất nhân loại HIV/AIDS.9 Riêng ở Trung Quốc, mỗi năm có đến 1 triệu người chết do ô nhiễm môi trường không khí.10 Bên cạnh đó, ô nhiễm môi trường còn làm giảm tuổi thọ và gây ra nhiều căn bệnh cho con người như bệnh về da, sốt rét và gần đây nhất là sự xuất hiện của những “Làng ung thư”

ở Hà Tây, Phú Thọ, Hải Phòng 1/3 số dân phải chết về căn bệnh này

Đối với hệ sinh thái, ô nhiễm môi trường cũng gây ảnh hưởng rất đáng kể, nó làm suy giảm nhanh sự đa dạng sinh học, nguy cơ mất nhiều loài động - thực vật có nguồn gen quý hiếm và có giá trị kinh tế cao Nguyên nhân chủ yếu do ô nhiễm môi trường làm thay đổi điều kiện sống của sinh vật, làm chúng không có nơi cư trú hoặc chết do không thể thích nghi

Ô nhiễm môi trường cũng gây phương hại nghiêm trọng đối với kinh tế Ô nhiễm môi trường gây tổn thất cho các nước vì phải bỏ ra một khoảng tiền khá lớn để xử lý và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường Ở Trung Quốc, ô nhiễm không khí đã gây thiệt hại mỗi năm khoảng 100 đến 300 tỷ USD cho nền kinh tế và kể từ năm 2006 Trung Quốc phải chi khoảng 340 tỷ Nhân dân tệ tương đương 55 triệu USD để giải quyết tình trạng này.11 Riêng ở Việt Nam, ngân hàng thế giới WB công bố tình trạng ô nhiễm môi trường gây thiệt hại đến 5% sản phẩm nội địa GDP hàng năm trong nước Con số thiệt hại cụ thể trong năm 2007 là gần 4 tỷ đô la trên 71 tỷ đô la của tổng sản phẩm nội địa Trong năm

2008, con số này tăng lên 4,2 tỷ đô la trên tổng sản phẩm nội địa 76 tỷ đô la Ngoài các khoảng trên, hàng năm Việt Nam còn chi ra khoảng 780 triệu đô la cho công tác chữa trị những chứng bệnh do ô nhiễm môi trường gây nên.12

Từ những thiệt hại trên chúng ta đã thấy được tác hại vô cùng to lớn mà ô nhiễm môi trường đã gây ra Cho nên từ bây giờ chúng ta phải đề ra cách khắc phục ngay để giảm

Mai Anh, Hội Bảo Vệ Thiên Nhiên Việt Nam, Hơn 1 triệu người Trung Quốc chết sớm vì ô nhiễm,

http://moitruong.com.vn/Home/Default.aspx?portalid=33&tabid=19&distid=21204, [Truy cập ngày 23-9-2014]

11

Mai Anh, Hội Bảo Vệ Thiên Nhiên Việt Nam, Hơn 1 triệu người Trung Quốc chết sớm vì ô nhiễm,

http://moitruong.com.vn/Home/Default.aspx?portalid=33&tabid=19&distid=21204, [Truy cập ngày 23-9-2014]

12

Gia Minh, Góc nhìn Alan, Ô nhiễm môi trường tác động kinh tế ra sao?,

http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/nhim-mi-trng-tc-ng-kinh-ra-sao.html, [Truy cập ngày 23-9-2014]

Trang 18

thiểu mất mác về người và tài sản, một trong những cách tối ưu nhất chính là “Chung tay

bảo vệ môi trường”

1.3 Khái quát về hoạt động bảo vệ môi trường

Tại Nghị quyết số 41-NQ/TW về bảo vệ môi trường nhấn mạnh “Bảo vệ môi tường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội,

ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta”.13 Từ quan điểm và tư tưởng chỉ đạo trên cho thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường sống tức bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta Cho nên Bảo

vệ môi trường không phải là công việc riêng của bất cứ một ai, mà là chương trình hành động của cả cộng đồng, là trách nhiệm của mỗi người đang tồn tại trên trái đất này

1.3.1 Khái niệm hoạt động bảo vệ môi trường

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2005 thì hoạt động bảo vệ môi trường chính là việc thực hiện một số hoạt động nhằm giữ cho môi trường sống được trong lành, sạch đẹp, thông qua một số hành động cụ thể như: ngăn ngừa, hạn chế các tác động xấu trong đời sống và trong quá trình sản xuất tới môi trường, ứng phó khi không may xảy ra sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, đồng thời phải kết hợp với việc phục hồi và cải thiện môi trường sống, bên cạnh đó cần có biện pháp khai thác, sử dụng hợp lí và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn đa dạng sinh học Hiện nay, vấn đề bảo vệ môi trường đang là thách thức và là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia Ở nước ta vấn đề này cũng được chú trọng và quy định cụ thể trong bản hiến pháp Theo Điều 63 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 quy định “nhà nước phải có chính sách hiệu quả bảo vệ môi trường; quản lý đồng thời sử dụng có hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên… Khuyến khích các hoạt động bảo vệ môi trường” Công tác bảo vệ môi trường ngày càng được chú trọng, để việc bảo vệ môi trường đạt thành tích cao đòi hỏi đầu tiên phải có cơ quan lãnh đạo có năng lực tốt và đề ra các chính sách, biện pháp bảo vệ môi trường phù hợp đồng thời thực hiện

có hiệu quả công tác tuyên truyền, khuyến khích hoạt động bảo vệ môi trường trong toàn thể nhân dân

Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta đang đứng trước nhiều thách thức đáng lo ngại:

13

Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị, Về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa, chương II, phần A, mục 1

Trang 19

Đó là thách thức giữa yêu cầu bảo vệ môi trường với lợi ích kinh tế Yêu cầu đặt ra trước mắt là giữ vững mức tăng trưởng và lợi ích kinh tế cao nhưng đồng thời đảm bảo được yếu tố bảo vệ môi trường Đây là thách thức đáng lo ngại nhất trong tiến trình phát triển của đất nước Vì để tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải đẩy mạnh sản xuất, đồng thời phải sử dụng một lượng tài nguyên thiên nhiên tương ứng và đồng nghĩa với việc tác động ít nhiều đến môi trường Chưa kể đến việc một số chủ thể vì lợi ích kinh tế riêng mà quên đi trách nhiệm bảo vệ môi trường sống, họ có thể bất chấp tất cả để bảo vệ lợi nhuận của mình Chính vì thế, để vượt qua thách thức này đòi hỏi phải có sự hợp tác của

cả hai bên Về phía nhà nước, phải có những chính sách khuyến khích và chiến lược bảo

vệ môi trường hiệu quả, rõ ràng, về phía các doanh nghiệp - các cơ sở sản xuất kinh doanh cũng phải chú trọng nâng cao – áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, đăng ký sản phẩm thân thiện với môi trường đồng thời phải thực hiện trung thực công tác bảo vệ môi trường thì mới đảm bảo cân bằng hai yếu tố bảo vệ môi trường và lợi ích kinh tế Thách thức tiếp theo là thách thức của các tổ chức và năng lực quản lý môi trường còn nhiều hạn chế Trong thời gian qua tuy công tác bảo vệ môi trường ngày càng được chú trọng, các tổ chức chuyên môn được thành lập từ Trung ương đến địa phương nhưng nhìn chung năng lực quản lý chưa đạt hiệu quả cao, nhiều cán bộ chưa được đào tạo chuyên môn hoặc chuyên sâu về công tác quản lý và bảo vệ môi trường Đây sẽ trở thành thách thức đáng kể, nhất là trong giai đoạn kinh tế ngày càng phát triển, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày một phức tạp như hiện nay Để vượt qua thách thức này đòi hỏi các tổ chức, cơ quan quản lý môi trường phải học tập, rèn luyện và thường xuyên tự đổi mới mình để nâng cao năng lực quản lý và lãnh đạo có hiệu quả công tác bảo vệ môi trường Trong khi xã hội ngày càng phát triển, đòi hỏi về cuộc sống của con người ngày càng cao thì mức độ ô nhiễm môi trường và khối lượng chất thải ngày càng tăng, trong khi đó cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường còn quá lạc hậu Chính vì thế, thực trạng trên đã đặt ra thách thức đó chính là sự tương quan của

cơ sở hạ tầng, cùng trang thiết bị kỹ thuật và mức độ ô nhiễm môi trường ngày càng tăng

1.3.2 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường

Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong hơn hai thế kỉ qua đã làm cho của cải trên trái đất tăng rất nhiều lần, đem lại sự giàu có và phồn vinh cho nhiều quốc gia, đời sống vật chất và tin thần của con người cũng được cải thiện đáng kể Nhưng nếu áp dụng sai bản chất của quá trình này sẽ rơi vào tình trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ồ ạt, chạy theo lợi nhuận, bất chấp môi trường sống ở hiện tại và cả điều kiện cho sự phát triển

Trang 20

trong tương lai để được phát triển Phát triển kinh tế mù quáng như thế sẽ hủy hoại môi trường Và đó là bài học phải trả giá cho nhiều nước trên thới giới

Với mục đích trở thành nền kinh tế đứng vị trí số 1 trên thế giới, có bước đột phá lớn

về kinh tế và rồi một số quốc gia phải trả giá đắc về việc sử dụng cạn kiệt và dẫn đến việc suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên Trung Quốc với sự phát triển thần kì – vươn lên đứng đầu thế giới về kinh tế trong một khoảng thời gian ngắn là một ví dụ điển hình cho thảm họa môi trường như hiện nay

“Trung Quốc hiện có 16 trên 20 đô thị ô nhiễm trên thế giới; 4 đô thị tệ nhất nằm ở vùng Đông Bắc giàu than đá (70% nhu cầu năng lượng của Trung Quốc lấy từ than đá) dẫn đến các cơn mưa acid chứa Sunphur Dioxide từ các nhà máy điện than đá thải ra rơi trên ¼ lãnh thổ Trung Quốc, làm giảm năng suất mùa màng và xói mòn mọi công trình xây dựng Chặt phá rừng song song với khai thác quá mức đồng cỏ để chăn nuôi gia súc

và canh tác đã biến Đông Bắc Trung Quốc thành sa mạc Sông Dương Tử và sông Hoàng

Hà là hai nguồn cung cấp nước quan trọng nhất cho Trung Quốc bị ô nhiễm nặng Để sản xuất 1 đơn vị hàng hóa Trung Quốc phải tiêu thụ tài nguyên gấp 7 lần so với Nhật Bản, 6 lần so với Hoa Kỳ và 3 lần so với Ấn Độ”.14

Với nền kinh tế hiện nay lấy phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa làm trọng tâm

đòi hỏi phải có một ý chí sáng suốt, lấy “phát triển bền vững” làm kim chỉ nam cho quá

trình phát triển Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) đã chỉ ra rằng, bây giờ chính là thời điểm Việt Nam cần kiên trì đeo đuổi phát triển bền vững Đó là “sự phát triển đáp ứng được yêu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau”.15 Nếu không giải quyết được vấn nạn ô nhiễm môi trường thì có thể Việt Nam

sẽ xóa đi tất cả thành tựu đã đạt được Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường Phạm Khôi Nguyên cũng đã nhấn mạnh: 20 năm tăng trưởng kinh tế liên tục nhưng cứ tăng 1 GDP mà không có chiến lược môi trường thì sẽ mất đi 3 GDP về môi trường Báo cáo phát triển thế giới của Ngân hàng thế giới 1992 cũng đã nhấn mạnh: nếu không bảo vệ môi trường một cách chính đáng phát triển sẽ bị yếu dần Ngược lại, không có phát triển bảo vệ môi trường sẽ thất bại Từ đó cho thấy giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường có quan hệ tỷ lệ thuận và gắn bó mật thiết với nhau Nếu chỉ chú trọng vào phát triển kinh tế mà quên đi trách nhiệm bảo vệ môi trường thì chính sự ô nhiễm môi trường

và hậu quả của sự lãng quên đó sẽ xóa đi kết quả đạt được của quá trình phát triển và

Trang 21

ngược lại nếu không có sự phát triển thì công tác bảo vệ môi trường cũng khó thực hiện

vì không có nguồn tài chính để hoạt động, đồng thời trang thiết bị và kỹ thuật cũng không được cải tiến Vì thế, muốn phát triển nhanh nhưng vẫn giữ được mức tăng trưởng kinh tế

ổn định đòi hỏi đi kèm theo đó là việc đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường và thực hiện

có hiệu quả các chính sách bảo vệ môi trường Đó là mối quan hệ không thể tách rời

1.4 Khái quát chung về Cam kết bảo vệ môi trường

1.4.1 Lịch sử hình thành cam kết bảo vệ môi trường

Trong thời kì đầu thực hiện Luật bảo vệ môi trường 1993 khái niệm Cam kết bảo vệ môi trường chưa tồn tại, thay vào đó tất cả các dự án đầu tư đều phải thực hiện Đánh giá tác động môi trường Ngoại trừ một số dự án có quy mô ít phức tạp về môi trường thì chỉ cần đăng kí đạt tiêu chuẩn môi trường Vì trong giai đoạn này đất nước bắt đầu công cuộc đổi mới nền kinh tế theo hướng mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế thế giới Việc làm như thế nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, thực hiện một số chính sách mở cửa và kêu gọi đầu tư

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, Đăng kí đạt tiêu chuẩn môi trường đã bộc lộ một

số bất cập Bất cập đầu tiên liên quan đến tiêu chuẩn môi trường, ở giai đoạn Luật bảo vệ môi trường 1993 có hai loại tiêu chuẩn môi trường chủ yếu là tiêu chuẩn về chất thải và tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh Nhưng khi đăng kí đạt tiêu chuẩn môi trường chủ đầu tư chỉ cần đăng kí đạt tiêu chuẩn về chất thải trong khi một dự án được triển khai liên quan đến nhiều yếu tố khác như: độ rung, tiếng ồn, sạt lỡ đất… các tiêu chuẩn chất lượng về môi trường xung quanh chủ đầu tư không cần đăng kí Trong khi các yếu tố liên quan đến chất lượng môi trường xung quanh pháp luật về môi trường cũng chưa có quy định về tiêu chuẩn tương ứng để xem xét Vì thế, có nhiều dự án không phù hợp để thực hiện đăng kí đạt tiêu chuẩn môi trường và nhiều dự án gây ra các tác động dạng này không thể hạn chế được ảnh hưởng đến môi trường xung quanh thì việc đăng kí cũng coi như không có ý nghĩa, đó là bất cập thứ hai của công cụ Đăng kí đạt tiêu chuẩn môi trường Để khắc phục những bất cập trên Luật bảo vệ môi trường 2005 đã sử dụng công cụ “Cam kết bảo vệ môi trường” để thay thế cho “Đăng kí đạt tiêu chuẩn môi trường” Từ đó, thuật ngữ “Cam kết bảo vệ môi trường” đã được ra đời

1.4.2 Khái niệm cam kết bảo vệ môi trường

Cho đến ngày nay các văn bản luật và dưới luật hầu như không có một khái niệm nào quy định cụ thể và hoàn chỉnh cho thuật ngữ “Cam kết bảo vệ môi trường” mà khái niệm này chỉ được hiểu theo dạng tự tìm hiểu và đúc kết qua các văn bản luật và dưới luật

Trang 22

Dựa vào các quy định pháp lý về vấn đề cam kết bảo vệ môi trường được quy định trong Luật bảo vệ môi trường 2005, Nghị định 29/2011/NĐ-CP, Nghị định 35/2014/NĐ-

CP và Thông tư 26/2011/TT-BTNMT , thì Cam kết bảo vệ môi trường được hiểu là hồ sơ pháp lí ràng buộc trách nhiệm giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lí nhà nước về môi trường với cộng đồng Thông qua việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường các chủ dự

án, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc đối tượng phải lập cam kết bảo vệ môi trường dự trù hết tất cả các nguồn tác động cơ bản ảnh hưởng đến môi trường như: Chất thải, gác thải, độ rung, tiếng ồn… Từ đó đề xuất và cam kết thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế tối đa thiệt hại cho môi trường

Từ khi xuất hiện công cụ Cam kết bảo vệ môi trường, thì khái niệm Đề án bảo vệ môi trường cũng được ra đời Theo đó, Đề án bảo vệ môi trường là một loại thủ tục pháp lý

mà các doanh nghiệp phải lập theo quy định của pháp luật Trong trường hợp, doanh nghiệp đã đi vào hoạt động nhưng không có quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động của môi trường, quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung, giấy xác nhận đạt tiêu chuẩn môi trường hay giấy cam kết bảo vệ môi trường… thì phải lập đề án bảo vệ môi trường Tuy nhiên, tùy thuộc vào quy mô, loại hình dự án mà các doanh nghiệp phải lập đề án bảo vệ môi trường chi tiết hay đề án bảo vệ môi trường đơn giản Theo hướng dẫn tại Nghị định 35/2014/NĐ-CP của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP thì trước ngày 31/12/2014 các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh này phải lập đề án bảo vệ môi trường chi tiết đối với các cơ sở có quy mô, tính chất tương đương với đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định tại Khoản 1 Điều 12 Nghị định 29/2011/NĐ-CP và phải lập đề án bảo vệ môi trường đơn giản đối với các cơ sở có quy mô, tính chất tương đương với đối tượng phải đăng ký cam kết bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 29 Nghị định 29/2011/NĐ-CP Nhìn chung, Đề án bảo vệ môi đơn giản và Cam kết bảo vệ môi trường có cùng chung tính chất, quy mô và công suất tương đương nhau nhưng Cam kết bảo vệ môi trường áp dụng cho các dự án, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ chưa đi vào hoạt động, còn đề án bảo vệ môi trường áp dụng cho các cơ sở đã đi vào hoạt động nhưng thiếu một trong những văn bản chứng minh đã thực hiện biện pháp bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật

Dù là tên gọi khác nhau, song “Cam kết bảo vệ môi trường” và “Đề án bảo vệ môi trường” vẫn có một đặc tính chung là công cụ ngăn ngừa và bảo vệ môi trường hiệu quả

Trang 23

1.4.3 Tầm quan trọng của việc lập cam kết bảo vệ môi trường

Trên tin thần triển khai đầy đủ và hiệu quả Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính

trị Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước

Ngày 18/4/2011 Chính phủ đã ban hành Nghị định 29/2011/NĐ-CP quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường và Nghị định 35/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 29/2011/NĐ-CP, trên

cơ sở đó Bộ tài nguyên và môi trường cũng ban hành Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT

để hướng dẫn thi hành nghị định này Đây là bước hoàn thiện cơ bản các quy định về Đánh giá môi trường chiến lược, Đánh giá tác động môi trường và Cam kết bảo vệ môi trường, nhằm mục tiêu đẩy mạnh công tác phòng ngừa ô nhiễm và suy thoái môi trường Tại Hội nghị Quốc gia về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường, Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường Nguyễn

Minh Quang nhấn mạnh: “Việc triển khai thực hiện công tác đánh giá môi trường chiến

lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần tích cực cho sự nghiệp bảo vệ môi trường” 16 Từ những nhận định trên cho thấy việc ra đời của ba công cụ bảo vệ môi

trường nói chung và “Cam kết bảo vệ môi trường” nói riêng là một tất yếu và hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay Việc ra đời của công cụ “Cam kết bảo vệ môi trường”

đúng lúc để khắc phục nhược điểm của “Đăng kí đạt tiêu chuẩn môi trường” vốn dĩ đã không còn phù hợp và Cam kết bảo vệ môi trường trở thành trợ thủ đắc lực cho hoạt

động bảo vệ môi trường

Xuất phát từ khái niệm, Cam kết bảo vệ môi trường chính là hồ sơ ràng buộc pháp lí giữa chủ cơ sở sản xuất kinh doanh với cơ quan quản lý nhà nước và với cả cộng đồng về những gì mình đã cam kết trong bản cam kết bảo vệ môi trường Từ những cam kết đó, chúng ta có thể ràng buộc họ phải thực hiện như lời đã hứa được lập ra trong bản cam kết Từ đó tác động được đến ý thức tự giác của chủ cơ sở, đồng thời bản Cam kết bảo vệ môi trường chính là cơ sở để xem xét việc vi phạm pháp luật về môi trường nếu họ vi phạm (bao gồm: không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng) những điều khoản cam kết trong bản cam kết này

Trang 24

Bên cạnh đó, việc lập cam kết bảo vệ môi trường còn có ý nghĩa rất to lớn, nó quyết định đến việc thành lập và tiếp tục hoạt động của một cơ sở sản xuất kinh doanh Vì những chủ thể thuộc đối tượng phải lập cam kết bảo vệ môi trường chỉ bắt đầu hoạt động hoặc tiếp tục triển khai hoạt động sản xuất hợp pháp sau khi đã đăng ký xong hoặc đăng

ký lại xong bản cam kết bảo vệ môi trường

Từ những lợi ích đạt được và vị trí quan trọng của bản cam kết trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong công tác bảo vệ môi trường, đã cho thấy tầm quan trọng và ý nghĩa quyết định của việc lập bản cam kết bảo vệ môi trường đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh

Trang 25

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Trên tinh thần thực hiện nghiêm túc công cuộc cùng chung tay bảo vệ môi trường, hầu hết các dự án phát triển kinh tế, các đề xuất hoạt động sản xuất kinh doanh đều quan tâm và thực hiện hiệu quả trách nhiệm bảo vệ môi trường nói chung cũng như cam kết bảo vệ môi trường nói riêng Việc lập và đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường được tiến hành và vận dụng theo hướng dẫn của một số văn bản như Luật bảo vệ môi trường

2005, Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 04 năm 2011 và Nghị định

35/2014/NĐ-CP ngày 29 tháng 04 năm 2014 của chính phủ, Thông tư 26/2011/TT-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Bộ tài nguyên và môi trường đã mang lại hiệu quả thiết thực góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ môi trường Tuy nhiên, do nhu cầu xã hội ngày càng tăng nên việc phát triển các dự án đầu tư, cơ sở sản xuất kinh doanh cũng tăng lên mạnh

mẽ, kéo theo đó là sự phát triển và mức độ phức tạp của các dự án, đề xuất sản xuất kinh doanh, dịch vụ cũng tăng theo Với những quy định về cam kết bảo vệ môi trường như hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, cần phải có những biện pháp khắc phục để công cụ này được hoàn thiện hơn

2.1 Đối tượng và thời điểm lập cam kết bảo vệ môi trường

2.1.1 Đối tượng phải lập cam kết bảo vệ môi trường

Theo quy định tại Điều 24 Luật bảo vệ môi trường 2005, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ với quy mô hộ gia đình và không thuộc quy định tại Điều 14 và Điều 18 của Luật này thì phải có bản cam kết bảo vệ môi trường Theo Điều 14 các đối tượng phải lập đánh giá môi trường chiến lược bao gồm những chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội cấp quốc gia, phát triển ngành - lĩnh vực trên quy

mô cả nước và những chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương Bên cạnh đó, các quy hoạch sử dụng đất, rừng và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên trên phạm vi liên tỉnh, liên vùng, quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm và quy hoạch tổng hợp lưu vực sông quy mô liên tỉnh là những đối tượng phải thực hiện đánh giá môi trường chiến lược Theo quy định tại Điều 18, các dự

án các công trình quan trọng quốc gia, dự án xây dựng khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, xây dựng mới đô thị, khu dân cư tập trung, cụm làng nghề

và các dự án công trình sử dụng nước dưới lòng đất với quy mô lớn, sử dụng phần đất hoặc có ảnh hưởng xấu đến vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, di tích lịch sử, di sản

tự nhiên, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng hoặc gây ảnh hưởng xấu đến nguồn

Trang 26

nước lưu vực sông, vùng ven sông, vùng có hệ sinh thái được bảo vệ, dự án có tiềm năng tác động xấu đến môi trường thì phải lập đánh giá tác động môi trường Theo quy định trên, thì các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ với quy mô hộ gia đình nếu không thuộc danh mục các đối tượng nêu trên thì phải có bản cam kết bảo vệ môi trường

Bên cạnh đó Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo

vệ môi trường cũng có quy định về nội dung này, theo đó các đối tượng sau phải có bản cam kết bảo vệ môi trường:

 Đối tượng đầu tiên là những dự án đầu tư có tính chất, quy mô, công suất không thuộc hoặc dưới mức quy định của danh mục các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định tại Phụ lục II Nghị định 29/2011/NĐ-CP thì phải lập cam

kết bảo vệ môi trường Danh mục này quy định các nhóm dự án và mức giới hạn về quy

mô, công suất cụ thể cho từng dự án, nếu một dự án thuộc danh mục quy định và có quy

mô, công suất đúng với đối tượng của đánh giá tác động môi trường thì phải lập đánh giá tác động môi trường, nếu các dự án khác không thuộc danh mục hoặc thuộc danh mục các nhóm dự án nhưng có quy mô hoặc công suất nhỏ hơn quy định phải đánh giá tác động môi trường thì thuộc đối tượng phải lập cam kết bảo vệ môi trường

 Đối tượng thứ hai là các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng phải lập dự án đầu tư nhưng có phát sinh chất thải sản xuất Với quy định này, nghĩa là tất cả các cơ sở hoạt động mà không có dự án đầu tư nhưng có phát sinh chất thải sản xuất, đều phải thực hiện cam kết bảo vệ môi trường Với quy định thì tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ đều phải lập cam kết bảo vệ môi trường, vì mọi hoạt động sản xuất đều có phát sinh chất thải Đây cũng là mục đích của các nhà làm luật, quy định như vậy sẽ hạn chế sự bỏ sót các chủ thể kinh doanh, đòi hỏi phải có các dự trù và hạn chế tác động đến môi trường trước khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, quy định này chỉ đề cập đến các loại chất thải – tức là chỉ đề cập đến các tác động

do chất thải gây ra mà không đề cập gì đến các tác động khác không phải do chất thải gây

ra, vì trên thực tế có nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ khi tiến hành hoạt động

có tiềm năng gây ra những tác động liên quan không nhiều đến chất thải như: xói mòn, sụt lún, chấn động…, các tác động này nguy hại hơn nhiều so với chất thải Chính vì thế, quy định này cần phải bổ sung thêm các tác động dạng này

Ngoài ra, các dự án, đề xuất cải tạo, mở rộng, nâng cấp, nâng công suất của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang hoạt động đã được đăng ký, xác nhận bản cam kết bảo

Trang 27

vệ môi trường hoặc xác nhận bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc phê duyệt, xác nhận đề án bảo vệ môi trường nhưng chưa tới mức lập báo cáo đánh giá tác động môi trường quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 10 Thông tư 26/2011/TT-BTNMT cũng là đối tượng phải lập cam kết bảo vệ môi trường.17 Nghĩa là các dự án, đề xuất cải tạo nêu trên nhưng chưa tới mức phải lập đánh giá tác động môi trường tương ứng với các đối tượng

từ mục 1 đến mục 143 của Phụ lục II Nghị định 29/2011/NĐ-CP cũng phải lập cam kết bảo vệ môi trường

Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 4 Điều 35 Nghị định 29/2011/NĐ-CP và Khoản 2 Điều 45 Thông tư 26/2011/TT-BTNMT thì chủ các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ phải lập và đăng ký lại bản cam kết bảo vệ môi trường trong một số trường hợp sau:

- Trường hợp đầu tiên là thay đổi địa điểm thực hiện dự án hoặc cơ sở sản xuất kinh doanh Do đặc thù của môi trường, mỗi một khu vực – mỗi một địa điểm thì tiêu chí môi trường đặt ra cũng khác nhau Ví dụ như những tiêu chí về khí thải, độ rung và tiếng ồn đặt ra giữa khu vực thành thị và nông thôn là hoàn toàn khác biệt Một khi chủ cơ sở sản xuất, dịch vụ thay đổi địa điểm thực hiện tức đã làm thay đổi nơi chịu ảnh hưởng của các

dự trù trong bản cam kết bảo vệ môi trường Vì thế phải lập và đăng ký lại bản cam kết bảo vệ môi trường

- Trong từng giai đoạn thì tiêu chí về chất lượng môi trường cũng thay đổi và có sự khác nhau giữa các thời kì Vì thế khi dự án hoặc cơ sở sản xuất kinh doanh đã đăng kí xong bản cam kết bảo vệ môi trường nhưng không triển khai thực hiện trong thời hạn 24 tháng, kể từ ngày bản cam kết bảo vệ môi trường được đăng ký thì phải đăng ký lại bản cam kết bảo vệ môi trường

- Trong trường hợp cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ thay đổi quy mô, công suất, công nghệ làm gia tăng mức độ hoặc phạm vi chịu tác động của môi trường do chính những thay đổi này gây ra thì chủ cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ cũng phải lập lại bản cam kết bảo vệ môi trường Vì việc thay đổi trên sẽ làm gia tăng tổng lượng chất thải gây hại, gia tăng phạm vi gây tác hại, gia tăng thành phần gây ô nhiễm cao hơn trước hoặc phát sinh chất thải gây hại mới… Với sự thay đổi này đòi hỏi chủ cơ sở sản xuất kinh doanh phải lập và đăng ký lại bản cam kết bảo vệ môi trường Tuy nhiên, nếu thay đổi tính chất hoặc quy mô của dự án đến mức tương đương với đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác

17

Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng

4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo

vệ môi trường, điều 45, khoản 1, điểm b

Trang 28

động môi trường thì chủ dự án, chủ cơ sở phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường gửi cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt theo quy định

2.1.2 Thời điểm lập cam kết bảo vệ môi trường

Theo quy định tại Điều 31 Nghị định 29/2011/NĐ-CP của chính phủ thì thời điểm để các chủ thể lập và đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường đều thống nhất một thời điểm chung là trước khi xin giấy phép hoạt động hoặc trước khi bắt đầu thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, thời điểm lập cam kết bảo vệ môi trường đối với mỗi loại dự án, mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh cũng có sự khác nhau

+ Đối với dự án thăm dò, khai thác khoáng sản và dự án đầu tư có hạng mục xây dựng công trình thuộc đối tượng phải xin giấy phép xây dựng thì chủ dự án phải đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường trước khi đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thăm dò, giấy phép khai thác, cấp và điều chỉnh giấy phép xây dựng

+ Đối với dự án thăm dò dầu khí thì chủ dự án phải đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường trước khi tiến hành hoạt động khoan thăm dò dầu khí

+ Ngoài ra các dự án, các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ không thuộc các loại dự án vừa nêu thì chủ dự án hoặc chủ cơ sở phải đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường trước khi thực hiện đầu tư, sản xuất, kinh doanh

2.2 Chủ thể của Cam kết bảo vệ môi trường

2.2.1 Chủ thể lập cam kết bảo vệ môi trường

Các dự án, các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc đối tượng phải lập cam kết bảo vệ môi trường theo quy định tại Điều 29, Khoản 4 Điều 35 của Nghị định 29/2011/NĐ-CP và Điều 45 Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT thì chủ dự án, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh phải có trách nhiệm tiến hành việc lập và đăng ký bản cam kết bảo

vệ môi trường trước khi tiến hành hoạt động hoặc trước khi đề nghị cấp giấy phép hoạt động sản xuất, kinh doanh Tuy pháp luật không có quy định, nhưng trên thực tế vẫn xuất hiện một số dịch vụ hỗ trợ, làm thuê cam kết bảo vệ môi trường Một điều hiển nhiên là

tổ chức đó không thể hiểu hết từng chi tiết của dự án, dẫn đến nội dung tư vấn đôi khi không thống nhất, thậm chí không phù hợp với nội dung của dự án, từ đó không thể dự trù và giảm thiểu được hết các tác động đến môi trường Việc này cũng ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng của bản cam kết bảo vệ môi trường

Trang 29

2.2.2 Chủ thể quản lí việc lập và đăng ký cam kết bảo vệ môi trường

Theo quy định tại Điều 32 Nghị định 29/2011/NĐ-CP thống nhất quản lí việc tổ chức đăng ký cam kết bảo vệ môi trường thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện

Ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ có trách nhiệm tổ chức đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường Theo đó, Phòng tài nguyên và môi trường là cơ quan chuyên môn sẽ hỗ trợ Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện nhiệm vụ trên

Trong trường hợp, dự án đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nằm trên địa bàn từ hai huyện trở lên thì chủ dự án, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh được quyền chọn một Ủy ban nhân dân cấp huyện trong số các Ủy ban nhân dân cấp huyện mà dự án đầu

tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh mình tọa lạc để thuận tiện cho việc thực hiện đăng ký cam kết bảo vệ môi trường và đối với một số dự án được thực hiện trên vùng biển chưa xác định được trách nhiệm quản lí hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện nào, thì chủ dự án, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện việc đăng ký cam kết bảo vệ môi trường tại Ủy ban nhân nhân cấp huyện nơi đăng ký xử lý và thải bỏ chất thải Trong trường hợp dự án không có chất thải hoặc chất thải đó được đưa vào đất liền để tái chế, tái sử dụng hoặc xử lí, thải bỏ thì không cần phải thực hiện đăng ký cam kết bảo vệ môi trường.18

Ngoài ra, trong hai trường hợp sau Ủy ban nhân dân cấp huyện có thể ủy quyền cho

Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc đăng ký cam kết bảo vệ môi trường và việc ủy quyền này phải được thực hiện bằng văn bản theo mẫu quy định tại Phụ lục 5.4 Thông tư 26/2011/TT-BTNMT Trường hợp thứ nhất là hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nằm trên địa bàn một xã và không thuộc đối tượng phải lập dự án đầu tư Vì hoạt động sản xuất này tương đối đơn giản, Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ tổ chức việc đăng ký cam kết bảo vệ môi trường theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện Trường hợp thứ hai Ủy ban nhân dân cấp huyện có thể ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký cam kết bảo vệ môi trường nếu là dự án đầu tư nằm trên địa bàn một xã và không phát sinh chất thải trong quá trình triển khai thực hiện.19

Trong giai đoạn đầu thực hiện Luật bảo vệ Môi trường 1993, thống nhất việc quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường chỉ được thực hiện ở cấp Trung ương và cấp tỉnh Đến khi Luật bảo vệ môi trường 2005 ra đời thay thế Luật bảo vệ môi trường 1993 thì cấp

Trang 30

huyện mới chính thức được giao trách nhiệm quản lý về bảo vệ môi trường tại địa phương và giao luôn trách nhiệm tổ chức việc đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường và

tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các nội dung đã ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường Đến đây, cơ quan chuyên môn là Phòng tài nguyên và môi trường có trách nhiệm giúp việc cho Ủy ban nhân dân cấp huyện trong lĩnh vực môi trường Nhưng trong giai đoạn Luật bảo vệ môi trường 2005 mới vừa ra đời, ở cấp huyện hầu như chưa có cán

bộ chuyên môn phụ trách, rất thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, bên cạnh đó bản thân của Ủy ban nhân dân cấp huyện cũng chưa có kinh nghiệm trong tổ chức việc đăng

ký cam kết bảo vệ môi trường Tại một số nơi chưa có cán bộ được đào tạo chính quy về môi trường ở một số huyện khác tuy có cán bộ được đào tạo về môi trường nhưng chưa hoặc rất ít được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ về cam kết bảo vệ môi trường Trong khi cấp huyện vẫn chưa đủ năng lực để tổ chức việc đăng ký cam kết bảo

vệ môi trường thì việc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã lại gặp nhiều trắc trở hơn

Vì thế trong giai đoạn đầu thực hiện cam kết bảo vệ môi trường đã gặp không ít khó khăn

và ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng phê duyệt bản cam kết bảo vệ môi trường Cho đến nay qua gần 10 năm thực hiện luật mới, ở cấp huyện đội ngũ cán bộ môi trường ngày càng đông và đã được đào tạo qua kiến thức chuyên môn thì công việc tổ chức đăng ký

và kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường mới trở nên dễ dàng và có nhiều bước tiến, cũng như kết quả khả quan hơn

2.3 Cấu trúc nội dung và quy trình lập, đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường

2.3.1 Cấu trúc nội dung bản cam kết bảo vệ môi trường

Theo quy định tại Điều 30 Nghị định 29/2011/NĐ-CP thì một bản cam kết bảo vệ môi trường nói chung cần đảm bảo đầy đủ các nội dung cơ bản về địa điểm thực hiện của dự

án đầu tư hoặc đề xuất hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ; loại hình, quy mô và nguyên, nhiên liệu sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh; kê khai các loại chất thải phát sinh và phần cuối cùng là phần cam kết thực hiện các biện pháp giảm thiểu, xử lí chất thải do dự án đầu tư hoặc các hoạt động sản xuất kinh doanh thải ra và tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường Tuy nhiên sẽ có sự khác biệt về quy định mẫu cũng như cấu trúc nội dung giữa hai đối tượng của cam kết bảo vệ môi trường là các

dự án đầu tư và đề xuất hoạt động sản xuất, kinh doanh không thuộc đối tượng phải lập

dự án đầu tư Mỗi loại sẽ có một mẫu quy định riêng

Trang 31

 Đối với dự án đầu tư thì cấu trúc và yêu cầu về nội dung của bản Cam kết bảo vệ môi trường được quy định tại Phụ lục 5.2 Thông tư 26/2011/TT-BTNMT, bao gồm các nội dung cơ bản sau:

Phần thứ nhất là phần thông tin chung Ở phần này chủ dự án đầu tư cần giới thiệu tóm tắt về tên dự án đầu tư; tên và địa chỉ liên hệ của doanh nghiệp hoặc cơ quan chủ dự án; người đứng đầu doanh nghiệp cùng phương tiện liên lạc với doanh nghiệp, cơ quan chủ dự án như số điện thoại, số fax hoặc email Các nội dung này chủ dự án cần cung cấp chính xác và trùng khớp với một số giấy tờ quan trọng có liên quan Ngoài ra, ở phần thông tin chung chủ dự án đầu tư cần cung cấp địa điểm thực hiện dự án Bao gồm việc

mô tả vị trí địa lý theo tọa độ và ranh giới dự án, kèm theo là sơ đồ minh họa thể hiện lên

đó là các đối tượng tự nhiên như sông ngòi, kênh gạch, đường giao thông… và các đối tượng xã hội như khu dân cư, khu đô thị, công trình văn hóa, tôn giáo, lịch sử… bao xung quanh dự án Bên cạnh đó, chủ dự án cần chỉ rõ nguồn tiếp nhận nước khải, khí thải của

dự án và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường hiện hành cho từng nguồn tác động Ở phần thông tin chung chủ dự án cũng cần nêu tóm tắt về quy mô, công suất, công nghệ sản xuất và liệt kê các loại thiết bị máy móc kèm theo tình trạng sử dụng và xuất xứ của chúng Thể hiện nhu cầu về nguyên nhiên liệu, nguồn nước, nguồn điện cho quá trình sản xuất Chủ dự án phải kê khai chính xác, trung thực và phải chịu trách nhiệm cho các nội dung này Đối với dự án đầu tư đang hoạt động nhưng cải tạo, mở rộng, nâng cấp công suất được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 45 Thông tư 26/2011/TT-BTNMT thì trong nội dung này cần nêu bổ sung thông tin về cơ sở đang hoạt động, đặc biệt là các thông tin liên quan các công trình, thiết bị, hạng mục, công nghệ sẽ được tiếp tục sử dụng hoặc thay đổi, điều chỉnh, bổ sung và các dự án đầu tư đã đăng ký xong bản cam kết bảo

vệ môi trường nhưng buộc đăng kí lại theo quy định tại Khoản 2 Thông tư BTNMT thì trong nội dung này cần làm rõ hiện trạng thi công các hạng mục công trình của dự án, thể hiện rõ các thông tin về những thay dổi liên quan đến địa điểm, quy mô, công suất

26/2011/TT-Phần thứ hai của bản cam kết bảo vệ môi trường đối với dự án đầu tư là phần đánh giá các tác động đến môi trường Ở phần này chủ dự án cần kê khai và nêu đầy đủ nguồn gốc phát sinh, tổng lượng phát sinh, thành phần và hàm lượng các loại chất thải phát sinh khi

dự án đi vào hoạt động như: khí thải, nước thải, chất thải rắn… Bên cạnh đó, nếu dự án

có các tác động khác như xói mòn, sụt lỡ đất, lún đất, xói mòn và sụt lỡ bờ sông, bờ suối, xâm nhập mặn, xâm nhập phèn hoặc các tác động có thể dẫn đến sự biến đổi vi khí hậu, thay đổi thành phần môi trường dẫn đến sự suy thoái hoặc biến đổi đa dạng sinh học…

Trang 32

thì chủ dự án cũng cần nêu tóm tắt các tác động này Hạn chế ảnh hưởng xấu đến môi trường

Phần thứ ba của cam kết bảo vệ môi trường là nội dung về việc triển khai một số biện pháp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường Đối với mỗi loại chất thải phát sinh chủ dự án cần đưa ra biện pháp xử lí chất thải và bản thuyết trình về mức độ khả thi, hiệu suất/ hiệu quả xử lý và phải chứng minh rằng sau khi áp dụng biện pháp này các chất thải sẽ được xử lí đến mức nào, có so sánh và đối chiếu với các quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy định hiện hành Đối với các tác động khác của dự án thì mỗi loại tác động phải có biện pháp giảm thiểu tương ứng, thuyết minh về mức độ khả thi, hiệu suất/hiệu quả xử lí Trong một số trường hợp chủ dự án không có biện pháp xử lý chất thải, không

có biện pháp giảm thiểu các tác động khác hoặc mức độ khả thi kém không thể đáp ứng được yêu cầu quy định thì phải nêu lí do và kiến nghị cho cơ quan có liên quan xem xét, quyết định

Đối với dự án đầu tư đang hoạt động nhưng cải tạo, mở rộng, nâng cấp công suất được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 45 Thông tư 26/2011/TT-BTNMT thì trong nội dung này cần nêu rõ kết quả của việc áp dụng các biện pháp giảm thiểu tác động xấu, phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường của cơ sở đang hoạt động và phân tích các nguyên nhân của kết quả đó và các dự án đầu tư đã đăng ký xong bản cam kết bảo vệ môi trường nhưng buộc đăng kí lại theo quy định tại Khoản 2 Thông tư 26/2011/TT-BTNMT thì trong nội dung này cần nêu rõ các thay đổi về biện pháp giảm thiểu tác động xấu, phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

Phần thứ tư là nội dung các công trình xử lý môi trường và chương trình giám sát môi trường Đối với dự án phát sinh các loại chất thải rắn, lỏng, khí và các chất thải khác chủ đầu tư cần liệt kê đầy đủ các công trình xử lý môi trường, bên cạnh đó phải làm rõ về chủng loại, đặc tính kỹ thuật, số lượng cần thiết và kèm theo là tiến độ thi công của công trình xử lý Đối với hoạt động giám sát môi trường thì trong tần suất tối thiểu 6 tháng/1 lần phải giám sát lưu lượng/ tổng lượng thải và giám sát những thông số ô nhiễm đặc trưng theo quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành và chương trình giám sát phải được thể hiện

cụ thể trên sơ đồ có chú thích rõ ràng và tọa độ đúng theo quy chuẩn

Đối với dự án đầu tư đang hoạt động nhưng cải tạo, mở rộng, nâng cấp công suất được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 45 Thông tư 26/2011/TT-BTNMT thì trong nội dung này cần nêu rõ hiện trạng các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường hiện có và

Ngày đăng: 03/10/2015, 22:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1. Quy trình lập và đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường. - cam kết bảo vệ môi trường thực trạng và giải pháp áp dụng trên địa bàn huyện phụng hiệp  tỉnh hậu giang
Sơ đồ 1. Quy trình lập và đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường (Trang 36)
Bảng xử lí số liệu công tác kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường trên - cam kết bảo vệ môi trường thực trạng và giải pháp áp dụng trên địa bàn huyện phụng hiệp  tỉnh hậu giang
Bảng x ử lí số liệu công tác kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường trên (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w